Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Tư, 2020, 02:11:05 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng  (Đọc 1628 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2020, 06:07:44 AM »

*   *
*

Tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 (Gim 100) giải phóng An Khê, phối hợp chiến trường Khu 5 giành thắng lợi lớn.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Tại Khu 5 địch phải căng ra phân tán đối phó các hoạt động của ta: trên đường 19 An Khê quân Pháp còn binh đoàn cơ động 100 và một số tiểu đoàn khinh quân ngụy chốt giữ; Binh đoàn cơ động 42 về giữ thị xã Pleiku.

Trong tháng 5 hoạt động du kích của tỉnh được đẩy mạnh, thường xuyên bố trí các lực lượng phục kích các đoàn xe địch vận chuyển trên đường 19. Đại đội 54, 68 liên tục bám địch trên hai bên trục lộ 19, Đại đội 70, 72 lo xây dựng củng cố các vùng mới giải phóng phía nam tỉnh.

Tây Nguyên đã bắt đầu mùa mưa, gây nhiều khó khăn, trở ngại hoạt động của bộ đội, nhất là bộ đội huyện, dân quân đang bám địch còn nhiều thiếu thốn, vất vả. Tuy vậy, trước chiến thắng dồn dập trong nước, trên địa bàn đã cổ vũ anh em hồ hởi phấn khởi vượt qua; thanh niên tình nguyện vào bộ đội rất đông, có điều kiện bổ sung quân số cho bộ đội tỉnh và huyện, nhất là anh em dân tộc Bahnar, Jơ Rai; trang bị vũ khí cũng được bổ sung, cấp phát đầy đủ.

Trước hiện tượng quân Pháp rút bỏ nhiều vị trí trên địa bàn Gia Lai, Khu 5 ra lệnh cho Trung đoàn chủ lực 96 và tỉnh Gia Lai bố trí quân báo bám, theo dõi chặt chẽ mọi hành động của địch sẵn sàng tiêu diệt khi chúng tháo chạy.

Ngày 23 tháng 6 quân báo ta phát hiện binh đoàn cơ động 42 từ Pleiku nống ra chốt giữ các điểm cao khống chế từ Kông Dơng đến chân đèo Mang Yang. Quân địch ở An Khê phá hủy một số công sự. Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 6 Bộ chỉ huy Khu 5 lệnh tiêu diệt GIM 100, kế hoạch đánh quân địch ở An Khê rút chạy được gấp rút triển khai.

Từ trong đêm cán bộ, chiến sĩ đơn vị quân báo Trung đoàn 120 ra yếm quân bám địch khắp dọc trục đường 19, mặc cho máy bay quân Pháp quần đảo nhiều vòng rà thấp sát mép đường và thả bom napan đốt cháy cỏ cây dọc hai bên đường. Một số anh em trinh sát, quân báo bị thương vong, nhưng tất cả đều cắn răng chịu đựng bám sát theo dõi từng hành động của địch báo cho Bộ chỉ huy.

Lực lượng địch rút lui gồm: Binh đoàn cơ động 100 (GIM 100), tiểu đoàn khinh quân ngụy 520, tiểu đoàn pháo binh 105m/m cùng một số đơn vị địa phương quân. Ngoài ra còn tính đến sự ứng cứ của binh đoàn cơ động 42.

Lực lượng ta tham chiến có trung đoàn chủ lực 96 gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 120 (Gai Lai) có đại đội 54, đại đội 68, đơn vị quân báo Trung đoàn. Ngoài ra còn đại đội địa phương các huyện An Khê, Đăk Bơt làm nhiệm vụ phối hợp đón lỏng từ xa và làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ.

Tuy số lực lượng quân địch đông gấp hai lần quân ta, nhưng cán bộ, chiến sĩ, bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh, huyện đều quyết tâm tấn công. Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh: “Kiên quyết đánh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy”. Đây là quyết tâm hoàn toàn chính xác.

Đúng 10 giờ ngày 24 tháng 6 năm 1954 khi đại bộ phận quân địch lọt vào khu quyết chiến của ta, theo kế hoạch đã vạch sẵn, tiểu đoàn chặn đầu nổ súng; cả đoàn xe trên 200 chiếc nối đuôi nhau cố vượt nhanh lên bắt liên lạc với binh đoàn 42 thì toàn bộ hỏa lực của ta tập trung chặn đứng lại, các xe đầu bốc cháy, hàng loạt xe sau thúc lên nhưng phải quay đầu dồn cục, tạo thành mục tiêu tập trung cho hỏa lực và bộ binh ta tiêu diệt.

Sau hơn một giờ chiến đấu quyết liệt, ta làm chủ trận địa hoàn toàn. Đại tá Baroux chỉ huy cuộc hành quân trúng đạn bị thương từ đầu, tên tham mưu trưởng vừa lên thay bị ta bắn chết. Hàng ngũ quân địch rối loạn trước sức tấn công vũ bảo của bộ đội ta. Lúc này mấy chiếc phi cơ địch đến ứng cứu nhưng đã chậm, trên trận địa dài hàng ba ki-lô-mét không còn phân biệt giữa ta và địch, vì bộ đội ta đã xung phong ra mặt đường đánh giáp lá cà với những tên địch ngoan cố còn dựa vào thành xe chống cự.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2020, 06:10:21 AM »

Suốt một dải dài suối Đak Pơ ngổn ngang xe, pháo, xác địch. Trên 700 lính Âu Phi bị chết và bị thương; gần 1200 tên khác, trong đó có Đại tá Baroux cùng toàn bộ Ban tham mưu binh đoàn 100 bị bắt sống.

Một số toán tàn binh khác cố chạy bán sống bán chết vào phía Nam đường 19 bị du kích, nhân dân các xã Ya Hội, Yang Bắc truy lùng. Một số chạy lạc vào các làng Đé Chơu, Đé ChkơRei xin ăn, chị em phụ nữ tước súng bắt nộp cho bộ đội.

Tiêu diệt binh đoàn cơ động 100, bộ đội ta thu 229 xe cơ giới, 20 súng đại bác, trên 1.000 ngàn súng các loại và hàng chục tấn đạn. Thừa thắng ta truy đánh các bộ phận chốt của binh đoàn 42 đến ứng cứu và quét sạch toàn bộ hệ thống cứ điểm chốt trên đường 19, giải phóng toàn bộ huyện An Khê và khu vực phía đông thị xã Pleiku.

Chiến thắng Đăk Pơ, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động 100 của Pháp là một trong những trận đánh mẫu mực của bộ đội chủ lực Khu 5 phối hợp chặt chẽ với bộ đội tỉnh Gia Lai, nêu cao tinh thần anh dũng, kiên cường, táo bạo bám chặt địch.

Đak Pơ mãi mãi là một trong những chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và còn vang vọng mãi suốt trong mấy chục năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Sau chiến thắng Đak Pơ tiêu diệt GIM 100, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư khen toàn Khu 5.

Bác viết: “… các chú hoạt động có thành tích khá, Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú và thưởng đoàn vừa thắng khá ở An Khê Huân chương kháng chiến hạng nhất. Bác khuyên toàn thể cán bộ, chiến sĩ cần phải nắm vững tình hình địch, thi đua giết giặc lập công, phải ra sức dân vận và ngụy vận.

Chớ vì thắng mà kiêu, mà chủ quan khinh địch, ra sức tranh thủ lấy thành tích to hơn nữa.

Bác chờ tin thắng lợi của các chú và thân ái hỏi thăm đồng bào trong đó.

                                                                                                                                                                          
Chào thân ái và quyết thắng
Bác
Hồ Chí Minh

Sau chiến thắng đường số 19, bộ đội chủ lực và bộ đội tỉnh chuyển vào bao vây Cheo Reo cắt đường số 14. Ngày 15 tháng 7 năm 1954 ta pháo kích vào thị trấn Cheo Reo và tổ chức bao vây địch ở thị xã Pleiku từ 17/7, lúc này quân Pháp đang thực hiện kế hoạch thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn và tập trung lực lượng có trọng điểm của Tướng E Ly(1). Chúng cho một bộ phân rút khỏi Pleiku, lại sa vào trận địa phục kích của ta ở Chư Drek, ta phá hủy 62 xe quân sự, diệt 300 tên, bắt sống gần 200 tên. Tiếng pháo lớn của ta nổ vang dội một vùng núi rừng Bắc Tây Nguyên càng gieo thêm nỗi kinh hoàng khủng khiếp trong hàng ngũ binh lính địch.

Cuộc tiến công chiến lược của các lực lượng ta ở mặt trận Bắc Tây Nguyên đã toàn thắng. Lực lượng vũ trang Gia Lai cùng cán bộ, dân, chính đảng và nhân dân các dân tộc trong tỉnh suốt thời gian chiến dịch sát cánh phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực khu 5, đoàn kết giúp đỡ bộ đội chủ lực mọi mặt, giúp đỡ tận tình các đoàn dân công hỏa tuyến, các đội thanh niên xung phong lên phục vụ chiến trường hoàn thành nhiệm vụ.

Lực lượng vũ trang Gia Lai, đồng bào các dân tộc trong tỉnh nổ lực tối đa góp phần cùng chiến trường tiêu diệt 28.271 tên địch, thu 7.592 khẩu súng các loại giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum và hầu hết tỉnh Gia Lai (Trừ thị xã Pleiku). Ban cán sự tỉnh đã thành lập Ban quân quản chuẩn bị cho tiếp quản thị xã được giải phóng.

Ngày 20/7/1954, Hội nghị Giơ-Ne-Vơ về Đông dương kết thúc. Hội nghị ra tuyên bố tuyên ngôn chính trị về hiệp định đình chiến ở Đông dương. Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đã giành thắng lợi.


(1) Tướng E Ly vừa sang thay Na Va
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2020, 06:20:36 AM »

Từ tháng 8/1945 đến tháng 7/1954, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Gia Lai đã trải qua chặng đường lịch sử vô cùng gian khổ khó khăn, nhưng đã thu được nhiều thắng lợi vẻ vang.

Cách mạng vừa mới thành công, chính quyền nhân dân mới thành lập, lực lượng vũ trang nhân dân mới hình thành đã phải đương đầu với đạo quân xâm lược Pháp ào ạt tấn công vào địa bàn tỉnh, quân và dân trong tỉnh đã anh dũng chiến đấu, phối họp cùng lực lượng Khu 5 kịp thời ngăn chặn từng bước cuộc tiến công của địch, bảo vệ được thực lực cách mạng, gây cho địch nhiều thiệt hại. Cuộc chiến đấu không ngang sức giữa ta và địch kéo dài đến tháng 7-1954, tỉnh Gia Lai đã thu được thắng lợi lớn.

Suốt mấy năm dài kháng chiến, trong điều kiện cực kỳ gian khổ khó khăn, quân và dân Gia Lai với tinh thần quyết chiến quyết thắng, tự lực tự cường, bám dân bám đất, am hiểu phong tục tập quán, địa hình rừng núi để tuyên truyền vận động giành giật từng người dân, từng buôn làng với địch.

Vừa công tác vừa chiến đấu, học tập nắm vững phương châm phương thức hoạt động trong vùng địch, cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang nắm được quan điểm chính sách của Đảng, nhất là chính sách dân tộc và tôn giáo để tổ chức nắm dân, xây dựng thực lực chính trị, trên cơ sở đó mà xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ chiến đấu phân tán đến chiến đấu tập trung đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh bại các âm mưu, thủ đoạn của địch góp phần cùng quân dân cả nước đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

Đảng bộ Gia Lai đã nhận thức đúng đắn đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài của Đảng. Sau khi Pháp chiếm, Đảng bộ đã sớm ổn định tình hình, chấn chỉnh củng cố lực lượng trở lại bám chiến trường, bám dân xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng. Đó là một chủ trương đúng đắn, nghiêm minh là yếu tố cơ bản đầu tiên để huy động sức mạnh chiến đấu của nhân dân các dân tộc. Chủ trương thống nhất lực lượng quân, dân, chính, Đảng trên chiến trường địch hậu là điểm sáng tạo để tập trung sức chỉ đạo quân sự, chính trị phát huy sức mạnh tổng hợp vào việc xây dựng, chiến đấu và phát triển cơ sở. Cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang phải làm tốt công tác vận động quần chúng xây dựng cơ sở chính trị. Cán bộ chính trị, cán bộ chuyên môn các ngành vừa xây dựng cơ sở vừa xây dựng du kích chiến tranh, xây dựng làng xã chiến đấu để đủ sức đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, tự túc lương thực, đảm bảo đời sống nhân dân các dân tộc.

Quán triệt quan điểm tư tưởng kháng chiến lâu dài của Đảng trong điều kiện chi viện của trên còn nhiều khó khăn, kinh tế trong tỉnh còn nghèo, sản xuất còn lạc hậu mà quyết tâm xây dựng các lực lượng chống lại kẻ thù hung bạo tàn ác, các lực lượng vũ trang tỉnh đã thấm nhuần tư tưởng “Lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy súng địch đánh địch…” dùng vũ khí thô sơ tự tạo kết hợp với vũ khí hiện đại, cộng với dũng khí cách mạng để đánh thắng kẻ thù.

Xuất phát từ thực tiễn trên mà tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang phải thật phù hợp. Từ những đội du kích nhỏ từng buôn làng tiến lên xây dựng bộ đội địa phương huyện và các đơn vị tập trung tỉnh. Trong kháng chiến chống Pháp, Trung đoàn 120 đặc trách quân sự địa phương của bắc Tây Nguyên.

Bộ đội tập trung tỉnh ngoài nhiệm vụ chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt địch còn có trách nhiệm kèm cặp dân quân du kích chiến đấu, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Dân quân du kích phải xây dựng rộng rãi, đều khắp và vững mạnh là lực lượng cơ động tại chỗ sẵn sàng đập tan các cuộc càn quét lấn chiếm của địch.

Đảng bộ tỉnh đã lãnh đạo đoàn kết rộng rãi nhân dân các dân tộc trong tỉnh, kinh, thượng, Ja rai, Bah nar, già, trẻ, giá, trai không phân biệt tôn giáo, vùng căn cứ du kích, vùng tranh chấp, cả nhân dân trong vùng địch kiểm soát đều một lòng, một dạ hướng về cách mạng, hướng về Hồ Chủ tịch với cái tên thân thương gọi Bok Hồ, tin tưởng kháng chiến chống địch, tin tưởng vị lãnh tụ Bok Hồ kính yêu, luôn luôn khắc sâu trong tim người dân Gia Lai, “Hạt gạo Bok Hồ, hạt muối Bok Hồ, anh bộ đội Bok Hồ” là những hình ảnh thân yêu nhất động viên mọi người xông lên vượt mọi khó khăn, ác liệt, một lòng, một dạ bền gan chiến đấu.

Đoàn kết các dân tộc thành một khối sức mạnh để thực hiện toàn dân đánh giặc giữ buôn làng. Quán triệt sâu sắc vị trí chiến lược của tỉnh càng tăng cường củng cố khối đoàn kết dân tộc, chăm lo cải thiện từng bước đời sống nhân dân, tập hợp quần chúng vào mặt trận bằng các tổ chức “Hội đánh Tây”, “nhóm nhân dân kháng chiến” ở từng buôn làng, là những hình thức vận động nắm dân rất sinh động, phù hợp trình độ chính trị của dân, thu hút đông đảo nhân dân tham gia.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2020, 06:21:45 AM »

Quan tâm chăm lo cải thiện đời sống nhân dân trở thành nhiệm vụ chính trị cấp thiết là một trong những nhân tố quan trọng để tổ chức toàn dân đánh giặc. Đảng bộ và Mặt trận chính quyền từ tỉnh đến huyện để khai thông vận chuyển muối, gạo, nông cụ giúp dân, động viên sản xuất đi đôi tổ chức mua nông lâm sản của dân; Tổ chức cuộc vận động đưa “Cây sắn” lên Gia Lai từ năm 1950 trở đi là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược trên địa bàn tỉnh. Do vậy đi đôi bình chọn chiến sĩ thi đua diệt địch, tỉnh còn tổ chức bình chọn chiến sĩ thi đua sản xuất giỏi; tỉnh còn quan tâm giải quyết cứu đau, đói và cứu lạt cho dân, nhất là thời gian giáp hạt.

Là chiến trường hậu địch, nơi kẻ thù đang ra sức thi thố mọi âm mưu nham hiểm của chính sách thực dân kiểu cũ. Vì vậy công tác tuyên truyền giáo dục tập hợp dân làm nhiệm vụ chính trị hàng đầu của các lực lượng vũ trang, tổ chức Ban xung phong, đội vũ trang tuyên truyền, đội vũ trang công tác, đoàn cán bộ vận động chính quyền để luồn sâu vào vùng địch bám dân, bám địa bàn, tuyên truyền rỉ rả từng người dân từ ông già đến em bé, từ lúc giả làm trâu, ngựa cho các em cỡi, từ chỗ dân chưa tin dần dần đến dân tin, dân mến, dân nuôi dân chỉ địch cho đánh, dân bày cách bóc gỡ các tổ chức phản động tại địa phương, truy tróc tề điệp gian ác, các tổ chức phản động cài cắm trong dân.

Từ phương thức hoạt động trên ta phát triển rộng cơ sở chính trị, vũ trang, hình thành ba vùng thích hợp: Vùng căn cứ du kích, vùng du kích, vùng địch tạm chiếm. Ba vùng này tuy mức độ hoạt động có khác nhau, nhưng có sự liên quan hỗ trợ nhau nhằm kết hợp chặt chẽ hoạt động vũ trang với đấu tranh chính trị, binh tề vận, diệt ác trừ gian chống các hoạt động phá hoại của địch.

Đảng bộ tỉnh đã sớm nhận thức quan điểm bạo lực trong chiến tranh cách mạng. Sau cách mạng tháng 8 thành công, quân Pháp bắt đầu gây hấn ở Sài Gòn – Nam bộ, tỉnh đã tiến hành khẩn trương xây dựng lực lượng vũ trang. Tập trung xây dựng dân quân du kích, các đội tự vệ, thực hiện võ trang lập công binh xưởng rèn đúc vũ khí, xây dựng căn cứ địa làm nơi tiến thủ để chỉ đạo phong trào, từ chiến khu Xóm Ké đến Ya Hội, Sơ Tơr để loan rộng ra nhiều vùng tạo điều kiện chủ quan chỉ đạo đứng chân, và nơi dung lượng các đơn vị chủ lực của khu mở các chiến dịch giành thắng lợi lớn.

Đảng lãnh đạo trực tiếp lực lượng vũ trang là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến đấu thắng lợi của các lực lượng vũ trang; Bí thư Ban cán sự tỉnh kiêm chính ủy Trung đoàn, Bí thư Ban cán sự các huyện Kiêm chính trị viên Huyện đội trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự địa phương.

Thống nhất quân, dân, chính, Đảng; thống nhất chế độ, tất cả hướng về cơ sở phục vụ, đẩy cuộc chiến tranh du kích ngày càng tiến bộ. Cán bộ, chiến sĩ động viên nhau học nói tiếng dân tộc. Nhiều đồng chí thành thạo cả tiếng Jarai và Bahnar. Đó là thuận lợi lớn trong công tác vận động quần chúng. Cán bộ Kinh và cán bộ dân tộc đều biết song ngữ là một quan điểm nhận thức đúng đắn đáng khuyến khích. Đó cũng là đạo đức, là văn minh của người Đảng viên, cán bộ tranh thủ được lòng dân, thực hiện ba bám, bốn cùng có hiệu quả(1). Muốn làm được điều đó cần tăng cường giáo dục bản chất Cách mạng, bản chất giai cấp cho cán bộ, chiến sĩ.

Trong chiến trường địch hậu, một yếu tố quan trọng thường xuyên, có lúc có tính chất quyết định là kết hợp chặt chẽ hoạt động quân sự của các đơn vị chủ lực với phong trào nhân dân du kích chiến tranh của địa phương. Thắng lợi của các chiến dịch, tiêu diệt nhiều sinh lực địch thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động cơ sở, hoạt động du kích chiến tranh. Phong trào du kích chiến tranh mạnh, cơ sở quần chúng vững chắc làm chỗ dựa cho các chiến dịch tiến công và phản công của các đơn vị chủ lực.

Lực lượng vũ trang tỉnh luôn gắn bó, phối hợp chặt chẽ và giúp đỡ tận tình các đơn vị chủ lực, cả các đoàn dân công và thanh niên xung phong lên phục vụ ở chiến trường.

Quân và dân Gia Lai luôn luôn kiên định nhiệm vụ, tin tưởng tuyết đối vào đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, đoàn kết gắn bó giữa Đảng và quần chúng, đoàn kết giữa quân đội và nhân dân, đoàn kết Kinh – dân tộc, đoàn kết với quân chủ lực hoạt động trên địa bàn; gắn bó chặt chẽ với lực lượng Cách mạng chân chính ở các tỉnh đông bắc Campuchia tạo sức manh to lớn giành nhiều thắng lợi.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn. Một nửa nước đã sạch bóng quân xâm lược nhưng còn một nửa nước chưa được giải phóng. Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào còn bị địch thống trị.

Giương cao ngọn cờ QUYẾT CHIẾN QUYẾT THẮNG của Đảng, của Bác Hồ; quân và dân Gia Lai cùng quân dân cả nước sẵn sàng chấp hành nghiêm chỉnh nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội.


(1) Ba bám: Đảng bám dân, dân bám đất, du kích bộ đội bám địch
Bốn cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng lao động với dân, cùng dân chiến đấu
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2020, 07:28:09 AM »

Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2020, 07:16:54 AM »

Phần thứ hai

*   *
*

KHÁNG CHIẾN CHỐNG ĐẾ QUỐC MỸ XÂM LƯỢC
(1954-1975)

CHƯƠNG VI

Từ đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ,
Chuẩn bị cho đồng khởi trên địa bàn tỉnh

I – Nhận rõ kẻ thù kiên định nhiệm vụ khi cách mạng chuyển sang giai đoạn mới

Ngày 20/7/1954 Hiệp định Giơ-Ne-Vơ về Việt nam và Đông dương được ký kết, Hiệp định và bản tuyên bố chung của các nước tham gia Hội nghị đều công nhận:

- Tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam.

- Nước Việt Nam tại chia làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Miền Nam tạm thời giao đối phương quản lý, để chờ 2 năm Tổng tuyển cử (20/7/1956) thống nhất nước nhà dưới sự giám sát Quốc tế. Quân đội Pháp phải rút khỏi đất nước ta.

Cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới. Đất nước tạm chia làm hai miền và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược:

- Miền Bắc tiến dần lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Trong bước ngoặt chung cả nước, phong trào cách mạng của Gia Lai cũng chuyển sang một thời kỳ vô cùng khó khăn phức tạp. Qua chín năm chiến đấu bền bỉ, anh dũng và quyết liệt với kẻ thù, quân và dân Gia Lai đã phối hợp chặt chẽ, liên tục với các lực lượng vũ trang Khu 5, bám trụ giành giật từng người dân, từng tấc đất với địch, đưa phong trào cách mạng trong tỉnh tiến lên từng bước vững chắc.

Trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954, quân và dân Gia Lai cùng lực lượng Khu 5 tiến công mạnh mẽ, đập nát thế phòng thủ, ách kìm kẹp của giặc Pháp, giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum và hầu hết tỉnh Gia Lai (trừ thị xã PleiKu). Đang trên đà chiến thắng thì Hiệp định Giơ-Ne-Vơ được ký kết, theo các điều khoản của Hiệp định, tỉnh Gia Lai được sớm giao cho đối phương quản lý(1). Cán bộ và lực lượng vũ trang tập kết ra miền Bắc có sự giám sát của Ủy ban quốc tế(2).

Chín năm liên tục bám trụ kháng chiến trong lòng địch, trải qua bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn, ác liệt, quân và dân Gia Lai luôn luôn một lòng hướng về Đảng, về Hồ Chủ tịch. Ngày An Khê và hầu hết tỉnh Gia Lai được giải phóng, nổi vui mừng nhìn ánh hào quang của lá cờ đỏ sao vàng, ảnh vị cha gia của dân tộc chưa bao lâu, thì giờ đây mây mù u ám đã kéo đến bao phủ bầu trời Tây Nguyên, bầu trời tỉnh Gia Lai.

Từ chỗ đại bộ phận tỉnh là vùng giải phóng, vùng du kích, có chính quyền, có lực lượng vũ trang, hoạt động công khai, đấu tranh vũ trang là chủ yếu; nay trở thành vùng đối phương quản lý kiểm soát, ta phải hoạt động bí mật, đấu tranh chính trị bằng phương pháp hòa bình. Đây là sự thay đổi cả về thế và lực hết sức cơ bản, cả phương châm và phương pháp đấu tranh. Niềm vui phấn khởi xen lẫn với lo âu; vui vì nửa nước đã được hoàn toàn giải phóng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã giành những thắng lợi hết sức to lớn. Suy nghĩ lo âu vì tình hình sẽ ra sao khi cán bộ và bộ đội rút chuyển đi hết; nhân dân sẽ sống và chịu đựng như thế nào dưới bộ máy cai trị của kẻ thù mới.

Đảng và Chính phủ đã thấu hiểu nỗi lo của đồng bào Miền Nam. Ngày 22/7/1954, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi đồng bào cả nước: “… đồng bào Miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi tin chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước lên trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành dân chủ trong toàn quốc. Đảng, Chính phủ và tôi luôn luôn theo dõi sự cố gắng của đồng bào và tin chắc đồng bào sẽ thắng lợi…”.


(1) Tỉnh Gia Lai giao cho đối phương quản lý ngày 30-8-1954
(2) Ủy ban quốc tế giám sát thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam gồm 3 nước:Ấn Độ, Ba lan và Canađa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2020, 07:18:03 AM »

Quán triệt Nghị quyết Khu 5(1) đồng chí Bí thư Tỉnh ủy khẳng định nhiệm vụ cách mạng của Đảng bộ Gia Lai trong giai đoạn mới, khi đối tượng cách mạng đã thay đổi thì phương châm, phương pháp đấu tranh cách mạng cũng thay đổi. Một loạt công tác tư tưởng, công tác tổ chức cần phải được giải quyết khẩn trương trước tình hình có nhiều khó khăn phức tạp. Trước hết nhận thức tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và Đảng viên đối với kẻ thù mới là nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới còn mơ hồ giản đơn. Trong một số cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng chưa hình dung, nhận thức đầy đủ về bộ mặt kẻ thù mới; cả nhận thức về phương châm, phương pháp đấu tranh cũng chưa được thấu triệt và dự lường hết những diễn biến phức tạp có thể xảy ra, trong lúc ta phải bàn giao địa bàn tỉnh cho đối phương quá gấp.

Khó khăn rất nhiều và lớn nhưng những nhân tố đảm bảo cho việc ổn định tình hình, tiếp tục đưa phong trào cách mạng của tỉnh tiến lên theo phương hướng mới rất cơ bản. Đó là lòng trung thành với cách mạng, lòng tin tuyệt đối của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ.

Các đơn vị vũ trang của tỉnh đến đầu tháng 8 năm 1954 đã tập trung tại An Khê để làm lễ chiến thắng. Ngày 30/08/1954 tập trung về Phú Phong (Bình Định) để biên chế tổ chức. Các đơn vị vũ trang của Gia Lai đi tập kết lập thành Tiểu đoàn 1 của Trung đoàn 120. Ngày 20/091954, trung đoàn dự lễ chiến thắng toàn Khu 5 tại thị trấn Phù Cát (Bình Định) và đến ngày 20/10/1954 trung đoàn hành quân xuống cảng Quy Nơn để tập kết ra miền Bắc.

Đi đôi việc chuyển quân tập kết ra Bắc, Tỉnh ủy khẩn trương triển khai nhiệm vụ tổ chức lực lượng. Một số cán bộ, chiến sĩ được giao nhiệm vụ ở lại chiến trường trên tinh thần tự nguyện bố trí bám địa bàn, bám dân, có 131 đồng chí (59 cán bộ quân đội), trong đó có 5 cán bộ chuyển ra hoạt động hợp pháp. Vũ khí để lại có 7 khẩu tiểu liên (gồm 3 súng tôm xông, 4 súng tuyn), đạn mỗi khẩu có 300 viên; có 70 khẩu súng trường, mỗi khẩu 200 viên đạn; có một số súng ngắn trang bị cho cán bộ bám cơ sở. Ngoài ra còn có chôn dấu hai hầm súng ở chiến khu Đé Krăp dự phòng cho chiến đấu sau này.

Trên cơ sở bố trí cán bộ ở lại, cùng cán bộ địa phương tại chỗ ở các vùng cơ sở cũ vững các cấp cũng tổ chức học tập về phương châm, phương pháp hoạt động trong vùng địch kiểm soát; tuyên truyền giáo dục nhiệm vụ, xác định tư tưởng nắm chủ trương đối lối phương châm cách mạng cho cán bộ Đảng viên và quần chúng nhân dân, là công tác trung tâm lúc bấy giờ. Việc củng cố tổ chức Đảng theo phương hướng: “Lập chi bộ nhỏ, tinh gọn, trong sạch vững mạnh, nghiêm mật. Phát triển tổ chức lực lượng theo yêu cầu, không theo khả năng”; nắm vững phương châm chung cho cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới là; “tích lũy lực lượng, trường kỳ tồn tại, giữ vững ngọn cờ hòa bình thống nhất, vững bước đưa phong trào tiến lên…”.

Trong lúc nhân dân ta đang ra sức ổn định củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ, thì cũng là lúc Đế quốc Mỹ và tay sai ráo riết phá hoại Hiệp định. Chúng thực hiện các biện pháp lớn là:

- Tiến hành phế truất Bảo Đại, gạt Pháp và bộ máy tay sai thân Pháp, gây uy tín cho Ngô Đình Diệm, lập các Đảng phái phản động, tổ chức bộ máy cai trị có hệ thống từ Trung ương đến buôn làng.

- Tập trung sức xây dựng lực lượng vũ trang, mở đường giao thông chiến lược 14, 19 và đường 7, sửa chữa sân bay, đóng hệ thống cứ điểm dọc biên giới, vùng giáp ranh tỉnh, có 30 cứ điểm lớn nhỏ từ trung đội đến đại đội.

- Thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”.

- Cải cách điền địa, lập hệ thống dinh điền.

Trong đó biện pháp chủ yếu của Mỹ và tay sai là “tố cộng, diệt cộng” nhằm tiêu diệt lực lượng lãnh đạo cách mạng, xóa bỏ mọi ảnh hưởng của Đảng cộng sản Việt nam trong đồng bào dân tộc. Lập bộ máy chỉ đạo. “tố cộng từ Trung ương xuống xã, thôn, buôn làng do những tên phản động gian ác nhất có nợ máu với nhân dân phụ trách”.

Nhân lúc Mỹ và tay sai dồn lực lượng đánh phá ở vùng tự do cũ của Khu 5, tỉnh Gia Lai khẩn trương củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng để trở về bám địa bàn hoạt động. Từ tháng 9/1954 đến tháng 01/1955, Tỉnh ủy mở 4 lớp học cho cán bộ ở lại về đường lối, phương châm, phương pháp hoạt động tại làng Tà Lốc (Vĩnh Thạnh – Bình Định). Ngày 26/4/1955 cơ quan Tỉnh ủy chuyển lên làng Đé Môn (thuộc xã Srô). Đến tháng 8/1955 chuyển cơ quan lên làng Đé bam (thuộc huyện Kông chro) để trực tiếp chỉ đạo phong trào. Trong khi di chuyển cơ quan vừa mới đến vùng giáp ranh tỉnh đã chạm ngay một lực lượng địch đang càn quét dọc suối Hơ Wây, nhưng được nhân dân che chở, bảo vệ, đồng chí Đoan du kích mật đã dẫn đường đưa đoàn cán bộ đến địa điểm an toàn.

Được sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời của Tỉnh ủy, các đoàn cán bộ đã về bám tại cơ sở địa bàn. Mỗi xã đã có 2 đến 3 cán bộ kinh và dân tộc thoát ly phụ trách, mỗi làng đều có cơ sở chính trị sống công khai hợp pháp trong dân. Dựa vào phong tục tập quán của mình và lợi dụng lúc Mỹ Diệm đang tập trung lực lượng đánh phá các tỉnh đồng bằng, đồng bào các dân tộc trong tỉnh tranh thủ củng cố lực lượng, học tập xác định nhiệm vụ, đoàn kết giữ phong trào, bảo tồn lực lượng cách mạng.


(1) Khu ủy 5 họp các này 27, 28 tháng 07 năm 1954
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2020, 07:18:54 AM »

*   *
*

II – Những cuộc đấu tranh chính trị của đồng bào các dân tộc đòi hòa bình, thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ:

A. Phong trào đấu tranh đòi hiệp thương: Ngày 16/05/1955, Trung đoàn 803 đơn vị cuối cùng của Khu 5 xuống tàu hoàn thành thắng lợi cuộc chuyển quân tập kết. Thời gian ấy quân đội Pháp cũng rút khỏi vùng mỏ Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Một nửa nước ta từ vĩ tuyến 17 trở ra đã vĩnh viễn không còn bóng quân xâm lược.

Trong lúc các lực lượng vũ trang ta đang thực hiện các điều khoảng của Hiệp định Giơ-ne-vơ về chuyển quân tập kết; trên vùng Cao nguyên Gia Lai, đồng bào các dân tộc và đồng bào kinh ở An Khê (huyện 2, 7 cũ) đã đấu tranh với địch dưới hình thức biểu tình chống địch vi phạm Hiệp định, đòi địch phải giải quyết đời sống cho dân. Các cuộc đấu tranh diễn ra liên tục từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1954 của trên 2000 đồng bào vùng Đak Đoa, Đak Bơt, dựa vào các điều hiệp định buộc địch trước kia đóng ở đâu nay cứ ở đó, không được lập thêm đồn bót mới.

Ngày 6 tháng 6 năm 1955, Chính phủ nước Việt nam dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở Hội nghị hiệp thương với nhà đương cục Miền Nam bắt đầu từ 20 tháng 7 năm 1955. Tiếp đến ngày 19/7/1955, Chính phủ ta lại gửi công hàm cho chính quyền Miền Nam đề nghị cử đại biểu tham dự Hội nghị Hiệp thương.

Hưởng ứng các bản tuyên bố của Chính phủ ta, hàng vạn nhân dân vùng nông thôn dân tộc đến thị xã, thị trấn gây dự luận rộng rãi, đòi hiệp thương tổng tuyển cử. Nhiều nơi đồng bào rầm rộ tổ chức mét tinh, biểu tình, cử đại biểu đến cơ quan quận, tỉnh, đến ủy ban quốc tế đưa kiến nghị, nguyện vọng đòi chính quyền Miền Nam phải ngồi hiệp thương với Miền Bắc để bàn việc tổ chức tổng tuyển cử. Cùng với những cuộc đấu tranh đòi yêu sách trên, vào khoảng tháng 8 và tháng 9 năm 1955, cơ hơn năm ngàn đồng bào từ các vùng vào quận An Túc (An Khê) đấu tranh đòi Mỹ Diệm không được cho quân bắn phá bừa bãi vào làng và kéo dài thời gian đổi bạc. Cuộc đấu tranh này có sự đồng tình, phối hợp của phái đoàn ta ở ủy ban liên hiệp đình chiến, buộc địch phải chấp nhận. Nhiều cuộc đấu tranh dồn dập kiên quyết buộc tên Nguyễn Văn Ngọc Tỉnh phó phải đích thân xuống An Khê giải quyết các yêu sách của dân.

Từ tháng 10 năm 1955 đến tháng 2 năm 1956 có sự chỉ đạo đúng mức, kịp thời, sát hợp của cán bộ bám các địa bàn, những cuộc đấu tranh của đồng bào các nơi được bùng lên đều khắp. Nhất là vùng khu 2, 7 và khu 4, 5 đã thu được thắng lợi, gây niềm tin phấn khởi trong nhân dân. Có lúc hàng ngàn người kéo vào Chu Ty, nhập thị xã Pleiku đấu tranh đòi địch phải thả những người đại diện của quần chúng đấu tranh bị địch bắt, chúng phải chấp nhập giải quyết.

Các cuộc đấu tranh với địch thu thắng lợi thì phong trào cách mạng trong nhân dân tiếp tục được củng cố, khu căn cứ của tỉnh ở vùng Đé Bam – Đé Krăp được giữ vững. Các tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng bí mật được kiện toàn. Số muối, nông cụ cất dấu từ trước dần dần được giải quyết cấp phát cho dân các vùng gặp khó khăn.

Cán bộ kịp thời bám sát cơ sở, tranh thủ phát động quần chúng, xây dựng đội ngũ cốt cán, sẵn sàng đấu tranh chống địch. Đã dựa vào phong tục tập quán để hướng dẫn đồng bào sử dụng vũ khí thô sơ bảo vệ buôn làng, bảo vệ cơ sở cách mạng hạn chế không cho địch sục sâu vào rừng. Ta đã phát động phong trào văn nghệ quần chúng sôi nổi, rộng rãi để tập họp được đông đảo quần chúng dân tộc tham gia. Qua đó mà thâm nhập, giáo dục tuyên truyền hướng dẫn nội dung đấu tranh và rút kinh nghiệm cho quần chúng đạt được kết quả. Nhiều cuộc đấu tranh đông bằng ngàn người, nhưng có tổ chức, có cốt cán, có lãnh đạo gây cho địch bất ngờ, lúng túng. Mặt khác ta đã vận động nắm được số nhân viên người dân tộc có cảm tình với cách mạng cài vào bộ máy Ngụy quyền của Diệm. Tại vùng khu 2, 7 (An Khê cũ) đã có 50% hoặc hơn số nhân viên ngụy quyền cấp cơ sở là người của ta chuẩn bị sẵn đưa vào; có một số nhân viên Ngụy quyền cấp chuẩn bị sẵn đưa vào; có một số nhân viên Ngụy quyền cấp cấp quận (huyện) là người của ta cài vào hoặc đã tranh thủ được họ. Ta chủ động liên lạc số này trong các cuộc đấu tranh chống xâu, thuế có kết quả. Qua đấu tranh phong trào ở các khu du kích cũ có ổn định nên ta xây dựng thêm được nhiều cơ sở trong vùng trước đây do Pháp kiểm soát, nên đến đầu năm 1957 toàn tỉnh đã có cơ sở ở 911 làng (trong tổng số 1001 làng của tỉnh).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2020, 07:21:55 AM »

*   *
*

B. Phong trào nhân dân đấu tranh chống địch “Tố cộng”:

Trong khoảng thời gian nửa năm 1956 sang năm 1957 là lúc địch ráo riết xây dựng Tây Nguyên thành căn cứ quân sự. Chúng tăng cường mở rộng các đồn bót cũ, xây dựng thêm nhiều đồn bót mới, hình thành hệ thống cứ điểm vây quanh các khu căn cứ của ta. Chúng ra sức bắt xâu, tăng thuế, cướp đất rừng lập các khu dồn dân gọi là “Dinh điền”. Bằng mọi biện pháp cưỡng bức xúc dân từ các tỉnh đồng bằng, nhằm vào các gia đình cách mạng, Đảng viên, gia đình có người thân đi tập kết đưa lên Gia Lai, lập những ấp dân cơ cư dọc các trục lộ giao thông chiến lược 14, 19, vùng đất bằng sát biên giới Việt Nam – Campuchia. Mưu đồ của chúng là xây dựng những cơ sở hậu cần, làm pháo đài chống phá cách mạng phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Âm mưu của địch là muốn tiêu diệt nhanh cơ sở cách mạng của ta ở vùng núi. Chúng cho rằng chừng nào chưa kiểm soát được Tây Nguyên thì tình hình của chúng ở các nơi khác cũng khó ổn định, nhưng vì chúng chưa có cơ sở trong dân, địa thế lại hiểm trở chi phối, nên chúng chủ trương lúc đầu chỉ tập trung đánh phá một số khu vực trọng điểm là Đak Đoa, Đak Bơt và nam An Khê.

Chúng tập trung đánh vào một số khu trọng điểm điển hình với mọi hành động dã man, tàn ác như thời Trung cổ. Bọn tay sai ác ôn hung hăng gào thét “đánh thật mạnh, nhổ hết cơ sở của Việt Cộng!”. Chúng xua quân đốt làng mạc từ “nhà rông” đến chòi để lúa, nhà giữ rẫy đều thiêu đốt sạch. Chúng bắt hàng loạt người tra tấn đến chết hoặc đánh đến tàn phế. Mặt khác chúng mở các lớp học “chiêu hồi tố cộng” hàng 10 ngày đến nửa tháng để uy hiếp tinh thần nhân dân, hòng phát hiện khai báo Đảng viên, cốt cán. Chúng cấm nhân dân không được ngủ tối ngoài rẫy, ai đi rẫy, đi rừng không được mang theo gạo, muối.

Tuy Mỹ Diệm dùng mọi cực hình tra tấn, nhưng chúng không đè bẹp được ý chí kiên cường bất khuất của cán bộ, đảng viên. Quần chúng nhân dân bảo vệ che dấu cán bộ. Có số cán bộ, Đảng viên bị địch bắt dù tra tấn nhục hình hết sức dã man vẫn không khai báo, không nói xấu về Đảng. Đồng chí Đei – Bí thư chi bộ làng Krong Hra (Nam An Khê) bị địch bắt tra tấn rất dã man, đồng chí không hề khai báo một lời, chúng điên cuồng đem chôn sống đồng chí; trước lúc hy sinh đồng chí đã khẳng khái hô to: “Bok Hồ arih ling lang”(1); tinh thần bất khuất của người Đảng viên cộng sản đã góp phần giữ vững lòng tin và cổ vũ khí thế đấu tranh cho quần chúng nhân dân.

Trước những hành động địch đánh phá phong trào một cách quyết liệt, Tỉnh ủy kịp thời chủ đạo cho các cơ sở: “Tiếp tục phát động quần chúng đấu tranh đòi hiệp thương đòi bỏ sưu, bỏ thuế, đòi cải thiện dân sinh, chống địch khủng bố, chống bắt người kháng chiến cũ”.

“Củng cố và phát triển cơ sở cách mạng, học tập quán triệt sâu thêm cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân nắm và vận dụng phương châm đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và không hợp pháp đối với từng vùng cho sát. Triệt để lợi dụng thế hợp pháp để đấu tranh, đồng thời vận dụng phong tục tập quán để đẩy thế đấu tranh không hợp pháp”.

“Tiếp tục củng cố nội bộ Đảng, học tập, giữ vững và nâng cao khí tiết cách mạng, rèn luyện nhân sinh quan cho Đảng viên, cán bộ Đảng viên, cán bộ phải bám cơ sở, bám phong trào, lãnh đạo hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ cơ sở, bảo vệ phong trào. Phải khẩn trương chuyển hướng tổ chức. Chi bộ làng sinh hoạt, đơn tuyến, phát triển Đảng viên mới bí mật, xây dựng củng cố các tổ chức quần chúng hoạt động bí mật.

Những chủ trương trên, nhất là kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh hợp pháp với đấu tranh không hợp pháp, đấu tranh chính trị với đấu tranh để tự bảo vệ đã tạo thế chủ động cho nhân dân. Qua hai năm đấu tranh chống địch “Tố cộng” tuy đã có bị một số tổn thất, nhưng phong trào vẫn giữ vững.

Nghị quyết của Tỉnh ủy đã nhanh chóng đi vào cuộc sống sinh hoạt và đấu tranh chống địch trong nhân dân Kinh cũng như đồng bào dân tộc. Sang đầu năm 1956 khi Mỹ Diệm đẩy mạnh các đợt “tố cộng” đánh phá ráo riết phong trào cả tỉnh thì tinh thần đấu tranh của đồng bào các dân tộc càng quyết liệt và bùng lên mạnh mẽ.

Nhân dân các làng không nộp thuế, không đi làm xâu đồn bót của địch, không chịu nộp ảnh để làm thẻ căn cước, không treo ảnh Diệm, không treo cờ ba sọc(2). Có làng đồng bào đem ảnh Diệm, đem cờ ba sọc treo xó bếp, góc rào. Địch khủng bố tra hỏi, cả làng đồng thanh trả lời: “theo phong tục dân tộc treo cờ, ảnh giữa nhà con ma nó bắt chết cả làng”; giặc dở thủ đoạn mỵ dân, tung hàng xa xỉ phẩm ra mua chuộc dân làng, đồng bào liền kéo nhau lên trụ sở xã, cơ quan quận đòi ngụy quyền phải bán muối, vải nông cụ, thuốc chữa bệnh… đấu tranh đòi chúng phải để đồng bào đi lại tự do trong rừng để tìm lâm thổ sản, thuốc chữa bệnh.

Nhân dân còn cắm chông, gài thò, rào đường, tổ chức canh gác không cho địch lùng sâu vào các khu căn cứ, địch hỏi, đồng bào nói thẳng; “dân làng đào hầm, chông, gài thò để chống thú rừng phá hoa màu. Muốn đi vào rừng các ông phải báo trước và phải đi theo các ngả đường đã làm dấu, nếu không báo trước, đi sai đường, vướng chông thò chết, bị thương dân làng không chịu trách nhiệm”.

Hai trăm đồng bào vùng Đak Đoa đã vác giáo mác, tên ná kéo ra vây bọn lính ngụy đang lùng sục bắt cán bộ, đảng viên, chúng phải thả người rút quân về quận.

Tức nước vỡ bờ! Trước những hành động khủng bố dã man tàn bạo của kẻ thù, đồng bào dân tộc bảo nhau “đánh Mỹ Diệm không thể đánh bằng miệng được(3), ta phải nhổ cỏ từ lúc mới mọc, không được để nó lớn lên phá lúa!”.


(1) Bok Hồ arih ling lang: Bác Hồ sống mãi mãi, Bác Hồ muôn năm.
(2) Cờ Ngụy quyền Sài gòn
(3) Ý nói không thể chỉ có đấu tranh chính trị với địch được
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2020, 07:22:33 AM »

Vì vậy, từ giữa đến cuối năm 1958, nhân dân trong tỉnh đã nổi lên nhiều cuộc đấu tranh tự vệ lẻ tẻ. Những tên ác ôn khét tiếng, những tên hoạt động gián điệp chỉ điểm bị nhân dân bí mật trừ khử.

Thanh niên làng Djama đã phục rượu diệt một tên gián điệp tại bờ sông Ba, không báo cho cán bộ biết. Du kích xã Yang Nam (huyện KôngChro) do đồng chí Bà Yua Bí thư xã chỉ huy đã diệt tên huyện Yâu ác ôn khét tiếng dẫn quân về khủng bố làng Đé Alao. Cuộc trừng trị ác ôn này diễn ra chớp nhoáng, đồng chí Bà Yua xông vào vật lộn với tên ác ôn, du kích mật xáp vào diệt luôn, bọn lính không hề hay biết. Đến tháng 9-1958, tên Ngọc dẫn lính về làng Đé Hle (xã Yang Trung) tìm tên Yâu đã bị du kích mật xông vào “nhà rông” bắt đem thủ tiêu.

Những tháng cuối năm 1958 hoạt động diệt ác ôn của du kích mật đã rộ lên; nhân dân làng Bơ Bah (Nam An Khê) tổ chức diệt tên Kơ và tiếp sau diệt tên Keu bằng trận phục kích trên đoạn đường số 7 (gần làng Hơn Đak) do đồng chí Phạm Hồng Bí thư Huyện ủy chỉ đạo, anh em dùng dao rựa xông ra chặt chết tên ác ôn nhiều nợ máu này.

Nhiêu tên ác ôn khét tiết bị diệt, bí mật thủ tiêu, nhân dân vùng Nam An Khê (Kông Chro) an tâm sản xuất, đi lại, buôn làng được thuần khiết. Những tên tay sai khác khiếp sợ nằm im, không dám hoạt động lộ liễu, trắng trợn như trước; phong trào nhân dân có điều kiện phát triển.

Trong quá trình đánh địch khủng bố “tố cộng” thanh niên kéo nhau ra rừng lập các trại bí mật (đồng bào gọi là đầm). Được sự hướng dẫn trong cán bộ, số thanh niên này đã tổ chức thành đội ngũ, vũ trang bằng vũ khí thô sơ. Địch càng lùng sục, đánh phá thì các trại bí mật càng được tổ chức nhiều hơn. Các vùng căn cứ du kích khu 1 (K Bang), khu 7 (Krông Chro) và vùng Đăk Bằng (KrôngPa) dân làng sống bất hợp pháp với địch, có hàng mấy trăm làng địch không lập được chính quyền.

Những hoạt động diệt ác, bảo vệ dân làng, những hành động tự vệ, ít nhiều mang tính tự phát của quần chúng nhân dân và của cán bộ cơ sở, thể hiện nguyện vọng thiết tha được vũ trang cho phép đánh địch để bảo vệ quyền sống, bảo vệ làm ăn yên ổn.

Những cuộc đấu tranh giằng co quyết liệt giữa nhân dân các dân tộc trong tỉnh với bộ máy Ngụy quyền tay sai, với đội quân ác ôn khét tiếng tàn ác của Mỹ Diệm, tuy có vài nơi bị tổn thất, nhưng căn bản và cuối cùng ta đã làm thất bại chính sách “tố cộng, diệt cộng” của chúng. Ta đã bảo vệ được lực lượng cách mạng, giữ được phong trào đấu tranh của quần chúng, bảo vệ được khu căn cứ. Các tổ chức Đảng được giữ vững và củng cố, đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện thử thách. Quần chúng nhân dân giác ngộ, hiểu Đảng cộng sản là yêu nước, yêu dân, dũng cảm đấu tranh, nhân dân càng gắn bó và bảo vệ Đảng, ảnh hưởng của Đảng sâu sắc, sâu rộng trong đồng bào.

Tháng 6 năm 1958, Khu ủy V Hội nghị mở rộng nghiên cứu những kinh nghiệm nắm, vận dụng phương châm, phương pháp đấu tranh của phong trào cách mạng ở Nam bộ. Đồng chí Lê Duẩn đã trao đổi với Khu ủy V về vị trí chiến lược của Khu V, những vấn đề cần thiết để làm chuyển biến tình hình, trong đó có việc tổ chức lực lượng vũ trang, trước mắt chỉ nên tổ chức tổ 3 người, tiểu đội, nhiều nhất chỉ đến trung đội để làm nhiệm vụ bảo vệ buôn rẫy. Khi có điều kiện sẽ phát triển thành phong trào du kích lẻ tẻ, kết hợp với lối đánh bằng kỹ thuật đặc công rất linh hoạt…

Thời gian này Khu ủy có chỉ thị cho các địa phương được phép diệt ác ôn, chỉ thị của Khu Ủy đáp ứng nguyện vọng tha thiết của Đảng viên cán bộ và nhân dân để thúc đẩy phong trào trong tỉnh.

Tỉnh ủy chủ trương thành lập các đội tự vệ, trước hết tổ chức ở khu 2 (huyện K’Bang) và khu 7 (huyện Kông Chro). Tỉnh phân ra các vùng để chỉ đạo cụ thể: Vùng ta làm chủ, vùng vừa có địch vừa có ta, vùng địch còn kiểm soát nhằm để chỉ đạo phương thức xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở và đấu tranh thích hợp với từng vùng.

Một hình thức chính quyền mới của nhân dân cũng được thành lập: Một số nơi có cơ sở vững, mỗi xã có 3 cán bộ phụ trách gọi là “Ban cán sự hoặc ban tự quản” để điều hành công việc, chỉ đạo phong trào; Ban tự quản này cũng hình thành cùng lúc với tổ chức đội tự vệ mật (gọi là du kích M). Du kích mật lấy thôn hoạt động làm chính từ 3 đến 5 người. Hoạt động đơn tuyến do cán bộ cơ sở nắm chỉ đạo, chỉ huy; trang bị cho du kích bằng dao, ná, tập luyện canh gác bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ và tăng gia sản xuất tự túc. Chưa có chủ trương hoạt động đánh địch.

Bằng những thủ đoạn tàn sát khủng bố “tố cộng, diệt cộng” một cách dã man khốc liệt, Mỹ Diệm hòng tiêu diệt Đảng bộ, dập tắt phong trào cách mạng của tỉnh. Nhưng chính thời điểm mà chúng tưởng sắp tiêu diệt được lực lượng cách mạng thì cũng là thời điểm mà phong trào đấu tranh trong tỉnh bắt đầu vùng lên tiến công trở lại chúng.

Nguyên nhân cơ bản là các ấp bộ Đảng nắm vững Nghị quyết của Tỉnh ủy, kịp thời triển khai tại địa bàn cơ sở Nghị quyết sát đúng tình hình, hợp ý nguyện của dân, được đội ngũ cán bộ, Đảng viên nghiêm chỉnh thực hiện. Địch càng ra sức khủng bố, cán bộ Đảng viên đã dũng cảm kiên quyết khôn khéo lãnh đạo quần chúng, sát dân, sát cơ sở, nêu cao khí tiết cách mạng; nhân dân Kinh cũng như dân tộc gắn bó vận mệnh của mình với Đảng, với cách mạng, hăng hái đấu tranh bảo vệ cách mạng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM