Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Sáu, 2021, 05:49:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những trận đánh chiến xa đẫm máu nhất lịch sử  (Đọc 7366 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #20 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2019, 11:03:10 pm »

     
        Trong phòng ăn của bản doanh Sư đoàn 5 tôi hầu như được sống trong không khí gia đình. Trên một phía hông bên trong chiếc Mammoth của Streich tôi nhìn thấy treo hình huy chương Thập tự sắt được vẽ trên carton. Nhưng thay vì giữa loại huy chương này có chữ Vạn như thường lệ, lại là một con ruồi to lớn đang xòe cánh. Hauser giải thích với tôi rằng loại « huy chương này của riêng Sư đoàn 5 » được long trọng trao tặng mỗi đêm cho các quân nhân nào trong đơn vị « hạ » ruồi nhiều nhứt. Ruồi ở sa mạc đầy rẫy, và là con vật gây bệnh truyền nhiễm kinh khiếp, nên tôi có thể hiểu nỗi bận tâm của họ qua thú tiêu khiển vui nhộn này, nhưng tôi cũng bắt đầu tán thành sự lưu tâm một cách thông minh của Rommel đối với các thuộc cấp, để họ hết lòng, dũng mãnh chẳng nề gian khổ khi đấu mặt với kẻ thù. Ông không có thì giờ để chú ý đến những cái nhỏ nhặt như thế này.

        Sáng hôm sau, trước bình minh, tôi theo sát Tướng Streich. Cuộc tấn công Panzer sẽ khởi sự ngay khi ánh nắng đầu tiên lóe lên. Đích thân Streich dẫn dẫu cuộc tấn công với một trong những chiếc thiết giáp tham dự, và tôi đi chung xe với ông. Ỏng giao cho tôi phần duy trì sự liên lạc với đoàn thiết giáp di chuyền phía sau.

        Để tiết kiệm thì giờ, Streich chọn con đường Al Adem — Tobruk ở phía bắc, khoảng cách cùng bằng với lộ trình phía tây như đã dự liệu, để đi trước và sau đó sẽ gặp lại đoàn thiết giáp của ông. Ông ít nói và có vẻ lo lắng — có thể, tôi nghĩ, do sự khiển trách của Rommel gây ra.

        Chúng tôi tiếp tục chạy một khoảng khá xa trong im lặng. Và sau đó cảm thấy không thể giữ im lặng được nữa, tôi lên tiếng : « Thưa đại Tướng, tôi nghĩ là chúng ta nên quay lại ».

        « Con đường này có xa hơn con đường đã được chỉ định đâu, Trung úy ! » Ông đáp một cách hờ hững. Đôi mắt ông dịu xuống, liếc nhìn vào bản đồ và nói thêm : « Có thể chúng ta đã chọn một con đường hẹp hơn chút ít ».

        Nhưng, qua cách nói của ông, chứng tỏ ông không tán thành sự sắp xếp của Rommel. Trước khi chúng tôi ý thức được hậu quả của sự sai lệch này chúng tôi bị rày rà ngay lập tức. Tiếng đạn đại bác nổ, tiếng hỏa tiễn chống chiến xa bay vút đến và hỏa lực dữ dội của nhiều khẩu đại liên. Chúng tôi đã xuất hiện trước mũi địch quân. Nhanh như tên bắn, chúng tôi nhảy ra ngoài và chúi vào phía sau chiếc thiết giáp. Và để tránh đạn đại liên càn quét dưới lườn xe, giữa hai sợi giây xích, chúng tôi phải bám vào thành xe để rút chân lên khỏi mặt đất nhưng bất ngờ ngay lúc ấy, người tài xế vẫn còn ở trên xe và để trốn chạy, hắn đã xoay chiếc xe và vô tình đưa lưng của chúng tôi cho địch quân. Trong tình cảnh đó chúng tôi chỉ còn một cách để chọn : nương theo đà xoay của chiếc xe quăng mình vào một trong những cái hố do đại pháo của địch tạo nên. Người tài xế cũng bay khỏi chiếc xe lúc ấy đã bất động, như một cánh lá nằm chúi bên cạnh đường.

        Lúc đó trời vẫn còn tối, nhưng ánh sáng đầu ngày sẽ đến không bao lâu. Chúng tôi không dám chần chờ và sau khi nhắm hướng, chúng tôi quyết định đi về phía tây nam. Vừa rời khỏi các hố đạn không xa, một loạt pháo kích mới lại nổ quanh chúng tôi và tiếng thẻt của tên tài xế. Tướng Streich hỏi : « Gì vậy ? Anh bị thương hả ? »

        Mặc dù ở vào một tình thế không mấy gì thuận lợi, ông Tướng đã cười to khi nghe tiếng đáp : « Chưa, thưa Đại Tướng ! »

        Vừa bò vừa chạy, chúng tôi nhắm lối xuyên qua sa mạc đến địa điểm các chiếc thiết giáp đang nằm đợi. Lúc đó đã sáng trắng — cuộc tấn công lỡ rồi. Bây giờ các chiếc thiết giáp lại trở thành mục tiêu của pháo binh dịch. Thương vong trầm trọng. Đại tá Olbricht xin lịnh triệt thoái để chỉnh đốn hàng ngũ, Tướng Streich đành chấp thuận.

        Chúng tôi lên xe và tất cả trở về bản doanh Sư đoàn.

        Một vài giờ sau tôi trình diện tướng Rommel, cảm thấy lo ngại phản ứng của ông. Tôi đã kinh ngạc và nhẹ nhõm khi ông tỏ vẻ không lưu ý mấy về sự thất bại vừa qua. Ông ra lịnh cho tôi : « Schmidt, hãy trở lại gặp Olbricht và chỉ thị cho ông ta mang các chiếc Panzer của ông ta đến điểm 1121».

        Tôi trở lại với một tâm hồn thơ thới, cảm thấy tôi đã mang những tin tức tốt đẹp hơn những gì mà họ chờ đợi. Tôi nhìn các chiếc thiết giáp nằm bất động, nấp đậy kín mít, nổi bật lên chân trời. Đạn pháo kích từ Tobruk vẫn đuổi theo khuấy rầy sự yên tĩnh hàng ngày của chúng. Tôi hỏi tên lái xe : « Nơi nào trên mặt đát này có các quả đạn của bọn Anh không thể vói tới ? » Hắn ta không trả lời —  tôi củng chắc không ai trả lời được — Nhưng, cái lối chạy điên cuồng, như chúng tôi ở hiện tại, đã làm giảm hiệu lực của các bàn tay sắt của địch đang chụp xuống.

        Tôi đến chiếc thiết giáp không đậy nắp đậu ở hàng đầu. Olbricht từ bên trong nhìn qua kính xe. Tôi chuyền lịnh của Rommel cho ông ta. « Nhờ trời » ôrig ta nói, một giọng nói nhẹ nhõm. «Cuối cùng, chỉ là một lệnh lạc dễ chịu ».

        Một hay hai tuần sau, cả hai Tướng Streich và Đại tá Olbricht, khăn gói trở về xứ. « Trên lưng lạc đà », câu chúng tôi thường dùng để chỉ những quân nhân làm vào tình cảnh này.

        Từ đó tôi không gặp lại họ. Nhưng sau này tôi có nghe tin một trong những sĩ quan dính líu vào âm mưu chống Hitler ngày 20 tháng 7 tên Olbricht, một tướng lãnh. Có phải chính ông ta không ?

---------------
       1. Con đường phía Tây El Adem, thuộc Tây nam Tobruk. Chi chú của H.W.S).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #21 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2019, 11:05:51 pm »


7.  TRẬN TẮN CÓNG PILASTRINO

1

        Một đêm vào khoảng trung tuần tháng tư, Đội Panzer Thám báo được Rommel cưng chìu nhứt đến Bản doanh tiền phương, lúc ấy vẫn còn đóng ở khu vực phía tây ngôi nhà trắng. Chỉ huy trưởng, Trung tá Von Wegmar, trình viện Rommel. Cận vệ của Rommel, Gunther, đến gọi tôi ngay khi tôi đang chia phần kẹo trái cây mà Berndtđược đặc ân mua ở phòng ăn sĩ quan.

        Bấy giờ ngoại trừ Rommel và tôi, nhờ lúc theo sát cánh ông, biết được các con đường mòn quanh Tobruk nằm ở phía đông thuộc khu vực pháo đài của Trung tá Graf Schwerin. Đó là lý do tôi được cho gọi đến. Rommel giới thiệu tôi giới Von Wegmar và nói : « Anh tháp tùng theo Đội Thám báo để chỉ cho họ lộ trình ngắn nhứt đi vòng Tobruk đế đến Via Balbia ». Con đường ngắn nhứt này người Ý gọi là đường duyên hải.

        Tôi nhìn sao Bắc đẩu để định hướng và đưa Đội Thám báo đến con đường duyên hải vào lúc nửa đèm. Từ giả Von Wegmar, tôi về Bản doanh thì trời đã sáng trắng. Tôi được Berndt báo tin vui : « Von Wegmar đã vào Bardia ». Ngôi làng nằm cạnh bờ biển ngay biên giới Ai Cập - Libya mà phe Trục mất quyền kiểm soát từ khi viên tướng Ý Berganzoli, nhân vật được quân Úc gọi là. « Ông râu quặp », bị Wavell đuổi chạy tơi bời khỏi một cứ điểm phía tây của ngôi làng này.

        Một vài ngày sau, Đội Thám báo được tăng cường một vài chiếc thiết giáp, tiến chiếm pháo đài biên giới Capuzzo và cũng tiến vào Sollum. Vào ngày 27 tháng 4, chúng tôi nắm quyền kiểm soát con đường núi Halfaya và từ cao địa này, chúng tôi dòm ngỏ mọi động tĩnh dọc theo duyên hải Ai Cập. Von Wegmar được đề nghị ban thưởng huy chương Thập tự sắt.

2

        « Bất luận cách nào, nằm được con bài Pilastrino trong tay vẫn có nghĩa là nắm một tư thế có tính cách giải quyết các ván bài khác. Đó là điểm then chốt của cơ cấu phòng thủ Tobruk ». Rommel đã nói như thế trong suốt một cuộc họp tham mưu. Một lần nữa, Rommel lại nhìn đến Acroma và từ đây đến phía đông, của Pilastrino, có một cao điểm nằm trong khu vực tây nam của pháo đài này.

        Bây giờ Rommel đưa ra một kế hoạch tấn công trước, ông chỉ thị cho Tiểu đoàn Bersagleri của Ý tiến chiếm, có tính cách ưu tiên nằm trong lịnh hành quản, cao điểm đối diện

        Pilastrino và, để từ đây, ông sẽ tung ra một cuộc tấn công bằng bộ binh. Rommel đã đích thân điều nghiên cao địa này và hầu như ông đã « dọn cỗ » sẵn cho đơn vị Ý.

        Bỏ chiếc Mammoth lại Bản doanh tiền phương, chúng tôi — ông Tướng, Aldinger, Bernđt và tôi — sử dụng hai chiếc xe mui trần và một thiết vận xa như thường khi.

        Một báo cáo cho biết có một lực lượng mạnh mẽ của người Úc hoạt động suốt đêm trong khu vực đối diện với đơn vị người Ý. Rommel muốn nắm chắc trong tay tình hình hiện thời nên ông đích thân đi quan sát tận nơi. Khi chúng tôi ra đi, chúng tôi nghĩ là tình hình chắc không có gì thay đổi và đã kết luận rằng báo cáo về hoạt động của địch quân, như thường có trước đây, chẳng qua được thêu dệt bởi đồng minh người Ý của chúng tôi. Ngay cả pháo binh của địch ở Tobruk lúc ấy cũng im tiếng.

        Nhưng chúng tôi sớm làm vào tình cảnh -điên đầu : chúng tôi không tìm ra tên quân Ý nào trong khu vực đảm trách của họ, ngoại trừ một vài đồn pháo binh nằm rải rác cách xa phòng tuyến, nhưng hoàn loàn không được bộ binh bảo vệ. Trên một dãy đụn cát, chúng tôi chú ý đến hàng mấy trăm nón sắt nằm rải xác, mỗi cái đều được trang trí hình những chiếc lòng gà màu sắc sặc sỡ1 — những nón sắt của tướng Bersaglieri. Ngoài ra không có gì khác.

        Qua các chiếc nón sắt ấy, chúng tôi hiểu báo cáo về hoạt động của lực lượng Úc là có thật, nhưng « những chiến lợi phẩm bỏ lại vội vã » này không đáng giá đối với họ.

        Rommel vội vã ra lịnh xé một đơn vị thuộc lực lượng Đức ở Acroma để trảm vào chỗ trống. Sau đó ông đưa ra một huấn lịnh, sau nhiều cuộc thảo luận và cãi vã với các giới chức cao cấp người Ý, rằng nhằm để cho cuộc chiến đấu được hữu hiệu ông sẽ, trong tương lai, xử bắn lập tức sĩ quan nào tỏ ra khiếp nhược khi đối diện với địch quân.

        Hôm đó, trở về Bản doanh, Rommel đến gặp ngay viên sĩ quan liên lạc Ý, tướng Cabvi, con rễ của Hoàng đế Victor Emmanuel, một người cao và gầy, có khuôn mặt dài đầy gốc cạnh và cải lỗ mũi nhọn khác thường của giống người Tusca. Cabvi nói tiếng Đức lưu loát và với thân phận ấy, ông được Rommel nhìn với biệt nhãn. Nhưng sau cuộc gặp gỡ không khí giữa hai tướng lãnh trở nên lạnh nhạt.

        Thật ra binh sĩ Ý, từng cá nhân một, có nhiệt tâm hợp tác và giúp đỡ, thỉnh thoảng còn hơn binh sĩ Đức, nếu họ được trang bị đầy đủ và được sự lãnh đạo hữu hiệu. Nhưng hai lãnh vực này hình như rất hiếm thấy đối với các lực lượng người Ý lúc ấy.

--------------------
        1. Có tính cách ngụy trang vừa là biểu hiệu riêng của đơn vị.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #22 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2019, 11:07:04 pm »


3

        Ngày 30 tháng 4 là ngày được chọn phát khởi cuộc tấn công Tobruk xuyên qua Pilastrino.

        Đặc biệt, Rommel đích thân chọn lựa lực lượng tham dự cuộc tấn công, Đây là một 1 lực lượng chiến đấu hỗn hợp, khoảng một trung đoàn, gồm binh sĩ ưu tú của nhiều đơn vị, đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Schrapler.

        Trong chiếc Mammoth, chúng tôi tiến tới. Rommel, Aldinger và tôi công khai quan sát cuộc tấn công từ một cao điểm. Đầu tiên, phi cơ của chúng tôi xuất trận, oanh tạc ồ ạt trên nhiều cứ điểm của địch quân và kể đó pháo binh yểm trợ cuộc tiến quân bằng cách lập một hàng rào lửa tiệm tiến.

        Tình trạng lộn xộn xảy ra trong đợt xung phong đầu tiên của đơn vị Schrapler. Các khẩu đại bác, khai hỏa từ Tobruk, đã đẩy bật họ ra. Quân Úc từ các vị trí thuận lợi cũng hoạt động một cách hữu hiệu trong việc ngăn chặn bước tiến của các đối thủ. Tình trạng này đã xảy ra ngay trước khi binh sĩ của chúng tôi chạm tới hàng rào kẽm gai và bãi mìn vào xế trưa hôm đó.

        Rommel, sau khi quan sát qua ống dòm, vẫy tôi lại : « Schmidt, anh tìm cách gặp Schrapler. Ồng ta phải củng cố và giữ vững các vị trí hiện thời của ông ta. Cuộc tấn công sẽ được tăng viện và tiếp tục đêm nay ».

        Đó là một sử mạng may rủi khi phải xúc tiến đơn độc và có tính cách thí thân để di chuyển trên một khoảng trống mà với cả một lực lượng hầu như gần suốt ngày mới đi xuyên qua được. Nhưng tôi cũng thi hành với một tốc độ di chuyến được tận dụng, vì tôi có cảm giác cứ mỗi lần tôi chậm lại là cặp ống dòm của Rornmel chĩa vào bàn tọa của tôi. Tôi chuyên lịnh cho Schrapler ngay trước khi trời tối.

        Suốt đêm, các đơn vị công binh chiến đấu, trang bị súng phun lửa, được gởi thêm vào cuộc tấn công. Sau một màn cận chiến đẫm máu, một số lố cốt kiên cố của địch bị tràn ngập.

        « Chúng tôi đã thành công trong việc trừ khử một phần cơ cấu phòng thủ của địch », câu này nằm trong báo cáo trịnh trọng của Rommel cho O.K.H.

        Bình minh đã mang đến cho chúng tôi một đồng minh mới, nhưng là một đồng minh nên đề phòng — một trận bão cát dấy lên khá mạnh mẽ. Bụi mù vừa giúp đỡ vừa ngăn chặn chúng tôi. Đơn vị chiến đấu dẫn đầu cuộc tấn công lập tức chọc thủng tuyến đầu của Ras Medawawa. Thật ra họ đã hành động như những tên mù. Các lô cốt của người Úc thường không nhìn thấy, tất cả đều được xây ngầm dưới mặt đất. Thường khi binh sĩ của chúng tôi đánh chiếm lô cốt này nhưng không phát hiện ngay lô cốt nắm kế bên và bất ngờ, họ bị bắn vào lưng. « Đừng bắn, chúng tôi là Đức ! », họ sẽ la lên như thế vì ngỡ đồng đội đã bắn nhầm. Quá trễ để họ kịp nhận ra những tay súng phía sau họ không phải là bạn và, dĩ nhiên, địch quân rất hài lòng khi nghe họ thú nhận họ là người Đức.

        Các công binh chiến đấu bây giờ đã dọn sạch một lỗ hổng trên bãi mìn và, dưới sự che chở của bụi cát, viện quân được đồ vào, cùng với súng chống chiến xa, quân dụng và các đồ tiếp tế khác. « Các trọng điểm kiên cố chiếm được phải được giữ bằng mọi giá», Rommel ra lịnh.

         Chính ông là một trong những người đầu tiên đặt chân vào các vị trí chiếm được ngay buổi sớm đó. Ông Tướng bò chầm chậm như bất kỳ anh lính bộ binh nào lúc lâm trận và kế đó là tôi. Ông muốn tiến đến một lô cốt ở trước mặt. Chúng tôi di chuyển không xa thì bắt gặp một linh công binh chiến đấu núp phía sau một đống đá.

        « Hai anh muon tìm vào địa ngục nào ? ». Tên Thượng sĩ chỉ huy hỏi. Tôi đáp vả chỉ địa điểm muốn đến.

        « Đừng có ngu ngốc ! » Hắn mắng chúng tôi. « Bọn Úc đã chiếm lại lô cốt đó rồi ».

        Vẫn nằm sấp, tôi chỉ vào cầu vai của tôi và cái mũ của Rommel. Thượng sĩ nhận ra cặp kính đóng đầy bụi nằm trên mũ của Rommel và giọng nói của anh ta sau đó lắp bắp không nghe gì được hết.

        Một loạt đại liên quét ra từ lô cốt phía trước khiến chúng tôi hiểu là tình thế không ổn. Chúng tôi cẩn thận bò trở lại.

4

        Quân Úc tung ra một cuộc phản công và bắt lại một số trọng điểm của họ. Qua các làn sóng điện, Bộ Tư Linh Tối Cao Trung Đông

        của Anh tuyên bố, vào ngày 1 tháng 5, địch quân đã mở một cuộc tấn công vào Tobruk và tiếp tục đến ngày kế, chọc thủng ngoại vi phòng thủ. Đây là một tin tức chính xác. Từ ngày đó các vị trí do chúng tôi chiếm giữ» còn lại sau cuộc phản công, trở thành các vị trí đầu tuyến của Đức ở Tobruk.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #23 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2019, 11:10:46 pm »


8. CHUYẾN THỊ SÁT SOLLUM

1

        Trong những ngày tiếp theo đó, thành phần bộ binh lưu động còn lại của Sư đoàn ló Panzer tân lập được Junker 521 không vận đổ xuống Derna và xe chuyển vận chừ đợi ở phi trường để mang họ đi. Và trước khi họ hiểu biết rõ nơi họ đặt chân xuống, chính họ nhìn thấy đã ở ngay tiền tuyến, bên ngoài Tobruk. Nơi đó, họ nhận ra chỉ toàn bóng rợp của cây gồi — loại cây được dùng làm huy hiệu của Quân Đoàn Phi Châu — và cùng là huy hiệu mà họ phải mang ở hiện tại.

        Và những thứ khác được nhìn thấy khiến Phi Châu đối với họ, không thể nào ưa nổi. Ruồi, ruồi trùng điệp, mọi cử động đều giới hạn, lương khô và lương khô, và nước nôi khan hiếm. Thêm vào đó, tai hại hơn, các pháo khẩu của địch không một lúc nào ngưng nghỉ phá rầy họ.

        Roramel phải nhìn nhận quân Úc, những kẻ đang đối đầu với chúng tôi, là « những quân thiện chiến nhứt », với năng lực « máu lạnh » của họ, đã mở những trận đột kích dữ dội đêm này qua đêm khác.

        Tôi nhớ lại canh tượng khi một khẩu đại liên đang khai hỏa nhắm vảo một chiến hào do quân Úc trấn giữ ngay hướng tiến của lực lượng chúng tôi. Quân Đức đã sửng sờ khi nhìn thấy một người lính Úc đứng sổng lưng giơ nón vẫy chúng tôi.

        Rommel đi đến kết luận rang Tobruk là một hạt dẻ khó nhai. Nhưng chỉ với một hạt dẻ như thế mà không nuốt trôi được thì ông có thể làm những gì khác ? Ông tăng cường lực lượng và củng cố các vi trí chiếm được và dĩ nhiên lực lượng Đức không thể đáp ứng đầy đủ, ông bắt buộc phải sử dụng đến một số lớn đơn vị Ý. Ông quyết định đích thân quan sát Sollum, một tuyến đầu khác, và xem qua phong cảnh « vùng đất hứa » nằm phía bên kia biên giới, cách một hàng rào dây kẽm gai.

        Cùng lúc ấy, huy chương Thập tự sắt đã đến cho Von Wegnar, vị anh hùng của Bardia và Sollurn, và Rommel tuyên bố rằng chính ông cũng sẽ nhận được một chiếc, việc này đã chứng minh lý do chuyến đi về phía đông của chúng tôi. Chúng tôi rời tòa nhà trắng với một nhóm tùy tùng được chọn lọc vào ngày 19 tháng 4, dẫn đầu là xe của tôi, kế đó là chiếc Mammoth của Rommel và cuối cùng là xe truyền tin đề duy trì liên lạc với Tổng Hành Dinh. Đơn vị tuyền truyền cũng có mặt và thông tín viên chiến trường Von Esebeck, ông bạn cũ của tôi và một đồng nghiệp của anh ta tên Ertl2, anh chàng có dáng vẻ đặc trưng của một tay leo núi có mang theo một máy quay phim. Chính Ertl là người có công đã « đánh bóng » tên tuổi Rommel nhiều nhứt qua chuyến đi này.

        Chủng tôi chạy quanh một Tobruk được bao phủ trong mâv bụi. Mắt chúng tôi bỏng cháy, miệng mồm chúng tôi đầy cát, và mặt mày, tóc tai, quần áo, tất cả không ra hình thù nào nữa.

        Khi chúng tôi vượt ngang qua con đường từ Tobruk đến E1 Adem, một trong những chiếc xe của chúng tôi đã bừa lên một khoảng đất đầy loại mìn nhỏ do phi cơ địch rải xuống — đó là loại mìn chống cá nhân, không lấy gì làm nguy hiếm đối với sự di chuyền bẵng cơ giới. Chủng tôi đến Via Balbia, ngoài một vài loạt pháo kích từ Tobruk, chúng tôi không gặp mệt phiền phức nào. Từ đây, chúng tôi men theo đường bờ biển tiến thật nhanh và đến Rardia sớm hơn dự định.

        Rommel nồng nhiệt ngợi khen Von Wegnar và trong lúc máy quay phim của Ertl hoạt động, chiếc huy chương Thập tự sắt được long trọng trao gắn. Không ngừng nghỉ, Rommel xông xáo vào mọi vị trí phòng thủ và các giao thông hào và ghi nhận rằng người Ý đã thiết dựng nơi này giống với cách thức ở Tobruk. Hết ngày, mọi người đều mệt mỏi chỉ trừ Rommel. Ông Tướng đứng, sĩ tốt không thế ngồi.

         Chúng tôi lên đường trợ về ngay vào xe chiều. Tôi lại dẫn đầu. Chạy khoảng giờ rưỡi về hướng tây Bardia, không xa Gambut mấy, trong hoàng hôn lờ mờ chúng tôi bỗng nghe tiếng rít của hai chiếc phi cơ bay sà thấp. Của Anh hay của Đức ?

        Hai chiếc phi cơ đâm bổ về phía chúng tôi. Không còn nghi ngờ gì nữa « phi cơ địch ! » Tỏi la thật to và tìm chỗ ẩn núp nào khả dĩ ở cạnh con đường. Tên lái xe của tôi nhanh nhẹn hơn bao giờ hết : Hắn đã nằm dài trên mặt đất trước khi tôi đủ thời giờ đợt chúi đầu theo bên cạnh hẳn. Hai chiếc Hurrican xuăt hiện trong chớp mắt. Chúng sà thấp và lượn vòng trên đầu chúng tôi hai lần đề tấn công. Một trong hai chiếc phi cơ có vẻ lưu tâm một cách đặc biệt đến chỗ tôi và tài xế đang nằm. Tôi cố hết sức chúi đầu vào cát, sâu chừng nào hay chừng nấy.

        Khi cuộc xạ kích chấm dứt, hai chiếc Hurri- can bay về phía bắc hướng ra biển, tôi nhoài thân ra khỏi cát mặt máy xây xát. tình trạng thật thảm hại, nhưng ít ra tôi cũng còn nhận được những tia sáng cuối cùng của ngày còn chiếu lấp loáng. Chúng tôi xem xét chiếc xe : hàng mấy mươi lỗ đạn được tìm thấy. Tên lính cưỡi mô tô đưa tin, thường chạy bên cạnh xe tôi, chứng tỏ đã không quăng kíp chiếc xe trong lúc ấy : hắn và chiếc xe nằm bất động bên cạnh nhau. Hắn lãnh một viên đạn vào đầu và hiển nhiên đã tắt thở.

        Rommel lúc đó cũng leo ra khỏi chiếc Mammoth. Trước khi nắp xe kịp đậy lại một viên đạn đã lẻn nhanh vào, chỉ cách đầu Rommel trong đường tơ kẻ tóc, xuyên qua ngực tên tài xế và còn đủ sức chạm mạnh vào thành xe.

        Một số xe khác cũng bị trúng đạn. Xe truyền tin bị hư hại trầm trọng không thể sử dụng được nữa. Chúng tôi lập tức chôn xác tèn lính đưa tin. Tên tài xế của Rommel đã chứng tỏ sự can đảm đáng nể. Một tấm mền được quấn quanh hắn và đặt năm ở nệm sau chiếc Mammoth. Hắn không tỏ một dấu hiệu đau đớn nào.

        Rommel tự lái xe suốt đêm. Mặc dù có yêu cầu của Aldinger và Schrapler, ông từ chối giao tay lái. Cho đến khi trời sáng chúng tôi mới về đến ngôi nhà trắng.

----------------------
        1.Loại vận tải cơ lớn nhứt của Đức lúc đó.

        2. Ertl từng nổi tiếng với phim Cape Horn do chỉnh ông thực hiện và sản xuất và cũng là một tay leo núi lừng danh, qua các thành tích chinh phục Alps và Everest của ông (H.W.S).

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #24 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2019, 11:12:27 pm »

         
9. PAULUS CỦA STALINGRAD VÀ CÂU CHUYỆN ERITREA CỦA TÔI

1

        « Ông khách bự » đầu tiên từ Bá linh bay đến — Đại Tướng Paulus, quyền tư lịnh OKH, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Lục Quân, người đã đầu hàng quân Nga tại Stalingrad tháng hai 1943 sau cuộc đại bại Wehrmacht vô tiền khoáng hậu mà quân Đức chưa bao giờ chịu đựng trước đó.

        Rommel tỏ vẻ không mấy nồng nhiệt với cuộc thăm viếng của Paulus. Tôi cảm thấy Rommel nghi ngờ cuộc viếng thăm là để khai mào cho một số rắc rối có dự tính từ thượng cấp và có thể, rắc rối cho ngay cả địa vị hiện thời của ông nữa.

        Đầu tiên Paulus ngỏ ý muốn xem qua mặt trận Tobruk, và vì vậy, tôi đã phỏng đoán là chúng tôi sẽ lại có một chuyến đi như thường khi vào ngày hôm sau. Phỏng đoán của tôi không đúng hẳn. Rommel ở lại bản doanh.

        « Schmidt », ông ra lịnh « Ngày mai anh sẽ tháp tùng Đại Tướng đến mặt trận Tobruk.

        Anh rành về cách sắp xếp của bộ tham mưu, vì vậy anh có thể trình tất cả tin tức cần thiết cho Đại Tướng ». Ông nói ngay sau khi giới thiệu tôi với Paulus. Câu nói của ồng hình như không phải nói cho riêng tôi mà còn cho cả Paulus nữa.

        Vẫn chiếc xe đóng đầy bụi quen thuộc của tôi và thêm hai chiếc xe nữa, chúng tôi lên đường vào sáng hỏm sau. Paulus ngồi với tôi ở băng sau chiếc xe mui trần của tôi. « Bây giờ chúng ta có thể nói chuyện thoải mải». Ông Tướng hỏi với tôi. Không thích Rommel, ông lập tức chứng tỏ qua câu nói và tôi cảm thấy thà như vậy dễ chịu hơn.

        « Anh ở Phi Châu bao lâu ? », Paulus hỏi.

        Tồi vừa tính nhẩm vừa đáp : « Từ tháng giêng, thưa Đại Tướng .».

        « Từ tháng giêng ? Làm sao lại tháng giêng, lúc ấy Quan đoàn Phi Châu chưa có ở đây...!» Ông liếc nhìn tôi đầy nghi vấn.

        « Tôi ở Eritrea một thời gian, trước khi các đơn vị đầu tiên của Quân Đoàn Phi Châu đổ bộ », tôi giai thích.

        « Thì ra vậy. Cuộc phiêu lưu của anh như thế nào ? ».

        Trong khi chiếc xe đầm mình vào các đám mây bụi trên đường mòn Acrаmа, và cũng chẳng có gì trong khu vực liên quan đến vấn đề quân sự để trình bày với Paulas, tôi kể câu chuyện của tôi.

        « Thưa Đại Tướng, như Đại Tướng biết, khi chiến tranh bùng nổ váo tháng 9 năm 1939, tất cả tàu hàng của Đức được lịnh cặp vào các hải cảng trung lập gần nhứt. Chín thương thuyền Đức ở Địa Trung Hải đã tiến vào Missawa. Hầu hết các tàu này đều thuộc Viễn Đông Hàng Hải Đức Quốc, trọng tải của từng chiếc khoảng từ 6000 đến 9000 tấn. Trong số này có chiếc Coburg mà qua cách trang bị tối tân của nó đã được những thương thuyền nhỏ kháс gọi là « Thiên Nga Đông Phương ».

        « Tháng 6 năm 1940, Ý Đại Lợi tuyên chiến. Abyssinia và Eritrea trở thành một chiến tuyến. Hầu hết thủy thủ trên các thương thuyền Đức vào núp ở hải cảng Massawa đã kết hợp lại thành một đội chí nguyện quân. Họ được người Ý võ trang và mặc quân phục Ý, nhưng trên nón sắt của họ, hoặc ở băng tay, đều kẻ hình chữ Vạn. Bộ đồng phục xấu đẹp không thành vấn đề, nhưng các thủy thủ đã thiếu lòng nhiệt thành.

        « Một hành khách đáp tàu đã giới thiệu ông ta là một sĩ quan trừ bị và nguyên là cựu chiến binh của thời Đệ nhứt thế chiến. Ông ta được người Ý chỉ định giữ chức vụ đại đội trưởng. Nhưng lần đần tiên đại đội được giao phó nhiệm vụ, vì đại đội trưởng đã không làm gì nên việc. Vì vậy, một yên cầu được gởi đến Bá linh để xin một sĩ quan thích hợp sang chỉ huy đơn vị nay. Tôi được chỉ định, và bay từ La mã đến Eritrea. Lúc đó phi cơ Ý qua Libva và Sudan thường xuyên.

        « Mặc dầu đại đội của tôi không được huấn luyện và trang bị thiếu thốn nhưng đã chiến đấu một cách hăng say tại các khu vực

        Agordat và Keren, thuộc Eritrea. Các thuộc địa Đông Phi của Ý lần lượt bị chiếm giữ và vì số ít, chúng tôi đành bó tay. Đại đội của tôi triệt thoái và trở về Massawa. Ở đây, tôi được lịnh của Bá linh cho giải tán đại đội lập tức, các thủy thủ trả về tàu của họ, còn riêng tôi được chỉ thị đáp phi cơ đến Bắc Phi và trình diện Lực Lượng Viễn Chinh Đức Quốc, lúc đó đã đổ bộ lên Triboli.

        « Tôi rời chiếc Coburg, sau một thời gian sống đầy đủ tiện nghi, và trở lại Asmara, nơi đây người Ý được OKH yêu cầu dành một phi cơ riêng để đưa tôi đến Bắc Phi. Tôi đến hỏi họ hàng ngày, nhưng lời đáp cứ lập đi lập lại, cái lối hẹn « Mai ăn khỏi trả tiền ».

        « Mặt trận Keren nguy kịch, và việc này rõ rằng không sớm thì muộn quân Anh sẽ đến Asmara. Một sáng chủ nhật khi vừa rời khỏi khách sạn C.I.A.A.O, tình cờ tôi nghe được tin một chiếc phi cơ sẽ cất cánh trong nửa giờ nữa tại phi trường Gura, cách nơi tôi ngụ hai mươi phút đường xe. Bỏ cả hành trang, tôi nhảy lên một chiếc tắc xi và chạy đua ra phi trường. Một chiếc Savoia 87 đang đậu trên sân bay và động cơ bắt đầu nổ. Tôi chạy nhào đến, nhưng ngay lúc ấy ba tên phi công nhảy ra khỏi máy bay, lướt ngang tôi và đâm đầu vào trong một cửa hầm ẩn núp. Lúc đó tôi đã nhìn thấy các chiến đấu cơ Nam Phi1 xuất hiện, bay hướng về phía tôi. Tôi cũng vội vã nổi gót ba viên phi công

        và đâm bổ lên mình họ. Sà xuống thật thấp, các chiến đấu cơ, từng chiếc một lướt ngang qua phi trường, khá lâu mới đến chiếc cuối cùng, nhưng không tấn công. Phi cơ của chúng tôi ở đây rất yếu kém thành thử chẳng một cuộc truy đuối nào được tung ra.

-------------------
        1. Nam Phi lúc đó là thuộc địa của Anh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #25 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:48:18 pm »

       
        «Sau khi nằm chung trong hầm núp, các viên phi công Ý và tôi trở nên thân thiện. Tôi giải thích mục đích của tôi. Và chúng tôi leo lên chiếc Savoia. Phi cơ cất cánh, bay là trên một thung lũng sâu về phía tây, hướng ra ven Hồng Hải và đáp xuống một dãy đất trống được thiết dựng như một phi trường tạm. Nhanh chóng chiếc phi cơ được bao lưới và phủ cỏ đã cắt sẵn lên trên. Trước khi trời tối, chúng tôi lại cất cánh bay ra biển và sau đó tới đất liền, trên không phận Saudi Arabia.

        « Bẩy giờ đêm đã xuống hẳn. Ba viên phi công đều mang dù, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc thoát thân nếu xét thấy cần thiết, không cần biết đồng minh cô độc của họ trong phi cơ không có dù. Tôi ở trong cabin, một mình, không có ai bầu bạn ngoại trừ một túi tài liệu nhỏ và một sợi dây xích treo trên vách phi cơ đong đưa phát ra tiếng leng keng bất tuyệt.

        «Ba viên phi công hình như uống rượu không ngưng nghỉ, loại rượu vang tuyệt hảo mà tôi thấy chất đầy dẫy quanh họ. Tất cả đều rút trong buồng lải, nhưng tôi biết là họ đều say khướt. Một gã trong bọn sau đó mang ra cho tôi một chai rượu mới toanh ngay lúc tôi còn đang nghĩ lại cái cảnh súng cao xạ săn đuổi chúng tôi lúc phi cơ vừa ra ngoài không phận Éritrea và kế đó là nghĩ đến tình trạng hiện thời của ba viên phi công. Tôi nhận chai rượu với sự biết ơn. Tôi uống ngay lập tức để dằn sự sợ hãi và tôi đã ngủ vùi suốt đêm. Khi thức dậy tôi mời biết mình vẫn còn sống sót.

        «Ánh sáng của ngày đã lên hẳn. Chúng tôi đang bay trên mặt biền và tiến dần vào đất liền, tôi nhận ra không phận Bắc Phi. Chiếc Savoia đáp xuống một phi trường nằm ở phía tây E1 Aghelia để lẫy nhiên liệu. Tôi cám ơn và từ giã ba viên phi công. Họ sẽ tiếp tục bay đến La mã, nơi họ sẽ được Mussolini ngợi khen nồng nhiệt vì chuyến bay táo bạo của họ.

        Ở đấy, tôi được cấp ngay một phi cơ nhỏ và đáp xuống Tripoli vào buổi trưa cùng ngày. Tôi phúc trình lên Đại Tướng Rommel rằng nhiệm vụ ở Đông Phi của tôi đã chấm dứt ».

        « Khá thích thú », Tướng Paulus nói, « và những gì đã xảy ra cho các thủy thủ của anh ? ».

        « Theo như tôi biết, thưa Đại Tướng, một hoặc hai chiếc tàu ngầm của người Ý đã thành công trong việc vượt thoát cuộc phong tỏa của hải quân Anh và mang theo một số người thuộc Đại đội chí nguyện quân Đức. Các chiếc tàu khác, với thủy thủ đoàn, tôi tin là còn bị kẹt ở hải cảng Massuwa. Riêng chiếc Coburg, tôi nghe được tin của đài phát thanh Anh, đã bị chặn bắt gần Mauritius.

        Paulus hỏi thêm tin tức về các mặt trận ở Abyssinia và Eritrea, trong khi chung tôi rời Acroma, quẹo sang phải và hướng đến các phòng tuyến Tobruk.

        Tôi chỉ cho Tướng Paulus những vị trí quan trọng nhứt, nhưng không hướng dẫn ông vào thăm viếng, ngay cả vị trí xa hẳn tầm bắn pháo binh địch, với chủ ý cho ông nhìn thấy tận mắt đời sống bàng ngày ở tiền tuyển của chúng tôi như thế nào. Tôi cũng chẳng cần cho Paulus nếm mùi pháo kích của địch, để ông ta hiểu rằng mặt trận này chẳng phải là nơi đi cắm trại.

        Khi chúng tôi chạy nhanh từ địa điểm khác, Paulus nhặn xét khá nhanh các lợi điểm tổng quát và thảo luận với các vị chỉ huy chiến thuật tại những nơi ông đứng lại. Ông quan tâm đặc biệt các vị trí nằm phía trước Pilastrino và Medawwa.

        « Binh sĩ của Trung đoàn 115 trú đóng ở đây đã được tiếp tế đạn dược và thực phẩm bằng cách nào ? ». Ông hỏi khi chúng tôi tiến sát hơn vào hai vị trí trên với một khoảng cách an toàn giữa ánh sáng ban ngày.

        « Tất cả đều diễn ra ban đêm, thưa Đại Tướng  », tôi giải thích : « Mỗi đêm hỏa đầu vụ của từng đại đội một dùng xe mang thực phẩm, cà phê, bánh mì và các nhu cầu khác cũng như đạn dược ra các tuyến đầu. Thông thường việc này được làm sau nửa đêm. Tất cả mọi hoạt động của các vị trí đó ban ngày hoặc dưới ánh trăng đều không qua khỏi mắt quan sát của quân Úc.

         « Như vậy ban ngày hầu như mọi binh sĩ đều phải nằm trong hầm trú ẩn mà không hoạt động gì hết ? »

        « Vâng, thưa Đại Tướng, và rầy rà nhứt trong tình cảnh đó là phải chịu đựng sự xâm lăng của hàng triệu con ruồi. Thực phẩm hở ra là chúng bu đen và các binh sĩ mắc bịnh truyền nhiễm hoặc các chứng bịnh khác là thường ».

        « Chỉ vì tình trạng đó mà họ không dùng thực phẩm tươi », Paulus hỏi « Vậy binh sĩ thường ăn những gì ? »

        Ông đã hỏi một vấn đề thường được nói đến, và là một điểm đáng thương hại, giữa các binh sĩ ở đây.

        Thật ra tôi không muốn nói nhiều về sự thiếu thốn ăn uống, nhưng tôi không nghĩ ông Tướng đầy đủ thấm quyền này có thể cải thiện đời sống tồi tệ của chúng tôi một phần nào. Tôi đáp :

        « Binh sĩ không biết đến trái cây và rau cải tươi, đặt biệt là khoai tây. Luôn luôn là thức ăn khô, chẳng hạn như cả mòi, thịt hộp và « Alter Mann »

        Ông Tướng nhìn tôi, hỏi lập lại một cách ngạc nhiên : « Alter Mann ? »

        Tôi sực nhớ Paulus mới đặt chân lên đất Phi Châu chỉ có hai ngày, ông không thể hiếu danh từ này. Nguyên một loại thịt bò khó nuốt của người Ý đựng trong hộp thiết nhỏ, phía ngoài có ghi hai mẫu tự A.M. Tôi nghe nói binh sĩ Đức ở Bắc Phi đã so sánh loại
thịt bò này với lập trường của Mussolini, nhưng chắc chỉ là tin huyền. Tôi giải thích cho Paulus về mẫu tự AM và nói rằng binh sĩ Đức ở đây đã đọc thành « Alter Mann » (Ông Già).

        Ông cười to, và sau đó giữ im lặng một lúc, ngay trước khi chúng tôi quay về bản doanh, ông nói : « Các binh sĩ quanh Tobruk đang chiến đấu trong tình trạng tồi tệ và thiếu thốn không thể chấp nhận được. Tỏi sẽ yêu cầu Bá linh cho triệt thoái các lực lượng này đến một vị trí quan yếu ở Gazala, ở đày các đường tiếp tế của chúng ta sẽ ngắn hơn, các binh sĩ của chúng ta sẽ sống trong các tình trạng tốt đẹp hơn... Như tôi thấy, mọi người ở đây không có lúc nào nghỉ ngơi. Chúng ta phải làm gì để cải thiện tình trạng này ».

        Tôi cho rằng ý kiến lập một tuyến phòng thủ an toàn ở Gazala có thể thực hiện được, nhưng tôi chắc chắn rằng Rommel, một người sở trường về thế công sẽ không bao giờ đồng ý, nhận lãnh một vai trò thụ động như thế. Và sự thật, chúng tôi ghi nhận, không hề có bất kỳ một thay đổi quan trọng nào suốt những tuần lễ sau cuộc thanh tra của Paulus. Chúng tôi không rút về Gazala, và chúng tôi vẫn ăn « Alter Mann ».
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #26 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:50:40 pm »

             
10 . « CÁI DÙI LỚN» Ở BIÊN GIỚI

1

        Sau cuộc thăm viếng Sollum của chúng tôi, Rommel thấy cần phải đẩy mạnh việc củng cố các vị trí phòng thủ từ Tobruk đến biên giới.

        « Tobruk là một hạt dẻ khó nuốt, và nó sẽ đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo », ông nói. Và ông không hy vọng Wavell cho phép ông hành động một cách suông sẻ. Vì thế ông sắp xếp kế hoạch củng cố tất cả các vị trí không những quanh Tobruk mà còn đến tận biên giới. Viêm nhiệt ở sa mạc gia tăng vào tháng năm. Hiện thời một tin đồn giữa các đơn vị rằng các cuộc hành quân sẽ tạm đình chỉ vào những tháng mùa hạ nóng bức. Thật vậy, hầu hết kỵ binh giam mình trong các chiếc thiết giáp của họ đều ao ước được ra ngoài. Nhưng họ không biết là Wawell đang chuẩn bị phản công.

        Phi cơ thám thính của Anh bấy giờ đã khám phà ra nơi đặt bản doanh tiền phương của chúng tôi. Chúng tôi phải rời bỏ khu vực phía bắc của ngôi nhà trắng để đến bờ biền phía tây Tobruk. Tòi biết ơn các phi cơ thám thính của R. A. F (Không lực Hoàng gia Anh, vì chúng tôi đã được sống trong tình trạng đầy thích thú sau khi họ khám phá ra chỗ ở của chúng tôi. Thật là thoải mái khi được nhìn thấy, biển cả sau các chuyến đi vào sa mạc đầy bụi bặm.

        Tôi tháp tùng theo Rommel đến biên giới thường xuyên. Chúng tôi đã thiết dựng một tuyến phòng thủ từ con đường duyên hải Halfava Pass đến Sidi Omar và được nhanh chóng tăng cường thêm các khẩu 88 ly của Đức và pháo binh của Ý. Đội thám sát Panzer, hiện tại nằm giữa đồn Capuzzo và Sidi Omar, được xem là thánh phần trừ bị lưu động.

        Tôi đã tắm biển thỏa thích sau các chuyến đi biên giới trở về. Rommel đã tự cho phép ông ta nghỉ ngơi lần đầu tiên, kề từ khi tôi gặp ông, trong một chiếc xe nhỏ, còn tôi và Berndt ở chung một căn lều sát đó. Cạnh chúng tôi là căn lều của các thông tín viên chiến tranh Von Esbeck, Ertl và Borchert. Họ thường dùng bữa chung với tôi, đặc biệt khi tôi làm món lúa mạch trộn sữa. Sa mạc là một thế giới dành riêng cho đàn ông, vì vậy vấn đề phục sức được bản doanh chúng tôi chấp nhận khi tắm biền vào ban ngày là phục sức của Adam

2

        « Schmidt, dậy đi » Berndt đứng trước cửa lều gọi tôi vào một buổi sáng sớm. «Dậy nhanh đi ! Một chiếc tàu lớn đang bị các oanh tạc cơ Messerchmitt tấn công ».

        « Ồ », tôi nói và cảm thấy một chân bị kéo. « Tôi nghĩ là chúng ta đang cố đánh đắm chiếc Ark Royal 1 một lần nữa rồi ».

         « Không, đây là sự thật ! Có một chiếc tàu có thể đang cố gắng chạy đến Tobruk. Dạy mau lên ! »

        Tôi định lên tiếng khuyên Berndt nên tìm cách nào tốt hơn nếu hắn muốn tôi bỏ rơi chiếc mền, tôi chợt nghe các tràng súng đại liên vọng đến.

        « Hãy nghe đó ! Các chiếc Messèrschmitt đang xạ kích chiếc tàu, nhưng nếu bạn không tin tôi thì bạn cứ nằm đày ». Cái đầu bờm xờm của Berndt biến mất khỏi cửa lều.

        Tôi quấn nhanh chiếc khăn tắm và chỉ vài bước sải xuyên qua đụn cát nhỏ, khung cảnh Địa Trung Hải đã ở trước mặt tôi. Quả thật có một chiếc tàu, không lớn như lời Berndt, mà chỉ là loại tàu ba buồm và một máy. Ba chiến đấu cơ Đức đang chúi đàu xuống xạ kích dữ dội. Các khẩu cao xạ hạng nhẹ trên tàu cũng đáp trả không kém. Chiếc tàu cách bờ biền nhiều dặm, nhưng mọi diễn biến đều nhìn thấy rõ ràng.

        Một đám đông tụ họp trên bãi biển nhanh chóng, bao gồm Rommel và nhiều sĩ quan tham mưu khác. Các thông tin viên chiến tranh, Von Esebeck và Ertl, cũng có mặt. Máy quay phim của Ertl đang hoạt động.

        Các chiến đấu cơ không oanh tạc, hiển nhiên là chúng không mang bom, nên khó thể có hy vọng ngăn chặn hữu hiệu hướng tiến của chiếc tàu. Nhưng không ! Bất ngờ đã xảy ra. Chiếc tàu phát hỏa, đầu tiên ở khoảng giữa và kế đó là phần sau. Chúng tôi nhìn thẩy các thủy thủ nhảy xuống các xuồng cấp cứu. Và một vài phút sau, với tất cả cố gắng được tận dụng họ rời xa chiếc tàu, nhưng không tới hai trăm thước thì chiếc tàu bùng nổ. Một cột lửa sáng rực bốc thẳng lên và tiếp liền theo đó cột lửa xoè rộng ra mọi phía. Tiếng nổ vọng đến liên hồi. Cuối cùng một cột khói hình nấm mọc cao lên trên không và một vài tia sáng còn lóe trẽn mặt biển. Vài phút sau, cột khói tan dần, không còn gì của chiếc tàu được nhìn thấy nữa.

        Các thuyền cấp cứu lại xuất hiện xuyên qua màn khói. Các thủy thủ gắng sức bơi vào bờ. Nhiều chiếc cố hướng mũi về hướng Tobruk nhưng bị các chiến đấu cơ chặn lại bắng cách bay sà thấp phía trước, chỉ cách trên đầu các thủy thủ không quá một thước. Sau cùng các chiếc thuyền bắt buộc phải bơi tấp vào bãi, khá gần các căn lều của chúng tôi, đúng ngay chỗ một đơn vị đột kích của Anh đã bộ lên và bị chặn bắt sau này.

        Các thủy thủ đều kiệt lực. Hai người bị thương trầm trọng và chết ngay sau đó. Hầu hết họ đều là thường dân Hy Lạp. Trong số này có một vài người được thuê để phụ trách khẩu cao xạ trên chiếc tàu. Đày là một loại tàu nhỏ chở hàng mướn, cũng của người Hy Lạp, khởi hành từ hải cảng Alexandria mang quân nhu đến Tobruk cho quân Anh. Tên thuyền trưởng mất lối vào hải cảng suốt đêm rồi và sáng ra ông ta mới biết đã chạy lạc xa về hướng đông một vài dặm. Ngay lúc đó các chiến đấu cơ Đức xuất hiện. Một chiến đấu cơ khai hỏa, đạn xuyên vào cửa ca bin mở rộng, làm vỡ tung cái bếp đang nấu nước phà trà buổi sớm. Và ca bin phát hỏa sau đó khi chiếc phi cơ thứ hai nhập cuộc. Lửa bắt sang một thùng chứa dầu và lan rộng trong chớp mắt. Các thủy thủ chỉ còn một cách để chọn, bỏ rơi chiếc tàu.

-------------------------
        1. Một chiẽc tàu trong Kinh Thánh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #27 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:52:36 pm »


3

        Nhưng, trong chiến tranh, chúng tôi không thể hy vọng trải qua những ngày tuyệt thú mãi mãi. Phía sau chúng tôi, hải quân Anh đã bắt đầu nả đạn vào Benghazi, trong cố gắng ngăn chặn sự củng cố lực lượng của Afrika Korps. Một ngày hoặc hai ngày sau, tướng Wavell phản công ở Sollum. Cùng lúc, Quận công Aosta bị vây ở Amba Alagi1, và sự đối kháng ở Đông Phi đã cáo chung ; nhưng, trong vòng một hai ngày sau, lực lượng nhảy dù Đức tràn vào Crete và giáng cho Wavell một đòn trầm trọng.

        « Cái dùi lớn » là mật danh cuộc tấn công của Wavell, tuy nhiên chúng tôi không hiểu ý nghĩa của danh từ này khi các báo cáo đầu tiên đến từ mặt trận Halfaya. Trong báo cáo chỉ nói đó là «một cuộc cường tập bằng chiến xa ». Hầu hết các chiến xa Anh là loại Mark II, phía trước bọc sắt thật dày và các bộ phận che chở dày xích hai bên cạnh sườn khả hữu hiệu.

        Yềm trợ cho bộ binh, các chiến xa đã tạo ra các bước tiến quyết định khi vượt qua những khe trũng dốc thẳng ở Halfaya Pass và dọc theo bờ biến dẫn đến Solium. Rommel lo ngại nhứt các cơ cấu phòng thủ của chúng tôi ở đây, vì phần lớn còn đang được thiết dựng. Ông lập tức ra lịnh cho các đơn vị thuộc Trung đoàn 5 Panzer, nhanh chừng nào hay chừng nấy, tiến dọc theo Tright Capuzzo, một trong những đường mòn tốt nhứt ở sa mạc, nằm phía nam con đường duyên hải.

        Tình hình dược nghi ngờ xảy ra vào ngày thứ hai cuộc tấn công của quân Anh : Mũi dùi sẽ chĩa vào Solium. Rommel quyết định đích thân thị sát khu vực này với Aldinger, Berndt và tôi đi theo. Chúng tôi không thể sử dụng con đường bờ biển, vì R.A.F. (Không lực Hoàng gia Anh) thường xuất hiện bất ngờ. Chúng tôi bắt buộc chọn lộ trình Tright Capuzzo.

        Chúng tôi được chứng kiến một trận đánh đẹp mắt. Các chiến xa của Wavell chọc thủng một trong số các vị trí phòng thủ của bộ binh, mặc dù vấp phải các khẩu đại bác 88 ly của chúng tôi ngăn chặn liên tục, mà họ chưa từng thấy. Các xạ thủ 88 ly đặt súng trên cao và không có gì che chở quanh họ, khi một người bị đại liên chiến xa liạ, người khác nhảy vào thế ngay. Các xạ thủ Ý phấn khởi bởi sự can cường của người Đức, cũng bắt đầu lên cao tinh thần chiến đấu đến tột độ. Nhưng mặc dù bị thiệt hại nặng nề, bộ binh Anh, với sự dũng cảm hiểm thấy, đã ồ ạt vượt sang các « Wadi » Halfava.

        Sau nhiều ngày quần thảo, trận đánh chấm dứt vời sự hài lòng của Rommel. Tin tức của trận đánh này đã không được loan đi một cách rộng rãi như các trận đánh khác ở sa mạc ; sự thật, rất hiểm người Libya nhở lại danh từ « Rattleaxe »2. Điều này cũng đã xảy ra rất nhiều tại các chiến trường Âu Châu và Địa Trung Hải.

        Tôi tháp tùng theo Rommel trong cuộc thanh tra mặt trận nầv dọc theo biên giới từ Halfaya đến Sidi Omar. Chúng tôi đã đếm được cả thảy 180 chiến xa Anh, hầu hết là loại Mark II, bị loại ra khỏi vòng chiến. Một số các chiến xa này sau được người Đức kéo về. Sửa sang lại, kẻ chữ Vạn và mang trở ra mặt trận để đương đầu với đồng đội của những người từng sử dụng chúng trước đây.

        Chiến thắng của Rommel đều nhờ vào sự tận dụng các khẩu 88 ly, một loại vũ khí sơ đẳng vừa chống phi cơ vừa chống chiến xa, và được xem là loại vũ khi chính yếu của mọi vị trí phòng thủ Đức.

        Một vài địch quân bị bắt giữ. Tôi nghe lỏm được một mẩu đối thoại giữa một thẩm vấn viên tham mưu và một ky binh tuổi trẻ người Anh.

        « Theo ý kiến tôi », ky binh Anh nói, với một cái liếc không mấy thiện cảm về phía khẳu 88 ly đặt gần đó, « sử dụng súng phòng không để hạ chiến xa của chúng tôi là bất lương ».

        Một xạ thủ Đức, đang đứng dựa lưng vào khẩu súng, lắng nghe câu chuyện, đã xen lời một cách thích thú : « Đúng, và tôi nghĩ sự bất lương nhứt của các anh là đã sử dựng chiến xa để tấn công những người không được bao bọc bằng sắt mà chỉ có những khầu 88 ly ».

        Mău đối thoại này khiến tôi không nhịn cười được. Nhưng tên kỵ binh Anh nói cũng có phần đúng. Các khẩu phòng không 88 ly này sẽ vô hiệu khi bắn chặn đầu Mark II, nhưng bắn cạnh sườn thì kết quả rất tốt. Bẳn cạnh sườn, quả thật, không mấy lưong thiện.

        Hiện tại, mọi nơi mà Rommel hiện diện, binh sĩ đều bám vào ông. Ông đã trở thành một vị. anh hùng của họ. Ông đưa ra các lời ca ngợi thuộc cấp, nhưng thiếu sót khi cố tình quên lãng các ông bạn người Ý, những người đã thực sự chiến đấu hữu hiệu. Berndt biết cách « đánh bóng » sự thành công của Rommel và, với kỹ thuật tuyên truyền khéo lẻo, hắn đã khiến Rommel không những được lòng quân trên chiến trường mà còn vang danh ở Đức quốc nữa.

        Ngay sau đó, một tờ báo Anh loan tin liên quan đến trận Haifaya Pass — và gọi là «Hỏa ngục» — đã lọt vào tay chúng tôi.

        Bernđt chớp ngay bài báo này và gởi ngay về Bá linh cho Goebbels.

----------------------
        1. Một pháo đài nằm trên cao điểm 11.000 bộ ở Abyssinia. Nơi đây, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, Phó Vương Ý Đạt Lợi — Quận công Aosta — và quân của ông bị bao vây (nhưng không bị xâm phạm) bởi Sư đoàn 5 Ấn của Trung Tướng Mayne và Trung đoàn 1 Nam Phi của Thiếu Tướng Pienaar.

        2. Một cái dùi lớn, được sử dụng làm vù khí thời cổ
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #28 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:53:07 pm »

     
4

        Rommel tập trung mạnh mẽ sự lưu tâm của ông vào mặt biên giới. Các tổ quan sát của chúng tôi được đặt dài theo tuyến duyên hải từ Bardia đến chu vi Tobruk để dòm ngó các động tĩnh trên mặt biển, và họ đã báo cáo có nhiều tàu chở quân dụng và đồ tiếp liệu đến hải cảng bị bao vây này. Nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy địch tăng cường lực lượng và như vậy, một cố gắng phá vỡ vòng vây Tobruk của quân Anh khó thể xảy ra. Rommel đã tiên đoán một cuộc tấn công mới của quân Anh không thể phát động trong vòng ba tháng tới.

        Ông đồng ý mặt trận Sollum có thể là khung cảnh thuận lợi cho bất kỳ hoạt động nào của địch trong những tháng tới và vì vậy, ông quyết định di chuyển bản doanh tiền phương xa hơn về phía đông, hướng đến biên giới. Ông chọn Bardia làm căn cứ hành quân riêng của ông đặt tại một ngôi nhà khá đổ nát ngay cạnh nhà thờ làng — mà các dấu vết còn để lại cho thấy có đến hàng ngàn quân Anh, Úc và Nam Phi từng ở qua.

        Rommel ở thời gian này chỉ là Tổng Tư Lịnh của Quân Đoàn Phi Châu và mặc dù mọi binh sĩ tại mặt trận đều thừa nhận ông là vị Tư Lịnh thật sự, nhưng trên lý thuyết vị Tư Lịnh Tối Cao các cuộc hành quân ở Bắc Phi nằm trọng tay người Ý, Đại Tướng Garibaldi.

        Rommel mời Garibaldi đến thăm viếng mặt trận khi các cơ cấu phòng thủ Solium đã hoàn toàn vững mạnh. Garibaldi chấp thuận cuộc thăm viếng và một vài ngày sau ông đến Bardia. Tại đây, ông đã trao gắn Huy chương bạc Anh dũng của Ý Đại Lợi cho Rommel. Tôi ngạc nhiên hơn khi loại huy chương cao quý nhứt của Ý này cũng được gắn lên ngực tôi. Garibalbi cho biết ông đặt lòng tín cẩn vào tất cả chúng tôi. Vội vã giải thích tình hình cũng như sự sắp xếp các đơn vị, Rommel lập tức đưa Garibaldi đến tuyến đầu Sollum. Đặc biệt, Rommel dự tính đưa vị Tướng Ý đi thanh sát tất cả mọi vị trí của chúng tôi. Nhưng tôi nhận thấy, xuyên qua các lời dẫn giải của Rommel được thông dịch qua tiếng Ý bởi bác sĩ Hagemann, các sĩ quan người Ý cũng như Garibaldi đã không che dấu được sự bồn chồn của họ. Khi chúng tôi chỉ vừa tiến đến Halfaya Pass, một sĩ quan người Ý đi vượt lên và nói với Garibaldi « Kính thưa Đại Tướng, tôi có thể mạn phép nhắc Đại Tướng về các cuộc họp khẩn thiết, cần sự có mặt của Đại Tướng, ở Cyrene haỵ không ? ».

        « Ồ ! Tôi nhớ rồi ! », Garibaldi nói và ông ta xoay sang nói với Rommel là có việc quan trọng cần phải trở về lập tức. Việc này nằm ngoài chương trình dự định của Rommel, vì ông đã sắp xếp các cuộc tiếp đón hoàn hảo để chứng tỏ sự hiện diện của « ông xếp trên hình thức » của ông tại mặt trận. Tôi bắt gặp một tia sáng đượm vẻ mỉa mai trong đôi mắt của Rommel khi Garibaldi nói một cách nhũn nhặn trước khi lên xe « Cảm ơn về các thành quả đáng kinh ngạc của ông. Tất cả những gì ông làm đều đúng. Nếu là tôi, chắc chắn tôi cũng sẽ làm như thế ! ».

        Các người Ý đi khỏi, không còn một đồng minh nào ở đây, chúng tôi tiếp tục nói chuyện với Đại úy Bach, sĩ quan cao cấp Đức tại vị trí phòng thủ Halfaya Pass. Một giảo sĩ trở thành một binh sĩ chiến đấu, Bach, sau này là một Thiếu tá, cùng tất cả lực lượng ở Halfaya đã đầu hàng Trung Tướng I.P de Villiers, Tư lịnh Sư đoàn 2 Nam Phi vào tháng giêng năm sau.

        Sau đó chúng tôi lên đường trở về Barđia. Đôi mắt của Rommel chợt bừng sáng và thình lình ông lên tiếng với một nụ cười ranh mãnh : « Tôi tự hỏi việc gì ở Cyrene mà lại gọi là khẩn cấp ? ».

5

        Ehlert hiện tại đã rời khỏi Bộ tham mưu của Rommel và được Thiếu tá Wustefeld thay thế ở Ia. Cùng thị sát với Wustefeld, Rommel đã vạch ra rõ ràng những mục tiêu mà ông hy vọng hoàn thành trước cuối tháng 11 năm 1941. Thứ nhứt, hoàn tất một chuỗi pháo đài từ Halfaya Pass đến Sidi Omar được dự trù mức độ đề kháng có thể duy trì ba tuần lễ hoặc hơn, trước một cuộc tấn công qui mô của địch quân.

        Thứ hai, phía sau khung cảnh của tuyến phòng thủ này, một cuộc tấn công và chiếm giữ Tobruk sẽ được chuẩn bị kỹ càng.

        «Vâng, Wustefeld », Rommel ngẫm nghĩ. « Việc này có ý nghĩa là trong thời gian nửa năm, chúng ta sẽ phải duy trì bằng mọi cách các đường tiếp tế của chúng ta đến các vị trí ở Tobruk và chung quanh Tobruk đến phòng tuyến này... »

        « Vâng, thưa Đại Tướng, tôi thiết nghĩ việc nay không thể không nghĩ đến ». Wustefeld đáp không mấy nồng nhiệt, có thể nghĩ như thế, cũng như tôi, khi nghĩ đến các xe vận tải khuấy bụi mù mịt trên các con đường lầm cát ngoại vi Tobruk.

        « Cho dù có thể làm được việc đó », Rommel thêm. « Cái gì mà ông muốn nói chính là một con đường thích hợp chạy quanh Tobruk ? Sau này chúng ta sẽ có con đường duyên hải xuyên qua hải cảng, nhưng rất tiếc, hiện thời những tên Úc đáng ghét đã từ chối không cho chúng ta đi qua con đường nầy ».

        Kế hoạch của Rommel đã được tiếp nhận với nhiệt tâm và nhanh chóng trở thành cụ thể. Các buổi họp được mở ra với các vị Tư lịnh Sư đoàn Ý và đưa đến kết quả là tận dụng tất cả nhân lực có thể, bắt đầu xây đắp con đường vòng đai Tobruk. Các tiểu đoàn Đức cũng được cắt đặt vào công tác này, nhưng họ lại thích nhiệm vụ ở tiền tuyến hơn, nên sau một thời gian, họ được phép hoán chuyển với các binh sĩ Ý nằm ở các vị trí chiến đấu.

        Con đường thành hình nhanh chóng. Đá không thiếu trong khu vực sa mạc này và dĩ nhiên cảt là một vật liệu dồi dàò nhứt. Ba ngàn quân Ý làm việc siêng năng và hăng hái, hình như nhiệm vụ thích hợp với khả năng của họ. Di chuyển trên các đoạn đường đã hoàn thành, tôi đã ngạc nhiên khi nhìn thấy các tiệm hớt tóc và tạp hỏa của dân địa phương mọc lên.

        Con đường hoàn tất trong vòng ba tháng. Một tường lãnh Ý cắt băng khánh thành và nó được mang tên « Achseustrasse »1, con đường nay sau đó trỏ thành « sinh lộ » trong sa mạc cho cả hai phe, cho đến cuối năm 1943. Tôi nghĩ hiện tại nó vẫn còn được sử dụng ở Cyrenaica.

          Trục lộ — con đường của phe Trục {Đức, Ý và Nhật), nhưng Sự thật chỉ do người Đức và Ý xây đắp.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25402


« Trả lời #29 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:54:45 pm »


11. CÁC BỨC THƯ CỦA ÔNG TƯỚNG

1

        Bardia nằm trên một bờ biển cao nhìn bao quát ra Địa Trung Hải, với một bãi biển nằm xa phía dưới về hướng Đông hầu như bị đóng kín cả ba mặt, từng là sào huyệt của bọn hải tặc cách đây một trăm năm. Thời bình, tôi có thể hình dung Bardia là một nơi nghỉ mát lý tưởng. Rommel đã có nhiều lợi thế khi đặt bản doanh tiền phương tại đây. Nó vừa là một nơi để xả hơi sau các công việc mệt nhọc, vừa thuận tiện cho một vị chỉ huy vẫn được tiếng luôn luôn gần gũi với binh sĩ.

        Chúng tôi nhận được một số tăng cường. Một sư đoàn thứ ba, được thành lập bằng rút binh sĩ của nhiều đơn vị khác nhau, mang tên Sư đoàn 90 Khinh binh, nhưng vẫn chưa biết ngày nào sẽ lên đường. Sư đoàn 5 Khinh binh biến cải thành Sư đoàn 21 Panzer (Thiết giáp). Tư lịnh hiện thời là Trung Tướng Von Raveinslein, thay thế Streich. Trung Tướng Von Esebeck, anh họ ông bạn thông tín viên chiến tranh của tôi, nắm quyền Tư lịnh Sư đoàn 15 Panzer, nhưng vài ngày sau ông ta đã bị thương trong một cuộc oanh kích của phi cơ Anh gần Acroma.

        Như vậy các đơn vị chánh của Quân đoàn Phi Châu, đã đưa quân đoàn trở nên lừng danh sau này đều hiện diện, bao gồm các Sư đoàn 15, 21 Panzer và 90 Khinh binh.

        Phần lớn thời gian này chúng tôi nằm tại Bardia và thật sự không bị quấy nhiễu, ngay cả vào một buổi sáng chúng tôi biết được một nhóm xung kích Anh đã đột nhập lên bãi biển mà chúng tôi thường tắm. Hai tên trong bọn bị bắt giữ, nhưng những tên khác đều chạy thoát.

        Một vài hôm sau, Rommel với Rerndt và tôi tháp tùng, đến xem xét khu đất gần các giao thông hào nằm cạnh bờ biển phía tây Barđia, trong lúc không ngờ nhất, chúng tôi trở thành mục tiêu tốt cho các xạ thủ bắn sẻ của địch. Chỉ mang theo súng lục, chúng tôi đành phải núp sau một vách đá. Hơn nửa giờ chúng tôi không dám thò đầu ra ngoài. Cuối cùng, sau một loạt đạn, chúng tôi chạy nhanh ra xe. Một tiếng rưỡi đồng hồ sau tôi trở lại, với ba mươi tên lỉnh, lục lọi toàn thể khu vực và tìm tòi trong mọi giao thông hào. Nơi nào chúng tôi cũng dẫm phải những chiếc mền cũ, lựu đạn, và nhiều vật dụng khác do quân Ý bỏ lại trong trận đại bại hồi tháng 12 năm rồi. Nhưng không dấu vết nào cho thấy có sự hiện diện của địch quân một giờ rươi trước đây. Chúng tôi đã phí công hai tiếng đồng hồ.

        Đây là lần thứ hai địch quân đã cố gắng « hạ » Rommel. Lần thứ nhứt xảy ra lúc bản doanh của chúng tôi được đặt ở bờ biển phía tây Tobruk. Các tên xâm nhập bị chặn bắt chỉ cách chiếc xe của Rommel không đầy hai trăm thước, cũng may, bởi vì chúng tôi cẩu thả nhứt trong việc canh gác bản doanh, ở tiền tuyến, các tiện nghi của Rommel không khác gì một tên lính quèn hoặc tiện nghi hơn chút đỉnh. Lúc ấy chúng tôi không hề ý thức rằng các tên xâm nhập đã nhắm vào ông Tướng, mà chỉ nghĩ đó chẳng qua là một hành động phá hoại thường tình.

        Vây mà Rommel vẫn không tỏ ra nao núng sau vu thứ hai này. Ông cười và nói đùa : « Đối với người Anh, xem ra tôi cũng có giá lắm ».
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM