Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Giêng, 2021, 11:35:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Patton - trọn đòi chinh chiến, một thuở thanh bình  (Đọc 3528 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #30 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 10:59:01 pm »

               

Patton trên ngọn đòi quan sát đoàn thiết giáp của ông đang lăn bánh.






Cuộc đình chiến giữa Pháp và lực lượng của Patton có hiệu lực sau ngày 11-11-1942.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #31 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:00:12 pm »


* * *

        Cuộc pháo kích bất ngờ của Augusta chấm dứt vào lúc xế trưa và con đường đến Casablanca đã được dọn sạch. Phó Đô Đốc Hewitt cung cẩp một xuồng khác thay thế chiếc xuống xem như đã hư hỏng của Patton. Vị Tư lịnh Lực lượng Đặc nhiệm Phương tây nhanh nhẹn bước xuống xuồng với điếu xì gà Havana trên môi. Dáng điệu ông hùng dũng nhưng không khỏi e dè. Cuối cùng ông bước vào cuộc chiến đang xảy ra với hai khẩu súng lúc trung thành đã từng theo ông đến Mễ Tây Cơ và Pháp. Nhưng rất tiếc hai khấu súng vẫn không còn một viên đạn nào.

        Trong lúc Patton rời khỏi soái hạm Angusta, tình thế vẫn chưa có gì gọi là sáng sủa. Nhưng đối với Patton không thành vấn đề, vì giai đoạn đầu của cuộc đổ bộ hầu như ông chưa tham dự. Trong nhật ký ông đã viết : « Thật sự, tôi hầu như không làm gì cả hoặc làm rất ít trong khi các binh sĩ đang chiến đấu trên bờ. Tôi cảm thấy vô trách nhiệm ».

        Hiện thời, sau cuộc đổ bộ xảy ra khá lâu,, ông bắt đầu nhập cuộc. Khi chiếc xuồng tiến gần đến bờ, quang cảnh đầu tiên mà Patton nhìn thấy là một binh sĩ đơn độc đang mang xác người bạn của hắn vùi xuống cát. Cảnh tượng đau lòng nầy đã khiến Patton bỏ ý định tiến thẳng đến Fedala. Ông muốn gặp gỡ các binh sĩ của ông đang nằm trong các hố cá nhân, trong các địa điểm tiền đồn rãi rác trên mặt trận.

        Địa điểm mà chiếc xuồng máy của Patton đang hướng vào, một tàu đổ bộ chất đầy đạn được và tiếp liệu đang nhồi lên xuống trên các lượng sóng và cuối cùng vướn lên đá ngầm. Thủy thủ đoàn, ngoại trừ tài công, đều nhảy xuống mặt nước đang xoáy dữ dội. Nhằm làm cho chiếc tàu nhẹ bớt, tài công сố lùi chiếc tàu lại nhưng vô ích.

        Lúc đó chiếc xuồng máy của Patton tiến đến nhưng cũng chạm vào đã ngầm và muốn lật úp. Patton nhảy xuống trước và lội ngay vào bờ. Không lưu ý đến chiếc xuồng của mình, ông chạy thẳng đến chiếc tàu đồ bộ đang mắc cạn, nhảy ngay xuống nước và kề vai vào, vừa đẩy vừa la hét mấy tên lính đang nhìn « lão già » vời đôi mắt chế nhạo.

        Ông hét to : « Đến hết đây ! Tất cả mấy chú kia. Đẩy phía này. Còn chú kia, đẩy ở phía đó ! Chờ đợt sóng kế là nhấc lên và đẩy mạnh. Nào đẩy ! »

        Họ đẩy trối chết. Một lát sau, cả thủy thủ đoàn của chiếc tàu đều mệt há miệng. Cuối cùng chiếc tàu cũng thoát khỏi đá ngầm.

        Bây giờ lão già thân thế to lớn, ướt đẫm nước biển quay lại với chiếc xuồng của mình. «Các anh vô ý thức », Patton hét « Các anh không nghĩ rằng chiếc xuồng này mất thì còn có chiếc khác thay thế ! Còn chiếc tàu kia mà chìm thì mất hết đạn được. Các anh cho rằng đánh nhau không cần đạn chăng ? Bây giờ nhảy lên ngọn đồi kia, mau lên, mấy tên trời đánh này ! ».

        Từ bãi biển, Patton tiến lên mô đất cao nằm dưới đập nước Casino, nơi mà Đại tá Elton F. Hammond, sĩ quan truyền tin, thiết lập ngay một hệ thống liên lạc cho ông. Vài giây sau đó, ông gọi ngay Trung tá Hải quân James W. Jamison, chỉ huy các tàu đổ bộ đến trình diện. Sau khi phê bình và ban các chỉ thị cần thiết, ông nói với viên Trung tá đang đứng như trời trồng trước mặt ông :

        « Này Jamison, tôi vừa thấy một trong những chiếc tàu bị bỏ rơi, bởi mấy tên thủy thủ trời đánh của anh khi nó rướn vào đá. Nếu anh thấy không làm nên việc, chính tôi sẽ thế vào chức vụ của anh hoặc một sĩ quan hải quân khác.

        Sau đó, nhận thấy mình quả lời, Patton gọi vô tuyến cho Jamison : « Nầy, tôi tỏ ra hơi khắc nghiệt với anh, hãy quên di. Sở dĩ tôi nói lời này bởi lẽ tôi kiểm điểm lại những gì mà anh đã làm. Anh « đỡ tay » cho cuộc hành quan chó chết nầy rất nhiều
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #32 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:02:05 pm »


* * *

        Từ cao điểm nằm phía dưới đập ngăn nước biển Casino, Patton di chuyển lên phía Bắc đến Miramar, nơi Tướng Von Wulisch trú ngụ trước đó. Tin tức tốt đẹp đến từ Mahedia cho biết Truscott đã chiếm giữ phi cảng Lyautey. Michelier vẫn còn chống cự nhưng Patton đã trên chân đối thủ rồi. Một tối hậu thơ 30 phút được gởi đi, đe dọa phản kích Casablanca từ biển và oanh tạc từ trên không.

        Patton nói :

        « Để xem lão Michelier còn dám chống cự nữa hay không ».

         Toàn thế xứ Ma-Rốc: đã quay tít một vòng chỉ trong một ngày. Đúng 24 tiếng đồng hồ sau bữa ăn cuối cùng của Patton trên chiếc Augusta, ông bước vào phòng ăn lộng lẫy và sang trọng của khách sạn Miramar, nơi mà đêm trước đó Tướng Vom Wulisch đã thết đãi Auer, nhân viên ngoại giao của Hitler. Patton hùng dũng bước vào phòng ăn với Dick Jenson và Al Stiller, hai tùy viên (của ông đi kèm hai bên, và tiếp theo sau là Đại tá Hap Gay, Tham mưu trưởng của ông. ông được hoan hô nhiệt liệt, đồng thời với những tiếng cười thích thú vang lên : Patton đội chiếc nón sắt có huy hiệu con ó của Von Wulisch.

        Sau bữa ăn, Patton cho gọi Trumg sĩ Rosevich để đọc cho anh ta ghi lại những sự việc xảy ra trong ngày. Khi viên thư ký riêng của ông bước vào phòng trên tầng thứ hai của khách sạn Miramar, anh ta nhận thấy ông đang ngồi thoải mái sau một bàn giấy, ông Tướng hình như có vẻ rất khoái trá, nhưng Rosevich vẫn thấy ớn. Paatton lúc đó mặc áo thung màu sắc kỳ dị và buộc một sợi thắt lưng ba màu đó trắng và xanh.

        Patton bắt đầu nhật ký của ông; với câu:

        « Hôm nay Thượng đế đứng vè phía tôi ! »

        Lúc 3 giờ 30 sáng, ngày 11 tháng 11, Patton được Đại tá Harkins đánh thức. Một sĩ quan Pháp muốn gặp ông.

        Patton vội vã mặc quần áo, bước xuống phòng khách của khách sạn Miramar. Dưới ánh đèn sáp, ông ngồi xuống một chiếc ghế, cạnh cái bàn nhỏ.

        «Trung tá Philippe Lebel, thuộc Bình đoàn 3 Ma-Rốc — Spahis, thưa Trung Tướng ». Hắn tự giới thiệu và trao cho Patton tấm giấy cầm trên tay. Những giòng chữ trên mảnh giấy do chính Đại Tướng Georges Lascroux, Tư lịnh các lực lượng trên bộ ở Ma-Rốc viết, cho biết đã ra lịnh tất cả các đơn vị bộ binh chấm dứt thái độ thù nghịch với lực lượng Hoa Kỳ. Các Tư lịnh Pháp sẽ đích thân thảo luận các vấn đề kế tiếp ngay mặt trận.

        Patton cho Lebel ra ngoài và thảo luận với Tướng Keyes, phụ tá của ông, và Đại tá Gay. hai người đều đề nghị nên ngưng ngay cuộc tấn công, nhưng ông lắc đầu.

        « Không, phải tiếp tục. Đừng quên những kinh nghiệm hồi năm 1918 »

        Ông cho gọi Lebel trở vào và ôn tồn hỏi :

        « Ông là một sĩ quan phải không Lebel ? Do đó chắc ông hiểu sự lượng xét tình hình đương nhiên phải có của tôi. Nếu tôi chấp thuận đề nghị  của Tướng Lascroux một cách tuyệt đối, bằng cách đình chỉ các cuộc tấn công hiện hữu của Hoa Kỳ, tôi có cái gì bảo đảm rằng  Hải quân Pháp sẽ ngưng bắn ?  
-----------------------
       1. Tức dân chúng Ma-Rốc thuộc Pháp. Trên nguyên tắc, tất cả thuộc địa của Pháp thời ấy đều được hưởng mọi qui chế của chính quốc và dân chúng các thuộc địa đó được gọi là người Pháp bổn xứ, (khác với dân nhập tịch Pháp, vì « người Pháp bổn xứ » vẫn còn giữ quốc tịch cũ của họ).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #33 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:04:30 pm »


        Lebel nói :

        « Thưa Trung Tướng, xin cho phép tôi đưa ra một đề nghị »

        « Nói đi ».

        « Tòi quen thân với Đề Đốc Jean Ronarcb, Tham mưu trưởng của đô Đốc Michelier. Nếu Trung Tướng cho phép, tôi sẽ đến Bộ chỉ huy Hải quân, tôi sẽ bảo đảm rằng Hải quân Pháp sẽ tuân theo lịnh của Đại Tướng Laseroux.

        Patton suy nghĩ trong chốc lát rồi nói :

        « Lebel, tôi đồng ý để ông đi. ông hãy nói cho Michelier biết rằng nếu ông ta không muốn bị tiêu diệt, tốt hơn...»

        Ông ngừng lại đó và xoay sang gọi Đại tá John p. Ralay, phụ tá tình báo của ông :

        « Ratay, anh đi theo Trung tá Lebel đến Casablanca. Các cuộc tấn công vẫn tiếp tục, chỉ ngưng lại khi được lịnh của tôi ». Lúc đó là 4 giờ 15 phút.

        Vào 6 giờ 48 phút sĩ quan truyền tin của Patton là Đại tá Elton F. Hamraond nhận được liên lạc vô tuyến từ Sư đoàn 3 muốn gặp Patton.

        Tướng Anderson, Tư lịnh Sư đoàn, báo cáo khi Patton được trao máy điện thoại :

        « Hải quân Pháp đã tan rã

        « Nhờ trời », Patton chỉ nói một câu đơn giản như thể rồi gác máy.

        Sau đó ông viết cho phu nhân : « Lịnh oanh tạc các mục tiêu lúc đó đang nằm trong tay tôi. Đây là thời gian dài nhứt trong đời tôi ».

        Bây giờ trận chiến đã vượt qua. Đô Đốc Michelier chịu nhượng bộ. Cuộc chiến thắng của Patton bắt đầu vào lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 11 năm 1942 với một « cuộc hòa đàm » giữa Hoa Kỳ và các Tư lịnh Pháp ở Fedala, giữa lúc các quân nhân Pháp và Hoa Kỳ bị thiệt mạng được vùi xuống những chiếc hố cạnh bờ biển, mấy Tướng lãnh và Đô đốc của hai phe cũng đang tìm cách chôn vùi « sự đổi nghịch »của họ tại khách sạn Miramar.

        Đại diện lực lượng Hoa Kỳ ở cuộc hội nghị đình chiến này là Tướng G.s Patton, Đô Đốc Hewitt, Tướng Keyes, Đề Đốc Hall, Đại tá Gay, Đại tá Wilbur, Đại tá Harkins và Đại tá Lambert. Đại diện của Pháp có Đại Tướng Noguès, Đô Đốc Michelier, Tướng Không quân Lahoulle và Tướng Desré.

        Tướng Patton ra lịnh sắp xếp một toán dàn chào danh dự dọc theo lối vào khách sạn để đón tiếp Tướng Noguès, Thống sứ Pháp tại Ma-Rốc. «Không nêu đánh người ngã ngựa». Ông đã viết cho nhu nhân như thế.

        Buổi chiều, một chiếc xe bóng loáng chạy đến với đoàn mô tô hộ tống, ngừng lại trước cửa khách sạn. Gọn gàng và mạnh mẽ, Tướng Noguès bước lên các bực thềm, tiếp theo sau là các Tướng Lascroux và Lahoulle, Tư lịnh Không quân Pháp ở Ma-Rốc. Tất cả được Tướng Leyte thay mặt Patton tiếp đón ngay phòng khách. Ngồi cạnh chiếc bàn dài là Hewitt, Keyes, Hall, Gay và Đại tá Wilbur, thông dịch viên. Đối diện phía bên kia bàn là Nogues, cạnh phải Patton, Michelier, Lahoulle và Desre.

        Mở đầu phiên họp, Patton lên tiếng ca ngợi « sự dũng cảm và khéo lẻo của các lực lượng Pháp trong ba ngày đối đầu vừa qua ».

        Noguès ngồi bất động, mặt lạnh như tiền, Michelier hơi nhúc nhích, miệng khẽ mím và tay mân mê cây viết chì.

        Sau đó, Patton tiếp : « Chúng ta đến đây để sắp xếp các giai đoạn đình chiến, và các giai đoạn đó như thế này...»

        Ông quay sang Đại tá Wilbur gật đầu. Wilbur đứng ngay dậy và đọc các điều khoản « hóc búa » trong « Thỏa ước c », do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chuẩn bị sẵn cho Patton như đã nói ở đoạn đầu. Khi Wilbur chấm dứt, cả phòng im lặng một cách căng thẳng. Thế rồi Đô Đốc Michelier viết lên mảnh giấy mấy chữ « không chấp nhận » trao cho Noguès. Viên Thông sử Pháp liếc qua, ngần ngừ giây lát, rồi đứng dậy :« Cho phép tôi nói » giọng ông lạnh lùng, « Theo như các điều khoản này, thì nền bảo hộ của Pháp ở Ma-Rốc sẽ cáo chung. Điều đó có vẻ bắt buộc ».

        Ông ngưng nói, và sau đó tiếp, giọng lạnh lùng và nhấn mạnh hơn: « Người Pháp chúng tôi không hy vọng thách thức sức mạnh với Hoa Kỳ, chúng tôi chỉ thách thức trong trường hợp bắt buộc. Nếu như thỏa ước khủng khiếp này được đặt lên đầu chúng tôi, nó sẽ gây thất bại cho nhiệm vụ của các ông. Không chỉ trên phương diện ổn định giữa các quốc gia Ả Rập, Berbers, Do Thái, nhưng còn cả sự ổn định của một phần nền bảo hộ Tây Ban Nha ở Ma-Rốc và tồn hại đến các hệ thống liên lạc với Algiers và Tunisia. Người Pháp chúng tôi hiệu diện một cách êm đẹp và vững chắc ở đây. Trái lại người Mỹ, chân ướt chân ráo mới đến mảnh đất nhiều rắc rối này, chắc chắn sự hỗn loạn và chống đối có thể xảy ra ».
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #34 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:04:54 pm »


        Thật sự, Patton đã nhìn thấy những khó khăn đó sẽ xảy ra trước mắt. Khi Noguès ngồi xuống, Patton đứng ngay dậy, ông lấy tờ thỏa ước trong tay Wilbur, cầm một vài giây, nhìn qua mọi người một lượt đoạn từ từ xé ra từng mảnh. Sau đó ông nối :

        « Kính thưa quí vị, cũng như Tướng Keyes, tôi biết hầu hết các sĩ quan Pháp trước đây, trong thời gian tôi theo học tại các quân trường bên Pháp. Chúng ta đều chung nghề nghiệp, đều là những kẻ cầm súng. Lời nói của các ông, tốt hơn là chữ của các ông. Điều này luôn luôn là sự thật đối với những người như chúng ta,

        «Tôi đề nghị, cho đến khi các điều khoản đạt đến một thỏa hiệp được sắp xếp bởi thượng cấp của chúng ta, các ông hãy rút tất cả các lực lượng trở về vị trí xuất phát lập tức, trao đổi thương binh và tù binh giữa đôi bên. Và tôi yêu cầu các ông cho tôi một lời hứa» là sẽ không tìm cách chống lại lực lượng của chúng tôi. Các ông sẽ tạo ra mọi nỗ lực đề duy trì trật tự và kỷ luật ở Ma-Rôc, bao gồm việc bảo vệ an ninh các cây cầu hỏa xa và các thiết lộ xuyên qua thung lũng Taza ».

        Đề nghị này được phái đoàn Pháp đồng ý hoàn toàn. Noguès thoáng mỉm cười. Nhưng, Patton bỗng cát cao giọng : « Tuy nhiên, có một điều phụ thêm mà tôi cần phái nhấn mạnh ». Cả hai Tướng Noguès và Đô Đốc Michelier nhìn ông chăm chăm, lộ vẻ khẩn trương.

        Patton vừa nói tiếp vừa ra dấu cho Thiếu tá  Codman :

        « Điều kiện đó là... các ông cùng uống với tôi một ly sâm-banh, để chúc mừng Hoa Kỳ và Pháp quốc cũng như sự liên kết của chúng ta ».

        Noguès và Michelier cười rạng rỡ. Cả hai cùng ôm chầm lấy Patton và hôn lên má ông.

        Cuộc đình chiến giữa Pháp và lực lượng của Patlon có hiệu lực, và sau ngày 11 tháng 11, Patton ra lịnh cho binh sĩ của ông tiến sâu vào rừng Mamora Cork.

        Khu rừng này dày bịt với những cây cổ thụ có từ 25 năm, được trú đóng bởi Sư đoàn 9 Bộ binh và Sư đoàn 2 Thiết giáp, chạy dài từ phía bắc Lyautey đều phía nam Rabat 25 dặm và chạy thêm nhiều dặm nữa vào sâu trong đất liền. Chỗ trú quân của Sư đoàn 2 Thiết giáp nằm phía bên ngoài khu rừng, cạnh thành phố nhỏ Monod, cách phía đông Rabat khoảng 10 dặm. Từ địa điểm này, tiếng sóng trên bờ biển Ma-Rốc có thể nghe thấy.

        Patton và bộ tham mưu của ông, Quân đoàn 1 Thiết giáp, di chuyển từ khách sạn Miramar đến Villa Maas. Bộ tham mưu bao gồm Trung Tướng Keyes, Thiếu Tướng Wilbur (vừa tân thăng), đại tá Gay, Trung tá Harkins, Thiếu tá Jenson và Đại-úy Stiller, sĩ quan tùy viên.

        Ngôi biệt thự lộng lẫy này tọa lạc vùng ngoại ô Casablanca, gần khách sạn Anfa, nơi mà sau đó một cuộc hội nghị danh tiếng được mở ra vào đầu tháng giêng năm 1943 giữa Tống Thống Roosevelt, Thủ Tướng Churchill, hai Tướng De Gaulle và Girauđ

        Hoạt động của Palton ở Rabat trong vai trò của một người anh hùng chinh phục, một vị tư lịnh quân sự đồng thời là một đại diện cao сấр của Hoa Kỳ ở một xứ sở đầy phức tạp, rộng hơn tiểu bang California với dân số trên 7 triệu, người.

        Patton quyết định một cách khôn ngoan là không nhúng tay vào các vấn đề nội bộ ở Ma- Rốc. Ông thiết lập liên lạc mật thiết với Thống sứ Noguès ở Rabat, sự liên lạc này cũng có đối với các viên chức chính quyền dân sự dưới quyền của Noguès. Do đó, nhiệm vụ sơ khởi của ông rất suông sẻ.

        Mặt khác, người Pháp đã phối hợp với các đơn vị Hoa Kỳ trong việc bảo vệ mấy trăm Thiết lộ ở Oran. Những binh sĩ Hoa Kỳ tử trận được chôn cất tử tế một vài ngày sau khi đình chiến, tại một nghĩa trang nhỏ gần Kashah ở Mehedya. Trong các buổi lễ an táng có một số hỏa phu Pháp mặc tang chế màu đen tham dự. Sự hiện diện này đã gây cho Patton xúc động sâu xa đến phải rơi lệ. Hai ngày sau đó, ông và bộ tham mưu đã tham dự một buổi lễ dành cho các binh sĩ và thủy thủ Pháp tử trận.

        Tất cả đơn vị Hoa Kỳ trong thời gian ở Ma- Rốc vẫn tập luyện ít ra một ngày trong tuần. Tất cả đều biết rằng cuộc chiến đấu sẽ gay go trong những ngày sắp tới. Có nhiều tin đồn rằng Tây Ban Nha sắp tấn công phía nam Ma- Rốc, tức phần lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha. Do đó, một đại đội Thiết giáp được gởi đến dàn cạnh biên giới Ma-Rốc thuộc Pháp và Tây Ban Nha, ở Souk el Arba.

        Vào ngày 4 tháng 1 năm 1943, Tổng Thống Roosevelt và Thủ Tướng Churchill đến Ma- Rốc đề dự hội nghị Casablanca. Cuộc họp mở ra tại biệt thự Maas, còn có sự tham dự của Thống Tướng Marshall, Tướng Patton, Tướng Keyes, Tướng Gay (vừa tân thăng), Tướng Harry Hopkins, Tướng De Gaulle và nhiều người khác. Trước khi đến Maas, Roosevelt, Hopkins, Patton và Mark Clark dùng сơm ngoài trời với binh sĩ Hoa Kỳ trú đóng phía bắc Rabat, nằm giữa quốc lộ Rabat - Lyautey. Suốt cuộc hội nghị Casablanca có một tai nạn xảy ra. Thủ Tướng Churchill sau khi dùng bữa với Tướng Patton ở biệt thự Maas và nói chuyện cho đến ba giờ sáng, bỗng nhiên quyết định trở về nơi cư trú của ông trong khách sạn Anta gần đó. Vì khoảng cách gần nên Churchill muốn đi một mình, khi ông tiến gần vòng rào kẽm gai bao quanh khách sạn, một lính canh Hoa Kỳ đã chĩa súng bắt ông dừng lại. Churchill cho biết ông là Thủ Tướng Auh, tên lính này không tin và gọi viên hạ sĩ trưởng canh : « Có một gã tự xưng là Thủ Tướng Anh quốc, tôi nghĩ hắn láo ! » Khi viên hạ sĩ đến, hắn nhận ra Churchill.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #35 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 11:24:12 pm »

         
        Churchill có vẻ khoái « tai nạn » này vô cùng, vì sau đó ông đã kể đi kể lại nhiều lần,

        Tiếp theo các cuộc đổ bộ thành công của Đồng minh ở Ma-Rốc, Oran và Algiers, Binh đoàn 1 Anh, Tư lịnh là Đại Tướng Kenneth Anderson lại thoái bỏ và rút ra khỏi Tunisia. Quân Đức tiến vào Tunisia sau cuộc đổ bộ của Đồng minh không lâu và viên tư lịnh lực lượng Pháp ở đây là Đại Tường Barré bắt đầu ra lịnh triệt thoái các đơn vị nghèo nàn trang bị và cơ động của ông về phía Tây.

        Các đơn vị của Bộ chỉ huy в Tiền phương thuộc Sư đoàn 2 Thiết giáp Hoa Kỳ được tăng phái cho quân Anh trước khi toàn thể sư đoàn tiến vào mặt trận. Các đơn vi tang phái này được dàn ra ở đông Dorsal, dọc theo biên giới Tunisia, dặt dưới quyền chỉ huy của người Anh hoặc Pháp cho đến tháng giêng năm 1945, khi Quân đoàn II Hoa Ky tiến vào đảm trách khu vực này. Nhưng trước khi việc này xảy ra, người Đức đã chuẩn bị để đập tan mối đe dọa nằm phía sau các lực lượng của Rommel đang rút vê phía Tây trước mũi dùi của Binh đoàn 8 Anh đang chĩa xuống các khu vực phía bắc Libya và Tripolitania gần Bịa Trung Hải.

        Sau khi quân Đức đã đập tan các cuộc phản công của quân Mỹ ở Lessouda và Sidibou-Sid, Rornmel lại vội vã tiến binh và bảo vệ an toàn cho Kasserine Pass và các trận xa chiến vang danh lịch sử đã xảy ra lại khu vực này

        Ngày 20 tháng 2 năm 1943, Rommel chọc thủng các thành phần Hoa Kỳ dàn dọc theo Kasserine Pass. Thiếu Tướng P. M. Robinett, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy в Tiền Phương của Sư đoàn 1 Thiết giáp được lịnh Trung Tướng Harmon tung quân chặn đứng Rommel. Một cuộc quần thảo chiến xa giữa Rommel và Robinett xảy ra vào ngày 21. Phần thắng nghiêng về phía Hoa Kỳ.

        Ngày 22. Rommel chỉnh đốn lại đội ngũ và tấn công nữa. Lần này Rommel bị đẩy lui thật xa các phòng tuyến Hoa Kỳ. Chiến thắng của Robinett đã làm xoay hẳn cán cân lực lượng giữa đôi bên, tuy nhiên chưa thể « thuyết phục » Rommel bỏ cuộc.

        Ngàv 23 tháng 3, Patton rời khỏi Casablanca sang Tunisia nắm quyền chỉ huy Quân đoàn II Thiết giáp Hoa Kỳ, trực thuộc Binh đoàn 8 Anh của Đại Tướng Alexander.

        Vào ngày 25 tháng 3, Tướng Alexander chỉ định Quân đoàn của Patton thực hiện nhiệm vụ đồng loạt : Thiết lập một phòng tuyến vững chắc dọc theo Abiod Sbiba và tung quân tiến về Gufsa Sbeitla ; Sư đoàn 9 và sư đoàn 34 được tăng phái cho Patton tiến dọc theo con đường Gufsa Gabes, nhằm khai thông con đường này đến phía bắc ngọn đồi 309 cho Sư đoàn 1 Thiết giáp di chuyển xuyên qua.

        Nếu chiếm giữ được ngọn đôi 369, Quân đoàn II sẽ kiểm soát trục lộ giữa Djebel- Chemsi và Djebel Berda. Khi trục lộ này được khai thông sẽ cho phép lực lượng Đồng minh tiến lên phía Bắc tiêu diệt các hệ thống liên lạc của địch quân.

        Tất cả nhiệm vụ giao phó đều hoàn thành, tuy nhiên Thiếu tá Jenson, một tùy viên của Patton, bị tử thương vào ngày 1 tháng 4 năm 1943 trong lúc trận đánh sắp tàn. Trong nhựt ký, Patton đã mô tả cái chết và lễ an táng viên sĩ quan này như sau :

        « Mười hai oanh tạc cơ Đức chúi xuống và dội bom ngay vào bộ chỉ huy mặt trận, tất cả mọi người đều nhảy vào hầm trú ẩn gần đó. Một quả bom rơi trúng vào góc hầm của Jenson, giết hắn tức khắc. Đôi mắt của hắn không nhìn thấy nữa vào lúc 10 giờ 12 phút. Tài giỏi, trung tín và can đảm, tôi tiếc thương sâu xa người thuộc cấp này...

        Ở đây chúng tôi có một trung đội chung sự, một đội kèn, nhưng không có hòm hoặc gỗ, Jenson nằm trên một cáng khiêng và được quàn luôn một vuông vải trắng vào đó. Đại úy Stiller, Trung úy Craig, Trung sĩ Meeks và Trung sĩ Meeks khiêng hắn đến nghĩa địa mới gần đó.

        Trong bức thư gởi cho mẹ của Jenson, tôi có gói theo một lọn tóc của hắn ».

        Vào ngày 13 tháng 4, ông viết thư cho phu nhân :

        « Chúng tôi chấm dứt các trận đánh ở đây vào ngày 7, và vào ngày 10 các chiến xa đầu tiên tiến qua con đường ở Paid mà không gặp sự chống đối nào.

        Trước khi rời khỏi Gafsa, tôi, Gay và Trung sĩ Meeks có đến nghĩa địa mới để từ biệt Jenson. Ở đây, sau các trận đánh, đã có hơn 700 ngôi mộ... »

        Giữa tháng 4, Patton rời khỏi Tunisia và được Tướng Bradley thay thế. Patton trở lại Rabat để tiếp tục nhiệm vụ cũ của ông, thực hiện cuộc đổ bộ và điều khiển mặt trận Sicily vào tháng 7 kế đó.

        Mặt trận Tunisia được kết thúc một cách tốt đẹp, những thành quả này do công của Tướng Bradley. Hầu hết lực lượng Phát-xít đều bị bắt giữ.

***

        Patton và những người tháp tùng theo ông trải qua ngày 15 và 16 tháng 4, ở Constantine, Tunisia. Sáng hôm san, tất cả leo lên chiếc C.47 tại một phi trường nhỏ gần thành phố để bay đến Rabat. Ngoài nhóm Patton, còn có Đại Tướng Spaalz, Tổng tư lịnh Không lực Hoa Kỳ. Vì có sự hiện diện của tướug Spaatz, viên phi công lính quýnh

        đến nỗi không thể nào làm cho phi cơ nổ máy được. Nhưng cuối cùng phi cơ cũng cất cánh và viên phi công hỏi xem Tướng Spaatz có cần dù hãy không. Tướng Spaatz đáp :

        «Cần lắm, tôi muốn có ngay bây giờ! » Viên phi công lập tức đem cho ông một câv dù và yêu cầu ông để hắn mang giúp. ông đáp :

        «Tôi có thể tự mang được ». Thế rồi ông đặt cây dù lên sàn phi cơ, gối đầu lên và ngủ khò. Trung sĩ Meeks nói rằng chuyến bay này rất « đắt giá » nếu phi cơ rơi. Nhưng chuyến bay tư Constantine đến Rabat êm thắm.

        Patton rời khỏi mặt trận Tunisia đúng ngày 17 tháng 4 năm 1943. ông viết :

        « Lúc 14 giờ, rời khỏi chiếc C.47, chiếc phi cơ trời đánh của Spaatz, và vào thành phố Rabat lúc 18 giờ. Keyes và Harkins gặp tôi, Tôi đã đi được 43 ngày, chỉ huy 95.800 người, đánh đâu thắng đó, mất khoảng 10 cân Anh nhưng bù lại bằng một Ngôi sao thứ ba

        Tunisia là một mặt trận để huấn luyện các vị tư lịnh Hoa Kỳ và Anh. Chính Rommel đã viết như sau :

        « Ở Tunisia người Mỹ đã trả một giá khá đắt nhưng họ đã thu thập được nhiều kinh nghiệm. Sau mặt trận này, các tướng

        lãnh Mỹ đã tỏ ra rất tiến bộ trong thuật cầm binh, mặc dù chúng ta phải chờ cho đến khi Binh đoàn của Patton đặt chân lên đất Pháp chúng ta mới thấy những thành quả đáng sửng sốt nhứt trong chiến pháp di động mà ông ta áp dụng. Người Mỹ, phải thành thật mà nói, đã thâu nhiều lãi hơn người Anh tại Phi Châu ».
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #36 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 11:26:12 pm »


MẶT TRẬN SICILY

         Vào ngày 26-4, Đại Tướng Patton di сhuyển Tổng hành dinh từ Rabat đến Mostagamen, một thành phố nằm bên duyên hải Algiers, cách phía đông Oran 30 dặm. Tổng hành dinh được thiết lập trong một căn cứ Pháp có tường bao bọc, chỉ có một cổng ra vào, canh gác rất dễ dàng.

        Nhưng Patton ở đây chỉ được một ngày thì Đại Tướng Alexander gọi giây nói lúc 10 giờ tối hôm đó, mời ông đến dự một phiên họp khẩn cấp bàn thảo kế hoạch « Husky », tức mật danh của cuộc hành quân đổ bộ lên Sicily, Cuộc họp gồm toàn các vị chỉ huy cao cấp, vào trưa ngày hôm sau ở St. Goerges, Algiers. Đại Tướng Alexander cho biết ông muốn Patton cùng họp vì có Montgomery.

        Trưa ngày 29 tháng 4, trong phòng họp có mặt các Tướng Alexander, Lecse, Patton, Đô đốс Siz Andrew в. Cunningham thuộc Hải quân hoàng gia Anh, chỉ huy « Husky » trên mặt biển ; Thống Chế Không quân Anh Tedder, Phó Đô Đốc Anh Betram Ramsey, chỉ huy lực lượng chuyển vận Binh đoàn 8 của Montgomery lên phía Đông Sicily ; hai Đại Tướng Không quân Anh Coninghum và Horace Ernest Philip Wiggesworth ; Trung Tướng Fredcrich Browning, chồng của nữ văn sĩ lừng danh người Anh Daphne du Maurier ; cố vấn không vận của Eisenhower Tướng Gardner, Tướng Arthur A. Richardson và Tướng Arihur S. Nevins.

        Có một số người mà Patton mong đợi đã không được mời, như là Đô đốc Hewitt ; Đại Tướng Không quân Spaalz, Tổng tư lịnh Không quân và Lục quân ở Địa Trung Hải, và nhứt là sự vắng mặt của Thống Tướng Eisenhower Tổng Tư Lịnh Lực Lượng Đồng Minh.

        Theo kế hoạch hành quân mệnh danh là « Husky », Binh đoàn 8 của Montgomery sẽ đổ bộ lên Mũi Đông Nam Sicily và đánh thẳng về phía Bắc, dọc theo bờ biển phía đông xuyên qua núi Etna và chiếm giữ Messina. Binh Đoàn 7 của Patton đổ bộ lên bờ biển phía đông nam Gela và Licata, và sau đó sẽ giữ nhiệm vụ bảo vệ cạnh sườn cho Binh đoàn 8.

        Theo ước lượng của tình báo Anh, quân Đức-Ý đồn trú trên đảo có khoảng chừng 200.000. Đức có 6 sư đoàn chiến thuật trải dọc bờ biển dài 500 cây số, và 4 sư đoàn dã chiến trừ bị nằm sâu trong hòn đảo. Các Sư đoàn phòng duyên thì kém hơn, trang bị nghèo nàn và khả năng tác chiến rất thấp. Các Sư đoàn dã chiến tốt hơn, nhưng trang bị thiếu hụt. Điều đáng quan tâm hơn hết là hai Sư đoàn Thiết giáp Đức chĩa mũi dùi ngay khu vực đổ bộ ở Gela, tức khu vực đổ bộ của Patton, Tuy nhiên, hai sư đoàn này không đủ cấp số chiến xa, nhưng ít ra mỗi sư đoàn có 85 chiếc.

        Không quân của Đức-Ý cũng đáng quan tâm, nhưng không hơn 800 chiếc.

        Các lực lượng trên quá lạc quan, thật sự thì các lực lượng ở Sicily hùng hậu hơn nhiều. Về phi cơ dù quân Đức chỉ có 350 chiến đấu cơ, trong số chỉ có 209 chiếc khả dụng, nhưng hai Sư đoàn 15 Thiết giáp xung kích trú đóng ở bờ biển phía Tây, và Sư đoàn Hermann Goering Thiết giáp ở bờ biển phía Đông rất dũng mãnh.

        Riêng Ý có hai Quân đoàn, một phòng thủ phía Tây Sicily, và một — bao gồm hai sư đoàn dã chiến — có lẽ phòng thủ ở phía Đông. Quân Ý chỉ có 50 chiến xa hạng nhẹ, nhưng Sư đoàn Hermann - Goering có 100 chiến xa hạng trung, nhiều chiến xa hạng nặng và 60 trọng pháo. Quân số phòng thủ trên đảo lên đến 390.000 người.

        Với tình trạng đó, trong phiên họp cuối cùng với Tướng Bradley, Tư lịnh Quân đoàn II, tham dự cuộc hành quân « Husky », Patton đồng ý rằng sứ mạng của ông chỉ hy vọng thành công 50 phần trăm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #37 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 11:33:29 pm »

         

Patton đang quan sát trận đánh của Quân đoàn II gần Eel Guettar.


Các Tướng Tư Lệnh Chiến Trường


Đây là cái « khác người » của ông hiền hiện ngay trên bộ quân phục. Từ trái sang phải, Tướng Eisenhowet, Bradley và Hodges


Tướng Ý và Tướng Keyes đang thảo luận
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #38 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 11:35:04 pm »

.
* * *

        Cuộc hành quân « Husky », với Binh đoàn 8 của Montgomery và 7 của Patton, phát động vào ngày 5 tháng 7 năm 1943.

        Lực lượng của Patton gồm có 80.000 binh sĩ của các Sư đoàn 1, 3 và 45 Bộ binh ; Sư đoàn 2 Thiết giáp (tư lịnh hiện thời là Tướng Gaffey) ; Sư đoàn 82 Dù của Trung Tướng Matthew B. Ridgwny, và các tiểu đoàn biệt kích của Trung tá William Orlando Darbv. Sư đoàn 9 Bộ binh được giữ làm thành phần trừ bị. Ngoài ra còn nhiều đơn vị hỗ trợ khác có bộ binh, công binh, các đại đội M. P (Quân cảnh) giải giao tù binh, và đại đội chung sự.

        Tất cả được lực lượng hải quân hùng hậu chuyển vận gồm ba phần mệnh danh là Joss, Dime và Cent. Joss chuyển vận Sư đoàn 3 tăng cường của Tướng Truscott đến Licata, Dime mang Sư đoàn 1 của Tướng Allen đến Gela và 3 điểm ở phía Nam; Cent chuyển Sư đoàn 45 của Trung Tướng Troy H. Middeton đổ bộ lên 5 điểm ở phía Bắc và Nam Scoglitti.

        Dime đưa Patton đến Gela, và kiểm soát Sư đoàn 82 Dù trên phương diện chiến lược. Lực lượng của ông sẽ đối đầu với Lữ đoàn Phòng duyên. Sư đoàn Hermann Goering cách phía bắc Gela khoáng từ 15 đến 20 dặm ; Sư đoàn Livorno, đóng trên các ngọn đồi phía Đông Bắc, vị trí gần Scoglitti nhứt, khoảng 25 dặm.

        Vào giờ D, đúng 2 giờ 45 phút ngày 10 tháng 7 năm 1943. Đoàn tàu vượt đại dương.

        Từ soái hạm Monravia, Patton có thể nhìn thấy binh sĩ của ông đặt chân lên bờ biển Sicily. Không gặp một sự đề kháng nào đáng kể. Khi quân Mỹ tiến sâu vào đất liền, nhiều cuộc đụng độ xảy ra nhưng không ngăn được bước tiến của họ. Gela bị chiếm giữ lúc 8 giờ tối. Quân Ý đầu hàng hoặc tháo chạy qua vùng đồng bằng dọc theo bờ biển hướng đến dãy đồi trước mặt. Cuộc đổ bộ hình như đã hoàn tất.

        Nhưng tình thế tồi tệ rồi sẽ đến có tính cách quyết định cuộc đổ bộ này.

        Tướng Ý, Guzzoni đang ngồi trong Tổng hành dinh của ông tại Enna — một cựu chiến binh già 66 tuổi của Mussolini — đưa ra phản ứng cấp kỳ. Ông ra lịnh cho chiến xa Đức và Ý trú đóng ở Niscemi và Caltagirone phản công, nhằm đánh bật quân Mỹ ra khỏi đầu cầu Gela trước khi bình minh đến.

        Lúc 6 giờ 35 Ngày D+l (tức ngày 11 tháng 7) oanh tạc cơ Ý xuất trận, tấn công Gela.

        Cùng lúc 6 giờ 40 sáng, các chiến xa hạng trung của Đức chọc thủng tuyến phòng thủ của

        Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 26 Bộ binh.

        Cuộc phản công thiết giáp Đức mà Patton lo sợ đã bắt đầu. Quá nửa đêm ngày 11 tháng 7, Sư đoàn Hermann Goering, chia làm hai phần, thọc mũi dùi từ Caltagirone xuống quốc lộ Dela trong nỗ lực đẩy bật Sư đoàn 1 của Patton ra biển. Các chiến xa Đức nương theo con đường từ Niscemi tấn công Tiểu đoàn 3 bên phải. Lực lượng Đức có đến 60 chiến xa, trong khi Tiểu đoàn 3 chỉ có 2 chiếc và pháo binh của Sư đoàn vẫn còn kẹt ở tận bờ bèn kia nên không thể can thiệp kịp thời

        Vào lúc 10 giờ 30 sáng, Đại tá Bowen, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, gọi vô tuyến cho biết Bộ chỉ huy của ông đã rút lui và một phần của Tiểu đoàn đang đối diện với các chiến xa Đức. Bấy giờ pháo binh của Sư đoàn 1 đã dàn trên các đụn cát. Thiếu Tướng Clift Andrus, Chỉ huy pháo binh Sư đoàn, đích thân chạy từ khẩu nầy đến khẩu khác để sắp хếр và bắt đầu khai hỏa ở tầm 5.000 thước.

        Lúc đó, hai Trung đoàn khác của Sư đoàn cũng bị áp lực nặng. Gần trưa, 40 chiến xa thuộc thành phần còn lại của Sư đoàn Hermann Goering phá vỡ phòng tuyến của Trung đoàn 18 Bộ binh và Đại tá James Taylor báo cho biết Trung đoàn 16 Bộ binh của ông « đang bị các chiến xa tràn ngập ». Chiến xa địch hầu như đã chọc thủng ra tận bờ biển.

        Ở Gala, Patton ra lịnh cho tất cả trọng pháo của Hải quân can thiệp. Hỏa lực pháo binh sư đoàn cũng gia tăng cường độ. Chiến xa địch bị đẩy bật trở lại.

        Patton rời Bộ chỉ huy của Trung tá Darby, chỉ huy trưởng lực lượng Biệt kích, đến một tiền đồn quan sát nằm phía sau mặt trận khoảng 900 thước để theo dõi các chiến xa Đức thối lui qua vùng đồng bằng rộng 8 cây số.

        Lúc 11 giờ 50, Patton quay lại Bộ chỉ huy của Darby, ngay khi ông quay bước, hai phi cơ Anh bắt đầu oanh tạc thị trấn Gala.

        Giữa trưa, 10 chiến xa của Sư đoàn 3 tiến đến Licata và Bộ chỉ huy в Tiền phương gởi thêm 2 chiếc nữa. Patton ra lịnh cho Tướng Gaffey đóng kín khoảng trống giữa Gela và Sư đoàn 1.

        Sáu giờ chiều ngày hôm đó, trận chiến xảy ra đúng 9 tiếng đồng hồ. Lực lượng Hoa Kỳ làm chủ tình hình và bắt đầu tiến quân như vũ bão.

        Trong khi đó vào lúc 9 giờ sáng Ngày D, một lực lượng đổ bộ của Montgomery, Sư đoàn 5, tức khắc chiếm hải cảng Syracuse còn nguyên vẹn rồi tiến theo xa lộ chánh. Hải quân tiến vào Hải cảng Augusta trước khi bộ binh đặt chân vào thành phố. Hiện thời Montgomery có một hải cảng để nhận tiếp tế trong khi Patton chưa có được nơi nào. Tiếp tế của Patton đều tùy thuộc vào các bờ biển.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 25400


« Trả lời #39 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 11:36:16 pm »


        Tuy nhiên, khi Montgomery ra lịnh cho

        Sư đoàn 5 của ông tiến chiếm Enna, thành phố quân sự của Sicily ; một đơn vị tiền phương của Sư đoàn nay khi tiến đến thì nhận thấy mục tiêu của họ đã bị Sư đoàn 1 dưới quyền Patton bôn tập từ Gela đến chiếm giữ.

        Nhịp độ tiến quân trên con đường dọc theo bờ biển Messina của Montgomery trì lệ, vì ông bị chặn đứng ở phía tây dãy núi Etna. Montgomery tìm một con đường khác; quốc lộ 117, nhưng vẫn không đi được, vì Sư đoàn 45 của Trung Tướng Troy H. Middleton, dưới quyền Patton, đã làm chủ con đường này, và đang ào ạt tiến quân.

        Mongomery yêu cầu Tướng Alexander Tổng tư linh Đại đoàn 15, chỉ huy tổng quát cuộc đổ bộ, ra lịnh cho lực lượng Hoa Kỳ nhường đường. Ngày 14 tháng 7, ngày D+4, từ Tổng hành dinh ở Gela, Patton nhận được chỉ thị của Alexander.

        « Từ khi phát động cuộc đổ bộ », Patton viết « chúng tôi đã tiến quân xa hơn kế hoạch 7 ngày... tịch thâu được một số quân trang quân dụng và bắt giữ được một số tù binh khổng lồ. Với Montgomery, tôi tin rằng, tính đến ngày hôm qua, ông ta không bắt giữ qua 5.000 tù binh ».

        Sau khi nhận được chỉ thị ông nói với Tướng Bradley, Tư lịnh Quân đoàn II :

        « Brad, tôi vừa nhận được chỉ thị của Đại đoàn cho biết Monty muốn nương theo con đường Vizzini-CaPagirone để đến Catania và miền núi Etna bằng cách xuyên qua Enna. Điều này có nghĩa là Sư đoàn 45 phải né về phía Tây ».

        Bradley phẫn nộ, ông phản đối dữ dội. Lúc ấy Sư đoàn 45 đã tiến được 1 cây số trên con đường chính dẫn đến Enna, bây giờ Sư đoàn 1 Gia Nã Đại dưới quyền Montgomery thay vào, có nghĩa là toàn thể sư đoàn của ông bị đẩy lui về phía sau, tức trở về tuyến xuất phát. Như vậy, bước tiến của Quân đoàn ll phải trì hoãn nhiều ngày.

        Bradley phản đổi :

        « Địch quân đang tháo chạy một cách hỗn loạn. Tôi không muốn hắn phỗng tay trên chúng ta ».

        Patton ôn tồn nói :

        « Rất tiếc, Brad. Nhưng mà anh nên né giùm ngay đi. Monty chỉ muốn đi trên con đường, ngay trước mặt hắn mà thôi ».

        Dĩ nhiên, lúc đó Patton cũng nổi nóng, nhưng ông không nói ra. Bởi lẽ nêu nhường con đường này thì phải tiến quân ở hướng phía Tây.

        Hai ngày kế đó, quân Anh của Montgomery chỉ chọc thủng được phòng tuyến Etna. Vào trưa ngày 16 tháng 7, Alexander chỉ thị cho Patton « có thể tấn công Argirento », mục tiêu mà ông không được phép tiến đến trước đó. Nhưng khi nhận được lịnh của Alexander thì:

        Porto Empeđocle, một ngôi làng đánh cá nằm bên ngoài thành phố Agrigento — một mục tiêu trước đây cũng bị cấm chỉ tấn công — đã nằm trong tay của Truscott, Tư lịnh Sư đoàn 3, thuộc Binh đoàn 7 của Patton. Vào ngày hôm sáu Alrigento cũng lọt vào tay Truscott sau một cuộc đụng độ ngắn.

        Palton yêu cầu Tướng Alexander thay đổi toàn thể kế hoạch của mặt trận, ông không thể dậm chân tại chỗ để chờ đợi « con rùa » Monty nữa. Patton nói :

        « Thưa Đại Tướng, tôi yêu cầu Ngài hãy thả lõng tay cho tôi hành động bằng cách thay đổi các linh lạc đã ban ra. Binh đoàn 7 của tôi sẽ tiến nhanh về phía Đông Bắc và phía Bắc để quét sạch và chiếm giữ Palermo ». Trong nhựt ký, Patton viết :

        « Nếu người Anh để chúng tôi xử dụng con đường 117 và để chúng tôi tự ý đánh chiếm Cultagirone và Enna trước đó, thay vìphải chờ đợi họ, chúng tôi sẽ tiết kiệm được hai ngày và bây giờ đã đặt chân đến bờ biển phía Bắc. Alexander khinh thường sức mạnh và nhịp độ tiễn quân của các đơn vị Hoa Kỳ. Họ (người Anh) đã tấn công Catania với cả một sư đoàn vào ngày hôm qua và chỉ tiến được có 400 thước ».

        Nắm được chỉ thị « đồng ý » của Alexander vào sáng ngày 18 tháng 7, Patton không bỏ phí thì giờ, ông ra lịnh ngay cho Truscott :

        « Tôi muốn anh phải có mặt ở Palermo trong vòng 5 ngày ». Đó là một lịnh điếng người. Thành phố này cách xaTruscott 100 dặm, và Sư đoàn 3 của ông phải lội bộ suốt lộ trình tiến quân.

        Cuộc tiến quân đến Palermo khởi sự vào ngày 19 tháng 7, với Sư đoàn 3 của Trusott, Sư đoàn 82 Dù của Ridgvvay, Sư đoàn 2 Thiết giáp của Gaffey, tất cả đều đặt dưới quyền chỉ huy tổng quát của Tướng Keyes. Trong khi đó, Quân đoàn 2 của Bradley di chuyển thẳng qua trung tâm hòn đảo và nếu cần sẽ tấn công Palermo từ phía Đông, hoặc xoay về phía Đông tiến đánh Messina, nếu có thể.

        Patton chuyển ngay Tổng hành dinh của ông đến Agrigento và chờ đợi Keves chiếm Palermo vào ngày 24 như kỳ hạn mà ông đã đưa ra. Nhưng thành phố này mới đến ngày 22 đã lọt vào tay Keyes. Patton có mặt lập tức.

        Vào ngày 24, Patton quay về và mở một cuộc họp báo bỏ túi ở Agrigento. Ông nói :

        « Thưa quí vị, chúng tôi đã tiễn được 200 dặm nữa. Chúng tôi, tiến quân đến nơi quân Đức chưa kịp đào hố cá nhân. Tính đến nay Binh đoàn 7 đã bắt giữ được 44.000 tù binh» gây thương vong cho 6000 địch quân, 190 phi cơ của họ bị bắn rơi và 67 trọng pháo bị ta tịch thau ».
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM