Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Một, 2020, 03:34:20 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Bạc Liêu 30 năm kháng chiến (1945 - 1975)  (Đọc 1210 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:43:16 AM »

Trong khi chưa kịp tổ chức lại Đảng bộ thống nhất, các nhóm đảng viên trong tỉnh chủ động liên lạc với các Xứ ủy tích cực phát triển các tổ chức quần chúng. Các hội cứu quốc, Mặt trận Việt Minh được bí mật tổ chức ở một số nơi, đặc biệt là ta lợi dụng các tổ chức công khai để phát triển mạnh mẽ và rộng rãi như “Thanh niên Tiền Phong”(1) ở thành Bạc Liêu và nông thôn. Đồng thời ta xây dựng được chi bộ Đảng và quần chúng giác ngộ trong cơ lính “thủ hộ”(2). Đối với tổ chức thanh niên tiền phong ta tranh thủ được Nguyễn Văn Năm (Tú tài Năm) là thủ lĩnh, ông sẵn sàng lãnh đạo lực lượng thanh niên Tiền phong đứng về phía cách mạng. “Chi bộ đặc biệt” trong cơ lính thủ hộ tranh thủ giác ngộ được ông Đinh Công Thưởng (Quản Thưởng) được cử ra làm chỉ huy trưởng lực lượng cộng hòa vệ binh và ta tổ chức hội binh lính cứu quốc trong cơ lính thủ hộ, anh em binh lính rất hăng hái, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà “Tổ chức” giao cho. Gần đến ngày cướp chính quyền, chi bộ kết nạp thêm 2 đồng chí: Hứa Bá Lộc và Lâm Ngọc Em, như vậy lúc này chi bộ trong cơ lính thủ hộ đã có 5 đảng viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị quốc dân ở Tân Trào phát lệnh tổng khởi nghĩa. Hồ Chí Minh kêu gọi “Toàn quốc, đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.

Cùng ngày, Nhật đầu hàng Đồng minh. Tình thế vô cùng cấp bách và thuận lợi cho ta cướp chính quyền. Tỉnh ủy lâm thời Bạc Liêu kịp thời chỉ đạo, lãnh đạo các lực lượng và quần chúng nhân dân áp đảo địch, giành chính quyền. Ngày 17 tháng 8 năm 1945 Tỉnh ủy lâm thời đứng ra thành lập Mặt trận Việt Minh tỉnh, do đồng chí Lê Khắc Xương làm chủ nhiệm, ông Cao Triều Phát(3) làm phó chủ nhiệm và một số ủy viên Mặt trận.

Tỉnh ủy chủ trương đưa một “bộ phận công khai” ra trực diện với địch với danh nghĩa là đại diện cho Mặt trận Việt Minh do đồng chí Tào Văn Tỵ chịu trách nhiệm chung. Bộ phận công khai nhiều lần đến gặp trực tiếp tỉnh trưởng Trương Công Thiện, buộc y ra lệnh cho bọn lính không được gỡ truyền đơn. biểu ngữ của quần chúng nhân dân không được lệnh cho thanh niên Tiền phong làm bất cứ việc gi sai trái với chủ trương của Mặt trận Việt Minh và buộc tỉnh trưởng phải giao lại ngôi nhà của tên pháp Carrere cho ta để làm trụ sở Mặt trận Việt Minh.

Đến ngày 19 tháng 8 năm 1945, bọn ngụy quân, ngụy quyền tại Bạc Liêu lung lay tận gốc, nhiều công chức bỏ nhiệm sở, một số tìm đến thanh minh với cách mạng.

Ngày 20 tháng 8 năm 1945, trong không khí cách mạng sôi sục, ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chuyển cuộc biếu tình đón tên khâm sai bù nhìn Nguyễn Văn Sâm thành cuộc mít tinh tuần hành thị uy rộng lớn trên 3.000 người từ nông thôn kéo vào hòa nhập cùng các tầng lớp nhân dân trong nội thành Bạc Liêu, chào mừng Mặt trận Việt Minh, đả đảo chính quyền bù nhìn. Tối 20 tháng 8 năm 1945, Một trận Việt Minh họp liên tịch thành lập chính quyền cách mạng lấy tên “Ủy ban giải phóng dân tộc tỉnh Bạc Liêu”, gồm 8 người: bác sĩ Nguyễn Tú Vinh, chủ tịch; luật sư Trương Tấn Phát, phó chú tịch; Phan Vân Phi. Tổng thư ký; Tào Văn Tỵ, (ủy viên thường vụ tỉnh ủy), ủy viên trưởng quân sự; Nguyễn Khắc Cung (tỉnh ủy viên), ủy viên trưởng an ninh; Nguyễn Vân Quảng (tỉnh ủy viên), ủy viên giao thông liên lạc - bưu điện; Nguyên Văn Sáu (tỉnh ủy viên), ủy viên xã hội - giáo dục; nhân sĩ Phan Kim Cân ủy viên tài chính - ngân khố.

Để chuẩn bị lực lượng tham gia cướp chính quyền, ngoài vận động các tầng lớp nhân dân, các nhân sĩ trí thức, các tôn giáo, Tỉnh ủy lâm thời còn phân công đồng chí Nguyễn Văn Quảng (Tình ủy viên) vào đơn vị cộng hòa vệ binh chỉ đạo “chi bộ đặc biệt” tổ chức vận động anh em binh lính ủng hộ cách mạng và sẵn sàng tham gia cướp chính quyền.

Ngày 22 và sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945, ủy ban Mặt trận Việt Minh và Ủy ban giải phóng dân tộc tỉnh cử đoàn đại biểu đến gặp tỉnh trưởng Trương Công Thiện buộc y phải giao chính quyền cho cách mạng, Thiện quanh co trì hoãn, còn lo sợ quân Nhật trở lại. Ta huy động tất cả binh lính cộng hòa vệ binh trong cơ lính thủ hộ và quần chúng nhân dân đến vây kín dinh tỉnh trưởng.

Trước sự đấu tranh kiên quyết và khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân, tỉnh trưởng Trương Công Thiện buộc phải đầu hàng. Y công bố trước đông đảo quần chúng nhân dân, từ giờ phút này chính quyền tỉnh Bạc Liêu thuộc về cách mạng, thuộc về nhân dân. Lúc này là 9 giờ 30 phút ngày 23 tháng 8 năm 1945. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Bạc Liêu kết thúc bằng cuộc mít tinh tuần hành to lớn với rừng cờ đỏ sao vàng, chào mừng ủy ban giải phóng dân tộc. Tối ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ủy ban hành chính cách mạng lâm thời tỉnh Bạc Liêu thành lập (trên cơ sở Ủy ban giải phóng dân tộc). Tiếp theo tỉnh lỵ, ta khởi nghĩa giành chính quyền ở toàn bộ các quận, xã trong tỉnh. Ngày 23 tháng 8 năm 1945 cũng trở thành ngáy truyền thống của lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau.

Khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi nhanh chóng và không đổ máu ở Bạc Liêu nói lên sự lãnh đạo kịp thời nhạy bén của Đảng, ý chí cách mạng, sức mạnh quật cường của quần chúng nhân dân trong tỉnh. Mặc dù thời gian tổ chức chuẩn bị gấp, nhân dân Bạc Liêu dưới sự lãnh đạo của đảng bộ đã kịp thời, nhất tề vừng lên, phối hợp với cả nước giành thắng lợi trọn vẹn và sớm nhất 80 với các tỉnh và thành phố Nam Bộ.

Cách mạng tháng Tám thành công là sự đổi đời của nhân dân, từ người dân nô lệ đã đứng lên làm chủ vân mệnh của mình. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ vua quan phong kiến cả ngàn năm trên đất nước ta, chấm dứt nỗi khổ nhục mất nước của dân tộc Việt Nam. Từ đây lịch sử dân tộc, cũng như của Đảng bộ, quân dân tỉnh Bạc Liêu chuyển sang trang mới với thời kỳ đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, đồng thời buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến trưởng kỳ suốt 30 năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ” chấn động địa cầu và kết thúc bằng chiến dịch “Hồ Chí Minh” lịch sử, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.


(1) Tổ chức bán vũ trang rộng rãi của Nhật.
(2) Cơ lính thủ hộ của Pháp, sau Nhật đổi tên là Cộng hòa vệ binh.
(3) Đứng đầu 12 phái Cao đài Hậu Giang.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:16:51 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:46:40 AM »

Chương một

ĐẢNG BỘ VÀ QUÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
TIẾN HÀNH CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945 - 1954)

I. DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ, QUÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU DŨNG CẢM CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 -1946)

Cuộc khởi nghĩa ngày 23 tháng 8 năm 1945, nhân dân Bạc Liêu đã cùng cả nước đập tan bộ máy thống trị của thực dân phong kiến, giành lại chính quyền từ tay phát xít Nhật. Việt Nam đã trở thành một nước độc lập tự do, từ một dân tộc bị nô lệ đứng lên ngang hàng với các dân tộc trên thế giới. Hòa với niềm vui, tự hào của nhân dân cả nước đón chào ngày độc lập, trong những ngày đầu giành chính quyền, Đảng bộ và quân dân tỉnh Bạc Liêu cũng đương đầu với những khó khăn chồng chất. Tuy là một tỉnh giàu lúa gạo, nhưng đại bộ phân nhân dân lúc bấy giờ thiếu ăn, bệnh tật nhiều nhưng thiếu thuốc chữa trị, hầu hết nhân dân phải mặc quần bô, áo bố. Các tệ nạn cờ bạc đĩ điếm, trộm cắp, nghiện thuốc phiện, tệ mê tín dị đoan lan tràn từ tỉnh lỵ đến vùng thôn quê.

Tử ngày 25 đến 26 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ, chính quyền cách mạng từ quận đến làng được thành lập. Ủy ban hành chính cách mạng lâm thời tỉnh Bạc Liêu ra mắt trước 2 vạn đồng bào. Đồng chí Lê Khắc Xương, Bí thư Tỉnh ủy - Chủ nhiệm Mật trận Việt Minh tuyên bố từ nay xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, thành lập chính thể dân chủ cộng hòa, quyền tự do dân chủ thuộc về nhân dân, mà nhân dân lao động là trên hết. Đồng chí kêu gọi nhân dân trong tỉnh đoàn kết xung quanh chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh, ra sức bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tiếng hoan hô nhiệt liệt của toàn thể đồng bào nối lên vang dội trước lời tuyên bố mới mẻ chưa bao giờ có trong lịch sử.

Ổng Nguyễn Tú Vinh, đại biểu trí thức, Chủ tịch ủy ban hành chính cách mạng lâm thời thay mặt chính quyền bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với nhân dân, với Đảng Cộng sản Đông Dương, hứa hẹn đem hết tinh thần và nghị lực làm trong nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho. Lần lượt đại biểu thanh niền tiền phong, các đoàn thể cứu quốc, các tầng lớp nhân dân nói lên niềm tự hào là một người dân được sống trong độc lập, tự do, tin tưởng sắt đá vào sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, quyết tâm đoàn kết cùng nhau giữ vững độc lập, dù phải chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình - Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân đồng bào và cả thế giới nhà nước “Việt Nam dân chủ cộng hòa” ra dời.

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 6 nhiệm vụ cấp bách đó là: chống giặc đói, chống giặc dốt, tuyển tổng cử, xây dựng nếp sống mới, xóa bỏ 3 loại thuế (thuế thân, thuế chợ, thuế dò). Tự do tin ngưỡng. Sau đó Người khái quát thành ba nhiệm vụ lớn: diệt giặc đói. diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sắc lệnh của Chính phủ, nhân dân Bạc Liêu đã cùng nhân dân cả nước tiến công trên ba mặt trận: diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm. Đồng thời hường ứng “Quỹ Độc lập” và “Tuần lễ Vàng” để dùng vào việc khẩn cấp, nhất là cho quốc phòng. Nhiều đồng bào trong tỉnh đem cả vàng vòng, nhẫn cưới hiến cho cách mạng (số vàng do đồng bào ủng hộ trên 80 kg), được sự chỉ đạo của Xứ ủy đồng chí Lê Khắc Xương, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Bạc Liêu xuất một số vàng cho hai đồng chí Dương Quang Đông và Phan Thái Hòa (Ba Nhâm) đi sang Xiêm(1) mua vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang tỉnh và khu.

Tỉnh Đảng bộ đặc biệt coi trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Từ những ngày đầu vận động cách mạng, trong khởi nghĩa Nam Kỳ đã chú ý xây dựng lực lượng vũ trang như: đội du kích Tân Hưng Tây - Rạch Gốc, Tân Ân... sau khi giành chính quyền trong các nhiệm vụ cấp bách nhằm củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng và xây dựng đời sống nhân dân. Đảng bộ xem việc xây dựng lực lượng vũ trang hết sức bức thiết.


(1) Thái Lan ngày nay.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:41:05 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:47:36 AM »

Đơn vị lực lượng vũ trang đầu tiên được thành lập trên cơ sở đơn vị lính “Gạc-xi-vin” của Pháp, sau đổi tên là đơn vị “cộng hòa vệ binh”, có chi bộ Đảng do đồng chí Trang Văn Tỷ làm bí thư, được bổ sung lựa chọn từ đoàn viên thanh niên cứu quốc, thanh niên tiền phong ở các lảng Vĩnh Lợi, Vĩnh Trạch, Long Thạnh, Hòa Bình, Vĩnh Mỹ. Trong một thời gian ngắn, đơn vị vũ trang được củng cố bổ sung, thành một đại đội lấy tên thống nhất trong toàn xứ là “Cộng hòa vệ binh”. Đại đội lúc này có 100 quân do ông Đinh Công Thưởng làm đại đội trưởng, đồng chí Trang Văn Tỷ làm chính trị viên, đồng chí Nguyễn Huân, anh Huỳnh Tấn Trực làm đại đội phó. Hàng trăm nam nữ thanh niên, học sinh tham gia các lớp y tá, cứu thương, sẵn sàng tình nguyện tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu khi có chiến tranh.

Đơn vị quốc gia, tự vệ cuộc (an ninh tỉnh) cũng được thành lập. Đồng thời lực lượng du kích, tự vệ chiến đấu xây dựng phát triển rộng rãi đến quận, làng. Phong trào luyện tập quân sự được đông đảo quần chúng thanh niên tham gia hưởng ứng nhiệt tình, chỉ với tầm vông, giáo mác đã góp phần giữ gìn an ninh trật tự trên đường phố, trong xóm ấp. Trang bị của các đơn vị lực lượng vũ trang lúc bấy giờ gồm súng lấy của Pháp, mua của Nhật, tịch thu của hội tề, địa chủ, và nhiều loại vũ khí thô sơ. Trong khi đó, từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh, đã lần lượt chiếm giữ nhiều bót cảnh sát và nổ phát súng đầu tiên đánh chiếm Sài Gòn. Các nơi quân Pháp chiếm đóng, lực lượng vũ trang và nhân dân chống trả quyết liệt, bao vây quân Pháp trong nội thành.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Nam Bộ kháng chiến bùng nổ, Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ra lời kêu gọi “Pháp đã xâm lược nước ta một lần nữa, Độc lập hay là chết. Tất cả đồng bào già, trẻ, gái, trai hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược”.

Ngày 24 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho đồng bào Nam Bộ nhắc lại lời một nhà đại cách mạng Pháp “thà chết tự do, còn hơn sống nô lệ”. Nhân dân trong tỉnh trước tiếng kêu sơn hà nguy biến, hết sức căm thù bọn thực dân Pháp trở lại cướp nước ta, thề quyết đứng lên để cứu nước, cứu mình.

Tình ủy Bạc Liêu họp ra nghị quyết chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến: Đồng chí Tào Văn Tỵ, ủy viên quân sự tỉnh, được giao nhiệm vụ làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến; tăng cường xây dựng các đơn vị lực lượng vũ trang, sản xuất vũ khí... đồng thời đồng chí Tào Văn Tỵ cấp tốc điều động một trung đội cộng hòa vệ binh, trang bị đầy đủ do đồng chí Nguyễn Văn Năm (Tú tài Năm) và Trương Văn Sáu chỉ huy khấn trương lên đường chi viện cho Mặt trận Tân An. Một trung đội cộng hòa vệ binh khác cũng được lệnh lên đường chi viện cho Mặt trận biên giới Hà Tiên. Đồng thời một trung đội thanh niên xung phong của tỉnh cũng được tăng cường cho mặt trận Bình Thủy (Cần Thơ). Đai đội cộng hòa vệ binh tỉnh gấp rút tổ chức xây dựng thêm 2 trung đội mới, lực lượng cảm tử quân được thành lập do anh Nguyễn Cử Trọng và Tạ Kim chỉ huy.

Công tác tuyên truyền vận động nhân dân tham gia kháng chiến được đẩy mạnh tử thành thị đến nông thôn. Nhiều cuộc mít tính, hội họp được tổ chức. Mọi người dân sục sôi lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược. Các bài hát: “Tiếng gọi thanh niên”, “xếp bút nghiên lên đàng chiến đấu”, “Hội nghị Diên Hồng”, “dòng sông hát”, “Chi Lăng”, “Bạch Đằng giang”... thúc giục thanh niên lên đường cứu nước.

Để có thêm vũ khí trang bị cho dân quân tự vệ, ngoài số vũ khí thu được của Pháp, Nhật, Ủy ban kháng chiến tỉnh động viên nhà sư chùa Long Phước Tự (chùa Cô Bảy) tọa lạc tại phường 5 thị xã Bạc Liêu ngày nay cho sử dụng chùa làm nơi đúc lựu đạn. rơ-sạc lại đạn cũ, sửa súng hư. Xưởng còn sử dụng ga-ra của ông Năm Bửu và nhà anh Tạ Kim làm phi tiêu, mã tấu, dao găm. Xưởng do đồng chí Long Báo (Hai Khe) chỉ đạo, sau đó xưởng được dời xuống đình Cây Giang - Long Điền. Đồng thời công binh xưởng còn được thành lập ở Cái Tàu, Biện Nhị. Các lò rèn ở các địa phương đều biến thành công binh xưởng sản xuất vũ khí thô sơ, các ban tiếp tế, ấp, làng, quận được thành lập. Nhân dân tích cực đóng góp nhiều của cái vát chất để ủng hộ kháng chiến, đảm bảo đầy đù lương thực, thực phẩm, nuôi bộ đội.

Trong tháng 10 và tháng 11 năm 1945, theo sự chỉ đạo của Xứ ủy, Bạc Liêu hợp nhất hai tỉnh ủy Bạc Liêu - Cà Mau và hợp nhất ban nhóm “Tiền phong”. “Độc lập”. “Giải phóng”. Đảng bộ bầu Ban chấp hành mới gồm 15 đồng chí. Đồng chí Lê Khắc Xương và sau đỏ đồng chí Phan Thúc Rịch làm bí thư. Tỉnh ủy chủ trương: “phải nắm chắc ba công cụ sắc bén là chính quyền, cơ quan an ninh (quốc gia tự vệ cuộc) và lực lượng vũ trang”. Cuối tháng 10 năm 1945, đồng chí Lê Khắc Xương kiêm nhiệm chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh, thay ông Nguyễn Tú Vinh; đồng chí Tào Văn Tỵ làm ủy viên quân sự trong Ủy ban hành chính, trực tiếp nắm lực lượng vũ trang; đồng chí Nguyễn Khắc Cung phụ trách lực lượng quốc gia tự vệ cuộc. Cuối tháng 10 năm 1945 Mặt trận Sài Gòn - Tân An diễn ra hết sức ác liệt, các đơn vị lực lượng vũ trang trong đó có trung đội cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu chiến đấu dũng cảm gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại, nhưng do lực lượng ít, vũ khí trang bị kém nên ta không đủ sức ngăn chặn các mũi tấn công của địch xuống miền Tây.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:48:06 AM »

Ngày 27 tháng 10 năm 1945, quân Pháp đánh chiếm Mỹ Tho. Ngày 29 tháng 10 năm 1945, Pháp đánh chiếm tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 30 tháng 10 năm 1945, Pháp đưa quân bằng đường sông tiến đánh Cần Thơ. Trung đội thanh niên xung phong tỉnh Bạc Liêu phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Cồn Thơ dũng cảm chiến đấu, diệt nhiều địch. Qua nhiều ngày chiến đấu ác liệt hai bên bờ rạch Bình Thủy, do quân địch hơn ta gấp nhiều lần, 13 chiến sĩ thanh niên xung phong Bạc Liêu dũng cảm chiến đấu và anh dũng hy sinh. Đồng bào Bình Thủy thương tiếc những chiến sĩ Bạc Liêu đặt tên đơn vị này là đơn vị “Bình Thắng”, các chiến sĩ được mai táng tại nghĩa trang Bình Thủy (sau ngày miền Nam hoàn toàn giai phóng, tỉnh Cần Thơ dựng bia tưởng niệm 13 chiến sĩ “Bình Thắng” tai Bình Thủy).

Trung đội cộng hòa vệ binh chi viện cho mặt trận Hà Tiên sau khi tham gia nhiều trận đánh ở biên giới có lệnh lui về Rạch Giá phối hợp với các đơn vị Rạch Giá tham gia đánh địch ở Rạch Sỏi, đồng chí Lựu chiến sĩ quê ở Hòa Bình hy sinh tại Rạch Sỏi. Đơn vị này sau này còn tham gia chiến đấu ở Tầm Vu.

Ngày 9 tháng 1 năm 1946, quân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Sóc Trăng. Ủy ban kháng chiến tỉnh Bạc Liêu, trực tiếp là ủy viên quân sự Tào Văn Tỵ điều đơn vi lực lượng vũ trang lên phối hợp với Sóc Trăng mở mặt trận Nhu Gia để ngăn bước tiến của địch xuống Bạc Liêu. Ông Đinh Công Thưởng và kỹ sư Nhâm dùng thuốc nổ phá sập một phần cầu Nhu Gia. Đêm 10 tháng 1 năm 1946, quân Pháp dùng thuyền vượt sông Nhu Gia, chờ quân địch ra đến giữa sông ta bất ngờ nổ súng bắn chìm tất cả thuyền chở quân Pháp, tiêu diệt 17 tên địch. Sáng hôm sau lực lượng ta tổ chức bắn tỉa quân địch bên bờ bắc diệt 5 tên nữa. Đêm 11 rạng 12 tháng 1 năm 1946 ta bí mật vượt sông tập kích dữ dội vào quân Pháp diệt thêm 20 tên, lực lượng ta có 2 chiến sĩ bị thương nhẹ. Sáng ngày 12 tháng 1, quân Pháp cả bộ binh và cơ giới buộc phải rút quân về Sóc Trăng.

Trong lúc quân địch ồ ạt tiến đánh hầu hết các tỉnh Nam Bộ, Tỉnh ủy Bạc Liêu lại nhận được chủ trương tổ chức bầu cử quốc hội. Lấn đầu tiên người dân Bạc Liêu cùng nhân dân cả nước tự do, binh đẳng chọn lựa những đại biểu xứng đáng bầu vào Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, có trên 95% số cử tri nô nức đi bỏ phiếu. Đồng chí Ngô Thị Huệ, tỉnh ủy viên, đại diện Mặt trận Việt Minh, cụ Cao Triều Phát đại diện Cao đài Hậu Giang; ông Nguyễn Văn Đính đại diện trí thức đắc cử đại biểu quốc hội lần đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Tiến công bằng đường bộ thất bại, ngày 29 tháng 1 năm 1946, quân Pháp dùng tàu thủy hành quân theo sông Cổ Cò - Vàm Lẻo tiến chiếm thành Bạc Liêu. Đơn vị cộng hòa vệ binh, cảm tử quân và hàng trăm dân quân tự vệ các làng Hưng Hội, Vĩnh Trạch, Vĩnh Lợi tổ chức trận địa phục kích ngăn chặn địch. Ta căng dây cáp ngang sông chặn tàu và ken các bè chứa đầy xăng. Theo kế hoạch khi tàu giặc Pháp đến, ta dùng khẩu đại liên 20mm bắn vào tàu giặc và bắn vào các bè xăng làm bốc cháy trên mặt sông, đốt tàu giặc. Song ở trận địa phục kích tại Vàm Lẻo có nội gián phá hoại. Đại liên bắn không nổ, bè xăng không cháy, tàu giặc phá dây cản, tiến chiếm tỉnh lỵ Bạc Liêu, cùng lúc chúng đưa quân đánh chiếm quận Vĩnh Châu.

Đồng chí Tào Văn Tỵ, Ủy viên quân sự tỉnh trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu bảo vệ tịnh lỵ Bạc Liêu, điều đội cảm tử quân mai phục tại cầu sắt Cả Phượng. Khi bọn địch tiến vào thành Bạc Liêu, đội cảm tử được trang bị lựu đạn và một số súng trường do đồng chí Hai Ngó chỉ huy từ trên lầu cao ném lựu đạn và bắn tỉa vào đội hình địch tiêu diệt hàng chục tên. Nhưng do chưa quen đánh trong thành phố, chỉ biết tiến mà không chuẩn bị đường rút lui, lựu đạn ta nhiều trái không nổ. Sau gần nửa ngày ta và địch giằng co, quân Pháp bao vây bắt sống 13 đồng chí ta. Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1946, chúng đem 13 chiến sĩ cảm tử ra bắn tại Cầu Quay (cầu Kim Sơn ngày nay).

Cả ngày và trong đêm 30 tháng 1 năm 1946, một bộ phận cộng hòa vệ binh do đồng chí Trang Văn Tỷ, Nguyễn Huấn chỉ huy, phối hợp với đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Cần Thơ đánh địch ở ngoại ô diệt 20 tên Pháp, thu một số vũ khí, phá hủy nhiều công sự chiến đấu của địch. Đồng chí Tào Văn Tỵ và Nguyễn Khắc Cung tổ chức cho lực lượng tự vệ làng Long Thạnh phá cầu Sập. Đồng chí Nguyễn Vân Uông, ủy viên quân sự quận Giá Rai huy động nhân dân các làng Phong Thạnh, Long Điền, Vĩnh Mỹ, Hòa Bình vừa phá lộ, vừa đốn hạ cây, cột dây thép và làm nhiều chướng ngại vật trên mặt đường. Một số bè rơm và ghe chài chứa đầy đất được nhận chìm xuống kinh xáng đoạn cầu số 2 nhằm ngăn chặn cuộc tiến quân bằng đường sông của Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:48:44 AM »

Đồng bào trên tuyến lộ Đông Dương và ven quốc lộ 4 nhân dân thực hiện khẩu hiệu “vườn không nhà trống”, một bộ phận tản cư ra các áp ven biển thuộc làng Vĩnh Mỹ, Long Điền, một bộ phận tán cư về hướng Vĩnh Hưng, Phước Long, Phong Thạnh Tây.

Cùng thời điểm trên, lực lượng vệ quốc đoàn của Khu 8, Khu 9 và các tỉnh ủy, ủy ban hành chính, ủy ban kháng chiến cùng lực lượng cộng hòa vệ binh các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng đều lui về Ngang Dừa, ngã tư Vĩnh Phú, Cạnh Đền, Đầu Sấu.

Sáng ngày 30 tháng 1 năm 1946 (29 tết âm lịch Ất Dậu), Pháp dùng tàu chuyển quân theo sông kinh xáng Bạc Liêu - Cà Mau xuống đánh chiếm quận lỵ Giá Rai. Đến cầu Sập, chúng bị lực lượng tự vệ làng Long Thạnh, Hòa Bình, chặn đánh bằng súng lửa và vũ khí thô sơ. Do tương quan lực lượng và vũ khí trang bị quá chênh lệch, lực lượng tự vệ ta rút lui sau một hồi chiến đấu. Khi tàu địch đến cầu số 2, lọt vào trận địa của ta, khẩu đại liên ta nổ được vài loạt rồi kẹt đạn, ta lại rút lui.

Một cánh quân khác do tên địa chủ Pháp E-vơ-ra chỉ huy tiến bằng đường bộ đánh chiếm thị tứ Hòa Bình và tiến xuống Giá Rai, đến ấp Bình Lãng tự vệ làng Hòa Bình nổ súng chiến đấu rất ác liệt, gây cho địch nhiều tổn thất, nhưng nhiều đồng chí ta hy sinh, trong đó có toàn bộ ban chỉ huy gồm các anh Tạ Văn Hồ, Phùng Lai Hòa, Mã Hoài Sơn. Tại Láng Tròn, đơn vị cộng hòa vệ binh quận Vĩnh Lợi phối hợp với cộng hòa vệ binh quận Thạnh Trị - Sóc Trăng chặn đánh gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng cũng không ngăn chặn địch tiến chiếm quận Giá Rai.

Ngay trong đêm 31 tháng 1 năm 1946, lực lượng cộng hỏa vệ binh tỉnh Sa Đéc do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy phối hợp với trung đội cộng hòa vệ binh quận Giá Rai do đồng chí Trần Khương Kiện làm trung đội trưởng tập kích vào đội hình quân Pháp vừa đóng chiếm ở Giá Rai. Ta tiêu hao một bộ phận quân địch, nhưng đồng chí Trần Khương Kiện hy sinh (năm 1952 ta lấy tên của đồng chí Trần Khương Kiện đặt tên cho một xã của huyện Giá Rai).

Quân địch tạm dừng ở Giá Rai vì cả đường sông và đường bộ xuống Cà Mau chúng vấp phải nhiều chướng ngại vật không đi được. Đúng lúc này đồng chí Nguyễn Văn Sa, đại biểu đi dự Đại hội thanh niên toàn quốc, được đặc trách chở vũ khí của Trung ương tăng cường cho Quân khu 9, qua nhiều chặng đường, được các đồng chí Nguyễn Chánh (Quân khu 5), Dương Bạch Mai, Nguyễn Bình (Quân khu 7, Đỗ Phát Quang (Bến Tre) giúp đỡ tổ chức vận chuyển số vũ khí về đến Khu 9, Bạc Liêu, lực lượng vũ trang quận Cà Mau được tăng cường một số súng đạn và lựu đạn.

Ngày 2 tháng 2 năm 1946 (tức ngày mùng một Tết), quân địch dùng tàu sắt từ kinh xáng Hộ Phòng theo sòng Gành Hào đánh chiếm quận lỵ Cà Mau. Đồng chí Phạm Ngọc Cử, phụ trách quân sự Cà Mau trực tiếp chỉ huy trung đội cộng hòa vệ binh, bố trí chặn đánh địch từ ngoài vào quận lỵ gây cho địch nhiều thương vong. Khi địch vào được thị trấn, ta lợi dụng sông rạch địa hình phức tạp liên tục vây đánh địch trong quận lỵ.

Địch đánh chiếm quận lỵ Giá Rai. Cà Mau và đánh lên Vĩnh Thuận, Ba Đình đã tác động đến tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, một số cán bộ cấp tỉnh hoang mang dao động. Tỉnh ủy và ủy ban hành chính tuy có kế hoạch chống địch tái chiếm, tiêu thổ kháng chiến và sơ tán rút lui về xây dựng căn cứ, nhưng kế hoạch chưa nêu cụ thể và chưa dự kiến hết tình huống. Do đó khi địch tấn công ồ ạt, mỗi cơ quan cấp tỉnh và đơn vi lực lượng vũ trang đều lui về mỗi nơi không thống nhất, từ đó các cơ quan đầu não tỉnh mất liên lạc với nhau, tỉnh không liên lạc được với quận và ngược lại. Riêng Ủy ban kháng chiến do đồng chí Tào Văn Tỵ chỉ huy cùng một số lực lượng cộng hòa vệ binh tỉnh lui về Phước Long theo cụ Vũ Đức(1). Đến trung tuần tháng 2 năm 1946, toàn tỉnh “đứt hệ thống” tình hình nảy vô cùng phức tạp, bọn Việt gian phản động nhiều nơi ngóc đầu dậy tản sát đồng bào để trả thù, một bộ phận cán bộ chạy ra đầu hàng giặc, nạn trộm cắp nổi lên khắp nơi.

Ngày 2 tháng 2 năm 1946, một số đồng chí Xứ ủy: Ung Văn Khiêm, Phạm Hùng và Võ Sỹ triệu tập cuộc họp bất thường tại rạch Bà Đặng - Thời Bình, có cả chỉ huy, lãnh đạo Khu 8. Khu 9 và các tỉnh đến dự, nội dung là việc phải tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến như thế nào trước tình hình địch và ta hiện giờ.


(1) Nơi có tổng hành dinh của Khu bộ Khu 9.
« Sửa lần cuối: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:40:40 PM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 06:49:50 AM »

Hội nghị đều nhất trí là phải xin Trung ương chi viện gấp, nhưng về phương cách tiến hành cuộc kháng chiến thì có hai loại ý kiến khác nhau.

Ý kiến thứ nhất: chủ trương phân tán lực lượng võ trang, dựa vào dân, bám vào cơ sở cách mạng ở các tỉnh, xây dựng vùng U Minh làm căn cứ, áp dụng chiến thuật du kích, bí mật luồn sâu về vùng tam chiếm khôi phục phong trào kháng chiến.

Ý kiến thứ hai: nên đưa đại bộ phận lực lượng vũ trang Khu 8 và Khu 9 lên miền Đông cùng Khu 7 đánh giặc. Như thế sẽ có điều kiện nhận sự chi viện của Trung ương nhanh hơn. Khi lực lương vũ trang ba khu lớn mạnh sẽ từ Khu 7 kéo xuống phối hợp với phong trào chiến tranh du kích, đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên. Chủ trương này còn được gọi là “xuyên Đông”. Loại ý kiến này được các đồng chí Xứ ủy và một số đồng chí dự hội nghị đồng ý, riêng đồng chí Vũ Đức - Khu bộ trưởng Khu 9 và một số cán bộ dân, quân, chính, đảng phản đối quyết liệt chủ trương này.

Hội nghị tranh luận rất căng thẳng, kéo dài đến nửa đêm. Đa số người dự hội nghị thiên về ý kiến thứ hai. Đồng chí Đào Văn Trường (Khu trưởng Khu 8) và đồng chí Vũ Đức (Khu trưởng Khu 9) được giao nhiệm vụ chỉ huy lực lượng “xuyên Đông”.

Đơn vị do đồng chí Đào Văn Trường, Khu bộ trưởng Khu 8 chỉ huy thực hiện chủ trương “xuyên Đông”, vượt được sông Hậu đến Bến Tre, bị địch tấn công thương vong một số phải dùng ghe biển chạy ra cực Nam Trung Bộ,

Lực lượng vũ trang Quân khu 9, một vài tiểu đội đến bờ sông Hậu (quận Kế Sách) bi địch ngăn chặn không qua sông được. Đồng chí Vũ Đức, Khu bộ trưởng Khu 9 ra lệnh triệu hồi không “xuyên Đông” nữa. Đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu do ông Đinh Công Thưởng chỉ huy được lệnh sang Phước Long. Các đồng chí Tào Văn Tỵ, Trang Vân Tỷ và ông Đinh Công Thưởng ở tại tổng hành dinh cụ Vũ Đức. Một bộ phận đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu do đồng chí Nguyễn Huân và đồng chí Hứa Bá Lộc chỉ huy đóng tại làng Vĩnh Hưng.

Cùng thời điểm này, mặt trận Tân Hưng đã được hình thành, chủ yếu là lực lượng cộng hòa vệ binh quận Cà Mau do đồng chí Mai Văn Khoa và Vương Tấn Phát chỉ huy.

Trung tuần tháng 2 năm 1946, Bộ chỉ huy Chiến khu 9 họp hội nghị mở rộng ở Ngan Dừa - Phước Long, có đại biểu các tỉnh thuộc khu đến dự. Hội nghị quyết định tổ chức ra ba phản khu (còn gọi là 3 mặt trận).

Tổ chức và nhiệm vụ của 3 phân khu như sau:

1 - Phân khu Ngan Dừa - Phước Long, đồng chỉ Phạm Ngọc Hưng chỉ huy đóng tại ngã tư Vĩnh Phú. Lực lượng gồm có bộ đội Nam tiến: cộng hòa vệ binh các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu. Tại đây còn gọi là tổng hành dinh của đồng chí Vũ Đức, Khu bộ trưởng và Chính trị bộ chủ nhiệm Phan Trọng Tuệ.

2 - Phân khu Cái Tàu - An Biên là căn cứ địa lâu dài và bảo vệ công binh xưởng, do Khu bộ phó Nguyễn Ngọc Bích, Trần Văn Nghĩa (Gia Long) và Võ Quang Anh phụ trách, lực lượng gồm cộng hòa vệ binh các tỉnh Hà Tiên, Long Xuyên, Châu Đốc và Rạch Giá.

3 - Phân khu Tân Hưng - Cà Mau, chủ yếu lả lực lượng cộng hòa vệ binh quận Cà Mau và lực lượng tự vệ các làng chung quanh thị trấn Cà Mau, tổ chức lập mặt trận ngăn chặn địch. Đến giữa tháng 3 năm 1946, khu tăng cường thêm lực lượng Nam tiến và đồng chí Tăng Thiên Kim về chỉ huy mặt trận này.

Đồng thời tại hội nghị này, Bộ chỉ huy Khu quyết định thành lập lực lượng sát gian đoàn, thực chất là đội vũ trang tuyên truyền trừ gian diệt ác, đi gây dựng lại cơ sở trong vùng bị tạm chiếm và đô thị.

Trong tháng 6 năm 1946, đồng chí Tào Văn Tỵ, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Bạc Liêu được điều lên khu đi công cán theo chi thị của Khu bộ trưởng Vũ Đức.

Giữa lúc Đảng bộ và quân dân Nam bộ, Chiến khu 9 và tỉnh Bạc Liêu gặp muôn vàn khố khăn thì Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 ký kết, đã tạo ra một sức mạnh và khí thế mới về chính trị, tinh thần cho cuộc chiến ở Nam Bộ nói chung, Đảng bộ và quân dân Bạc Liêu nói riêng. Nhiều đoàn biểu tình của quần chúng ở các làng Hòa Bình, Vĩnh Mỹ, Long Điền, thị trấn Cà Mau kéo tới các đồn bót gặp những tên đồn trưởng Pháp đòi chúng thi hành hiệp định, đòi thừa nhận quyền hợp pháp của Việt Minh trong khu vực chúng chiếm đóng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:18:49 PM »

Ngày 15 tháng 3 năm 1946, Tỉnh ủy Bạc Liêu triệu tập hội nghị tại ấp Bà Bèo - làng Tân Hưng. Hội nghị kiểm điểm, đánh giá tình hình địch, ta và nhận định tình hình sắp tới. Hội nghị quyết định phân công cán bộ đảng viên trở lại các địa bàn bám đất, bám dân, khôi phục lại phong trào trong vùng địch tạm chiếm, diệt tề trừ gian, chống giặc càn quét, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, đồng thời hội nghị bầu đồng chí Trần Văn Đại làm Bí thư Tỉnh ủy (thay cho người tiền nhiệm trước đó bỏ cơ sở chạy qua Xiêm).

Nhưng thực dàn Pháp không thi hành hiệp định, chúng ngoan cố phá hoại cuộc đàm phán giữa đồng chí Huỳnh Phan Hộ, Nguyễn Văn Châu tại Ngan Dừa - Phước Long (16-3-1946) với tên chỉ huy Pháp trên tàu để yêu cầu phía Pháp thi hành hiệp định.

Sáng ngày 17 tháng 3 năm 1946, quân Pháp bắt đầu tấn công mạnh vào mặt trận Phước Long - Ngan Dừa. Lực lượng ta dựa vào công sự chặn đánh địch quyết liệt suốt 2 ngày 3 đêm tại ngã tư Vĩnh Phú. Ta và địch mỗi bên giữ một bờ kinh xáng, cuộc chiến giằng co không bên nào xung phong được. Lực lượng ta vì thiếu đạn được không thể chiến đấu lâu dài được, lần lượt tổ chức rút lui về Tân Lộc, Tân Lợi, Khánh Bình, Cái Rắn. Sau khi mặt trận Phước Long bị tan vỡ, một số đơn vị lực lượng vũ trang của khu, của tỉnh được tăng cường về phối hợp với mặt trận Tân Hưng - Cà Mau.

Đến cuối tháng 3 năm 1946, ta huy động trên 1.000 người dân với lực lượng tự vệ, du kích làm nòng cốt và hàng trăm xuồng ghe chở cây hàng cản Tắc Thủ. Kinh nghiệm hàng cản, đắp đập để ngăn chặn tàu địch ở Tác Thù và cả mặt trận Tân Hưng sau này được phổ biến ra cả miền Tây để phòng giữ các căn cứ kháng chiến.

Trong khi quân Pháp đánh xuống phía nam và đang bị mặt trận Tân Hưng ngăn chặn ở phía đông bắc Cà Mau. Theo lời kêu gọi của cụ Cao Triều Phát, hơn 2.000 tín đồ phái Cao đài Hậu Giang tập trung về thánh thất Giồng Bốm, hàng ngày đào công sự, luyện tập võ nghệ lập căn cứ để chống Pháp và bảo vệ đạo.

Ngày 6 tháng 4 năm 1946 (nhằm ngày mùng 5 tháng 3 năm Bính Tuất), Pháp cho 1 trung đội tấn công vào Giồng Bốm, nhằm để thăm dò thái độ phản ứng và khả năng kháng cự của lực lượng phái Cao đài Hậu Giang. Lực lượng võ trang tự vệ của đạo(1) chặn đánh địch từ xa, buộc chúng rút lui. Ngày 12 tháng 4 năm 1946, Pháp lại mở đợt tấn công quy mô lớn hơn. Chúng cho 3 máy bay bắn phá ác liệt, gây cho lực lượng đạo một số thương vong (11 người tử trận, hàng chục người khác bị thương). Sáng ngày 15 tháng 4 năm 1946, Pháp đưa 2 tiểu đoàn quân viễn chinh chia làm ba mũi tấn công vào Giồng Bốm. Chúng ném bom, pháo kích dữ dội vào tòa thánh, lực lượng “thanh niên đạo đức đoàn” với gươm, kiếm, dao găm đánh giáp lá cà với địch. Do tương quan lực lượng không cân sức, cụ Cao Triều Phát ra lệnh mở đường máu rút lui bảo toàn lực lượng. Trưa cùng ngày quân Pháp chiếm thánh thất Giồng Bốm. Trận địa Giồng Bốm thất thủ, toàn bộ nhà cửa và thánh thất bi đốt, trên 100 chức sắc và thanh niên đạo đức đoàn tử trận. Trận Giồng Bốm là trận đánh lớn nhất của tín đố cao dài Hậu Giang trong kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ.

Trước đó, vào đầu tháng 4 năm 1946, quân Pháp nhiều lần đánh vào mặt trận Tân Hưng. Lực lượng của ta tại mặt trận Tân Hưng lúc này gồm cộng hoa vệ binh quận Cà Mau và các làng lân cận, được tăng cường thêm đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh Bạc Liêu do Nguyễn Huân, Trang Văn Tỷ, Hứa Bá Lộc chỉ huy cùng với bộ phận cộng hòa vệ binh của các tỉnh Vĩnh Long, Sóc Trăng và đơn vị Nam tiến của khu. Mặt trận bố trí với chính diện từ sông Ông Đốc (Voi Vàm) qua Rạch Rập, lộ xe đến Gành Hào, chiều sâu từ sát thị trấn Cà Mau tới đình Tân Hưng đồn Cái Rắn và bố trí thành nhiều tuyến mà tuyến chính là đình Tân Hưng. Đồng thời ta vận động quần chúng nhân dân tham gia quyên góp ủng hộ, xung phong làm cản trên sông, đắp mô trên lộ và tải thương; điển hình có nữ đồng chí Trần Thị Minh Khai (Hai The), quận ủy viên Cà Mau vận động hàng trăm chị em phụ nữ đi tiếp tế nuôi quân.

Với tinh thần kiên quyết chiến đấu giữ vững mặt trận, mặc dù với vũ khí thô sơ, nhưng lực lượng võ trang ta biết dựa vào địa hình kinh rạch phức tạp, được quần chúng nhân dân ủng hộ, giúp đỡ đã đánh bại nhiều đợt tấn công của địch có cả máy bay và tàu sắt diệt nhiều tên.


(1) Còn có tên gọi là “Thanh niên đạo đức đoàn”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:19:20 PM »

Ngày 2 tháng 5 năm 1946, giặc Pháp mở cuộc đợt tiến công vào mặt trận Tân Hưng. Hướng chính diện quân Pháp đưa bộ binh cò xe cơ giới yểm trợ tiến theo hướng lộ xe Cà Mau - Năm Căn. Hướng vu hồi phía tây, chúng cho tàu chiến tiến ra Tắc Thủ và theo sông Ông Đốc hòng đánh tạt sang hướng trái và vu hồi phía sau ngăn chặn quân ta rút về U Minh. Một bộ phận tàu chiến khác có chở cả bộ binh tiến về phía Đông theo sông Gành Hào - kinh xáng Đội Cường, nhằm đánh vòng bên sườn phải không để quân ta rút về rừng đước Năm Căn.

Quân ta chặn đánh quyết liệt, chặn đứng nhiều đợt tiến công của quân địch trên hướng chính diện, nhưng không chặn được hai hướng vu hồi đường sông. Trong trận đánh trên kinh xáng Đội Cường, các đồng chí Tô Bình Đẳng, Huỳnh Ngọc Điệp, Nguyễn Văn Thanh, Trung Can cải tiến thủy lôi Nhật để đánh tàu địch. Khi tàu địch đến, thủy lôi nổ nhưng không trúng mục tiêu, các cỡ súng trên tàu địch bắn mãnh liệt vào đội hình của quân ta, đồng chí Trung Can anh dũng hy sinh.

Mặt trận Tân Hưng tuy bị tan vỡ, nhưng đã hoàn thành nhiệm vụ, ngăn chặn địch trong suốt ba tháng, đù thời gian cho Xứ ủy, Khu ủy, Tỉnh ủy xây dựng các vùng căn cứ ở Cái Tàu - U Minh và vùng rừng đước Năm Căn. Mặt trận Tân Hưng còn nói lên sức mạnh của chiến tranh nhân dân theo đường lối lãnh đạo của Đảng, là một sự kiện nổi bật trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp và từ đây đã rút ra một số bài học về hình thức tác chiến, phân tán lực lượng, tiến hành chiến tranh du kích, đánh địch mọi lúc, mọi nơi, không còn dàn mặt trận và tổ chức các phân khu như trước, địch dễ tập trung lực lượng tiêu diệt mặt trận ta.

Sau khi phá vỡ Mặt trận Tân Hưng, quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng vào nông thôn sâu ở Bạc Liêu, Cà Mau. Sự kiện trên cùng gây nên tâm lý bi quan, thiếu tin tưởng của một bộ phận cán bộ và quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, kể từ đây ta chấm dứt lối đánh bằng cách dàn một trận có tính chất phòng ngự và vận dụng rộng rãi chiến tranh du kích khi tiến công địch trong mọi lúc, mọi nơi, trên cả ba vùng, bằng cả ba mũi giáp công.

Cơ quan Khu ủy và Khu bộ Khu 9 rút về Đầm Dơi, một bộ phận chuyển về làng Khánh An, Khánh Lâm, cơ quan Tỉnh ủy chuyển về Tân Thuận. Có một số ít cấp ủy viên hoang mang, dao động trước tình hình khó khăn. Các đơn vị lực lượng vũ trang của tỉnh, quận bị tiêu hao, tình hình chiến đấu sa sút sau khi mặt trận Tân Hưng tan vỡ và rút về Đầm Dơi, Cái Tàu. Lực lượng vũ trang các tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Sóc Trăng đều rút về địa bàn tỉnh nhà.

Trong tháng 5 và đầu tháng 6 năm 1946, các đơn vị vũ trang nhỏ đều phân tán, còn đơn vị cộng hòa vệ binh tỉnh theo chỉ đạo của trên, trước tình hình khó khăn, đơn vị cho anh em về giấu súng ở khâu Cây Bông xã Long Điền Tây - Đông Hải ngày nay) và phân tán vào dân. Một số về thăm gia đình sau một tháng tập hợp trở lại. Lẻ tẻ có một vài đơn vị vũ trang mất phương hướng có những hành động cướp bóc của nhà giàu và thậm chi xung dột lẫn nhau đã phải xử lý. Chính quyền đoàn thể cấp xã hầu như không còn hoạt động. Một số người tích cực chỉ hoạt động lẻ theo hướng dẫn của tổ chức Đảng. Lúc này các đồng chí đảng viên cũ, các đồng chí từ Côn Đảo và các nhà tù khác trở về sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và một số cán bộ đầy nhiệt huyết cách mạng gánh vác vai trò có ý nghĩa quyết định để củng cố gây dựng lại phong trào.

Ngày 29 tháng 5 năm 1946, Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên-Việt ra đời. Hội có nhiệm vụ mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Hội Liên-Việt tỉnh Bạc Liêu do ông Dương Thuần Chương làm hội trưởng. Hội tập hợp nhiều nhân sĩ, trí thức, tín đồ các tôn giáo như: Phật giáo, Tịnh độ sư sĩ, Cao đài, Thiên chúa giáo, Tin lành vào hội. Mặt trận đoàn kết dân tộc ở Bạc Liêu càng được mở rộng, nhiều nhà trí thức, chức sác, tôn giáo không làm việc cho Pháp, đưa cả gia đình vào “bưng biền”, vào chiến khu tham gia kháng chiến.

Cuối tháng 5 năm 1946, đồng chí Tào Văn Tỵ đi công cán theo lệnh Khu bộ trưởng Vũ Đức, khi về nước cùng đồng chí Nguyễn Văn Sa được Tỉnh ủy phân công xây dựng lực lượng dân quân du kích tỉnh, đồng thời chuẩn bị bốn bãi tại cửa Rạch Gốc và cửa Bồ Đề để nhận vũ khí mua từ bên Xiêm (Thái Lan) đưa về để trang bị thêm cho các đơn vị vũ trang tỉnh và khu.

Cũng vào cuối tháng 5 năm 1946, theo sự chỉ đạo, các huyện ủy và một bộ phận lực lượng vũ trang trở lại địa phương, bám cơ sở hoạt động. Nhiệm vụ trọng tâm lúc này diệt tề ngụy ác ôn (gọi là phá tề), thành lập các đội diệt tề và cài cắm người vào các ban hội tề nhằm vô hiệu hóa hoạt động của chúng
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:20:05 PM »

Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời và đúng đắn của Khu ủy và Tỉnh ủy, sự vững vàng và tích cực nỗ lực của một số cán bộ, đảng viên trung kiên, phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân đã vượt qua cơn thử thách hiểm nghèo. Phong trào kháng chiến tạm lắng một thời gian nhưng sớm được tổ chức lại và dần dần hồi phục phát triển.

Đầu tháng 6 năm 1946, vào lúc 8 giờ sáng một đội vũ trang có súng phun lửa do hai đồng chí Trần On và Nguyễn Thanh Hiền chỉ huy hóa trang chặn tàu đò Năm Căn - Cà Mau tại ngã ba sông Xóm Ruộng (Đầm Dơi) diệt hai tên Pháp, thu 2 khẩu súng và 60 viên đạn, đồng thời viết thư báo cho quân Pháp ở Cà Mau biết bộ đội cụ Vũ Đức trừng trị quân xâm lược. Ngày hôm sau, được đồng bào báo tin có hai tên lính ngụy theo xuồng tam bản của dân đi Cà Mau, cũng tại vàm Xóm Ruộng; đồng chí Trần On bắn chết một tên, bị thương một tên thu 2 súng trường Nhật và 60 viên đạn.

Ngày 20 tháng 6 năm 1946, quân Pháp cướp 360 xuồng của dân, chở lính Pháp và lính Khơ-me tiến đánh vào căn cứ Cái Tàu (rừng U Minh). Bộ đội Trần Hồng Sơn, Trần Tứ Phương, Chủ tịch Dậu tổ chức phục kích hai bên bờ sông vàm Tắc Thủ đi Cái Tàu bắn chim 200 xuồng, diệt 80 tên, thu nhiều súng đạn. Liên tiếp trong ngày 23 tháng 6 năm 1946, quân Pháp mở trận càn vào Tân Lộc, lực lượng vũ trang quận Cà Mau diệt 13 tên, thu 6 súng. Bọn Pháp tình nghi Ban hội tề làng có quan hệ với Việt Minh, có quan hệ với tề ở làng Tân Lộc.

Trên địa bàn hai quận Vĩnh Lợi, Giá Rai, “Ban tối trời” của ta liên tục hoạt động diệt nhiều tên tề gian ác. Bọn tề do Pháp mới dựng lên hoảng sợ rút về Bạc Liêu.

Tháng 7 năm 1946, tờ báo “Tiếng súng kháng địch” của lực lượng vũ trang Quân khu 9 do đồng chí Nguyễn Xuân Hoàng trực tiếp phụ trách biên tập, ấn loát tại Đầm Dơi ra số đầu tiên đã báo hiệu một thời ki mới của cuộc kháng chiến ở Bạc Liêu và cả miền Tây Nam Bộ.

Cũng trong tháng 7 năm 1946, các chiến sĩ đại đội cộng hòa vệ binh tỉnh được lệnh về Gò Cát - Long Điền lấy súng tập hợp theo đơn vị. Bộ đội khu và tỉnh tổ chức thành vệ quốc đoàn. Ở khu, đồng chí Huỳnh Phan Hộ thay đồng chí Vũ Đức làm khu bộ trưởng, ở Bạc Liêu thành lập Ban Tham mưu tỉnh chỉ huy lực lượng Vệ quốc đoàn do đồng chí Tào Văn Tỵ, Ủy viên quân sự, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh chỉ huy chung; ông Đinh Công Thưởng, Tham mưu trường; đồng chí Hồ Hùng, Nguyễn Văn Sa làm tham mưu phó. Bộ đội tỉnh được tập hợp lại, một bộ phận được phân công bảo vệ cơ quan đầu não của tỉnh đóng ở Tân Hòa - Đầm Dơi; bộ phận lớn tập trung xây dựng, huấn luyện, kết hợp với địa phương diệt tề, trừ gian. Trong xây dựng đơn vị Vệ quốc đoàn đặc biệt coi trọng xây dựng kỷ luật quan hệ đoàn kết quân dân và phối hợp tốt với các địa phương diệt tề trừ gian. Phương châm đánh địch lúc bấy giờ là “chắc thắng, lấy súng địch trang bị cho ta”. Ngày đầu củng cố lại đơn vị vệ quốc đoàn có một trung đội do đồng chí Nguyễn Huân làm trung đội trưởng, đồng chí Tạ An Khương có trình độ văn hóa khá được bầu làm chính trị viên thay cho đồng chí Trang Văn Tỷ bị địch bắt.

Cùng thời gian này theo sự chỉ đạo của tỉnh ủy, đã có hàng trăm cán bộ đảng viên trong tỉnh trở về địa phương hoạt động, nối lại hệ thống từ tỉnh đến các quận, làng; kiện toàn, củng cố thành lập ủy ban hành chính các quận, đặc biệt ủy ban hành chính các cấp đều có ủy viên quân sự. Ở Vĩnh Lợi, ông Lâm Minh Thanh làm ủy viên quân sự; quận Giá Rai, ông Trần Vĩnh Ninh làm ủy viên quân sự. Ở quận Vĩnh Châu do tình hình phức tạp, tổ chức đảng và cán bộ đảng viên quá mỏng không bám được địa bàn. Nội thành Bạc Liêu trắng cơ sở, trắng đảng viên nên đến ngày 25 tháng 12 năm 1946 mới thành lập được ủy ban hành chính. Trong khi đó quàn Pháp thường xuyên đóng trên tỉnh lỵ Bạc Liêu hơn 2000 tên. Chúng tăng cường lùng sục, càn quét ra các vùng ven nội ô. Chúng xây dựng bộ máy cảnh sát gồm những tên ác ôn khét tiếng như: Mo-rết-ti, Xếp Huế, cò Mi Túc, cai Thâu. Bọn này hằng ngày bắn giết đồng bào không gớm tay. Trong một trận càn vào ấp Giồng Me, chúng bắt được 12 người dân đang nhổ mạ đem về bắn tại cầu Cái Tràm.

Sau Hội nghị Tỉnh ủy mở rộng ở Tân Hòa (8-1946), đai đội dân quân tỉnh và đại đội công an xung phong được tăng cường lên các quận Giá Hai, Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Bạc Liêu nhằm hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích vùng địch hậu; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ ưu tú trong các đơn vị lực lượng vũ trang tăng cường về các làng Vĩnh Châu. Ban quân sự tỉnh cử đồng chí Cao Kiến Thiết, Ủy viên đặc biệt của Ban quân sự tỉnh về xây dựng cơ sở ở làng Vĩnh Lợi; đồng chí Tần Xuân Định, cán bộ phòng Tham mưu thuộc Ban quân sự tỉnh được chỉ định làm Chủ tịch Ủy ban hành chính làng Lai Hòa. Các đồng chí Nguyễn Thị Nga, Trần Thị Bướm, Huỳnh Nghi Đoàn được bố trí hoạt động hợp pháp xây dựng cơ sở địch trong nội thành Bạc Liêu và thị trấn Cà Mau.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9194


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 03:22:03 PM »

Do ta nắm được quy luật hoạt động của bọn địch ở đồn Lai Hòa, đồng chí Giang Bol, đại đội phó dân quân tỉnh hóa trang đóng giả sĩ quan Pháp cùng tiểu đội mặc sắc phục lính Pháp đột nhập vào chợ Xẻo Me, lên xe đò chạy thẳng vào Lai Hòa. Bọn lính trong đồ Lai Hòa không hay biết gì, khi xe dừng lại trước cửa đồn lực lượng ta bất ngờ xông vào đồn nổ súng diệt gọn quân địch trong đồn, thu toàn bộ vũ khí.

Ngày 29 tháng 8 năm 1946, để kỷ niệm ngày Quốc khánh 2 tháng 9, vào lúc 3 giờ khuya, trung đội Vệ quốc đoàn do đồng chí Phạm Hồng Thám chỉ huy đã kết hợp với nội ứng tập kích đồn Tân Bằng tiêu diệt cả một trung đội địch, trong đó có 12 tên Pháp thu toàn bộ vũ khí. Với chiến thắng này ta đã giải phóng tuyến sông Trẹm, căn cứ U Minh Thượng - U Minh Hạ được nối liền. Sau trận diệt đồn Tân Bằng, tinh thần quân địch đã lung lay, ta bố trí người vận động được 16 lính ngụy ở Thới Bình mang 16 súng về với nhân dân. Đây là hai trận diệt đồn đầu tiên bằng hình thức hóa trang, kỳ tập của lực lượng vũ trang tỉnh Bạc Liêu.

Đầu tháng 9 năm 1946, sau một thời gian xây dựng, công tác và chống địch càn quét, ta quyết tâm bố trí đơn vị vệ quốc đoàn tỉnh đánh một trận diệt tàu địch để thu vũ khí. Đơn vị bố trí trận địa phục kích đánh tàu trên kinh xáng Cái Ngang. Khi tàu địch đến, khi chiến sĩ ta vừa nổ súng, trung đội trưởng Nguyễn Huân phát hiện trong tàu địch đa số là đồng bào ta. Đồng chí ra lệnh thôi bắn và chạy ra trước trận địa làm hiệu ra lệnh cho đơn vị và đã hy sinh vì một viên đạn lạc. Nhớ người chỉ huy kiên cường, hy sinh vì nhân dân, đồng bào Cái Ngang lấy tên đồng chí đặt tên cho xã mình “xã Nguyễn Huân”, đơn vị cũng lấy tên đồng chí đặt tên cho đơn vị “trung đội Nguyễn Huân”; đồng chí Hứa Đá Lộc được đơn vị bầu làm trung đội trưởng, đồng chí Tiết làm trung đội phó. Đơn vị về đóng quân tại Rạch Xóm Ruộng củng cố và tập luyện. Vào đầu tháng 10 năm 1946, đơn vị được trinh sát báo tin địch đi càn ra Mương Điều, chúng chở quân bằng ghe lườn. Đơn vị tổ chức trận địa phục kích tại vàm Xóm Ruộng. Khi bọn địch trở về. ta bất ngờ nổ súng tiêu diệt 12 tên, chỉ còn 2 tên sống sót, thu 10 súng; ta an toàn. Đây là trận đầu ra quân thắng lợi, được Tỉnh ủy và ban tham mưu biểu dương.

Từ đầu tháng 9 năm 1946, phong trào kháng chiến đã được khôi phục ở nhiều nơi trong tỉnh. Đội du kích được thành lập lại trên nhiều làng. Các tổ chức đoàn thể hội nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc được củng cố xây dựng lại và đi vào hoạt động thiết thực. Bộ đội sống trong nhân dân chuyên lo xây dựng và chiến đấu, việc tiếp tế nuôi quân được đoàn thể và nhân dân lo, nhân dân nuôi bộ đội và cùng bộ đội đánh giặc, tình đoàn kết quân dân được xây dựng củng cố qua gian nan thử thách. Một kinh nghiêm được rút ra ở thời kì này là “bộ đội không có chính trị sẽ không vững, tổ chức không sát quần chúng sẽ tan rã”.

Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký với chính phủ Pháp bản Tạm ước 14 tháng 9, Ủy ban nhân dân Nam bộ chủ trương “triệt để lợi dụng hình thức công khai để tuyên truyền cho kháng chiến cho Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, tích cực củng cố chính quyền và hoạt động quân sự mạnh lên, gia tăng địch vận kết hợp với nội ứng, làm cho quân địch càng hoang mang dao động”.

Với ý nghĩa tích cực của Tạm ước 14 tháng 9, trên chiến trường Bạc Liêu, ở một số địa phương như: các làng Long Điền, Phong Thạnh, Vĩnh Mỹ, ta và địch gặp nhau thương lượng thi hành hiệp ước, án binh bất động. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình được tổ chức rầm rộ ở vùng giải phóng. Bọn tế điệp chung quanh đồn bót hoang mang, một số tên xin thú tội. Uy thế của cách mạng càng lên cao.

Đến cuối tháng 9 năm 1946, đồng chí Cao Kiến Thiết cùng các đồng chí àởthành Bạc Liêu tổ chức lại Mặt trận Việt Minh, các đoàn thể thanh niên, phu nữ và lão thành cứu quốc cũng được thành lập lại 4 vùng ven thành Bạc Liêu.

Ngày 20 tháng 10 năm 1946, sau nhiều lần vận động, cụ Cao Triều Phát đứng đầu 12 phái Cao đài thống nhất được Tỉnh ủy mời về Tân Hòa, xã Tân Thuận, cụ nhất trí đi theo Chính phủ Hồ Chí Minh. Trong lễ tuyên thệ được tổ chức trang trọng, cụ Cao Triều Phát tuyên thệ trung thành với Chính phủ Hồ Chí Minh, kiên quyết chiến đấu cho độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc.

Lời tuyên thệ của cụ Cao Triều Phát cũng là lời tuyên thệ của toàn bộ chức sắc, chức việc, tín đồ phái Minh chơn đạo Hậu Giang. Từ đây họ mãi mãi gắn bó với cách mạng, với Đảng.

Theo tinh thần thông tư của Ủy ban nhân dân Nam Bộ quy định “ai trong hàng ngũ địch trở về được hưởng quyền công dân”, ở Bạc Liêu đến cuối tháng 10 năm 1946 các nhân viên hội tề ra tuyên bố “cương quyết tự giải tán, dù nguy hiểm đến đâu cũng không sờn lòng, không thể hợp tác được với Pháp, xin cách mạng tha thứ quá khứ”, nhiều binh sĩ địch rã ngũ, hầu hết các ban hội tề giải tán, số còn lại hoang mang không dám hoạt động.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM