Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 11 Tháng Mười Hai, 2019, 06:52:10 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân - Tập 1  (Đọc 341 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2019, 08:40:36 PM »

Anh hùng Phùng Văn Khầu




Phùng Văn Khầu sinh năm 1930, dân tộc Nùng, quê ở xã Đức Hùng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ tháng 12 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng pháo binh thuộc đại đoàn 351, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Bố mẹ Phùng Văn Khầu chết sớm. Năm lên 8 tuổi, Phùng Văn Khầu đã phải đi ở để kiếm ăn. Cách mạng tháng Tám thành công, cuộc đời đi ở của đồng chí được giải phóng. Năm 1946 (16 tuổi), Phùng Văn Khầu tham gia hoạt động ở địa phương, khi làm chiến sĩ liên lạc, khi làm chiến sĩ công an, nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc.


Tháng 12 năm 1949, Phùng Văn Khầu xung phong vào bộ đội. Từ đó đến năm 1954, đồng chí đã tham gia 7 chiến dịch lớn, đánh hàng chục trận. Chiến dịch nào, trận đánh nào, đồng chí cũng tỏ ra dũng càm, mưu trí, khênh pháo vận động giỏi, chuyển đạn, thao tác pháo nhanh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khẩu đội Phùng Văn Khầu làm nhiệm vụ bắn phá đồi E, đồng chí đã chỉ huy khẩu đội bắn 22 phát đạn đều trúng mục tiêu, góp phần tích cực tiêu diệt sinh lực địch tại đồi này. Khi nhận nhiệm vụ chuyển sang phòng ngự, đồng chí đã cùng anh em khẩn trương, tích cực đào trận địa. Suốt 35 ngày đêm, mặc dù pháo binh địch bắn phá rất ác liệt, có lúc tiểu đội chỉ còn 2 người, bản thân nhiều lần bị sức ép và bị thương, nhưng đồng chí vẫn luôn luôn nêu cao tinh thần ngoan cường bám trận địa, tĩch cực tiến công địch, chi viện đắc lực cho bộ binh chiến đấu ở các điểm cao 203, 207, 507 và đồi C. Có lần đơn vị hết người, bản thân Phùng Vãn Khầu vừa làm pháo thủ ngắm bắn, vừa quan sát mục tiêu và điểm nổ để điều chỉnh, liên tiếp bắn trúng 2 khẩu pháo 105 ly và 1 khẩu đại liên của địch. Nhiều lúc bị sức ép ngất đi tỉnh dậy lại tiếp tục chiến đấu, bộ binh vừa yêu cầu chi viện, chỉ một phát đạn đầu, đồng chí đã bắn trúng mục tiêu, dập tắt hỏa điểm địch.


Tính tổng cộng trong thời gian phòng ngự ở đồi E, với một khẩu sơn pháo 75 ly, Phùng Văn Khầu đã bắn phá hủy 5 khẩu pháo 105 ly, 6 đại liên, 1 lô cốt, 1 kho đạn, diệt hàng trăm lính địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho bộ binh chiến đấu thắng lợi.


Phùng Văn Khầu là một cán bộ gương mẫu, sâu sát đơn vị, luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt; với đức tinh khiêm tốn, giản dị, chân thành, đồng chí được mọi người mến phục, tin yêu.
Phùng Văn Khầu đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng ba, 7 lần được đại đoàn và trung đoàn khen, 2 lần là Chiến sĩ thi đua đại đoàn.


Ngày 31 tháng 8 nảm 1955, Phùng Văn Khầu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2019, 08:51:41 PM »

Anh hùng Chu Văn Khâm




Chu Văn Khâm sinh năm 1925, dân tộc Kinh, quê ở xã Minh Đức, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phú, nhập ngũ tháng 8 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó công binh, đại đội 56, tiểu đoàn 206, Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nhà nghèo, Chu Văn Khâm phải đi ở cho địa chủ. Sau Cách mạng tháng Tám, đồng chí tham gia du kích và công an xã. Tháng 8 năm 1947 Chu Văn Khâm xung phong đi bộ đội. Vào đơn vị bộ binh, đồng chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 11 trận, trận nào cũng nêu cao tinh thần dũng cảm, mưu trí, tích cực tiến công địch, đã diệt 22 tên địch, phá huy 1 lô cốt, 1 xe quân sự, đánh bộc phá phá nhiều hàng rào.


Từ năm 1950, Chu Văn Khâm được điều động sang đơn vị công binh. Từ đó đến tháng 7 năm 1954, khi làm nhiệm vụ phá cầu, chặn đường tiếp viện của địch, khi làm đường, chở phà cho bộ đội hành quân, khi phá bom bảo đảm giao thông vận tải cho chiến dịch, nhiệm vụ nào đồng chí cũng phát huy sáng kiến vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, kiên quyết hoàn thành xuất sác nhiệm vụ.


Tháng 1 năm 1953, Chu Văn Khâm phụ trách tiểu đội làm nhiệm vụ quan sát và phá bom ở đèo Khế, bảo đảm đường vận chuyển cho chiến dịch Tây Bắc. Máy bay địch thường xuyên ném bom phá hoại cầu đường. Đơn vị chưa có kinh nghiệm phá, gỡ bom nổ chậm Chu Văn Khâm đã tình nguyện xin nghiên cứu tháo quả đầu tiên và đồng chí đã thành công. Nhờ đó rút được nhiều kinh nghiệm để phổ biến chung.


Trong quá trình làm nhiệm vụ gặp những trường hợp phải phá những quả bom có thể nguy hiểm đến tính mạng, Chu Văn Khâm đều xung phong nhận thay đồng đội và tìm mọi cách phá bằng được. Có lần một quả bom nổ chậm chui sâu 4 mét, khoan thành một lỗ chỉ chui lọt một người. Không ngần ngại, đồng chí đã chui xuống hố sâu trinh sát chỗ bom nằm, nghiên cứu cách phá rồi quay lên dùng chân đưa bộc phá xuống đặt, phá được quả bom hiểm ác này, kịp thời thông đường, bảo đảm cho các đơn vị vận tải vượt qua an toàn.


Kết quả trong 1 tháng, Chu Văn Khâm đã chỉ huy tiểu đội phá gỡ được 35 quả bom nổ chậm. Riêng đồng chí tự tay phá gỡ được 18 quả, trong đó có một số quả nguy hiểm và khó phá, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Trong chiến đấu cũng như trong công tác, Chu Văn Khâm luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, hết lòng thương yêu đồng đội, đi sát động viên, giúp đỡ chiến sĩ trong những lúc khó khăn, ác liệt nên rất được anh em quý mến, tin yêu.


Đồng chí đã được tiểu đoàn khen thưởng 9 lần. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Chu Văn Khâm được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:18:23 PM »

Anh hùng Chu Văn Mùi



Chu Văn Mùi sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thông tin vô tuyến điện thuộc trung đoàn 102, đại đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ khi nhập ngũ đến năm 1954, Chu Văn Mùi đã tham gia bảy chiến dịch lớn, đảm nhận những công tác khác nhau; pháo thủ, chiến sĩ nuôi quân, chiến sĩ xung kích, tiểu đội phó súng cối, tiểu đội trưởng thông tin liên lạc; nhiệm vụ nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần bền bỉ, quyết vượt qua mọi thử thách, ác liệt hoàn thành một cách xuất sắc.


Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Chu Văn Mùi phụ trách máy vô tuyến điện, phối thuộc với đơn vị bạn chiến đấu phòng ngự trên đồi A1 và đồi 311B. Trong điều kiện bom đạn địch vô cùng ác liệt, đồng chí đã thể hiện rõ tinh thần ngoan cường dũng cảm, kiên quyết bám trận địa, giữ vững liên lạc với sự chỉ huy và điều khiển cho pháo binh ta bắn chính xác tiêu diệt nhiều địch, bẻ gãy nhiều đợt phản kích của chúng.


Khi được lệnh vào phối thuộc phòng ngự đồi A1, Chu Văn Mùi đã dũng cảm vượt qua làn mưa đạn của địch, tới nơi kịp thời đặt máy làm việc luôn. Ngày thứ nhất, đồng chí đặt đài quan sát báo cho pháo binh ta bắn chính xác diệt nhiều địch, đánh lui hai đợt phản kích của chúng. Ngày hôm sau, đơn vị được lệnh rút ra, tổ đồng chí được lệnh ở lại nắm tình hình địch và báo cáo, đồng chí vừa chỉ huy tổ chiến đấu, dũng cảm bảo vệ thương binh, giữ vững trận địa, vừa báo cáo kịp thời tình hình địch với sở chỉ huy. Pháo địch bắn mỗi lúc càng thêm ác liệt, địch lên mỗi lúc một đông, tổ chỉ còn lại hai người, đồng chí vẫn kiên quyết chiến đấu giữ vững trận địa cho đến khi được lệnh rút lui.


Trận phòng ngự trên đồi 311B, suốt 4 ngày đêm liền đơn vị phải nằm dưới hầm. Trời mưa, hầm sập và ngập nước, bom đạn các cỡ của địch thường xuyên bắn về dữ dội, đồng chí vẫn bảo vệ được máy, giữ vững liên lạc với sở chỉ huy. Có lần máy bị hỏng nặng, đồng chí đã dũng cảm đi tìm máy của địch tháo lấy phụ tùng đem về thay thế, kịp thời bắt liên lạc, góp phần tích cực phục vụ cho việc chỉ huy chiến đấu thắng lợi.


Chu Văn Mùi là một cán bộ thông tin gương mẫu về mọi mặt, với đức tính khiêm tốn, giản dị, cởi mở, chân thành, đồng chí được đồng đội hết sức tin yêu.

Chu Văn Mùi đã 9 lần được trung đoàn và đại đoàn khen.

Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Chu Văn Mùi được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:22:22 PM »

Anh hùng Núp




Núp sinh năm 1914, dân tộc Ba Na, quê ở thôn Sê Tơ, xã Tơ Tung, huyện KBang, tỉnh Gia Lai. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thôn đội trưởng du kích, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Núp mồ côi cha mẹ từ khi 10 tuổi. Năm 15 tuổi Núp đã phải đi phu và bị đánh đập dã man, nên đồng chí sớm căm thủ quân giặc. Năm 1935, quân Pháp về lùng bắt phu, dân làng lánh hết vào rừng, một mình đồng chí ở lại dũng cảm dùng nỏ bắn chết một tên giặc. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Lính Pháp qua làng, đồng chí mưu trí đi báo Nhật về vây bắt bọn lính Pháp, lợi dụng cơ hội lộn xộn, Núp lấy được một khẩu súng và 10 hòm đạn.


Trong Cách mạng tháng Tám, đồng chí tích cực tham gia tổng khơi nghĩa cướp chĩnh quyền, và từ đó đến năm 1954, hoạt động chiến đấu ở địa phương.


Trong hoàn cảnh rất khó khăn: địch liên tiếp càn quét, đốt làng, dồn dân, phá rẫy, nhân dân thì trình độ giác ngộ chưa cao, lại đói rét, thiếu muối, bệnh tật nhiều... đồng chí đã luôn luôn dũng cảm, gương mẫu đi đầu trong chiến đấu và sản xuất, kiên trì vận động tổ chức nhân dân vượt qua mọi khó khăn, vừa bảo đảm sản xuất tốt, vừa chiến đấu chống giặc thắng lợi, duy trì và phát triển phong trào cách mạng ở địa phương ngày một vững chắc.


Suốt 3 năm từ 1947 đến 1949, là những năm đầu kháng chiến gay go gian khổ nhất. Địa phương đồng chí Núp mất liên lạc với trên, nên gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng đồng chú Núp vẫn tin tưởng ở thắng lợi. Nắm vững phương châm "trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh", đồng chí Núp đã lãnh đạo nhân dân thay đổi chỗ ở năm lần. Đi đến khu rừng nào đồng chí cũng vận động nhân dân phát triển sản xuất bảo đảm đủ lương ăn, xây dựng làng chiến đấu, tổ chức du kích kiên quyết đánh giặc diệt được 80 tên.


Năm 1950, địch ra sức càn quét bình định, khủng bố vùng du kích Tây Nguyên rất gắt gao, đồng chí Núp vẫn kiên trì vận động dân làng ra sức rào làng chiến đấu, sáng tạo nhiều cách đánh dùng chông mìn, cạm bẫy, tên nỏ diệt địch, bảo vệ nương rẫy và dân làng.


Đặc biệt trong trận đánh địch càn tháng 10 năm 1952, liên tục 7 ngày liền đồng chí chỉ huy trung đội du kích ngoan cường luồn rừng chiến đấu với cả trung đoàn địch, diệt nhiều tên, phá vỡ cuộc càn của chúng, bảo vệ được tài sản và tính mạng của nhân dân. Bản thân đồng chí đã gương mẫu về mọi mặt, đồng chí còn giáo dục xây dựng gia đình gương mẫu về sản xuất, tích cực tham gia canh gác, chiến đấu giữ làng, nuôi dưỡng cất giấu cán bộ, bài trừ mê tín dị đoan, đoàn kết với dân bản.


Núp hoàn toàn được dân làng và đồng đội mến yêu, tnh cậy, xứng đáng là lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc cứu nước của đồng bào Tây Nguyên.


Núp đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, được Hồ Chủ tịch tặng một áo lụa và huy hiệu của Người.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Núp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:26:58 PM »

Anh hùng Võ Văn Ngôm




Võ Văn Ngôm sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nhập ngũ tháng 1 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội phó công binh thuộc đội công binh bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho (cũ), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Võ Văn Ngôm nhà rất nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, mãi tới khi Cách mạng tháng Tám thành công mới chấm dứt được cuộc đời đi ở, làm thuê. Tháng 2 năm 1946, đồng chí tham gia du kích xã, đã chiến đấu 3 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tháng 1 năm 1949, đồng chí xung phong vào bộ đội tập trung của tỉnh và từ đó đến tháng 7 năm 1954, hoạt động chiến đấu ở vùng Mỹ Tho, chuyên làm nhiệm vụ đánh phá giao thông đường bộ và đánh tàu chiến địch trên sông. Trong nhiều trận đánh gay go, phức tạp, đồng chí đã luôn nêu cao quyết tâm chiến đấu, xung phong gương mẫu từ việc điều tra nắm địch, đến hành động dũng cảm táo bạo dẫn đầu đơn vị khi bước vào chiến đấu. Đồng chí đã tham gia đánh 15 trận, góp phần chủ yếu vào việc phá hủy 4 chiếc cầu lớn, đánh chìm 25 tàu, gây cho địch nhiều thiệt hại, khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Cầu Bến Lức là một chiếc cầu loại lớn ở Nam Bộ nằm trên quốc lộ 4, địch canh phòng rất nghiêm ngặt. Qua 6 tháng kiên trì điều tra và tập luyện, đêm 24 tháng 2 năm 1952, Võ Văn Ngôm mang khối thuốc nổ nặng 50 ki-lô-gam dẫn đầu đơn vị bơi qua sông vào đánh. Bộc phá nổ đã diệt 6 tiểu đội lính bảo vệ và đánh sập một nhịp cầu dài 50 mét, làm ngưng trệ giao thông của địch trên tuyến đường này trong 7 tháng liền.


Nhận nhiệm vụ đánh tiếp cầu Tân An, đồng chí đeo 30 ki-lô-gam vũ khí và thuốc nổ dẫn đầu tổ bơi 30, 40 ki-lô-mét suốt hai đêm. Địa hình trống trải, ban ngày phải giấu mình ở các bụi ô rô, sình lầy. Đồng chí đã động viên đồng đội chịu đựng gian khổ, giữ bí mật tuyệt đối và bảo quản vũ khí thật tốt. Đêm thứ hai tổ đồng chí luồn vào đánh sập cầu Tân An hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Cuối năm 1952, đồng chí tham gia đánh đoàn tàu gồm 22 chiếc của địch đậu ở bến cảng thị xã Vĩnh Long. Đây là lực lượng ứng chiến của địch để tiến công vùng Đồng Tháp Mười và kiểm soát hệ thống đồn bốt hai bờ sông Cửu Long. Nhận được lệnh, đồng chí dẫn một tổ vào đánh chiếc tàu mang số 720 là chiếc tàu trọng điểm, đồng thời diệt một số tàu hộ vệ xung quanh. Đặt xong thuốc nổ quay ra thì dây điện bị đứt, địch lại đang tuần tra, đồng chí cho cả tổ rút ra, còn mình ở lại chập điện ngay chỗ dây đứt. Mìn nổ, chiếc tàu 720 chìm ngay tại chỗ và 6 chiếc tàu bên cạnh cũng bị nổ và chìm theo.


Trong chiến đấu cũng như trong công tác, Võ Văn Ngôm luôn luôn gương mẫu, nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí sống khiêm tốn, giản dị, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người tin yêu, quý mến.


Võ Văn Ngôm đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 4 lần được tỉnh và khu tuyên dương công trạng và tặng bằng khen.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Võ Văn Ngôm được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:31:31 PM »

Anh hùng Nguyễn Văn Ty




Nguyễn Văn Ty sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 2 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ binh thuộc trung đoàn 88, đại đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Ty xung phong vào bộ đội ba lần nhưng vì người nhỏ, sức yếu, mãi đến lần thứ tư đồng chí mới được chấp nhận. Từ ngày nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, Nguyễn Văn Ty đã tham gia 7 chiến dịch lớn trên chiến trường Bắc Bộ, với 35 trận đánh, trận nào cũng thể hiện tinh thần dũng cảm, táo bạo, bị thương vẫn không rời trận địa, lập công xuất sắc. Khi làm chiến sĩ liên lạc, cũng như khi phụ trách tiểu đội trưởng bộc phá, bất kỳ nhiệm vụ nào, trong hoàn cảnh nào, đồng chí đều chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh.


Chiến dịch Biên Giới năm 1950, khi xung phong lên chiếm điểm cao, địch tập trung hỏa lực bắn xả xuống, Nguyễn Văn Ty bị thương vào chân phải, máu chảy nhiều, liền lấy chân trái giẫm đè lên vết thương cho máu đỡ chảy và tiếp tục chiến đấu, ném lựu đạn diệt tại chỗ 5 tên, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong đánh chiếm điểm cao, diệt xong địch mới chịu băng bó.


Chiến dịch Hòa Bình năm 1951, đơn vị đánh trận Tu Vũ, đồng chí làm tổ trưởng thông tin liên lạc. Khi trận đánh gay go ác liệt, cả tổ bị thương vong, đồng chí làm thay nhiệm vụ cả 4 người, và đã dũng cảm vượt dưới làn mưa đạn địch, lên xuống qua cửa mở 18 lần, truyền đạt mệnh lệnh chính xác kịp thời, góp phần cùng đơn vị tiêu diệt vị trí Tu Vũ.


Trận đánh đồi Độc Lập (chiến dịch Điện Biên Phủ). Nguvễn Văn Ty phụ trách tiểu đội đánh bộc phá. Trời tối, địch tập trung hỏa lực bắn dữ dội về hướng cửa mở, tiểu đội bạn đánh bị chệch hướng. Đồng chí lên quan sát rồi dẫn tiểu đội vào thay, tự mình đánh quả bộc phá đầu, chỉnh lại đúng hướng đường mở, sau đó tiếp tục chỉ huy tiểu đội đánh liên tục 28 quả bộc phá, phá tan 7 lớp rào. Đến hàng rào cuối cùng, địch bắn và ném lựu đạn ra ác liệt, đồng chí bị thương vào mắt trái, máu chảy tràn đầy mặt, nhưng vẫn cố dùng tay căng mẳt phải để quan sát, chỉ huy tiểu đội phá bung nốt hàng rào cuối cùng, mở thông cửa cho xung kích vào diệt gọn vị trí địch.


Nguyễn Văn Ty là một cán bộ gương mẫu, tận tụy, luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt. Bản thân tuy có nhiều thành tích nhưng đồng chí rất khiêm tốn, giản dị, được đồng đội trong đơn vị tin yêu.


Nguyễn Văn Ty đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba và 4 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Nguyễn Văn Ty được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:42:17 PM »

Anh hùng Phan Tư




Phan Tư, sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 6 năm 1951. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc đoàn 555 công binh, Cục Công binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ khi nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, đồng chí Phan Tư đã tham gia 4 chiến dịch lớn ở Bắc Bộ. Trong các nhiệm vụ: mở đường, phá bom bảo đảm giao thông, phá thác... nhận bất cử nhiệm vụ gì, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm vượt mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Chiến dịch Hòa Bình năm 1952, Phan Tư làm nhiệm vụ quan sát và phá bom nổ chậm bảo đảm đường giao thông vận chuvển. Có lần địch đánh phá ác liệt, bom nổ rất gần, đất đá tung cả vào hầm, đồng chí vẫn động viên đồng đội bình tĩnh quan sát bom rơi, khi máy bay bay đi, lại ra phá gỡ. Có quả bom nổ chậm chui sâu, phải đào gỡ liên tục 4 giờ liền, quá giờ an toàn quy định, đồng chí vẫn dũng cảm kiên quyết tháo bằng được quả bom để thông đường.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Tư làm nhiệm vụ quan sát. Khi máy bay địch quay trở lại ném bom tiếp, Phan Tư đã dũng cảm nằm ngay tại mặt đường quan sát để nắm chắc vị trí bom rơi, đánh dấu cho anh em phá gỡ. Một quả bom nổ chậm nằm giữa mặt đường, không nắm được giờ an toàn, nên không ai dám vượt qua, dân công bị ùn lại. Đồng chí đã dũng cảm đốt đuốc đứng cạnh quả bom, làm lộ tiêu cho dân công vượt qua an toàn nhanh chóng.


Tháng 2 năm 1954, trung đội Phan Tư nhận nhiệm vụ phá thác trên sông Nậm Na. Lần đầu phá thác chưa có kinh nghiệm, gặp nhiều khó khăn: nước chảy xiết, trời mùa đông rét buốt, địa hình khó, nhảy xuống không khéo sẽ bị nước cuốn trôi, hoặc người đập vào đá. Đồng chí xung phong nghiên cứu phá trước, rút kinh nghiệm cho toàn đơn vị. Sau nhiều lần lặn xuống nghiên cứu tìm nơi đặt bộc phá, đồng chí đã quyết định ôm khối thuốc nổ 6 ki-lô-gam, ngòi đốt sẵn, nhoài người xuống ấn khối thuốc nổ vào kẽ đá, rồi nhanh chóng ngoi lên bơi vào bờ, vừa xong thì bộc phá nổ. Tiếp theo, đồng chí trực tiếp phá 4 thác khác để rút kinh nghiệm. Nhờ đó, trung đội đồng chí đã phá được hơn 30 thác, bảo đảm thời gian quy định, thông luồng cho thuyền chở vũ khí phục vụ chiến dịch Điện Biên Phú được dễ dàng và an toàn.


Không những lo lắng cho đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mà Phan Tư còn thường xuyên chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, vì vậy trung đội do đồng chí chỉ huy luôn luôn là trung đội dẫn đầu đại đội trong công tác, chiến đấu cũng như sinh hoạt, rèn luyện.


Phan Tư đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 11 lần được trung đoàn, đại đoàn và Tổng cục Chính trị khen thưởng.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Phan Tư được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vủ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:45:14 PM »

Anh hùng Sơn Ton




Sơn Ton sinh năm 1933, dân tộc Khơ Me, quê ở xã Lưu Nguyệt Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng đặc công thuộc trung đoàn 3, bộ đội miền Tây Nam Bộ.


Cách mạng tháng Tám thành công vào lúc Sơn Ton 12 tuổi, đang đi ở đợ. Với nhiệt tình hăng hái của tuổi trẻ, đồng chí tuy vẫn phải làm việc quần quật suốt ngày hầu hạ nhà chủ, nhưng vẫn tích cực   tham   gia công tác cách mạng, canh gác, phá đường ngăn cản địch. Năm 1949, đồng chí tham gia du kích xã, rồi lên du kích tập trung huyện, sau chuyển thành bộ đội địa phương (tháng 1 năm 1953).


Gần 7 năm, Sơn Ton vừa chiến đấu, vừa tham gia hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức dân quân du kích chiến đấu trong vùng người dân tộc Khơ Me. Tuy trình độ có hạn, địch lại thường xuyên càn quét đánh phá, tuyên truyền gây hiềm khích chia rẽ dân tộc, cơ sở Đang chưa có nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, Sơn Ton đã kiên trì vận động quần chúng, vạch rõ âm mưu giặc, giác ngộ, tổ chức thanh niên người Khơ Me kiên quyết đứng lên cầm súng chống Pháp, bảo vệ làng xóm. Trong hoàn cảnh khó khăn ban đầu, Sơn Ton dũng cảm tự tay gài mìn và nổ súng diệt địch trước để đồng bào tin tưởng noi theo. Dần dần Sơn Ton đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng tốt, nhiều tổ đội du kích, duy trì và phát triển phong trào chiến tranh du kích trong vùng đồng bào dân tộc Khơ Me ngày một vững chắc.


Một lần xã đang họp hội nghị, có cán bộ tỉnh về dự, địch bao vây tiến công vào, một mình đồng chí dũng cảm chiến đấu bắn chặn, cầm cự với giặc để hội nghị rút an toàn.


Hai năm 1952 - 1953 là thời kỳ khó khăn nhất của huyện Long Phú. Địch thường xuyên dùng 2, 3 tiếu đoàn càn quét, có máy bay, pháo binh bắn phá yểm trợ, đóng đồn bốt khắp trong huyện. Trước tình hình giặc lùng sục khủng bố ác liệt, đội du kích hầu như không còn, cả đội chỉ còn đồng chí và một cán bộ xã đội là vẫn kiên cường cầm súng chống giặc. Suốt 2 năm liền, hai anh em vừa bảo vệ vũ khí, vừa tuyên truyền gây cơ sở, vừa chiến đấu chống giặc, tới trận Mương Ông Tám. Cuối năm 1952, giặc đổ bộ vào xã, đồng chí tổ chức gài lựu đạn, dụ địch vào diệt được nhiều tên, khiến nhân dân phấn khởi tin tưởng, phong trào du kích lại lên. Từ đó Sơn Ton tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên tập luyện sẵn sàng đánh giặc.


Năm 1953, Sơn Ton được điều lên đội du kích tập trung của huyện. Năm 1954, ta mở chiến dịch tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Đồng chí dẫn đầu tổ vũ trang tuyên truyền (hầu hết anh em là người Việt) vào tuyên truyền xây dựng cơ sở. Đến sóc (làng) nào đồng chí cũng xung phong vào trước để tuyên truyền giác ngộ đồng bào. Nhiều lần dựa vào nhân mối, Sơn Ton đã táo bạo đến thẳng bốt địch tuyên truyền vận động binh lính quay súng về với nhân dân. Đối với bọn ngoan cố thì kết hợp với dân quân tiến công tiêu diệt hoặc uy hiếp. Kết quả trong 7 tháng hoạt động, tổ vũ trang tuyên truyền đã diệt 67 tên địch bắt sống 100 tên, thu 43 súng, vận động được nhiều binh lính về với nhân dân và động viên được 50 thanh niên tòng quân.


Do tinh thần tích cực, dũng cảm, tác phong gương mẫu khiêm tốn, giản dị, Sơn Ton rất có uy tín với đồng đội và nhân dân địa phương. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 lần được huyện, tỉnh và Miền khen.


Ngày 31 tháng 8 nảm 1955, Sơn Ton được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:48:26 PM »

Anh hùng Nguyễn Văn Thuần




Nguyễn Văn Thuần, sinh năm 1916, dân tộc Kinh, quê ở xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, nhập ngũ tháng 9 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đoàn phó bộ binh, trung đoàn 209, đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ lúc 10 tuổi đến 28 tuổi, Nguyễn Văn Thuần hết đi ở cho địa chủ lại đi phu, nhiều lần bị địa chủ cường hào đánh đập tàn nhẫn. Năm 1944 Nguyễn Văn Thuần bị bắt đi lính cho Pháp, cuộc đời ở lính cũng bị đánh đập đối xử tệ bạc. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Văn Thuần bị bắt làm tù binh, chúng đánh đập dã man phải đi nhà thương, ở đây Thuần đã tìm cách trốn được về nhà.


Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Văn Thuần xung phong vào bộ đội, chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Từ ngày nhập ngũ tới tháng 7 năm 1954, đồng chí chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ, ở đơn vị chủ lực tập trung, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, bao giờ cũng hăng say đánh giặc. Đồng chí, chỉ huy linh hoạt, bình tĩnh, mưu trí, dù trong hoàn cảnh nào cũng dẫn đầu đơn vị vượt qua. Đồng chí Nguyễn Văn Thuần đã tham gia chiến đấu 30 trận, chỉ huy đơn vị diệt gần 1.000 địch, bắt sống hàng trăm tên, tự tay đồng chí diệt gần 200 tên, phá huy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.


Năm 1947, đánh địch càn ở Lạc Điền, Hải Dương, Nguyễn Văn Thuần làm nhiệm vụ bắn trung liên, bố trí hướng chính diện bắn chặn địch và hỗ trợ cho đơn vị xung phong. Đồng chí đã bình tĩnh chờ cho địch vào cách 30 mét mới nổ súng, diệt hàng chục tên lính Pháp đi đầu; khiến bọn còn lại hoảng hốt chạy tán loạn, tạo điều kiện cho đơn vị vận động lên tiêu diệt địch, phá vỡ cuộc càn của chúng.


Trận Phủ Thông (năm 1948), đồng chí phụ trách tiểu đội xung kích, dũng cảm dẫn đầu một tổ xông thẳng vào đồn, dùng dao và mác đánh giáp lá cà với địch rất quyết liệt, cùng đơn vị diệt gọn đồn này.


Trận Phố Ràng (năm 1949), khi nổ súng, địch chống cự quyết liệt, Nguyễn Văn Thuần dẫn tiểu đội xông vào đánh chiếm cửa mở, cướp lựu đạn địch tiếp tục phát triển thọc sâu. Tiểu đội chỉ còn 3 người, đồng chí vẫn động viên đồng đội kiên quyết chiến đấu, đánh chia cắt địch và giữ trận địa.


Trận đánh đồn Ba Huyên (tháng 1 năm 1951), ta tiến công suốt đêm vẫn chưa giải quyết xong, 8 giờ sáng hôm sau, địch phản kích chiếm lại 3 lô cốt quan trọng. Trung đội Nguyễn Văn Thuần được lệnh đánh chiếm lại. Với lối đánh xung phong mãnh liệt, nhanh chóng áp sát địch, chỉ ít phút sau Nguyễn Văn Thuần đã chỉ huy trung đội diệt được 2 lô cốt, bọn còn lại vào lô cốt số ba, ngoan cố chống cự. Đồng chí thu nhặt bộc phá, gói lại thành khối thuốc nổ 10 ki-lô-gam, bò lên đặt và giật nổ phá sập lô cốt, diệt hết bọn địch còn lại, chiếm toàn bộ vị trí. Nguyễn Văn Thuần có tác phong khiêm tốn giản dị, sâu sát gần gũi anh em, đoàn kết thương yêu chăm sóc chiến sĩ, được anh em trong đơn vị rất yêu mến.


Nguyễn Văn Thuần được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 11 lần được tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn khen thường và được Hồ Chủ tịch tặng Huy hiệu của Người.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, đồng chí Nguyễn Văn Thuần được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:44:27 PM »

Anh hùng Lý Văn Thím


Lý Văn Thím sinh năm 1925, dân tộc Nùng, quê ở xã Nam Sơn, huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn, nhập ngũ tháng 2 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó bộ binh thuộc trung đoàn 335, đơn vị quân tình nguyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước Cách mạng tháng Tám (tháng 2 năm 1945), Lý Văn Thím đã xung phong vào Giải phóng quân, tham gia đánh bọn phỉ ở Hang Cấu, đánh Nhật, ở Pò Mã và cùng nhân dân khởi nghĩa cướp chính quyền ở thị xã Lạng Sơn. Sau đó đồng chí bị yếu, được trên cho về nhà nghỉ chữa bệnh. Đến tháng 6 năm 1946, đồng chí lại trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu đến tháng 7 năm 1954. Đồng chí đã nhận nhiều nhiệm vụ, công tác khác nhau khi trực tiếp chiến đấu, khi làm chiến sĩ trinh sát, liên lạc, khi làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng... nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc. Đồng chí đã tham gia chiến đấu 46 trận, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên quyết tiến công địch, diệt và làm bị thương 25 tên, bắt sống 5 tên, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng ở 7 bản thuộc vùng dân tộc ít người.


Tháng 12 năm 1946, giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, tiểu đội Lý Văn Thím làm nhiệm vụ phòng ngự chống địch trong thị xã Lạng Sơn. Địch huy động 1 tiểu đoàn có xe tăng và cả máy bay, pháo binh yểm trợ tiến công vào thị xã. Tiểu đội bị thương vong một số. Đồng chí vẫn cố thủ trong thành, đợi địch đến gần mới bắn và ném lựu đạn, chiến đấu liên tục 8 giờ liền, diệt nhiều địch, giữ vững trận địa.


Trận đánh đồn Na Y (trên đường số 4) đầu năm 1949, Lý Văn Thím xung phong vào đội quân cảm tử, xông thẳng vào đồn phá bung ba lớp rào, đánh sập lô cốt rồi tiến lên chiếm hào giao thông, ném lựu   đạn dập tắt hỏa điểm xung yếu nhất, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Tháng 12 năm 1949, Lý Văn Thím làm chiến sĩ liên lạc và trinh sát ở vùng PĐây là vùng dân tộc ít người, nhân dân chưa hiểu còn xa lánh cán bộ, bộ đội. Địch thường phục kích trên các con đường đi lại. Đồng chí đã kiên trì gần gũi giúp đỡ, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, xây dựng được cơ sở, qua đó nắm vững tình hình địch. Có lần chuyển công văn hỏa tốc, đường đi mất 7 ngày, giữa đường gặp địch, cơm không có, phải nhịn đói, nhưng Lý Văn Thím vẫn tìm cách xuyên rừng đưa công văn tới nơi, trước giờ quy định.


Từ tháng 12 năm 1952 đến tháng 8 năm 1953, đồng chí nhận nhiệm vụ hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở một vùng trọng điểm. Suốt 9 tháng liền, ngày nằm rừng, đêm về tìm dân ở các bản, nhiều khi địch lùng sục, gạo không có phải ăn rau, củ rừng, nhưng Lý Văn Thím vẫn kiên trì bám dân hoạt động, gây được cơ sở ở 7 bản.


Với tinh thần và tác phong kiên trì, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, liên hệ mật thiết với quần chúng, đồng chí Lý Văn Thím đã cảm hóa được mọi người, tranh thủ được sự đồng tình mến phục của nhân dân và lòng tin yêu của anh em đồng đội.


Lý Văn Thím đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất và được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Lý Văn Thím được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM