Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Hai, 2019, 02:29:32 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950  (Đọc 534 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:01:37 PM »

B. CHI ĐỘI 10 TỈNH BIÊN HÒA (10-1945 - 3-1948)

I. CÁC ĐƠN VỊ TIỀN THÂN CỦA CHI ĐỘI 10

1. Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công mở ra một bước ngoặt của cách mạng địa phương. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ bùng nổ, làm sôi sục khí thế kháng chiến bảo vệ độc lập của nhân dân Nam Bộ nói chung và tỉnh Biên Hoà nói riêng. Ngay trong đêm 23 tháng 9 năm 1945, đồng chí Hà Huy Giáp thay mặt Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị cán bộ toàn tỉnh Biên Hoà tại nhà hội Bình Trước1 (Nhà hội Bình Trước nay là nhà truyền thống thành phố Biên Hòa, Đồng Nai) quận Châu Thành. Tham dự hội nghị có 40 đảng viên Cộng sản, nhiều đồng chí là đảng viên người địa phương, một số từ Chi bộ đảng Hoà Hưng được Xứ ủy giới thiệu. Trong cuộc họp, hội nghị đã bầu Ban chấp hành Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Biên Hoà do đồng chí Trần Công Khanh làm Bí thư, Hoàng Minh Châu phó Bí thư. Ngoài những chủ trương về xây dựng chính quyền cách mạng, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng cuộc sống mới; vấn đề quan tâm và đặt lên hàng đầu của Tỉnh ủy là cần kíp xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh chuẩn bị cho cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập vừa giành được.


Hội nghị nhất trí giao cho đồng chí Phan Đình Công, ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách quân sự, nhiệm vụ mở lớp huấn luyện quân sự tại địa phương làm nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang của tỉnh. Đồng chí Huỳnh Văn Hớn, phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đảm trách vận động hậu cần cho trường huấn luyện. Được sự vận động của Ủy ban, ông Hồ Văn Thể, giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Du1 (Thường gọi là ông giáo Thể, có người em là Hồ Văn Leo đảng viên cộng sản hoạt động ở Biên Hòa-Sài Gòn trong phong trào 1936-1939), hiến một khu đất rộng ở ấp Vĩnh Cửu (xã Tam Hiệp) để làm địa điểm huấn luyện và ngôi nhà của gia đình làm nơi hoạt động của Ban chỉ huy trường. Trường được gọi tên là Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu. Chỉ trong vòng 3 ngày chuẩn bị, ngày 26 tháng 9 năm 1945, Trại huấn luyện du kích Vĩnh Cửu khai giảng khoá học đầu tiên.


Đội ngũ giáo viên của Trại gồm Nguyễn Xuân Diệu2 (Đồng chí Đại tá Nguyễn Xuân Diệu, sau là hiệu trưởng Trường Quân chính Quân khu 7 trong chống Pháp), giáo sư Phạm Thiều và một số sĩ quan, hạ sĩ quan người Nhật tình nguyện theo Việt Minh. Vũ khí của Trại do đồng chí Nguyễn Đình Ưu, một công chức ngân hàng Nông nghiệp ở tỉnh lỵ Biên Hoà, qua quan hệ với binh lính Nhật trước đây, mua được và cất giấu chuyển giao. Chương trình huấn luyện của Trại gồm hai nội dung: Quân sự, học đội hình và sử dụng vũ khí, cách đánh du kích và học chính trị về lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc. Trong quá trình huấn luyện đến đầu tháng 10 năm 1945, trường được tăng cường thêm một số cán bộ quân sự theo đoàn quân Nam tiến, nguyên là học viên trường quân sự Trần Quốc Tuấn vào tham gia giảng dạy (như đồng chí Nguyễn Mạnh Liên).


Học viên của Trại từ các nguồn: Thanh niên địa phương, công nhân nhà máy cưa BIF (Tân Mai, Biên Hoà), công chức và thanh niên từ Sài Gòn lên tham gia kháng chiến. Nguồn hậu cần của Trại do Ủy ban nhân dân tỉnh cung cấp, nhưng chủ yếu do quyên góp của nhân dân xã Bình Trước. Chăm lo miếng ăn cho trường do Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh huy động chị em địa phương tình nguyện lên phục vụ. Tiếng súng chống xâm lược từ Sài Gòn - Gia Định như thôi thúc và cổ vũ tất cả học viên không ngại gian khổ ra sức rèn luyện và học tập. Đầu tháng 10 năm 1945, Ban chỉ huy Trại huấn luyện đã huy động các chiến sĩ học viên cùng với đoàn quân Nam tiến do đồng chí Nam Long chỉ huy chận đánh thực dân Pháp ở mặt trận cầu Bình Lợi (Thủ Đức) và nhiều lần chận đánh thực dân Pháp tuần tra thăm dò tình hình địa thế trên tuyến sông Đồng Nai.


Ngày 25 tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hoà, Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu chuyển về ấp Bình Đa (nay là phường Bình Đa, thành phố Biên Hoà). Và khi thực dân Pháp bước đầu mở rộng lấn chiếm, đầu tháng 11 năm 1945, Trại chuyển về Tân Uyên để hoạt động1 (Về Tân Uyên, Trại du kích Vĩnh Cửu sáp nhập cùng trường huấn luyện do Vệ quốc đoàn Biên Hòa mở, gọi là Trại huấn luyện Sở Tiêu do đồng chí Hoàng Bá Bích phụ trách).


Trong thời gian trên 1 tháng, Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu đã mở được hai khoá đào tạo với trên 100 cán bộ quân sự ra trường. Những cán bộ tốt nghiệp ở Trại trở thành lực lượng nòng cốt để xây dựng bộ đội các huyện, xã sau này. Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu, Biên Hoà là trường Quân chính đầu tiên ở Biên Hoà và miền Đông Nam Bộ1 (Nhiều đồng chí, trong đó có Đại tá Nguyễn Xuân Diệu cho rằng, Trại là tiền thân của Trường Quân chính Quân khu 7 sau này).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:03:58 PM »

2.Lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà

Lực lượng vũ trang của Ủy ban kháng chiến miền Đông được hình thành ở Sài Gòn. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, nhiều lực lượng kháng chiến và các đơn vị bộ đội rút ra ngoại thành, trong đó, lực lượng vũ trang của Uỷ ban kháng chiến miền Đông do Lương Văn Tương chỉ huy rút về Biên Hoà và đóng quân ở ngã ba thành Biên Hoà (Dốc Sỏi, nay thuộc phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà).


Khi quân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hoà, Lương Văn Tương dẫn một bộ phận rút ra Xuân Lộc rồi ra miền Trung. Một bộ phận vũ trang còn lại gồm 40 chiến sĩ và 30 súng do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy rút về Tân Tịch, Tân Uyên. Huỳnh Văn Nghệ vốn quê hương ở Tân Tịch, học sinh trường Petrus Ký, một thời kỳ dài hoạt động ở Thái Lan. Ông cũng là người được Bí thư Xứ ủy Trần Văn Giàu cử về nghiên cứu rừng Tân Uyên chuẩn bị xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài từ trước Cách mạng tháng Tám 1945. Tại Tân Uyên, với uy tín cá nhân, đồng chí Tám Nghệ đã tập hợp được các lực lượng: Du kích khởi nghĩa Nam kỳ do đồng chí Trần Văn Quỳ (Chín Quỳ) chỉ huy (17 chiến sĩ); lực lượng tự vệ vũ trang do Cao Văn Bố chỉ huy ở Tân Uyên; lực lượng vũ trang công nhân hàng hải từ Sài Gòn lên do Đào Văn Quang chỉ huy; lực lượng học viên của Trại Sở Tiêu Tân Uyên, hình thành nên lực lượng Vệ Quôc đoàn Biên Hoà do Huỳnh Văn Nghệ làm chỉ huy trưởng. Lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà gồm 4 phân đội, mỗi phân đội có từ 12 đến 15 chiến sĩ, trang bị một số súng trường, dao, mã tấu và lựu đạn. Đơn vị thường được nhân dân trong vùng gọi tên là “Bộ đội Tám Nghệ”.


Để xây dựng phát triển lực lượng, đồng chí Tám Nghệ đã vận động bà con trong gia đình, dòng họ, mở rộng trong và ngoài quận Tân Uyên ủng hộ bộ đội. Đồng thời đồng chí cử Phạm Văn Thăng nghiên cứu và tổ chức các đội lặn dò tìm dưới đáy sông Đồng Nai phát hiện các xác tàu của quân đội Pháp bị Nhật đánh chìm trong cuộc đảo chánh 9 tháng 3 năm 1945. Tại Vàm Sông Bé, bộ đội tìm được nhiều súng, trong đó có cả trọng liên 13,2 ly và 12,7 ly. Ngoài ra tại Hàng Dài, các đồng chí còn khui được một hầm vũ khí do phát xít Nhật chôn giấu khi hay tin Nhật hoàng đầu hàng Đồng minh vào tháng 8 năm 1945.


Tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình, đặc phái viên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào miền Nam để xây dựng, thống nhất các lực lượng vũ trang. Tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình triệu tập Hội nghị quân sự Nam Bộ ở An Phú xã (thực tế chỉ có đại biểu các đơn vị vũ trang miền Đông Nam Bộ dự). Hội nghị bàn vấn đề thống nhất lực lượng vũ trang, thống nhất chỉ huy. Hội nghị nhất trí cử Nguyễn Bình làm Tổng Tư lệnh giải phóng quân Nam Bộ, Vũ Đức (Hoàng Đình Giong) làm chính ủy; đồng thời quyết định biên chế lực lượng vũ trang thành các chi đội. Trước mắt thành lập Chi đội 1 ở Thủ Dầu Một.


Hội nghị An Phú xã có ý nghĩa tác dụng là bước đầu thống nhất các lực lượng vũ trang tuy trên danh nghĩa, nhưng động viên được tinh thần kháng chiến, củng cố niềm tin của cán bộ, quần chúng với Trung ương.


Ngày 25 tháng 11 năm 1945, Trung ương ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, xác định nhiệm vụ của Nam Bộ, Trung Bộ; đồng thời chia cả nước ra làm chín khu, trong đó Nam Bộ có 3 khu 7, 8, 9.


Ngày 10 tháng 12 năm 1945, Xứ ủy Nam Bộ tổ chức Hội nghị mở rộng ở Vàm Cỏ Đông, bàn biện pháp xây dựng các chiến khu, trong đó có Lạc An (Tân Uyên), chỉ định đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng Khu 7, đồng chí Trần Xuân Độ làm Chủ nhiệm chính trị bộ, đồng chí Dương Văn Dương Khu bộ phó. Tháng 12 năm 1945, Pháp tấn công An Phú xã, Khu bộ khu 7 chuyển về Lạc An, dựa vào lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà và đồng chí Chín Quỳ để xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Nhờ vậy đồng chí Huỳnh Văn Nghệ nắm được chủ trương của Đảng, Chính phủ về kháng chiến, về xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng... Công tác tổ chức bộ máy và lực lượng của Vệ quốc đoàn Biên Hoà được triển khai chặt chẽ (có bài bản), giữ nghiêm kỷ luật và làm tốt công tác dân vận, tạo được uy tín trong dân. Nhiều đơn vị vũ trang ở địa phương đã tình nguyện gia nhập vào Vệ quốc đoàn Biên Hoà. Trên cơ sở phát triển lực lượng, Vệ quốc đoàn Biên Hoà đã tổ chức thành 3 phân đội, mỗi phân đội có 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 chiến sĩ.


- Phân đội 1: Do đồng chí Nguyễn Văn Học (thường gọi Học già) làm phân đội trưởng; Nguyễn Ngọc Ngộ phân đội phó chính trị, Hoàng Phùng Đức phân đội phó quân sự1 (Phân đội này gồm lực lượng của Ủy ban kháng chiến miền Đông do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đưa về lực lượng đội du kích của đồng chí Trần Văn Quỳ). Đặc biệt trong phân đội có hai chiến sĩ nguyên là sĩ quan Nhật theo kháng chiến, tên là Phúc và Hoá. Phân đội 1 đứng chân hoạt động ở 5 xã Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Mỹ Lộc, có nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Khu bộ và chỉ huy trưởng cùng nhân dân 5 xã.


- Phân đội 2: Do Đào Văn Tiêm làm phân đội trưởng; Nguyễn Văn Khoa phân đội phó chính trị; Nguyễn Văn Nhiều (Chín Nhiều) phân đội phó quân sự2 (Phân đội này gồm lực lượng trường huấn luyện quân sự ở Sở Tiêu). Phân đội 2 đóng ở thị trấn Tân Uyên, ngăn chặn địch từ Phước Hoà xuống, bảo vệ các cơ quan tỉnh, quận.


- Phân đội 3: Do Nguyễn Văn Lắm làm phân đội trưởng; Nguyễn Đình Vị phân đội phó chính trị; Lê Ngọc Sinh phân đội phó quân sự3 (Phân đội này gồm tự vệ Thái Hòa, Phước Hòa, thanh niên quận Tân Uyên tòng quân...). Phân đội 3 đứng chân ở nam thị trấn Tân Uyên, chặn đánh địch từ hướng lộ 16 Tân Ba lên, bảo vệ các cơ quan tỉnh, quận.


Trên đường vào Nam theo quyết định của Chính phủ, đồng chí Nguyễn Bình đã tập hợp được 20 sĩ quan, binh lính người Nhật, 7 binh sĩ người Đức và 10 người Việt, thường được gọi là “bộ đội quốc tế” do một đại uý Nhật chỉ huy. Theo chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Bình, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã cử Lê Thoa (người thông thạo cả tiếng Pháp, và Đức, Nhật) cùng với 20 lính thuỷ (do Đào Văn Quang từ Sài Gòn đưa lên) nhập vào đơn vị bộ đội quốc tế, trở thành một phân đội mạnh. Phân đội quôc tế đứng chân ở tả ngạn sông Đồng Nai khu vực Bình Đa, Vĩnh Cửu do Lê Thoa làm phân đội trưởng.


Văn phòng Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà được tổ chức như sau:

- Chỉ huy trưởng: Huỳnh Văn Nghệ

- Chánh văn phòng: Cao Văn Bổ.

- Ủy viên quản trị: Đào Văn Quang. Ủy viên quản trị chịu trách nhiệm tổ chức mua và vận chuyển lương thực, thuốc tây và lương thực từ nội thành về vùng căn cứ phục vụ cho bộ đội.

- Ủy viên phụ trách công tác huấn luyện chính trị, quân sự: Đỗ Ngọc Lạng.

- Ủy viên phụ trách căn cứ: Trần Văn Quỳ. Nhiệm vụ của Ủy viên phụ trách căn cứ là xây dựng căn cứ và “sanh sản tự túc” (tức sản xuất tự túc).

- Ủy viên phụ trách đường dây: Lâm Văn Phùng và Sáu Lĩnh, chịu trách nhiệm tổ chức đường dây liên lạc từ Biên Hoà - Sài Gòn và ngược lại, tiếp nhận sự ủng hộ của đồng bào ngoài thành cho kháng chiến.


Dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7, Vệ quốc đoàn Biên Hoà do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy được xây dựng, tổ chức bộ máy tương đối hoàn chỉnh hơn so với tất cả các đơn vị vũ trang có mặt ở Biên Hoà lúc bấy giờ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:05:22 PM »

Cuối tháng 12 năm 1945, trong lúc Ủy ban nhân dân và Mặt trận các cấp từ tỉnh xuống quận đang tích cực chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh khu 7 đã trao đổi cùng chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa về việc tổ chức trận tập kích vào thị xã Biên Hòa.


Để chuẩn bị, Tư lệnh Khu 7 Nguyễn Bình chỉ thị điều một bộ phận lực lượng Chi đội 2-3 Bình Xuyên từ Long Thành; Chi đội 1 do Huỳnh Kim Trương chỉ huy ở Thủ Dầu Một; đơn vị bộ đội Tô Ký từ Hóc Môn bí mật chuyển quân về Tân Tịch phối hợp cùng các đơn vị của Vệ quốc đoàn Biên Hoà và quận Châu Thành. Phân đội quốc tế do Lê Thoa phụ trách ở Bình Đa được giao nhiệm vụ cử trinh sát vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hoà vẽ sơ đồ bố trí các điểm đóng quân, căn cứ và lực lượng của quân Pháp phục vụ cho trận tập kích.


Đêm 1 rạng sáng 2 tháng 1 năm 1946, Vệ quốc đoàn Biên Hoà vượt sông Đồng Nai từ hướng Dốc Sỏi tiến đánh thành Biên Hoà. Các lực lượng khác theo phân công tiến đánh vào các chốt, bót gác của thực dân ở Cầu Gành, Rạch Cát, Cây Chàm, phòng thông tin chợ Biên Hoà..., bắt một số tên Việt gian đưa về ngã ba Cây Đào (xã Tân Phú) lập toà án xét xử.


Trận tập kích đầu tiên và bất ngờ vào quân Pháp trong trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa gây tiếng vang lớn. Tuy không chiếm giữ được những vị trí quân sự theo kế hoạch, nhưng trận tập kích thể hiện được trình độ chỉ huy, phối hợp của các lực lượng, giữ được bí mật. Ý nghĩa chính trị của trận đánh càng to lớn hơn: “Tiếng súng Biên Hòa” của các lực lượng kháng chiến tạo niềm tin cho nhân dân, đặc biệt nhân dân trong vùng địch tạm chiếm với sự tồn tại và phát triển của cách mạng, đập tan luận điệu tuyên truyền và báo cáo của thực dân Pháp là cơ bản đã bình định xong Nam kỳ.


“Tiếng súng Biên Hòa” tạo nên một sức hút lớn của Vệ quốc đoàn Biên Hoà, của căn cứ kháng chiến ở Tân Uyên đối với nhiều người yêu nước từ nhiều nguồn Sài Gòn, Gia Định, miền Tây Nam Bộ... tìm về tham gia kháng chiến ở Biên Hòa. Trong đó, nhiều người sau này trở thành những cán bộ cốt cán, những sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam: Nguyễn Văn Lượng, Phạm Văn Anh, Phạm Văn Thăng, Đinh Quang An, Vũ Thiệu, Trần Liên Xô, Cô Tấn Chương, Bùi Trọng Nghĩa, Bùi Cát Vũ, Đặng Sĩ Hùng, Nguyễn Văn Quảng, Lê Văn Ngọc...


Trận tập kích vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hoà đêm 1 rạng sáng ngày 2 tháng 1 năm 1946, buộc thực dân Pháp phải nhận định đánh giá lại về lực lượng Việt Minh ở miền Đông nói chung và Biên Hoà nói riêng. Đặc biệt là lực lượng vũ trang kháng chiến đang đứng chân ở khu vực 5 xã Tân Uyên, trở thành đối tượng cần tiêu diệt hàng đầu của chúng ở Biên Hoà.


Thông qua tin trinh sát và tình báo, đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7 chỉ đạo cho Vệ quốc đoàn Biên Hòa triển khai lực lượng trên các hướng sẵn sàng đánh địch càn quét bảo vệ căn cứ. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ trực tiếp xem xét, chỉnh đốn tổ chức các phân đội, bố trí lực lượng xây dựng các phòng tuyến chốt chặn đánh địch các hướng: Phòng tuyến Bình Mỹ chặn địch từ hướng quốc lộ 13 Phước Hòa đánh vào; phòng tuyến Tân Long chặn địch từ hướng Thủ Dầu Một qua; phòng tuyến Bình Hoá chặn địch từ hướng Tân Ba lên (lộ 16). Hướng sông Đồng Nai, Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hòa bố trí một phòng tuyến từ bến đò Uyên Hưng (đối diện cù lao Mỹ Quới) đến đồn Kiểm lâm (đối diện bến đò Bình Long) để đánh tàu giặc trên sông. Phía tả ngạn sông Đồng Nai, một bộ phận phối hợp cùng Vệ quốc đoàn quận Châu Thành lập phòng tuyến chốt chặn từ Tân Phong, Lợi Hoà, Tân Định chặn đánh địch từ Biên Hòa lên hướng Cây Đào, Bình Long, không cho chúng vượt sông đánh tập hậu.


Vệ quốc đoàn Biên Hòa thành lập Ban tiếp tế mặt trận do đồng chí Trừ Sùng Thới làm trưởng ban, Trần Văn Quỳ làm phó ban, đảm bảo việc cung cấp lương thực cho các đơn vị chiến đấu. Ban hộ tự đình Tân Nhuận đã chuyển toàn bộ mặt bằng và khu vực xung quanh đình làm nơi đóng quân của trạm quân y tiền phương, nơi cứu chữa thương binh trước khi chuyển về tuyến sau. Một lớp cứu thương cấp tốc đã được Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà tổ chức ngay tại đình Tân Nhuận.


Thực hiện lệnh của Bộ Tư lệnh Khu 7, nhân dân thị trấn Tân Uyên sau khi chuyển đồ đạc gia đình về 5 xã Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Mỹ Lộc đã thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”. Chiều ngày 17 tháng 1 năm 1946, thị trấn Tân Uyên đồng loạt bùng lên nhiều ngọn lửa lớn thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”. Ngọn lửa biểu thị cho quyết tâm kháng chiến của Vệ quốc đoàn Biên Hoà và nhân dân Biên Hoà: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.


6 giờ sáng ngày 20 ngày 1 năm 1946, một đoàn tàu quân sự Pháp theo sông Đồng Nai tiến về Tân Uyên. Khi tàu cặp theo cù lao Mỹ Quới đến Võ Sa, phân đội 2 nổ súng và ném lựu đạn. Một quả lựu đạn lọt ngay vào ông khói tàu, nổ phá huỷ máy tàu. Hai chiếc còn lại nổ súng loạn xạ, rồi cặp hai bên mạn chiếc tàu hư quay đầu về hướng Biên Hoà.


9 giờ sáng ngày 22 tháng 1 năm 1946, thực dân Pháp tiếp tục cho hai tàu theo sông Đồng Nai lên thăm dò. Bộ đội Vệ quốc đoàn nổ súng bắn chết tên lính lái tàu. Chiếc tàu không người lái quay mũi cặp vào bờ, hơn 30 lính Pháp trên tàu bị bắn hạ. Chiếc tàu còn lại nổ súng chống trả, nhưng bị bộ đội nổ súng liên tục chặn đầu, cuối cùng phải quay lại kéo chiếc tàu hư chạy về Biên Hòa.


Sáng sớm ngày 25 tháng 1 năm 1946 (nhằm 23 tháng chạp âm lịch, tức ngày đưa ông Táo về trời theo phong tục của dân tộc), 4.000 quân Pháp có máy bay, tàu chiến và pháo binh yểm trợ tấn công vào Tân Uyên bằng nhiều mũi. Máy bay Pháp quần đảo bắn dọc hai bên bờ sông Đồng Nai từ Bình Chánh, Uyên Hưng, Tân Hòa, Tân Tịch, Lạc An, Mỹ Lộc, Tân Nhuận và dọc các ven rừng yểm trợ cho bộ binh tiến quân.


Cánh quân địch từ Phước Hoà xuống bị phân đội 3 phục kích ở Bình Mỹ chặn đánh, nhưng do tương quan lực lượng, đơn vị chỉ cầm chân địch được 30 phút sau đó phải rút lui. Dọc đường rút quân, phân đội cho đắp ụ và phục kích đánh địch hai bên đường buộc địch phải đối phó. Do vậy, phải đến chiều tối quân Pháp mới đến được Mỹ Lộc.


Trong khi đó, phân đội 2 cùng lực lượng Bình Xuyên phục kích ở Tân Long đánh địch từ Thủ Dầu Một xuống. Sau 1 giờ chiến đấu, ta diệt 120 quân Pháp, bắn cháy 6 xe quân sự, nhưng cũng do lực lượng chênh lệch ta phải rút lui.


Cánh quân địch trên hướng Tân Ba, vừa lên đến Xóm Gò thì bị bộ đội ta phục kích, diệt một số tên. Lực lượng ta rút về cầu Lò Rèn, rồi về Rạch Lăng. Khi quân giặc đến cầu Rạch Tre, do cầu đã bị ta phá sập địch dồn lại và tìm cách qua cầu. Lực lượng ta từ Tân Long, Rạch Lăng, Xóm Miễu đã vận động tạo thế gọng kìm bao vây tấn công địch. Quân địch bất ngờ bị tấn công, hàng ngũ rối loạn, phải kêu tăng viện. Hai chiếc tàu chiến của Pháp từ dưới sông nổ súng và đổ quân tiếp viện. Ta dùng trọng liên 12,7 ly và 13,2 ly bắn cháy 2 chiếc tàu, diệt hơn 40 tên địch, thu 18 súng, rồi rút về bảo vệ thị trấn Tân Uyên.


Cánh quân Pháp từ hướng Tân Phong (Biên Hoà) tiến lên Cây Đào bị bộ đội quận Châu Thành chặn đánh quyết liệt, sau đó, đơn vị vượt sông về Tân Tịch tham gia bảo vệ căn cứ.


Mãi đến chiều cùng ngày, các mũi tiên công của quân Pháp đã bao vây quanh thị trấn. Địch cho 4 máy bay lên bắn phá dữ dội vào các công sự của ta, pháo địch từ các tàu trên sông liên tục nã đạn. Toàn bộ thị trấn Tân Uyên chìm trong khói và lửa. Không thấy lực lượng ta có phản ứng, quân Pháp ồ ạt tiến vào thị trấn. Lực lượng ta từ các công sự nhất loạt nổ súng. Địch chết thêm một sô tên. Bộ đội ta rút về Xóm Đèn (Tân Hoà) bố trí lại trận địa. Địch chiếm được thị trấn Tân Uyên, nhưng 220 lính Pháp bỏ mạng, 6 xe quân sự, 2 tàu chiến đấu bị bắn cháy, âm mưu tiêu diệt cơ quan Khu bộ và tiêu diệt lực lượng kháng chiến bị thất bại. Lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà hy sinh 6 đồng chí, trong đó có Đào Ngọc Tiêm, phân đội trưởng, 14 chiến sĩ bị thương.


Cùng thời gian này, đồng chí Võ Tinh Quân được Khu bộ phân công đón bộ đội hải ngoại về đến Lạc An. Đây là bộ đội hải ngoại do Việt kiều tổ chức và tự trang bị vũ khí tốt. Lực lượng bộ đội hải ngoại gồm 3 tiểu đội do Nguyễn Khải chỉ huy.


Sau trận càn của quân Pháp kết thúc, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã tổ chức bố trí lại lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hoà như sau:

- Phân đội 1: Bổ sung một số tân binh, vũ khí thu được của địch trong trận chống càn Tân Uyên. Phân đội trưởng Nguyễn Ngọc Ngộ; phân đội phó chính trị: Nguyễn Văn Được; phân đội phó quân sự: Hoàng Phùng Đức. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu căn cứ 5 xã Mỹ Lộc, Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ cơ quan Khu bộ, các cơ quan tỉnh.

- Phân đội 2 (sáp nhập hai phân đội 2 và 3 cũ lại): Phân đội trưởng, Nguyễn Văn Lắm; phân đội phó chính trị: Nguyễn Văn Khoa; phân đội phó quân sự: Lê Ngọc Sinh. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu vực Bình Chánh, Thái Hoà, Tân Ba, Phước Thành.

- Phân đội 3: Lực lượng chủ yếu là bộ đội hải ngoại có tăng cường một số cán bộ. Phân đội trưởng: Nguyễn Khải; phân đội phó chính trị: Nguyễn Đình Vị; phân đội phó quân sự: Nguyễn Văn Nhiều. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu vực Bình Hoá, Tân Dân, Bình Mỹ.

- Phân đội 4: Phân đội trưởng Nguyễn Chức Sắc; Nguyễn Văn Cơ phân đội phó, chính trị viên Hoàng Lập Trung (công nhân nhà máy BIF); phân đội phó quân sự Đinh Quang Ân. Địa bàn hoạt động của phân đội ở khu vực Đồng Lách, Đại An, Tân Định và khu vực tả ngạn sông Đồng Nai.

- Phân đội 5: Là phân đội quốc tế trực thuộc Khu bộ nhưng do chỉ huy trưởng Vệ quốc đoàn Biên Hòa chỉ đạo. Phân đội trưởng: Lê Thoa; phân đội phó chính trị: Mạnh Xuân Tâm; phân đội phó quân sự: Nguyễn Văn Quảng. Địa bàn đứng chân hoạt động khu vực Bình Đa, Vĩnh Cửu, Tân Mai, Tam Hiệp (quận Châu Thành).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:06:30 PM »

3. Lực lượng Giải phóng quân quận Châu Thành

Song song với việc xây dựng trường huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu của tỉnh, quận ủy Châu Thành tỉnh Biên Hòa đã xúc tiến việc xây dựng lực lượng vũ trang của quận, bao gồm một bộ phận Thanh niên Tiền phong và lực lượng Công đoàn xung phong của nhà máy cưa BIF. Lực lượng 60 chiến sĩ tổ chức 5 tiểu đội trang bị 30 súng các loại. Doãn Tiến Nghiệp nguyên là đội (tương đương thượng sĩ) trong sân bay Biên Hoà đã đứng ra chỉ huy và huấn luyện. Đơn vị đứng chân khu vực Tân Phú - Thiện Tân (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai), lấy tên là Giải phóng quân Biên Hoà, thường được nhân dân gọi tên là bộ đội Sáu Ngọc (Lê Văn Ngọc, người thay thế đội Nghiệp chỉ huy đơn vị).


Ngày 25 tháng 10 năm 1945, thực dân Pháp đánh chiếm tỉnh lỵ Biên Hoà. Quận ủy Châu Thành rút ra khỏi tỉnh lỵ, về đứng chân khu vực Bình Đa và Bến Gỗ. Bộ đội Sáu Ngọc đã nhiều lần phối hợp với Đội Xung phong cảm tử do đồng chí Nguyễn Văn Ký và Hồ Văn Đại chỉ huy tập kích vào tỉnh lỵ, diệt tề trừ gian. Từ tháng 11 năm 1945, thực dân Pháp mở những cuộc hành quân đánh nống ra bên ngoài tỉnh lỵ theo hướng đường 24, 16, Bộ đội Sáu Ngọc phục kích ở những vị trí thuận lợi tập kích và ném lựu đạn vào xe bộ binh địch, gây cho chúng nhiều thương vong. Những lần sau để tránh thương vong, thực dân Pháp dùng lưới kẽm trùm kín mui xe để chống lựu đạn, bộ đội Sáu Ngọc có sáng kiến cột những móc sắt vào lựu đạn để khi ném móc vào lưới kẽm, lựu đạn nổ chụp vào càng gây nhiều sát thương cho giặc. Có những trận chờ khi giặc Pháp qua ngang đồn lính Nhật, bộ đội mới nổ súng, bọn lính Nhật trong đồng ngỡ quân Pháp bắn nên đánh trả, cả hai đều thiệt hại.


Ngày 26 tháng 1 năm 1946, bộ đội Sáu Ngọc đã vượt sông Đồng Nai sát cánh cùng bộ đội Tám Nghệ đánh địch ở Rạch Rớ, Tân Uyên. Ngày 15 tháng 3 năm một lần nữa bộ đội quận Châu Thành lại vượt sông Đồng Nai cùng bộ đội Tám Nghệ đánh chống càn của 5.000 quân Pháp vào chiến khu Lạc An. Tinh thần chiến đấu dũng cảm và phối hợp của bộ đội quận Châu Thành đã được Khu bộ trưởng Nguyễn Bình gửi thư khen ngợi.


Ngoài đơn vị bộ đội Giải phóng quân Biên Hòa, ở quận Châu Thành còn hình thành một số đơn vị vũ trang mang tính chất tự phát do những cá nhân yêu nước thành lập. Đó là bộ đội Nguyễn Chức Sắc, bộ đội Hồ Hòa ở Tân Phong... tổ chức nhiều hoạt động phối hợp cùng bộ đội Sáu Ngọc đánh địch ở khu vực ngoại vi tỉnh lỵ Biên Hoà.



4.Vệ quốc đoàn quận Long Thành

Đầu tháng 9 năm 1945, để chuẩn bị kháng chiến, Quận uỷ Long Thành chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Ngoài các đội dân quận tự vệ xã nào cũng có, từ 16 đến 21 tháng 9 năm 1945, quận Long Thành hình thành lực lượng vũ trang lấy tên là “Cộng hoà vệ binh” do đội Giám1 (Nguyên là chỉ huy một đội lính khố đỏ trước đây, sau Cách mạng tháng Tám được cử làm ủy viên quân sự quận Long Thành) chỉ huy, gồm 27 chiến sĩ, trang bị 11 súng cướp được của bọn cảnh sát trong Cách mạng tháng Tám, còn lại là tầm vông, giáo, mác... do các chiến sĩ tự trang bị. Ủy ban nhân dân quận Long Thành đã thành lập Ban tiếp tế do đồng chí Ba Liêm ủy viên tài chính huyện làm trưởng ban có nhiệm vụ vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, lương thực để tiếp tế cho đơn vị. Cuối tháng 9 năm 1945, từ Thủ Đức một đơn vị Cộng hoà vệ binh 50 chiến sĩ trang bị 12 súng rút về Long Thành, sáp nhập cùng lực lượng Cộng hoà vệ binh của quận.


Trung tuần tháng 10 năm 1945, Trại huấn luyện Du kích Vĩnh Cửu đã tăng cường 11 cán bộ quân sự vừa tốt nghiệp về Long Thành2 (Như các anh Võ Minh Như, Nguyễn Văn Toàn, Mỹ, Điệng, Ái, Võ Sĩ Đạo, Huỳnh Văn Đạo...), mang theo 11 khẩu súng. Theo chỉ đạo của Quận ủy Long Thành, các đồng chí đã mở lớp huấn luyện quân sự đầu tiên ở Long Thành tại Hang Nai, xã Phước An (nay là xã Phước Thọ huyện Nhơn Trạch) cho 46 thanh niên để bổ sung cho Cộng hoà vệ binh quận.


Cùng thời gian này Ban Đồng Nai ở tổng Thành Tuy Hạ1 (Ban Đồng Nai là ban thủ lãnh của đoàn Thanh niên Tiền phong của cơ sở cao su Ba lăng xi và công nhân Thành Tuy Hạ) xây dựng được một đơn vị vũ trang 20 chiến sĩ, trang bị 7 súng do Nguyễn Văn Đọt chỉ huy (thường gọi là thủ lãnh Đọt); một đơn vị với danh nghĩa công đoàn xung phong Phú Nhuận do Tư Lộc chỉ huy, có 4 súng trường, 1 súng săn. Sau hai lực lượng này sáp nhập lại thành một. Lực lượng vũ trang này không đặt dưới sự chỉ huy của Quận uỷ Long Thành.


Để có thêm vũ khí, đơn vị này phối hợp với lực lượng Bình Xuyên do Dương Văn Dương chỉ huy từ Sài Gòn kéo ra, tổ chức lặn mò súng trong một chiếc tàu chìm dưới sông Lòng Tàu, thu được 36 súng trường, 1 đại liên2 (Đơn vị của Nguyễn Văn Đọt được chia 18 khẩu súng trường và 1 đại liên). Đơn vị trở thành lực lượng được trang bị mạnh nhất trong các đơn vị vũ trang có mặt ở Long Thành lúc bấy giờ. Đến trung tuần tháng 10 năm 1945, lực lượng vũ trang thuộc Ban Đồng Nai sáp nhập vào Cộng hoà vệ binh quận Long Thành.


Ở Long Thành còn một lực lượng vũ trang từ nội thành Sài Gòn kéo ra do 4 tên Nguyễn Văn Du, Trịnh Công Tây, Nguyễn Văn Trực, Lê Văn Cảnh khoảng 70 tên, trang bị 20 súng về đóng quân ở khu vực thị trấn dài lên xã Phước Long. Chúng tự xưng là “đệ nhị sư đoàn”, nhưng thực chất là một toán phỉ chuyên cướp bóc, giết hại dân lành ở Long Thành. Cuối tháng 10 năm 1945, lực lượng Quốc vệ đội Long Thành kết hợp cùng lực lượng Cộng hoà vệ binh quận tổ chức giải tán lực lượng đệ nhị sư đoàn, bốn tên Tây, Du, Trực, Cảnh bị xử tội. Riêng tên đội Giám được khoan hồng trốn chạy về Sài Gòn.


Đến tháng 11 năm 1945, sau lớp đào tạo cán bộ quân sự của trường quân chính quận, quận ủy Long Thành quyết định sáp nhập lực lượng Cộng hoà vệ binh với lực lượng vừa tốt nghiệp, thành lập trung đội Giải phóng quân của Long Thành. Lực lượng gồm 200 quân, trang bị 92 súng các loại, 150 lựu đạn và hơn 1.000 viên đạn. Giải phóng quân quận Long Thành do Nguyễn Tam Nguyên chỉ huy trưởng, Huỳnh Văn Đạo chỉ huy phó, tổ chức thành 3 phân đội:

- Phân đội 1: Do Nguyễn Văn Đọt phân đội trưởng, Dương Ngọc Thạch phân đội phó, hoạt động từ thị trấn Long Thành đến Phước Thái (giáp Bà Rịa).

- Phân đội 2: Do Huỳnh Trước phân đội trưởng, hoạt động khu vực tổng Thành Tuy Hạ.

- Phân đội 3: Do Nguyễn Tam Nguyên kiêm nhiệm phân đội trưởng, hoạt động từ thị trấn xuống Bến Gỗ.


Đêm 26 tháng 1 năm 1946, hay tin thực dân Pháp chuẩn bị đánh chiếm Long Thành, Nguyễn Tam Nguyên bỏ chạy, lực lượng giải phóng quân quận Long Thành đổi tên thành Vệ quốc đoàn, do Huỳnh Văn Đạo làm trung đội trưởng và Nguyễn Văn Lung trung đội phó. Các phân đội được tổ chức lại: Phân đội 1 do Nguyễn Văn Toàn phân đội trưởng. Phân đội 2 do Võ Minh Như phân đội trưởng. Phân đội 3 do Dương Ngọc Thạch phân đội trưởng.


Vệ quốc đoàn Biên Hoà do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy đứng chân ở Tân Uyên; Giải phóng quân quận Châu Thành do Lê Văn Ngọc chỉ huy đứng chân khu vực Thiện Tân; Giải phóng quân quận Long Thành do Huỳnh Văn Đạo chỉ huy, mỗi đơn vị một hoàn cảnh ra đời khác nhau, nhưng đều do những cá nhân yêu nước, có quyết tâm kháng chiến chống thực dân Pháp vì mục tiêu độc lập dân tộc. Đó là 3 đơn vị tiền thân của Chi đội 10 Biên Hoà sau này.


Sự hình thành và tồn tại nhiều đơn vị vũ trang ở tỉnh Biên Hoà trong một thời đoạn lịch sử nhất định, phản ánh một thực tế khách quan ở địa phương. Trước hết, việc hình thành vũ trang là cần thiết cho cuộc kháng chiến, nhưng trình độ lãnh đạo quản lý của Tỉnh uỷ Biên Hoà bấy giờ còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu biết về quân sự, thiếu kinh nghiệm trong xây dựng tổ chức lực lượng vũ trang, dẫn đến việc không thể lãnh đạo thống nhất cảc lực lượng này. Thứ hai, khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra chỉ thị “Đảng Cộng sản Đông Dương tự giải tán” vào ngày 11 tháng 11 năm 1945, Tỉnh ủy lâm thời Biên Hoà do nghiên cứu không sâu, không hiểu đây là sách lược của Đảng, thực tế là rút vào bí mật để lãnh đạo kháng chiến, dẫn đến hệ quả Tỉnh ủy không tồn tại trong một thời gian. Các lực lượng vũ trang một là, dựa vào sự lãnh đạo của các quận ủy (như ở Châu Thành và Long Thành), hai là, dựa vào cá nhân có uy tín (như bộ đội Tám Nghệ ở Tân Uyên).


Việc thống nhất các lực lượng vũ trang riêng lẻ, đảm bảo sự lãnh đạo chung khi thực dân Pháp ngày càng mở rộng công cuộc xâm lược ở toàn quốc nói chung, ở tỉnh Biên Hoà nói riêng, là yêu cầu bức thiết của cuộc kháng chiến, đồng thời cũng là một quy luật để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất với quân đội, lực lượng nòng cốt cho cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ nền độc lập vừa giành được.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:12:39 PM »

II.CHI ĐỘI 10 HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CHIẾN ĐẤU, CÔNG TÁC

1.Quá trình thành lập Chỉ đội 10

Sau trận càn của thực dân Pháp ngày 25 tháng 1 năm 1946, cơ quan Khu bộ khu 7 chuyển về đóng ở Giáp Lạc, Bưng Kè, Lạc An. Ngày 20 tháng 2 năm 1946, trong cuộc hội nghị ở Lạc An, Khu bộ quyết định bỏ văn phòng và võ phòng, lập Bộ tham mưu, văn phòng khu bộ và phòng chính trị đặt dưới sự chỉ huy của Khu bộ trưởng và phòng Chính trị khu. Hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng để phát động du kích chiến tranh. Chương trình hành động cụ thể gồm: Củng cố bộ đội; tiêu diệt phản động; nắm chắc quần chúng; phát động du kích, đặc biệt trong nội thành Sài Gòn; thành lập các ban ám sát hoạt động trong nội thành....


Ngày 6 tháng 3 năm 1946, để tạo điều kiện chuẩn bị kháng chiến lâu dài, thể hiện thiện chí hoà bình, Chính phủ nước ta ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3. Thế nhưng chỉ 10 ngày sau, thực dân Pháp đã xé bỏ Hiệp định. Ngày 15 tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp mở cuộc càn quét vào 5 xã căn cứ với 5.000 quân có hải lục, không quân yểm trợ.


Sáng 15 tháng 3 năm 1946, địch chia làm nhiều cánh tấn công vào 5 xã căn cứ, đồng thời cho quân án ngữ phía tả ngạn sông Đồng Nai không cho quân ta từ căn cứ qua sông. Tránh đối đầu với quân địch đông hơn, Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn hạ lệnh phân tán lực lượng từng tiểu đội bám đánh địch, tổ chức phục kích đồng thời nghi binh thoát khỏi các gọng kìm của địch bày sẵn. Ý đồ tiêu diệt Khu bộ khu 7 của địch thất bại.


Sau trận càn này, bọn địch ở Tân Uyên tìm cách liên lạc với quân kháng chiến, chuyển thư của Bộ tư lệnh quân Pháp ở Nam Bộ đề nghị ta thương thuyết để thi hành Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3. Địa điểm thương thuyết ở miếu Bà Cô thuộc xã Thiện Tân (nay thuộc huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai).


Ngày 10 tháng 4 năm 1946, cuộc thương thuyết giữa phái đoàn Pháp do đại tá Phay-lê (Feyler) trưởng đoàn và đoàn quân sự miền Đông gồm Huỳnh Văn Nghệ, giáo sư Phạm Thiều, Lâm Thái Hoà, Võ Bá Nhạc, luật sư Lê Đình Chi đã diễn ra tại miếu Bà Cô. Trái với tinh thần thiện chí của phái đoàn ta, phái đoàn Pháp ngoan cố đề nghị quân kháng chiến miền Đông phải giải giới, nếu không sẽ giải quyết bằng sức mạnh quân sự. Sau 6 ngày cuộc thương thuyết hoàn toàn tan rã. Tuy không giành được kết quả trong thương thuyết, nhưng qua cuộc đấu trí này, phái đoàn ta đã nêu cao chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đồng thời hiểu sâu hơn và vạch trần âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền lừa mị của thực dân Pháp.


Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Lơ-cléc (Lecler) chỉ huy 8.000 quân Pháp có máy bay, pháo binh, tàu chiến tấn công vào 5 xã căn cứ Tân Uyên. Trời vừa mờ sáng, 10 chiếc máy bay của Pháp đã xuất hiện trên bầu trời, chia làm 3 tốp bắn phá dọc sông Đồng Nai từ Tân Hoà lên Lạc An, bắn dọc bìa rừng. Tàu địch hàn phía tả ngạn sông Đồng Nai; đồng thời đưa một bộ phận khoá chặt Khánh Vân, cắt đứt đường tiếp vận quan trọng của ta ở phía nam chiến khu.


Cánh quân địch từ Tân Uyên chia làm hai mũi: Mũi thứ nhất tiến lên Tân Hoà, chốt quân ở xóm Đèn, một bộ phận tiến đánh lên Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An. Mũi thứ hai hành quân xuyên rừng từ Tân Lợi vào chốt tại Đất Cuốc, một bộ phận đánh lên Hàng Dài xuôi về Sông Bé, hội quân ở Lạc An.


Cánh quân địch từ Phước Hoà xuống cũng chia làm hai mũi: Một mũi tiến vào Bà Đã, Xóm Voi một mũi từ Bình Cơ đánh vào khu vực Bàu Cá Trê, Hàng Dài.

Cánh quân địch theo đường sông gồm 4 tàu chở đầy lính đổ bộ lên Lạc An, đánh Giáp Lạc rồi phát triển vào Đất Cuốc.

Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà chỉ đạo không tập trung quân, mà phân tán lực lượng, đánh quấy rối tiêu hao sinh lực địch, khi có thời cơ thì tập trung tấn công chớp nhoáng rồi lại phân tán nhanh. Cuộc chiến đấu trong căn cứ diễn ra rất ác liệt. Đơn vị bảo vệ Khu bộ chặn đánh địch tại Giáp Lạc, diệt một số tên, buộc địch bỏ Giáp Lạc, chuyển hướng vào Đất Cuốc. Ngay trong đêm ta tổ chức nhiều lần tập kích địch ở Đất Cuốc, buộc địch luôn phải đối phó, mệt mỏi cả tinh thần và thể xác. Tại Lạc An, ta bắn hạ một máy bay Pháp (rơi tại Long Thành cách thị trấn 3 ki-lô-mét. Tên phi công chết, ta thu 1 khẩu súng colt).


Ngày 21 tháng 4, cánh quân địch từ Phước Hoà vào đã đánh chiếm xưởng sản xuất vũ khí của Khu ở Bưng Tre, đập phá máy móc, giết hại nhiều cán bộ, chiến sĩ quân giới, sau đó kéo ra tập trung ở Xóm Voi đóng quân ăn mừng. 15 giờ chiều ta bất ngờ tập kích vào đội hình địch, địch bị bất ngờ bỏ chạy tán loạn để lại gần 100 xác chết. Hàng trăm tên lính đang tắm dưới suôi không kịp lấy quần áo bỏ chạy vào rừng.


Đêm 21 tháng 4, ta lại tổ chức tập kích địch ở Lạc An. Địch tuy chưa vào được cơ quan lãnh đạo của Khu bộ, của tỉnh, nhưng chúng có thuận lợi là đã khoá được hai con đường giao thông tiếp tế của ta ở Khánh Vân và phía tả ngạn sông Đồng Nai; hàng ngày vẫn tiếp tục lùng sục, cho máy bay phát loa gọi hàng. Để nghi binh, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ phát lệnh cho các đơn vị chuẩn bị vượt sông, tổ chức những bộ phận đánh địch dọc theo sông từ Lạc An về Tân Tịch, đưa một số chiến sĩ bơi lặn giỏi qua tả ngạn chuẩn bị bến lên.


Tướng Lơ-cléc nhận được tin tình báo, ra lệnh chỉ để lại một bộ phận giữ các chốt đã chiếm, còn đại bộ phận kéo về phía tả ngạn sông Đồng Nai phục kích chờ quân ta vượt sông sẽ tiêu diệt. Thế nhưng đêm 22 tháng toàn thể các cơ quan Khu bộ, cơ quan tỉnh và lực lượng vũ trang ta đã bí mật rời xóm Sình lên xóm Ông Lình rút ra ngoài vòng vây của địch. Mãi đến ngày 24 tháng 4, quân Pháp mới phát hiện bị đánh lừa, thì toàn lực lượng ta trong căn cứ đã rút lui an toàn.


Sau trận càn, Khu bộ Khu 7 quyết định rời Tân Uyên về lập chiến khu Đông Thành ở khu vực Giồng Dinh (thuộc huyện Đức Hoà Thành tỉnh Tân An, nay thuộc tỉnh Long An). Công binh xưởng của Khu vẫn ở tại Chiến khu Đ và gắn bó chặt chẽ với Vệ quốc đoàn Biên Hoà.


Cuối tháng 4 năm 1946, đồng chí Nguyễn Đức Thuận, Bí thư Khu uỷ miền Đông triệu tập hội nghị cán bộ Biên Hoà tại Cù lao Vịt (Tân Triều). Đồng chí Trần Minh Trí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh uỷ Biên Hoà. Hội nghị ra quyết nghị về việc thống nhất lãnh đạo của Đảng với lực lượng vũ trang. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà được cử làm uỷ viên quân sự tỉnh Biên Hoà.


Với cương vị mới, chính thức, tháng 5 năm 1946, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ triệu tập hội nghị quân sự tỉnh Biên Hoà tại Xóm Đèn (xã Tân Hoà). Hội nghị ra nghị quyết về hai vấn đề:

- Nhập Vệ quốc đoàn quận Châu Thành với Vệ quốc đoàn Biên Hoà thành một đơn vị vũ trang thống nhất của tỉnh, lấy tên là Vệ quốc đoàn Biên Hòa.

- Xây dựng căn cứ kháng chiến lấy tên chiến khu Đ trên cơ sở 5 xã Mỹ Lộc, Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An.


Tháng 6 năm 1946, Bộ chỉ huy Khu 7 mở hội nghị quân sự toàn khu. Vấn đề thống nhất chỉ huy, tổ chức các lực lượng vũ trang hình thành các chi đội ở tỉnh được đề cập. Ngay trong tháng 6 năm 1946, Vệ quốc đoàn Biên Hoà và Vệ quốc đoàn quận Long Thành thống nhất lại thành lập Chi đội 10 Biên Hoà.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:15:32 PM »

2.Tổ chức biên chế Chi đội 10

Chi đội 10 Biên Hoà được tổ chức thành 3 đại đội phiên hiệu A, B, C quân số 1.100 người. Trang bị vũ khí gồm 380 súng trường, 13 súng máy gồm trung liên, đại liên, trọng liên 12,7 ly, 13,2 ly.

a. Ban Chỉ huy Chi đội:

Ban Chỉ huy Chi đội gồm các đồng chí: Chi đội trưởng: Huỳnh Văn Nghệ. Chi đội phó: Huỳnh Văn Đạo. Sau đó, đồng chí Đạo được Khu tăng cường về làm chi đội trưởng Chi đội 16 Bà Rịa, đồng chí Nguyễn Văn Lung từ Long Thành về làm chi đội phó Chi đội 10; đồng chí Cao Minh Căng, Chi đội phó. Chính trị viên: Phan Đình Công.


Các Ban của chi đội 10 gồm:

Ban quản trị: Do đồng chí Đào Văn Quang phụ trách.

Ban quân nhu: Do đồng chí Nguyễn Văn Lượng và Nguyễn An Hồng phụ trách.

Ban quân trang: Do Biện Ngọc Hưng phụ trách.

Ban quân y: Do bác sĩ Võ Cương phụ trách1 (Các cán bộ quân y có: các anh Yên, Trọng, Phan Văn Nghĩa, Huỳnh Kim Sa, Nguyễn Văn Ngân, Tỵ, Tịnh, Sang...; các chị Mỹ, Kiều, Trinh, Hoàng Lê, Minh Tâm, Hai (móm), Ca, Bi, Thơm, Hào, Cháo...).

Ban sanh sản tự túc: Do Trần Văn Quỳ phụ trách.

Ban trinh sát liên lạc: Do Võ Văn Mén, sau là Đào Văn Quý phụ trách; sau đó đổi tên Chi quân báo do Bùi Trọng Nghĩa làm trưởng ban.

Binh công xưởng (của Khu 7): Do đồng chí Bùi Cát Vũ giám đốc; Đặng Sĩ Hùng phó giám đốc; Nguyễn Cao làm chính trị viên. Binh công xưởng chi đội đóng ở Bưng Tre.

Kho vũ khí: Do Nguyễn Hi Vọng phụ trách.

Văn phòng chi đội: Đồng chí Cao Văn Bổ, chủ nhiệm.

Thư ký Ban chỉ huy: Đồng chí Hoàng Kim Chung.


Cuối năm 1946, đồng chí Phan Đình Công chuyển về công tác ở Bà Rịa, đồng chí Võ Cương được phân công kiêm nhiệm chính trị viên chi đội; Phòng Chính trị Chi đội được tăng cường các đồng chí hoạ sĩ Lê Vinh, Ngô Tiến, Nguyễn Văn Thọ (Thọ lai), anh Thành. Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hoà đóng ở Thường Lang.


b. Đại đội A:

Ban Chỉ huy Đại đội A gồm các đồng chí: Võ Tinh Quân (Đại đội trưởng), Nguyễn Văn Quang (Đại đội phó), Nguyễn Đình Vị (Chính trị viên).

Đại đội A có 3 trung đội:

- Trung đội 1, đóng quân trên địa bàn chiến khu Đ: Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Ngộ; trung đội phó: Hoàng Phùng Đức; Chính trị viên: Nguyễn Văn Được.

- Trung đội 2, đứng chân ở Bình Chánh, Thái Hoà, Tân Ba, Phước Thành quận Tân Uyên. Trung đội trưởng: Nguyễn Văn Lắm; Trung đội phó: Hoàng Lập Trung; Chính trị viên: Hoàng Đình Cận.

- Trung đội 3, đứng chân trên địa bàn Bình Hoá; Tân Dân, Bình Mỹ (Tân Uyên). Trung đội trưởng: Nguyễn Khải; Trung đội phó: Nguyễn Văn Nhiều; Chính trị viên Nguyễn Thanh Đạm.


c. Đại đội B:

Ban Chỉ huy Đại đội B gồm các đồng chí: Lê Văn Ngọc (Đại đội trưởng), Đinh Quang An (Đại đội phó), Nguyễn Văn Khoa (Chính trị viên).

Đại đội B có 3 trung đội:

- Trung đội 4 hoạt động vùng Đồng Lách, Đại An, Tân Định quận Tân Uyên và chuyển dần về hoạt động ở Xuân Lộc. Trung đội trưởng: Đinh Quang Ân (kiêm nhiệm); Trung đội phó: Lê Văn Chừng; Chính trị viên: Ngô Đình Tiêu.

- Trung đội 5 đóng quân trên địa bàn Bình Đa, Vĩnh Cửu quận Châu Thành. Trung đội trưởng: Lê Thoa; Trung đội phó: Nguyễn Văn Quảng; Chính trị viên: Mạnh Xuân Tâm.

- Trung đội 6 (thành lập sau này) hoạt động khu vực quận Xuân Lộc. Trung đội trưởng Võ Văn Vũ (Vũ Ba kẹ).


d. Đại đội C:

Ban Chỉ huy Đại đội C gồm các đồng chí: Lương Văn Nho (Đại đội trưởng), Nguyễn Văn Toàn (Đại đội phó), Lưu Văn Phảng (Chính trị viên)

Đại đội có 2 trung đội:

- Trung đội 7, hoạt động khu vực quận Long Thành lên giáp tỉnh Bà Rịa. Trung đội trưởng: Võ Minh Như; Trung đội phó: Nguyễn Điệng; Chính trị viên: Nguyễn Dự.

- Trung đội 8, Trung đội trưởng: Nguyễn Văn Mỹ; Trung đội phó: Nguyễn Hữu Nhẫn; Chính trị viên: đồng chí Đức.


Để chăm sóc sức khỏe, cứu thương cho cán bộ chiến sĩ, Ban chỉ huy Chi đội xây dựng bệnh viện của đơn vị ở xã Thường Lang. Bệnh viện ban đầu gồm có bác sĩ Võ Cương, bác sĩ Tài. Sau đó để tránh địch càn quét, bệnh viện chuyển lên đóng ở Thuộc Nghĩa, Hàng Dài, sau còn xây dựng thêm bệnh viện ở Suối Cá để đón nhận thương binh từ trạm cấp cứu Mỹ Lộc (do Phan Văn nghĩa, Huỳnh Văn Sa phụ trách). Tháng 2 năm 1947, quân y Chi đội mở lớp cứu thương khóa Yersin tại Mỹ Lộc với 40 học viên. Lớp do bác sĩ Võ Cương và các chị Lương, Ngọc, Tường, nguyên tốt nghiệp trường Y tá quốc gia giảng dạy.


Cuối năm 1946, đầu năm 1947, hệ thống quân y được triển khai tới các Đại đội, gọi là Quân y xá. Quân y xá Đại đội A do đồng chí Lê Kim Ngân làm quân y xá trưởng1 (Đồng chí Ngân hi sinh năm 1948 trên đường đi công tác). Quân y xá Đại đội B đóng tại Nôm Trường (Trị An) do đồng chí Phạm Văn Ngư làm Quân y xá trưởng. Quân y xá Đại đội C đóng tại Vườn Điều, Bà Bông huyện Long Thành do đồng chí Trần Văn Tươi làm Quân y xá trưởng2 (Cả 3 đồng chí Ngân, Ngư, Tươi đều làm y tá nhà thương Chợ Rẫy ra kháng chiến).


Trong năm 1947, Quân y Chi đội đã tổ chức được Phòng bào chế dược ở Ông Đồng do anh Phan Văn Sổ; phòng Nha y do đồng chí Tám Cửu và đồng chí Chín Chương phụ trách.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:16:34 PM »

3.Chi đội 10 với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ở Biên Hoà

Chi đội 10 Biên Hoà thành lập trong điều kiện thực dân Pháp về cơ bản đã kiểm soát các vùng đô thị, thị trấn, lấn chiếm nhiều vùng nông thôn, trong đó xây dựng một số đồn bót ngay trong căn cứ chiến khu Đ, đồng thời nhiều thanh niên xuất thân nông dân, công nhân, học sinh từ các vùng tạm chiếm thoát ly ra căn cứ xin gia nhập bộ đội. Việc tiếp tế nuôi quân, việc nắm tình hình địch để bộ đội hoạt động gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, để góp phần giải quyết những khó khăn trên, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã có sáng kiến xây dựng các Quận quân sự, hoạt động trong các vùng liên xã. Quận quân sự có các nhiệm vụ:

- Tự xây dựng tổ chức, mỗi quận hình thành một tiểu đội du kích tập trung trở lên. Ban đầu Chi đội cấp cho mỗi quận quân sự từ 1 đến 3 khẩu súng trường, sau đó tự trang bị cho mình bằng súng cướp được của địch.

- Tổ chức ở mỗi xã một tiểu đội du kích bán tập trung, khi cần mới tập trung, trang bị vũ khí tự tạo.

- Trinh sát nắm tình hình địch, báo cáo cho Ban Chỉ huy chi đội; đảm đương nhiệm vụ tổ chức địa bàn cho chi đội hoạt động đánh địch và cùng chi đội chiến đấu.

- Vận động các viên chức hội tề, binh lính ngụy và gia đình làm việc cho ta, trừng trị bọn tề nguỵ, Việt gian ngoan cố, phản động ác ôn.

- Tạm thời làm thay nhiệm vụ chính quyền ở cơ sở, thu thuế trong nhân dân, tiếp nhận sự ủng hộ của nhân dân chuyển về Chi đội nuôi quân.


Ban chỉ huy chi đội 10 Biên Hoà bước đầu tổ chức được 9 quận quân sự ở Châu Thành, Tân Uyên và Xuân Lộc như sau:

Quận quân sự 1: Do đồng chí Trừ Sùng Thới phụ trách, hoạt động ở các xã Mỹ Lộc, Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An.

Quận quân sự 2: Do đồng chí Lê Ngọc Có và Lê Công Thính phụ trách, hoạt động tại các xã Bình Long, Lợi Hoà, Cây Đào (Tân Phú) thuộc quận Tân Uyên.

Quận quân sự 3: Do đồng chí Phạm Văn Anh, Phạm Văn Thăng, Cổ Tấn Chương phụ trách, hoạt động ở các xã Bình Hoá, Bình Chánh, Tân Dân, Mỹ Quới, Tân Ba, Phước Thành, Thái Hoà, Bình Mỹ (quận Tân Uyên).

Quận quân sự 4: Do đồng chí Trần Văn Xã (Tư Xã) phụ trách, hoạt động ở các xã Bình Hoà, Tân Phong, Tân Mai (quận Châu Thành).

Quận quân sự 5: Do đồng chí Châu Ngọc Đức phụ trách, hoạt động ở các xã Tân Hạnh, Hoá An, Bửu Hoà, Tân Vạn, Bình Trị (quận Châu Thành).

Quận quân sự 6: Do đồng chí Hoàng Tam Kỳ phụ trách, hoạt động ở Bình Đa, Vĩnh Cửu thuộc xã Tam Hiệp, xã Hiệp Hoà (quận Châu Thành).

Quận quân sự 7: Do đồng chí Đỗ Bồng Long phụ trách, hoạt động ở các xã Phước Hoà, Phước Vĩnh, Phước Sang, An Linh (quận Tân Uyên).

Quận quân sự 8: Do đồng chí Đỗ Duy Tý phụ trách hoạt động ở khu vực Trảng Bom, Bàu Côi, Phước Cang quận Châu Thành giáp ranh quận Long Thành.

Quận quân sự 9: Do đồng chí Đỗ Thanh Tùng và Võ Văn Vũ phụ trách, hoạt động khư vực đồn điền cao su thuộc các xã từ Dầu Giây lên Bình Lộc, Túc Trưng, Định Quán (quận Xuân Lộc).

Sau này còn thành lập thêm quận quân sự 10 do Huỳnh Công Tâm (Tư Ước), Tôn Quang Bảo, Nguyễn Nhạc phụ trách, hoạt động khu vực từ ngã ba Dầu Giây ra giáp Bình Thuận.


Như vậy với việc xây dựng các quận quân sự, Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hòa đã thể hiện tính chủ động sáng tạo trong hoạt động, xây dựng được chân rết bên dưới cho chi đội hoạt động thuận lợi hơn. Có thể nói bước đầu, tỉnh Biên Hòa đã xây dựng được 3 hình thức vũ trang từ tỉnh xuống quận, xã, tiền thân của 3 thứ quân sau này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:25:45 PM »

4.Vừa xây dựng vừa chiến đấu

a.Từ các Quận quân sự đến các Ban công tác liên thôn:

Chi đội 10 Biên Hòa hình thành cũng là lúc thực dân Pháp cơ bản đã kiểm soát được vùng thị xã, thị trấn, xây dựng các bộ máy tề ở huyện, xã, tể chức hệ thống đồn bót cả ở đô thị, nông thôn, các đồn điền cao su. Đơn vị đứng chân chiến đấu trên một chiền trường rộng (trên 11.000km2), địa hình vừa có rừng núi, đồng bằng, đô thị, sông rạch khá chằng chịt, với nhiều lộ giao thông quan trọng gồm cả đường bộ, đường thủy và đường sắt. Biên Hoà là đô thị trung tâm của miền Đông Nam Bộ, lực lượng quân Pháp trên địa bàn gồm có: Trung đoàn 22 bộ binh thuộc địa và 1 tiểu đoàn của trung đoàn 11 bộ binh thuộc địa. Sở chỉ huy trung đoàn đóng tại thị xã Biên Hoà. Tiểu khu Biên Hoà gồm có 4 phân tiểu khu: Tân Mai, Xuân Lộc, Long Thành và Phước Hoà. 2 tiểu đoàn biệt kích (commandos), một do Paren chỉ huy đóng tại Cây Chàm thị xã Biên Hoà; một do Henry Voaro chỉ huy đóng ở Xuân Lộc. Lực lượng ứng chiến cơ động của địch gồm có: 1 tiểu đoàn cơ giới; 1 tiểu đoàn pháo binh; 1 đội thiết giáp. Ngoài ra khi cần mở những cuộc hành quân lớn, địch có thể tăng cường không quân, thuỷ quân và lực lượng cơ động Nam Đông Dương (bán lữ đoàn Lê dương số 13). Ngoài ra ở thị xã Biên Hoà, Long Thành, thực dân Pháp còn lợi dụng tôn giáo Cao Đài xây dựng những đơn vị vũ trang chống phá cách mạng.


So sánh tương quan lực lượng giữa thực dân Pháp và lực lượng vũ trang kháng chiến ở Biên Hoà - nòng cốt là Chi đội 10, rõ ràng có sự chênh lệch về quân số. Tuy nhiên hoạt động của Chi đội 10 có nhiều thuận lợi: Cán bộ, chiến sĩ am hiểu địa thế chiến trường; có sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ; lại được quần chúng nhân dân, thông qua các đoàn thể cách mạng ủng hộ nhiệt tình, đồng thời cũng là tai mắt của kháng chiến. Ngoài căn cứ Chiến khu Đ được xây dựng ở 5 xã thuộc quận Tân Uyên, Biên Hoà còn có căn cứ rừng Sác ở vùng ngập mặn cận biển và một hệ thống những căn cứ du kích áp sát thị xã Biên Hoà như Bình Đa, Hố Cạn, Phước Cang, Đại An, Tân Định, Phước An, căn cứ núi Chứa Chan (Xuân Lộc)... Điều quan trọng hơn, Ban chỉ huy chi đội đã bố trí được các đại đội, trung đội đứng chân ở những vùng trọng điểm của tỉnh, trong đó đại đội A chủ yếu ở khu vực căn cứ và quận Tân Uyên (hữu và tả ngạn sông Đồng Nai), đại đội B (hai trung đội) đứng chân hoạt động khu vực thị xã Biên Hoà (quận Châu Thành, quận Xuân Lộc, nơi địch có nhiều cơ sở khai thác cao su, hệ thống giao thông quan trọng như lộ 1, lộ 20, đường 15, đường sắt); đại đội C đứng chân ở khu vực quận Long Thành án ngữ lộ 15 từ Biên Hoà đi Bà Rịa, tuyến sông Thị Vải, Lòng Tàu nối với biển Đông, có kho bom đạn Thành Tuy Hạ. Thế triển khai của Chi đội còn mở rộng hơn nhờ tổ chức được các quận quân sự, hình thành thế chân rết ở cơ sở hoạt động có hiệu quả.


Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Chính phủ ta ký với Pháp bản Tạm ước. Quân Pháp ở Biên Hoà rút một số đơn vị bộ binh đi chuẩn bị mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước, rút bỏ một số đồn bót chúng đóng sâu trong căn cứ ta ở Tân Uyên, Long Thành. Vùng căn cứ kháng chiến được khôi phục và mở rộng; bộ máy Đảng, Chính quyền được củng cố. Các đội du kích ở quận và cơ sở tiến hành diệt ác ôn, trấn áp tề điệp, làm chủ được xã ấp, việc xây dựng cơ sở kháng chiến phát triển, hệ thống giao thông mở rộng, tạo điều kiện tiếp tế lương thực, hàng tiêu dùng cho bộ đội.


Trước chuyển biến tình hình có lợi cho kháng chiến, để tránh chồng chéo chức năng với chính quyền, Ban Chỉ huy chi đội 10 Biên Hoà quyết định chuyển các quận quân sự thành các Ban công tác liên thôn, có đội du kích tập trung, là tiền thân của các quận đội dân quân sau này. Dưới các Ban công tác liên thôn là các Ban công tác xã có du kích xã (tiền thân các xã đội). Các ban công tác liên thôn là một tổ chức quân sự giúp việc cho Uỷ ban hành chính quận, nhưng do Ban chỉ huy Chi đội 10 chỉ huy và quyết định về kế hoạch hoạt động.


Ban công tác liên thôn 1: Do Trừ Sùng Thới trưởng ban, địa bàn hoạt động các xã Tân Hoà, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Mỹ Lộc thuộc quận Tân Uyên.

Ban công tác liên thôn 2: Do Lê Ngọc Có trưởng ban và Lê Công Thính phó ban, địa bàn hoạt động các xã Bình Long, Lợi Hoà, Tân Phú (Cây Đào) quận Tân Uyên.

Ban công tác liên thôn 3: Do Phạm Văn Anh trưởng ban, Cổ Tấn Chương phó ban, địa bàn hoạt động ở các xã Bình Hoá, Bình Chánh, Tân Dân, Bình Mỹ, Phước Thành, Thái Hoà, Mỹ Quới, quận Tân Uyên.

Ban công tác liên thôn 4: Do Trần Văn Xã trưởng ban, hoạt động các xã Bình Hoà, Tân Phong, Tân Mai thuộc quận Châu Thành.

Ban công tác liên thôn 5: Do Châu Ngọc Đức trưởng ban, hoạt động ở các xã Tân Hạnh, Hoá An, Bửu Hoà, Tân Vạn, Bình Trị thuộc quận Châu Thành.

Ban công tác liên thôn 6: Do Hoàng Tam Kỳ trương ban, Nguyễn Văn Đồng phó ban, hoạt động ở các xã Hiệp Hoà, Tam Hiệp có ấp Vĩnh Cửu và Bình Đa, căn cứ dư kích của quận Châu Thành.

Ban công tác liên thôn 7: Do Đỗ Bồng Long trưởng ban, Lý Quới và Lê Văn Thước phó ban, hoạt động ở các xã Phước Hoà, Phước Vĩnh, Phước Sang, An Linh thuộc quận Tân Uyên (sau đổi thành quận Sông Bé).

Ban công tác liên thôn 8: Do Đỗ Duy Tý trưởng ban, hoạt động vùng Bàu Côi thuộc quận Châu Thành và Phước Cang thuộc quận Long Thành.

Ban công tác liên thôn 9: Do Đỗ Thanh Tùng trưởng ban, Trần Văn Lộc, Võ Văn Đức phó ban, phụ trách các xã và sở cao su Dầu Giây, Bình Lộc, Túc Trưng, Định Quán và dọc quốc lộ 20 thuộc quận Xuân Lộc.

Ban công tác liên thôn 10: Do Huỳnh Công Tâm trưởng ban, Nguyễn Văn Nhạc, Tôn Quang Bảo phó ban, phụ trách các xã và sở cao su Bình Lộc, Gia Ray, Bảo Chánh và dọc quốc lộ 1 từ An Lộc đến Gia Huynh thuộc quận Xuân Lộc.

Ban công tác liên thôn 11: Do Nguyễn Văn Xuất trướng ban, phụ trách các xã Tam An, An Lợi, Phước Tân, Tam Phước, Long Điềm thuộc quận Long Thành.

Ban công tác liên thôn 12: Do Phạm Tự Do trưởng ban, phụ trách các xã Long Tân, Phú Hội, Phú Mỹ, Phước Thiền... thuộc quận Long Thành.

Ban công tác liển thôn 13: Do Nguyễn Văn Lạch trưởng ban, phụ trách các xã Phước Lý, Phước Khánh, Phước An, Phú Hữu thuộc quận Long Thành.

Ban cộng tác liên thôn 14: Do Nguyễn Trọng Trường trưởng ban, phụ trách các xã Phước Kiễn, Phước Lai, Phước Long, Phước Thọ thuộc quận Long Thành.

Như vậy có thể nói đến cuổì năm 1946, trên địa bàn tỉnh Biên Hoà đã hình thành 3 hình thức tổ chức vũ trang: Các đại đội tập trung của chi đội; các đội du kích tập trung của Ban công tác liên thôn; du kích các xã, là cơ sở để xây dựng 3 thứ quân ở địa phương sau này. Trong lúc đó, ở trong thị xã, Ban chỉ huy chi đội chuyển các tổ ám sát làm nhiệm vụ diệt trừ ác ôn, thành các Ban công tác thành, tiền thân của biệt động đội Biên Hoà sau này.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:27:14 PM »

b.Những trận đánh giao thông đường sắt:

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và khẳng định toàn dân tộc Việt Nam quyết chiến đấu bảo vệ nền độc lập dân tộc: “Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.


Trước đó vào ngày 16 tháng 12 năm 1946, Trung ương đã điện chỉ đạo Xứ ủy Nam Bộ “Nhiệm vụ của Nam Bộ là không cho Pháp đem hết tài sản chiếm được ở Nam Bộ ra đánh Trung, Bắc”.

Đêm 31 tháng 12 năm 1946, rạng sáng ngày 1 tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội 10 nhận được điện của đồng chí Võ Nguyên Giáp:

'“Tổ quốc lâm nguy!

Giờ chiến đấu đã đến!

Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch và Chính phủ, nhân danh Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng chỉ huy, tôi hạ lệnh cho toàn thể bộ đội Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ Trung, Nam, Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông tới mặt trận giết giặc cứu nước”.



Chi đội trưởng Chi đội 10 vừa đọc xong nhật lệnh của Tổng chỉ huy, thì từ hướng thị xã Biên Hoà, những loạt nổ lớn vang lên, mở đầu cho trận tấn công vào thị xã Biên Hoà lần thứ hai. Trận đánh có sự phối hợp của trung đội 5 (Lê Thoa), trung đội 1 (Nguyễn Ngọc Ngộ), Ban công tác liên thôn 4 (Trần Văn Xã) và Binh công xưởng chi đội 10 do Bùi Cát Vũ chỉ huy.


Đúng 2 giờ sáng ngày 1 tháng 1 năm 1947, Ban công tác liên thôn đưa các chiến sĩ binh công xưởng với khẩu côi 81 ly vừa chế tạo từ hướng Bửu Long vào Sở Cải xây dựng trận địa. Cùng lúc trung đội 5 từ bến đò An Hảo vượt sông Đồng Nai vào ém quân ở khu vực đài Kỷ niệm, đột nhập đốt cháy phòng thông tin của địch ở chợ Biên Hoà và rải truyền đơn của Việt Minh kêu gọi nhân dân nội thành tham gia ủng hộ kháng chiến. Trung đội 1 phục kích ở khu vực chòm mã ngả ba Dốc Sỏi chặn viện binh Pháp từ sân bay ra.


15 quả đạn cối 81 ly đã bắn vào thành Săng Đá của Pháp, gây nổ và tạo thành những cột lửa cao cháy sáng rực một góc thành. Cùng lúc phòng thông tin ở chợ Biên Hoà bị thiêu rụi, trạm canh trước dinh tỉnh trưởng Biên Hoà bị tấn công và đốt cháy. Nhân dân Biên Hoà vô cùng phấn khởi.


Trận tấn công thị xã Biên Hoà lần thứ hai là thực tế biểu hiện ý chí quyết tâm của Đảng bộ, quân dân Biên Hoà thực hiện sự chỉ đạo của Tổng chỉ huy, cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc; đồng thời là trận đánh kỷ niệm một năm ngày quân dân Biên Hoà tấn công thị xã (1-1-1946).


Trung tuần tháng 1 năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội triệu tập các đại đội trưởng (A, B, C), Giám đốc binh công xưởng chi đội và trưởng chi quân báo họp tại Văn phòng Ban chỉ huy (Tân Tịch), nhằm triển khai nhiệm vụ: “Không cho giặc Pháp cướp của Nam Bộ ra đánh Bắc, Trung Bộ”. Hội nghị nhận định muốn ngăn chặn dịch chuyển hàng chuyển quân ra Trung, Bắc, phải mở những trận đánh giao thông. Vấn đề quan trọng là chọn điểm mở mặt trận. Trên cơ sở nhận định: Quốc lộ 14, quốc lộ 20 cũng là giao thông huyết mạch của địch ra miền Trung, nhưng nếu xử dụng những con đường này địch phải đi đường vòng lên Tây Nguyên mới trở lại miền Trung, đường vừa xa vừa đèo dốc, do vậy Ban chỉ huy nhất trí chọn quốc lộ 1 làm mục tiêu tiến công các đoàn xe giao thông địch, đặc biệt đường sắt Bắc-Nam thuộc địa phận quận Xuân Lộc là mục tiêu chính.


Hội nghị chưa xong thì ngày 18 tháng 1 năm 1947, thực dân Pháp với lực lượng khoảng 2.000 quân có tàu chiến và pháo binh, bộ binh tấn công vào chiến khu Đ. Tuy nhiên nhờ đã bố phòng và cảnh giác cao, đại đội A phối hợp cùng các Ban công tác liên thôn ngăn chặn địch có hiệu quả, tiêu diệt nhiều bộ binh địch, đặc biệt bãi cọc chống nhảy dù ở khư vực trảng trống đã phát huy hiệu quả cao. Trận càn của Pháp bị bẻ gãy, ta thu nhiều vũ khí, máy thông và nhiều vải dù của địch.


Xuân Lộc là chiến trường xa, gặp nhiều khó khăn, việc đưa bộ đội với lực lượng lớn về tác chiến chắc chắn gặp nhiều khó khăn nếu không có sự giúp đỡ và ủng hộ của quần chúng, tuy bị giặc kìm kẹp chặt vẫn luôn hướng về kháng chiến. Trên cơ sở nhận định này, Ban chỉ huy giao nhiệm vụ cho đại đội B nghiên cứu kết hợp cùng Ban công tác liên thôn 9 và 10, thực hiện một trận đánh để tạo niềm tin với nhân dân địa phương, tạo điều kiện cho Chi đội về đứng chân hoạt động trong đợt.


Theo báo cáo của hai Ban công tác liên thôn, đại đội trưởng Lê Văn Ngọc quyết định chọn đồn Bình Lộc nằm trong đồn điền cao su Bình Lộc do 1 trung đội Lê dương đóng giữ, có công sự kiên cố, trang bị 1 cối 60 ly, một đại liên, 1 trung liên trên chòi gác, có sự hỗ trợ và chi viện của hai phân chi khu Dầu Giây và Túc Trưng.


Đồng chí Đinh Quang Ân, đại đội phó đại đội B kiệm trung đội trưởng trung đội 4 đã hoá trang thành công nhân để xâm nhập vào đồn điền nghiên cứu thực địa, kiểm tra tình hình địch do cơ sở của hai Ban công tác liên thôn cung cấp. Nữ cơ sở Nguyễn Thị Minh đã đưa đồng chí vào tiếp xúc với linh mục Khuê và được linh mục giúp đỡ hoá trang thành linh mục đi ra khỏi sự kiểm soát của thực dân một cách an toàn.


Một đêm đầu tháng 2 năm 1947, trung đội 4 và trung đội 6 để lại hai phân đội chặn viện bên ngoài, bí mật vào tiếp cận bao vây đồn Bình Lộc. Toàn bộ bọn lính trong đồn đều bị bất ngờ. Ta bắt sống toàn ban chỉ huy đồn, tên chủ sở đồn điền và binh lính, thu toàn bộ súng. Đồng chí Nguyễn Văn Khoa, chính trị viên đại đội cho tập hợp toàn thể tù binh nghe về chính sách của Việt Minh và khuyên bọn binh lính, sĩ quan đồn không nên chống phá cách mạng. Tên chủ sở phải làm cam kết không gây khó khăn cho công nhân và hứa đóng thuế cho kháng chiến. Toàn bộ địch đều được ta khoan hồng tha cho về nhà. Đồn Bình Lộc bị san bằng.


Trong lúc đó, Ban công tác liên thôn 9 và 10 cùng công nhân tháo gỡ máy móc thiết bị nhà máy chuyển lên xe bò chở ra khu kháng chiến; tịch thu và đốt toàn bộ những giao kèo, sổ sách của đồn điền, phóng hoả đốt văn phòng, nhà mủ, nhà kho của đồn điền.

Sáu tháng sau đồn điền Bình Lộc vẫn chưa khôi phục được cơ sở sản xuất.

Trận đánh đồn Bình Lộc thắng lợi gây tiếng vang lớn. Chính quyền, Mặt trận Việt Minh quận Xuân Lộc có điều kiện mở rộng gây dựng cơ sở, phát động phong trào hũ gạo nuôi quân rộng rãi, kể cả những nhà sư (chùa Xuân Hoà) cũng trở thành cơ sở tiếp nhận tiếp tế của quần chúng cho kháng chiến.


Trong lúc đó, trên chiến trường quận Tân Uyên, Đại đội A đã tổ chức đánh diệt đồn Đất Cuốc, mở thông đường liên lạc Lạc An - Đất Cuốc - Đất Đạo - Sở Tiêu. Chiến khu Đ được mở rộng. Các cơ quan chuyển ra Tân Hoà, Mỹ Lộc, Quân y viện chuyển ra Suối Cá, Mỹ Lộc, Binh công xưởng chuyển về Đất Cuốc... Sau đó, đại đội A tiếp tục tiến ra đường 16, nhổ bót Thái Hoà, đánh hàng loạt đồn bót địch trên đường 16; đánh địch ở Phước Hoà phát triển lên quốc lộ 14 đến Đồng Xoài.


Phía tả ngạn sông Đồng Nai, Trung đội 5 cùng các ban công tác liên thôn 4, 5, 6 tổ chức tập kích đồn bót địch trên đường 24, 15, bức rút bót Vĩnh Cửu, bót Mội nhĩ Bình Đa, mở rộng căn cứ du kích Bình Đa, áp sát thị xã Biên Hoà.


Thế làm chủ của ta mở rộng, căn cứ xây dựng vững chắc, thế bố trí của các Ban công tác liên thôn cùng du kích các xã được triển khai rộng. Đó là điều kiện thuận tiện để ban Chỉ huy chi đội 10 yên tâm chuyển một bộ phận lớn lực lượng về Xuân Lộc mở một loạt trận phục kích giao thông đường sắt.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 715



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:28:29 PM »

Trận Bảo Chảnh (19-5-1947)

Đoạn đường xe lửa Bảo Chánh nằm trên cung đường xe lửa Nam-Bắc cách thị trấn Xuân Lộc chỉ độ 10 ki-lô-mét, đường xe lửa chạy xuyên qua khu rừng già, đường tiếp viện duy nhất của thực dân Pháp cũng chính là đường sắt. Với ta, địa điểm Bảo Chánh có nhiều thuận lợi: Gần với điểm tập kết của lực lượng bộ đội ta ở Suối Rết, việc chuyển quân và rút quân khi cần đều thuận lợi vì gần với căn cứ Chứa Chan của quận Xuân Lộc giáp liền với khu vực Thọ Vực, Định Quang, Bình Hoà, là khu vực rừng.


Lực lượng tham gia trận đánh gồm Đại đội B với hai trung đội 4 và 6 phối hợp cùng du kích hai Ban công tác liên thôn 9 và 10. Trang bị vũ khí của bộ đội có trung liên, tiểu liên, súng trường, lựu đạn. Binh công xưởng Chi đội 10 tăng cường 1 quả địa lôi kích nổ điện được chế tạo từ quả đạn pháo 75 ly.


Buổi trưa ngày 19 tháng 5 năm 1947, mặt trời lên cao. Đoàn xe lửa của địch chầm chậm chạy vào trận địa phục kích. Quả địa lôi phát nổ buộc đoàn xe dừng lại. Bộ đội ta từ cánh rừng hai bên đường xe lửa vận động ra, tiếng hô xung phong vang dậy rừng. Lực lượng ta vận động chiếm các toa tàu. Bọn lính hộ tống trên các toa tàu không kịp phản ứng, một số bị tiêu diệt, một số ôm súng chạy vào rừng, chạy ngược về hướng Xuân Lộc, một số đầu hàng tại chỗ. Ta thu một khẩu đại liên Hốt-kít, nhiều quân trang, quân dụng, lương thực thực phẩm, trong đó có nhiều bánh mì, cá hộp...


Trận ra quân đầu tiên ở Bảo Chánh thắng lợi hoàn toàn. Bộ đội ta nhanh chóng rút về núi Chứa Chan, mở hội nghị tổng kết trận đánh, chuẩn bị cho các trận sau. Riêng lực lượng hai Ban công tác liên thôn trở về địa phương, bố trí đội hình sẵn sàng đánh trả khi địch phản kích, ruồng càn giết hại nhân dân.


Lực lượng về đến căn cứ, cũng là lúc đồng chí Võ Văn Lắm, chiến sĩ Ban công tác liên thôn 10 trong lớp áo nhà sư đã hoàn thành nhiệm vụ hướng dẫn đoàn cán bộ cao cấp của Trung ương vào chỉ đạo phong trào kháng chiến Nam Bộ; đoàn do đồng chí Lê Duẩn dẫn đầu. Thay mặt Ban chỉ huy Chi đội, cán bộ chỉ huy các đại đội, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ đã báo cáo tình hình kháng chiến ở Biên Hoà; việc thực hiện chỉ thị của Trung ương không cho giặc cướp của Nam Bộ ra đánh Bắc, Trung Bộ, trong đó trận đánh xe lửa Bảo Chánh mở đầu cho hoạt động này.


Đồng chí Lê Duẩn đã xuống chân núi thăm hỏi, động viên và ngợi khen chiến công của bộ đội ta. Đồng thời đồng chí chỉ rõ những thiếu sót, yếu kém của bộ đội, nhất là về sức mạnh tư tưởng, quân phong, quân kỷ, chiến thuật, kỹ thuật chiến dấu. Đồng chí Lê Duẩn đã chuyển những tài liệu huấn luyện bộ đội (của trường quân sự Trần Quôc Tuấn) cho Ban chỉ huy Chi đội 10 và trực tiếp tham gia, quan sát việc huấn luyện bộ đội Chi đội 10 tại căn cứ, trao đổi với lãnh đạo tỉnh về việc kiện toàn, tổ chức bộ máy kháng chiến của tỉnh Biên Hoà.


Sau hai tuần huấn luyện, bộ đội Chi đội 10 Biên Hoà đã nâng cao được chất lượng chiến đấu về tư tưởng, đội ngũ và kỹ thuật chiến đấu, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới.



Trận Trảng Táo (tháng 6-1947)

Sau trận Bảo Chánh, Binh công xưởng Chi đội nhận định mìn chế tạo bằng đầu đạn pháo 75 ly không đủ sức công phá đầu máy xe lửa địch, làm hư đoàn tàu. Hơn nữa trong điều kiện không có vũ khí nào mạnh hơn, Giám đốc binh công xưởng có sáng kiến dùng mìn 75 ly, kết hợp với tháo bù lon đường ray, cho các chiến sĩ khoẻ mạnh cột dây kéo mạnh hai bên, mục đích làm cho xe lửa trật bánh sắt khỏi đường ray phải dừng lại. Tham gia trận đánh Trảng Táo cũng gồm đại đội B và du kích hai Ban công tác liên thôn 9 và 10.


Khi đoàn xe lửa vừa đến, địa lôi nổ các chiến sĩ từ hai cánh rừng kéo mạnh dây đã cột vào đường ray, nhưng các toa đè trên đường ray sức kéo không đủ lực.


Khi bánh xe của đầu toa sau vừa ra khỏi đầu nối đường ray, các chiến sĩ dùng sức kéo mạnh, đường ray bật ra. Hai toa xe sau lọt khỏi đường ray những vẫn chạy thêm một đoạn nữa đến khúc cua thì lật nhào, đoàn tàu phía trước vẫn chạy luôn về ga Gia Huynh. Bộ đội ta truy kích theo, dùng lựu đạn đánh diệt toa tàu chở bọn lính hộ tống. Toa còn lại, ta tịch thu hai khẩu súng đại liên, 10 tấn gạo và nhiều đồ hộp thịt, cá.


Toàn lực lượng rút về căn cứ núi Chứa Chan, báo cáo kết quả với đồng chí Bí thư Xứ ủy và Ban chỉ huy Chi đội 10.


Ban chỉ huy cho một phân đội hướng dẫn và bảo vệ đồng chí Lê Duẩn lên đường về Nam Bộ.



Trận Bảo Chánh II

Trong quá trình đánh trận Trảng Táo, nhân dân Gia Huynh phát hiện được 3 quả bom lép (50 cân Anh) do quân Đồng minh ném trước đây còn sót lại và báo cáo cho Binh công xưởng đưa về, chế tạo thành 3 quả mìn kích nổ bằng điện dùng để đánh các trận kế tiếp.


Bị đánh hai trận ở Bảo Chánh và Trảng Táo, thực dân Pháp cũng đã rút kinh nghiệm đối phó. Trên đường xe lửa địch cho chạy cùng lúc hai đoàn tàu cách nhau khoảng 200 - 300 mét, để nếu một đoàn bị ta đánh, đoàn còn lại sẽ ứng cứu. Hơn nữa với hai đoàn tàu, địch buộc ta phải dàn quân kéo dài, tạo nhiều sơ hở để chúng phản công.


Nắm được ý đồ của thực dân, Ban chỉ huy Chi đội 10 chỉ đạo chặn đánh đoàn tàu đi sau, đồng thời bố trí lực lượng ngăn chặn không cho đoàn tàu đi trước có thể quay lại ứng cứu. Và để tạo bất ngờ cho địch, Ban chỉ huy chi đội cho bộ đội quay lại bố trí trận địa ở Bảo Chánh, nơi đoàn xe địch đã bị ta đánh vào tháng 5 năm 1947.


Đoạn đường sắt Bảo Chánh nằm giữa hai quả đồi, hai bên ta luy cao từ 4-5 mét. Bộ đội ta phục kích hai bên cách từ 10 đến 20 thước, từ nơi phục kích nhận biết tàu địch qua chiếc ống khói tàu nhô lên chứ không nhìn thấy hết đoàn xe.


Khi đoàn tàu lửa vào trận địa, đầu xe thứ nhất vừa qua, từ điểm chỉ huy quan sát, đồng chí đại đội trưởng đại đội B ra lệnh phát hoả. Quả địa lôi 50 cân Anh nổ lớn. Chiếc đầu máy xe lửa bị hất tung lên và rơi xuống đất kéo theo một tiếng vang rất lớn. Bộ đội ta từ hai bìa rừng vận động ra thì thấy đoàn tàu lửa đang chạy thục mạng về hướng Gia Ray, còn đoàn tàu thứ hai thì dừng lại cách trận địa trên 200 mét. Lúc đó ta mới phát hiện chiếc đầu máy Pacific bị nổ tung là đầu máy đẩy của đoàn tàu đi trước.


Bộ đội được lệnh vận động theo bìa rừng tiếp cận tấn công đoàn tàu đi sau. Từ hai bên ta luy trên cao (cách đường ray 4-5 mét), hoả lực ta bắn cấp tập vào hai toa bọc thép hộ tống, để bộ đội luồn dưới làn đạn xung phong lên các toa xe đánh địch. Nhưng bỗng nhiên, cả đoàn xe địch chuyển động rồi chạy ngược về hướng Dầu Giây. Bộ đội ta buộc phải nhảy xuống để rút vào rừng.


Như vậy ở trận Bảo Chánh lần thứ II, ta chỉ diệt được một đầu máy tàu lửa, nhưng chiến lợi phẩm thu được không nhiều.

Sau trận đánh, trung đội 4 quay về căn cứ Hầm Hinh (núi Chứa Chan) để luyện quân, trung đội 6 được lệnh chuyển hướng hoạt động trên lộ 20, đánh diệt bót La Ngà lần thứ hai, buộc địch bỏ luôn không đóng quân tại bót này.


Ngày 11 tháng 7 năm 1947, thực dân Pháp tổ chức tiến công vào căn cứ núi Chứa Chan. Trung đội 4 chỉ để lại một tiểu đội cùng du kích Ban công tác liên thôn 10 đã tổ chức chặn đánh quyết liệt, nhưng đạn không đủ dùng, Ban chỉ huy trung đội bố trí cho lực lượng theo đường bí mật rút khỏi căn cứ. Chiều 12 tháng 7, giặc chiếm được chùa hang trên núi, phá một số kho lương thực còn lại của huyện, nhưng lực lượng ta đã rút lui an toàn. Trung đội 4 và trung đội 6 đã bí mật chuyển quân về Bàu Cá (quốc lộ I) theo chỉ đạo của Ban chỉ huy đại đội và Chi đội.



Trận Bàu Cá (14-7-1947)

Tại Bàu Cá, ngoài trung đội 4, 6 (đại đội B), trung đội 5 ở Tam Hiệp, Vĩnh Cửu và trung đội 8 từ Long Thành cũng được điều về tập trung ở đây chuẩn bị cho trận đánh giao thông đường sắt nhân ngày quốc khánh nước Pháp (14-7-1947).


Binh công xưởng Chi đội 10 đã chế tạo từ hai quả bom 50 cân Anh thành hai quả địa lôi kích nổ bằng điện để phục vụ trận đánh. Lực lượng ta bố trí hai trận địa A và B trên tuyến đường đường sắt đoạn Bàu Cá.


12 giờ trưa ngày 14 tháng 7 năm 1947, đoàn tàu thứ nhất lọt vào trận địa A. Quả địa lôi nổ tiêu diệt đầu máy tàu. Bộ đội ta xung phong, nổ súng tiêu diệt 200 tên bao gồm bọn lính hộ tống (có 1 đại uý chỉ huy) và lính tăng viện ra chiến trường Trung, Bắc. Ta thu được 1 khẩu trung liên, 14 tiểu liên, 40 súng trường, 5 súng ngắn và 3 máy truyền tin vô tuyến, cùng nhiều lương thực thực phẩm, ở mặt trận B, đoàn tàu thứ hai chưa vào trận địa, nhưng nghe tiếng nổ nên dừng lại và chạy ngược về hướng Trảng Bom.


Trận đánh diễn ra đúng ngày quốc khánh nước Pháp, gây một tiếng vang chính trị rất lớn. Lời tuyên bố huênh hoang của chính quyền Pháp là đã bình định xong Nam kỳ trở thành sáo rỗng; chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp bất thành.


Sau trận đánh, Ban chỉ huy Chi đội chỉ đạo cho các đơn vị vũ trang nhanh chóng chuyển về chiến khu Đ dưỡng quân, huấn luyện và tổng kết đợt hoạt động chuẩn bị cho trận chiến sắp tới. Đồng thời Ban chỉ huy chỉ đạo hai Ban công tác liên thôn sô 9 và 10 tiếp tục đẩy mạnh hoạt động diệt tề trừ gian, đánh tập kích, phục kích địch đi càn ruồng nhằm đánh lạc hướng địch là bộ đội chủ lực vẫn còn hiện diện trên chiến trường Xuân Lộc.


Như vậy, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng bộ, chỉ thị của Tổng chỉ huy, trong 55 ngày đêm chiến đấu trên chiến trường Xuân Lộc, lực lượng Chi đội 10 đã liên tục mở 4 trận đánh giao thông đường sắt giành nhiều thắng lợi.


Thắng lợi cho thấy rõ quyết tâm của Ban chỉ huy Chi đội và toàn thể cán bộ chiến sĩ trong chiến đấu, khắc phục khó khăn để chiến đấu. Thắng lợi còn cho thấy sự chỉ đạo, chỉ huy sâu sát của Ban chỉ huy Chi đội. Từng trận đánh đều được nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch cụ thể. Điều quan trọng hơn là sự phối hợp chặt chẽ của các Ban liên thôn là rất cần thiết và là yếu tố quan trọng trong việc chuẩn bị chiến trường, nắm tin và phục vụ hậu cần cho bộ đội.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM