Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Năm, 2020, 07:18:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950  (Đọc 1551 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:08:26 pm »

B.TRUNG ĐOÀN 310

I. CỦNG CỐ TỔ CHỨC, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỘ ĐỘI THEO HƯỚNG CHÍNH QUI

1.Thành lập Trung đoàn 310

Sau thất bại ở Việt Bắc thu đông 1947, thực dân Pháp buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ đánh nhanh sang đánh kéo dài, quay trở lại bình định vùng đã chiếm đóng và lấn chiếm vùng tự do của ta. Trên cơ sở nhận định Nam Bộ có tầm quan trọng về kinh tế, nơi có vựa lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và nguồn xuất khẩu cao su ở các tỉnh miền Đông, lại xa trung tâm đầu não kháng chiến, thực dân Pháp chủ trương tập trung bình định Nam Bộ, biến Nam Bộ thành trung tâm dự trữ chiến lược của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “Dùng người Việt đánh người Việt”.


Tại Biên Hòa, bộ máy chiến tranh của địch đẩy mạnh bình định trên tất cả các lĩnh vực. Về quân sự, chúng tăng thêm quân (lấy từ lực lượng mới bổ sung 5 tiểu đoàn từ Bắc Bộ vào Sài Gòn), phát triển ngụy binh, đóng thêm một số đồn bót ở các khu vực trọng yếu, liên tục tổ chức càn quét mở rộng vùng tranh chấp, đặc biệt ở hướng Xuân Lộc, Long Thành. Về chính trị, chúng tổ chức gom dân về các khu vực xung quanh đồn bót địch (bấy giờ ta gọi là khu nô lệ), củng cố bộ máy ngụy quyền tay sai, khuếch trương những tổ chức chính trị phản động, phát triển chiến tranh gián điệp, xúc tiến thành lập chiến khu quốc gia giả hiệu ở Rừng Sác - Long Thành, về kinh tế, chúng tăng cường khai thác xuất khẩu cao su, mặt khác khống chê ngăn chặn các nguồn vận chuyền tiếp tế và đánh phá hoạt động sản xuất của ta trong căn cứ. Về văn hóa, thực dân Pháp đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, dùng thủ đoạn truyền bá lối sông hưởng lạc để mua chuộc, lôi kéo cán bộ kháng chiến.


Chỉ trong thời gian ngắn, hàng loạt khu vực tranh chấp trên địa bàn tỉnh trở thành vùng tạm bị chiếm. Nhiều khu vực căn cứ bị biến thành vùng tranh chấp (1/2 khu vực căn cứ huyện Châu Thành, 3/4 khu vực căn cứ huyện Xuân Lộc, 1/3 khu vực căn cứ huyện Long Thành). Lực lượng dân quân du kích ở một số địa phương giảm xuống. Nhiều vùng trắng xuất hiện xung quanh Chiến khu Đ làm ngăn cách sự liên hệ giữa bộ đội với nhân dân. Các ngả đường về chiến khu bị kiểm soát gay gắt. Binh công xưởng, nông trại sản xuất, trâu bò, cơ sở kho tàng trạm trại trong căn cứ bị thiệt hại nhiều do máy bay địch bắn phá và gián điệp phá hoại.


Về ta, lực lượng vũ trang tập trung phát triển, trong khi đó công tác bảo đảm hậu cần kỹ thuật không theo kịp. Nhu cầu bảo vệ và phát triển nền kinh tế kháng chiến đặt ra cấp thiết.

Từ thực tế tình hình, Xứ ủy Nam Bộ họp hội nghị trong 4 ngày từ 16 đến 20 tháng 12 năm 1947 nhằm đánh giá một năm đầu cùng cả nuớc kháng chiến và đề ra nhiệm vụ cho năm 1948. Dự đoán chính xác âm mưu sắp tới của địch, hội nghị đề ra nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh đấu tranh kinh tế với địch kết hợp với đấu tranh quân sự, không cho chúng biến Nam Bộ thành “sân sau”, thành trung tâm dự trữ của cuộc chiến tranh. Tiếp đó, đầu năm 1948, tại Cây Cầy Chiến khu Đ, Tỉnh ủy Biên Hòa tổ chức hội nghị đại biểu Đảng bộ tỉnh. Quán triệt nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp ngày 15 tháng 1 năm 1948 về phương châm “du kích chiến là chính, vận động chiến là phụ trợ”. Phá kinh tế tài chính địch, thực hiện khẩu hiệu tăng gia sản xuất, tự cấp tự túc, cải thiện dân sinh”, trên cơ sở kết quả đạt được trong năm 1947, hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cho thời gian tới, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển du kích chiến tranh, kết hợp ba thứ quân để phát huy sức mạnh của lực lượng vũ trang bảo vệ căn cứ, tăng cường hoạt động vùng du kích, đánh giao thông, phá hoại cơ sở kinh tế của địch, xây dựng kinh tế kháng chiến”. Hội nghị một lần nữa, củng cố lại Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, bầu Phạm Văn Thuận làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm trưởng công an, Huỳnh Văn Lũy làm Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh.


Bước sang năm 1948, công cuộc kháng chiến của quân và dân cả nước đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Tại Nam Bộ, sự trưởng thành của lực lượng vũ trang, đặc biệt của các đơn vị bộ đội tập trung đặt ra nhu cầu cần được tổ chức lại ở mức độ cao hơn hầu đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến. Đầu năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra chỉ thị xây dựng các trung đoàn bộ đội tập trung trên toàn xứ. Ngày 27 tháng 3 năm 1948, Khu ủy Khu 7 họp hội nghị mở rộng, đánh giá kết quả hoạt động của lực lượng kháng chiến giành thắng lợi trên các mặt quân sự và chính trị, nhất là sau trận La Ngà thì ngoài thắng lợi về quân sự thì ý nghĩa chính trị mang lại rất lớn. Hội nghị thảo luận và quyết định hai vấn đề lớn: một là thống nhất tổ chức, xây dựng các trung đoàn trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trên cơ sở các chi đội sẵn có sẽ phát triển thành các trung đoàn. Những chi đội lớn, có đủ quân số, vũ khí thì chuyển sang xây dựng trung đoàn (như Chi đội 1, Chi đội 10); những Chi đội thiếu quân số và vũ khí thì 2 hoặc 3 Chi đội nhập lại để xây dựng Trung đoàn. Mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn thực binh, 1 đại đội trợ chiến và các ban tham mưu, chính trị, quản trị. Ban chỉ huy trung đoàn có trung đoàn trưởng và 2 trung đoàn phó. Địa bàn hoạt động của trung đoàn vẫn chủ yếu trong phạm vi của tỉnh. Thứ hai là quyết định thanh trừng bọn phản động và gián điệp cài vào lực lượng Bình Xuyên tại Rừng Sác - Long Thành.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:10:00 pm »

Tại Biên Hòa, sau trận phục kích La Ngà tháng 3 năm 1948, Chi đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ được đề bạt chức vụ Khu bộ phó Khu 7. Chi đội 10 thuộc tỉnh Biên Hòa tập trung thực hiện quyết định của Hội nghị Khu ủy Khu 7 về việc xây dựng Trung đoàn mang phiên hiệu 310.


Trung đoàn 310 thành lập không chỉ đơn thuần thay đổi tên gọi mà biểu thị sự phát triển, thay đổi về chất, từ cơ cấu tổ chức, qui mô đơn vị đến năng lực của cán bộ, chiến sĩ. Nó tạo điều kiện để từng bước đưa dần đơn vị lên trình độ xây dựng, tổ chức huấn luyện và chiến đấu ngày một cao hơn theo hướng chính quy.


Ban chỉ huy Trung đoàn 310 gồm: Nguyễn Văn Lung (trung đoàn trưởng), Nguyễn Văn Tư (Tư Râu) (chính trị viên)1 (Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đồng Nai-Tập II và Hồi ký Nguyễn Văn Lung ghi: Chính trị viên: Võ Cương), Nguyễn Văn Quang, sau là Đinh Quang Ân (trung đoàn phó phụ trách tác chiến), Đào Văn Quang (trung đoàn phó phụ trách quản trị).


Quân số toàn Trung đoàn có 2.200 người, với 800 súng trường, 40 tiểu liên, 6 trung liên, 6 đại liên, 2 cối 60 ly, 1 cối 81 ly, 1 pháo. So với ngày đầu thành lập, lực lượng của Trung đoàn 310 đã có bước phát triển lớn. Trọng tâm của trung đoàn trong giai đoạn đầu thành lập là chấn chỉnh về tổ chức và đổi mới về trang bị. Về quân số, chỉ giữ lại trong đội hình những chiến sỹ có đủ sức khoẻ, đạt tiêu chuẩn bộ đội chính quy; thương binh, bệnh binh và thiếu sức khỏe được đưa về Trại an dưỡng thương bệnh binh tại Hàng Dài để điều trị, dưỡng sức; sau khi phục hồi sức khỏe sẽ được bố trí trở lại đơn vị chiến đấu hoặc sản xuất tự túc. Nhờ thực hiện chủ trương này mà các đại đội có biên chế gọn, nhẹ và mạnh hẳn lên so với trước.


Về trang bị: các đại đội, trung đội được điều chỉnh, trang bị lại theo hướng thống nhất trong toàn trung đoàn; bảo đảm mỗi trung đội khinh binh có 1 trung liên, 3 thompson, 3 tiểu liên. Mỗi trung đội được trang bị súng trường cùng chủng loại để dễ dàng trong việc tiếp tế và kiểm soát việc sử dụng đạn (hoặc cùng loại súng Anh, hoặc cùng loại súng muscoton).


Sau khi chấn chỉnh, biên chế Trung đoàn 310 có: 3 tiểu đoàn khinh binh và 1 đại đội trợ chiến (trang bị trọng liên 12,7 ly, súng cối 82 ly). Mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội khinh binh và 1 trung đoàn trợ chiến (trang bị đại liên và súng cối 60 ly). Mỗi đại đội có 3 trung đội khinh binh và 1 tiểu đội trợ chiến. Mật danh của tiểu đoàn mang tên các danh nhân quân sự và của đại đội mang tên các địa danh lịch sử.


Tiểu đoàn Lê Lợi (phát triển từ đại đội A)

Ban chỉ huy: Nguyễn Văn Lắm (Tiểu đoàn trưởng), Hoàng Phùng Đức (Tiểu đoàn phó), Hoàng Lập Trung (Chính trị viên).

Tiểu đoàn có 3 đại đội khinh binh, gồm:

- Đại đội Thái Nguyên.

- Đại đội Đống Đa.

- Đại đội Chi Lăng.


Tiểu đoàn Quốc Tuấn (phát triển từ đại đội B).

Ban chỉ huy: Đinh Quang Ân (Tiểu đoàn trưởng), Lê Thoa (Tiểu đoàn phó), Nguyễn Văn Khoa (Chính trị viên).

Tiểu đoàn có 3 đại đội khinh binh, gồm:

- Đại đội Lạc An.

- Đại đội Bắc Sơn.

- Đại đội La Nha (phát âm theo tiếng Pháp địa danh La Ngà).


Tiểu đoàn Quang Trung (phát triển từ đại đội C).

Ban chỉ huy: Lương Văn Nho (Tiểu đoàn trưởng), Nguyễn Văn Toàn (Tiểu đoàn phó), Lưu Văn Phảng (Chính trị viên).

Tiểu đoàn có 2 đại đội khinh binh gồm:

- Đại đội Đô Lương.

- Đại đội Lam Sơn.


Ban chỉ huy Trung đoàn nhanh chóng tổ chức các cơ quan, đơn vị trực thuộc, thành lập mới ban tham mưu, ban chính trị; kiện toàn ban quân nhu, Ban quân báo, binh công xưởng và tổ chức một đại đội trợ chiến. Ban quân báo một mặt củng cố các tổ tình báo các huyện, thị xã; mặt khác có nhiệm vụ tổ chức và chỉ đạo nghiệp vụ các trung đội trinh liên (trinh sát-liên lạc) của các tiểu đoàn và các tiểu đội trinh liên các đại đội. Ban quân nhu đặc biệt tăng cường công tác sản xuất tự túc. Binh công xưởng từ Chi đội 10 chuyển sang được kiện toàn, từ chỗ rờ-sạc đạn phát triển lên tự túc cán đồng và dập vỏ đạn các loại. Các tiểu đoàn bộ đều có các cán sự tham mưu, chính trị và quân như giúp việc cho Ban chỉ huy tiểu đoàn.


Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng và Xứ ủy Nam Bộ, Trung đoàn quyết định thành lập Trường Thiếu sinh quân nhằm giáo dục chính trị, văn hóa; tập luyện thể dục - thể thao đồng thời kết hợp với huấn luyện quân sự để các em trở thành những “chiến sĩ nhỏ” của Trung đoàn. Trường được xây dựng tại khu vực Lạc An - Tân Uyên thuộc Chiến khu Đ. Ban Chỉ huy Trung đoàn chọn một số cán bộ có trình độ chính trị, văn hóa, quân sự và có đạo đức tốt để thành lập khung nhà trường gồm:
Hiệu trưởng: Mạnh Xuân Tâm.


Huấn luyện chính trị, văn hóa, giáo dục: Lê Mai, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Văn Phú.

Huấn luyện quân sự: Lê Mai Chương.

Huấn luyện quân sự thực nghiệm: Hồ Văn Quới.

Đảm bảo hậu cần: trường có 3 anh, chị nuôi (2 nam, 1 nữ).


Trường Thiếu sinh quân Trung đoàn 310 khai giảng vào tháng 6 năm 1949, triệu tập gần 100 học viên dưới 17 tuổi. Ngoài thiếu niên của Trung đoàn 310, trường còn tiếp nhận các thiếu niên của các đơn vị: Trung đoàn 300, Trung đoàn 301 và các cơ quan Dân, Chính, Đảng thuộc tỉnh Biên Hòa, tỉnh Thủ Dầu Một.


Lãnh đạo Khu 7, trực tiếp là Huỳnh Văn Nghệ giao nhiệm vụ cho Ban Chỉ huy Trung đoàn và Ban Giám hiệu nhà trường là phải tổ chức đào tạo, huấn luyện toàn diện cho thiếu sinh quân cả về văn hóa, thể dục thể thao, quân sự để khi ra trường các em có trình độ cơ bản, tương lai có thể trở thành cán bộ chỉ huy quân đội và thiết thực phục vụ kháng chiến lâu dài. Sau 6 tháng huấn luyện, các em trưởng thành nhanh chóng, trở nên nhanh nhẹn, vững vàng. Đa số thiếu sinh quân sau đào tạo được bồi dưỡng chính trị và kết nạp Đảng, sau một thời gian công tác, chiến đấu được bố trí làm cán bộ tiểu đội, đại đội. Một số được chọn cử tiếp tục học các trường (Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, Trường Trung học Bình Dân, Tiền Phong, Thái Văn Lung, Nguyễn Văn Tố) như: Nguyễn Hữu Sanh, Đinh Hữu Trung, Lưu Trần Thới, Trần Đạt Thành, Đoàn Ẩn, Lưu Văn Phúc...). Riêng thiếu sinh quân Nguyễn Bảo Khánh được chọn cử đi đào tạo cán bộ đại đội ở miền Bắc1 (Theo tài liệu "Hạt giống đỏ" - Bài "Thiếu sinh quân Trung đoàn 310" -  Ban Liên lạc Thiếu sinh quân miền Đông Nam Bộ - Hội Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh - Tháng 12 năm 2005). Trường thiếu sinh quân Trung đoàn 310 là một trong những trường có qui mô lớn về tổ chức, đông về số lượng học viên và đạt hiệu quả cao trong huấn luyện.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:11:30 pm »

2.Nâng cao chất lượng mọi mặt của Trung đoàn

Sau khi ổn định tổ chức, Trung đoàn 310 bước vào mùa luyện quân; công tác huấn luyện được đổi mới, Trung đoàn không tổ chức huấn luyện tập trung mà từng đại đội cử cán bộ về Trung đoàn dự lớp tập huấn, sau đó về đại đội tập huấn lại cho đơn vị mình. Đại đội Bắc Sơn được chọn làm Đại đội mẫu để huấn luyện. Như vậy công tác huấn luyện gắn liền với chiến đấu, vừa chiến đấu vừa huấn luyện. Sau thời gian khoảng 4 tháng, các Đại đội có sự tiến bộ rõ rệt về mặt cơ động, triển khai tác chiến và chống tập kích bất ngờ của địch.


Tháng 5 năm 1948, Trung đoàn 310, nòng cốt là Tiểu đoàn Quốc Tuấn tổ chức tập trung đánh giao thông trên đường 14, đoạn ngã tư Đồng Xoài nhưng bị lộ; đoàn convoa địch không đi như ta dự đoán, Trung đoàn lùi về phục kích đoạn Mã Đà nhưng xe dò mìn của địch phát hiện mìn của ta, ta nổ súng diệt 1 thiết giáp. Đây là trận đánh tập trung cấp Trung đoàn cuối cùng của Trung đoàn 310; về sau này các đại đội bám sát địa phương, hỗ trợ chống bình định của địch, bao vây phá hoại kinh tế địch.


Sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang được tăng cường, công tác phát triển Đảng được củng cố và xây dựng cơ sở Đảng đến đại đội, trung đội. Hoạt động của Tiểu đoàn ủy và Trung đoàn ủy ngày một chủ động và vững vàng hơn. Mối quan hệ giữa quân-dân-chính-Đảng trở nên gắn bó hơn; các đơn vị trực thuộc trung đoàn khi cơ động đến địa phương nào thì việc đầu tiên là cán bộ đơn vị đó tìm cách liên hệ ngay với Chi bộ xã để bàn bạc thống nhất phương án phối hợp hoạt động; nhờ giữ tốt mối quan hệ này mà đơn vị được cung cấp thông tin, hậu cần và bảo đảm địa bàn đứng chân hoạt động hiệu quả. Tiêu biểu là chi bộ Đảng của đại đội Lam Sơn1 (Tổ chức Đảng ở Đại đội Lam Sơn khi hình thành có 6 đảng viên, đến năm 1950 phát triển 60 đảng viên) (Tiểu đoàn Quang Trung), chi bộ có 12 đảng viên, cấp ủy có 3 đồng chí, chính trị viên đại đội là Bí thư chi bộ; mỗi trung đội tổ chức một phân chi (tổ Đảng), các tiểu đội đều có đảng viên. Sinh hoạt chi bộ được duy trì thường xuyên, 3 tháng họp một lần; tổ Đảng mỗi tháng họp một lần, đóng đảng phí đều đặn1 (Đảng phí đóng bằng tiền Đông Dương hoặc hiện vật do sản xuất tự túc như lúa, khoai, gà, vịt, v.v...). Cán bộ, chiến sĩ trong đại đội đều được học tập, huấn luyện về chính trị, quân sự; đặc biệt chú trọng giáo dục rèn luyện về 10 lời thề danh dự và 12 điều kỷ luật của quân đội, quán triệt chính sách đối với tù binh, hàng binh và biết thực hiện công tác dân vận2 (Theo báo cáo Ban liên lạc truyền thống Đại đội Lam Sơn).


Công tác tuyên truyền, văn hóa văn nghệ được chú trọng; Ban Chính trị Trung đoàn ra tờ thông tin hàng tuần (in ronéo) phổ biến trong nội bộ trung đoàn. Ban chỉ huy trung đoàn cho thành lập đoàn hát bộ (còn gọi là hát bội) phục vụ trong quân đội, đoàn thường diễn các tuồng tích lịch sử như “Lưu Bình - Dương Lễ”, “Cánh tay Vương Tá”, v.v... Sinh hoạt chính trị - văn hóa ban đêm được duy trì thường xuyên ở các đại đội, nhờ vậy mà động viên tinh thần anh em chịu đựng và vượt qua khó khăn gian khổ, đề cao tinh thần chiến đấu, sản xuất tự túc.


Tháng 6 năm 1948, được sự lãnh đạo của Khu ủy Khu 7 và Tỉnh ủy Biên Hòa, Trung đoàn ủy mở hội nghị mở rộng nhằm nhận định tình hình và đề ra phương hướng hoạt động: 1- Cần tích cực phá kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của địch, ra sức giành người, giành của với địch. Để thực hiện phương châm này, Trung đoàn chủ trương chỉ để lại một lực lượng vừa đủ đế giữ căn cứ, đưa toàn bộ lực lượng tiến về phía trước tấn công địch cả ở vùng tạm chiếm và vùng du kích. 2- Đối với vùng tạm chiếm, Ban quân báo củng cố biệt động đội phối hợp với lực lượng Quốc vệ đội (công an vũ trang) và các đoàn thể công đoàn, thanh niên, phụ nữ xây dựng cơ sở, chuẩn bị chiến trường, đánh những cú hiểm, đòn đau vào hậu cứ địch đồng thời có kế hoạch đánh diệt hoặc làm thiệt hại nặng các các đội Com-măng-đô của địch, bảo vệ cơ sở ta. 3- Đối với khu du kích, Trung đoàn tăng cường lực lượng phối hợp với bộ đội huyện, du kích xã tích cực chống địch càn quét, khủng bố, bảo vệ các căn cứ lõm. Các đại đội hoạt động dựa vào nhân dân và du kích địa phương nắm qui luật hoạt động của địch, chủ động luồn sâu vào vùng tạm bị chiếm, phục kích, đánh địch bất ngờ không để bị động chống càn. Phải xây dựng kế hoạch phối hợp với quân dân du kích sẵn sàng chống trả khi địch càn. 4- Đối với vùng căn cứ, phải phát triển các hình thức chiến đấu thô sơ của toàn dân bằng cách rào làng chiến đấu, đào hầm chông, gài lựu đạn, cắm cọc chống nhảy dù; tổ chức thực tập phối hợp các lực lượng quân, dân chính chống càn, đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa quân báo và công an tăng cường công tác phản gián đồng thời bố trí điệp viên của ta vào nội bộ địch để nắm và kịp thời báo cáo tình hình địch về Trung đoàn. 5- Đối với hệ thống đường sắt, phải tổ chức một đơn vị nhỏ, tinh gọn, liên tục tấn công tiêu diệt các đoàn xe lửa của địch, làm tê liệt hệ thống giao thông đường sắt của địch.


Tại hội nghị, Trung đoàn cũng bàn bạc với tỉnh đội kế hoạch giao nhiệm vụ cho các huyện đội phối hợp với các đoàn thể tuyên truyền vận động binh lính mang súng trở về, đồng thời nghiên cứu nắm sơ hở của địch tại các tháp canh để bất ngờ kỳ tập tiêu diệt địch. Kết thúc hội nghị, thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn ủy đã phát động phong trào thi đua giết giặc lập công.


Chấp hành chỉ thị của Xứ ủy Nam Bộ, của Tỉnh ủy tỉnh Biên Hòa và nghị quyết hội nghị Trung đoàn ủy, Trung đoàn 310 cùng với lực lượng dân quân du kích trong tỉnh đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên khắp ba vùng kháng chiến. Tỉnh đội dân quân củng cố lại hệ thống dân quân du kích ở các địa phương, đặc biệt ở các xã vùng tranh chấp xung quanh Chiến khu Đ, dọc quốc lộ 15, quốc lộ 1. Đến giữa năm 1948, toàn tỉnh phát triển được 12.000 đội viên du kích với 233 súng các loại. Trung đoàn 310 đã cử các phân đội xuống hỗ trợ với du kích địa phương tiến đánh các đồn bót nhổ lẻ, đánh giao thông, giành quyền chủ động về chiến thuật. Tiểu đoàn Lê Lợi chỉ để lại 1 đại đội bảo vệ Chiến khu Đ, 1 đại đội ra hoạt động áp sát thị trấn Tân Ba và Sở cao su Phước Hòa; 1 đại đội khác khác vượt sông Đồng Nai phối hợp với đại đội Bắc Sơn của tiểu đoàn Quốc Tuấn hoạt động ở vùng ngoại vi thị xã Biên Hòa, hướng Tân Phong, Bình Ý. Hai đại đội còn lại của Tiểu đoàn Quốc Tuấn hoạt động sát vào thị trấn Xuân Lộc và các sở cao su Bình Lộc, An Lộc. Đại đội Lam Sơn - Tiểu đoàn Quang Trung chuyển lên hoạt động sát thị xã Biên Hòa, thị trấn Long Thành, tổ chức nhiều cuộc phục kích, tập kích vào các cứ điểm quân sự và các toán quân tuần tiễu của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Chỉ tính riêng tại khu vực huyện Tân Uyên, trong 6 tháng cuối năm 1948, bộ đội tập trung và du kích địa phương đã đánh đồn 2 trận, thu 28 súng trong đó có 1 đại liên, 2 súng trung liên và nhiều đồ dùng quân sự khác.


Ban quân báo Trung đoàn hoạt động có hiệu quả, đặc biệt là công tác phản gián đã thành công trong việc đưa tin giả về việc ta sẽ tổ chức một buổi lễ có nhiều cán bộ và nhân dân tham dự tại Đất Cuốc, ta nghi trang để địch cho máy bay thả bom vào bãi đất trống, ta thu được một số bom lép đưa về Công binh xưởng tháo lấy thuốc nổ sản xuất vũ khí.


Như vậy là từ giữa năm 1948, do đặc điểm chiến trường, Trung đoàn không có những trận đánh lớn như lúc còn Chi đội, nhưng các đại đội đã thi đua luồn sâu đánh hàng trăm trận nhỏ, lẽ rất hiệu quả, thu được nhiều vũ khí. Tiêu biểu là Đại đội Bắc Sơn thuộc Tiểu đoàn Quốc Tuấn, ngày 13 tháng 8 năm 1948 đại đội phối hợp với bộ đội địa phương huyện Vĩnh Cửu bí mật ém quân phục kích tại Bến Cá giữa ban ngày, đánh diệt tên cai tổng Xồm ác ôn, thu một số súng, có một khẩu FM đầu bạc; vì đại đội luồn quá sâu vào ấp nên sau trận đánh không thể rút ra bằng đường bộ mà phải vượt sông sang Phước Thành, vòng qua Chiến khu Đ để về căn cứ. Đêm 30 tháng 8 năm 1948, đại đội Bắc Sơn tiếp tục luồn sâu phục kích giữa ngã ba Bình Ý và Giếng Mọi đánh diệt 2 xe, bắt sống tên Phước (Tây lai) khi hắn dẫn một tiểu đội đi ruồng bố, cướp bóc về. Nhân dân rất hả dạ khi những tên ác ôn bị tiêu diệt, suốt ba tháng liền đại đội liên tục nhận quà, lương thực của nhân dân tiếp tế.


Trên tuyến đường sắt đoạn từ Biên Hòa đi Trảng Bom, Trung đoàn tổ chức một đơn vị phối hợp chuyên đánh xe lửa gồm một số cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn Lê Lợi, một đội binh chủng chuyên môn Khu và trung đội trinh-liên của tiểu đoàn Quang Trung. Ban chỉ huy thống nhất do đồng chí Hoàng Phùng Đức - tiểu đoàn phó tiểu đoàn Lê Lợi làm chỉ huy trưởng; đồng chí Thoa - đội trưởng đội binh chủng chuyên môn khu và đồng chí Mật - trung đội trưởng trung đội trinh-liên làm chỉ huy phó. Ban chỉ huy thống nhất phân công đồng chí Mật chịu trách nhiệm trinh sát nắm địch tình và xác định địa điểm phục kích; đồng chí Thoa chịu trách nhiệm sử dụng Bazômin đánh diệt đầu máy xe lửa; đồng chí Hoàng Phùng Đức chịu trách nhiệm chỉ huy chung, khi cần thiết có thể điều động các đại đội Lam Sơn và Đô Lương (thuộc tiểu đoàn Quang Trung) đến hỗ trợ hoặc hiệp đồng tác chiến theo kế hoạch đã thỏa thuận trước. Trong 6 tháng đầu năm 1949, đơn vị đánh 15 trận, gây thiệt hại 15 đầu máy xe lửa (hiệu Pacific). Bị đánh liên tục, địch đối phó bằng cách không dùng đầu máy kéo đoàn tàu mà đẩy phía sau, thay vào chỗ đầu máy là một Wagon chở dân; trong đoàn tàu có một Wagon bọc thép chở quân hộ tống. Đơn vị trinh sát Trung đoàn nắm được sự thay đổi này báo cáo Ban chỉ huy lên phương án tác chiến; lần này ta không đánh vào đầu tàu mà đánh vào Wagon chở quân hộ tống đồng thời điều đại đội Lam Sơn và đại đội Đô Lương xung phong, trận này ta diệt trên 100 quân hộ tống. Bị tấn công dồn dập, tuyến đường sắt phải ngưng hoạt động một tháng, sau đó địch tiến hành rải quân canh gác suốt đoạn đường sắt từ Nhà thương điên (Bệnh viện tâm thần) đến Trảng Bom trước khi tàu chạy; đơn vị lợi dụng sơ hở đã bí mật luồn sâu đánh địch sát thị xã khi tàu rời khỏi ga ở đoạn thuộc xã Bình Trước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:12:12 pm »

II. HOẠT ĐỘNG CHỐNG CHÍNH SÁCH BAO VÂY CHIA CẮT CỦA ĐỊCH

1.Góp phần xây dựng nền kinh tế kháng chiến và tình đoàn kết dân quân

Nhằm thực hiện chủ trương “phá hoại kinh tế địch”, Trung đoàn 310 phân công 2 đại đội thường xuyên phối hợp với dân quân tự vệ trong các đồn điền cao su tham gia “mặt trận cao su chiến”, phá hoại cao su của tư bản thực dân Pháp. Ngoài ra, trung đoàn còn trang bị vũ khí cho liên đoàn cao su tỉnh để thành lập các đội tự vệ đặc nhiệm chuyên phá hoại cao su. Tính chung cả năm 1948, lực lượng phá hoại cao su tại các đồn điền cao su Biên Hòa đã phá được 1.952 mẫu trên tổng số 4.000 mẫu đang khai thác (tổng diện tích các đồn điền cao su tại Biên Hòa khoảng 25.000 mẫu) bằng các biện pháp vạc vỏ, chặt sâu quá nửa thân cây, tiện gốc cây, băm nát da cây và đốt cháy. Đốt và đổ 252.797 ki-lô-gam mủ. Đốt và phá trên 150 nhà xưởng, nhà chứa mủ cùng nhiều máy móc thiết bị khác. Đập bể 25.000 chén hứng mủ, 10.000 máng hứng mủ. Đưa về chiến khu hàng trăm thùng đựng mủ, các bộ phận máy móc cơ khí, dụng cụ văn phòng, về sau, Xứ ủy chỉ đạo không phá cây cao su vì xem đây là tài sản quốc gia và có liên quan đến công ăn việc làm của công nhân cao su nên chuyển sang phá hoại phương tiện khai thác và thành phẩm cao su.


Hoạt động của lực lượng vũ trang tại vùng tạm bị chiếm và du kích đã gây thiệt hại lớn về kinh tế cho địch (riêng các đồn điền cao su thiệt hại tính chung hơn 7.000 đồng tiền Đông Dương ngân hàng), bổ sung cho ta nhiều vũ khí đạn dược, nguyên liệu cho binh công xưởng, thuốc men và đồ dùng quân sự, đồng thời làm giảm áp lực của địch đối với vùng căn cứ, vùng tranh chấp. Hoạt động vận chuyển liên lạc của ta trên các tuyến giao thông từ đô thị và vùng nông thôn tạm bị chiếm về căn cứ và giữa các căn cứ với nhau nhờ thế được duy trì. Trung đoàn 310 cùng lực lượng du kích các huyện đảm nhiệm bảo vệ đường dây liên lạc, tiếp tế từ trung ương và Nam Bộ, bảo đảm vận chuyển thực phẩm từ Bà Rịa, gạo từ Đồng Tháp Mười, nguyên hóa liệu cho binh công xưởng và thuốc men từ Sài Gòn và thị xã Biên Hòa về chiến khu Đ tương đối an toàn.


Trong các căn cứ lớn như chiến khu Đ, Rừng Sác, Long Thành, Trung đoàn 310 cùng lực lượng du kích tại chỗ kiên quyết chiến đấu chống địch càn quét bảo vệ căn cứ, bảo vệ sản xuất. Các phân đội xây dựng hệ thống công sự phòng thủ, tổ chức bố phòng canh gác bảo vệ nông dân làm mùa, mở lò rèn sản xuất nông cụ đổi lúa cho nông dân, mặt khác tổ chức sản xuất nông nghiệp và các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp. Các nông trại mở rộng phạm vi canh tác lên dọc vàm Sông Bé. Tại Chiến khu Đ, Trung đoàn 310 xây dựng 1 lò đường ở Lạc An; 1 xưởng thuộc da (sản xuất thắt lưng, bao đạn, dây súng, giày da, xắc cốt, cặp tài liệu) và 1 cơ sở may đo quần áo cho bộ đội ở Mỹ Lộc, 1 lò chén (sản xuất chén dĩa ăn cơm, tách trà, vỏ lựu đạn, vỏ mìn bằng sành) tại Đất Cuốc. Trung đoàn còn xây dựng 1 xa nước phát điện tại suối Sâu, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của binh công xưởng (tồn tại đến năm 1951).


Kết quả hoạt động sản xuất nêu trên cộng với sự chu cấp (không định kỳ) của Phòng quân nhu Khu 7 (chủ yếu bằng tiền Đông Dương ngân hàng), của Ban kinh tài, của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Biên Hòa (chủ yếu bằng vật phẩm) và từ nguồn thu trong các trận phục kích giao thông, từ các trận tập kích sở cao su đã góp phần ổn định chế độ cung cấp trong lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa. Trung đoàn 310 và tỉnh đội bộ dân quân bước đầu tiêu chuẩn hóa chế độ cung cấp về lương thực và tiền phụ cấp đối với cán bộ, chiến sĩ (trung bình mỗi quân nhân được cấp mỗi ngày 1 lít gạo và 1 đồng tiền thức ăn, mỗi người được cấp 10 đồng tiền tiêu vặt)1 (Theo Lịch sử ngành Quân nhu (1945-1954) - Tổng cục Hậu cần, bản đánh máy, tư liệu Viện lịch sử Quân sự Việt Nam, L.166, tr.49).


Tháng 10 năm 1948, Hội nghị Khu 7 mở rộng đã đề ra hai chủ trương lớn là “phá khu nô lệ” và “tảo thanh Cao Đài”.

Việc chủ trương “phá khu nô lệ” là căn cứ vào việc địch tiến hành bình định, càn quét, khủng bố gom dân vùng ven vào vùng tạm chiếm và gần đồn bót địch nhằm lập vành đai trắng cách biệt giữa vùng căn cứ và vùng tạm chiếm; do đó việc “phá khu nô lệ” nhằm mở rộng vùng kiểm soát của ta, chống sự bao vây của địch, củng cố vả bảo vệ căn cứ địa, bảo vệ sản xuất... Nhưng biện pháp thực hiện có sai phạm, tuy chưa nghiêm trọng và được kịp thời rút kinh nghiệm nhưng đã ảnh hưởng đến tình cảm của nhân dân; thay vì tổ chức bám dân xây dựng cơ sở lãnh đạo dân đấu tranh trở về đất cũ sản xuất thì lại kêu gọi dân trở về vùng du kích, nếu không thì đốt nhà, cưỡng bức dân trở về. Trung đoàn 310 có nhiệm vụ tổ chức “phá khu nô lệ Tân Vạn”, khi vào đến nơi thì chiến sĩ ta thấy dân ở đây phần lớn là bà con trước đây đã từng gắn bó, ủng hộ bộ đội do đó đã giải thích kỹ cho đồng bào, giúp họ dọn đồ đạt ra ngoài rồi đốt vài căn nhà chiếu lệ; Trung đoàn báo cáo về tỉnh, Tỉnh ủy chỉ đạo dừng việc thực hiện “phá khu nô lệ” chờ xin ý kiến của Khu. Sau đó trinh sát nắm được tình hình là những hộ bị đốt nhà không những không trở về vùng du kích mà lại dọn vào sâu trong vùng tạm chiếm.


Về chủ trương “tảo thanh Cao Đài” là nhằm vào số chức sắc phản động làm tay sai cho Pháp. Tỉnh ủy Biên Hòa nhận định Cao Đài ở Biên Hòa phần lớn thuộc phái Bến Tre, tín đồ cơ bản là tốt, do đó Tỉnh ủy chủ trương không tảo thanh hàng loạt mà chỉ bắt những chức sắc phản động giáo dục rồi thả, do đó Trung đoàn 310 không phải thực hiện chủ trương này; các huyện Vĩnh Cửu, Tân Uyên, Sông Bé, Xuân Lộc không tiến hành việc tảo thanh; duy chỉ có huyện Long Thành do Ủy ban kháng chiến hành chính huyện tiến hành tảo thanh một số chức sắc phản động Cao Đài.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:18:24 pm »

2.Đánh tháp canh, phá chiến thuật bao vây chia cắt của địch

Bước sang năm 1949, trước cuộc kháng chiến đang ngày càng phát triển của nhân dân ta, tại Nam Bộ thực dân Pháp lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Tài chính thiếu hụt trước nhu cầu quá sức của cuộc chiến tranh. Mặc dù được tăng viện (thêm 30.000 quân trên cả nước, tổng số quân cuối năm 1948 lên 160.000 trong đó có 85.000 Âu Phi), chúng vẫn lúng túng trước mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, một mặt muốn tập trung bình định dứt điểm Nam Bộ và mặc khác cần đưa quân ra chiến trường Bắc Bộ. Trong cuộc hội nghị về phòng vệ Đông Dương ngày 4 tháng 2 năm 1949 tại Sài Gòn, Cao ủy Pi-nhông thắng thê với chủ trương: dồn nỗ lực quân sự vào Nam Bộ, tập trung bình định, thực hiện chiêu bài lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Theo đó, kế hoạch bình định Nam Bộ được hoàn thiện thêm một bước trên cơ sở phát triển kế hoạch năm 1948, trong đó bổ sung nhấn mạnh việc thực hiện chiến thuật Đờ La-tua.


Đờ La-tua (Pierre Boyer De Latour du Moulin) là một trong những viên tướng nổi tiếng ở Pháp, có kinh nghiệm về bình định lãnh thổ, được điều từ Ma Rốc sang Sài Gòn từ tháng 7 năm 1947 thay tướng Ny-Ô (Nyo), hầu “có thể nhanh chóng vãn hồi đưọc an ninh cho Nam Việt theo kỳ vọng của Pháp”1 (Lê Văn Dương: Quân lực Việt Nam cộng hòa trong giai đoạn hình thành (1946-1955) - Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, 1972, tr.61). Kế hoạch “vãn hồi” của Đờ La-tua gồm 3 giai đoạn với 6 biện pháp2 (Ba giai đoạn: 1- Thời kỳ đẩy lùi đối phương (các tiểu đoàn chính quy Pháp đẩy lùi các đơn vị chủ lực Việt Minh, phá hủy các căn cứ địa); 2- Thời kỳ củng cố (đặt đồn bót trên một vành đai an ninh mới); 3- Thời kỳ tiêu trừ (tái lập sinh hoạt, xây dựng các cơ sở hành chánh xã ấp, tổ chức hương dõng, bảo đảm an ninh vùng chiếm đóng)), trong đó bao gồm biện pháp chiến thuật đồn bót tháp canh. Nội dung của chiến thuật tháp canh là tổ chức phòng vệ vững chắc các trục lộ giao thông và vùng kinh tế quan trọng, tạo thành một hệ thống ô vuông liên hoàn, có thể hỗ trợ lẫn nhau làm nhiệm vụ kiểm soát thường xuyên đường giao thông, vùng khai thác kinh tế, bảo vệ các đoàn xe và chia cắt lãnh thổ khống chế hoạt động của đối phương.


Tháp canh có cấu trúc hình vuông, mỗi cạnh dài 3 mét, tường xây bằng gạch cao trung bình 10 mét, nóc lợp tôn hoặc ngói. Tháp canh gồm 3 tầng, tầng trên cùng có lỗ châu mai. Xung quanh mỗi tháp bao một lũy đất dày cao 2 mét, có vách ken bằng các loại cây như cây dừa, tre. Bên ngoài có nhiều lớp hào lũy, kẽm gai, chông mìn, thả chó ngỗng và hệ thống đèn chiếu sáng vào ban đêm. Cửa ra vào hẹp và quanh co, đóng kín bằng các ngựa trụ và buổi tối thường được gài kèm lựu đạn. Các tháp canh cách nhau 1 ki-lô-mét, có khi gần hơn (300-500 mét) tùy địa hình miễn sao giáp nối được khoảng cách quan sát và yểm trợ lẫn nhau khi bị tiến công. Giữa 5-7 tháp canh có 1 tháp canh mẹ. Tháp canh mẹ đóng ở những điểm trọng yếu, được xây dựng kiên cố hơn, thường có một phần ngầm dưới đất, giữa có lô cốt chỉ huy. Lực lượng trong mỗi tháp canh có từ 1 tiểu đội đến 1 tiểu đội tăng cường, do 1 hạ sĩ hoặc trung sĩ chỉ huy, được trang bị súng trung liên, phóng lựu, vũ khí cá nhân và nhiều lựu đạn. Riêng tháp canh mẹ (chỉ huy nhiều tháp canh con) có thêm hỏa lực cầu vồng để bắn yểm trợ và trang bị máy truyền tin chỉ huy.


Ngoài các chức năng đã nêu ở trên, hệ thống tháp canh còn làm chỗ dựa để từ đó địch tổ chức càn quét sâu vào căn cứ kháng chiến, mở rộng vùng chiếm đóng, mở rộng đến đâu đóng thêm tháp canh đến đó, theo lối “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”.


Thực hiện chiến thuật Đờ La-tua, từ đầu năm 1948, trên địa bàn tỉnh Biên Hòa, thực dân Pháp bắt đầu triển khai xây dựng tháp canh. Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh Biên Hòa có 78 đồn bót và nhiều tháp canh1 (Báo cáo gửi Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam của Đoàn đại biểu quân sự Khu 7 năm 1949 - Phòng Khoa học Công nghệ môi trường Quân khu 7, LS.15, tr.11). Bước sang năm 1949, đồng thời phát triển ngụy binh, chúng xây dựng ồ ạt thêm nhiều tháp canh dọc trên các quốc lộ 1, 15, 20, các tỉnh lộ 24, 16, 2, các lối dẫn vào đồn điền cao su. Nhiều đồn bót tháp canh cũ được xây dựng nâng cấp kiên cố hơn. Đến mùa thu năm 1949, khi thực dân Pháp đã triển khai xong hệ thống tháp canh, toàn tỉnh Biên Hòa có 79 đồn và hàng trăm tháp canh khác2 (Tài liệu đã dẫn, tr.8 ).


Hệ thống đồn bót tháp canh của địch, với các hoạt động của nó đã gây cho ta rất nhiều khó khăn. Việc di chuyển đi lại của các đơn vị vũ trang không còn được như trước. Một phân đội của Trung đoàn 310 đang làm nhiệm vụ ở Tân Ba bị lính tháp canh địch phát hiện báo cho lực lượng từ thị xã Biên Hòa sang tập kích gây thiệt hại nặng. Việc tiêu diệt tháp canh với hệ thống công sự phòng thủ kiên cố trong điều kiện quân ta chỉ có vũ khí thô sơ trở nên khó thực hiện. Chấp hành chỉ thị của Bộ Tư lệnh Khu 7 về việc nghiên cứu cách đánh tháp canh địch, một số đơn vị trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã thử áp dụng nhiều cách đánh nhưng chưa có hiệu quả.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:19:26 pm »

Sau khi nghiên cứu kỹ cấu trúc tháp canh và qui luật hoạt động của lính gác, đội du kích huyện Tân Uyên do Trần Công An (Hai Cà) chỉ huy tìm ra một cách đánh: sử dụng lực lượng nhỏ, bí mật đột nhập vào chân tường tháp canh, dùng thang leo lên thả lựu đạn vào trong tháp. Như thế, yếu tố có ý nghĩa quyết định là quá trình tiếp cận và leo lên tường tháp phải bảo đảm tuyệt đối bí mật, an toàn. Tại căn cứ, đội du kích Tân Uyên bí mật tổ chức luyện tập cách đánh tháp canh. Các chiến sĩ chỉ mặc quần cụt, bôi bùn kín người cho tiệp với màu đất. Thời cơ tiếp cận là lúc lính canh đổi gác hoặc bật lửa hút thuốc. Đầu thang có bọc vải để tránh gây tiếng động khi tiếp xúc với tường gạch. Cách thực nghiệm là, trên 1 ngọn cây độc mộc làm tháp canh giả, người ngồi ở trên dùng đèn soi quét xuống các hướng phải không phát hiện được du kích bên dưới đang bò vào.


Đêm 18 rạng 19 tháng 3 năm 1948, tổ du kích Tân Uyên gồm bốn chiến sĩ và một cơ sở mật tổ chức đánh tháp canh cầu Bà Kiên trên tỉnh lộ 16. Vũ khí mang theo gồm 1 súng, 10 lựu đạn (1 của Mỹ, 9 tự tạo) và 1 thang tre (dùng để hái trầu, mượn của dân). Trận đánh diễn ra đúng như phương án tập luyện. Ba chiến sĩ xung kích Trần Công An, Hồ Văn Lung, Trần Văn Nguyên leo lên thả lựu đạn qua lỗ châu mai vào cả trong ba tầng tháp. Bên ngoài, du kích Nguyễn Văn Ai cầm sung gác ở đầu cầu sẵn sàng bắn chi viện và Trần Văn Hỏi (cơ sở mật) giữ cửa mở. Kết quả, tường tháp không đổ nhưng cả 11 tên lính bị tiêu diệt. Ta thu 8 súng và 20 lựu đạn.


Chiến thắng cầu Bà Kiên chẳng những đánh dấu lần đầu tiên lính tháp canh bị tiêu diệt tại chỗ, mà quan trọng hơn đã gợi mở ra một lối đánh mới nhằm chống lại có hiệu quả chiến thuật tháp canh của Pháp.


Tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Khu 7 phối hợp với Tỉnh đội Biên Hòa tổ chức hội nghị chuyên đề đánh tháp canh. Sau khi nghe báo cáo kinh nghiệm trận cầu Ba Kiên ngày 19 tháng 3 năm 1948, phân tích những thay đổi đối phó của địch, hội nghị quyết định: có thể sử dụng phương pháp bí mật đột nhập, dùng một loại mìn đặc biệt để tiêu diệt tháp canh. Khoa quân giới Khu 7 được giao nhiệm vụ sản xuất một loại mìn có thể đánh sập tường tháp. Tỉnh đội Biên Hòa có trách nhiệm tổ chức các tổ đánh tháp và triển khai ngay công tác luyện tập.


Cuối năm 1949, tại khu vực Bà Đã, Chiến khu Đ, 300 chiến sĩ du kích ưu tú được tuyển chọn từ các địa phương tỉnh Biên Hòa bước vào đợt tập luyện. Dưới sự chỉ huy của tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ và sự hướng dẫn của đội tập mẫu du kích Tân Uyên, các chiến sĩ chia thành 5 tổ (mỗi tổ có 6 người) tập kỹ chiến thuật đột nhập tháp canh và sử dụng mìn. Khoa quân giới Khu 7 phân công đồng chí Đặng Sỹ Hùng chỉ huy trực tiếp nghiên cứu cầu Bà Kiên, từ đó cải tiến chế ra một loại mìn lõm (Ba-zô-min) đánh phá bê tông, đem đánh thử đạt kết quả tốt, làm sập chân cầu Bà Kiên, từ đó kết luận mìn lõm có thể đánh sập tường tháp canh. Vấn đề còn lại là tìm cách đột nhập vào tháp để đánh mìn.


Sau 3 tháng tập luyện thành thục, đêm 21 rạng 22 tháng 3 năm 1950, 300 chiến sĩ du kích chia thành 50 tổ đồng loạt đánh 50 tháp canh trên các quốc lộ 1, 15, tỉnh lộ 24, 16. Kết quả, cả 50 tháp canh đều thủng 1 lỗ lớn đường kính 0,6-1,5 mét nhưng không cái nào bị sập. Phần lớn bọn lính trong tháp canh bị chết hoặc bị thương. Số còn sống cùng với tên gác trên nóc tháp đã sử dụng hỏa lực để chống cự, đối phó với lực lượng tiến công.


Từ loạt đánh 50 tháp canh, Bộ Tư lệnh Khu 7 và Tỉnh đội Biên Hòa họp hội nghị rứt kinh nghiệm, bổ sung hoàn chỉnh cách đánh, bằng cách sẽ thả bồi thêm quả mìn vào trong tháp canh sau khi tường đã bị đánh thủng. Khoa quân giới Khu 7 hoàn thiện loại mìn phá tường (gọi là FT) và chế tạo mới loại mìn mới để đánh sập tháp (gọi là Bêta).


Đêm 18 rạng 19 tháng 4 năm 1950, tổ đánh tháp canh của Tân Uyên do huyện đội phó Trần Công An chỉ huy có sự tham gia của tỉnh đội phó Bùi Cát Vũ, với hai quả mìn FT và Bêta đã đánh sập hoàn toàn tháp canh cầu Bà Kiên lần thứ hai. Kế đó, đầu tháng 5 năm 1950, tổ du kích Tân Uyên đánh sập tháp canh Vàm Giá trên lộ 14, diệt một trung đội Lê dương, thu 27 súng các loại và nhiều đạn dược, quân dụng. Phát huy thắng lợi trận Bà Kiên, trận Vàm Giá, lực lượng vũ trang Biên Hòa tiếp tục đánh hàng chục đồn bót tháp canh khác trên địa bàn toàn tỉnh (An Chữ, Cổng Xanh, Lô 10, Rạch Tre, Tân Hạnh, rạch Sỏi), và sang cả các tỉnh bạn như Thủ Dầu Một, Gia Định, Chợ Lớn, Bà Rịa, Tân An, Mỹ Tho.


Với trận cầu Bà Kiên lần thứ hai và trận Vàm Giá, cách đánh tháp canh được hoàn thiện. Tại hội nghị tổng kết chiến dịch Bến Cát tháng 11 năm 1950, cách đánh bí mật tiếp cận dùng mìn để hủy diệt mục tiêu được gọi là cách đánh đặc công. Từ đây cách đánh tháp canh được phổ biến rộng rãi ra toàn chiến trường Khu 7, Nam Bộ, Trung Bộ và cả nước, đồng thời vận dụng không chỉ diệt tháp canh mà cả trong các mục tiêu khác của địch. Các tổ chức đơn vị vũ trang được biên chế thêm bộ phận đặc công.


Tân Uyên - Chiến khu Đ trở thành nơi khởi phát, thành quê hương của cách đánh đặc công. Du kích Tân Uyên, về sau thành lập đại đội bộ đội địa phương Nguyễn Văn Nghĩa, được công nhận là đại đội đặc công đầu tiên của cả nước. Chiến sĩ Trần Công An sau này được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Để tiến hành kháng chiến thắng lợi, Đảng ta xác định “phải có lực lượng vũ trang hùng hậu”1 (Kháng chiến nhất định thắng lợi - Nxb Sự thật, H.1967, tr.103) từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính qui “vận động chiến là cách đánh bằng quân chính qui hoặc quân du kích kết hợp lại thành đội tương đối lớn phối hợp với quân chính qui”2 (Tài liệu đã dẫn, tr.30). Tháng 1 năm 1949, Xứ ủy Nam Bộ triệu tập hội nghị quân sự nhằm kiểm điểm toàn diện công cuộc kháng chiến trong 4 năm qua và đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới. Tại hội nghị, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đọc một báo cáo quan trọng, trong đó đề ra sáu nhiệm vụ trước mắt: “Gấp rút chỉnh đốn lại bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân, tổ chức lại bộ máy quân giới, quân nhu, gia tăng công tác chính trị, địch vận, tuyên truyền đẩy mạnh phong trào thi đua giết giặc lập công”1 (Văn kiện hội nghị Xứ ủy Nam Bộ 9-1949 - Phòng Khoa học công nghệ môi trường).


Giữa năm 1949, Tiểu đoàn Quốc Tuấn của Trung đoàn 310 được xây dựng thành tiểu đoàn chủ lực. Hai tiểu đoàn còn lại (Lê Lợi, Quang Trung) vẫn giữ là tiểu đoàn địa phương. Tiểu đoàn chủ lực của Trung đoàn 310 có 3 đại đội khinh binh gồm: đại đội Lạc An, đại đội Bắc Sơn và đại đội Bạch Đằng. Ban chỉ huy tiểu đoàn gồm: Phạm Quang Thuần (tiểu đoàn trưởng), Lê Văn Chừng (tiểu đoàn phó), Nguyễn Đình Vị (chính trị viên). Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên trên chiến trường tỉnh Biên Hòa. Đến cuối năm 1949, Trung đoàn 310 hợp nhất với Trung đoàn 301 (Thủ Dầu Một) thành lập Liên Trung đoàn 301-310.


Trung đoàn 310 đã hoàn thành nhiệm vụ của mình là một trung đoàn địa phương mà tiền thân là các chiến sĩ vệ quốc thuộc các địa phương tỉnh Biên Hòa - đơn vị từng sinh ra, trưởng thành và chiến đấu gắn bó với mảnh đất Biên Hòa. Từ thời kỳ đầu, khi chưa có tổ chức Đảng trong lực lượng vũ trang nhưng các đơn vị luôn bám sát và hoạt động theo đường lối của Đảng, từ giữa năm 1947 trở về sau, khi có tổ chức Đảng từ trên đến dưới; Cán bộ, chiến sĩ của Chi đội 10, Trung đoàn 310 là bộ đội của Đảng, được Đảng trực tiếp lãnh đạo, giáo dục đã trưởng thành nhanh chóng. Phương châm hoạt động của đơn vị là luôn luôn tấn công, chủ động tìm địch mà diệt, Trung đoàn chiến đấu được trên các chiến trường có địa hình khác nhau mà sở trường là linh hoạt phân tán và tập trung, đánh những trận giao thông chiến có hiệu quả, vừa chiến đấu vừa huấn luyện và rèn cán, chỉnh quân để trở thành đơn vị có bản lĩnh chính trị vững vàng, tác phong chính qui, trình độ chiến thuật, kỹ thuật, kỹ luật chiến trường ngày càng nâng cao. Quá trình hoạt động, chiến đấu là quá trình đoàn kết và phối hợp chặt chẽ với các ngành, các giới từ tỉnh đến xã ấp, xây dựng cơ sở, phát triển du kích, hệ thống dân quân để từ đó hình thành ba thứ quân trong tỉnh, chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân.


Trước tình hình mới, nhiệm vụ mới, Trung đoàn 310 đứng trong đội hình một đơn vị quân sự lớn hơn về qui mô tổ chức, với trách nhiệm nặng nề hơn trong cuộc chiến đấu còn rất gian lao phía trước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:00:38 pm »

Chương ba
LIÊN TRUNG ĐOÀN 301 - 310
(11-1949 - 10-1950)


I.THÀNH LẬP LIÊN TRUNG ĐOÀN 301 - 310

Ngày 18 tháng 8 năm 1949, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về tình hình nhiệm vụ, trong đó nêu rõ: “Cuộc chiến tranh của ta đã chuyển sang giai đoạn cầm cự và chuẩn bị tổng phản công. Trong giai đoạn này, Đảng ta lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ, nhưng vận động chiến phải nâng lên ngang với du kích chiến và trở nên chủ yếu"1 (Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp. Nxb Sự thật. Tập 1. tr.327-328). Ngay sau khi có chỉ thị trên, Xứ ủy Nam Bộ mở hội nghị triển khai nhiệm vụ “tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” (25-8-1949). Từ đây, khẩu hiệu tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công chi phối mọi hoạt động kháng chiến, trong đó có vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân. Tiếp sau nghị quyết Xứ ủy về việc Đảng lãnh đạo lực lượng vũ trang (29-8-1949, Xứ ủy - Bộ Tư lệnh Nam Bộ triệu tập hội nghị quân sự Nam Bộ (từ ngày 3 đến ngày 5-9-1949). Đây là hội nghị quân sự lớn nhất ở Nam Bộ từ sau Nam Bộ kháng chiến nhằm nhìn lại, đánh giá một cách sâu sắc những vấn đề quân sự ở Nam Bộ, bàn phương hướng nhiệm vụ mới một cách toàn diện, ra nghị quyết 8 chuyên đề trong đó có chuyên đề nhiệm vụ chiến lược - bố trí quân lực thể hiện tinh thần “tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công”. Tại hội nghị, Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đọc báo cáo và nêu 6 mặt công tác chủ yếu trước mắt trong đó có việc gấp rút chỉnh đốn bộ máy chỉ huy quân sự các cấp, xây dựng ba thứ quân. Hội nghị thông qua ba yêu cầu nhiệm vụ quân sự: đưa du kích chiến tranh lên vận động chiến, đẩy mạnh vận động chiến tiến tới với phương châm theo chỉ thị của Trung ương (từ năm 1948): “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, ra sức xây dựng căn cứ địa”.


Thi hành nghị quyết Hội nghị quân sự Nam Bộ nói trên, ngày 18 tháng 11 năm 1949, Bộ Tư lệnh Nam Bộ ra mệnh lệnh 137/ML-NB xúc tiến thành lập các liên trung đoàn, xây dựng các tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập. Tinh thần của mệnh lệnh này là: trong khi nâng cấp biên chế bộ đội tập trung từ trung đoàn đến liên trung đoàn, mỗi đơn vị cần tổ chức một bộ phận mạnh có tính chất “quả đấm” cơ động, giữ vai trò “chủ lực”1 (Từ dùng trên chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ: "đại đội chủ lực" tỉnh, "tiểu đoàn chủ lực" của trung đoàn, "tiểu đoàn chủ lực khu"... (từ "chủ lực" không theo nghĩa hiện nay mà gắn với địa phương, đơn vị)) ở địa phương, đồng thời tổ chức các đại đội độc lập đưa về các vùng xung yếu để vừa chiến đấu hỗ trợ vừa nâng đỡ lực lượng và phong trào du kích địa phương, trong đó nhiệm vụ nâng đỡ là chủ yếu. Thi hành chỉ thị 137/ML-NB trên chiến trường Đông Nam Bộ, có 3 liên trung đoàn được thành lập từ 6 trung đoàn (riêng Trung đoàn 397 Bà Rịa vẫn giữ nguyên (có gốc từ các trung đoàn 307, 309 hợp nhất); Liên Trung đoàn 301 - 310 được thành lập vào cuối tháng 12 năm 1949, do các Trung đoàn 301 Thủ Dầu Một và 310 Biên Hòa hợp nhất1 (Các liên trung đoàn khác cũng được thành lập: Trung đoàn 306 Phạm Hồng Thái và Trung đoàn 312 Gia Định hợp nhất thành Liên trung đoàn 306-312; Trung đoàn 308 Chợ Lớn và Trung đoàn 311 Tây Ninh hợp nhất thành Liên trung đoàn 308-311).


Liên trung đoàn trưởng: Nguyễn Văn Thi

Chính trị viên: Nguyễn Quang Việt (Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thủ Dầu Một kiêm).

Liên trung đoàn phó: Đinh Quang Ân.


Thực hiện phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, khi sắp xếp biên chế, liên trung đoàn ưu tiên đơn vị mạnh cho tiểu đoàn tập trung, phần còn lại được sắp xếp, điều chỉnh thành các đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội khinh binh, bố trí về các địa phương với nhiệm vụ đại đội độc lập. Theo tinh thần đó, tiểu đoàn Quốc Tuấn gốc là tiểu đoàn “chủ lực” của Trung đoàn 310 được chọn là đơn vị nòng cốt để xây dựng tiểu đoàn tập trung, mang phiên hiệu 302. Thực tế là với nhiệm vụ cơ động liên tỉnh, Tiểu đoàn 302 trở thành đơn vị chủ lực khu, cả về mặt chỉ huy, tuy danh nghĩa là tiểu đoàn tập trung của Liên Trung đoàn 301 - 310. Ban chỉ huy Tiểu đoàn 302 gồm: Phạm Quang Thuần - Tiểu đoàn trưởng, Lê Xuân Lựu - Chính trị viên, Vũ Công Phong (sau đó là Bùi Quốc Ủy) - Tiểu đoàn phó.


Khi nâng cấp biên chế liên trung đoàn, nhiều cán bộ, chiến sĩ các Trung đoàn 301 - 310 được điều sang các đơn vị khác như Tiểu đoàn 303, Tiểu đoàn 304 (tiểu đoàn tập trung của Liên trung đoàn 306 - 312). Trong số các cán bộ nói trên có các đồng chí Hoàng Lập Trung, Lương Doãn, Nguyễn Văn Quảng, Quách Học Phát, Lê Văn Mỹ, Tạ Minh Khâm...


Việc nâng cấp biên chế từ trung đoàn lên liên trung đoàn thế hiện sự phát triển của lực lượng vũ trang trên chiến trường Nam Bộ, đặc biệt là lực lượng vũ trang tập trung. Đây là cấp biên chế cao nhất của lực lượng vũ trang tập trung trên chiến trường Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, một cố gắng rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu “tích cực cầm cự, chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” và mục tiêu tích cực “nâng vận động chiến lên ngang với du kích chiến” trong bối cảnh Nam Bộ vẫn đang là một chiến trường du kích và là chiến trường sau lưng địch trong tổng thế chiến trường cả nước.


Tuy nhiên, tình hình lúc bấy giờ đang đặt ra nhiều thử thách đôi với việc nâng cấp biên chế nói trên. Một là chủ trương “chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” lúc bấy giờ (từ mùa thu năm 1949) có biểu hiện của tư tưởng nóng vội, không quán triệt đầy đủ quan điểm “trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh”1 ("Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học" của Ban chỉ đạo tổng kết trực thuộc Bộ Chính trị (Nxb CTQG, H.1996): "Đây cũng là biểu hiện của tư tưởng "đánh nhanh giải quyết nhanh", là việc quán triệt không đầy đủ quan điểm trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh..." (tr.231)); hai là, dưới tính chất, bối cảnh trên của chiến trường Nam Bộ, từ nửa cuối năm 1949, tình thế khó khăn của ta (trên chiến trường này) lại đang ngày càng tăng.


Thực tế là ta đã nâng cấp biên chế lên liên trung đoàn trong bối cảnh cuộc kháng chiến chưa đến giai đoạn chuẩn bị tổng phản công2 (Về ba giai đoạn trong kháng chiến chống thực dân Pháp (phòng ngự, cầm cự, tổng phản công), căn cứ diễn biến thực tế, Bộ Chính trị đã có văn bản kết luận (14-6-1996) về ba vấn đề chỉ đạo chiến lược, trong đó giai đoạn II từ năm 1948 đến năm 1950, nội dung là: đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện phát triển chiến tranh du kích, từng bước lên vận động chiến... Giai đoạn 3 từ 1951-1954: phát huy quyền chủ động chiến lược, phát triển tiến công và phản công) và đặc biệt đối với Nam Bộ tình hình đó càng hiện rõ, những thử thách cụ thể đặt ra lúc bấy giờ là:

Trực tiếp và bức bách là vấn đề bảo đảm, đặc biệt là bảo đảm lương thực và quân nhu nói chung. Trước sau miền Đông Nam Bộ vẫn là chiến trường thiếu lương thực, từ cuối năm 1949 trở đi, việc đó lại ngày thêm nghiêm trọng, sự thiếu đói trở nên thường trực, việc đảm bảo lương thực cho cấp trung đoàn đã khó, cho liên trung đoàn còn khó hơn.


Bên cạnh khó khăn nghiêm trọng nói trên, những vấn đề khác đặt ra cũng không nhỏ: trình độ cán bộ chỉ huy và trình độ tác chiến của bộ đội nói chung chưa tương xứng cấp trung đoàn, liên trung đoàn; việc cung cấp trang bị vũ khí rất hạn chế... Ngoài ra còn vấn đề căn cứ cấp liên trung đoàn trong bối cảnh Nam Bộ là “chiến trường sau lưng địch”1 (Đồng chí Lê Duẩn khi là Bí thư Trung ương Cục đã nhìn lại, đánh giá, thời kỳ này: "Không thấy được bây giờ chúng ta đang nằm trong cái thế phòng ngự... cái thế bị bao vây và phá vây của Nam Bộ", ý thức sai lầm "tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công",... "chúng ta đang đi vào tư tưởng chính quy, tư tưởng chủ lực, vận động chiến ăn to, đánh lớn...", "chính lúc ấy lệnh tổng động viên đưa ra...", "toàn bộ bộ máy quân sự bên trên khu chỉ lo xây dựng mấy đơn vị chủ lực", "các đồng chí Khu 7, Khu 6 càng nặng thêm về chủ lực, ăn to đánh lớn, và cho đó là con đường thoát khỏi bị động, bế tắc lúc bấy giờ và hợp với tình hình chuyển biến "toàn quốc",... Hồ sơ A86-LS/CCTQK7)).


Trên chiến trường Đông Nam Bộ, riêng về mặt tác chiến của bộ đội tập trung, có thể nói năm 1947, đầu năm 1948 từ chi đội “quá độ” lên cấp trung đoàn về biên chế, là thời kỳ phát triển mạnh nhất, nhưng quy mô tác chiến phổ biến ở cấp đại đội hoặc nhiều đại đội, trung đội phối hợp, cũng có trận gọi là liên quân do nhiều đơn vị phối hợp, nhưng không có trận có tổ chức chỉ huy cấp trung đoàn. Nửa cuối năm 1948 và năm 1949, tuy quy mô biên chế cấp trung đoàn nhưng hoạt động tác chiến chưa tương xứng và đến khi nâng quy mô biên chế liên trung đoàn thì điều đó càng hiện rõ.


Ra đời trong bối cảnh như vậy, ngoài Tiểu đoàn 302 tỏ rõ vai trò tiểu đoàn chủ lực khu, phần còn lại của Liên Trung đoàn 301 - 310 vẫn giữ vai trò không khác

thời kỳ hai trung đoàn chưa hợp nhất. Tình trạng đó kéo dài và ngày càng hiện rõ yêu cầu điều chỉnh lại lực lượng, quy mô biên chế theo hướng gọn lại từng tiểu đoàn.

Mặc dù vậy, không thể phủ nhận vai trò của bộ đội tập trung trên chiến trường miền Đông Nam Bộ vào thời kỳ năm 1950, đầu năm 1951, trong đó thể hiện rõ tác dụng của phương châm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” do liên trung đoàn tổ chức thực hiện.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:02:23 pm »

II.THỰC HIỆN CHIẾN DỊCH BẾN CÁT

Năm 1950, khó khăn của ta trên chiến trường miền Đông ngày càng tăng, những yêu cầu chủ yếu về quân sự đặt ra là phá chiến thuật Đờ La-tua, địch đã tăng diện kiểm soát trên chiến trường, đặc biệt là ở những khu vực cao nguyên, tạo nên thế bị chia cắt nghiêm trọng đối với ta. Để phá chiến thuật Đờ La-tua, Bộ Tư lệnh Khu 7 và chỉ huy các đơn vị đều quan tâm, yêu cầu diệt tháp canh và tập trung nghiên cứu vấn đề này.


Từ sau trận đánh cầu Bà Kiên lần 1 (tháng 3-1948 do Trần Công An chỉ huy), trên chiến trường miền Đông, chiến thuật đánh tháp canh không ngừng được cải tiến qua thực tiễn và tổng kết, đặc biệt trận ra quân đồng loạt diệt 50 tháp canh trên nhiều cung đường trong một đêm (22 rạng 23-3-1950) đã tạo nên một bước ngoặt về chiến thuật đánh tháp canh và lần đầu tiên, từ “công đồn đặc biệt” gọi tắt là “đặc công” ra đời. Để đạt được thành công đó phải nói đến lực lượng chủ yếu ban đầu là đội du kích Tân Uyên, quá trình cải tiên sản xuất  vũ khí của các xưởng quân giới khu, của các tỉnh đội Biên Hòa, Thủ Dầu Một, của Liên Trung đoàn 301 - 310, của kỹ sư Lê Tâm (Phòng Quân giới Nam Bộ), và đặc biệt quan trọng là sự nắm bắt, tổng kết, chỉ đạo của Phòng Tham mưu Khu kết hợp với Ban chỉ huy Tỉnh đội, Ban chỉ huy Liên Trung đoàn 301 - 310.


Đầu năm 1950, Bộ Tư lệnh Nam Bộ phát động “chiến dịch mùa Xuân” nhằm hưởng ứng chiến dịch Tây Bắc theo chủ trương của Trung ương Đảng (gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong I). Trên chiến trường Đông Nam Bộ, ta mở “chiến dịch Dầu Tiếng”, nhưng thực chất đây là một đợt hoạt động quân sự kết hợp mục tiêu quân sự và xây dựng các trung đoàn, liên trung đoàn với nội dung là “rèn luyện vận động chiến”. Các đơn vị chủ lực kết hợp chặt chẽ với du kích tập trung huyện, dân quân du kích xã liên tiếp hạ nhiều đồn bót, tháp canh, đánh giao thông ddịch trên các trục giao thông quan trọng. Ý nghĩa chủ yếu của đợt hoạt động này là tạo bước trưởng thành nhất định đối với bộ đội tập trung về tổ chức chỉ huy, hoạt động tác chiến phối hợp nhiều đơn vị trên diện rộng, tạo cơ sở tiến tới chiến dịch Bến Cát sau này.


Tháng 8 năm 1950, Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn được thành lập (theo chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ từ tháng 4 năm 1950, đây là một trong những bước chuẩn bị “tiến tới tổng phản công thắng lợi”). Đặc khu ủy trực thuộc Xứ ủy, Ban chỉ huy quân sự đặc khu có 4 thành viên, Liên trung đoàn trưởng 301 - 310 Nguyễn Văn Thi được điều về làm chỉ huy trưởng. Liên trung đoàn khuyết chỉ huy trưởng.


Chiến dịch Bến Cát (7 tháng 10 đến 15-11-1950, còn gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong) là chiến dịch duy nhất trên chiến trường Đông Nam Bộ thời kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm các mục tiêu: cắt đứt, giải phóng đường số 7 và phần lớn đường 14, tạo thế liên hoàn các căn cứ đông tây; tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên toàn khu, phối hợp chiến dịch biên giới phía bắc, bồi dưỡng lực lượng ta. Với quy mô trung đoàn tăng cường, Ban chỉ huy chiến dịch được thành lập gồm: Tô Ký (Phó Tư lệnh Khu 7) - Chỉ huy trưởng, Vũ Duy Hanh (Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một) - Chính ủy, Lê Đức Anh (Tham mưu trưởng Khu 7) - Tham mưu trưởng. Lực lượng chiến dịch gồm: Tiểu đoàn 303 (chủ lực cơ động của khu), Tiểu đoàn 302 (tiểu đoàn tập trung của Liên Trung đoàn 301 - 310, thực tế cũng là chủ lực khu), Tiểu đoàn 304 (2 đại đội, đơn vị tập trung của Liên trung đoàn 306 - 312), 2 đại đội binh chủng, 4 đại đội độc lập (Bến Cát, Hớn Quản, Châu Thành, Trảng Bàng), du kích huyện Bến Cát. Dân công phục vụ chiến dịch là đơn vị chủ công trong nhiều trận quan trọng của chiến dịch. Tiểu đoàn 302 cùng các đội độc lập và du kích Bên Cát đã giành cả tháng để diễn tập công đồn với mô hình đồn Bến Súc.


Trận Bến Súc (đêm 7 rạng 8-10-1950) là trận chủ yếu mở màn chiến dịch với lực lượng chủ yếu là Tiểu đoàn 302, diệt được phần lớn đại đội lính thuộc địa, phá hủy hai phần ba đồn, nhưng do không diệt được chiếc xe thiết giáp bất ngờ xuất hiện (đồng chí Bé, du kích Tân Uyên) ôm bom xông lên diệt xe nhưng không thành, anh dũng hy sinh) và 3 lô cốt còn lại, nên không tiêu diệt hoàn toàn đồn Bến Súc, ta thương vong gần 100 cán bộ, chiến sĩ. Tuy nhiên, trận đánh tỏ rõ tinh thần chiến đấu dũng mãnh phi thường của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 302 và lực lượng phối thuộc.


Trận công đồn xuất sắc của Tiểu đoàn 302 là trận tiêu diệt đồn Mát-xơ-ri, có cơ sở binh vận của công an Bến Cát làm nội ứng. Tranh thủ đúng thời cơ trung đội Âu Phi đi dã ngoại, 2 tiểu đội trinh sát do đồng chí Dương, đại đội phó Đại đội 30 chỉ huy đã bất ngờ xông vào đồn, có nội ứng hỗ trợ, cả hai trung đội Partisan ra hàng, nộp vũ khí và xin theo kháng chiến. Đồn bị thiêu hủy hoàn toàn.
Các trận công đồn Bến Súc và Mát-xơ-ri làm cho địch ở nhiều đồn bót lân cận hoang mang, bỏ chạy.


Ngày 21 tháng 10, Tiểu đoàn 302 cùng các Tiểu đoàn 303, 304 phối hợp đánh một đoàn xe lớn của địch gồm 200 chiếc trên quốc lộ 13, đốt cháy 65 xe, thu 12 xe, 11 máy vô tuyến điện.


Đợt 3 chiến dịch Bến Cát nổi bật trận đánh đặc biệt làm vỡ nòng pháo 105 ly giữa đồn Rạch Kiến (đêm 8-11-1950). Trận đánh chỉ có 2 người: chủ công là chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn 302 Nguyễn Văn Rỡ, người hỗ trợ là tiểu đội trưởng công binh Việt. Vượt qua rào kẽm gai, hệ thống đèn pha, tường và chó tuần tra do một tên Pháp dẫn dắt, lần thứ nhất Rỡ đã vào tận khẩu pháo giữa đồn địch “xem tận mắt, sờ tận tay”, đo đạc; lần thứ hai trở vào với bộc phá Pê-ta (có dây dẫn nối với bình điện), nhét thẳng vào nòng pháo địch... Pháo 105 ly bị đánh vỡ toác nòng. Trận đánh tuy nhỏ nhưng rất đặc sắc, mở ra một khả năng mới trong quá trình hoàn chỉnh chiến thuật đánh tháp canh mà Khu 7 đang nghiên cứu: bí mật tiềm nhập “xem tận mắt, sờ tận tay” mục tiêu, “nở hoa trong lòng địch”, một khắc họa ban đầu về chiến thuật của binh chủng đặc biệt tinh nhuệ sau này được gọi là đặc công”1 (Theo sách "Sông Bé lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975)" - Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Sông Bé. Tiểu đoàn trưởng 302 Phạm Quang Thuần đã đặt tên cho cách đánh của Nguyễn Văn Rỡ là "chiến thuật công đồn đặt biệt" gọi tắt là "đặc công". Từ "đặc công" đã ra đời từ đây).


Phát huy cách đánh trên, tiểu đội trưởng Việt và Lầm cùng tổ chiến đấu đã đánh sập chòi gác cao được mệnh danh là pháo đài của tiền đồn Bến Súc, diệt tên quan hai Pháp và địch trong chòi, thu khẩu trọng liên 12,7 ly và nhiều súng đạn.


Vào ngày cuối chiến dịch Bến Cát (15-11-1950) Tiểu đoàn 302 cùng Tiểu đoàn 303 còn diệt 20 xe địch và lực lượng hộ tống trên quốc lộ 13 (quãng từ Cây Xoài lên Chơn Thành).


Chiến dịch Bến Cát không chỉ đạt về cơ bản mục tiêu như diệt nhiều sinh lực địch2 (Đánh trên 300 trận lớn nhỏ, diệt 509 tên địch, làm bị thương 195 tên, bắt 120 tên, đánh sập hàng chục tháp canh, tua, đồn bót, 12 cầu cống, phá hủy 84 xe quân sự, 5 đầu máy xe lửa, đánh chìm 7 tàu xuồng chiến đấu, thu nhiều vũ khí, đồ dùng quân sự), gây tác động tích cực phong trào chiến tranh nhân dân toàn chiến trường, mà còn thể hiện một bước trưởng thành về công tác tham mưu, trình độ chỉ huy hoạt động phối hợp nhiều đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội, phối hợp giữa bộ đội tập trung với các lực lượng tại chỗ, tác chiến trên một địa bàn tương đương huyện, thời gian kéo dài, vận dụng nhiều chiến thuật; phục kích vận động, đánh công kiên, đặc biệt tiếp tục phát triển một bước mới về cách đánh tháp canh, bước đầu khắc họa tư tưởng, động tác cơ bản của chiến thuật binh chủng tinh nhuệ sau này.

Trong chiến dịch, Tiểu đoàn 302 xứng đáng vai trò một trong những đơn vị chủ công.


Tuy nhiên, chiến dịch Bến Cát cũng vấp phải khuyết điểm về huy động lực lượng, có thể nói đây là lần ra quân “dốc sức” cả về người1 (Huy động hết các Tiểu đoàn chủ lực 302, 303, 304, các đại đội "bén" của các liên trung đoàn, các đại đội binh chủng mới xây dựng... gồm 5.000 cán bộ, chiến sĩ bộ đội tập trung và dân quân du kích, 30.000 dân công) và phương tiện để những năm về sau Khu 7 không còn khả năng mở chiến dịch. Bí thư Xứ ủy Lê Duẩn đánh giá “chiến dịch Bến Cát đánh dấu một bước trưởng thành quan trọng của các lực lượng vũ trang Khu 7, đưa phong trào kháng chiến của quân dân miền Đông Nam Bộ hòa nhịp với cuộc kháng chiến trên cả nước”, nhưng cũng cho rằng do chiến dịch Bến Cát mà Khu 7 kiệt quệ. Trong chiến dịch, ta cũng bộc lộ một số khuyết điểm về chỉ đạo, chỉ huy như đánh nhiều mục tiêu cùng một lúc, không dứt điểm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch, dự kiến không hết những tình huống phức tạp có thể xảy ra, chưa đánh được quân viện...


Theo chỉ đạo của Xứ ủy, sau chiến dịch Bến Cát, trên chiến trường miền Đông ta tập trung xây dựng bộ đội địa phương huyện từ du kích tập trung và một số đại đội độc lập; một số đại đội độc lập trở về bộ đội chủ lực, hoàn chỉnh hình thức lực lượng vũ trang địa phương ba cấp (bộ đội tập trung tỉnh, bộ đội địa phương huyện, dân quân du kích), về cơ chế, cuối năm 1950 đã hoàn thành hợp nhất hệ thống cơ quan dân quân với lực lượng vũ trang tập trung địa phương gọi là Ban chỉ huy thống nhất Vệ quốc đoàn và dân quân, ở cấp tỉnh, huyện gọi tắt là tỉnh đội, huyện đội. Có nhiều cán bộ các liên trung đoàn được điều về các tỉnh đội, huyện đội. Khi hợp nhất hai tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên, Ban chỉ huy đầu tiên của Tỉnh đội gồm:

Tỉnh đội trưởng: Huỳnh Văn Nghệ.

Chính trị viên: Nguyễn Quang Việt (Bí thư Tỉnh ủy).

Phó chính trị viên: Lê Hồng Lĩnh.

Các tỉnh đội phó: Tùng Lâm (Trịnh Văn Tạo), Đinh Quang Ân, Thanh Tâm (Nguyễn Văn Trực).


Theo yêu cầu “đẩy mạnh vận động chiến tiến tới”, các trung đoàn chủ lực trên chiến trường Nam Bộ lần lượt được thành lập với các phiên hiệu Đồng Nai, Đồng Tháp, Cửu Long, Tây Đô.


Trung đoàn Đồng Nai (hoạt động tại miền Đông Nam Bộ) gồm các tiểu đoàn 303, 302, 306. Trung đoàn trưởng: Trần Đình Xu, Chính ủy: Lê Xuân Lựu.

Đến đây, tổ chức liên trung đoàn mặc nhiên không còn.

Nhìn lại, việc nâng cấp bộ đội tập trung từ trung đoàn lên liên trung đoàn là một bước phát triển của lực lượng vũ trang ở Nam Bộ, tuy nhiên xét về hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và cả trình độ chỉ huy, trình độ tác chiến của bộ đội trên một chiến trường du kích như Nam Bộ lúc bấy giờ, thì việc đó chưa phù hợp. Điều đó có hạn chế vai trò của bộ đội tập trung trong một thời gian nhất định, nhưng cũng vào thời gian đó phương châm “đại đội tập trung - tiểu đoàn tập trung đã phát huy được tác dụng ở nhiều địa phương, hạn chế được phần nào khó khăn đang ngày càng tăng trên chiến trường”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:03:23 pm »

KẾT LUẬN


Chỉ tồn tại hoạt động trong vòng 5 năm (1945-1950), nhưng Chi đội 1 - Chi đội 10, Trung đoàn 301 - Trung đoàn 310, rồi Liên Trung đoàn 301-310 đã lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, chiến đấu và công tác, góp phần thúc đẩy phong trào chiến tranh nhân dân phát triển mạnh mẽ ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Địa bàn hoạt động của Liên Trung đoàn 301-310 rộng ra khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ nhưng tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Có thể nói đây là hai tỉnh trung tâm của miền Đông Nam Bộ, vừa áp sát thành phố Sài Gòn từ phía đông và đông bắc, trấn giữ nhiều đường giao thông thủy bộ quan trọng vừa bao gồm vùng rừng núi thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ địa và phần lớn các đồn điền cao su ở Việt Nam lúc bấy giờ. Cư dân Thủ Dầu Một, Biên Hòa vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng mạnh mẽ qua nhiều thời kỳ lịch sử với sự ra đời từ rất sớm các tổ chức Cộng sản và phong trào yêu nước của nông dân, công nhân công nghiệp, công nhân cao su diễn ra liên tục với qui mô lớn. Đặc điểm về địa lý tự nhiên, địa lý quân sự và nhân văn nêu trên đã tác động, chi phối sâu sắc đến lịch sử hình thành, phát triển của Liên trung đoàn.


Do những thuận lợi về địa lý như đã nêu ở trên, ngay sau ngày thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, Nguyễn Bình cùng nhiều cán bộ quân sự và đơn vị vũ trang cách mạng đã rút về Thủ Dầu Một để tổ chức kháng chiến. Và cùng với nhiều yếu tố khác về địa chính trị, địa quân sự, đây là lý do để lực lượng vũ trang cách mạng Thủ Dầu Một tiến lên thành lập chi đội, mang phiên hiệu số 1, ngay từ tháng 11 năm 1945 - Chi đội ra đời đầu tiên trong quá trình hình thành hệ thống của chi đội Vệ quốc đoàn trên toàn Nam Bộ. Chi đội 10 ra đời muộn hơn, trong nỗ lực gắn kết các tổ chức vũ trang địa phương tỉnh Biên Hòa với lực lượng từ các chiến trường khác đổ về Chiến khu Đ dưới ảnh hưởng uy tín nhà chỉ huy quân sự tài hoa Huỳnh Văn Nghệ. Trong hai năm đầu kháng chiến, Chi đội 1, Chi đội 10 vừa nỗ lực xây dựng đơn vị, đưa mọi hoạt động vào khuôn phép tổ chức dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản, vừa kiên quyết bám trụ, đẩy mạnh hoạt động tác chiến, tổ chức nhiều trận đánh giao thông nổi tiếng ở bến Ông Khương, Bảo Chánh, Bàu Cá, Đồng Xoài...


Bước sang năm 1948, ngày 27 tháng 3, nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cuộc kháng chiến lên cường độ cao, Chi đội 1 phát triển thành Trung đoàn 301 và Chi đội 10 phát triển thành Trung đoàn 310. Trong bối cảnh thực dân Pháp chuyển hướng chiến lược chiến tranh từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh kéo dài, điều chỉnh lực lượng tập trung bình định Nam Bộ, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310 tập trung kiện toàn đơn vị trong tổ chức biên chế mới, xây dựng cản cứ địa, tăng gia sản xuất, đồng thời chủ động phân tán lực lượng đẩy mạnh hoạt động tác chiến hỗ trợ cho phong trào du kích chiến tranh. Những trận chiến đấu chống càn với qui mô lớn tại các căn cứ địa kháng chiến đặc biệt ở Chiến khu Đ và trận đánh phục kích đoàn xe quân sự của địch ở La Ngà - quốc lộ 20 đánh dấu bước phát triển cao về nghệ thuật tổ chức trận đánh, trình độ chỉ huy của cán bộ, trình độ kỹ chiến thuật của chiến sĩ hai trung đoàn trong điều kiện thiếu thốn về hậu cần và trang bị kỹ thuật.


Trong xu thê lực lượng vũ trang cả nước thực hiện “vận động chiến tiến tới”, ngày 18 tháng 11 năm 1949, Liên Trung đoàn 301-310 được thành lập trên cơ sở sáp hợp hai Trung đoàn 301 và 310. Trong đội hình Liên trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực được xây dựng, đánh dấu sự ra đời 3 thứ quân trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Không có những trận đánh lớn cấp liên trung đoàn, từng đơn vị trong đội hình liên trung đoàn chia tỏa về từng địa phương đánh địch càn quét, phá hoại kinh tế của địch tại các đồn điền cao su, cơ sở kinh tế, dọc trục lộ giao thông thủy bộ, phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh tiêu diệt đồn bót, tháp canh địch. Song song với hoạt động tác chiến, Liên trung đoàn tổ chức các đơn vị luân phiên học tập chính trị, tổ chức đời sống văn hóa văn nghệ, huấn luyện quân sự, xây dựng các cơ sở sản xuất, vận chuyển hàng hóa, công binh công xưởng nhằm nâng cao khả năng tự bảo đảm về hậu cần kỹ thuật.


Mùa thu năm 1950, để tổ chức những trận đánh lớn phối hợp với chiến dịch Biên giđi, Bộ Tư lệnh Nam Bộ quyết định giải thể các liên trung đoàn để thành lập các trung đoàn chủ lực. Từ đây Liên Trung đoàn 301-310 kết thúc nhiệm vụ. Từng đơn vị nhỏ chia tỏa ra hoặc về xây dựng Trung đoàn chủ lực Đồng Nai của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, hoặc về các đơn vị cơ động của Khu 7, của các tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa, các cơ quan quân sự địa phương. Trong tổ chức biên chế mới, cán bộ chiến sĩ cũ của Liên trung đoàn lại tiếp tục chiến đấu, tham gia chiến dịch Bến Cát, đánh địch trên các quốc lộ 1, 13, 14, 15, 20, trên dọc sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ, vận tải hàng hóa đạn dược từ Hàm Tân, Xuyên Mộc về Chiến khu Đ, xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, làm công tác tôn giáo vận, địch ngụy vận, làm nòng cốt trong phong trào du kích chiến tranh cho đến ngày Nam Bộ ngưng tiếng súng sau Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1181



WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Mười Một, 2019, 09:04:03 pm »

Trên nền tảng phong trào chiến tranh nhân dân ồ địa phương, từ các tổ chức vũ trang nhỏ lẻ Liên Trung đoàn 301-310 đã phát triển thành một đơn vị có qui mô tương đương đại đoàn với khả nảng cơ động và hiệu suất chiến đấu cao. Cùng sinh ra, hoạt động trên chiến trường Nam Bộ, nhưng lịch sử xây dựng và chiến đấu của Liên Trung đoàn 301-310 có những đặc điểm riêng.


Trước hết, các đơn vị tiền thân của Liên Trung đoàn 301-310 ra đời từ rất sớm trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.


Tại Nam Bộ, do những đặc điểm lịch sử riêng, cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, chưa có các đơn vị vũ trang cách mạng tập trung. Sau ngày tổng khởi nghĩa, đặc biệt sau khi thực dân Pháp khởi hấn ở Sài Gòn, các tổ chức vũ trang ồ ạt ra đời. Bên cạnh một số đơn vị do Đảng Cộng sản trực tiếp xây dựng chỉ huy, có không ít tổ chức có thành phần hợp thành hết sức phức tạp, do những phần tử “anh chị”, cơ hội cầm đầu, hoạt động cát cứ không tuân phục sự lãnh đạo của Đảng. Bộ đội hợp thành Chi đội 1 Thủ Dầu Một và Chi đội 10 Biên Hòa chủ yếu là những thanh niên nông dân từ các địa phương, một bộ phận là quân du kích từ khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, công nhân hãng BIF, công nhân hỏa xa, sở củi, công nhân các đồn điền cao su, một số ít là học sinh, sinh viên, trí thức yêu nước... đứng chân trong các tổ chức Thanh niên cứu quốc, Tự vệ chiến đấu, Thanh niên Tiền phong ra đời trước và trong Cách mạng tháng Tám hoặc gia nhập quân đội sau ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trừ một số ít vốn là đảng viên Cộng sản, đại bộ phận trong số họ thuộc giai cấp vô sản, tầng lớp lao động nghèo khổ, căm thù sâu sắc thực dân đế quốc, tự nguyên gia nhập lực lượng vũ trang cách mạng. Yếu tố có ý nghĩa nền tảng trên đây, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cộng với vai trò của phái viên Trung ương Nguyễn Bình (trong việc ông tìm về Thủ Dầu Một, Biên Hòa liên hệ với những thủ lĩnh yêu nước như Huỳnh Kim Trương, Huỳnh Văn Nghệ, dùng uy tín cá nhân để tập hợp thống nhất các tổ chức vũ trang nhỏ lẻ) là những nguyên nhân dẫn đến việc ra đời sớm và thuần nhất của Chi đội 1, Chi đội 10. Trên thực tế, Chi đội 1 chỉ ra đời sau đơn vị Giải phóng quân Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, đúng vào ngày Hội nghị cán bộ quân sự Nam Bộ 20 tháng 11 năm 1945 tại An Phú xã (Gia Định). Và phải đến sau đó mấy tháng nữa, trong nửa đầu năm 1946, các chi đội Vệ quốc đoàn ở miền Đông Nam Bộ nói riêng, trên toàn Nam Bộ nói chung mới thành lập, đồng thời với sự phân hóa và tan rã của những tổ chức vũ trang ô hợp, giả danh cách mạng. Ra đời sớm, thành phần thuần nhất và nằm trong hệ thống lãnh đạo của Đảng Cộng sản và đặc điểm dễ thấy rõ đầu tiên của Liên Trung đoàn 301-310; đặc điểm này càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hết sức phức tạp của tình hình xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thời đoạn đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Thứ hai, lịch sử Liên Trung đoàn 301-310 gắn liền với những trận đánh tập trung qui mô lớn với hiệu suất chiến đấu cao, đặc biệt trên mặt trận đánh giao thông.


Như đã trình bày ở trên, hầu hết cán bộ chiến sĩ Liên trung đoàn xuất thân từ nông dân, công nhân, học sinh trí thức, chưa được đào tạo cơ bản về kiến thức quân sự và trang bị vũ khí đầy đủ. Căm thù giặc sâu sắc, thông minh, quả cảm, cán bộ chiến sĩ Liên trung đoàn lăn xả vào chiến đấu, lấy môi trường chiến đấu làm trường học, khắc phục khó khăn gian khổ, sáng tạo ra muôn vàn cách đánh có hiệu quả. Cán bộ chiến sĩ ngành trinh sát tình báo xây dựng hệ thống điệp báo, cơ sở nắm tin rộng khắp, từ thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn, các thị xã Biên Hòa, Thủ Dầu Một, đồn điền cao su đến các làng mạc dọc đường giao thông, ven vùng căn cứ kháng chiến, cả trong hàng ngũ địch. Nhờ vậy, ban chỉ huy các cấp nắm vững tình hình địch, phát hiện kịp thời gián điệp của địch cài cắm hoạt động trong chi đội, trung đoàn. Cán bộ chiến sĩ ngành tham mưu thông thuộc địa hình, mưu trí dũng cảm, đề xuất nhiều phương án tác chiến táo bạo, bất ngờ, khoa học. Cán bộ chiến sĩ ngành chính trị triển khai có hiệu quả công tác chính trị trong đơn vị, tổ chức tốt đời sống văn hóa văn nghệ, xây dựng hệ thống Đảng các cấp vững mạnh về chính trị tư tưởng và tổ chức, đặc biệt trong những thời điểm gian khổ khó khăn. Cán bộ chiến sĩ ngành hậu cần kỹ thuật tổ chức tốt công tác bảo đảm ản uống và trang bị cho bộ đội trong điều kiện đơn vị phải tự cung cấp là chính, xây dựng hệ thống bảo đảm hậu cần kỹ thuật từ nhiều nguồn khác nhau: dựa vào dân, vận chuyển từ nơi khác về, lấy của địch và tự tăng gia sản xuất. Các xưởng quân giới tự sắm sửa máy móc dụng cụ, sửa chữa súng, nhồi đạn, sản xuất lựu đạn và chế tạo nhiều loại mìn khác nhau phục vụ cho từng trận đánh với các hình thức chiến thuật khác nhau như đánh giao thông đường bộ, giao thông đường sắt, đánh tháp canh địch. Nhờ vậy, các đơn vị thuộc Liên trung đoàn thường tổ chức thành công những trận đánh lớn với nhiều hình thức chiến thuật khác nhau chống địch càn quét vào Chiến khu Đ, tiêu diệt hàng loạt đồn bót tháp canh địch và phục kích đánh địch trên dọc đường giao thông. Trận đánh La Ngà ngày 1 tháng 3 năm 1948 đã đưa ra một hình mẫu tiêu biểu về lối đánh phục kích với lực lượng tham gia cấp trung đoàn trên một chiến trường rộng lớn, có sự chuẩn bị kỹ càng từ trinh sát nắm địch cho đến công tác bảo đảm hậu cần, giải quyết tù hàng binh, hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị thực hành trận đánh.


Thứ ba, Lịch sử Liên Trung đoàn 301-310 gắn liền với hoạt động xây dựng và bảo vệ Chiến khu Đ, với phong trào đấu tranh của nhăn dân Sài Gòn - Chợ Lớn, của công nhân các đồn điền cao su và nhân dân ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa.


Huyện Tân Uyên (tỉnh Biên Hòa) với những ưu thế đặc biệt về địa lý quân sự, ngay từ ngày đầu kháng chiến đã trở thành một căn cứ địa cách mạng, nơi “tụ nghĩa” của nhiều lực lượng kháng chiến không chỉ của riêng tỉnh Biên Hòa, tỉnh Thủ Dầu Một. Từ năm 1946, căn cứ địa này - Chiến khu Đ - trở thành căn cứ của cả Khu 7 và Nam Bộ. Dựa vào địa hình tự nhiên thuận lợi và lòng dân ở đây, cũng như ở nhiều căn cứ du kích, căn cứ lõm khác như Bình Đa, Vĩnh Cửu, Thuận An Hòa, An Thành, Long Nguyên... Chi đội 10, Chi đội 1, sau đó là trung đoàn và Liên trung đoàn đã xây dựng căn cứ đứng chân, thao trường luyện tập quân sự, các cơ sở hậu cần như xưởng quân giới, bệnh viện quân y, khu tăng gia sản xuất, lò gốm, xưởng thuộc da... Bảo vệ Chiến khu Đ không chỉ để bảo vệ căn cứ địa của tỉnh, của Khu, Xứ, mà còn để bảo vệ chính căn cứ của đơn vị mình. Trong quá trình xây dựng và chiến đấu, Liên trung đoàn thường xuyên đề ra kế hoạch và tổ chức lực lượng tham gia xây dựng, bảo vệ Chiến khu Đ, như xây cất lán trại nhà làm việc, hội trường, nhà ở, kho tàng, bố trí hệ thống trạm gác, tuần tra, thực hiện các qui chế phòng gian bảo mật. Các đơn vị được phân công luân phiên làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chiến khu. Những trận chống càn nổi tiếng ở Chiến khu Đ và vùng ven từ cuối năm 1945 cho đến những năm ác liệt sau đó đều gắn liền với chiến công của lực lượng vũ trang cơ động Biên Hòa, Thủ Dầu Một.


Địa bàn hoạt động của Liên Trung đoàn 301-310 bao gồm nhiều đồn điền cao su quan trọng ở miền Đông Nam Bộ thuộc các công ty SIPH, CEXO, Terres rouges, Michelin... Nhiều cán bộ chiến sĩ của Liên trung đoàn vốn là công nhân cao su từ bỏ đồn điền “nóp với giáo mang ngang vai”, “ra đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến”. Nhân dân địa phương, công nhân tại đồn điền tháo gỡ máy móc, quyên góp tiền bạc, gạo vải, thuốc men gửi nuôi bộ đội. Các chi đội, trung đoàn rồi Liên trung đoàn tổ chức đánh địch càn quét, tiêu diệt đồn bót tháp canh dọc lô, làng cao su, hỗ trợ cho công nhân đấu tranh với chủ đồn điền đòi quyền dân sinh dân chủ. Liên trung đoàn còn tổ chức “đại đội cao su” hoặc các đơn vị đặc nhiệm chuyên phối hợp với công nhân trong đồn điền chặt vạc vỏ cây, đốt mủ, phá nhà máy chế biến trong phong trào “cao su chiến”, phá hoại kinh tế của địch. Địa bàn hoạt động của Liên trung đoàn còn gần cạnh thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn và các thị xã Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, trí thức; sự tiếp tế lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm, báo chí, và cả nhân lực từ đô thị là một yếu tố cấu thành sức mạnh của Liên trung đoàn. Và mặc nhiên, hoạt động tác chiến của Liên trung đoàn có tác động sâu sắc đến phong trào đấu tranh của nhân dân địa phương, của cư dân các đô thị. Môi liên hệ này trở nên bền chặt, trở thành một đặc điểm trong lịch sử hoạt động kháng chiến ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa và tiếp tục được phát huy trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cả sang thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, khi không còn phiên hiệu Liên Trung đoàn 301-310.


Từ mùa thu 1950, trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chống thực dân Pháp, ở tổ chức biên chế mới, cán bộ chiến sĩ của Liên Trung đoàn 301-310 lại tiếp tục chiến đấu, góp phần làm nên thắng lợi chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, rồi chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, chiến đấu  bảo vệ biên giới Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối. Nhiều người trong số họ chuyển ngành, góp phần xây dựng và  bảo vệ Tổ quốc trên các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Có người trở thành Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Không còn tổ chức phiên hiệu đơn vị ngày xưa, nhưng tên gọi Chi đội 1, Chi đội 10, Trung đoàn 301, Trung đoàn 310, Liên Trung đoàn 301-310 với những chiến công hào hùng một thời đánh giặc vẫn còn mãi với lịch sử, không chỉ là niềm tự hào của mỗi cán bộ, chiến sĩ đã từng chiến đấu, công tác ở Liên trung đoàn chung cho cả quân và dân miền Đông Nam Bộ, của thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Quân khu 7 hôm nay đang tiếp nối truyền thống cha anh, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM