Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Mười Một, 2020, 03:33:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử liên Trung đoàn 301-310-1945-1950  (Đọc 2325 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:31:19 pm »

c.Luyện quân, nâng cao chất lượng chính trị và trình độ quân sự:

Cuối tháng 7 năm 1947, Tỉnh ủy Biên Hòa triệu tập hội nghị cán bộ Đảng toàn tỉnh lần thứ II ở Mỹ Lộc. Đồng chí Nguyễn Văn Sĩ thay mặt Khu miền Đông về tham dự và chỉ đạo hội nghị. Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Ký được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Biên Hòa. Hội nghị quyết nghị cần phải tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng với phong trào kháng chiến.


Về hoạt động vũ trang ở Biên Hòa, đồng chí Hai Sĩ đánh giá cao hoạt động tác chiến có hiệu quả của Chi đội 10, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế trong tác chiến và xây dựng: Ban chỉ huy Chi đội chưa chú trọng đến công tác xây dựng cơ sở và hỗ trợ đắc lực để xây dựng phong trào du kích chiến tranh ở địa phương; tập trung tác chiến là tốt nhưng khi lực lượng rút đi, cơ sở bị bỏ trống, địa phương không đủ lực lượng đối phó với các hoạt động đánh phá của địch. Đồng chí nhấn mạnh, Ban chỉ huy Chi đội cần chú trọng công tác xây dựng Đảng trong chi đội, đại đội, trung đội và các lực lượng vũ trang khác với các đối tượng là cán bộ, chiến sĩ kiên trung đã trải qua hai năm chiến đấu, nhằm đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng với lực lượng vũ trang.


Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy, ngay trong hội nghị, đồng chí bác sĩ Võ Cương, Chính trị viên Chi đội 10 đã được kết nạp Đảng và bổ sung vào Ban chấp hành Tỉnh ủy. Từ đầu tháng 8 đến cuối năm 1947, công tác phát triển đảng trong Chi đội 10 được đẩy mạnh. Tỉnh uỷ Biên Hoà đã tăng cường nhiều cán bộ đảng có kinh nghiệm về các đơn vị giúp cho công tác phát triển đảng được thuận lợi. Hàng loạt cán bộ, chiến sĩ các đại đội, trung đội được xem xét kết nạp vào Đảng và được Ban chấp hành Tỉnh ủy công nhận đảng viên chính thức1 (Đây cũng là một đặc điểm trong công tác xây dựng Đảng ở nhiều lực lượng vũ trang miền Đông. Các đảng viên mới kết nạp hầu hết là những cán bộ, chiến sĩ đã được thử thách và trui rèn qua hai năm kháng chiến, thể hiện được mục tiêu lý tưởng bản chất và bản lĩnh chính trị của người cộng sản).


Đến cuối năm 1947, 3 đại đội và 8 trung đội trực thuộc, một số tiểu ban, Binh công xưởng, văn phòng của Chi đội đã xây dựng được chi bộ, các đại đội, trung đội đều có chính trị viên, chi bộ...


Việc phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ, chi uỷ đảng trong các đơn vị vũ trang góp phần làm chuyển biến về nhận thức chính trị cho nhiều cán bộ chỉ huy các đơn vị, xác lập sự lãnh đạo của Đảng trong lực lượng vũ trang Biên Hòa.


Đồng thời để đưa thông tin xuống với cán bộ, chiến sĩ, đẩy mạnh hoạt động giáo dục chính trị, Ban chỉ huy chi đội 10 Biên Hoà đã cho xuất bản tờ báo “Tiếng Rừng”. Chỉ huy trưởng chi đội kiêm luôn chủ bút, chủ biên. Những cây bút chủ lực như Huỳnh Văn Nghệ, Bùi Cát Vũ, Phan Đình Công, Tô Văn Trước... và nhiều cây bút khác trong các cơ quan Dân, Chính, Đảng đã góp phần quan trọng cho tờ báo được in, phân phát, phổ biến đến các chiến sĩ và cả vào trong nội thành đến với quần chúng, động viên tinh thần và sức mạnh kháng chiến.


Thực hiện sự lãnh đạo của Xứ ủy, Bộ Tư lệnh Nam Bộ về việc thống nhất tổ chức chỉ huy lực lượng vũ trang, tháng 10 năm 1947, Tỉnh ủy Biên Hòa chỉ đạo xây dựng tỉnh đội dân quân, huyện đội dân quân, xã đội dân quân. Thực hiện quyết định này, lực lượng vũ trang Chi đội 10 tuy là lực lượng chủ lực của khu nhưng hoạt động ở chiến trường Biên Hoà đồng thời chịu sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Biên Hoà trong vai trò bộ đội chủ lực của tỉnh. Từ Tỉnh đội đến Huyện đội, xã đội đều trực thuộc sự lãnh đạo của Đảng ủy và chính quyền địa phương cùng cấp. Tỉnh đội dân quân có nhiệm vụ chỉ đạo phát triển phong trào dân quân trong tỉnh, kết hợp chặt chẽ cùng Ban chỉ huy Chi đội trong kế hoạch tổ chức, huấn luyện, chỉ đạo các huyện đội dân quân, xã đội dân quân phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị thuộc Chi đội 10 tác chiến trên địa bàn.


Tỉnh đội bộ dân quân tỉnh Biên Hoà gồm các đồng chí: Cao Văn Bổ (nguyên chánh văn phòng Chi đội 10 làm Tỉnh đội trưởng); Nguyễn Văn Trị (nguyên chánh văn phòng Ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên, Tỉnh đội phó); Nguyễn Minh Nguyệt (nguyên phó Chủ tịch Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh, Tỉnh đội phó); Nguyễn Văn Lai (Chính trị viên Tỉnh đội bộ).


Với Huyện đội bộ dân quân, Tỉnh ủy chỉ đạo trên cơ sở tố chức lại các Ban công tác liên thôn đã có để hình thành. Mỗi huyện đều có dội du kích tập trung trên cơ sở các đội du kích tập trung của các Ban công tác liên thôn trước đây. Mỗi xã đội xây dựng du kích thoát ly trên cơ sở đội du kích các xã trước đây của Ban công tác xã. Huyện đội bộ dân quân các huyện được tổ chức như sau:

Huyện đội Tân Uyên: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 3 ban công tác liên thôn 1, 2, 3, do Trừ Sùng Thới làm Huyện đội trưởng, Cổ Tấn Chương làm Huyện đội phó.

Huyện đội Châu Thành: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 2 ban công tác liên thôn 4, 5 và 6, do Trần Văn Xã làm Huyện đội trưởng, Phạm Văn Cẩm làm Huyện đội phó, Châu Ngọc Đức làm Chính trị viên.

Huyện đội Xuân Lộc: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 2 ban công tác liên thôn 9 và 10, do Võ Văn Đức làm Huyện đội trưởng, Huỳnh Công Tâm và Trần Văn Lộc làm Huyện đội phó.

Huyện đội Long Thành: Hình thành trên cơ sở sáp nhập 4 ban công tác liên thôn 8, 11, 12, 14, do Phạm Tự Do làm Huyện đội trưởng, Nguyên Trọng Trường làm Huyện đội phó, Hoàng Văn Trí làm Chính trị viên.


Để nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, Ban chỉ huy Chi đội 10 chủ trương mở một đợt huấn luyện quân sự, chính trị cho cán bộ chiến sĩ toàn chi đội. Trên cơ sở rút kinh nghiệm qua thực tiễn chiến đấu, tham khảo tài liệu huấn luyện quân sự của Trung ương, Ban chỉ huy Chi đội 10 Biên Hoà đã xây dựng được tài liệu huấn luyện:

- Thực hành đánh số các chiến sĩ trong tiểu đội, trung đội, đại đội để tăng cường tính tập thể trong huấn luyện cũng như trong hành quân và tác chiến trong các đơn vị.

- Thực tập hành quân ngày và đêm, hành quân vượt rừng, vượt suối, vượt sông, đường cái... nhanh chóng, bí mật theo đội hình hàng dọc, nhanh chóng triển khai thành đội hình hàng ngang đánh tao ngộ với địch. Kỹ thuật chiến đấu tổ tam tam, kỹ thuật chiến đấu tiểu đội, trung đội, đại đội...

- Tăng cường trang bị mỗi chiến sĩ, cán bộ chỉ huy mỗi người một túi gạo 5 lít, đảm bảo đủ gạo ăn trong lúc làm nhiệm vụ, tác chiến trong 5 ngày. Mỗi cán bộ chiến sĩ được trang bị thêm một võng nằm bằng vải dù, đảm bảo tính cơ động và thuận tiện trong hành quân1 (Theo nhiều cán bộ Chi đội 10, trang bị này xuất phát từ sáng kiến của đồng chí Võ Văn Vũ trung đội trưởng trung đội 6 đại đội B đã từng thực hiện cho đơn vị mình).


Để đảm bảo liên lạc, chỉ huy thông suốt, Ban chỉ huy Chi đội 10 thành lập một đội thông tin liên lạc với các Ban chỉ huy đại đội; phương tiện trang bị là các máy điện thoại, các máy liên lạc vô tuyến, hữu tuyến, chiến lợi phẩm thu được của địch trong các trận chiến đấu.


Về chính trị, cán bộ, chiến sĩ chi đội được học tập về kỷ luật chiến trường; chính sách tù hàng binh; công tác dân vận, binh địch vận...


Sau đợt huấn luyện, đến cuối năm, toàn Chi đội 10 đã có bước phát triển mới về bản lĩnh chính trị và nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật trong chiến đấu. Các đơn vị khi hành quân đảm bảo đội hình trật tự và bí mật (đảm bảo hai đơn vị hành quân ngược chiều trong rừng, không phát hiện được nhau trong khoảng cách 50 mét).


Về vũ khí, nếu trước đây, khi chiến đấu bộ đội phải thu gom lại các vỏ đạn để binh công xưởng rờ sạt lại (Recharge), gắn hạt nổ, cán bộ chiến sĩ Binh công xưởng chi đội đã nghiên cứu đế tạo những khuôn lùa chế tạo vỏ đạn mới có chất lượng. Thực tế trong kháng chiến cho thấy việc tìm nguyên liệu (thuốc nổ TNT) rất khó khăn, và nếu chế tạo loại mìn thông thường thì không đủ nguyên liệu chế tạo đáp ứng yêu cầu của chiến trường. Nhờ có kỹ sư Lê Tâm (học từ bên Pháp về) chuyển giao thiết kế và kỹ thuật, Binh công xưởng đã nghiên cứu chế tạo được một loại Ba-zô-min, thường gọi là mìn lõm, khi nổ hỏa lực tập trung vào một điểm, sức công phá lớn, do đó dùng đánh xe bọc thép của Pháp rất hiệu dụng...


Tháng 11 năm 1947, Ban chỉ huy Chi đội cử trinh sát nghiên cứu việc chuyển vận của địch trên quốc lộ 14, với ý định đánh giao thông để kỷ niệm một năm ngày toàn quốc kháng chiến. Tham gia trận đánh, Ban chỉ huy điều toàn bộ 8 trung đội tổ chức 3 mặt trên quốc lộ 14 (đoạn Đồng Xoài).


Sáng 19 tháng 12 năm 1947, đoàn xe quân sự Pháp 25 chiếc có hai chiếc thiết giáp AM đi đầu và khoá đuôi. Binh công xưởng cho nổ hai quả Ba-zô-min, nhưng không diệt được xe thiết giáp. Bọn địch hốt hoảng, chiếc AM đi đầu chạy thẳng về hướng Đồng Xoài, chiếc thứ hai chạy lùi lại. Bộ đội ta xung phong bắn cháy 1 xe chở xăng và 9 xe chở lính, diệt 60 tên địch, thu 2 trung liên, 7 tiểu liên và nhiều vũ khí, trang bị quân sự khác.


Khoảng 15 phút sau, cả hai chiếc thiết giáp AM của Pháp bắt đầu quay lại trận địa và nổ súng quyết liệt vào đội hình ta. Đạn chống tăng (Antitank) không còn, chai xăng cháy ném cũng không hiệu quả. Anh em bộ đội hô to liên tục: “điều Ba-zô-min lên!”, “điều Ba-zô-min lên!” để hù doạ tinh thần địch. Cả hai xe AM đều hốt hoảng rồ máy chạy về hướng Đồng Xoài. Bộ đội ta tiếp tục làm chủ tình hình, thu dọn chiến trường.


Đến tháng 1 năm 1948, trong khi các lực lượng đang chuẩn bị chiến trường trên hướng quốc lộ 20, theo yêu cầu của Binh công xưởng Quân khu, Chi đội (thiếu, lấy Đại đội B làm nòng cốt) tổ chức đánh giao thông trên quốc lộ 15, đoạn Phước Cang (Long Thành). Mục đích trận đánh là giúp cho Binh công xưởng tiếp tục nghiên cứu về tác dụng và sức công phá của Ba-zô-min. Trong trận này Ba-zô-min nổ nhưng không phá được xe thiết giáp AM của Pháp, bộ đội ta xung phong, xe địch hoảng hốt bỏ chạy về hướng Biên Hoà.


Đây là hai trận đánh giao thông có ý nghĩa của Chi đội 10 giúp Ban chỉ huy Chi đội rút kinh nghiệm trong xây dựng kế hoạch tác chiến giao thông; đồng thời giúp Binh công xưởng chi đội, nghiên cứu, cải tiến chất lượng bazomine, đảm bảo có thể đánh diệt xe thiết giáp của địch. Qua hai trận giao thông ở quôc lộ 14 và quốc lộ 15, Ban chỉ huy chi đội nhận định trình độ chỉ huy của cán bộ, kỹ thuật tác chiến của các đơn vị có nhiều tiến bộ, có đủ khả năng thực hiện những trận phục kích giao thông lớn hơn. về vũ khí, tuy Ba-zô-min chựa diệt được xe thiết giáp, nhưng có nhiều triển vọng, nếu nâng trọng lượng Ba-zô-min lên 5 hoặc 6 ki-lô-gam chất nổ thì có thế thành công.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:39:15 pm »

Trận phục kích giao thông La Ngà (1-3-1948):

Ngay khi Chi đội nghiên cứu chiến trường Đồng Xoài vào tháng 11 năm 1947, đồng chí đại đội trưởng đại đội B đã đề xuất ý kiến cùng Ban chỉ huy Chi đội về việc đánh giao thông địch trên quốc lộ 20, con đường giao thông chiến lược của địch từ Sài Gòn đi Tây Nguyên. Trên đường giao thông này, chúng thường xuyên tổ chức những chuyến công voa có chuyến đến trên 80 chiếc xe quân sự. Đồng chí đại đội trưởng cho biết, hai bên quốc lộ 20, đặc biệt đoạn La Ngà là rừng già trùng điệp nối liền với Tây Nguyên và Chiến khu Đ, do đó việc chuyển quân, ém quân mở trận đánh lớn và rút lui đều thuận lợi. Hơn nữa, khu vực này trước đây có một số dân tộc ít người và hàng quán ở Túc Trưng để các xe đi Đà Lạt hoặc về Sài Gòn nghỉ chân, thì từ tháng 5 năm 1947, thực dân đã giải tán, khu vực trở thành không dân rất dễ cho việc bảo mật khi ta chuyển quân và bố trí đội hình lớn, dài ngày.


Ban chỉ huy sau khi phân tích tình hình, cơ bản nhất trí chọn quốc lộ 20 để tổ chức trận phục kích giao thông lớn. Tuy nhiên, đồng chí Chi đội trưởng Huỳnh Văn Nghệ phân tích: Muốn đánh lớn phải tập trung lực lượng, nhiều vấn đề đặt ra cần giải đáp: Lương thực cho lực lượng bộ đội tham gia chiến đấu dài ngày; vấn đề bảo vệ căn cứ Chiến khu Đ khi ta chuyển lực lượng lớn lên tác chiến khu vực quốc lộ 20; vấn đề đối phó với tăng viện của địch và hạn chế chi viện của địch bằng không quân từ Biên Hoà lên... Nhưng vấn đề được quan tâm hàng đầu là làm sao giải quyết được vấn đề hậu cần cho bộ đội ở chiến trường? Những câu hỏi đặt ra cũng là những thách thức, cần có những giải pháp cụ thể, đặc biệt là phải huy động được “sức dân” mới có thể giải quyết được.


Bằng tài năng chỉ huy và tổ chức, Ban chỉ huy chi đội 10 với quan điểm dựa vào dân và bố trí lực lượng hợp lý, đúng người, đã từng bước giải quyết đồng bộ các yêu cầu đặt ra cho trận đánh giao thông trên quốc lộ 20.


Kế hoạch tác chiến cùng phương án tác chiến được hoàn thiện, cũng là lúc đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, Chi đội trưởng được Khu trưởng Nguyễn Bình cử làm trưởng đoàn về Long Thành dự đám giỗ thiếu tướng Dương Văn Dương, nguyên Khu bộ phó Khu 7 và một số nhiệm vụ khác. Xong nhiệm vụ, đồng chí Tám Nghệ theo đường rừng về đến chỉ huy sở của Chi đội 10 (quốc lộ 20) trước khi trận đánh nổ ra 2 giờ.


Ban chỉ huy trận đánh gồm: Nguyễn Văn Lung, Chi đội phó Chi đội 10 làm chỉ huy trưởng, Đinh Quang Ân, Lê Văn Ngọc, Hoàng Minh Chánh chỉ huy phó, Võ Cương chính trị viên.


- Công tác trinh sát nắm quy luật địch trên đường:

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban chỉ huy Chi đội, cuối tháng 11 năm 1947, Đại đội B đã xây dựng một phân đội trinh sát đặc biệt, lấy chiến sĩ của Ban công tác liên thôn 9 trước đây làm nòng cốt - đó là những đồng chí đã trải qua thực tiễn chiến đấu, am hiểu địa hình, địa vật, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc và nhân dân khu vực, giỏi công tác dân vận. Đầu tháng 12 năm 1947, phân đội lên đường xuyên rừng, vượt suối đi La Ngà. Túi gạo mang theo ngày càng vơi dần, trước mặt họ vẫn là rừng núi mênh mông, nhưng tất cả vẫn quyết tâm tiến lên. Anh em phân tán tìm đến các rẻo cao rừng rậm nơi đồng bào dân tộc Ch’ro, Mạ sinh sống. Họ đóng khố, hoà đồng vào cuộc sống của người dân tộc, rồi từng bước len lỏi vào các vị trí thuận lợi để theo dõi các đoàn xe địch qua lại trên quốc lộ 20.


Phân đội đặc biệt đã cử các trinh sát Võ Sáu, Lâm Văn và Nguyễn Thành Đức bám sát đoạn đường quốc lộ 20, quan sát, ghi chép từng chuyến xe, từng đoàn xe từ Sài Gòn đi Đà Lạt và từ Đà Lạt trở về Sài Gòn để nắm quy luật của chúng, khoảng cách từng xe một, cách bố trí bảo vệ của địch trong từng đoàn công voa quân sự... Đoạn hồi ký của một trinh sát cho ta thấy được một phần nhiệm vụ hoạt động của họ: “Những ngày xe địch không đi, chà, sao mà thời gian lại dài đến thế? Rừng núi bạt ngàn. Không gian bao la lặng vắng như tờ. Những lúc ấy cái yên tĩnh kéo dài, nó làm cho con người đến khó chịu căng thẳng. Chúng tôi thèm được nghe một tiếng động, chim kêu hay vượn hót... Cảnh vật tĩnh mịch mà lòng chúng tôi cứ như lửa đốt, bồn chồn. Tin tức đơn vị, chiến khu, địch đánh, ta chống càn... hàng tháng chúng tôi chẳng hay chẳng biết. Cứ vậy mà sống đằng đẵng ngày này qua ngày khác, màn trời chiếu đất. Ban ngày chúng tôi chia nhau mỗi người đến một vị trí quan sát, chiều tối mới về một chỗ gặp nhau hội ý trao đổi tình hình rồi ôm lưng nhau cho ấm mà ngủ qua đêm lạnh để rồi lại tiếp tục công việc...


“Hôm nào có đoàn xe địch đi qua, hôm ấy chúng tôi thấy vui hẳn lên. Chúng tôi nhìn như dán mắt xuống đường cái, tai lắng hết sức để nghe những tiếng động cơ nổ. Chúng tôi theo dõi từng giờ từng phút. Mấy giờ có máy bay thám thính lượn qua? Nó hay nhòm ngó những quãng rừng nào? Nó bay qua lại mấy lượt? Nó đi khỏi thì bao nhiêu phút sau có đoàn xe ô tô mới kéo đến? Số lượng, tốc độ, khoảng cách giữa các xe, lực lượng hộ tống, hỏa lực?...


Mỗi đoàn xe địch đi qua, chúng tôi lại tích thêm được một số tài liệu, lòng vui hẳn lên. Nhưng rồi lại lo, lo nhiều hơn vui... Tình hình địch luôn luôn biến đổi, tìm sao cho ra được cải quy luật chung nhất của những sự biến đổi ấy. Có vậy mới cung cấp được thực chất tình hình địch để cấp chỉ huy có cơ sở vững chắc đặt kế hoạch tác chiến, hạ quyết tăm..”.


Lòng kiên trì, nhẫn nại của các chiến sĩ trinh sát cuối cùng cũng được đền đáp. Kết quả cho thấy, địa điểm phục kích qua cầu La Ngà thuận lợi hơn, vì đoạn đường quanh co khúc khuỷu, một bên đồi cao, một bên vực thẳm. Đoạn đường này lại có nhiều điểm nứt nẻ, xe địch không thể chạy nhanh, trên đường thỉnh thoảng có những bãi phân voi lớn có thể ngụy trang để gài địa lôi mà địch không nghi ngờ. Hàng tuần vào thứ hai một đoàn xe địch từ Sài Gòn đi Đà Lạt và thứ năm có một đoàn xe khác từ Đà Lạt về Sài Gòn. Những đoàn xe này thường có hai xe thiết giáp đi mở đường và bọc hậu, có từ 6 đến 8 xe quân sự chở lính hộ tống, cùng xe jeep của bọn chỉ huy, mỗi đoàn từ 50 đến 100 chiếc xe các loại. Đi cùng đoàn xe quân sự địch có nhiều xe chở khách của những hãng tư nhân ở Sài Gòn. Chi quân báo cho người giả hành khách đăng ký chuyến đi ở các hãng xe này nên nắm chắc thời gian xuất phát của đoàn xe địch từ Sài Gòn đi Đà Lạt.


Báo cáo của phân đội trinh sát đặc biệt, những bản vẽ cụ thể về đội hình xe địch trên đường 20, giúp Ban chỉ huy chi đội lên kế hoạch cụ thể việc bố trí địa lôi và lực lượng đáp ứng yêu cầu chiến đấu.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:40:21 pm »

Chuẩn bị hậu cần, lương thực cho bộ đội:

Phân đội trinh sát đặc biệt qua nắm tình hình phát hiện 20 mẫu lúa của đồng bào dân tộc làm nhưng chưa thu hoạch, do thực dân Pháp đã gom dân đi. Phân đội đã tuyển chọn thêm 19 thanh niên địa phương tình nguyện tham gia lực lượng ra sức chăm sóc, thu hoạch 20 héc-ta lúa, đóng cối giã lúa, dần sàng thành gạo đưa vào kho dự trữ. Lượng gạo đủ cho khoảng 1.000 quân dùng trong 1 tuần lễ được bố trí ở ven suối Sa Sả và vàm ngã ba sông La Ngà - Đồng Nai.


Đặc biệt, về lương thực, anh em đã đánh bắt cá rất nhiều ở suối Sa Sả, rửa sạch, ướp muối phơi khô gần 500 kí để dành ăn lâu dài. Và khi Chi đội 10 chuyển quân rời căn cứ, phân đội đã xẻ thịt 6 con trâu, cắt khúc luộc nước muối phơi khô để dành cho bộ đội. Hàng chục thùng phuy nước được bố trí cặp những con đường bí mật cho bộ đội dùng.


Bên cạnh đó, chính quyền, Mặt trận Việt Minh huyện Xuân Lộc cũng cử cán bộ vào các sở cao su Bình Lộc, Túc Trưng vận động công nhân cao su ủng hộ kháng chiến. Công nhân dù cuộc sống còn rất nhiều khó khăn, của ít lòng nhiều đã quyên góp một số gạo, khô mắm ủng hộ cho kháng chiến chuyển về kho dự trữ chung. Lượng ủng hộ tuy không nhiều nhưng thể hiện lòng tin của đồng bào Định Quán - Xuân Lộc với kháng chiến. Mặc khác, chi quân báo cũng cử nữ đồng chí quân báo Nguyễn Thị Tuyết Lan, giả làm người đi buôn trên tuyến đường Đà Lạt - Sài Gòn, vận chuyển được 3 tấn gạo và một số thuốc tây, hàng hoá cần thiết chuyển vào kho dự trữ.

Vấn đề lương thực cho Chi đội cơ bản được giải quyết.


- Kế hoạch tác chiến của Ban chỉ huy Chi đội 10:

Sau khi giải quyết được vấn đề lương thực, hậu cần và nắm quy luật của địch trên quốc lộ 20, Ban chỉ huy đề ra kế hoạch tác chiến như sau:

Về quan điểm: Trước hết phải giữ vững hậu phương, bằng cách để lại một đại đội phối hợp cùng du kích địa phương sẵn sàng chống địch càn quét vào căn cứ Chiến khu Đ, trong khi đại bộ phận chi đội chuyển quân lên La Ngà. Có kế hoạch áp sát thị xã Biên Hoà đánh sân bay Biên Hoà, buộc địch phải rút bớt lực lượng về đối phó.


Tập trung ưu thế binh lực: Ban chỉ huy dự kiến địch có 2 đại đội hộ tống đoàn xe, nhưng có hoả lực yểm trợ mạnh, có xe thiết giáp, do vậy phải tập trung ưu thế binh lực để khắc phục mặt yếu của ta, hạn chế mặt mạnh của địch, bảo đảm đánh nhanh, giải quyết nhanh. Ban chỉ huy chi đội quyết định lực lượng tham gia trận phục kích gồm có: Ban chỉ huy chi đội 10 và cơ quan chỉ huy tất cả 27 đồng chí; Huy động quân số gồm hai đại đội của Chi đội 10 với 360 chiến sĩ1 (Đại đội A có 2 trung đội; Đại đội C 1 trung đội; Đại đội B có 2 trung đội và một trung đội quốc vệ đội huyện Xuân Lộc); Ba trung đội của Liên quân 17 gồm 154 chiến sĩ2 (Liên quân 17 là đơn vị chủ lực của Khu 7 mới thành lập, đang trực thuộc Chi đội 10 để huấn luyện. Liên quân do Hoàng Minh Chánh chỉ huy).


Địa điểm phục kích: Ban chỉ huy chi đội chọn quãng đường La Ngà - Định Quán, từ cây số 104 (cách Sài Gòn) đến cây số 113, bố trí làm ba trận địa C, B, A nối tiếp nhau. Đầu trận địa C ở cây số 104, cuối trận địa A ở cây số 113. Như vậy mỗi đại đội phụ trách một trận địa dài trên dưới 3 ki-lô-mét. Chỉ huy sở chung đặt sau trận địa B, liên lạc với các trận địa bằng điện thoại và với Bộ Tư lệnh Khu 7 bằng vô tuyến điện. Trạm y tế và quân y đặt ở tả ngạn sông Đồng Nai, cách sau trận địa phục kích 7 ki-lô-mét.
Kế hoạch tác chiến cụ thể được Ban chỉ huy Chi đội đề ra như sau:


Hành quân: Các đơn vị vũ trang tham gia trận đánh xuất phát bí mật rời căn cứ vào ngày N. Ngày N+3, bộ đội tập kết về Suối Cát, cán bộ đi trinh sát thực địa đặt kế hoạch binh hoả lực, Binh công xưởng bố trí địa lôi. Đêm, ngày N+3, lực lượng ra chiếm lĩnh trận địa sẵn sàng chiến đấu.


Về cách đánh: Lực lượng phải bảo đảm bí mật, bất ngờ, tấn công mãnh liệt, đánh nhanh giải quyết nhanh chiến trường. Địa lôi phải được chôn ở những đoạn đường hiểm, ngụy trang khéo (địa lôi chôn phía dưới ở trên đắp bằng các bãi phân voi rừng), tiêu diệt từ đầu xe thiết giáp hộ tống của địch; tập trung hoả lực đánh vào các đoàn xe hộ tống, diệt xe chỉ huy, xung phong mãnh liệt làm địch rối loạn, tê liệt, không ứng cứu được cho nhau. Truy kích bọn địch bỏ chạy về hướng đông lộ 20, kết hợp với kêu gọi binh lính địch bỏ súng đầu hàng. Thực hành tốt chính sách tù hàng binh và công tác dân vận.
Nghi binh đánh lừa máy bay địch lên chi viện bằng cách đốt nhiều đống lửa lớn cách trận địa về phía đông từ 3-4 ki-lô-mét để thu hút chúng.


Để đảm bảo đánh chắc thắng, Ban chỉ huy Chi đội đề ra kế hoạch “chỉ huy địch”, buộc chúng phải tiến vào trận địa phục kích của ta vào thời gian có lợi nhất cho ta. Bởi thông thường (ta nắm quy luật các đoàn xe), đoàn xe địch thường đến La Ngà khoảng từ 12 đến 13 giờ, thời điểm không có lợi vì máy bay địch có thể lên bắn phá, hoặc bộ binh địch từ Đà Lạt hoặc từ Sài Gòn, Biên Hoà lên ứng cứu gây khó khăn cho ta trong việc thu dọn chiến trường. Ban chỉ huy nhận định thời gian có lợi nhất cho ta là từ 15 đến 16 giờ, vì lúc chiều trời có sương mù hạn chế hoạt động của máy bay địch và viện binh địch không thể lên La Ngà khi trời còn sáng được.


Để thực hiện kế hoạch này, Ban chỉ huy chi đội giao nhiệm vụ cho trung đội 5 (Đại đội B) phối hợp cùng du kích và dân quân hai quận Châu Thành và Xuân Lộc triển khai nhiệm vụ từ đoạn Hố Nai (quốc lộ 1) lên ngã ba Dầu Giây và từ Dầu Giây ngược lên theo quốc lộ 20 phá hoại đường (đào đường, đắp vật cản), chặt cây mở miệng sẵn khi đoàn xe đến thì ngã đổ ra đường; bố trí du kích bắn tỉa quấy rối tiêu hao, bắt đoàn xe địch phải dừng nhiều lần để giải toả chướng ngại vật trên đường, tinh thần căng thẳng, buộc đoàn xe địch đến La Ngà phải chậm từ 2 đến 3 giờ đồng hồ.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:42:02 pm »

- Vào trận hành quân:

Ngày 26 tháng 2 năm 1948, Chi đội 10 và Liên quân 17 hành quân xuất phát từ Chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai để tiến về hướng quốc lộ 20. Các chiến sĩ phân đội trinh sát đặc biệt sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chuẩn bị hậu cần cho trận đánh, trở thành những chiến sĩ trinh sát dẫn đường cho các lực lượng về vị trí tập kết. Phân đội đã mở các con đường bí mật, hoặc bẻ cò các cây ven đường cho bộ đội hành quân. Những đoạn đường rừng, sình lầy chiến sĩ đi qua, các chiến sĩ phân đội đặc biệt là người đi sau xoá dấu vết không cho địch phát hiện.


Ngày 29 tháng 2, Chi đội 10 và liên quân 17 đã chiếm lĩnh trận địa đảm bảo an toàn và bí mật trên ba mặt trận A, B, C. Các chiến sĩ lo đào công sự chiến đấu. Chiến sĩ thông tin thì hối hả rải hàng chục ngàn mét dây điện thoại, xuyên rừng rậm nối liền chỉ huy sở với các trận địa. Các chiến sĩ binh công xưởng đưa những quả địa lôi chôn ở 3 trận địa. Anh em lợi dụng đặc điểm của quãng đường là các đàn voi thường qua lại để lại những bãi phân lớn, thế là anh em chôn địa lôi xong lấy ngay phân voi đắp lên trên để ngụy trang. Vừa hớ hênh nhưng lại kín đáo. Đặc biệt địa lôi ở trận địa A là rất quan trọng vì là quả địa lôi khoá đầu chặn đứng cả đoàn xe địch, đồng thời là tiếng nổ phát lệnh tấn công địch. Do đó, trực tiếp đồng chí Bùi Cát Vũ, Giám đốc binh công xưởng và công nhân kỹ thuật đi kiểm tra từng quả một, từ cách lắp kíp nổ, đến cách đặt, cách chôn, quyết tâm giật quả nào chắc nổ quả ấy. Các chiến sĩ quân y tất bật xây dựng các trạm cứu thương, đặt kế hoạch chuyển thương binh, kể cả việc chăm sóc những tù binh địch và hành khách đi trong đoàn (nếu có). Các chiến sĩ hậu cần nấu cơm, nắm thành từng vắt cùng với khô nướng, thịt trâu nướng phân phát cho tất cả cán bộ, chiến sĩ.


Đến tối 29 tháng 2 rạng sáng 1 tháng 3 năm 1948, mọi kế hoạch chuẩn bị, bố trí chiến trường của chi đội 10 trên 3 mặt trận đều đã hoàn thành, sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh.

Cùng trong đêm 29 tháng 2 năm 1948, thực hiện nhiệm vụ “chỉ huy địch” do Ban chỉ huy Chi đội 10 giao, đội du kích tập trung huyện Châu Thành mang cuốc, xẻng, dao, súng lên quốc lộ 1 quãng từ Hố Nai lên ngã ba Dầu Giây. Du kích huyện Xuân Lộc phụ trách từ Dầu Giây trở lên quốc lộ 20. Anh em mở miệng cây ven đường từng đoạn một, xẻ cho ngã lăn ra đường khi đoàn xe địch sắp đến, đắp các mô kết hợp chà cây trên đường; đồng thời bố trí đội hình bắn tỉa quấy rối địch...


- Diễn biến trận đánh La Ngà:

Đúng như tin tình báo từ trong nội thành cung cấp. Đoàn xe gồm 69 chiếc chở nhiều sĩ quan cấp cao, nhiều nhà tư sản ở Sài Gòn, khởi hành từ 5 giờ sáng đi Biên Hoà. Đoàn xe địch vượt cầu Gành, cầu Rạch Cát, dừng nghỉ khoảng 10 phút ở ngã ba Kỷ niệm sau đó xuất phát rời thị xã. Khi đoàn xe đến Hố Nai, đã phải dừng lại nhiều lần để cho bọn lính hộ tống khi thì lắp hố thông đường, khi thì cột dây kéo những đoạn cây lăn trên đường, phải dò mìn xem Việt Minh có ngụy trang trong những chòm cây không, khi thì phải quay lại đối phó với du kích thường bắn tỉa vào các xe đi đoạn cuối... Liên tục phải đối phó với chướng ngại trên đường, với du kích bắn tỉa, quấy rối, bọn địch trong đoàn xe rất bực bội, căng thẳng thần kinh, mệt mỏi vì không thể đảm bảo thời gian như đã định.


Mãi đến quá trưa ngày 1 tháng 3, đoàn xe địch mới bắt đầu đến ngã ba Dầu Giây rẽ sang quốc lộ 20. Đường quanh co, thỉnh thoảng gặp chướng ngại, nên mãi đến gần 15 giờ chiếc thiết giáp đi đầu mới tới La Ngà. Đoàn xe dừng lại để viên chỉ huy đoàn xe vào cứ điểm La Ngà hỏi tình hình, đồng thời điện cho đại tá Ta-lét (Talès), chỉ huy khu vực Đồng Nai Thượng cho đoàn xe nghỉ lại ở La Ngà vì trời chiều không thể đến Đà Lạt trước khi trời tối. Ta-lét trả lời rất dứt khoát: Không được, phải tiếp tục đi ngay, đây là khu vực đã bình định rồi. Tên chỉ huy đoàn xe vẫn tỏ ra nghi ngờ, hắn điện xin cho quân hộ tống từ Đà Lạt xuống đón đoàn. Lần này Ta-lét quát lên: Đi ngay! Thế là cả đoàn xe lại chuyển bánh. Trên đường đi, bọn lính hộ tống không ngừng bắn ầm ầm hai bên đường, nhất là ở những đoạn đường quanh co, khúc khuỷu có lẽ để trấn tỉnh tinh thần bọn sĩ quan và hành khách đi trong đoàn. Bọn địch không ngờ những phát đạn loạn xạ của chúng lại báo hiệu cho ta biết trước để chuẩn bị chiến đấu.


15 giờ 2 phút, trận địa C báo cáo chỉ huy sở: Ba xe chở lính hộ tống khoảng hơn 1 trung đội, rồi đến một tốp 11 chiếc khác vừa xe quân sự, vừa gíp (jeep) chỉ có 1 ô tô buýt chở hành khách. Tốc độ đoàn xe 30km/ giờ, khoảng cách các xe trên dưới 100 mét. Chưa có triệu chứng gì tỏ ra địch đã biết có quân phục kích. Chúng bắn rất bừa bãi... bộ đội ta vẫn ẩn nấp kín đáo.


Trận địa B kế tiếp báo cáo: Địch đang tiến qua trận địa B. Trong xe gíp có nhiều sĩ quan, đã trông thấy một đại tá và một tên thiếu tá.

Địch càng tiến vào trận địa, Ban chỉ huy trận đánh càng tin chắc vào chiến thắng.

Đoàn xe địch uốn mình tiến lên như một con rắn trườn mình qua những cung đường quanh co, khúc khuỷu, bụi cuốn mù mịt.

15 giờ 12 phút, Ban chỉ huy ra lệnh, những quả địa lôi ở trận địa A phát nổ làm chấn động cả núi rừng. Chiếc thiết giáp đi đầu đang xuống dốc đoạn cua quẹo, bị địa lôi hất bổng lên khỏi mặt đất, lao thêm khoảng 10 thước nữa mới chịu nằm bẹp dí trên đường. Trong 3 chiếc xe chở lính đi sau, thì 2 chiếc trúng địa lôi, ngã lật nhào, nhiều lính chết trong đó có tên chỉ huy đoàn xe, tên phụ trách máy thông tin.


Cả đoàn xe địch vẫn tiếp tục tiến vào trận địa, một phần vì tên phụ trách thông tin đã chết, một phần có lẽ vì suốt dọc đường chúng đã quen bắn bừa bãi nên không hay biết gì chiếc xe đi đầu đã bị phá huỷ.
15 giờ 14 phút, địa lôi trận địa C nổ. Núi rừng như chuyển mình. Trên đoạn đường dài hàng chục cây số, đoàn xe địch vật vã, lồng lộn. Rừng núi vang tiếng bộ đội ta “xung phong”, làm bọn địch đang mệt mỏi, khiếp vía kinh hồn, vứt súng đạn, xô đẩy nhau nhảy ra khỏi xe chạy dạt sang phía đông lộ 20, phần lớn bị hoả lực ta bắn hạ.


Ở trận địa A, xe địch ngã đổ ngổn ngang. Bộ đội ta nổ súng và xung phong mãnh liệt, địch hoàn toàn bị tê liệt không kịp phản ứng. Nhiều tên đưa tay đầu hàng. Trong số địch bị chết có nhiều sĩ quan: Đại tá Đờ Xê-ri-nhê (De Sérigné), chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương thứ 13 (13è DBLE); đại tá Pa-tơ-ruýt (Patruite), phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất của quân Pháp ở Nam Đông Dương; thiếu tá chỉ huy khu vực quân sự Hóc Môn; đại uý Giăng Cu-vơ-rơ (Jean Couvreur), trưởng phòng xe hơi trong bộ tổng tham mưu quân đội Pháp ở Đông Dương...


Ở trận địa B, bộ đội ta xung phong, tập trung hoả lực bắn vào 4 xe chở lính hộ tống, dùng đạn lửa bắn vào các xe vận tải quân sự. Bọn địch rối loạn hàng ngũ không kịp chống trả. 28 xe địch bị diệt gọn trong vòng 5 phút, 56 tên địch chết.


Ở trận địa C, bộ đội ta xung phong chiếm được 16 xe (3 xe chở lính, 13 xe vận tải quân sự). Tốp đi sau cùng của đoàn xe nổ súng bắn trả khá quyết liệt, kết quả 31 tên lính chết trên mặt đường, nhưng một số xe quay đầu chạy ngược về La Ngà.


Đến 15 giờ 57 phút, trận đánh kết thúc, hơn mười cây số lửa khói vẫn còn bốc cao, thỉnh thoảng vang lên những tiếng nổ lớn phát ra từ các xe quân sự của địch bị cháy, từ những bánh xe bị cháy nổ. Do thực hiện phương châm “đánh nhanh, giải quyết gọn, rút lui mau”, nên bộ đội ta tập trung phá huỷ các xe không chú trọng việc tịch thu chiến lợi phẩm.


Mãi đến gần 17 giờ mới có 3 chiếc máy bay của Pháp lên ứng cứu, nhưng trận địa quá trải dài, địch cũng không làm gì được, chỉ gầm rú hòng uy hiếp ta, hơn nữa chúng còn bị thu hút vào các trận địa giả ở phía đông quốc lộ 20 (ta đốt những đống lửa lớn). Nhưng vì trời chiều sương mù, máy bay địch chỉ bắn loạn xạ một lúc thì quay đầu rút ngay.


Nửa đêm, viện binh địch từ Đà Lạt xuống và từ Sài Gòn, Biên Hoà lên đến được khu vực La Ngà. Chiến trường còn loang mùi thuốc súng, khói lửa với 59 xác xe quân sự cháy trơ khung sắt và 150 xác địch chết ngổn ngang trên đường.


Kết quả trận phục kích giao thông La Ngà: Phá huỷ 59/70 chiếc xe quân sự Pháp. Diệt 150 lính Pháp, 25 sĩ quan Pháp trong đó có 1 đại uý, 1 thiếu tá, 2 đại tá. Bộ Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi điện khen và tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Nhì cho trận thắng La Ngà.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:44:17 pm »

- Tiếng vang từ La Ngà:

Ngay sau khi trận đánh kết thúc, bộ đội đã rút về tập trung ở khu vực Suối Cát. Cùng đi có 270 tù binh và hành khách đi cùng đoàn xe. Một số binh lính địch bị thương không đi được và khoảng 50 thường dân đa số là người già, trẻ em, người tu hành... Ban chỉ huy cho tập trung về chỉ huy sở, tất cả được phát cơm vắt, cá khô, nước uống và chăm sóc vết thương. Sau khi được giải thích về chủ trương chính sách của Chính phủ, Việt Minh, ta cho phóng thích 50 người này về trước. Đồng thời thông qua số người này loan tin cho nhân dân ở Sài Gòn biết tất cả những người thường dân cùng đi trong đoàn xe và một số binh lính Pháp bị bắt sẽ được Việt Minh cho trở về nhà.


Thật cảm động khi diễn ra cuộc chia tay giữa hành khách và bộ đội. Một dì phước1 (Ma soeur, nữ tu đạo Thiên chúa) đã tháo xâu chuỗi thánh giá của mình choàng lên cổ trung đội trưởng Lê Ngọc Sinh, chắp tay lẩm bẩm: “Cầu Chúa ban phước lành cho chiến sĩ Việt Nam”. Chính tư cách người chiến sĩ cách mạng, với địch thì chiến đấu kiên cường, nhưng với nhân dân thì chân tình thân ái đã cảm hoá được nhân dân, cả đối với những người tu hành vốn xa lạ với kháng chiến.


Đêm 1 tháng 3 năm 1948, trong số 219 người trong đoàn xe được bộ đội đưa về Suối Cát, người Việt, Ấn, Hoa, Pháp đều có cả, trong đó có một số trí thức người Pháp, một số thanh niên nam nữ, sinh viên học sinh trong nội thành. Trong ánh lửa bập bùng giữa rừng đại ngàn, bộ đội, cán bộ quân y, cấp dưỡng đã đến thăm hỏi từng người một, cung cấp lương thực, nước uống. Người dân nội thành đặc biệt lớp trẻ lần đầu tiên tiếp xúc với thiên nhiên hùng vĩ, tiếp xúc với những bộ đội kháng chiến hiền lành, chân thực đã thực sự khâm phục thái độ ân cần của cán bộ, chiến sĩ ta. Một số thanh niên trong thành bất ngờ gặp lại những người bạn học xưa, đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, nay trở thành những cán bộ chỉ huy, những chiến sĩ kiên cường, rắn rỏi, già dặn. Chuyện kháng chiến làm cho bà con thêm khâm phục ý chí và nhân cách người chiến sĩ cách mạng.


Ban chỉ huy Chi đội định tổ chức một buổi chia tay liên hoan văn nghệ, nhưng nhận được tin quân Pháp đang chuẩn bị phản kích, bởi văng vẳng đã nghe tiếng súng của chúng từ hướng quốc lộ 20. Buổi liên hoan không thành. Cuộc chia tay giữa bộ đội Chi đội 10 và bà con ngay bờ sông Đồng Nai - nơi chiến sĩ gọi là bến “Tâm giao” thật bịn rịn. Nắm cơm, cá khô, phần ăn của bộ đội nhường cho bà con hành khách không chỉ là lương thực, mà trở thành món quà có ý nghĩa trước lúc đoàn hành khách qua sông trở lại quốc lộ 20 về Sài Gòn.


Sài Gòn, sáng sớm ngày 2 tháng 3 năm 1948, hàng loat tờ báo tiếng Việt xuất bản ở nội thành đều đưa tin về trận đánh thắng La Ngà với những hàng tít lớn: Một trận phục kích lớn lao chưa từng có! Chín chục phần trăm đoàn xe có lính hộ tống bị Việt quân huỷ diệt; Đại tá Đờ Xê-ri-nhê, chỉ huy bán lữ đoàn Lè dương thứ 13 tử trận; 150 binh sĩ thịệt mạng, trong đó có một số mất tích...


Từ đại lộ đến ngõ hẽm, bến xe, đến tiệm cà phê, hủ tíu, chợ, nhà hàng đâu đâu nhân dân cũng bàn tán trao đổi về trận La Ngà với lòng khâm phục: “Các anh cực khổ nhưng hiên ngang”. Các chủ hãng xe đò ở Sài Gòn đều bảo nhau không nên cho xe khách đi cùng các đoàn xe quân sự Pháp kẻo bị “hoạ lây” như ở La Ngà. Phòng thông tin Sài Gòn chật ních người, đa phần là người “sang trọng”, người Pháp đến nghe ngóng về số phận thân nhân họ có trong số 150 sĩ quan, binh lính chết trận La Ngà hay không?


Từ khi trở lại xâm lược nước ta đến thời điểm 1948, có lẽ thực dân Pháp chưa từng bị thua đau như ở trận La Ngà 1 tháng 3 năm 1948. Bọn Pháp ở Sài Gòn trong các bản tin, báo cáo của mình về chính quốc vẫn cố tình bưng bít thất bại này. Thế nhưng chết trong trận La Ngà lại có đại tá Đờ Xê-ri-nhê, vốn họ Đờ (De) tức thuộc dòng dõi quý tộc Pháp, nên được thực dân tổ chức lễ tang theo nghi thức long trọng nhất tại nhà thờ Đức Bà Sài Gòn và xác được đưa về Pháp bằng máy bay. Nhưng ngay sau đó, nhiều câu hỏi đặt ra với Quốc hội nước Pháp cần xem xét lại báo cáo của những tên tướng chỉ huy ở Nam Bộ: Vì sao đã tuyên bố bình định xong Nam kỳ, lại có thể xảy ra trận thua đau ở Là Ngà. Đờ La-tua, chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ (1947-1949) đã cho điều tra sự thật, quy tội cho đại tá Ta-lét tại sao không cho quân tăng cường sớm từ Đà Lạt để cả đoàn xe bị tiêu diệt? Quá sợ vì trách nhiệm, đại tá Ta-lét đã tự sát.


Trong trận La Ngà, trung uý người Pháp Dép-phây (Joeffrey) bị thương ở chân, thay vì phải cưa chân, thì quân y Chi đội, trực tiếp là bác sĩ Võ Cương đã chăm sóc, điều trị giữ cho hắn nguyên lành. Vợ và con của viên trung uý được ta phóng thích đầu tiên cùng 50 hành khách về Sài Gòn trước đó. Và vài tháng sau, Ban chỉ huy Chi đội 10 cử nữ y tá Lương Ngọc Tương cùng cán bộ quân y trao trả trung uý Dép-phây tại chi khu Cây Đào. Cả hai vợ chồng viên trung uý trước sự chăm sóc chu đáo và tinh thần nhân đạo của bộ đội Việt Minh không chỉ nhận ra chính nghĩa của quân kháng chiến, mà còn lớn tiêng phê phán cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Bọn Pháp đã trả cả gia đình Dép-phây về chính quốc. Vợ của viên trung uý đã nói: “ Từ trước tôi chỉ biết về quân đội Việt Nam qua các tờ báo Ca-ra-ven (Caravelle) và báo Sài Gòn (Journal de Saigon). Nhưng nay tôi mới thấy rõ sự thật. Chính chồng tôi cũng đã nói với tôi: Anh không có cảm tưởng rằng mình là một tù binh, họ cứu chữa cho anh rất tận tâm, như đối với người bạn thân của họ; họ rất nhân đạo và yêu chuộng hoà bình”1 (Trận phục kích La Ngà, Nxb Đồng Nai 1998, tr.90).


Còn nhà báo Rau-un Mi-chen (Raoul Michel), cựu chủ bút tờ báo Bạn Dân (Ami du peuple), người chết hụt trong trận La Ngà, khi trở về Sài Gòn, được bạn bè hỏi đã trả lời: “Chúng mình cần nói đúng sự thật, mà sự thật thì khác hẳn những gì chúng ta đã từng viết”2 (Như trên, sách đã dẫn).


Phát biểu của hai người Pháp chứng nhân còn sống sau trận thắng La Ngà không phải ngẫu nhiên. Đó chính là phát biểu phản ánh kết quả thực tế mà họ đã nhìn, đã chứng kiến tận mắt hành động anh dũng, quả cảm và tinh thần nhân đạo, kỷ luật chiến trường của bộ đội ta trong trận La Ngà. Phát biểu khẳng định của những chứng nhân người Pháp có sức mạnh cảm hoá tư tưởng binh lính người Pháp còn hơn cả súng đạn.


Trong một trận đánh ở Đồng Lách (Vĩnh Cửu) tháng 6 năm 1948, 14 lính Lê dương Pháp đã ra hàng tại trận, vì không muốn chết cho cuộc chiến phi nghĩa của Pháp và tin vào lòng nhân đạo của kháng chiến. Và tháng 8 năm 1948, hai lính Pháp ở bót Rạch Đông (Vĩnh Cửu) ban đêm đã vượt sông Đồng Nai mang theo một khẩu súng đại liên, một trung liên sang Chiến khu Đ xin hàng. Họ nói: “Chúng tôi chán ghét chiến tranh muốn ra hàng nhưng sợ bị giết. Nay, qua việc quân Việt Minh thả người bị bắt ở La Ngà, chúng tôi biết Việt Minh rất nhân đạo không như bọn chỉ huy quân Pháp nói láo, nên có điều kiện chúng tôi ra hàng”1 (Như trên, sách đã dẫn, tr.89).


Trong cuộc họp quân sự toàn Khu 7 ngày 28 tháng 3 năm 1948, Bộ Tư lệnh Khu đã đánh giá trận La Ngà: “Đánh trận La Ngà ta đã thắng lợi cả về quân sự lẫn chính trị, thắng lợi về quân sự là lớn, nhưng thắng lợi về chính trị còn lớn hơn. Các chiến sĩ La Ngà không những đã anh dũng đánh giặc, mà còn biết làm công tác tuyên truyền rất khéo léo. Bằng những hành động thực tế của mình đã làm cho nhân dân tin tưởng, quý mến, kề thù phải khiếp sợ và khâm phục. Trận La Ngà chứng tỏ bộ đội Khu 7 nói chung, bộ đội Biên Hoà nói riêng có bước trưởng thành về nhiều mặt”1 (Sách đã dẫn, tr.91).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 23 Tháng Mười Một, 2019, 08:45:24 pm »

- Tiếp tục chiến đấu bảo vệ căn cứ:

Đêm 2 tháng 3 năm 1948, tại Suối Cát (Xuân Lộc) khi chia tay tiễn đoàn hành khách trở về Sài Gòn, đồng chí Nguyễn Văn Lung, Chi đội phó, người trực tiếp chỉ huy trận phục kích La Ngà lệnh cho các chiến sĩ Chi đội nhanh chóng lên đường hành quân vượt sông, vượt rừng nhanh chóng trở về Chiến khu Đ. Đồng chí nhận định khả năng thực dân Pháp sẽ cho quân truy kích; đồng thời nhân lúc lực lượng ta chưa quay về kịp sẽ mở hành quân càn quét đánh phá vào căn cứ. Đồng chí chỉ thị cho các đơn vị: 1- Hành quân cấp tốc, vượt sông Bé trở về chiến khu Đ trước khi địch hàn sông để phá vỡ kế hoạch bao vây của địch. 2- Trong hành quân phải tuyệt đối giữ bí mật. 3- Chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu, gặp địch có thể đánh trả ngay. 4- Đến Bến Trường, bộ đội vượt sông, còn Đại đội B và quốc vệ đội huyện Xuân Lộc chuyển cánh về áp sát uy hiếp thị trấn Xuân Lộc để phân tán lực lượng địch. Liên quân 17 sau khi vược sông Bé sẽ theo đường tắt về uy hiếp địch ở Tân Ba. 5- Các bộ phận quân y, quân nhu do khiêng vác cồng kềnh sẽ phân tán không đi cùng bộ đội. 6- Ba trung đội còn lại về căn cứ phối hợp với lực lượng ở Chiến khu Đ chống càn.


Với quyết tâm cao nhất, dù còn đang mỏi mệt sau trận đánh nhưng tốc độ hành quân của lực lượng rất cao. Nếu khi đi, đoạn đường từ Chiến khu Đ đến La Ngà mất 3 ngày, thì khi hành quân ngược lại, đơn vị chỉ mất 2 ngày đêm. Thực dân Pháp không thể ngờ tốc độ hành quân của bộ đội ta nhanh đến thế, vậy là cuộc truy kích của địch không thành.


8 giờ 30 phút sáng ngày 5 tháng 3 năm 1948, thực dân Pháp cho 3 máy bay khu trục lên quần đảo bắn phá vào Chiến khu Đ, sau đó 5 chiếc máy bay vận tải thả quân nhảy dù xuống Đất Cuốc. Đồng thời, địch cho 1.000 bộ binh từ nhiều hướng có tàu chiến trên sông, và xe cơ giới trên bộ bao vây tấn công vào Chiến khu Đ.


Nhờ có chuẩn bị trước, trung đội còn lại của đại đội A đã chủ động phân tán, phối hợp với dân quân du kích các xã và cơ quan trong căn cứ đánh tỉa, thu hút địch, tạo điều kiện cho lực lượng mới trở về có thêm thời gian dưỡng sức, bố trí đội hình đánh địch.


Trong hai ngày 5 và 6 tháng 3, địch lùng sục nhưng không gặp sự chống trả lớn, lại bị dân quân du kích bắn tỉa diệt trên 60 tên. Mờ sáng ngày 7 tháng 3, bộ đội ta bắt đầu mở các trận tập kích vào bọn địch. Tại dốc Bà Nghiêm (xã Tân Hoà), trung đội 7 của Đại đội C diệt 20 tên, thu nhiều vũ khí và quân trang quân dụng. Địch cứ lùng sục, nhưng quân ta khi phân tán, lúc tập trung, khi ẩn khi hiện, buộc chúng phải căng thẳng đối phó, số binh lính bị diệt, bị thương ngày một nhiều.


Sau 8 ngày càn vào Chiến khu Đ, quân Pháp chết và bị thương trên 100 tên, phải rút lui. Không tiêu diệt được lực lượng kháng chiến, quân Pháp đã bắn giết 20 thường dân vô tội, trong đó có 7 phụ nữ và 3 trẻ em. Chúng đốt sạch nhà dân trong các xã Tân Hoà, Tân Tịch, Mỹ Lộc, Thường Lang, Lạc An, Chánh Hưng, giết hơn 100 trâu bò và đốt 500 giạ lúa của dân cùng các cơ quan.


Thật ra ý đồ chính của bọn chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ khi càn vào Chiến khu Đ còn mục đích chính trị khác. Đó là đánh lạc hướng dư luận, đặc biệt là dư luận trong quốc hội và chính phủ Pháp sau trận Là Ngà, khi bộ tổng tham mưu quân viễn chinh Pháp ra thông báo: Đang truy kích ráo riết gây thiệt hại cho Việt Minh, thậm chí chúng còn báo cáo láo một cách trắng trợn: Đã giải thoát được một số quân lính Pháp và thường dân bị bắt trong trận La Ngà.


Chi đội 10 Biên Hoà được hình thành và chiến đấu trên một chiến trường rộng lớn, địa hình phức tạp. Khởi đầu từ việc tập hợp những đội vũ trang nhỏ, lẻ, có đơn vị xuất hiện từ cuộc khởi nghĩa Nam kỳ 1940; có đơn vị hình thành ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, có đơn vị được tổ chức Đảng lãnh đạo; nhưng cũng có đơn vị hình thành một cách tự phát. Nhưng tất cả những đưn vị này đều có một điểm chung nhất: Những chiến sĩ đã từng trải qua thời kỳ bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột nên ý chí và quyết tâm chiến đấu rất cao. Chỉ huy các đơn vị đều là những người yêu nước, có lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc. Những đặc điểm đó là thuận lợi cơ bản để các đơn vị có thể tập hợp nhau thành một lực lượng vũ trang thống nhất với tên gọi Chi đội 10 Biên Hoà. Trong việc thống nhất các đơn vị vũ trang ở Biên Hoà có vai trò rất lớn của đồng chí Nguyễn Bình, Tư lệnh Khu 7 và đồng chí Huỳnh Văn Nghệ, chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà, lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng Chi đội 10.


Điểm nổi bật của Chi đội 10 Biên Hoà là hầu hết cán bộ chỉ huy từ Chi đội đến đại đội, trung đội, phân đội từ đầu chưa từng được học tập trong một trường quân sự nào có tính chất chính quy. Họ trưởng thành bởi lòng yêu nước, quyết tâm kháng chiến, thông qua việc xác định đặc điểm chiến trường, thông qua thực tiễn chiến đấu trên chiến trường và thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng bộ, Bộ Tư lệnh Khu 7 giao cho. Những chiến sĩ của Chi đội xuất thân từ nhiều thành phần: Đại đa số là nông dân, công nhân trong các đồn điền cao su, trong nhà máy cưa BIF, một số nhà máy công nghiệp ở Sài Gòn, thanh niên yêu nước từ các miền của đất nước tập hợp về; một số ít từng là công chức Pháp, sĩ quan, binh lính Lê dương của Pháp, của Nhật đã giác ngộ và tình nguyện tham gia chiến đấu với bộ đội Việt Minh.


Tuy không được đào tạo có bài bản từ các trường quân sự chính quy, nhưng Chỉ huy Chi đội 10 đã có nhiều ý tưởng sáng tạo độc đáo trong tổ chức lực lượng và chỉ huy chiến đấu. Chỉ hơn 4 tháng sau khi thực dân Pháp quay lại đánh chiếm Nam Bộ, kiểm soát các đô thị, thị xã, thị trấn, bộ đội Biên Hoà cùng các lực lượng vũ trang bạn đã tổ chức tập kích vào trung tâm tỉnh lỵ Biên Hoà, nơi đặt nhiều cơ quan chỉ huy của Pháp ở miền Đông Nam Bộ. Quả là một ý tưởng táo bạo, một sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng. Trận tập kích đầu tiên (1-1-1946) ở Biên Hoà rất kịp thời đập tan luận điệu huênh hoang của thực dân Pháp là đã cơ bản bình định xong Nam kỳ; đồng thời cũng là tiếng súng thu hút, tập hợp nhiều cá nhân yêu nước đến với chi đội, với Chiến khu Đ. Chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn cả lương thực, thuốc men, vũ khí, liên lạc, chính quyền cách mạng chưa vững mạnh, nhưng Chi đội 10 đã linh hoạt sáng tạo trong tổ chức để khắc phục vượt qua. Trong đó, việc hình thành các quận quân sự, các ban công tác liên thôn, ban công tác xã là sáng tạo quan trọng. Trước hết những tổ chức này tạo thành một chân rết quan trọng ở cơ sở, thực hiện diệt tề trừ gian, nắm tin tức, trinh sát, làm một phần nhiệm vụ chính quyền, vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, phối hợp và tạo điều kiện cho Chi đội đánh địch có hiệu quả. Hàng loạt trận đánh giao thông, trận thắng La Ngà thể hiện tính hiệu quả của những tổ chức cơ sở này của Chi đội. Ban công tác liên thôn, Ban công tác xã còn là tiền thân của các huyện đội, xã đội sau này, góp phần hình thành ba lực lượng vũ trang trên địa bàn tỉnh Biên Hoà.


Địa thế rừng núi tự nhiên với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt thuận lợi, đã dược Chi đội phát huy để phát triển và mở rộng chiến thuật đánh phục kích, giao thông không chỉ gây nhiều thiệt hại cho thực dân Pháp, bổ sung lực lượng cho ta (vũ khí, lương thực, kinh nghiệm), đồng thời trở thành truyền thống, thế mạnh tác chiến của Chi đội. Thực hành tác chiến qua từng trận một trong một chuỗi trận đánh đường sắt từ nhỏ đến lớn (cả quy mô và lực lượng), phục kích giao thông đường bộ (quốc lộ 14, quốc lộ 15), Chi đội rút nhiều kinh nghiệm trong chỉ huy tác chiến, tổ chức bố trí đội hình, xử lý nhiều tình huống phức tạp ở chiến trường; đồng thời qua từng trận sáng tạo những vũ khí có sức công phá mạnh tiêu diệt xe bọc thép, đầu máy xe lửa địch... cổ động và phát triển mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh nhân dân ở địa phương để tiến tới tổ chức, chỉ huy và thực hành hoàn hảo trận phục kích giao thông vang dội La Ngà (1-3-1948).


Chi đội 10 Biên Hoà đã hoàn thành nhiệm vụ là bộ đội chủ lực Khu 7, nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh ở địa phương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:04:11 pm »

Chương hai
TRUNG ĐOÀN 301 VÀ TRUNG ĐOÀN 310 (3-1948- 11-1949)


A.TRUNG ĐOÀN 301

I. TRUNG ĐOÀN 301 VỪA XÂY DỰNG VỪA CHIẾN ĐẤU

1.Thành lập Trung đoàn 301

Sau thất bại trong chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông từ năm 1948, thực dân Pháp đứng trước những khó khăn lớn, buộc phải chuyển hướng chiến lược chiến tranh. Từ chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh”, chúng chuyển sang chiến lược đánh lâu dài, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”; từ mở rộng phạm vi hoạt động chuyển sang củng cố vùng chiếm đóng. Chúng thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, chúng ra sức củng cố nguỵ quyền, phát triển nguỵ quân, tranh thủ viện trợ. Ở Nam Bộ, thực dân Pháp coi đây là nơi “bình định”, trọng điểm trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhằm biến Nam Bộ thành kho dự trữ chiến lược cho cuộc chiến tranh. Để thực hiện điều đó, chúng dành một bộ phận lớn quân đội đóng thêm đồn bốt, cứ điểm, chi khu quân sự ở các đồn điền, các đường giao thông, các thị trấn, thị tứ, xây dựng các đơn vị vùng chiến cơ động, sẵn sàng mở các cuộc càn quét. Chúng coi Đông Nam Bộ là chiến trường rất quan trọng, một địa bàn chiến lược, vừa là cửa ngõ phía đông, phía bắc và tây bắc Sài Gòn, vừa là vùng nối liền Nam Bộ với các tỉnh ven biển miền Trung và khu vực Tây Nguyên rộng lớn, lại vừa là vùng tiếp giáp với chiến trường Campuchia về phía Đông Bắc. Ở miền Đông Nam Bộ nói chung và tỉnh Thủ Dầu Một nói riêng có nhiều thay đổi. Thực dân Pháp vạch ra kế hoạch bình định, bố trí lại chiến trường, phát triển lực lượng nguỵ binh, tăng cường lực lượng gián điệp, mở nhiều cuộc hành quân lớn nhỏ đánh vào các căn cứ kháng chiến và vùng du kích, tìm diệt lực lượng vũ trang và triệt phá cơ sở cách mạng ở địa phương.


Đến tháng 11 năm 1948, địch đóng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ 491 cứ điểm. Lực lượng vũ trang của chúng gồm 5.547 tên Pháp và Lê dương, 13.664 lính ngụy. Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1948, chúng đã chiêu dụ, mua chuộc thêm nhiều lính Cao Đài phản động. Trong năm 1948, địch tấn công ta 220 trận với quy mô từ 200 quân đến 1.000 quân (không kể những trận lùng sục với lực lượng nhỏ) vào 6 tỉnh xung quanh Sài Gòn.


Riêng ở Thủ Dầu Một, với quân số 6.800 tên, địch đóng tất cả 128 đồn bót (có 21 bót lính Cao Đài phản động) tăng 19 bót so với năm 1947. Chúng đã gây nhiều tội ác với nhân dân ta: Giết 639 người, bắt 1.917 người, làm bị thương 300 người, hãm hiếp 227 phụ nữ, bắn chết, cướp trên 2.000 con trâu, bò, đốt phá 2.171 nhà dân, cướp và đốt 8.726 giạ lúa, 14.897 lít gạo.


Ngoài ra, địch còn tiến hành đánh phá kinh tế vùng căn cứ nhằm làm kiệt quệ nguồn lương thực; đồng thời một mặt gây mâu thuẫn giữa đồng bào kinh với đồng bào thiểu số, cho lính đi theo canh gác công nhân cao su làm lô, nhằm ngăn chặn tiếp tế lương thực, thực phẩm cho kháng chiến. Mặt khác, chúng cho tình báo, gián điệp trà trộn trong nhân dân, trong căn cứ kháng chiến để làm tai mắt cho hành động quân sự và chính trị của chúng, gây chia rẽ trong hàng ngũ của ta.


Sự tăng cường càn quét đánh phá của địch đã gây cho ta nhiều tổn thất trong năm 1948. Tuy thế, địch cũng không thế xoay chuyển được tình thế, quân dân cả nước cũng như quân dân Thủ Dầu Một vẫn ở trên thế tấn công địch, giành thêm nhiều thắng lợi.


Đến năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ ra Chỉ thị xây dựng các trung đoàn bộ đội tập trung trên toàn xứ. Ngày 27 tháng 3 năm 1948, Khu ủy Khu 7 họp Hội nghị thảo luận việc xây dựng các trung đoàn trên địa bàn miền Đông Nam Bộ. Hội nghị quyết định trên cơ sở các chi đội sẵn có, phát triển thành các trung đoàn. Địa bàn hoạt động của trung đoàn vẫn chủ yếu trong phạm vi của tỉnh và của huyện. Theo đó, Chi đội 1 của Thủ Dầu Một được đổi tên là Trung đoàn 301. Trung đoàn biên chế thành 3 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc: Đại hội 1 trở thành Tiểu đoàn 901 hoạt động ở vùng Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Đại hội 2 trở thành Tiểu đoàn 902 hoạt động ở quận Châu Thành,


Đại hội 3 trở thành Tiểu đoàn 903, với 3 đại đội 2707, 2708, 2709 hoạt động ở Bến Cát, Hớn Quản, Lộc Ninh.


Ban chỉ huy Trung đoàn 301 gồm: trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Thi; chính trị viên Lê Đức Anh; trung đoàn phó Lương Đường Minh, Nguyễn Văn Ngọ (tự Quỳ).


Sự thành lập trung đoàn không chỉ đơn thuần là thay đổi tên gọi mà còn biểu thị sự phát triển, thay đổi về chất, từ cơ cấu tổ chức, quy mô đơn vị đến trình độ, năng lực của cán bộ chiến sĩ. Nó tạo điều kiện để từng bước đưa dần đơn vị lên trình độ mới, tổ chức huấn luyện và chiến đấu ngày một cao hơn, hiệu quả hơn. Trung đoàn 301 cùng với các lực lượng dân quân du kích trong toàn tỉnh đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên khắp các chiến trường. Trung đoàn còn phân công 2 đại đội thường xuyên phối hợp với dân quân tự vệ trong các đồn điền cao su tham gia “Mặt trận cao su chiến” chuyên phá hoại cao su gây thiệt hại kinh tế cho địch.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:05:05 pm »

2.Chiến đấu bảo vệ căn cứ địa và “Mặt trận cao su chiến”

Trong căn cứ lớn, trung đoàn cùng lực lượng du kích tại chỗ kiên quyết chiến đấu chống địch càn quét để bảo vệ căn cứ, bảo vệ sản xuất, xây dựng hệ thống công sự phòng thủ, tổ chức bố trí canh gác bảo vệ nông dân làm mùa, tổ chức sản xuất nông nghiệp và các mặt hàng thủ công nghiệp khắc phục việc thiếu lương thực của trung đoàn. Được sự giúp đỡ, hỗ trợ của Trung đoàn 301, các huyện đội được củng cố hệ thống dân quân du kích ở các xã, ấp, đặc biệt ở các xã vùng tranh chấp, dọc quốc lộ 13, 14 phát triển. Nhờ vậy, cuộc kháng chiến của quân dân Thủ Dầu Một đạt được nhiều thắng lợi mới trên mặt trận quân sự, đơn vị nào cũng cô gắng lập nhiều chiến công.


Trong năm 1948, Trung đoàn 301 cùng với quân dân trong tỉnh đi chống càn quét 32 trận, tấn công vào các đoàn công voa và nhiều đồn bót địch.

Tháng 3, địch huy động một trung đoàn Âu phi và bọn Cao Đài phản động càn quét khu vực Vĩnh Lợi - Bình Chánh. Bộ đội tỉnh và du kích chặn đánh, diệt và làm bị thương 120 tên, phá hủy 1 súng cối 120 ly.


Sau đó, vào giữa tháng 3 địch tổ chức cuộc càn lớn vào chiến khu Thuận An Hoà, một đơn vị của trung đoàn và du kích các xã anh hùng chiến đấu. Địch quân đông, trang bị mạnh vẫn hung hăng xấn tới.

Nắm được chỗ yếu của địch, chỉ huy trưởng của trung đoàn tổ chức một trung đội cải trang lính Pháp do một hàng binh người Đức chỉ huy đóng vai đại uý Pháp. Giữa trưa, đơn vị này xông thẳng vào sở chỉ huy địch, nổ súng tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy cuộc hành quân gồm 15 tên Pháp từ trung uý đến thiếu tá. Như rắn mất đầu, bọn còn lại hoảng hốt tháo chạy. Đây là đòn phá càn rất hiểm, đạt hiệu quả cao.


Đêm 19 tháng 3 năm 1948 đã diễn ra trận đánh độc đáo tiêu diệt tháp canh cầu Bà Kiên trên đường 16. Một tổ chiến đấu do đồng chí Trần Công An, trợ lý tác chiến huyện đội Tân Uyên chỉ huy. Đưa thang đặt ở chân tháp canh, chiến sĩ ta leo lên ném 2 trái lựu đạn vào trong tua. Lựu đạn nổ, tiểu đội nguỵ chết tại chỗ, ta thu 8 súng, 20 lựu đạn và đốt luôn tháp canh. Trận đánh này, tuy nhỏ song lại là trận đánh mở đầu bằng lối đánh đặc công, lần đầu tiên tháp canh Đờ La-tua bị đánh hạ. Với lối đánh bí mật, tiếp cận, lợi dụng sơ hở của địch để tiến công mục tiêu mở ra một cách đánh mới để hạ tháp canh. Phát huy lối đánh đặc công, liên tiếp trong năm 1948, bộ đội ta diệt hàng loạt tua khác, giáng cho chiến thuật tháp canh của Đờ La-tua thất bại thảm hại.


Tiếp theo đó, các tiểu đoàn 901, 902 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 903 phối hợp đánh 1 đoàn xe địch vận chuyển trên đường 13, tại dốc Cây Cày diệt 2 đại đội địch, phá 7 xe, thu 3 trung liên, 10 tiểu liên và 70 súng trường. Đây là trận diệt gọn đơn vị địch, thu nhiều vũ khí.


Tháng 10, Tiểu đoàn 902 phục kịch bọn tiếp viện bót Bưng Cần, hai xe thiết giáp trúng địa lôi bị hư hỏng nặng, địch chết 15, bị thương 5. Cũng trong tháng 10, Trung đoàn 301 tấn công đoàn xe địch gồm 2 thiết giáp, 3 cam nhông, địch chết 13, ta bắt được 5 tên Pháp và lính Âu Phi giáo dục rồi thả. Ta thu 3 súng máy, 30 súng trường, 21 tromblons, 45 tạc đạn và nhiều quân trang quân dụng.


Cuối năm 1948, ở đồn điền Quản Lợi nhờ cơ sở vùng đồng bào dân tộc Sóc Xiêm và nội ứng ở đồn điền cung cấp tin tức đại đội 2709, tiểu đoàn 903 đã bố trí phục kích trên đường Quản Lợi đi Trà Thanh, bắt sống tên chủ Gác-na, tiêu diệt 3 tên lính hộ tống. Nổi tiếng nhất là trận đánh ở nhà máy chế biến mủ Quản Lợi. Sau khi nghiên cứu chi tiết 5 máy đèn của nhà máy, ta đã sản xuất loại mìn đặc dụng đánh tan 5 máy đèn và 5 bồn xàng dầu, gây nên vụ cháy lớn trong nhà máy chế biến mủ, khiến bọn chủ sở phải cho ngừng sản xuất gần 3 tháng. Đại đội 2709 ở Hớn Quản và phân đội 10 huyện Sông Bé thuộc trung đoàn 310 của tỉnh Biên Hoà còn tổ chức đánh nhỏ, lẻ trên đường; 13, 14. Lực lượng vũ trang của ta bố trí mỗi tổ 3 người hoặc thành đội có 3 tổ phân chia từng đoạn đường để bắn trả, đánh quấy rối địch.


Cũng cuối năm 1948, Trung đoàn 301 tổ chức trận “giao thông chiến” đánh đoàn xe chiến đấu của địch trên đường 14 - đoạn gần cầu Nha Bích. Bằng loại mìn cải tiến do ta sản xuất (Ba-zô-min), quân ta diệt 3 xe thiết giáp, bắt sống 1 xe đem vô rừng, tiêu diệt và bắt sống hoàn toàn đội quân áp tải, thu nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.


Tiểu đoàn 903 phối hợp với du kích An Long, An Linh đánh đoàn công-voa giặc trên đường 13 và tuyến đường Bàu Bàng, tiêu diệt nhiều toa xe chở quân trang quân dụng.


Trong thời gian này, “Mặt trận cao su chiến” chuyên phá hoại cao su gây nhiều thiệt hại kinh tế cho địch. Đêm 17 tháng 10, bộ đội cao su và dân quân phá hoại sở cao su Dầu Tiếng, vạt vỏ 80 héc-ta cao su, đập bể 15.000 chén mủ, tịch thu 31 thùng gánh mủ và 160 lít gạo, nhiều công nhân cao su theo bộ đội thoát ly kháng chiến. Ở các đồn điền Hớn Quản, Minh Thạnh, Xa Cam, Xa Cát, bộ đội cao su và công nhân đã chặt và vạt vỏ hơn 1000 héc-ta cao su, phá huỷ hàng trăm nghìn chén đựng mủ, hàng chục kho lương thực, kho chứa mủ. Riêng đồn điền cao su Hớn Quản, phá huỷ 430 tấn mủ gây thiệt hại nặng nề kinh tế của địch.


Nhằm thúc đẩy hơn nữa công tác vận động đồng bào dân tộc giữa năm 1948, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một quyết định thành lập phòng quốc dân thiểu số do đồng chí Trần Quang Sang (Ba Phước), tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 903 làm trưởng phòng, phòng quốc dân thiểu số tổ chức một đội vũ trang tuyên truyền đi sâu vào các vùng dân tộc, thành lập các mũi xung kích, tuyên truyền vận động nhân dân xây dựng và phát triển cơ sở kháng chiến, giải thích rõ cho đồng bào về âm mưu chia rẽ thâm độc và tội ác của kẻ thù xâm lược, hướng dẫn đồng bào đấu tranh bảo vệ nương rẫy, hoa màu.


Bên cạnh những thắng lợi của hoạt động quân sự, còn có những hoạt động hiệu quả của dân quân du kích. Đây là lực lượng ngay khi vừa thành lập xong bộ máy chuyên trách đã phát triển nhanh rộng khắp. Được phòng dân quân Nam Bộ khen ngợi: “Dân quân Thủ Dầu Một có tài tổ chức chu đáo và mau lẹ”.
Đến cuối năm 1948, các cấp bộ đội được hình thành từ tỉnh đến xã (đủ ở 48 xã trong tỉnh) với 243 cán bộ, nhân viên đã tổ chức 47 trung đội quân dân du kích, với 410 đội viên. Trong năm đã mở được 3 khoá huấn luyện cho cán bộ dân quân tỉnh, quận với 173 học viên và 24 khoá huấn luyện cán bộ chỉ huy dân quân xã được trên 1.000 học viên.


Năm 1948, nhiều đội du kích xã chặn đánh những cuộc ruồng kích nhỏ của địch từ một tiểu đội đến một trung đội, liên tục gây thương vong cho địch. Lực lượng du kích còn phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, kể cả Quốc vệ đội, đội trinh sát và Công an xung phong của Ty Công an tỉnh kiên trì theo dõi và nắm bắt quy luật vận động của các đội biệt kích Pháp nổi tiếng hung ác. Bằng nhiều cú đánh bất ngờ, các lực lượng du kích của ta lập những thành tích xuất sắc.


Đó là trận phục kích 1 tiểu đội biệt kích do tên quan ba Pháp Barat (Baras) chỉ huy trên đường 13, tại cua chú Khải, gần Phú Văn. Tên này rất hung ác, luôn dương dương tự đắc, xưng danh là con “sư tử của Thủ Dầu Một”, hắn và đồng bọn đã bị ta tiêu diệt. Đó là trận tiêu diệt tiểu đội biệt kích Bacnhô tại mỏ Bịt Bùng (xã Tân Phước Khánh). Tên Bacnhô này đã chết hụt nhiều lần nay phải đền tội; trận diệt tên quan hai biệt kích Êmênơdông và nhiều tên khác tại Bưng Cầu (Định Hòa).


Giữa tháng 12 năm 1948, ta quyết tâm đánh đồn Bù Đốp (đây là một quận nằm ở phía bắc tỉnh Thủ Dầu Một). Sau một thời gian trinh sát và tiếp cận khu vực đồn và được cơ sở cung cấp tin tức, Tiểu đoàn 903 gồm 3 đại đội là 2707, 2708 và 2709 phối hợp với một bán đội công an vũ trang quận Hớn Quản gồm 180 quân do đồng chí Nguyễn Văn Cẩm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 903 chỉ huy tấn công vào cứ điểm Bù Đốp với 3 mục tiêu: dinh quận trưởng, trại lính 1 và trại lính 2. Trong trận này, ta tấn công, vận động bí mật, nhanh và bạo, đánh vào 2 đồn và dinh quận trưởng. Địch chủ quan, bị đánh bất ngờ, trở tay không kịp bị ta tiêu diệt gần hết. Trong trận này ta thu 60 súng và phá trại giam giải thoát 60 đồng bào và đồng chí.


Trận đánh đạt hiệu quả cao nhờ sự giúp đỡ hết lòng của đồng bào dân tộc tại chỗ. Trận đánh này gây tiếng vang lớn, làm địch rúng động, vì đây là vùng sâu, nơi địch cho là an toàn nhất; sau trận đánh đồng bào là cơ sở vùng dân tộc và những người được giải thoát đều xin thoát ly theo kháng chiến. Tên tỉnh trưởng Thủ Dầu Một hết sức tức tối, hết tin tưởng vào lính dân tộc thiểu số. Hắn cách chức tên Gơbe (Gerber) đã làm quận trưởng tại đây hơn 20 năm.


Tiếp đó là trận đột kích vào sở cao su Quản Lợi diệt tên chủ sở và tên Tổng thanh tra công ty cao su Đất Đỏ làm cho địch hoang mang lo sợ.

Sau chiến thắng ở Bù Đôp, các đội vũ trang tuyên truyền được Khu 7 thành lập về hoạt động ở các địa phương. Vùng Lộc Ninh, Hớn Quản có các trung đội A và B. Trung đội A chịu trách nhiệm phía đông quốc lộ 13, giao đồng chí Nguyễn Đình Kính phụ trách xây dựng được cơ sở ở các vùng dân tộc Sóc Nê, Đất Đỏ, Chàng Hai, Bù Nồm và Xóm Bưng; trong công nhân có cơ sở Bù Đốp, Sở Nhỏ, Sở Brélin, Bùgoen, Sóc Đá, Bù Đinh. Trung đội B do đồng chí Du, huyện đội phó Hớn Quản chịu trách nhiệm phía tây đường 13 từ Hớn Quản đến Snoul (Campuchia) xây dựng được cơ sở ở các vùng dân tộc Tà Thiết, Sóc Bù Núi và trong các đồn điền.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:06:04 pm »

II.LÀM NÒNG CỐT TRONG PHONG TRÀO DU KÍCH CHIẾN TRANH Ở ĐỊA PHƯƠNG

1.Đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên các chiến trường

Du kích xã Chánh Hiệp do Huỳnh Văn Cù chỉ huy lấy bót địch ở nhà thờ ông Thưởng tại ấp Chánh Thành (nay thuộc Phường Hiệp Thành) giữa ban ngày. Du kích Tương Bình Hiệp phối hợp với bộ đội tỉnh lấy gọn đồn Tương Bình Hiệp lần 2. Du kích Định Hòa phối hợp đơn vị tỉnh đánh bót Bưng Cầu và phục kích hàng chục tên địch kéo đến cứu viện. Một tổ du kích do Nguyễn Thanh Đồng chỉ huy, thông qua nội ứng, xông thẳng vào đồn Rassari (xã Lai Uyên) diệt 2 tên chỉ huy hung ác, bức hàng toàn bộ lính ngụy, thu 44 súng các loại. Du kích xã Phú Mỹ phối hợp với lực lượng tỉnh phục kích tại Bàu Cống phá hủy 1 đầu máy xe lửa, 1 toa đạn dược, diệt nhiều tên Pháp, thu một số súng đạn.


Nổi bật là đội biệt động thị xã Thủ Dầu Một đột nhập một nhà hàng tại thị xã, diệt tất cả bọn phòng nhì đang họp, trong đó có tên chỉ huy là Giơvăngxili (tên này đã giết hàng chục đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta).


Trong phong trào dân quân du kích, thành tích của một số chị em rất nổi bật, đã tích cực tuyên truyền, giác ngộ, vận động được nhiều binh lính địch bỏ hàng ngũ địch theo kháng chiến.


Chị Bảy Qườn, quê xã Vĩnh Phú (Lái Thiêu) vận động được một trung đội lính Âu Phi đóng đồn tại địa phương mang toàn bộ vũ khí chạy sang phía cách mạng.

Chị Hai Ký, cũng quê xã Vĩnh Phú, bị địch bắt giam tại trại giam Thủ Đức đã cùng chị Tý, chị Năm giác ngộ 4 tên lính Khơme, giải thoát 16 chị em khác bị giam ở đây và mang về cho ta 3 tiểu liên, 1 súng ngắn và nhiều lựu đạn.


Ngoài ra, phong trào tòng quân giết giặc được phát động khắp nơi trong toàn tỉnh, chỉ riêng trong 1 tháng trong năm 1948 đã vận động anh em thoát ly đi kháng chiến ở đồn điền Xa Cát là 50 người và trên 10 người của đồn điền Xa Trạch đưa về bổ sung cho Tiểu đoàn 903.


Năm 1948 là mốc quan trọng đánh dấu thời kỳ xây dựng, củng cố, phát triển và trưởng thành của cách mạng địa phương. Các cơ sở Đảng, các tổ chức đoàn thể từng bước được xây dựng hoàn thiện. Đặc biệt là lực lượng vũ trang được xây dựng thống nhất đến tận cơ sở tạo nên sức chiến đấu mới, thắng lợi mới. Cùng với chiến thắng Việt Bắc, quân dân Thủ Dầu Một cùng với quân dân toàn miền đánh bại kế hoạch “Đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, buộc chúng sau đó phải chuyển sang chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “Dùng người Việt đánh người Việt”.


Bước sang năm 1949, cuộc kháng chiến đang ngày phát triển, thực dân Pháp lâm vào tình trạng hết sức khó khăn. Tài chính thiếu hụt trước nhu cầu quá sức của cuộc chiến tranh, mặc dù được tăng viện nhưng chúng vẫn lúng túng trước mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, một mặt muốn tập trung bình định dứt điểm Nam Bộ, mặt khác cần đưa quân ra chiến trường Bắc Bộ. Trong Hội nghị về phòng vệ Đông Dương ngày 4 tháng 1 năm 1949 tại Sài Gòn, Cao ủy Pi-nhông đưa ra chủ trương: Dồn nỗ lực quân sự vào Nam Bộ, tập trung bình định Nam Bộ, thực hiện chiến thuật Đờ La-tua.


Thực hiện chiến thuật này, đến năm 1949, trên địa bàn Thủ Dầu Một địch dành một bộ phận lớn quân đội đóng thêm đồn bót, cứ điểm ở các đồn điền, thị trấn, các đường giao thông chạy qua vùng cao su, xây dựng các đơn vị ứng chiến cơ động, sẵn sàng càn quét, phá hoại sản xuất. Chúng liên lạc tổ chức nhiều cuộc càn quét vào các khu căn cứ, khu tập trung đông dân cư, nhất là các khu căn cứ cách mạng. Quân Pháp còn điều động lực lượng lớn biệt kích, lính Lê dương để bảo vệ đường xá và các đồn bót quan trọng.


Để chỉ đạo và đưa kháng chiến đến thắng lợi, Bác Hồ, Trung ương Đảng xác định: “phải có lực lượng vũ trang hùng mạnh”1 (Kháng chiến nhất định thắng lợi - Trường Chinh, NXB Sự thật, H.1967, tr.103), lực lượng ấy phải trưởng thành từ du kích chiến tiến lên vận động chiến, từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính qui.


Ở Thủ Dầu Một, ta tiếp tục phát triển phong trào kháng chiến, các cấp ủy Đảng địa phương đã phát động toàn dân đẩy mạnh chiến tranh du kích, lấy lực lượng Trung đoàn 301 làm nòng cốt tích cực chống càn, mở rộng phạm vi bao vây áp sát địch ở các đồn điền và những khu vực đông dân cư, đồng thời đánh địch trên đường 13, 14 nhằm tìm diệt, tiêu hao lực lượng địch, bảo toàn được lực lượng, hạn chế được thiệt hại do địch gây ra. Nhờ chống càn thắng lợi, kết hợp với tiến công địch trong đô thị, mở rộng vùng giải phóng, vùng căn cứ, giữ vững cơ sở quần chúng.


Tháng 3 năm 1949, diễn ra một cuộc chống càn tại chiến khu Đ, địch huy động cả ngàn quân đánh vào Bộ Tư lệnh Khu 7 và các cơ quan đầu não tỉnh Biên Hòa. Chúng chia lực lượng thành nhiều cánh tấn công có xe tăng yểm trợ. Bộ Tư lệnh khu chỉ đạo trận chống càn này phối hợp với Khu 7 các đơn vị vũ trang Biên Hòa và Thủ Dầu Một chặn đánh các ngả đường vào chiến khu và đánh trên sông Đồng Nai, đồng chí Trần Công An chỉ huy một tiểu đội đặc công đánh thử nghiệm xe tăng bằng mìn ta tự tạo. Mìn tự tạo được bố trí sẵn theo đường vào văn phòng Bộ Tư lệnh. Ba xe tăng địch dẫn xác đến trận địa, trúng mìn, bị tan xác tại chỗ. Ở các cánh quân khác, nhiều binh lính và xe tăng bị thiệt hại nặng. Lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ, xe tăng địch bị diệt khiến bọn chỉ huy địch hốt hoảng vội vã rút quân, kết thúc cuộc càn.


Ở Bến Cát, bộ đội ta phục kích 2 trận giao thông trên đoạn đường từ Rạch Bắp đi Thanh Truyền. Trận đầu thu được 2 xe đầy quân trang, quân dụng. Trận thứ hai vừa đánh, vừa chặn viện trên đường số 7, ta diệt 1 thiết giáp và 1 xe cam nhông cùng nhiều tên địch, thu 1 trung liên, 2 tiểu liên và một xe tải đầy hàng hóa.


Giữa năm 1949, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với du kích trên địa bàn tập kích đồn Nha Bích. Bị tấn công bất ngờ, địch trở tay không kịp, ta bố trí quân diệt gọn 1 đại đội địch, thu 1 súng Canông nòng dài, một số lựa đạn cùng đạn dược, thuốc men.


Rút kinh nghiệm từ các trận đánh bằng chiến thuật đặc công, tháng 5 năm 1949, Bộ Tư lệnh Khu 7 mở lớp huấn luyện đặc công tại Bà Đã cho 85 học viên các tỉnh Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa, Bà Rịa, Gia Định. Từ kinh nghiệm trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên của du kích Tân Uyên, hội nghị đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý để từng bước hoàn thiện kỹ thuật nghiên cứu, tiếp cận mục tiêu, hóa trang và vượt các chướng ngại vật... Đây là chiến thuật mới nhằm đánh vào hệ thống tua mà địch đang dựng lên chằng chịt khắp các nơi xung yếu. Các học viên học xong chưa được đánh liền vì còn chờ công binh xưởng sản xuất được nhiều vũ khí và có lệnh tấn công đồng loạt nhiều tháp canh để địch không kịp đối phó. Đồng thời Bộ Tư lệnh chỉ rõ cho binh công xưởng nghiên cứu, chế tạo mìn có khả năng đánh tháp canh. Tháng 10 năm 1949, đồng chí Bùi Cát Vũ tỉnh đội phó Biên Hòa và đồng chí Đặng Sĩ Hùng Giám đốc công binh xưởng đã nghiên cứu sản xuất được loại vũ khí phá tường (ký hiệu FT). Sau khi thử nghiệm đạt kết quả tốt, công binh xưởng tiếp tục sản xuất hàng loạt vũ khí này.


Tháng 6 năm 1949, trung đội du kích Tân Uyên do huyện đội phó Cố Tấn Chương chỉ huy đã kỳ tập lấy bót Rạch Tre thu hết đạn rồi đốt tua. Nắm được tình hình lúc bọn Pháp ở bót về thị xã Thủ Dầu Một dự lễ “Quốc khánh”, ngày 14 tháng 7 du kích Chánh Hiệp bí mật trổ ngói xuống diệt tên gác, thu toàn bộ vũ khí, tài liệu, quân trang, quân dụng, cùng lúc đó một số du kích khác dùng chất nổ đánh sụp một góc bót địch tại nhà cai tổng Biện.


Tháng 8 năm 1949, một bộ phận Trung đoàn 301 cùng với du kích địa phương tổ chức đánh địch trên đoạn đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh, đoạn đi qua Chơn Thành. Trận này phục kích được tổ chức chặt chẽ. Ta dùng 2 quả mìn Ba-zô-min (một loại mìn lõm được làm bằng thuốc nổ lấy từ bom đạn lép của địch) đặt ở vị trí thích hợp; đợi đến 2 giờ chiều, đoàn tàu chở quân từ Sài Gòn lên tới khu vực phục kích. Mìn nổ, quân ta tung lựu đạn và ồ ạt xung phong, phá hủy nhiều toa xe lửa, diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí đạn dược, trong đó có 2 súng Canông, lực lượng phục kích rút về căn cứ an toàn.


Trong khi các đơn vị lực lượng vũ trang của ta tập trung tìm mọi cách đánh tiêu hao, tiêu diệt địch trên các chiến trường; bộ đội trinh sát kết hợp với Công an vũ trang, du kích các xã luôn bám địa bàn tìm diệt những tên ác ôn, tề gian, những tên chỉ điểm, gián điệp và phá bộ máy ngụy quyền, góp phần làm thất bại chiến trạnh gián điệp của chúng. Đó là tên Trần Văn Sâm (lính kín), tên cai tổng Cao ở Tân Khánh, trốn ra thị xã đều bị diệt tại Phú Cường. Tại Lái Thiêu, ta trừng trị cả Sâm (Hưng Định), hương cả Đình, hương Quản Thế (Phú Long), cai Đính (thị trấn Lái Thiêu), hương quản Ớt (Vĩnh Phú), Tám Ca (Bình Nhâm). Tại Tân Uyên, các tên xã Bí, tổng Ngô, tổng Khoẻ, tổng Quốc, xã Lê, hương cả Xuân, hương cả Chà... đều bị diệt. Tại Hớn Quản, ta diệt tên ác ôn Huỳnh Kim Trọng ở Xa Cam (tên Trọng là chánh văn phòng của đồn điền Xa Cam khét tiếng ác ôn), hoặc giết hụt tên Chét Tạch ở Xa Cam... Tại Thủ Dầu Một, ta tốn nhiều thời gian nghiên cứu nắm quy luật đi lại, ăn ở diệt tên Nguyễn Văn Quả, một đội viên trinh sát đầu hàng địch đánh phá dữ dội cơ sở cách mạng của ta.


Những trận diệt tề, trừ gián điệp, chỉ điểm đều thực hiện đúng đối tượng, đúng chính sách với tinh thần quả cảm, táo bạo của cán bộ, chiến sĩ ta, được cán bộ, đồng bào hoan nghênh. Cũng nhờ đó mà từ cuối năm 1949 ở nhiều xã thuộc vùng yếu, bộ máy kìm kẹp của địch bị phá lỏng.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 1397



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 26 Tháng Mười Một, 2019, 09:07:00 pm »

2.Phối hợp đánh địch trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa

Trong thời gian này, công tác phá hoại cũng là một mặt trận quan trọng cả về quân sự lẫn kinh tế. Thủ Dầu Một là tỉnh có diện tích cao su lớn nhất Đông Nam Bộ. Phá hoại kinh tế địch ở đây là phá hoại các đồn điền cao su của chủ tư bản Pháp, thường gọi là “cao su chiến”. Quân dân ta phá hoại bằng nhiều cách như lãn công, cạo hư cây, phá kiềng chén, đổ bớt mủ, xả mủ đổ ra đất, đấu tranh chống cúp phạt; thành lập những đơn vị bộ đội, du kích chuyên phá hoại cây cao su (chặt hoặc làm chết cây). Sau đó được uốn nắn, chuyển sang không phá cây cao su1 (Theo chỉ thị của đồng chí Lê Duẩn-Bí thư Xứ ủy Nam Bộ: "Cuộc kháng chiến của ta nhất định giành được thắng lợi, cây cao su là nguồn lợi lớn của Tổ quốc, chúng ta phải chăm sóc, bảo vệ, không được chặt phá") mà phá hoại máy móc, nguyên vật liệu, giáng một đòn mạnh mẽ vào ý đồ dự trữ, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của chúng. Địch cố gắng bảo vệ đồn điền cao su bằng cách tăng cường lực lượng quân sự, có cả xe thiết giáp chiếm đóng vùng cao su để đối phó công tác phá hoại của ta. Tuy thế, trong 104.000 héc-ta cao su toàn miền Đông đến năm 1948, bọn thực dân Pháp chỉ khai thác được 20.000 héc-ta. Trong năm 1949, các đồn điền cao su trong toàn tỉnh Thủ Dầu Một đã bị phá hoại 212 héc-ta cao su và 74.180 cây cao su. Riêng ở Hớn Quản, công nhân phá 430 tấn mủ gây thiệt hại nặng nề về kinh tế cho địch2 (Sinh hoạt và thành tích cao su Nam Bộ-lưu tại công đoàn cao su Việt Nam).


Tại đồn điền cao su Lộc Ninh, tên chủ La Lan nổi tiếng gian ác. Từ khi bị chết hụt trên đường 13, mỗi khi có việc cần về Sài Gòn hắn phải đi bằng máy bay chứ không dám đi bằng đường bộ. Ở Hớn Quản, Dầu Tiếng, ta tấn công vào các đồn điền, rút thanh niên, công nhân bổ sung cho bộ đội. Vừa giải thoát những chiến sĩ, du kích, kể cả đồng bào miền Bắc bị chúng bắt trong các cuộc càn quét ở Bắc Bộ đưa vào đây làm công nhân cạo mủ cho chúng, số anh em được giải thoát đều quyết tâm xin gia nhập bộ đội.


Đi đôi với hoạt động vũ trang tấn công địch, diệt tề, trừ gian, từ đầu năm 1949, được sự hỗ trợ của cán bộ, du kích địa phương, phong trào công nhân đấu tranh dòi dân sinh, dân chủ phát triển mạnh. Giữa năm 1949, 500 công nhân ở Sóc Xiêm (Hớn Quản) do anh Đạt cầm đầu đấu tranh đòi trả lương đúng kỳ hạn, đòi cấp gạo trắng, hạ giá sinh hoạt. Cuộc đấu tranh giành được thắng lợi, bọn chủ đồn điền buộc phải giải quyết quyền lợi cho anh chị em công nhân. Tháng 4 năm 1949 tại đồn điền Minh Thạnh, công nhân lãn công, tập trung trước nhà chủ sở, đưa yêu sách: “Tăng lương đủ sống, phát gạo trắng cho dân, bán đồ ăn ngon cho dân, không được ép công nhân mua đồ ăn mục hư”.


Công tác phá hoại đường bộ, đường sắt tuy những năm trước tỉnh có chỉ đạo nhưng việc thực hiện không được thường xuyên. Từ khi tổ chức dân quân được hình thành từ tỉnh đến xã, thì công tác này tiến hành thường xuyên, có nền nếp và quy mô hơn.


Địa bàn Thủ Dầu Một có các con đường giao thông huyết mạch: đường sắt Sài Gòn - Lộc Ninh; đường quốc lộ 13, cũng từ Sài Gòn lên Lộc Ninh rồi chạy qua Campuchia, qua Lào; đường liên tỉnh 14 từ Thủ Dầu Một đi Tây Nguyên; đường 14 đi Dầu Tiếng; đường 16 nối Tân Uyên với Phước Hoà; đường số 8 từ Tân Uyên đến Lạc An và nhiều con lộ trải sỏi đỏ liên xã, liên huyện. Với những con đường này, ta và địch giằng co rất ác liệt, ta phá địch sửa, ta lại phá. Để ngăn chặn bộ đội và du kích ta phá hoại đường, địch bắn pháo cầm canh, theo các trục lộ chính. Song ta vẫn phá, có lúc pháo bắn phía trước, ta phá phía sau và ngược lại.


Đối với đường sắt, ta vừa đánh phục kích khi tàu lửa đi qua, vừa gỡ tháo tà vẹt, tháo bù loong từng đoạn đường ray, phá cầu cống. Đường sắt bị phá nên việc vận chuyển của địch tiếp tế cho các đồn điền và chở mủ cao su về Sài Gòn gặp nhiều khó khăn.


Ta huy động hàng ngàn lượt dân công các huyện phía nam như Lái Thiêu, Bến Cát, thị xã Thủ Dầu Một lên các huyện phía bắc của tỉnh để đào hào, đắp mô, cắm chông trên các đường lộ lớn nhỏ, làm cản trở việc càn quét hoặc tiếp tế đồn bót vùng trên của địch. Dân quân các xã dọc lộ 16 phá cầu Ông Tiếp, cầu Bà Kiên, cầu Tổng Bảng, cầu Rạch Cát, cầu Suối Đồn... Du kích cắm chông, gài lưu đạn ở những cây cầu bị phá, gây thương vong cho địch khi chúng đến sửa chữa cầu.


Địch đóng nhiều tua, bót để chia cắt tỉnh thành từng mảnh nhỏ, bao vây căn cứ tỉnh, huyện, cô lập vùng này với vùng khác. Ta ra sức phá hoại cầu, đường, nhiều nơi lực lượng vũ trang, du kích có sáng kiến, cắm chông, gài lựu đạn, mìn xung quanh để cô lập các đồn bốt địch. Đường giao thông bị đào bức ngang hoặc xẻ quanh co thành hào chữ chi, lại chằng chịt những mô đất làm cho xe cơ giới địch vận chuyển không được, có trường hợp xe tăng, thiết giáp bị sụp hầm. Những con đường bị phá hoại chi chít, những hào, mô đất lại trở thành công sự chiến đấu cho bộ đội ta và du kích chống địch mỗi khi chúng đi càn.


Năm 1949, tỉnh có chủ trương xây dựng làng chiến đấu, lực lượng dân quân các xã hăng hái sửa đổi địa hình, địa vật, khởi đào ở 6 xã có địa đạo, rào được 256.995 mét đường rừng và gần 100.000 mét theo mương rạch. Xã Định Hòa dẫn đầu với 2.000 mét địa đạo (cuối năm 1949).


Dân quân các nơi còn đóng trên 5.000 cọc chống chiến xa, cắm 207.800 cọc chống địch nhảy dù, đào 29.550 mét khối đất làm hầm núp công cộng và giao thông hào. Trên 900 lượt dân quân đi dân quân phục vụ chiến đấu và áp tải lương thực.


Tổng hợp thành tích hoạt động vũ trang trong năm 1949, các đơn vị bộ đội tỉnh, huyện và dân quân du kích xã đã đánh 649 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 1990 tên địch (trong đó du kích loại 685 tên), thu 171 súng các loại (phần của du kích 44 súng), địch nguỵ vận thu 20 súng. So với năm 1948, số trận đánh cũng như số lượng địch bị loại khỏi vòng chiến đấu đều tăng. Với sự phát triền mạnh mẽ của phong trào kháng chiến, công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị tư tưởng của Trung đoàn 301 cũng được chú trọng, số lượng đảng viên mới kết nạp ngày cũng tăng. Trong 2 năm 1948, 1949 từ trung đoàn đến đơn vị huyện, du kích được sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, có sự triển khai có hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị nên thế trận chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân toàn diện ngày càng được hoàn thiện, liên tục tấn công địch đánh đồn bót, chống càn, diệt tề, trừ gian làm cho âm mưu bình định lấn chiếm của địch bị thất bại. Vùng căn cứ cách mạng được mở rộng nối liền được các căn cứ ở miền Đông đưa cách mạng chuyển sang bước phát triển mới.


Tháng 9 năm 1949, Xứ ủy triệu tập hội nghị quân sự xứ, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Xứ ủy đã nêu lên những ưu điểm nhấn mạnh những thiếu sót sai lầm trong phong trào nói chung và cán bộ chỉ huy quân sự ở các địa phương nói riêng. Hội nghị đã đề ra các công tác trước mắt: chỉnh đốn bộ máy chỉ huy quân sự, xây dựng 3 thứ quân, rèn cán chỉnh quân, xây dựng quân nhu, quân giới, xây dựng căn cứ địa kháng chiến, tăng cường công tác chính trị tư tưởng trong tất cả các đơn vị, đẩy mạnh địch ngụy vận, đẩy mạnh thi đua giết giặc lập công, tăng cường công tác chính trị nội bộ, đề phòng địch gài người vào nội bộ... Nghị quyết của Hội nghị quân sự Xứ ủy thổi một luồng sinh khí mới, tiếp thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến nhân dân trong tỉnh.


Sau Hội nghị của Xứ ủy, tỉnh Thủ Dầu Một tổ chức hội nghị quân sự toàn tỉnh tại Bến Sắn nhằm quán triệt những nghị quyết của Xứ ủy. Đây là lần đầu tiên trong tỉnh, các cán bộ quân sự tiến hành tự phê bình, phê bình một cách thẳng thắn và xây dựng đối với các đồng chí chỉ huy quân sự của tỉnh và các đơn vị trong tỉnh. Qua hội nghị, nội bộ được xiết chặt đoàn kết hơn, đồng thời từng người thấy được những mặt hạn chế của mình để khắc phục.


Cũng cuối năm 1949, tổ chức chỉ huy ở chiến trường Nam Bộ có một số thay đổi. Theo yêu cầu của trên, tháng 11 năm 1949, Trung đoàn 301 Thủ Dầu Một sáp nhập với Trung đoàn 310 Biên Hoà thành Liên trung đoàn 310 - 310 do đồng chí Nguyễn Văn Thi làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Quang Việt - Bí thư Tỉnh ủy kiêm chính trị viên.


Từ ngày thành lập, Trung đoàn 301 đã lớn mạnh về mặt tổ chức xây dựng và chiến đấu, đánh dấu bước hoàn chỉnh quá trình thống nhất lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong 2 năm 1948, 1949, với quy mô tổ chức mới về lực lượng vũ trang tập trung cùng với các đơn vị khác, Trung đoàn 301 đã đẩy mạnh các hoạt động chiến đấu và công tác. Đặc biệt trên các mặt trận quân sự, đã có những trận đánh sắc bén, táo bạo, độc đáo hiệu quả cao, góp phần giữ được thế chiến trường du kích, lần lượt đánh bại các thủ đoạn chiến thuật của thực dân Pháp, gây cơ sở vùng địch hậu, bó hẹp sự kiểm soát của địch, cắt đứt nhiều tuyến giao thông quan trọng, đánh tiêu hao sinh lực địch bảo vệ hành lang kháng chiến, bảo vệ căn cứ địa cùng cả nước làm thay đổi cục diện chiến tranh, đưa cuộc kháng chiến chống Pháp vào một giai đoạn lịch sử mới.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM