Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Sáu, 2020, 10:35:29 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chúng tôi và MiG-17  (Đọc 5699 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #70 vào lúc: 15 Tháng Mười Một, 2019, 06:39:17 am »


       
*

        Tất cả các phi công hôm đó chỉ biết im lặng trước thái độ của Chính ủy, ngoại trừ tôi. (Vũ Đình Rạng bắn B-52 bị thương chạy về Thái Lan, khi họp Đảng bị Chính trị viên hỏi: “Tại sao người ta đi bắn rơi mà lần nào cậu đi cũng về không? Cậu là... tư tưởng sợ chết, không can đảm...”.

        Mặc dù, hồi đó ở sân bay U-đom (Thái Lan) người Mỹ đã thừa nhận chính chiếc B-52 này đã bị bắn rơi bởi phi công Vũ Đình Rạng của Việt Nam. Thê nhưng Vũ Đình Rạng lần ấy vẫn bị kỷ luật nặng, suýt khai trừ khỏi Đảng. Mãi sau này vào cuối những năm 70, qua rất nhiều lần ý kiến của các Trung đoàn trưởng, Trung đoàn phó... yêu cầu Chính trị viên phải là những phi công bay giỏi, như thế mới có sự thông cảm và có thể lãnh đạo tư tưởng tốt cho phi công. Cũng nhờ đó, tình cảm của phi công với chính trị viên mới dần dần cởi mở hơn).

        Cuộc họp kết thúc đã lâu mà Vũ Đình Rạng vẫn chưa hết buồn, anh không ngờ chỉ vì việc anh không bắn liên tục hai quả tên lửa vào chiếc B-52 hôm ấy mà bây giờ anh phải chịu sự nghi ngờ của cấp trên.

        Vào thời điểm này, phía ta thường nghe tin từ đài BBC, hàng tháng trời nghe ngóng nhưng một tin ngắn về một chiếc B-52 của Mỹ bị rơi hay thậm chí bị thương cũng không thấy gì. Rất có thể người Mỹ vì sĩ diện đã im thin thít không dám nói gì. Nhưng việc Vũ Đình Rạng bắn bị thương B-52 đã khiến cho bọn chúng hoảng sợ phải ném bom ngoài mục tiêu. Những khu vực trọng điểm như Lùm Bùm, Tà-Lê- Phu-Lan-Nhich hay Xê-Pôn một thời gian dài bộ đội vận tải rất vui mừng yên tâm làm nhiệm vụ.

        Về sau này, vào năm 1999, thiếu tá Không quân Mỹ trong lần gặp cựu dẫn đường Lê Thành Chơn để viết về những trận đánh ông đã tham gia ở Việt Nam có kể lại:

        “Vào trung tuần tháng 11 năm 1971, một chiếc B-52 đã bị bắn thủng thùng dầu, cháy nhưng không dập được nên đã hết dầu phải hạ cánh bắt buộc trên sân bay Nathom Phanrom (Thái Lan). Chiếc B-52 bị thương rất nặng sau đó được tháo ra chở về Utapao rồi bỏ đó" .

        Trong cuốn “MiG-21 units of the Vietnam war” (Những chiếc MiG-21 trong chiến tranh Việt Nam) của Istvan Toperczer cũng có đoạn viết:

        “Air force commanders picked verteran Mig- 21 pilot Dinh Ton to take part in the action, for they believed his vast experience would allow him to cope with the poor weather conditions that plagues the area. On one of his early flight his departed from Noi Bai at 1700 hours then recovered at Dong Hoi to refuel. Taking off again at 1900 hrs, he headed for Roure 9, but the Americans had by then become aware of his flight and pulled all of their AC-130s out of the area for good.

        VPAF missions against the B-52s met with less success in the first half of 1971, however, so several air force officers were sent to Mu Gia Pass to observe B-52 attack pattern both during the day and at night. In September of that year, radar units were sent to Ba Don, in Quang Binh province, and to Vinh Linh to track B-52 activities.

        On 4 October, commanders of 921st sent Dinh Ton to Đong Hoi, from where he would go “hunting” B-52s. The pilot took off after sunset, but the USAF crews were effectively jamming all communications in the area and he had to fly without ground radio contact. Dinh Ton soon found two b-52s in front of him, but judged the situation unsuitable for caombat and diverted to Tho Xuan.

        On 20 November, two more Mig- 21s were sent to Vinh, and another jet to Anh Son. At 2.000 hrs that same day, B- 52s were reported 60 ki-lô-mét to the north ofXam Nua. Pilot Vu Dinh Rang was about to become the first fighter pilot within the VPAF to intercept a B-52s.

        At 2046 hrs he scrambled from Anh son airfield, and once aloft he was informed by groumd control that his three targets were 100 ki-lô-mét away. He dropped his fuel tank and climbed to 10,000 mét, and at a distance of 15 ki-lô-mét, Vu Dinh Rang switched on his radar and applied full throttle. At eight ki-lô-mét he fired an AAM at one of the B- 52s, anf as he brock away from his attack, he spotted another bomber in front of him. Vu Dinh Rang launched his second missile, and at 2115 hrs he landed at Anh Son. There, he was told that the first b-52 had been damaged and had to make an emergency landing in Thailand.

        The attempt to shoot down B-52s, as well as an increased movement of North Vietnamese troops towards the south, prompted President Richard Nixon to warn Ha Noi that bombing strike would re-commence if such activities continued. As part of this threat, fighter-bombers started penetrating North Vietnamese airspace once again, and on 18 December the VPAF struck back then Le Thanh Do and Vo Si Giap downed F-4Ds 66-0241 and 65-0799 of the 432nd TRW.

        The air war in Vietnmese was about to reach a dramatic climax"

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #71 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:42:56 am »


        Bản dịch:

        Chỉ huy lực lượng Không quân Việt Nam chọn MiG-21 thí điểm Đinh Tôn tham gia chiến dịch, vì họ tin rằng kinh nghiệm của anh sẽ cho phép anh ta đối phó với các điều kiện thời tiết xấu trong khu vực hoạt động. Lúc đầu anh này cất cánh từ Nội Bài lúc 17 giờ sau đó hạ cánh tại Đồng Hới để nạp nhiên liệu. Lúc 19 giờ anh cất cánh trở lại. Người Mỹ nhận thấy nguy hiểm khi Đinh Tôn xuất hiện nên đã kéo tất cả những AC-130 của Mỹ ra khỏi khu vực nguy hiểm để bảo toàn lực lượng.

        Trong   thời   gian   nửa đầu năm 1971, Không quân Việt Nam đối phó với B-52 khá thành công, vì vậy một số sĩ quan quăn lực đã được gửi đến Mu Gia Pass để quan sát các kiểu tấn công của B-52 cả ban ngày và ban đêm. Trong tháng chín năm đó, các đơn vị ra-đa được gửi đến Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, Vĩnh Linh để theo dõi B-52 hoạt động.

        Ngày 04 Tháng Mười, chỉ huy của 921 cử Biên đội của Đinh Tôn tới Đồng Hới để các phi công sẽ đi "săn" B-52. Các phi công này đã cất cánh sau lúc hoàng hôn, nhưng quân đội Hoa Kỳ đã gây nhiễu rất hiệu quả tất cả các liên lạc trong khu vực này khiến cho anh ta đã bay mà không liên lạc được với đài phát thanh mặt đất. Đinh Tôn sớm phát hiện ra hai chiếc B-52 ở phía trước, nhưng anh đánh giá tình hình không thích hợp để tấn công liền chuyển hướng đến Thọ Xuân.

        Ngày 20 tháng 11, thêm hai chiếc MiG-21 được gửi đến Vinh, và máy bay phản lực khác tới Anh Sơn. 20 giờ cùng ngày, B-52s đã được phát hiện 60 ki-lô-mét về phía Bắc của Xam Nua. Phi công Vũ Đình Rạng trở thành phi công máy bay chiến đấu đầu tiên của Không quân Việt Nam đánh chặn B-52.

        Lúc 20 giờ 46 phút, Vũ Đình Rạng cất cánh từ sân bay Anh Sơn. ở trên trời, anh được sở chí huy mặt đất thông báo rằng ba mục tiêu cách anh 100 ki-lô-mét. Anh ta vứt thùng dầu phụ và kéo lên độ cao 10.000 mét và ở khoảng cách 15 ki- lô-mét Vũ Đình Rạng bật công tắc ra-đa của minh, chuẩn bị sẵn sàng công kích. Lúc chỉ còn cách 8 ki-lô-mét anh ta bắn một quả tên lửa trúng một trong những chiếc B-52 rồi tìm cách thoát, lúc đó anh đã phát hiện một máy bay ném bom ở phía trước. Vũ Đình Rạng phóng tên lửa thứ hai của mình, và lúc 21 giờ 15 phút anh ta đã hạ cánh tại Anh Sơn. Ở đó, Rạng đã nói rằng lần đầu tiên chiếc máy bay B-52 đã bị bắn trúng, và hư hỏng nặng phải hạ cánh khẩn cấp tại Thái Lan.

        Những nỗ lực bắn hạ B-52, củng như quyết tâm ngày một tăng của quân đội Bắc Việt hướng về phía Nam đã nhắc nhỏ cho Tổng thống Richard Nixon như một cảnh báo, nếu như ông ta cho ném bom Hà Nội sẽ bị Không quân Việt Nam đánh trả một cách tương tự như vậy. Đó sẽ là mới đe dọa lớn khi máy bay Mỹ thâm nhập Không phận Bắc Việt Nam. Quả đúng không sai, ngày 18 tháng 12 năm 1972 Lê Thành Đô và Võ Sĩ Giáp đã bắn hạ hai chiếc F-4D số hiệu 66-0241 và 65- 0799 của TRW.

        Thời điểm này, những cuộc không chiến tại Bắc Việt Nam đã trở nên đầy kịch tính.


        (Bản dịch của Thủy Hướng Dương).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #72 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:44:09 am »


KHÔI PHỤC MÁY BAY CƯỜNG KÍCH A-37 CỦA MỸ

        Thời điểm đầu năm 1975, khắp nơi trên cả nước Việ Nam dồn dập tin chiến thắng. Nào là chiến dịch Tây Nguyên Buôn Ma Thuột được giải phóng, nào là chiến dịch Huế - Đà Nẵng, sân bay Đà Nẵng được giải phóng.

        Ngày 31 tháng 3 năm 1975 Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sự chắc chắn về chiến lược cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Miền Nam Việt Nam.

        Cũng đúng ngày 31 tháng 3 năm 1975 Tư lệnh Phòng không - Không quân Lê Văn Tri đã cùng Phó Trưởng phòng Máy bay Hồ Thanh Minh trên chiếc máy bay AN-24 bay vào sân bay Đồng Hới để từ đây chuyến sang trực thăng Mi-8 bay theo quốc lộ 1A qua Hồ Xá, Vĩnh Linh, đến cầu Hiền Lương - giới tuyến 17- nơi đã hai mươi năm (từ 1954 đến 1974) chia cắt đất nước thành miền Nam - Bắc. Rồi các anh lại bay qua Cồn Tiên, Dốc Miếu - một phòng tuyến pháo binh của Mỹ, đồng thời cũng là hành lang điện tử Mắc-na-ma-ra rải đến tận chân đường vận tải Trường Sơn.

        Phía xa kia, thành cổ Quảng Trị đã thấp thoáng bóng cờ Mặt trận giải phóng Miền Nam... Trời về chiều hơi có mưa phùn không thấy được đèo Hải Vân nên các anh quyết định hạ cánh ở sân bay Phú Bài- Huế ngủ đêm và nghỉ ngơi tại đây.

        Sáng hôm sau, Hồ Thanh Minh thức dậy bởi những âm thanh là lạ, không đến mức ồn ào nhưng có vẻ như rất khẩn trương vọng lại phía bên ngoài. Anh khẩn trương lên xe quân quản đưa đoàn tiền phương ra quốc lộ 1A, nhập vào dòng người di tản vào Nam.

        Hồ Thanh Minh nhìn theo dòng người đi trong im lặng -  một sự im lặng đáng sợ, chẳng ai nói với ai câu gì, chỉ thấy người và xe cứ thế nối đuôi nhau. Nam, nữ, già, trẻ... cõng, bồng bế nhau lẫn trong những người lính ngụy Sài Gòn đã trút bỏ áo, mũ, súng chạy theo xe Jeep, xe lam, xe Quân giải phóng...

        Đèo Hải Vân ùn tắc. Xe của đoàn quân quản cố vượt lên đến phòng tuyến trên đỉnh đèo. Ở đây, đập vào mắt Hồ Thanh Minh là ba chiếc xe bọc thép nằm nghiêng, với xác lính Sài Gòn nằm la liệt sát mép đường. Xuống đèo qua kho dầu Liên Chiểu, xe chạy dọc theo bãi tha ma trên cồn cát trắng rồi cuối cùng cũng đến được cổng sân bay Đà Nẵng.

        Người của ta đã đợi sẵn đoàn ở cổng sân bay lập tức đưa đoàn vào vào sở Chỉ huy Sư đoàn 3 Không quân (Sở Chỉ huy của Không quân ngụy trước đó là đóng quân ở sân bay Đà Nẵng).

        Trong lúc cùng đoàn kiểm tra thị sát xung quanh Sở Chỉ huy, Hồ Thanh Minh đã tìm được trong đống ngổn ngang các thiết bị vô tuyến, băng từ một số thông tin về thực lực máy bay của địch còn lại. Anh trèo lên đài chỉ huy bay đưa mắt nhìn toàn cảnh sân bay thấy không còn nhiều máy bay ngoài hai chiếc cường kích A-37, một máy bay F-5A cuối đường băng, một chiếc trực thăng UH-1 trong bãi kho xăng dầu.

        Quan sát kỹ, Hồ Thanh Minh thấy chiếc A-37 mang số hiệu 778 bị xịt lớp trái quay nghiêng vào mép trái đường băng cất cánh và gần đó một xác phi công Ngụy trong trang phục bay đã bị bắn chết. Anh đi tiếp vào “hang-ga” ở gần đài chỉ huy thấy chiếc A-37 số hiệu 980 đầu quay hẳn ra đường băng cất cánh, nhưng nắp buồng lái lại đóng và gần ngay đó, ở góc phải “hang-ga” lại có thêm một xác phi công nữa.

        “Chắc hẳn hai viên phi công này bị bắn cùng một lúc khi Sư đoàn 3 Không quân Sài Gòn rút chạy bay vào Biên Hòa hoặc Cần Thơ bị mắc kẹt lại, do quân ta tấn công vào sân bay Đà Nẵng quá nhanh và bất ngờ” - Hồ Thanh Minh nghĩ vậy.

        Một cảm giác thương cảm dâng lên khiến anh cảm giác ớn lạnh, nặng nề, linh cảm hình ảnh này sẽ là một hình ảnh ám ảnh trong đòi mình. Tuy nhiên cảm giác đó nhanh chóng qua đi để nhường chỗ cho những hi vọng về khả năng của những việc sẽ làm khi tiếp quản sân bay Đà Nẵng bùng lên trong đầu.

        Sau khi xử lý hai thi thể phi công địch, thiếu tá Đoàn Đà cùng anh em kỹ thuật của ta và một số nhân viên kỹ thuật của Sư đoàn 3 Không quân Sài Gòn cộng tác đưa máy bay F-5A vào ụ vòm cuối đầu đông. Còn hai chiếc A-37 vẫn trong tình trạng nguyên chiếc thì đưa vào hai ụ vòm xi măng ở gần giữa sân bay để sửa chữa và khôi phục.

        Và đến chiều ngày 12 tháng 4 năm 1975 khi công tác tổng kiểm tra kỹ thuật hoàn tất, thì những động tác lăn thử, cất cánh giả lăn bánh trên đường băng đã được các phi công Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế từ Thọ Xuân, Hà Nội vào luyện bay thực hiện an toàn.

        Hồ Thanh Minh phấn khởi báo cáo Chính ủy Hoàng Phương khẩn trương đưa phi công lái MiG-17 vào Đà Nẵng, tìm hiểu và học chuyển loại máy bay cường kích A-37, chuẩn bị thật tốt cho chiến dịch sắp tới.

        Nhưng đến ngày 20 tháng 4 năm 1975 ta mới chỉ có sửa chữa được hai chiếc A-37, thì làm sao đủ để đối phó với bao nhiêu chiếc khác của Mỹ? Trong khi thời gian đến giờ G của chiến dịch chỉ còn vài ngày. Việc tìm lấy thêm máy bay A-37 trên các sân bay Pleiku, Phan Rang, Phù Cát gặp nhiều khó khăn, khi phòng tuyến Xuân Lộc đã được giải phóng.

        Tình hình đã trở nên gấp gáp, vì thế tối 20 tháng 4 năm 1975 tại nhà ăn của Sư đoàn 3 Không quân ngụy, Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam Lê Văn Tri và Chính ủy Hoàng Phương đã triệu tập cuộc họp giao cho Tổ Đặc nhiệm, do Thiếu tá Hồ Thanh Minh là tổ trưỏng của ba kỹ sư hàng không Nguyễn Văn Soạn, Nguyễn Đình Thùy và Ngô Anh Tuấn cùng 12 nhân viên kỹ thuật của Không quân Sài Gòn tự nguyện phục vụ quân giải phóng, nhận trọng trách tìm và sửa chữa khôi phục thêm ít nhất từ 6 đến 8 chiếc A-37 nữa - một nhiệm vụ đầy khó khăn và nguy hiểm không lường trước được.

        Trưa ngày 23 tháng 4 năm 1975 trực thăng Mi-6 đưa toàn bộ 16 người trong Tổ Đặc nhiệm vào sân bay Phù Cát (Bình Định). Đây là sân bay nằm trên vùng đồi sim nắng cháy, bọn địch vừa rút chạy nên vắng lặng không có một bóng người. Kể cả đài chỉ huy cũng đứng lặng lẽ ở cuối sân bay, không một tiếng động cơ máy nào hết, còn số máy bay hỏng thì nằm yên trong ụ vòm xi măng.

        Du kích địa phương cho hay: Một số địch còn ở lại trôn dưới hầm ngầm trong các dãy nhà gỗ mái tôn của Mỹ để đợi phản chiến... mặc dù phòng tuyến Xuân Lộc đã bỏ chạy về mạn Long Khánh.

        Cả Tổ Đặc nhiệm vội đếm xem còn bao nhiêu chiếc máy bay trong ụ, tất cả có 14 chiếc nhưng xem ra chỉ có khoảng 9 chiếc còn nguyên chiếc, còn 5 chiếc kia chắc phải sử dụng làm kho phụ tùng.

        Tính từ lúc tìm được máy bay cho đến đêm 24 tháng 4 năm 1975, cả Tổ Đặc nhiệm vẫn lăn ra sửa chữa hết kiểm tra hệ thống dầu khí lại đến thông điện... miệt mài thế mà mới chỉ được thêm có ba chiếc nữa mang số hiệu 921, 950, 394 cộng thêm với 3 chiếc hôm qua mang số hiệu 920, 285, 431 là 6 chiếc.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #73 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:44:39 am »

     
*

        Thế là đã 5 ngày Tố Đặc nhiệm của Hồ Thanh Minh không ai được tắm rửa, cho dù trời nắng nóng rất khó chịu. Xê chiều rồi mà trời vẫn nắng, ai cũng khát khô cả cổ. Cả tể hội ý nghỉ một lát ra ngoài sân bay hóng mát và tranh thủ nghe tin chiến thắng thì đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân - người đầu tiên và duy nhất đến thăm Tổ Đặc nhiệm “thầm lặng” đến với gương mặt rạng rỡ thông báo:

        - Chiều mai, 26 tháng 4 năm 1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng. Bộ Chính trị chính thức đồng ý sử dụng máy bay A-37 thu được của địch để sử dụng ném bom vào sào huyệt địch. Sẽ điện báo để Quân chủng Phòng không - Không quân cho phi công vào Phù Cát bay thử...

        Nghe đồng chí Thượng tướng Chu Huy Mân nói vậy, cả Tổ Đặc nhiệm lại vội vàng quay lại xưởng, cố gắng hoàn thành nốt công việc cho xong cả chín chiếc A-37.

*

        Từ sáng sớm ngày 26 tháng 4 năm 1975, chín chiếc máy bay A-37 được kéo ra đường băng sân bay Phù Cát bên cạnh đài chỉ huy bay. Từng chiếc lần lượt nổ máy để kiểm tra động cơ bay. Chỉ có hai chiếc mang số hiệu 394 và 792 là không đủ công suất để cất cánh, bảy chiếc còn lại được chuẩn bị theo quy trình bay thử... Một chiếc AN-24 chở phi công cùng một chiếc A-37 số hiệu 778 từ Đà Nẵng bay vào Phù Cát làm cho không khí ở Đài chỉ huy và sân bay như sông lại, nhộn nhịp hẳn lên.

        Trong chốc lát, những chiếc A-37 lâu nay nằm yên trong ụ vòm giờ được hồi sinh, lần lượt được Phi công Nguyễn Thành Trung (người đã lái chiếc F-5E của địch ném bom vào Dinh Độc Lập của Chính quyền Sài Gòn) và Từ Đễ (phi công của Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế từ Thọ Xuân - Thanh Hóa vào) cho cất cánh và hạ cánh an toàn ở sân bay Phước Long). Các anh bình tĩnh lên từng chiếc kiểm tra, nổ máy, lăn ra đường băng cát cánh rồi bay vút vào khoảng trời trong xanh rồi vòng liệng về và hạ cánh...

        Cho đến lúc thử bay chiếc cuối cùng trở về an toàn, thì tất cả mọi người trên sân bay lúc đó mới như trút được gánh nặng trên vai. Năm trong số chín chiếc A-37 đã sửa được chọn lựa cho cuộc tống tiến công. Năm chiếc ấy sẽ được giao cho Phi đội Quyết Thắng.

        Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết Thắng đã bay vào Phan Rang, chờ lệnh cất cánh làm nhiệm vụ lịch sử có một không hai trong chiến dịch Hồ Chí Minh.

*

        Sở Chỉ huy chiên dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh Phòng không - Không quân, cùng các cộng sự có liên quan đến đặc vụ này đều mừng vui, phấn chấn vì đã có chắc chắn trong tay những chiếc máy bay đã thử tốt cùng sáu phi công của Phi đội Quyết Thắng tiếp thu, sẵn sàng thực hiện trận không kích thần tốc vào sân bay Tân Sơn Nhất.

        Tổ Đặc nhiệm phân công ba vòng canh giữ A-37 đề phòng địch từ đồi sim phía Tây sân bay, hoặc từ các hầm bí mật dưới doanh trại lén vào phá nổ máy bay. Vừa phải kiểm tra các giá mắc bom, đạn, ghế ngồi của phi công, vừa phải nạp bình ắc qui...

        Thực ra, cả tổ đã hết cả gạo, thịt hộp mang theo. Đã hai ngày nay phải ăn lương khô thay cơm rồi. Càng về đêm bầu trời càng trong xanh, những vì sao sáng hơn trên bầu trời miền biển cực nam Trung Bộ - cái nôi của nghệ thuật hát tuồng, hát bài chòi và môn phái võ Tây Sơn - Bình Định, âm vang trông trận của Hoàng đế Quang Trung từ Rạch Gầm - Xoài Mút, sự mường tượng về sự anh dũng oai phong của người anh hùng áo vải mà dân gian vẫn hay gọi là Hồ Thơm cứ dồn dập ùa về trong suy nghĩ của Thiếu tá Hồ Thanh Minh.

        Anh nhìn về nơi tạm nghỉ qua đêm của các phi công MiG-17 từ Đại đội 4, Đoàn Không quân Yên Thế thầm ước có một điều kỳ diệu nào đó sẽ xảy ra nơi vùng đất “địa linh, nhân kiệt” này. Có lẽ Hoàng đế Quang Trung sẽ phù hộ cho Hồ Thanh Minh cùng các đồng đội làm nên chiến thắng vì anh bỗng cảm thấy có một sợi dây vô hình đang nối quá khứ với hiện tại rất khăng khít

        Hồ Thanh Minh nhớ lại lần anh suýt chết ngày 28 tháng 4, khi ta ném bom xong thì một viên Chuẩn tướng ngụy tên là Hoàng Văn Tuấn định dùng F-5 để đuổi theo nhưng chiếc máy bay này đã hỏng ắc qui không nổ máy được, sau đó có một tay phi công lái một chiếc F-5 khác cất cánh đuổi theo ta mà không kịp vì ta đã về đến sân bay rồi. Tay phi công này bay đến Phan Rang rồi quay về, khi quay trở về không hiểu có phải tay phi công đó hay hai chiếc đi sau phát hiện trên sân bay Tân Sơn Nhất rất nhiều ô tô, người chạy ra nhiều quá, nên đã chột dạ gọi qua bộ đàm về cho Hoàng Anh Tuấn đang trực chỉ huy, hạ cánh ngay ở giữa sân bay rồi vội vã mở cửa máy bay chạy ra.

        Chuẩn tướng Hoàng Anh Tuấn quan sát thấy phi công của quân lực Sài Gòn mở cửa chạy thục mạng, trong khi trên sân bay nhốn nháo xe cộ lại nghĩ là Không quân Bắc Việt Nam đã chiếm trọn sân bay (ông ta không biết rằng lúc đó là các xe muốn thoát ra ngoài sân bay) nên hốt hoảng gọi sang Thái Lan: “Tình huống đã nguy cấp, phi trường Tản Sơn Nhất đã bị phong tỏa, hãy dừng ngay không cho hai chiếc C130 bay sang !" .

        Trên thực tế, trước đó không lâu Mỹ đã nhìn nhận khả năng xấu nhất có thế xảy ra với những quan chức Mỹ đang làm việc tại Việt Nam, nên đã điều hai chiếc C130 bay từ Thái Lan sang để chở những người này di tản. Nhưng không ngờ thông tin mà Chuẩn tướng Ngụy Hoàng Văn Tuấn phát đi, phía Mỹ không để lọt câu nào. Chính vì vậy mà chỉ sau 6 tiếng sau Tổng thổng Mỹ đã quyết định mở một chiến dịch chưa từng có: dùng trực thăng cứu những quan chức Mỹ về nước sáng ngày 30 tháng 4.

        Cũng đêm ngày 28 tháng 4 ấy, Hồ Thanh Minh cùng Nguyễn Đình Thúy lắp kíp vào giá bom để chuẩn bị đánh ở Biên Hòa. Khi đã lắp xong, kiểm tra lại rồi anh mắc màn ngay dưới cánh máy bay tranh thủ ngủ, thì có một chiếc máy bay bay đến ném pháo sáng trước, rồi liền sau đó thả bom luôn. Lúc đó Đại úy Thương (một sĩ quan hàng binh được ta tin tưởng giao cho hợp tác cùng thợ máy của ta làm việc) đang hút thuốc lá gần đó, chỉ kịp lao vào đẩy Hồ Thanh Minh đang ngủ ra chỗ khác.

        Khi đã qua khỏi giây phút tử thần, hai anh em nhìn lại thấy cái màn bị một mảnh bom làm thủng một lỗ to bằng bàn tay, rơi xuyên xuống tấm đệm.

        Đến giờ nghĩ lại, Hồ Thanh Minh vẫn thấy hồi hộp vì may mắn: Chỉ cần nó ném chệch đi một chút nữa, thì chắc chắn 5 chiếc máy bay A-37 đã lắp bom cùng với toàn bộ thợ máy và cả Hồ Thanh Minh sẽ chỉ còn là những mảnh vụn.

        Vậy là anh lại có một đêm không ngủ nghĩ về những chiếc A-37, những sự kiện đã trải qua trong đời lính và về sự kiện trọng đại của đất nước sắp xảy ra mà chính anh và đồng đội sẽ trực tiếp tham gia.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #74 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:46:39 am »


TRƯỚC TRẬN ĐÁNH LỊCH SỬ

        Trước giải phóng miền Nam ít ngày, cấp trên giao nhiệm vụ cho Nguyễn Văn Thọ - Giáo viên bay kỳ cựu cũng là Phó Trung đoàn trưởng Đoàn Không quân Yên Thế:

        - Ngày mai cậu vào Đà Nẵng, phụ trách chuyển loại F-5 và A-37 thu được của Mỹ, chuẩn bị cho chiến dịch Giải phóng miền Nam nhé.

        - Báo cáo Theo kế hoạch, mai tôi còn hai chuyến bay kèm nữa, thì tính sao đây? - Nguyễn Văn Thọ ngạc nhiên hỏi.

        - Ừ thì sáng cậu xách đồ bay ra kèm chúng nó, trưa cậu nhảy ô tô về Gia Lâm rồi lên máy bay vào Đà Nẵng là được chứ gì mà

        - Rõ, thưa Thủ trưởng! - Thọ chấp hành mệnh lệnh.

        Sáng hôm sau, khi đã kèm xong hai chuyến bay anh xuống nhà bếp nhận 200 đồng làm hành trang “Nam tiến”. Tranh thủ lúc chờ đợi, anh ghé về qua nhà đưa cho vợ 100 đồng rồi mới yên tâm đi làm nhiệm vụ mới, nhiệm vụ này chưa biết được sống chết ra sao.

        Vừa tới sân bay Đà Nẵng, thì Tham mưu phó Quân chủng Phòng không Không quân Trần Mạnh đã tới gặp anh:

        - Ngày mai cậu cho anh em nó bay nhé!

        - Anh... anh nói gì thế? Anh định đưa tôi ra tòa hả?

        - Sao lại "ra tòa"? Việc có thế, cậu cứ làm đi! Ra tòa đã có tôi - Trần Mạnh có vẻ quả quyết.

        - Xưa tôi đi chuyển loại sang MiG-17 mất một năm, từ MiG-17 sang MiG-21 mất một tháng kìa. Giờ anh bảo tôi chuyển loại sang máy bay của Mỹ, chưa hề biết gì về loại máy bay của các nước tư bản mà bảo chỉ có vài ngày với mấy người. Tôi ra tòa án binh là cái chắc còn gì?

        - Thôi, cậu cứ thế mà làm - anh Mạnh xua tay- Sáng mai cậu cho anh em bay thử. Không còn thời gian nữa đâu.

*

        Tại sân bay Đà Nẵng đã có mặt hai phi công hàng binh là Nguyễn Văn Xanh và Trần Văn On. Xanh đã từng bay rất nhiều giờ, ném bom trên 800 lần vào các mục tiêu trước đây. Còn On người Bến Tre, gốc nông dân có vẻ hiền lành hơn, hai viên phi công này được cấp trên tin tưởng chọn làm nhiệm vụ giúp đỡ Giáo viên bay của ta huấn luyện chuyển loại cho Phi đội Quyết Thắng.

        Nguyễn Văn Thọ nhanh chóng bắt tay vào việc ngay.

        Đến ngày 27 tháng 4 năm 1975. Lệnh ở trên cho bộ phận chuyển loại chuẩn bị đưa máy bay về sân bay Phù Cát tập hợp với năm chiếc A-37 ở trong đó nữa sẵn sàng bay thử. Nguyễn Văn Thọ với vai trò chỉ huy rất phân vân, chưa biết nên phải sắp xếp phi công bay thế nào. Giao hết cho phi công hàng binh thì cũng không được, bởi những phi công này mới được thu nhận, tốt xấu thế nào cũng chưa đánh giá ngay được. Mà giao cho phi công ta thì mới có mấy ngày, không biết có đủ tự tin mà lái?

        Hai phi công Xanh và On đề nghị:

        - Các anh vừa mới học chuyển loại, chưa đủ khả năng điều khiển, rất có thể sẽ xảy ra tai nạn. Xin anh cứ để chúng tôi lái cũng được.

        Nguyễn Văn Thọ ngẫm cũng phải, một lát anh nói:

        - Tôi đồng ý đê cho các anh lái. Nhưng tôi nói trước, hiện nay Nha Trang chưa được giải phóng. Nếu có giải phóng thì tôi nạp dầu rất ít, chỉ đủ bay trong vòng 25 phút, chỉ đủ bay trong vùng chúng tôi đã giải phóng, hết dầu là các anh phải chịu. Hơn nữa phi công của tôi đã từng bắn rơi máy bay Mỹ, nếu các anh ra khỏi vùng kiểm soát của tôi, tôi sẽ cho phi công tôi cất cánh bắn rơi các anh ngay.

        Rất may, sáng ngày hôm đó, mọi chuyện diễn ra tốt đẹp. Bốn chiếc được thử đều hạ cánh an toàn .

        Tối hôm đó Xanh, On hỏi Nguyễn Văn Thọ:

        - Mọi khi ở Đà Nẵng, ăn cơm xong là các anh đưa bọn em về trại ngủ. Hôm nay bọn em ngủ đâu được?

        Nguyễn Văn Thọ cười bảo:

        - Thì ngủ với tôi. Nhưng các cậu phải nhớ một điều này: ở xung quanh đây toàn là du kích cả. Nếu các cậu ra khỏi khu vực cho lái ở, là họ sẽ bắn chết. Các cậu cần phải biết tôi là dân Bình Định, võ nghệ cũng không phải thường đâu. Khẩu súng của tôi để đây - Nguyễn Văn Thọ vỗ tay vào khẩu súng đeo bên sườn - Chỉ cần lục cục một cái là tôi bắn liền. Thôi, các cậu kéo đệm ra đây.

        Xanh, On nghe anh Thọ nói xong im re, chạy đi kéo hai tấm đệm ra cửa phòng ở của phi công ngụy ở cũ. Trời nóng mà chẳng có điện và mùng màn gì cả. Ba con người của hai chiến tuyến cứ thế nằm ngủ. Thực ra vì quá mệt nên Thọ ngủ rất say, sáng hôm sau tỉnh dậy đã bảy giờ sáng mà Xanh và On vẫn nằm nguyên trên đệm chưa dậy. Nguyễn Văn Thọ ngạc nhiên hỏi:
- Sao các cậu không dậy đi?

        - Anh dặn là khi nào anh dậy mới được dậy còn gì? -  On trả lời.

        Nguyễn Văn Thọ suýt phì cười vì câu trả lời của On, nhưng cố kìm lại, giọng nghiêm nghị:

        - Thôi các cậu dậy, làm vệ sinh cá nhân đi rồi ăn sáng, chuẩn bị đưa máy bay về Phan Rang. Tôi sẽ đi trước bằng AN-24.

*

        Khoảng 8 giờ 30 phút ở sân bay Phan Rang cùng ngày đó, Nguyễn Văn Thọ đã tiếp nhận năm chiếc A-37 hạ cánh an toàn. Lúc bấy giờ anh mới thở phào nhẹ nhõm.

        Nguyễn Văn Thọ chỉ huy cho Tổ Đặc nhiệm bảo đảm kỹ thuật bay của Hồ Thanh Minh nhanh chóng lắp bom, nạp dầu đầy đủ, sau đó đi giao nhiệm vụ. Anh có hỏi một tướng Nguy bị bắt làm tù binh xem thử năm chiếc này nên bay thế nào trong trận sắp tới? Ông ta nói:

        - Nếu tôi là quân giải phóng, tôi sẽ cho cất cánh bay thấp từ sân bay Phan Rang đến Vũng Tàu mới kéo cao lên.

        Suy nghĩ hồi lâu về phương án mà viên tướng hàng binh kia gợi ý, Ban chỉ huy quyết định cử Nguyễn Thành Trung dẫn đầu Biên đội gồm Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Hán Văn Quảng và Hoàng Mai Vượng theo đúng ý đồ sẵn sàng chiến đấu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #75 vào lúc: 16 Tháng Mười Một, 2019, 07:47:24 am »


TIẾT LỘ SỰ THẬT VỀ TRẬN ĐÁNH SÂN BAY TAN SƠN NHẤT NĂM 1975

        Đại tá Hán Văn Quảng, Nguyên Sư đoàn trưỏng Sư đoàn Không quân 372, một trong năm thành viên của Phi đội Quyết Thắng đã trực tiếp thực hiện cuộc ném bom có một không hai trong lịch sử Không quân Việt Nam vào sân bay Tân Sơn Nhất trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975, làm rung động cả Sài Gòn, vừa tiết lộ những chi tiết còn ít người biết đến

        Vào thời điểm cuối tháng 4 năm 1975, trước sức mạnh tấn công của quân và dân ta, nhất là sau khi đã mất Xuân Lộc, địch vứt bỏ Long Khánh, Trảng Bom để lui về củng cố các tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn nhằm ngăn chặn các mũi tiến công của quân dân ta vào các trung tâm đầu não của chúng.

        Bọn Mỹ đang khẩn trương xúc tiến kế hoạch di tản những quan chức cấp cao của quân đội, Chính quyền Ngụy quyền Sài Gòn, các chuyên viên kỹ thuật và những người có quan hệ mật thiết với chúng. Đồng thời Mỹ cũng tháo dỡ mang đi hoặc phá hoại các phương tiện chiến tranh của Không quân và Hải quân cùng các thiết bị kỹ thuật hiện đại khác nữa.

        Địch cũng đã chuyển toàn bộ máy bay F-5 từ sân bay Biên Hòa sang Tân Sơn Nhất làm nhiệm vụ cùng với bộ binh cố thủ các tuyến phía bắc Sài Gòn và đánh chặn khi có Không quân của ta hoạt động. Máy bay A-37 tập trung tất cả về sân bay Bình Thủy (Cần Thơ), có nhiệm vụ chi viện trực tiếp cho bộ binh cố thủ các tuyến phòng thủ ngoại vi Sài Gòn về phía Tây Nam. Lực lượng cao xạ của địch thì tập trung vào bảo vệ Dinh Độc Lập và hướng Sân bay Tân Sơn Nhất.

        Trước tình hình đó, căn cứ vào chỉ thị của Thường vụ và mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không -  Không quân. Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân quyết định phát huy nỗ lực cao nhất, khắc phục mọi khó khăn, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh của trên, tổ chức lực lượng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam.

        Binh chủng đã chọn được một số phi công ở các Biên đội bay thuộc Đoàn Không quân Yên Thế, Sư đoàn 371, trong đó lấy Đại đội 4 anh hùng làm nòng cốt và lấy “Bí mật, bất ngờ, mưu trí hết sức táo bạo, chủ động tấn công mục tiêu địch” làm phương châm.

        Và điều quan trọng nhất là không được dùng máy bay của ta mà phải dùng máy bay của địch đế đánh địch! Một trong những phi công được chọn trong đợt này, đó là phi công Hán Văn Quảng.

        Trung úy Hán Văn Quảng đang trực bay đêm ở sân bay Đồng Hới (Quảng Bình) phấn khởi lắm, được nhận nhiệm vụ lớn lao như vậy, thật không còn gì vui hơn. Anh được cấp trên cho phép, tranh thủ trở về Hà Nội báo tin cho gia đình biết rồi hối hả quay lại đơn vị thu xếp tư trang đi ngay vào sân bay Sao Vàng (Thanh Hóa) để chuẩn bị chuyển trường. Tại đây, Đoàn Không quân Yên Thê nhanh chóng đưa anh vào Đại đội 4 anh hùng (mà sau này được gọi là Phi đội Quyết Thắng) cùng với một số phi công khác như Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Văn Lục...

        Hán Văn Quảng dường như có vẻ sốt ruột hơn cả vì anh chỉ mong làm sao được thực thi nhiệm vụ ngay, một phần vì từ trước tới nay hoạt động ngoài miền Bắc, các sân bay đều nhỏ, có nơi vẫn là sân bay đất, ngoại trừ đường băng là bê tông, hơn nữa các sân bay miền Bắc hầu như thiếu thốn phương tiện. Anh nghe nói sân bay trong Nam rộng rãi hoành tráng lắm, vì người Mỹ giàu có đầu tư.

        Hán Văn Quảng chỉ muốn nhanh chóng lên đường để xem sân bay của chúng to lớn chừng nào? Một phần nữa là vì “lần này đi, nhiệm vụ cao cả, tự hào lắm, tham gia một chiến dịch lịch sử lớn nhường này, có phải ai cũng được lựa chọn đâu? Mình phải cố gắng thật nhiều mới được” - Hán Văn Quảng nghĩ thế.

        Ngày 22 tháng 4 năm 1975 anh lại được lệnh chuyển trường vào sân bay Đà Nẵng. Hồi hộp lắm. Vậy là gần đến thời điểm lịch sử rồi. Hôm trước, ngày 20 tháng 4 năm 1975 hai phi công Từ Đễ và Hoàng Mai Vượng đã lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm, hôm nay toàn bộ lực lượng còn lại bao gồm cả phi công cùng tổ thợ máy do Trần Minh làm tổ trưởng di chuyển vào Đà Nẵng bằng máy bay AN-24 cất cánh từ sân bay Gia Lâm. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ, Hán Văn Quảng cùng đồng đội đã có mặt ở sân bay Đà Nẵng, từ trên máy bay nhìn xuống Quảng thấy những mảnh áo, quần, giấy tờ xanh, đó, tím, vàng, trắng khắp nơi trên hàng rào dây thép gai quanh sân bay, trên cành cây, đó là những gì mà mấy người di tản vội vã đã làm rơi, những thứ đó cứ gặp chỗ nào mắc được là mắc luôn vào.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #76 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:20:13 am »


        Lúc này Hán Văn Quảng bỗng dâng lên một cảm xúc thấm thìa thế nào là sự điêu tàn của chiến tranh, mặc dù trên bầu trời Đà Nẵng trong xanh đến khó tả và nắng thì vàng ánh lên khác hẳn với ngoài Hà Nội. Những tấm áo quần màu sắc cứ theo gió bay phần phật, dập dàn làm Hán Văn Quảng liên tưởng tới một thành phố bỏ hoang, vừa phải trải qua một trận động đất nào đó. Tự nhiên, anh cảm thấy lòng mình đau nhói...

        Rồi những cảm xúc ban đầu cũng qua đi. Anh lấy lại tinh thần, trước mắt anh và đồng đội còn rất nhiều khó khăn. Phải nhanh chóng ổn định chỗ nghỉ ngơi để chiều nay phải bắt tay ngay vào việc học lái chuyển loại.

        Cấp trên đã ra chỉ thị từ trước, bọn Mỹ Ngụy khi bỏ chạy đã để lại dọc đường rất nhiều trực thăng và máy bay A- 37 - loại máy bay mà phi công Mỹ thường gọi đùa là “máy bay du lịch”, bởi lẽ loại máy bay này có thể chứa hai người, toàn bộ phía trên khoang buồng lái và chỗ ngồi đều là kính trong suốt. Nếu một cặp tân hôn nào đó mà đi “tuần trăng mật” bằng chiếc máy bay này thì tha hồ mà ngắm trời, ngắm đất...

        Nhưng đừng tưởng nó có tính chất du lịch mà coi thường, A-37 có thể mang theo khoảng 4 tấn bom, tức nặng hơn trọng lượng của nó mà vẫn cơ động linh hoạt hơn hẳn các loại máy bay chiến đấu khác.

        Tuy vậy, không phải cứ thế mà bay ngay được, phải sửa chữa và khôi phục lại những máy bay mà địch bỏ lại, rất nhiều chiếc bị hỏng hóc nặng.

        Học lý thuyết tưởng như đơn giản mà hóa ra không phải, vì A-37 là loại máy bay của nước tư bản, tất cả các thiết bị, công tắc, đồng hồ đều bằng tiếng Anh, không giống như của các nước xã hội đều là tiếng Nga mà các phi công ta đã được học qua. Hơn nữa, hệ thông phanh của máy bay MiG-17 là phanh tay, còn A-37 lại là phanh chân. Sự khác biệt giữa hai loại là rất lớn.

        Ngay buổi chiều 22 tháng 4 năm 1975, các giáo viên huấn luyện Nguyễn Văn Xanh, Trần Văn On (trước kia là những phi công quân đội Sài Gòn cũ, vừa được chính Tư lệnh

        Quân chủng Phòng không Không quân trực tiếp tuyển chọn và tiếp nhận về phía ta làm công tác hướng dẫn chuyển loại cho phi công MiG-17 phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh), khẩn trương dạy lý thuyết cho phi công của ta.

        Tất cả anh em phi công đều tập trung cao độ để học cho thuộc, tìm cách nhờ người dịch các nút, đồng hồ... trang bị trên máy bay ra tiếng Việt, thậm chí dán ngay chỉ dẫn bằng tiếng Việt trên khắp các thiết bị để khỏi nhầm.

        Có lúc Hán Văn Quảng cùng Nguyễn Văn Lục truy bài nhau bằng cách chui vào buồng lái giữa cái nắng nóng ngột ngạt, từng người đọc tên loại đồng hồ hay nút công tắc nào, thì người kia phải nói rõ cách xử lý cho đến khi không ai còn nhầm lẫn mới bước ra khỏi máy bay. Có lúc tập hăng quá, Nguyễn Văn Lục bay, thì Hán Văn Quảng cầm sách hướng dẫn, cứ thấy cái đèn nào sáng thì lại hô:

        - Sáng đèn gì vậy mày?

        Hán Văn Quảng lại phải vội vàng lật lật giở từng trang để đọc ngay cách xử lý. Ra khỏi máy bay, hai anh em nhìn nhau phá lên cười.

        Cho đến ngày 24 tháng 4 năm 1975 thì việc học lý thuyết coi như đã xong. Tất cả đều sẵn sàng tâm lý để bay thử chuyên bay đầu tiên máy bay Mỹ. Hán Văn Quảng được phân công bay cùng với Trần Văn On. Trước khi lên buồng lái Quảng nói:

        - Bây giờ anh On để tôi lái thử, anh ở bên hướng dẫn giúp tôi. Nếu xảy ra trường hợp hay tình huống nguy hiểm, anh hãy trực tiếp thao tác nhé.

        - Ông cứ lái đi, thực ra tôi ở bên cạnh để ông bớt cảm giác lo lắng thôi, chứ tôi tin là ông có thể lái một mình được rồi - Trần Văn On cười.

        Hôm sau nữa, Hán Văn Quảng được bố trí bay thử cùng với Nguyễn Văn Lục, lần này hai anh em bay cũng rất là thuận lợi. Có vẻ như phi công MiG-17 tiếp thu học chuyển loại khá tốt. Đến ngày 27 tháng 4 thì việc bay thử kết thúc. Chỉ trong vòng có 5 ngày, mà phi công ta đã hoàn thành việc học chuyến loại. Dường như điều này là không tưởng, chưa từng xảy ra ở một quốc gia nào trên thế giới.

        Đúng 12 giờ 30 phút ngày 27 tháng 4 năm 1975.

        Hán Văn Quảng cùng đồng đội nhận được lệnh của đồng chí Tư lệnh Binh chủng Không quân chuyển toàn bộ lực lượng vào sân bay Phù Cát.

        Cả phi đội cất cánh ngay, tối chiều 27 thì cũng tại sân bay Phù Cát, phi đội nhận thêm được 4 chiếc A-37 nữa, nên lập tức lao vào luyện tập. Như vậy toàn phi đội đã có 5 chiếc A-37 sẵn sàng làm nhiệm vụ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #77 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:20:30 am »


        8 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, đồng chí Tư lệnh Quân chủng trực tiếp quyết định lực lượng tham gia chiến đấu. Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Hán Văn Quảng, Nguyễn Thành Trung, Hoàng Mai Vượng, Trần Văn On là những phi công được vinh dự lựa chọn nhận nhiệm vụ có tên trong biên đội mang danh hiệu “Phi đội Quyết Thắng” do chính đồng chí Tư lệnh Lê Văn Tri đặt tên.

        9 giờ 30 phút sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, Phi đội Quyết Thắng trong đó có Hán Văn Quảng với tinh thần quyết tâm thắng lợi trên 5 chiếc A-37 ròi sân bay Phù Cát (Phan Rang) chuyển đến sân bay Thành Sơn. Tại đây, Ban chỉ huy đã có mặt tại đài chỉ huy hạ cất cánh ở sân bay Thành Sơn vừa giải phóng khẩn trương thảo luận quyết định Phi đội Quyết thắng sẽ đánh vào mục tiêu nào hợp lý nhất Đánh vào mục tiêu quan trọng nào đế trong thời điểm Mỹ đang rút chạy thế này, vẫn để cho Mỹ con đường thoát về làm nó hoang mang. Nếu đánh vào Dinh Độc Lập hoặc Bộ tổng Tham mưu của địch thì nguy cơ Mỹ sẽ quay lại cứu đồng bọn sẽ rất cao và tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều. Còn nếu đánh cắt đường băng hoặc cảng Nhà Bè, nó sẽ không có đường băng mà rút chạy hoặc sẽ không thể lên tàu mà di tản. Trong khi ta đang muốn đuổi chúng đi.

        Cuối cùng, ban chỉ huy nhất trí thực hiện theo lời dạy của Bác Hồ “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” nên chọn đánh sân bay Tân Sơn Nhất, chỗ mà bọn Mỹ cất giấu rất nhiều máy bay. Ở mục tiêu này, chúng đang cất hàng chục chiếc máy bay các loại, đó cũng là cơ sở, chỗ dựa cuối cùng của địch để chuẩn bị di tản những tên đầu sỏ ác ôn, những tên tay sai có nợ máu với dân, với nước. Sân bay Tân Sơn Nhất lại gần Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu quân ngụy Sài Gòn, và điều quan trọng nhất là gần Hội nghị Bốn bên đang diễn ra gần đó (Hội nghị bốn bên gồm có: Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Việt Nam cộng hòa, Mỹ và Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam do Nguyễn Thị Bình đứng đầu). Hơn nữa, sân bay Tân Sơn Nhất là mục tiêu dễ phá hoại, xa khu dân cư và có thể đánh thẳng, đánh táo bạo vào căn cứ nội địa của địch. Đánh mục tiêu này là có thể gây được những đám cháy, tiếng nổ lớn và gây được tác động có ý nghĩa chính trị trong thời điểm lịch sử vô cùng quan trọng.

        Sau khi quyết định phương án tác chiến, 5 chiếc A-37 lập tức cất cánh do phi công Nguyễn Thành Trung làm nhiệm vụ dẫn đội vì có kinh nghiệm và thông thạo địa hình, bay số Một, Từ Đễ bay số Hai, Nguyễn Văn Lục số Ba, Hoàng Mai Vượng và Trần Văn On bay số Bốn và Hán Văn Quảng bay số Năm làm nhiệm vụ quan sát bảo vệ đội hình. Nếu trong trường hợp gặp địch thì số Bốn và số Năm sẽ phải quay lại để đánh chặn địch giúp cho số Một, số Hai, số Ba an toàn đến mục tiêu.

        Trời mây thấp, cả Phi đội đều phải đi dưới mây, giữ độ cao 400 mét, từ Phan Rí, qua Phan Thiết đến cửa sông Sài Gòn rồi lại quay lại bên trái là sân bay Biên Hòa, bên phải là sân bay Tân Sơn Nhất, Biên đội cứ theo đường giữa hai sân bay mà tiến. Đi qua Phan Thiết, Hán Văn Quảng nhìn xuống phía dưới thấy khói lửa ngút trời. Chắc là vừa có trận đánh thì phải. Toàn Phi đội đã thông nhất là chỉ hành động bằng ám hiệu, không sử dụng vô tuyến điện đế tránh địch phát hiện cản trở.

        Lúc còn ở ngoài Phan Thiết, mây nhiều quá nên toàn Phi đội đã phát tín hiệu thống nhất đánh bom bay bằng, nhưng gần đến sân bay Tân Sơn Nhất thì bầu trời lại không còn mây nữa, trời xanh trong veo.

        Nghe tín hiệu của Nguyễn Thành Trung phát ra tạch tạch tạch ba lần liền, cả đội cũng lần lượt phát tín hiệu đáp lại tạch tạch tạch coi như tất cả đã nhìn thấy sân bay. Ngay lập tức toàn Phi đội hội ý nhanh chuyển ngay sang phương án ném bom bổ nhào (ném bom trực tiếp xuống mục tiêu, mục tiêu dễ dàng bị hủy diệt ngay).

        Khi đến sát sân bay cả Phi đội phát hiện có một chiếc AD6 của địch bay hướng ngược lại, Hán Văn Quảng liền rời đội hình quay lại theo dõi chiếc AD6, nhưng hình như chiếc AD6 chỉ lo việc hạ cánh, nên Hán Văn Quảng quyết định quay lại bám đội ngay.

        Số Một Nguyễn Thành Trung lượn vòng rồi ném loạt bom đầu tiên vào mục tiêu ra 4 quả, rồi Từ Đễ vào ném được 4 quả, Nguyễn Văn Lục ném nhưng không ra, Hoàng Mai Vượng, Trần Văn On cũng ném được 4 quả, đến lượt Hán Văn Quảng ném được hết 4 quả. Hán Văn Quảng ném xong trở ra và bay hẳn lên trên cao quan sát xuống phía dưới sân bay rộng mênh mông như một biển lửa. Cả sân bay chỉ nghe có tiếng rầm rầm, những cột khói đen bốc lên nghi ngút, lửa bốc cháy cao đó rực trời.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #78 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:21:03 am »


        Trong khi đợi đồng đội lần lượt vào ném bom đợt hai, Hán Văn Quảng cứ bay ở trên phấn khởi nhìn mục tiêu đã bị phá hủy gần hết rồi anh trở lại ném thêm một đợt cuối cùng 4 quả. Đợt ném bom lần 2 này, Nguyễn Văn Lục đã ném được 2 quả, Vượng. On, Từ Đễ cũng vẫn ném được 4 quả. Riêng Nguyễn Thành Trung lại không ra quả nào.

        Bất chợt Hán Văn Quảng nhớ ra phải xem dầu còn đủ không? Sau 2 lần ném bom, cơ động khá nhiều, nhất là động tác bổ nhào tốn dầu không ít. Phải khẩn trương về căn cứ ngay nếu không sẽ không đủ dầu để hạ cánh.

        Anh bèn hô:

        - Tất cả anh em, hướng 150 thoát ly!

        Nghe tiếng hô của Hán Văn Quảng, cả Phi đội lập tức tập hợp trở quay về luôn. Riêng Nguyễn Thành Trung vì đợt ném lần hai chưa ra quả nào, nên anh vẫn còn muốn tiếp tục đánh thêm lần nữa.

        Vừa kéo sang 150 độ thì Hán Văn Quảng nhìn thấy một đám mây rất lớn từ phía cửa sông Sài Gòn bay lại, chớp nhằng nhằng, máy bay của ta mà đâm vào nó thì chỉ có rơi, nên Hán Văn Quảng nhanh trí hô: “Vòng trái, vòng trái đi". Biên đội tản sang trái ngay. Thế là thoát hiểm.

        Khi về Hán Văn Quảng bay số Một, Từ Đễ bay số Hai, Nguyễn Văn Lục số Ba, và Hoàng Mai Vượng, Trần Văn On số Bốn. Gần về Phan Thiết, Từ Đễ nhắc:

        - Cẩn thận khi đi qua Phan Thiết nhé!

        Vừa nói dứt lời, từ dưới mặt đất pháo phòng không bắn lên ùng ùng sáng rực bầu trời. Hán Văn Quảng gần như hét vào bộ đàm:

        -Anh em, cơ động bay thấp!

        Lại qua một lần nguy hiểm nữa, thì ra lúc Phi đội bay vào sân bay Tân Sơn Nhất, Phòng không của ta không được biết kế hoạch vì Ban chỉ huy muốn giữ bí mật nên cứ tưởng là máy bay Mỹ, nên chờ trực Phi đội quay về để sẵn sàng tiêu diệt. Hán Văn Quảng liếc nhìn xem đồng đội có ai bị sao không, anh nhắc số Hai Từ Đễ nhìn bên phải, bên trái, đằng sau xem số Ba, số Bốn.

        Từ Đễ nói qua điện đàm:

        - Đã an toàn!

        - An toàn rồi, tập hợp! - Hán Văn Quảng lại ra tiếp mệnh lệnh.

        Chao ôi, lưới lửa phòng không dày đặc, may sao cả đội không bị dính quả pháo nào. Cả đội lại bay dưới mây trở về.

        Sắp về đến sân bay Thành Sơn, Từ Đễ báo cáo:

        - Đèn của báo dầu của tôi đã sáng, cho tôi hạ cánh trước đi!

        Hán Văn Quảng hô:

        - Tất cả thu cửa dầu nhỏ lại, số Hai tắt một máy đi!

        Hán Văn Quảng dạt sang một bên để Từ Đễ có đường hạ cánh.

        Quảng sốt ruột:

        - Số Hai đã nhìn thấy đường băng chưa?

        - Nhìn thấy rồi!

        - Bắt đầu hạ cánh đi!

        Từ Đễ được lệnh cho máy bay khẩn trương đáp xuống. Chạm tới đường băng, thì cũng đúng là lúc đồng hồ báo không còn dầu. Máy bay lăn lộc cộc trên đường băng chậm chạp. Tình thế nguy hiểm quá, Hán Văn Quảng hét lên:

        - Đánh sang một bên đi, đánh sang một bên đi! Để người sau còn vào!

        Từ Đễ đánh lái thật nhanh, chiếc máy bay của Từ Đễ dạt hẳn tới rìa đường băng. Vừa lúc đó thì Nguyễn Thành Trung phát tín hiệu muốn hạ cánh. Nguyễn Thành Trung cố ném thêm đợt 3 quay về đến Phan Thiết thì gặp F-5 của địch nghe tin sân bay bị Không quân Việt Nam đánh nên chúng cho quân từ Tây Ninh đuổi theo. Rất may là chúng đuổi theo được một đoạn thì hết dầu, nên không làm gì được đành quay lại.

        Cuối cùng thì mọi nguy hiểm đã qua hết, cả Biên đội đã lần lượt hạ cánh an toàn. Bước ra khỏi máy bay, Hán Văn Quảng ôm lấy Nguyễn Văn Lục, Từ Đễ, Thành Trung, Trần Văn On, Hoàng Mai Vượng hét toáng lên:

        - Chiến thắng rồi! Chiến thắng rồi!

        Ai nấy mừng vui phấn khởi quên mất mình vừa trở về từ một nơi mạng sống như ngàn cân treo sợi tóc. Vì thực ra không ai có thể tin được, cả Phi đội năm người lại còn sông toàn vẹn trở về. Ai cũng nghĩ rằng đi đánh trận này, ít nhất phải có ba chiếc máy bay bắn bị thương hoặc hi sinh.

        Cả Phi đội đang mải vui thì bỗng nghe đồng chí Tư lệnh đang trực ở Đài chỉ huy nghiêm giọng:

        - Tất cả, giữ kỷ luật chiến trường!

        Cả Phi đội không ai bảo ai, im re đi về phía đài chỉ huy. Không ngờ ở đây, các đồng chỉ chỉ huy, dẫn đường, thợ máy đã đông đủ cả. Đồng chí Tư lệnh, dường như không thể kìm nén niềm vui được nữa chạy ra ôm hôn từng phi công. Rồi mọi người bắt tay nhau, hò hát mừng Phi đội Quyết thắng lập công. Một trận đánh mà có lẽ lịch sử không bao giờ quên được. Có ai đó khóe mắt long lanh giọt nước mắt. Còn gì vui hơn chiến thắng lẫy lừng này!

        Phải nói rằng, với sức mạnh của toàn quân, toàn dân và cùng với các lực lượng khác nữa, Đoàn Không quân Yên Thế, và đặc biệt là Phi đội Quyết thắng đã nỗ lực hết sức bằng sự quyết tâm, bằng ý chí chiến thắng và bằng tinh thần yêu nước chỉ trong vòng 5 ngày học chuyển loại đã có một trận đánh oai hùng góp phần với cả nước giải phóng miền Nam hoàn toàn độc lập.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23710


« Trả lời #79 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2019, 12:22:07 am »

         
ĐOÀN KHÔNG QUÂN B70 VÀ NHỮNG ANH HÙNG TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

        Đoàn Không quân B70 ra đòi vào ngày 30 tháng 10 năm 1975 sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

        Đơn vị đóng quân ở vùng mới giải phóng khu 5. Đơn vị do Trung tá phi công Lê Oánh được bổ nhiệm làm Tư lệnh; Trung tá Lăng Khánh Văn làm Chính ủy; Trung tá Phạm Thái làm Phó chính ủy; Trung tá Nguyễn Hào Hiệp - quyền tham mưu trưởng, làm nhiệm vụ chính là quản lý các sân bay kho xưởng trong khu vực Khu 5, nhanh chóng củng cố và xây dựng lực lượng, sẵn sàng chiến đấu hiệp đồng với bộ đội Phòng không, Hải quân và lực lượng vũ trang Quân khu 5 bảo vệ vùng trời, biển và lãnh thổ của Tổ quốc.

        Trải qua bao nhiêu nhiệm vụ từ khi mới giải phóng nào là truy quét Ful-rô, rồi những năm cuối thập kỷ 80 tình hình khu vực Đông Nam Á diễn biến phức tạp đơn vị đã bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc.

        Không những thế trong thời kỳ ổn định hòa bình, Đoàn Không quân B70 với sự tham gia lãnh đạo của những phi công anh hùng của Đoàn Không quân Yên Thế, Đoàn Không quân Sao Đỏ năm xưa như Nguyễn Hồng Nhị, Phạm Ngọc Lan, Hồ Văn Quỳ hay những phi công trong thời kỳ đổi mới như Võ Văn Tuấn, Lê Minh Thành, Nguyễn Kim Cách, Lâm Quang Đại... đã và đang luôn cố gắng mọi nỗ lực để cùng với từng thành viên Sư đoàn góp phần làm cho truyền thống anh hùng ngày càng đậm nét.

        Theo tinh thần đó, đã không ít những phi công Đoàn Không quân B70 trong thời kỳ đổi mới đã bằng cả tính mạng và trách nhiệm bảo vệ máy bay, khí tài như đứa con của mình. Đó quả là những con người đáng được trân trọng ngưỡng mộ. Trọng chiến tranh, việc phi công hi sinh đã là một sự giằng co trong suy nghĩ của bao người ra trận, hoặc có thể coi là một sự đương nhiên...

        Nhưng trong thời bình, khi mà mọi người xung quanh đang vui cuộc sông thanh bình và hưởng thụ thì đấu tranh giữa sông và chết còn khó khăn hơn nhiều thế mà các anh phi công Nguyễn Văn Thận, Hoàng Quỳnh, Đào Quốc Kháng, Nguyễn Văn Tỉnh (Trung đoàn 935, thuộc Đoàn Không quân B70) đã không hề tiếc tính mạng cứu những chiếc máy bay SU trị giá hàng chục triệu đô la - tài sản của đơn vị cũng là tài sản chung của đất nước, của nhân dân.

       
*

        Tháng 8 năm 2009, Đại tá Lưu Huy Chao có dịp trở lại trường Sĩ quan Không quân Nha Trang - nơi ông đã từng đảm nhận vị trí Phó Hiệu trưởng Nhà trường, nơi rất nhiều kỷ niệm cuối đời binh nghiệp của người anh hùng. Ông hồi tưởng lại...

        Ngày tôi còn làm việc, trường có nhiệm vụ nhanh chóng tổ chức huấn luyện đáp ứng nhu cầu phát triển của Không quân và đào tạo phi công, sĩ quan các chuyên ngành của Không quân (1978) thì nay có thêm nhiệm vụ mới là đảm nhiệm từ khâu tuyển sinh quân sự (trừ khám tuyển) đến thi tốt nghiệp quốc gia, hướng dẫn các học viên sau khi tốt
nghiệp bay chuyển loại các loại máy bay hiện đại nhất hiện có trong nước.

        Ngoài những thành tích về học tập, văn nghệ, thể thao trong những năm gần đây Trường còn có nhiều thành tích trong huấn luyện cũng như sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Tôi và những đồng đội năm xưa vô cùng xúc động khi được chính Hiệu trưởng Nguyễn Duy Cường kể cho nghe về sự kiện Thượng tá Dương Văn Thanh hi sinh để cứu cho Khu du lịch Hòn Ngọc Việt cùng bao nhiêu du khách và dân thoát khỏi nguy hiểm.

        Thượng tá Dương Văn Thanh là người quê Yên Mô -  Ninh Bình trúng tuyển phi công năm 1976 khi anh vừa tròn 18 tuổi. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc tại trường Sĩ quan Không quân anh được chuyển về làm giáo viên giảng dạy tại Trung đoàn bay 910 - Trường sĩ quan không quân. Đã hai lần Dương Văn Thanh được đơn vị tín nhiệm giao nhiệm vụ bắn đạn thật tại Thọ Xuân - Thanh Hóa, thực hiện đề tài của Quân chủng về sử dụng rocket C5-KO. Cả hai lần anh đều thực hiện xuất sắc. Anh là một phi công giỏi xử lý bất trắc, nhiều lần xử lý hỏng hóc trên không đưa máy bay về hạ cánh an toàn.

        Ngày 29 tháng 4 năm 2005, trong một chuyến bay huấn luyện chiến đấu cùng Biên đội, máy bay của anh đột nhiên chết máy trên không. Với kinh nghiệm của một phi công giảng dạy anh báo cáo về chỉ huy xin được phép nhảy dù. Nhưng cho đến phút chót, không hề nghĩ cho riêng mình, anh động viên cho phi công buồng lái sau nhảy dù thoát hiểm trước.

        Lúc này máy bay đang ở độ cao cực thấp và hướng thẳng tới khu du lịch 5 sao Hòn Ngọc Việt nơi đang có rất nhiều du khách và dân cư cùng rất nhiều tài sản quí giá.  Trong khoảnh khắc rất ngắn anh đã quyết định tận dụng độ cao, độ lướt còn lại để vòng sang trái, hướng ra biển không để máy bay rơi vào khu vực này, cứu hàng trăm du khách và nhân dân thoát khỏi cái chết trong gang tấc. Lúc máy bay của anh tránh được khu vực gây nguy hiểm cũng là lúc hết độ cao, tốc độ, rơi xuống biển. Tuy đã cố gắng hết sức nhưng các đơn vị phối thuộc chỉ kịp cứu phi công buồng lái sau, còn anh... Đồng đội đã tìm thấy anh trong tư thế bàn tay vẫn nắm chặt cần lái.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM