Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 12:10:40 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật  (Đọc 481 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #60 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 07:20:19 AM »


        Sau này, Konoye buồn bã nói với phụ tá của mình rằng ông đã bị Hirohito cách chức.

        Khi tôi nói với Nhật Hoàng rằng sẽ thật tồi tệ nếu bắt đầu chiến tranh; ông ấy cũng đồng ý với tôi. Nhưng sau đó, ông đã nghe những người khác và bảo tôi không nên quả lo lắng. Sau này ông trở nên nghiêng về chiến tranh nhiều hơn. Cuối cùng, ông bắt đầu tin rằng tôi không thành thạo trong chiến lược hay các vấn đề quân sự nói chung. Là Thủ tướng, tôi không có quyển hành gì đối với quân đội và chỉ có một người tôi có thể thỉnh cầu là Nhật Hoàng. Tuy nhiên, Nhật Hoàng lại chịu sự tác động quá nhiều của quân đội rằng tôi không thể làm bất cứ việc gì.

        Sự nhận định của Konoye bị chê trách. Thực sự là trong giai đoạn đó, Hirohito bị thuyết phục và nhất trí với chiến tranh: Đôi lúc bản thân ông cũng bày tỏ sự nghi ngờ về tính táo bạo của quân đội và ông đã đồng ý, bởi vì Mỹ từ chối nghị hòa, đất nước ông không thể chịu thua và phải giữ thể diện. Trong vấn đề này, ông bị ảnh hưởng bởi quan điểm của hầu hết mọi người trừ Konoye, người từng chủ trì cả hai quyết định của Nhật Bản trong việc xâm lược Trung Quốc và đánh chiếm Đông Dương.

        Nhật Bản đã chuẩn bị cho chiến tranh trước khá lâu so với thời điểm xảy ra trận Trân Châu Cảng vào tháng 7 năm 1940, khi việc sản xuất các mặt hàng xa xỉ bị nghiêm cấm. Không một ngành công nghiệp thiết yếu nào được chuẩn bị cho sự thay đổi nhanh chóng để sản xuất phục vụ chiến tranh. Mười tám tháng trước trận Trân Châu Cảng, lái xe đi dạo bị cấm. Giữa năm 1941, ô tô bị buộc ngưng sử dụng. Tabui đế cao su biến mất khỏi các cửa hàng 2 năm trước chiến tranh đế tích lũy dự trữ cao su, dầu lửa và quặng sắt cũng được dự trữ.

        Trong vài năm, những vật liệu có ích như các vật dụng bằng kim loại đều bị trưng thu. Đinh, nắp chai, khung hình và đinh ghim đều bị thu. Hai tuần trước trận Trân Châu Cảng, các thành viên của Quốc hội Nhật Bản bị buộc phải đi xe buýt đến dự họp. Những dấu hiệu khác của việc chuẩn bị cho chiến tranh là sự vắng mặt của cà phê, tắt đèn neon tại Ginza, đưa ra “Ngày công ích cho sự phát triển của châu Á”. Năm 1940, gạo, muối, đường, diêm và các vật dụng cần thiết hàng ngày khác bị hạn chế, ngay cả chiến tranh với Trung Quốc cũng có điều này. Phụ nữ bị cấm mặc quần áo diêm dúa hay để tóc theo kiểu cầu kỳ.

        Ngày 2-11, Hirohito gặp gỡ các tướng lĩnh bàn về kế hoạch hành động cho chiến tranh và cho ý kiến về ngày và địa điểm mà hải quân tấn công Trân Châu Cảng. Khi các nhà thương thuyết Nhật Bản gặp người Mỹ vào ngày 7-11, yêu cầu của họ đã cứng rắn hơn. Ngày 26-11, người Mỹ lặp lại yêu cầu của họ là quân Nhật phải rút lui khỏi Trung Quốc và Đông Dương. Roosevelt đã nhắc nhở các Đô đốc chuẩn bị chiến tranh. Stimson - thư ký chiến tranh của Mỹ - nhắc lại lời Roosevelt: “Chúng ta gần như sắp bị tấn công vào khoảng thứ Hai tới (ngày 1-12). Đối với quân Nhật điều đó là hiển nhiên mà không cần báo trước. Roosevelt tin răng điều này sớm xảy ra ở Nam Thái Bình Dương vì tàu Nhật Bản đang tập trung tại Thượng Hải”.

        Tại cuộc họp quyết định của các chính khách cấp cao vào ngày 29-11, Konoye tỏ ra lập lờ khó hiểu.

        Tôi thực sự lấy làm tiếc vì không thể làm bất kỳ điều gì cho việc dàn xếp mối quan hệ Nhật-Mỹ. Tôi đánh giả cao nội các hiện tại đang cố gắng hết sức để đạt được điều đó. Dựa trên những giải thích của chính phủ vào sảng nay, thật đáng tiếc khi tôi buộc phải kết luận rằng, việc tiếp tục xa hơn những cuộc thương lượng ngoại giao đã không còn hy vọng... Mặc dù vậy, có cần thiết phải tiến hành chiến tranh ngay lập tức cho dù những thương lượng ngoại giao đã thất bại hay không? Tôi tự hỏi, trong khi các vấn đề vẫn đang tiếp diễn, tại sao không thể tìm một cách khác ngoài sự đình trệ hoàn toàn bằng cách kiên trì đến mức tối đa, bất chấp những khó khăn?

        Tất cả những chính khách cấp cao khác đều chống lại chiến tranh, trong đó có Đô đốc Yonai, các Thủ tướng trước đây như Hirota, Hiyashi, Abe và Wakatsuki.

        Đến giờ chót, Hirohito càng nghi ngờ hơn khi hoàng tử Takamatsu, em trai của Hirohito - đã báo cáo với ông rằng hải quân “sẽ rất hài lòng nếu chiến tranh có thể được ngăn chặn”. Nhật Hoàng ngay lập tức triệu tập Bộ trưởng Hải quân, trưởng ban lãnh đạo cùng Tojo và được trấn an rằng họ không có nghi ngại gì. Kido thuật lại: “Khi Nhật Hoàng hỏi, họ trả lời đầy tự tin, vì vậy ông đã nói với tôi hãy để Thủ tướng tiến hành như kế hoạch”.

        Khoảng giữa đầu tháng 9 và cuối tháng 11, Nhật Hoàng kiên quyết ngăn chặn chiến tranh, có lẽ ông bị thuyết phục bởi những gì chính mắt ông nhìn thấy, chảng hạn như sự bướng bỉnh của người Mỹ. Ngoại trừ một số ít quan lại lớn tuổi và một phần nhỏ trong hải quân, tất cả các thế lực của Nhật Bản đều buộc phải nhất trí với điều không thể tránh được là chiến tranh. Quyết định là của cả một quốc gia, không phải của riêng bọn quân phiệt. Tất nhiên, những người dân thường không được bày tỏ ý kiến mà chỉ đơn thuần là phải ủng hộ. Dư luận tại Mỹ có ít ý kiến cho rằng chiến tranh sắp xảy ra hoặc tương tự như vậy.

        Tại cuộc họp vào ngày 2-12, Nagano và Sugiyama đã nói với Hirohito rằng, đêm ngày 8-12 sẽ là cơ hội tốt nhất, vì đó là ngày Chủ nhật, quân Mỹ nghỉ ngơi và tàu của họ đang neo tại cảng. Ngày 8-12 là thứ Hai ở Tokyo và phần còn lại của châu Á, và là Chủ nhật ở Hawaii. Hiện nay, một số nhà lịch sử Nhật Bản nói rằng Nagano đã thông báo với Hirohito rằng cuộc tấn công sẽ diễn ra vào ngày thứ Hai, khi quân Mỹ rất mệt sau một ngày Chủ nhật vui chơi, chè chén, điều này có vẻ không chắc chắn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #61 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2019, 07:20:51 AM »


        Vào ngày 2-12-1941, Đô đốc Yamamoto - chỉ huy hạm đội Nhật Bản - đã gửi đi mệnh lệnh được mã hóa: “Leo lên núi Nitaka! 1298”, có nghĩa là việc tấn công Trân Châu Cảng nên tiến hành vào ngày 8-12. Hạm đội Nhật Bản rời khỏi Kuniles và đến phía Bắc Thái Bình Dương. Vào lúc 6 giờ chiều giờ Washington, tổng thống Roosevelt đã gửi một bức thư cho riêng Hirohito yêu cầu rút khỏi Đông Dương và không nhắc gì đến việc rút quân khỏi Trung Quốc. Bức thư này đã bị lực lượng kiểm duyệt quân đội Nhật Bản giữ lại và chuyển cho đại sứ Mỹ ở Tokyo -  Joshep Grew - 12 giờ sau đó. Nửa đêm ngày 8-12 - giờ Tokyo - ông đã cố chuyển bức thư cho Nhật Bản, tuy nhiên, Ngoại trưởng Nhật đã nói với ông rằng: Hirohito sẽ không lúng túng.

        Tuyên bố của Nhật Bản về thái độ thù địch chống lại nước Mỹ đã được chuyển đến đại sứ quán Nhật Bản tại Washington, và được chuyển di tiếp vào lúc 1 giờ chiều ngày tiếp theo. Đô dốc Nomura - đại sứ Nhật Bản - đã chuyển thông điệp cho Cordell Hull vào lúc 2g20 chiều. Trước đó nửa giờ, Hull cùng với Roosevelt và Bộ trưởng Hải quân đã đánh giá khả năng tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng.

        Vào tuổi 41, Hirohito đã đạt đến bước ngoặt trong cả cuộc đời với quyết định mở cuộc chiến tranh Thái Bình Dương. Quyết định này đã gây ra cái chết của 10 triệu người và làm thay đổi cuộc sống của hàng trăm triệu người.

        Giờ đây, một người đàn ông mạnh mẽ hơn, tự tin hơn, có vẻ ngạo mạn, trở nên bướng bỉnh với sự bợ đỡ của cả một bộ máy quân sự to lớn và sự tuân lệnh tuyệt đối của hàng triệu thần dân, phớt lờ những cố vấn thông thái, ông ở đỉnh cao của quyền lực cá nhân. Cậu bé vụng về, nhút nhát, suýt bị tàn tật, một sinh viên môn sinh vật biển kín đáo đã hoàn toàn thay đổi. Ỏng là người cai trị của một dân tộc thống nhất.

        Đối với quyết định tiến hành chiến tranh, lịch sử phán xét ông cay nghiệt như thế nào? Herbert Bix đã cho thấy điều đó thông qua quyển sách Hirohito và việc tạo ra một Nhật Bản hiện đại. Ông nêu ra Thủ tướng sắp mãn nhiệm, hoàng tử Konoye, để nói về trách nhiệm của Nhật Hoàng:

        Đối mặt với việc bị quân đội bóp nghẹt do lệnh cấm vận dầu lửa và lựa chọn chấp nhận thua cuộc tại Trung Quốc, ông phải từ bỏ một phần lớn đế chế của mình và có thể phải thiết lập lại nền quân chủ mà ông đã kế thừa, Hirohito đã chọn cách thứ ba: Chiến tranh chống lại Mỹ và Anh. Giống như đa số tướng lĩnh của mình, ông tin rằng Đức sẽ chiến thắng Anh vì họ đã thống trị toàn châu Âu. Nếu kế hoạch chiến lược đó nhanh chóng hoàn thành, Nhật Bản có thể chiến thắng người Mỹ hay ít nhất là đạt được thế cân bằng. Từ sự chọn lựa này, Hirohito dốc hết sức để lãnh đạo chiến tranh đến thắng lợi bằng mọi giá. Đó là vai trò đòi hỏi khắt khe nhất và hoàn toàn độc đoán.

        Nhiều vấn đề phức tạp cần được gỡ rối. Trong tiến trình quân đội Nhật Bản thống trị và việc hình thành một đế chế Viễn Đông, Hirohito đã phản kháng, bào chữa cho sự miễn cưỡng chấp thuận đầu tiên là ông cần phải tiếp tục hành động như một sự ảnh hưởng ôn hòa, thứ hai là giữ hiện thân tối cao cũng như biểu tượng thống nhất cho quốc gia và dân tộc của ông.

        Việc kết thúc chiến tranh trước trận Trân Châu Cảng cũng không có gì khác biệt. Trong tháng 9, ông đã phản đối trước sự thay đổi của các sự kiện: Việc chiếm đóng của Nhật Bản tại Đông Dương đã dẫn đến sự bóp nghẹt kinh tế của Mỹ. Đối mặt với quyết định rút lui, từ bỏ Đông Dương và Trung Quốc, hay chiến tranh chống lại Mỹ và Anh, ông đã chọn cách thứ hai. Không thể phủ nhận rằng, với những gì xảy ra, trước dây, thì sự lựa chọn của ông không những hợp lý mà còn là điều duy nhất mà ông có thể làm.

        Với sự thất bại của Konoye, phe ủng hộ chiến tranh đang lên. Với ông, việc ngăn chặn chiến tranh là điều không thể và nếu không ông có thể phải đánh đổi bằng ngai vàng của mình. Bất kỳ sự cố gắng nào để làm điều đó đều đòi hỏi tài năng của nhà chính trị và lòng can đảm: Nhưng với Hirohito, chắc chắn ông không phải là khuôn mẫu của một anh hùng.

        Hirohito đã theo đuổi chiến tranh, mong muốn chiến tranh hoặc chắc thắng trong cuộc chiến với Mỹ và Anh. Thật ra, ông đã liều lĩnh muốn tránh diều đó, nhất là nỗi lo sợ Nhật Bản sẽ bại trận. Sự phê chuẩn miễn cưỡng nhưng có tính chất quyết định của ông đối với chính sách mở rộng của Nhật Bản sang các nước láng giềng châu Á, đã đặt ông và đất nước Nhật Bản vào thế hoặc là phải rút lui một cách nhục nhã, hoặc là bắt đầu chiến tranh với các thế lực Tây Âu. Kết luận mà ông rút ra là chiến tranh với Mỹ là điều không thể tránh được.

        Thế là trò chơi lớn đã bắt đầu giữa hai đối thủ hùng mạnh nằm hai bên bờ Thái Bình Dương, không phải do thèm muốn lãnh thổ của cả hai mà là chiến đấu vì sự thống trị trong khu vực. Hai đối thủ hoàn toàn khác biệt. Một bên là nền dân chủ trẻ trung sôi nổi với nền công nghiệp lớn mạnh cùng vị trí quân đội nhỏ bé hiện đang mở rộng bằng cách tuyển mộ hàng trăm ngàn binh lính. Bên kia là quốc gia đang trong cơn lốc công nghiệp hóa, dưới chế độ độc tài quân sự với truyền thống chiến binh lâu đời của một lực lượng quân đội có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với biểu tượng sống của quốc gia -  Nhật Hoàng. Nhật Bản đã từng đánh thắng một thế lực lớn - nước Nga, cùng với lực lượng dày dạn kinh nghiệm trận mạc đã thống trị Đài Loan, Triều Tiên, Mãn Châu và phần lớn Trung Quốc. Phong kiến và Tân thế giới đã gặp nhau trong trận đánh lớn để giành quyền kiểm soát đại dương lớn nhất và vùng đất rộng lớn của thế giới cũng như phần lớn dân số thế giới hiện đang trú ngụ ở châu Á.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #62 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:09:31 AM »


PHẦN IV

ÔNG GIÀ Ở ĐẢO CORREGIDOR


Chương 19

TỔNG TƯ LỆNH CỦA WASHINGTON

        Trong khi vị quốc vương trẻ tuổi Hirohito đem tên tuổi đặt trong canh bạc định mệnh nhất trong lịch sử quốc gia mình, cách vài trăm cây số về phía nam, một vị tướng già người Mỹ lớn hơn ông 21 tuổi làm lính đánh thuê cho một thế lực nước ngoài hạng xoàng.

        Tại sao người hùng chiến tranh mà chúng ta bỏ rơi vào mùa thu năm 1922 lại rơi vào tình huống khó khăn này? Phải thừa nhận là sự nghiệp của Douglas MacArthur lúc đó đang trong giai đoạn đi xuống. Là nạn nhân của bản tính lãng tử khờ dại (các bậc vai vế có thâm niên trong quân đội Mỹ không tán thành về chủ trương cải cách của ông, Tướng Pershing không tán thành vị hôn thê mà ông chọn lựa), ông đã bị bỏ rơi trong cánh rừng rậm đầy muỗi ở bán đảo Bataan - nơi mà ông không ngờ rằng mình sẽ đóng một vai trò định mệnh.

        Trong phạm vi xã hội của cuộc sống kiều dân Mỹ ở tỉnh lẻ Manila, đáng lẽ ông phải nhận thức được rằng, giấc mơ về hạnh phúc vợ chồng sẽ nhanh chóng tan biến thành tro bụi. Cô Louise sành diệu, khiêu gợi, thích tiệc tùng, sôi nổi đã quen với nhịp sống hối hả ở New York và Paris cảm thấy cuộc đời của một quân nhân ở nước ngoài nhạt nhẽo hơn những gì mình đã mường tượng. Mặc dù Vịnh Manila rộng lớn có khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, khu nhà lộn xộn một tầng nghèo nàn của thành phố đối lập hẳn với khu nhà chính phủ, khách sạn và các biệt thự sang trọng.

        Cô nhanh chóng chán nản. Đất nước Philippines như trong thư cô viết về nhà là nơi “Cực kỳ buồn chán”. Cô cũng không được chơi với hai đứa con nhỏ. MacArthur thích chơi với chúng bất cứ khi nào ông có thời gian rảnh trong khu vườn rộng rãi của ngôi nhà đẹp. Vị tướng dạy cho bé Walter đạp xe và cũng rất thương bé Louise từng bị sốt rét khi còn nhỏ.

        Vợ ông cố gắng tạo ra không khí nhộn nhịp, sôi nổi mà cô muốn. Cô đã làm nữ cảnh sát bán thời gian và có lần bắt giữ một người đàn ông vì đã đánh con ngựa của ông. Cô tìm cách chọc vui MacArthur bằng cách gọi ông là Ngài Galahad. Bản thân MacArthur không thích giao thiệp vui chơi nơi đông người. Trong lúc Louise đắm chìm trong các cuộc vui chơi phù phiếm trên các đảo, ông chỉ đến các buổi tiệc tối đặc biệt với Toàn quyền Philippines Leonard Wood, ông chủ cũ của MacArthur và là người mà Louise thường tìm đến đế than phiền về quyết định của tướng Pershing đày ải chồng cô sang đây.

        Đầu năm 1923, MacArthur được gọi trở về Mỹ sau khi nhận được cuộc điện thoại thông báo mẹ ông đang bệnh nặng. Louise không hề che giấu sự vui sướng khi được quay trở về. Sau khi về Mỹ, Mac Arthur đã tìm đến Bộ trưởng Chiến tranh John Weeks để xin về nhà hẳn, tuy nhiên Weeks không muốn chống lại tướng Pershing đầy quyền lực. Louise tìm đến người cha dượng giàu có Edward T. Stotesbury nhờ ông đặt vấn đề trực tiếp với Tổng thống Calvin Coolidge. Nhưng tất cả đều không có kết quả. MacArthur phải quay trở lại Philippines sau khi mẹ ông đỡ bệnh.

        Trở lại Philippines, ông và Wood bắt đầu thảo một chiến lược phòng vệ cho các hòn đảo, sử dụng ý tưởng lực lượng dân quân kiểu Thụy Sỹ. Ông nắm quyền chỉ huy sư đoàn Philippines bao gồm lực lượng trinh sát Philippines và trung đoàn quân sự 31 của Mỹ. MacArthur không có thái độ phân biệt chủng tộc và dễ dàng quan hệ với các sĩ quan người Philippines cũng như nối lại quan hệ thân thiết với người bạn cũ Manuel Quezon. Sự khoan dung như vậy không phải là diều thường thấy đối với một chỉ huy người Mỹ vào thời đó.

        Thành công của ông trong công việc khiến Wood đề nghị Washington đề bạt ông. Weeks trả lời rằng: Lượt đề bạt ông sẽ đến trong thời gian sớm. Trong khi đó bà Pinky - mẹ của MacArthur đã bình phục và trực tiếp gửi thư cho Pershing. Trong lá thư này, bà đã có lời lẽ hạ cố đối với vị tướng nổi tiếng nhất trong quân đội Mỹ mà nếu MacArthur biết được chắc ông sẽ hết sức xấu hổ:

        Tôi rất vui khi được gặp ông vào ngày thứ Bảy. Ông trông còn trẻ và mới đẹp trai làm sao! Tôi nghĩ rằng ông sẽ không bao giờ già... Tôi tin vào mối quan hệ bằng hữu trung thành đối với ông để tha thiết xin cho con trai của tôi, không biết ông có cảm thấy phiền lòng khi để bạt cho con trai tôi trong nhiệm kỳ Tham mưu trưởng của ông hay không? Ông là người đầy uy quyền trong quân đội và chỉ cần một vài chữ viết của ông, con trai tôi sẽ được thăng chức. Ông chưa bao giờ quèn tôi và tôi tin rằng ông cũng sẽ không quên lời khẩn cầu này... Ông vẫn là ông bạn già Jack yèu dấu tốt bụng và ngọt ngào xưa kia và bảo đảm với tôi ràng ông sẽ đề bạt con trai tôi trước khi ông rời quân đội. Chúa phù hộ cho ông và ban thưởng cho cuộc đời sáng giá của ông bằng cách đưa ông vào Nhà Trắng. Người bạn trung thành của ông - Mary p. MacArthur.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #63 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:10:06 AM »


        Người lính già cuối cùng đã đề bạt MacArthur lên thiếu tướng hai sao, vị tướng trẻ nhất trong quân đội Mỹ. Đây là cấp hàm quá cao cấp, không phù hợp với việc phục vụ một nơi tù đọng như Philippines.

        Tháng Giêng năm 1925, vợ chồng MacArthur đã trở về Mỹ. Quan hệ giữa hai vợ chồng căng thẳng đến mức cả hai đều đề phòng nhau. Louise muốn cuộc sống sung sướng và không nghe lời chồng. MacArthur đã mất kiên nhẫn về tính hay trễ giờ của cô. Khi trở về lại xảy ra một thất vọng lớn hơn: Ông được đưa đến chỉ huy Quân đoàn số 4 ở Atlanta, bang Georgia - một vùng tù đọng khác.

        Đến nhà thờ, Douglas cảm thấy nhục nhã khi thấy ba phần tư giáo đoàn ra đường biểu tình phản đối. Ngay lập tức, ông yêu cầu được thuyên chuyển công tác và đã được gửi đến chỉ huy quân đoàn số 3 ở Baltimore, bang Maryland - một vùng nước tù đọng dễ chịu hơn.

        Bi kịch gia đình đã che khuất những cải thiện không đáng kể trong vận may của MacArthur. Anh trai Arthur đang thành công trong binh nghiệp hải quân đã chết vì bệnh viêm ruột thừa.

        Một trong những nhiệm vụ đầu tiên và không vừa ý nhất của MacArthur là phải ra tòa án quân sự xét xử một người bạn cũ, một người tiên phong của không quân Mỹ -  Billy Mitchell. Mitchell là cháu một người bạn của ông nội MacArthur, con của một sĩ quan từng phục vụ cùng cha ông trong quân đội và là bạn của Douglas thuở nhỏ. Mitchell có tính cách giống MacArthur ở chỗ tin rằng có thể chống đối các quy định và đưa niềm tin này đi quá xa. Ông công khai chỉ trích các sĩ quan cao cấp vì tắc trách để xảy ra hàng loạt tai họa không quân và dự đoán rằng: “Bất cứ phản công nào nhằm vào Nhật Bản phải có sự yểm trợ của không lực... Trong tương lai, các chiến dịch trên biển sẽ được thực hiện từ căn cứ mặt đất này đến căn cứ mặt đất khác dưới sự yểm trợ của không quân”. Ông ta đã chứng minh diều này đúng qua nhiều sự kiện.

        MacArthur ngồi ở tòa án quân sự trong suốt 7 tuần không nói một tiếng nào mà chỉ trao đổi ánh mắt với Louise, trong khi đó Mitchell đưa ra các quan điểm của mình.

        Không hiểu MacArthur đã bỏ phiếu như thế nào nhưng Mitchell suýt nữa bị kết tội. Sau đó, MacArthur bị nhiều sĩ quan không quân dưới quyền (vốn xem Mitchell là người hùng) nghi ngờ, mặc dù Mitchell không hận thù gì MacArthur.

        Dường như các luật sư với sự thận trọng chuyên nghiệp đã thắng được tính bốc đồng dễ thương thường lệ của MacArthur, mặc dù ít người tin rằng Mitchell xứng đáng được tha bổng về thái độ bất tuân thượng lệnh. Sau này, MacArthur cho biết ông chỉ đóng vài trò vừa phải ở hậu trường tòa án.

        Trong khi đó ông miễn cưỡng tham gia cuộc sống giao thiệp rộng rãi ở quận Baltimore - nơi Louise sở hữu một điền trang gọi là Đồi cầu vồng. Tuy nhiên, công việc của ông cứ lặp đi lặp lại thường xuyên và chán ngắt khi quân đội phải chịu áp lực giảm ngân sách. Mặc dù còn trẻ so với chức vụ, ông đã tôi luyện chuẩn bị cho một vai trò có nhiều thử thách hơn. Điều này bất ngờ xảy ra vào tháng 9 năm 1927 khi ông được đề nghị đảm nhiệm vị trí Chủ tịch ủy ban Olympic Mỹ nhằm thi tài ở Hà Lan vào năm sau, vì vị chủ tịch đương nhiệm đột ngột qua đời. Vốn dam mê thể thao, ông lập tức nhận nhiệm vụ.

        Tuy nhiên, đây là giai đoạn không mấy suôn sẻ cho cuộc hôn nhân đã kéo dài 5 năm của ông. Khi Quekemeyer chết (người mà Louise có lẽ đã tiếc nuối vì không cưới được), Louise viết một lá thư bày tỏ sự đau khổ với Pershing. Cô trở nên chán ngấy cuộc sống quân đội và cố gắng thuyết phục chồng chuyển qua cuộc sống dân sự với một công việc được trả lương cao trong công ty của người cha dượng J. p. Morgan. MacArthur từ chối và trong một bài phát biểu ông đã đề cập đến “Sự ngu dốt của lối sống tráng lệ khoa trương”, một sự ví von tinh tế về xuất thân của Louise. Cô đã cố gắng đưa MacArthur ra khỏi cuộc đời binh nghiệp mà ông dam mê trên tất cả. Đối mặt với sự lựa chọn giữa hai tình yêu, ông đã chọn cuộc đời binh nghiệp. Cũng không thể nói hôn nhân của họ không có ý nghĩa gì. Mặc dù không hòa hợp nhưng hôn nhân giữa họ đã tồn tại trong thời gian khá lâu vì cả hai đều có thiện chí muốn cải thiện tình cảm. Tuy nhiên giờ đây Louise đã chán ngấy cảnh làm người đàn bà có chồng ở Baltimore và quyết định rời bỏ để đến New York tráng lệ.

        Chẳng bao lâu sau, MacArthur lên đường di Hà Lan mà không có vợ đi cùng. Sau này, nhà báo nổi tiếng William L. Shirer đã viết rằng, anh ấn tượng về tướng MacArthur hơn:

        Ồng ấy dường như cao cấp hơn quân hàm mà tôi hình dung về những người lính chuyên nghiệp của chúng ta. Ồng mạnh mẽ, nói năng lưu loát, sâu sắc, thậm chí có cả một chút triết lý và chứng tỏ là người nghiên cứu nhiều. Chỉ có thái độ kiêu căng của ông làm tôi lo ngại.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #64 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:12:04 AM »


        MacArthur say mê làm nhiệm vụ như thể ông đang lâm chiến và buộc phải chiến thắng. “Chúng ta ở đây để đại diện cho đất nước vĩ đại của mình trên trái đất này. Chúng ta không thể thua trận nhục nhã, phải chiến thắng và chiến thắng một cách thuyết phục”.

        Ông đã điều hành công việc hăng say như lời ông nói. Đội tuyển Mỹ đã giành nhiều huy chương hơn số huy chương hai nước đứng phía sau cộng lại và lập 7 kỷ lục thế giới cũng như 17 kỷ lục Olympic.

        Khi trở về Mỹ, ông viết một bản báo cáo long trọng thái quá về cuộc tranh tài Olympic cho Tổng thống Coolidge. Bản báo cáo kết thúc với những cảm xúc lãng mạn như thể MacArthur đang bay bổng trên cung trăng:

        Đặt sự nghiệp trên danh tiếng.
        Yẽu cuộc chơi hơn giải thưởng.
        Tôn trọng đối thủ dù đánh bại họ.
        Đối diện kẻ thù với ánh mắt can đảm.
        Xem cuộc đời như một trận đánh hay.
        Mặt đất yêu dấu nơi bạn sinh ra và cả tình huynh đệ thắm thiết.
        Két nối lòng dũng cảm của tất cả trái đất.


        Suy nghĩ của vị Tổng thống ít nói Coolidge về những dòng văn này có thể dễ dàng đoán được, vì ông không thích hoa mỳ dài dòng. (Có một câu chuyện kể rằng, trong một bữa ăn, một trong hai quý bà đang ngồi chung với Coolidge nói rằng: “Thưa Tổng thống, chúng tôi đã cá cược rằng có thể khiến ông nói hơn ba từ trong bữa ăn này”. Ông đã trả lời: “Bạn thua!”) Điểm khác nhau giữa cách hành văn hoa mỹ của MacArthur và những vần thơ ngắn gọn của Hoàng đế Hirohito rất rõ ràng.

        Bây giờ, MacArthur phải thể hiện một tính cách khác không bình thường đối với một người phục vụ quân đội: Quan tâm trực tiếp về chính trị. Sự phân biệt giữa quân sự và chính trị ở Mỹ theo truyền thống đã dần phai nhạt hơn trong các nền dân chủ. Kể từ thời George Washington đã có truyền thống những người phục vụ quân đội sau một thời gian dài và có thành công thường quan tâm đến chính trị. Tướng Pershing tranh cử chức tổng thống là một ví dụ. MacArthur quyết định không ủng hộ đảng phái nào ở Mỹ nhưng phê phán những mối nguy hiểm đe dọa Mỹ và thế giới. MacArthur đã viết như sau:

        Trở về Baltimore, tôi đã bày tỏ công khai những lo sợ về chủ nghĩa hòa hoãn và các luồng ý thức hệ nước ngoài khác đang làm cho nước Mỹ lặp lại những sai lầm trong quá khứ.

        Trong khi Hồng quân ở Nga đang là mối đe dọa, Ba Lan đang gây hỗn loạn, Rumani đòi ly khai, Pháp lâm chiến ở Marốc, Nicaragua đang diễn ra cuộc cách mạng, Mexico trong tình thế hỗn loạn và nội chiến xảy ra ở Trung Quốc, dường như đường phố của chúng ta sẽ một lần nữa tràn ngập những người tuần hành biểu tình và đất nước chúng ta lại cần đến nghĩa vụ quân sự. Tôi tin chắc là cần thiết phải có sự chuẩn bị đầy đủ về quân đội cho tôi trong những thảng ngày khó khăn của thập kỷ 20 và đầu những năm 30. Kẻ thù lâu dài của chúng ta ở Mỹ là những người theo chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa hòa hoãn.


        Đối với vị tư lệnh của quân đoàn số 3, những quan điểm như vậy là không bình thường. Thật thú vị là MacArthur từng lo ngại về khả năng chiến tranh với Nhật Bản khi còn ở Philippines lại có nguy cơ xảy ra nhiều hơn về mối đe dọa từ phe tả ở nước Mỹ. Cuối cùng, ở độ tuổi 50, MacArthur đã ra khỏi “tu viện quân đội” và nếm trải mùi vị chính trị hấp dẫn. Cũng giống như Hirohito, ông xác định kẻ thù là những người theo chủ nghĩa hòa hoãn và chủ nghĩa Cộng sản thuộc phe tả.

        Đáng chú ý là thực tế, ông nêu ra những quan điểm này trước khi thị trường chứng khoán Phố Wall sụp đổ và nhấn chìm nước Mỹ vào nhiều năm suy thoái kinh tế.
         
        Trong khi đó, Louise từ chối di theo ông đến Hà Lan và cặp kè với nhiều đàn ông ở New York. Dường như nguy cơ hôn nhân tan vỡ là căn nguyên khiến MacArthur thất vọng rất nhiều, vì ông khao khát có tình cảm vợ chồng. Ông cũng ngày càng gắn bó với hai đứa con nhỏ. Chẳng bao lâu sau, ông được lệnh quay trở lại Philippines để chỉ huy tất cả các lực lượng ở đó, Louise không chịu đi cùng ông.

        Sáu tháng sau đó, cô nộp đơn xin ly dị sau khi hai bên đã đồng ý nhưng với lý do kỳ cục: Ông không nuôi cô, mặc dù cô là một trong những người phụ nữ giàu nhất nước Mỹ thời bấy giờ! Tuy nhiên, cô cũng tuyên bố với báo chí: “Tôi rất ngưỡng mộ và tôn trọng Tướng MacArthur!”.

        Với nhiệm vụ mới, MacArthur đã gặp khó khăn với ông Henry L. Stimson - vị Toàn quyền của Philippines có dòng dõi quý tộc và học thức uyên thâm. Tuy nhiên, MacArthur cũng nối lại quan hệ bằng hữu với Manuel Quezon. Mối bận tâm chính của ông là làm thế nào bảo vệ các hòn đảo trước mối đe dọa của người Nhật.

        Quân đội của ông bao gồm 17 ngàn quân Mỹ và Philippines chưa được huấn luyện bài bản và trang bị đầy đủ cùng với vỏn vẹn 18 chiếc máy bay.

        MacArthur gọi đây là “Sự thiếu thốn tội nghiệp”. Stimson được Tổng thống mới đắc cử Herbert Hoover triệu hồi về nước để nhậm chức Ngoại trưởng vào tháng 2 năm 1929. Vị tổng thống này đã chú ý đến ngôi sao đang lên, vị tướng trẻ thông minh và chống cộng MacArthur.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #65 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:12:34 AM »


        Mùa thu năm 1929, vụ sụp đổ thị trường chứng khoán Phố Wall đã dự báo sự chấm dứt thời kỳ thịnh vượng của thập niên 20. Hoover đối mặt với một viễn cảnh: Kinh tế suy thoái và số người thất nghiệp đang tăng dần. Không bao lâu, MacArthur được gọi về Mỹ. Mùa hè năm 1930,

        ông được giao chức vụ tổng công trình sư, sự tôn kính cao nhất của Hoover dành cho MacArthur vì bản thân Hoover từng là kỹ sư. Nhiệm vụ của MacArthur là bắt tay vào các dự án công trình công cộng để giải quyết nạn thất nghiệp do sụp đổ thị trường gây ra.

        Nhưng trước sự ngạc nhiên của mọi người, MacArthur từ chối chức vụ này. Ông đang nắm chắc trong tay về chức vụ Tham mưu trưởng. Ông đã viết một lá thư tâng bốc mùi mẫn cho Bộ trưởng Chiến tranh mới Patrick J. Hurley. Tháng 8 năm 1930, Hoover và Hurley đã đồng ý giao cho ông chức vụ này. MacArthur nhận thức được các khó khăn khi nắm chức vụ này trong thời kỳ suy thoái và đã bày tỏ sự nhũn nhặn bất ngờ:

        Tôi biết những thử thách kinh khủng mà Tham mưu trưởng phải đối mặt. Tôi ao ước từ đáy lòng được ở với quân lính để chỉ huy chiến trường. Tuy nhiên, mẹ tôi ở Washington cảm nhận được những gì tôi đang nghĩ và đánh điện cho tôi đề nghị tôi nhận chức vụ này. Bà ấy nói rằng cha tôi sẽ rất xấu hổ nếu tôi sợ hãi không dám đảm nhận chức vụ. Điều này đã giải tỏa được sự phân vân của tòi.

        Ông lại được báo chí yêu mến và gọi là chàng lính ngự lâm d’Artagnan của quân đội. Ông cư ngụ ở Quarters Number Ope, thành phố Fort Myers phía bên kia sông Potomac. Ông không còn phải sống một mình nữa khi bà Pinky -  người mẹ 77 tuổi dọn đến ở cùng.

        Có một sự hiện diện khác ở nơi đây mà mẹ ông không biết. Trong một trận đấu quyền Anh ở Manila, ông đã để ý đến một bóng hồng ngây thơ xinh đẹp: Cô gái Isabel Rosario Cooper 16 tuổi - con gái một doanh nhân người Scotland với người vợ Philippines. MacArthur ngay lập tức bị tác động mạnh. Cũng giống như với Louise, ông khao khát tình cảm lãng mạn mãnh liệt và đầy ham muốn với Isabel. Cô gọi ông là “Bố” và ông gọi Isabel là “Cô gái bé bỏng của bố”, “Con thân yêu”.

        Ông đã liều lĩnh viết thư bày tỏ rằng ông khao khát “Đôi môi bí ẩn” và “Thân thể mềm mại” của cô. Ông nói sẽ chết nếu thiếu cô trong cuộc đời. Khi rời khỏi Manila để nhận chức vụ chỉ huy mới, ông đã bí mật mua một vé để Isabel theo cùng và tưởng tượng rằng cô sẽ tan chảy trong những chốn sang trọng ở Thượng Hải trên đường trở về.

        Khi Isabel đến, ông đã xây cho cô một căn hộ xinh xắn và một con chó xù để làm bạn. Ớ đó, ông đến thăm cô bất cứ khi nào có thể. Cô ấy xinh đẹp! Một người ngoài khách quan đã mô tả như vậy:

        Tôi nghĩ mình chưa từng thấy ai thanh tú như vậy. Cô ấy mặc chiếc áo dài màu xanh đắt tiền và dễ thương. Cô trông như được tạc ra từ mảnh đá quý trang nhã nhất, tóc tết thành bím thả sau lưng.

        Nói một cách nghiêm túc, MacArthur không làm điều gì sai trái. Ông đã ly dị và cô cũng đã đến tuổi trưởng thành hợp pháp. Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi đã xảy ra. Isabel ngày càng chán cuộc sống trong căn hộ chỉ để vui thú với ông mỗi lần MacArthur tình cờ ghé thăm. Cô bắt đầu đi ra ngoài chơi và có những mối quan hệ riêng. Cô đã đi nghỉ mát ở Havana, nơi có nhịp sống sôi động và những ánh đèn rực rỡ. Sau đó, cô phải lòng một sinh viên trường luật. MacArthur không còn thích thú cô và tháng Giêng năm 1934, ông đã mua vé cho cô trở về Manila. Ông dứt khoát từ bỏ cuộc tình này. Tuy nhiên, cô muốn ông cho thêm tiền. Lúc đó, MacArthur trở thành một trong những nhân vật gây tranh cãi và dáng ghét nhất ở Washington.

        Từ lúc trở thành Tham mưu trưởng quân đội, ông đã chứng tỏ bản thân. Xung quanh ông là những sĩ quan trẻ bao gồm Dwight Eisenhower và George Patton đang ngày càng thể hiện tài năng nổi bật. Ông dễ tính, nói nhiều và thích đối đầu với khó khăn cân não. Ông không còn khắt khe đối với quy ước trong quân sự. Đôi khi ông mặc áo kimono của Nhật Bản ngồi làm việc và thỉnh thoảng dùng cái tẩu thuốc lá nạm ngọc. Một số sĩ quan không thích cách thể hiện này của MacArthur đã chỉ trích ông là người màu mè. Tuy nhiên, những sở thích này chỉ là một phần trong con người thích thế hiện của MacArthur. Vị tướng thích quan hệ công chúng này nhận ra rằng, xã hội hiện đại thích cái gì đó vượt ra khỏi mức bình thường, hay phép tắc của một diễn viên, dù ông biết điều này là không thể chấp nhận được đối với một người đàn ông kém tài.

        Ông nhậm chức vào thời điểm khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Trong khi bóng dáng mấy cuộc chiến tranh đang xuất hiện ở nước ngoài, người ta kêu gọi lực lượng quân đội Mỹ, vốn đang nhỏ, phải giảm xuống nữa. Lực lượng quân đội chỉ có 132 ngàn người, ít hơn so với lực lượng quân đội của Hy Lạp hay Bồ Đào Nha. Ngân sách quốc phòng mỗi năm chỉ chi hơn 300 triệu đôla. Trang thiết bị quân sự chỉ có 12 chiếc xe tăng, pháo cỡ nòng 50 và một số súng cối từ thời Chiến tranh Thế giới thứ nhất.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #66 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:12:59 AM »


        Tiềm lực quân sự của Mỹ chỉ xếp vào hàng thứ 16 trên thế giới. Tổng thống Hoover đã tìm cách cắt giảm quân số và ngân sách quốc phòng hơn nữa để cân đối ngân sách, tập trung chi nhiều ngân sách cho vấn đề giải quyết việc làm. MacArthur đã từ chối tham dự hội nghị giải trừ quân bị của 51 quốc gia ở Geneva và tuyên bố rằng: “Cách kết thúc chiến tranh là phải đặt chiến tranh ra ngoài vòng pháp luật chứ không phải giải trừ quân bị”. Ông đã đi thăm Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Rumani, Hungary, Ba Lan và Áo - những nơi đang cười khinh thế lực quân sự nhỏ bé của Mỹ.

        MacArthur cuốn mình vào các hoạt động. Ông phác thảo ra chiến lược riêng có tầm nhìn quá xa vời vào thời điểm đó:

        Điều dễ hiểu là chiến tranh hiện đại là chiến tranh sử dụng sức mạnh tấn công ồ ạt, chiến tranh di chuyển chớp nhoáng, một cuộc chiến có sử dụng nhiều máy móc, tuy nhiên là cuộc chiến nằm trong tay của một số ít người thợ máy tài năng. Chúng ta đã học được bài học đắt giá về cuộc chiến tranh vừa qua rằng, một sự đổi mới làm súng máy hoàn hảo hơn đã đánh bại các kế hoạch và những người đề ra kế hoạch, đẩy các lực lượng quân đội lớn mạnh vào thế bế tắc. Một đầu óc chuyên nghiệp dễ dàng biết trước lực lượng thiết giáp như mảy bay ném bom, xe tăng và các đơn vị cơ giới hỗ trợ sẽ làm hồi sinh cuộc chiến tranh cơ động.

        MacArthur đã thông qua kế hoạch huy động ngành công nghiệp quốc gia và kế hoạch tổng động viên nguồn nhân lực nếu chiến tranh xảy ra. Ông đặt nền tảng phòng vệ cho nước Mỹ dựa trên Kế hoạch bốn khu vực quân đội. Ông xây dựng một lực lượng không quân độc lập mà sau này trở thành Không lực Mỹ. Ông cũng thành lập trường độc lập dành cho lực lượng bộ binh, bước đầu hình thành các phân bộ thiết giáp của Mỹ. Đối với người lãng mạn từng đi qua các chiến trường chết chóc của thế chiến thứ nhất bằng giày kỵ binh và roi ngựa, tất cả các thay đổi này là một sự nhìn xa trông rộng và hiện đại sau nhiều năm nền quốc phòng đình trệ dưới sự lãnh đạo của các vị tướng nói nhiều nhưng kém trí tưởng tượng. Ông đã đặt nền móng cho cỗ máy quân sự khổng lồ để dẫn đến chiến thắng Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

        Tuy nhiên, ông là một vị tướng thích chính trị nên đã gây ra một tác động nhiều tranh cãi nhất. Như Eisenhower mô tả:

        Hầu hết các sĩ quan cấp cao tôi quen biết luôn có một sự phân biệt rạch ròi giữa chính trị và quân sự. Khi thôi giữ chức vụ, họ có thể lên tiếng phê phán mạnh mẽ mọi thứ mà họ nghĩ là sai với Washington và thế giới, đồng thời để xuất phương án để khắc phục các sai sót này. Khi còn giữ chức vụ, không điều gì có thể khiến họ bước qua ranh giới mà họ và truyền thống giới quân sự đã định hình xưa nay. Tuy nhiên, dù tướng MacArthur có nhận thức được sự tồn tại của ranh giới này hay không, ông cũng thường không để ý đến nó.

        Nước Mỹ đang trong cơn quằn quại và có lẽ là cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ thời kỳ nội chiến. Thời kỳ Đại suy thoái không chỉ khiến hàng triệu người Mỹ rơi vào cảnh bần hàn mà còn khiến họ nghi ngờ về giấc mơ làm giàu ở Mỹ. Niềm tin tuyệt đối trong giới kinh doanh và niềm tin về sự thịnh vượng, cuộc sống phồn hoa của thập kỷ 20 đang chịu thách thức khốc liệt từ hàng triệu người Mỹ bị tước mất kế sinh nhãi và các khoản tiết kiệm. Sự ủng hộ giới kinh doanh của các tổng thống như Coolidge và Hoover đã tạo ra dường như vô nghĩa. Ở nước ngoài, logic của chủ nghĩa Cộng sản cộng hưởng với những người tuyên truyền ở Mỹ dường như đã được chứng minh là đúng: Cơn Đại suy thoái, khủng hoảng cuối cùng của chủ nghĩa Tư bản theo tiên đoán của Các Mác dường như đang diễn ra. Cuộc cách mạng toàn cầu có thể diễn ra vì sự không ổn định lan rộng toàn cầu trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế.

        Ở Mỹ, nhà chính trị tự do Franklin Roosevelt đang tập hợp những người theo chủ nghĩa Xã hội để tìm kiếm quyền lực trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1932.

        Trong hoàn cảnh này, khi nền chính trị đang có bước ngoặt nguy hiểm và với một vị tổng thống tài năng hạn chế, MacArthur thấy bản thân mình là một chỗ dựa quan trọng cho các lực lượng cầm quyền, thậm chí là người có thể được trao trọng trách bảo vệ nước Mỹ. Sự sống còn của nền cộng hòa dường như đang nằm trong tình thế hiểm nguy. Lực lượng quân đội nhỏ của MacArthur là một trong số ít lực lượng đứng giữa quốc gia và chủ nghĩa Cộng sản hoặc tình trạng vô chính phủ. Tuy nhiên, những người chống đối xem ông là người có nguy cơ trở thành kẻ độc tài, “Một trong hai người đàn ông nguy hiểm nhất nước Mỹ” như Roosevelt nhận xét về ông (người thứ hai là thống đốc bang Louisiana ông Huey Long). Thậm chí, ông được coi là kẻ có thể đảo chính quân sự. Dù vậy các quan điểm này cũng không xóa đi được ấn tượng rằng ông cũng là người mà vận mệnh sẽ trao thời cơ.

        Một đoàn người biểu tình gọi mình là “lực lượng viễn chinh đòi tiền thưởng” đã dựng các lều trại tạm thời trên mảnh đất bên ngoài Potomac gọi là Anacostia Flats. Họ cũng tụ tập ở một số tòa nhà vô chủ dọc theo Đại lộ Pennsylvania và bị chỉ trích chiếm lối di của các tòa nhà chính quyền mới. Những người tuần hành ngày càng đông, lên đến 25 ngàn người, và không có ý định bỏ về. Đó là một cuộc biểu tình lớn nhất ở Washington cho đến thời điểm đó. Lãnh đạo cuộc biểu tình là một cựu trung sĩ có tài hùng biện từng phục vụ các chiến trường ở Pháp: Walter Waters ở bang Oregon. Những người biểu tình tuần hành hàng ngày qua đồi Capitol, Nhà Trắng và các cơ quan chính phủ khác.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #67 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:13:20 AM »


        Khi thời tiết ngày càng nóng, những người biểu tình và gia đình họ sống cạnh cống thoát nước ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn. Mặc dù được cung cấp một lượng tối thiểu thức ăn và thuốc men, nhưng hoàn cảnh khó khăn của họ ngày càng nguy ngập. Cuối cùng, Hạ viện đã thông qua dự luật, nhưng Thượng viện lại phản bác vì tức giận trước áp lực dọa dẫm của người biểu tình.

        Sau đó, Quốc hội đã nghỉ họp vào mùa hè. Tổng thống kêu gọi đoàn người biểu tình về nhà và hứa lo cho họ chi phí ra về.

        MacArthur quyết định đi một bước xa hơn. Ông cùng Hurley đến gặp Tổng thống Hoover đề nghị nhanh chóng áp dụng thiết quân luật. Lúc này rõ ràng MacArthur nhận thức bản thân là người xuất hiện đúng lúc. MacArthur đã quyết định nắm quyền chỉ huy chủ động trên chiến trường. “Có một cuộc cách mạng vừa chớm nở đang lan ra”, ông tuyên bố với một trong những phụ tá của mình. Ông tin rằng có một cuộc cách mạng chủ nghĩa Cộng sản đang nhen nhóm và Hoover - người đàn ông mềm yếu không được yêu thích trong Nhà Trắng - bị MacArthur ngấm ngầm coi thường và cho là không hợp trong tình thế này. Thiết quân luật sẽ giúp MacArthur kiểm soát hiệu quả thủ đô và chính phủ với một vị Tổng thống không có năng lực và Quốc hội đang nghỉ họp. Nếu phải lâm vào cuộc chiến với những người cực đoan chủ nghĩa Cộng sản, ông sẽ chiến thắng.

        Tuy nhiên, MacArthur đã giận dữ khi Hoover không đồng ý ban bố thiết quân luật và nhất quyết yêu cầu quân đội phải “hỗ trợ cảnh sát” phục hồi trật tự ở thủ đô và đẩy người biểu tình trở lại Anacostia Flats. MacArthur nôn nóng nhưng không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc tuân lệnh Tổng thống. Ông ra lệnh Lữ đoàn bộ binh số 16 từ Fort Myers vượt qua cầu Memorial. Viên chỉ huy trẻ George Patton dẫn đầu đoàn xe tăng. Đáng ngạc nhiên là MacArthur quyết định phụ trách cuộc hành quân này. Đối với một vị Tham mưu trưởng, việc trực tiếp giám sát chiến dịch giữ trật tự trong nước là điều chưa có tiền lệ. Eisenhower - phụ tá chính trị của MacArthur đã mất hết tinh thần. MacArthur ra lệnh cho người phụ tá tìm một bộ đồng phục áo choàng dài cho thời điểm này. Chẳng bao lâu, lệnh trên đã ban xuống băng văn bản:

        Tổng thống vừa thông báo rằng chính quyền dân sự của quận Columbia đã báo cáo với ông là không thể duy trì luật pháp và trật tự ở quận này.

        Ông được phép điều động bính lính tiến ngay đến nơi mất trật tư, phối hợp với lực lượng cảnh sát quận Columbia đang làm nhiệm vụ. Bao vây khu vực bị ảnh hưởng và giải phóng khu vực đó không được trì hoãn.

        Chuyển giao tất cả tù nhăn cho nhà chức trách dân sự.

        Ông phải ra lệnh bảo đảm rằng: bất cứ phụ nữ hoặc trẻ em nào trong khu vực ảnh hưởng phải được quan tâm và đối xử tử tế. Sử dụng tất cả lòng nhân đạo phù hợp với việc thực thi đúng mệnh lệnh.

        Tướng Percy L. Miles phụ trách Lữ đoàn bộ binh số 16 đã tự đưa ra các mệnh lệnh riêng:

        Lực lượng kỵ binh phải di chuyển xuống Đại lộ Pennsylvania. Bộ binh sẽ được triển khai theo hàng phía sau kỵ binh. Các bạn sẽ bao vây khu vực và trục xuất những người đang chiếm giữ ở đó. Quan tăm và chăm sóc đối với tất cả phụ nữ và trẻ em trong khu vực.

        Ông quá phẫn nộ về việc MacArthur nhất quyết phụ trách chiến dịch. Hai sĩ quan quân đội này đã làm cảnh sát Glassford - người đang chỉ huy thất vọng. Họ không hề “Hợp tác với lực lượng cảnh sát quận Columbia đang làm nhiệm vụ” như lệnh của Hoover mà đã tự đảm trách nhiệm vụ.

        MacArthur đã sắp đặt việc này. Ông nói: “Sẽ đẩy các cựu chiến binh ra khỏi thành phố. Chúng tôi sắp phá vỡ phía sau của Lực lượng viễn chinh đòi tiền thưởng”. Ông nói như thể đang ám chỉ đến một kẻ thù, chứ không phải là một nhóm người biểu tình tả tơi, không có vũ trang. Ông trích dẫn các mệnh lệnh từ Hoover để làm chỗ dựa nhưng chưa có lệnh nào như vậy được ban hành.

        Kỵ binh tiến vào đoàn người biểu tình với những cây kiếm cong, bộ binh theo sau với động tác giương lưỡi lê. Hơi cay xịt vào đám người biểu tình và ngay lập tức họ chống trả bằng các trận mưa gạch đá. MacArthur thấy bất ngờ: Cách mạng cộng sản không xảy ra. Ông cho rằng 9/10 những người biểu tình tuyệt vọng này không phải là cựu chiến binh mà là cộng sản, 1/5 trong số họ có tiền án, đã không chống trả mà đứng một chỗ để bị triệt hạ. Thất vọng chán nản, họ đã rút lui sớm trước khi quân đội phô trương toàn bộ sức mạnh. Chỉ một vài người bị thương, không ai thiệt mạng. Điều đó cho thấy họ không có ý đồ bạo lực nào trước sự kỷ luật tuyệt vời của quân đội.

        Hậu quả của toàn bộ sự việc hoàn toàn trái ngược với điều mà MacArthur dự kiến. Dư luận kinh hoảng. Hoover cho thấy ông không có khả năng giải quyết các thách thức lớn nảy sinh từ thời kỳ Đại suy thoái. Ông cho thấy rõ rằng mình sẽ sử dụng đến biện pháp trấn áp thô bạo nếu thấy cần thiết. Người Mỹ đổ xô đi bỏ phiếu để loại những người phe Cộng hòa ra khỏi Nhà Trắng và đưa nhân vật xuất sắc Franklin D. Roosevelt lên cầm quyền.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #68 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:14:11 AM »


       
*

*     *

        Khi đại chiến bùng nổ, Jean mười chín tuổi. Bà trở thành y tá tình nguyện tại một bệnh viện thành phố... Sau cuộc đình chiến, bà sống cuộc đời một thiếu nữ đương thời, khá tự do, thích mọi chuyện... Thân phụ bà mất năm 1929. Ông để lại cho con gái hai trăm ngàn Mỹ kim. Với số tiền này, bà giúp mẹ sơn lại nhà cửa, tặng quà cho tất cả các bạn bè, giúp cho một cô người giúp việc da đen, bằng tuổi bà và rất được bà yêu mến, ghi tên vào trường đại học...

        Và rồi bà bắt đầu du lịch. Bà đi du lịch một minh cùng với cô em khác cha, Angela Smith, mà bà đưa đến Nam Mỹ. Bà cũng du lịch với cậu em khác cha, Harvard Smith, cùng với cậu, bà đã thực hiện một chuyến du hành quanh thế giới năm 1933.

        Bà chỉ thôi không du lịch nữa khi bà đến gặp Tướng MacArthur tại Manille.

        Ổng tướng lúc đó sống với mẹ tại Manila Hotel. Ông vẫn liên kết chặt chẽ với mẹ, kể cho bà nghe tất cả những gì xảy xa, tất cả những gì ông làm. Nhưng vì tuổi tác quá lớn của bà, vì căn bệnh của bà, và có lẽ vì sự bà cảm thấy một sự ganh tị nào đó nên ông không tâm sự gì với mẹ về mối tình của ông với Jean. Tuy vậy ông gặp Jean rất thường. Bà MacArthur mất giữa lúc ấy, và con trai bà để tang rất lâu Chắc chắn vì cuộc tang chế này mà ông đã đợi những mười lăm tháng trước khi làm lễ thành hôn với Jean. Mùa xuân năm 1937, họ rời Manille riêng rẽ.

        Jean đi tàu thủy về Sna Francisco và bắt đầu viếng thăm tất cả các thân nhân. Như thế bà đi qua Nashville, Murfreesboro, Louisville. Tại đó bà loan tin lễ thành hôn với bà dì Marie ;

        «Thế thì, bà dì già nhận xét, dân chung Mỹ sẽ rất ngạc nhiên khi biết cháu lấy Tướng Mao Arthur...

        — Và cả dân chung ở Manilie nữa chứ !» thiếu phụ đáp.

        Ông tướng rời Phi luật tân bằng phi cơ. Ông cũng vậy, rất kín đáo. Ông chỉ tâm sự với một trong các tùy viên, đại tá T,J. Davis :

        «Bạn thân mến, đứng trước mắt anh là người vui sướng nhất, tôi sắp cưới vợ...»

        Tân lang và tân nương có mặt tại Nữu Ước. Hôn lễ thế tục cử hành tại tòa thị chính, lễ nghi tôn giáo diễn ra trong một giáo đường nằm trong cùng một toà nhà... Lúc đó ông không mặc quân phục. Bà mặc một chiếc áo thanh lịch màu sậm. Họ thuê một phòng khách san có phòng tiếp khách tại khách sạn Astor trong vài hôm.

        Ngay sau đó vợ chồng MacArthur trở về Manille. Họ chiếm nguyên một tầng của khách sạn Manila Hotel. Cửa sổ mở trông ra vịnh Corregidor. Bên trong đầy đủ tiện nghi và thanh lịch. Không khí được điều hòa giữ một nhiệt độ dễ chịu.

        Đời sống trầm lặng và bình thản. Đôi vợ chồng mới đều rất sung sướng. Khi ông Tướng có giờ rảnh, họ đi dạo với nhau hay là cùng tắm trong hồ tắm của khách san... Buổi tối khi không có dạ tiệc hoặc tiếp tân, họ ngồi trong thư viện, mà Douglas đã thu thập được khoảng bảy ngàn quyển sách.

        Khi câu bé Arthur ra đời, bà nuôi một người vú xẩm. Tiếp theo đó khi các biến cố dồn dập đến và khi người ta thấy chiến tranh thấp thoáng ở chân trời, trong khi chính quyền lo hồi hương các gia đình quân nhân hoặc công chức, bà vẫn không chịu rời Manille. Trong suốt cuộc chiến tranh, bà cùng cậu con trai nhỏ vẫn ở bên cạnh chồng, đi theo ông cho đến tận Tân-Guinée và trở lại Phi luật tân với ông.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21418


« Trả lời #69 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2019, 04:15:14 AM »


*

*     *

        Người ta ngờ rằng trong suốt thời kỳ trước chiến tranh ấy, MacArthur còn có nhiều bận tâm khác hơn là chạy theo mới tình tuyệt hảo.

        Sứ mạng của ông mà Tổng Thống Roosevelt và Tổng Thống Qjezon giao phó, rất là minh bạch : tổ chức quân đội và hệ thống phòng thủ Phi luật tân để cho xứ này một khi được hoàn toàn độc lập, sẵn sàng đảm trách lấy số phận của mình. Nhất là để xứ ấy không trở thành một miếng mồi ngon cho Nhật Bản.

        MacArthur rất coi trọng sứ mạng của ông.

        «Tôi phục vụ cho hai chủ nhân...»

        Thế mà giữa hai ông chủ này, những liên hệ nhiều khi rất căng thẳng. Đã có lúc Roosevelt nghĩ đến việc giao cho MacArthur quyền tư lệnh Hạ uy di và bờ biển phía tây. ông Tướng tránh khéo bằng cách xin từ chức ra khỏi quân đội Mỹ.

         Lúc đó Manuel Quezon phong ông làm Thống chế của Cộng Hòa Phi luật tân. Nhân dịp này, người vừa được phong chức vốn chưa mất ý thích phô diễn và sự hùng đại, đã tự sáng chế ra một bộ quân phục xưng hợp với tước vị mới của ông. Tờ Nhật báo của Lục quân và Hải quân mô tả một cuộc diễn binh tại Manille như sau :

        «Đứng bên cạnh Tổng Thống là Tướng MacArthur,* mặc một bộ quân phục sackin trắng theo kiểu do ông sáng chế với bốn ngôi sao trên vai và một dải băng đỏ làm nổi bật ve áo và huy hiệu Tổng Tham Mưu trưởng trên ngực phía trái...»

        Sự hoa mỹ, sự phô trương mà ông vẫn đặt vào tất cả những gì ông làm, không phải đơn thuần là sự kiện chứng tỏ tánh tư cao tư đại của ông. Ông muốn và chắc chắn là không có gì sai lầm, khi hiện thân ra như vậy trước người Phi luật tân, tạo cho họ niềm kiêu hãnh về Tồ quốc của ho và lòng ham muốn có một đạo quân xứng hợp với một lãnh tụ như thế. Thật sự, mỗi ngày nhân vật mỗi trở nên siêu phàm và như viên cao ủy Mỹ Paul V. Macnutt đã tâm sự : Người ta không thích gọi ông là «ông Dong... thân mến...»

*

*     *

        Trái với các đoán ngôn сủа nhiều chuyên gia quân| sự, MacArthur đoán chắc rằng Phi luật tân có thể được bảo vệ. Và ông tin tưởng điều đó. Năm 1936 ông trình cho Tổng Thống Quezon một kế hoạch rất hoàn hảo và sau đó tuyên bố :

        «Tôi chắc rằng không có một chính phủ nào trên thế giới, nếu biết nghe theo ý kiến của bộ tham mưu lục quân và hải quân của mình, lại sẽ làm một cố gắng bé nhỏ nào để tăn công Phỉ luật tân sau khi kế hoạch này được thưc thi toàn diện...»

        Ta có thể nghĩ rằng một ngôn ngữ như vậy là quá tự phụ, nhưng ta không nên quên rằng hạn kỳ được ấn định cho Phi luật tân được hoàn toàn độc lập là năm 1946, và điều kiện bó buộc là sự thi hành toàn vẹn kế hoạch.

        Vả chăng MacArthur nói rất dài về vấn đề này : «Theo ý tôi cuộc đổ bộ xâm lăng sẽ bắt địch quân trả giá ít nhất là nửa triệu quân và hưn năm tỷ mỹ kim để hành động với một vài cơ may thành công. Liệu có đáng để trả một giá quá mắc như thế không ?»

        Kế hoạch gồm có việc tạo một đạo quân trừ bị huấn luyện binh sĩ, tạo một không lực và tổ chức công cuộc phòng thủ «từng tấc đất các bờ biển những đảo có người ở thuộc quần đảo nhờ vào một hạm đội khinh tốc đỉnh phóng thủy lôi. Chỉ cần «một tiểu hạm đội tương đối không quan trọng lắm gồm những tàu bè như thế được trang bị các thủy thủ đoàn hoàn toàn quen thuộc với từng bờ biển và hải phận kể cận và nhờ thủy lôi sẽ tạo thành một mối đe doa nghiêm trọng đổi với các đại chiến hạm. Hiệu quả của hạm đội là bắt buộc các lực lượng thù nghịch phải tiến vào theo một đội hình thận trọng và phân tán...»

        Người ta đã nói hoặc viết rất nhiều rằng không bao giờ MacArthur tin là Nhật có thể mở cuộc xâm lăng. Thật khó tin rằng một người biết quá rõ các vấn đề đông phương như ông mà lại tin như thế. Từ rất nhiều năm qua ông đã thấy Nhật Bản tiến hóa gần như trước mắt ông. Ông đã ý thức rằng xứ này muốn xâm chiếm tất cả Á Châu. Ông bị bắt buộc nhận chân rằng quả là bi thảm nếu đến lượt Phi luật tân trở thành đối tượng của sự tham lam của Nhật Bản... Nhưng ông còn tự ru ngủ bằng các ảo tưởng trì hoãn lại kỳ nhật này — ông không nghĩ là sẽ xảy ra trước năm 1942 — nhưng ông không lơ là với viễn tượng đó.

        Tuy nhiên không phải ông không biết gì về các dự tính của Đông Kinh, nhưng ông tin vào sức mạnh kháng cự mà Phi luật tân có thể đưa ra để chống lại. Để biện minh cho quan điểm này, về sau ông dẫn chứng Tướng Akira Muto, giám đốc Quân sự vụ của Bộ Chiến tranh Nhật, ông này từng nói :

        «... Một thừa số quan trong khiến Nhật Bản quyết định xâm chiếm Phi luật tân là nỗi sợ hãi mà sự thi hành kế hoạch mười năm tổ chức phòng thủ quần đảo đã gợi ra cho bộ Tổng tham mưu. Kế hoạch đang ở vào năm thứ sáu, và có thể tạo thành một sự đe doa đối với tham vọng của Nhật. Chúng ta phải can thiệp trước khi quá trễ...»
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM