Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Hai, 2019, 06:29:37 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật  (Đọc 1888 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« vào lúc: 02 Tháng Mười, 2019, 04:08:28 PM »

   
        - Tên sách : MacArthur, Hirohito - Cuộc đọ sức tay đôi giữa Mỹ và Nhật

        - Tác giả :  Obert Harvey

                        Biên dịch: Thế Anh

        - Nhà xuất bản Văn hóa thời đại

        - Số hóa : Giangtvx

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #1 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:26:32 PM »


GIỚI THIỆU

        Có lẽ mối quan hệ giữa Mỹ và phần còn lại của thế giới chưa bao giờ lại phức tạp như ngày nay. Việc nhiều người nghĩ rằng Mỹ là một siêu cường quốc trên thế giới là đương nhiên. Thế nhưng, họ lại quên mất rằng việc khai sinh nước Mỹ nhằm mục đích tạo ra một phe đối lập để chống lại chủ nghĩa đế quốc. Qua hơn một thế kỷ, nước Mỹ đã phát triển mạnh mẽ, theo đuổi mục tiêu kinh tế toàn cầu do một số người tôn thờ chủ nghĩa đế quốc khởi xướng vào đầu những năm 1900. Đến cuối những năm 1930, nước Mỹ có nền quân sự được xếp vào thứ 16 trên thế giới.

        Tuy nhiên đã có một điều đặc biệt. Sự khác biệt về chính trị, quân sự và cạnh tranh về kinh tế giữa Mỹ và đối thủ bên kia bờ Thái Binh Dương là Nhật Bản, kéo dài trong nửa đầu thế kỷ 20 đã cho một cái nhìn toàn diện về khả năng của nước Mỹ trong mối quan hệ với các nước có sự khác nhau về tôn giáo, văn hóa, dân tộc và hệ thống chính trị củng như sự lâu đời về lịch sử.

        Đây là một quyển sách lịch sử nói về sự cạnh tranh giữa hai nền kinh tế khổng lồ trên thế giới, được thuật lại thông qua những câu chuyện cá nhân của hai vị lãnh đạo, Nhật hoàng Hirohito và Tướng Douglas MacArthur. Cả hai là những con người đáng chú ý. Với vẻ bề ngoài nhút nhát, thiếu tự tin, Hirohito là Hoàng đế Nhật Bản trong

        hơn sáu thập kỷ. Ông cùng đất nước trải qua các cuộc nội chiến, chiến tranh, bị bại trận và chiếm đóng, sau đó là thành công về kinh tế. Hirohito thừa hưởng quyền lực, chỉ trong vòng hai thập kỷ đã lãnh đạo Nhật Bản trở thành đế quốc mạnh nhất trong các nước châu Á, rồi trở thành như một bang chư hầu của nước Mỹ và đến 1 /4 thế kỷ sau đó đã vươn lên thành quốc gia có nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới, sau Mỹ.

        MacArthur độc đoán là người hùng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ 2, sau đó trở thành một nhà quản sự tài ba có quyền lực nhất của nước Mỹ. Với chiến thắng tại Nhật Bản, ông là người có quyền lực tuyệt đối tại nơi này.

        Kinh nghiệm của MacArtliur trong việc chỉ huy sự chiếm đóng của quân đội Mỹ tại Nhật Bản cũng chứa đựng nhiều bài học to lớn cho quá trình tương tự đối với Iraq và Afghanistan, cũng như việc can thiệp vào các nước khác nói chung. Những gì mà ông đã làm để khai sinh ra một “Nhật Bản mới” chắc chắn là những kinh nghiệm quý báu cho các nhà lãnh đạo Mỹ đối với Iraq. Tương tự, những sai lầm và sự ngạo mạn của ông cũng đáng để nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, cũng có những bài học phức tạp được rút ra từ sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa một bèn là nền văn hóa trẻ nhất và bên còn lại là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất trên thế giới với hơn 2000 năm lịch sử. Nhật Bản là quốc gia đầu tiên mà Mỹ đã cố gắng đưa chế độ dân chủ, tự do về kinh tế và chính trị kiểu Mỹ vào để áp dụng và đã đạt được những kết quả nhất định.

        Mối quan hệ giữa hai nền kinh tế hùng mạnh nhất trên thế giới cũng đáng chú ý, vì Nhật Bản đã thoát khỏi tình trạng trì trệ trong một thời gian dài để phát triển kinh tế, chính trị. Phải mất một thời gian khá lâu, Nhật Bản đóng vai trò như một tay sai của Mỹ để bình ổn và cân bằng sự phát triển kinh tế vốn không mấy ổn định của khu vực Đông Ả. Ngày nay, Nhật Bản đã có vai trò độc lập hơn, cố gắng né tránh chủ nghĩa dân tộc cực đoan để phát triển một cách bền vững.

        Trước đây, chúng ta đã được biết về sự hình thành Nhật Bản hiện đại, nguồn gốc của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản cũng như mức độ tội trạng của Nhật hoàng Hirohito trong việc quyết định tham chiến; về sự thâu tóm quyền hành của MacArthur tại Washington trong tháng 3 năm 1932, chiến lược của ông để thắng lợi trong trận chiến Thái Bình Dương, một trong những điểm son chói lọi của lịch sử quân đội Mỹ, cuộc tranh cãi với Truman về việc thả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Các cuộc tranh cãi của ông với Nhật Hoàng Hirohito trong việc cố gắng xây dựng lại Nhật Bản theo mô hình của nước Mỹ trong khi quyền lực của Nhật hoàng bị bỏ qua, những người cố vấn của ông đã ngấm ngầm chống lại ông và tập hợp những người Nhật để lập ra chủ nghĩa dân tộc.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #2 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:32:46 PM »


PHẦN MỞ ĐẦU

        Chỉ hai tuần rưỡi sau sự kiện lần đầu tiên xuất hiện bom hạt nhân trong chiến tranh, ngày 27-9-1945 đã diễn ra cuộc gặp gỡ đặc biệt nhất trong lịch sử nhân loại giữa Tướng MacArthur và Nhật Hoàng Hirohito. Hai bên tham gia cuộc họp với tâm trạng hoàn toàn trái ngược nhau: một bên là người chiến thắng và bên kia là kẻ chiến bại. Hirohito cũng biết ông sẽ tiếp tục tại vị, dù không ý thức được rằng MacArthur sẽ là người nắm quyền tối cao.

        Có lẽ MacArthur là người đầu tiên thực hiện mối quan hệ công chúng trong lịch sử quân đội Mỹ. Ông đang chuẩn bị làm bẽ mặt Nhật Hoàng một cách công khai để làm tiêu tan ý nghĩ rằng quân đội Mỹ sẽ rút về nước, cũng như thể hiện sự thông cảm cá nhân quá mức trước tình trạng khó khăn của người cai trị, chỉ trên danh nghĩa, của một nước bị xâm chiếm. Kết quả là sự bất đồng về lợi ích trong cuộc gặp gỡ này, giữa người chiến thắng và kẻ chiến bại: Shogun và Nhật Hoàng, kẻ man rợ và sự thần thánh.

        MacArthur biết chắc răng sẽ mời được Nhật Hoàng đến. Để yêu cầu Hirohito gặp mặt, ông đã nói: “Có thể điều này sẽ làm người dân Nhật Bản cảm thấy bị xúc phạm và hình ảnh Nhật Hoàng trong mắt họ bị bôi nhọ. Nhưng không, tôi sẽ đợi, và đến lúc Nhật Hoàng sẽ sẵn sàng đến gặp tôi. Trong trường hợp này, việc sử dụng sự kiên nhẫn của Phương Đông còn hơn sự vội vàng của Phương Tây, sẽ là cách tốt nhất cho mục đích của chúng ta”.

        Trong chuyến thăm đầu tiên, viên đại thần hoàng gia Fujita đã phải đợi ở ngoài tiền sảnh. Đối với người Nhật, đây là một sự sỉ nhục không thể tha thứ. Sau đó ông đã được dẫn vào diện kiến MacArthur và đọc diễn văn theo một nghi lễ khá buồn cười.

        Ngày hôm sau, xe chở Nhật Hoàng cùng 4 chiếc khác rời cung lúc 10 giờ sáng với một đoàn hộ tống nhỏ gồm hai chiếc mô tô dẫn đường. Theo lời kể của một người dân thì vẻ mặt Nhật Hoàng trông rất buồn. Chiếc xe vượt qua cổng thành, chạy ngang qua hào và leo lên ngọn đồi bên cạnh. Đèn giao thông chuyển sang màu đỏ tại giao lộ Toranomon và chiếc xe phải dừng lại, một điều rất lạ thường trong ngày khi toàn bộ giao thông bị ngưng lại 30 phút trước khi xe chở Nhật Hoàng khởi hành và toàn bộ các phương tiện đều không được xuất hiện trên đường Nhật Hoàng đi.

        Hirohito mặc áo choàng, quần sọc và đội mũ có chóp. Tại tòa đại sứ, ông không được đón chào bằng nghi thức long trọng nhất. Về phần mình, MacArthur muốn giữ bí mật cho cuộc gặp gỡ nên không có bất kỳ nhà báo nào được phép đến quay phim, chụp ảnh.

        Khi Hirohito bước ra khỏi xe, ông thấy sự lúng túng đằng sau cái nhìn chằm chằm và không một nụ cười của những người Mỹ đang đợi. Tướng Bonner Fellers đột nhiên bước lên phía trước đưa tay mỉm cười và nói: “Xin chào quý Ngài”. Nhật Hoàng được dẫn lên cầu thang, toàn bộ đoàn tùy tùng của ông kể cả viên trợ lý đều phải đứng đợi bên dưới. Trông họ thật lo lắng. Thiếu tá Faubion Bowers, người phiên dịch cho MacArthur mô tả Hirohito: “Trông rất sợ sệt. Khi cầm chiếc mũ chóp, tôi để ý thấy tay ông đang run lên. Lúc gặp MacArthur ở ngưỡng cửa phòng khách, ông cúi thấp, rất thấp”.

        Viên tướng không mỉm cười và bắt tay một cách trịnh trọng. Người thợ chụp hình chụp cho hai người ba tấm ảnh, nhưng một tấm trong số đó bị hỏng. MacArthur mặc bộ lễ phục: áo sơ mi màu nâu, quần dài và không thắt nơ. Ồng đứng thoải mái, hai chân hơi mở ra, tay đặt lên hông. Nhật Hoàng, người thấp hơn, đứng bên cạnh, đang cố giữ thân mình đứng thẳng trên đôi chân bị yếu: trong một tấm hình, hai chân của ông thẳng và thân mình cố gượng. Trong một tấm khác, cả hai đứng cách ra, một người đứng hơi lên phía trước so với người kia.

        Báo chí Nhật Bản và độc giả của họ hẳn sẽ bị sốc bởi sự xấc xược của MacArthur, ít nhất ông cũng nên mặc bộ quân phục của tướng lĩnh khi đứng trước Nhật Hoàng. Thật không thể hiểu được việc người Mỹ không biết đến ảnh hưởng của tấm ảnh và kiểu ăn mặc của MacArthur gây ra. Toàn bộ thông điệp ẩn phía sau: Người thắng và Kẻ bại. Đó là cách làm bẽ mặt Nhật Hoàng “Thần thánh” một cách có chủ ý. Tư thế chụp ảnh của MacArthur nhằm phục vụ cho dư luận tại quê nhà: vẻ xấc xược đã được tính toán để gây ấn tượng với những người Mỹ đang thất vọng về việc Nhật Hoàng đã không bị truy tố mà còn được tại vị.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #3 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:34:06 PM »


        Sau đó họ nói chuyện, cùng có mặt lúc này chỉ là người phiên dịch riêng của Hirohito. Nhật Hoàng, đôi bàn tay vẫn còn run, không dùng tách cà phê mà mình đã gọi, chỉ hút điếu thuốc do MacArthur mời. Với một người đã quen với cách cúi rạp mình của bất cứ những ai mà ông gặp, kể cả những người có quyền lực nhất, thì việc phải gây ấn tượng và phải chiều theo một người ngoại quốc chắc hẳn là một điều lạ thường. Cuộc trò chuyện giữa họ chỉ được tiết lộ một số chi tiết.

        Người ta nói rằng, Hirohito vẫn còn lo sẽ bị bắt giữ sau khi Thủ tướng Hideki Tojo bị giam cầm một ngày trước đó, những người cố vấn lo sợ rằng ông sẽ bị đầu độc bởi thói quen thích dùng cà phê. Thế nhưng mọi việc đã không xảy ra và tâm trạng lo lắng của Hirohito cũng tan biến mất. MacArthur kể lại:

        Tôi đã tiếp ông một cách thân mật, điều này làm tôi nhớ lại một lần cha ông ấy cũng gặp tôi khi cuộc chiến tranh Nga - Nhật kết thúc. Ông ấy đã rất lo lắng và sự căng thẳng về những ngày tháng vừa qua vẫn còn hiện rõ trên gương mặt. Tôi cho tất cả mọi người ra ngoài, trừ người phiên dịch riêng của ông, và chúng tôi ngồi xuông, bắt đầu cuộc trò chuyện. Tôi mời ông một điếu xì gà Mỹ. Ông cảm ơn và nhận lấy. Tôi để ý cách ông bắt tay khi tôi châm thuốc cho ông. Tôi cố gắng làm mọi chuyện trở nên dễ chịu bằng tất cả khả năng của mình. Tuy vậy, tôi vẫn hiểu được sự thống khổ của ông ấy sâu đậm đến mức nào.

        Tôi sẽ có cảm giác không thoải mái nếu ông bào chữa cho mình khi bị cáo buộc như một tội ác chiến tranh... thế nhưng sự lo ngại của tôi là vô căn cứ. Những gì ông nói với tôi là: “Tôi đã đến đây, thưa ngài MacArthur. Tôi hoàn toàn nhận sự phán xét cho những quyết định về chính trị và quân sự mà người dân nước tôi đã gây ra trong cuộc chiến”. Một cảm giác lạ thường thoảng qua tôi. Sự dũng cảm nhận lấy trách nhiệm đồng nghĩa với cái chết, một sự chịu trách nhiệm rất rõ ràng khiến tôi cảm phục. Ông ấy vốn là một Nhật Hoàng, nhưng ngay chính lúc đó, tôi biết mình đang đối diện với người đàn ông đảng kính nhất của đất nước Nhật Bản.

        Khi ông ấy rời khỏi, tôi kể chuyện cho vợ minh nghe nhưng cô ấy cười khúc khích và nói: “ô, em đã thấy ông ấy rồi. Arthur (con trai của MacArthur) và em đã lén nhìn từ phía sau tấm rèm đỏ”. Chuyện thật buồn cười nhưng thú vị dù bạn có hình dung nó ra thế nào đi nữa.

        Lời phát biểu có lẽ chân thật và chắc chắn là dũng cảm, Nhật Hoàng không dám chắc răng những người Mỹ có từ chối điều đó hay không. Mục đích thực sự có lẽ là để nhấn mạnh với người Mỹ rằng, nếu ông được miễn truy tố (vì những người cố vấn của ông có lý do để tin rằng ông sẽ được như vậy) thì những nguyên cớ để kết tội người cấp dưới của ông là rất mong manh. Khi ông đứng ra nhận trách nhiệm, có thể ông sẽ bị khởi tố hoặc được tha tội, và cấp dưới của ông cũng vậy. Có lẽ người Mỹ đã vờ như không biết điều này.

        Tướng Mỹ và Nhật Hoàng đã trò chuyện một cách tương đối thoải mái về những vấn đề khác. MacArthur đã tán dương vai trò của Hirohito trong việc kết thúc chiến tranh. “Bên hòa bình không thắng thế cho đến khi bom nổ ở Hiroshima, tạo ra một tình cảnh có thể được soạn thành kịch”, Nhật Hoàng trả lời. Khi được hỏi tại sao ngay từ ban đầu ông không ngăn chặn chiến tranh, bằng thái độ ngoan cố Hirohito trả lời “Thật khó cho rằng đường lối của chúng tôi là phi lý. Ngay cả bây giờ tôi cũng không dám chắc những nhà viết sử sẽ phân chia trách nhiệm của từng cá nhân đối với chiến tranh ra sao”.

        Sau lần đó, Nhật Hoàng thường xuyên ghé thăm tôi. Chúng tôi thường trò chuyện xoay quanh những vấn đề chính trên thế giới. Tôi luôn cẩn thận giải thích những lý do ưu tiên đối với chính sách chiếm đóng, và thấy rằng ông ấy đã nắm vững được các quan niệm về dân chủ hơn bất kỳ một người Nhật nào mà tôi từng nói chuyện. Ồng ấy đóng vai trò chính trong việc phục hồi tinh thần cho Nhật Bản, sự hợp tác trung thành và tầm ảnh hưởng của ông ấy đã tạo nên thành công cho quả trình chiếm đóng.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #4 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:40:47 PM »


PHẦN I

PHÂN CHIA


Chương 1

VIÊN SĨ QUAN PHỤ TÁ TRẺ TUỔI

        Thật khó có thể hiểu hết quá trình hình thành nhân cách một con người trong các nền văn hóa bối cảnh lịch sử, môi trường sống, kinh nghiệm khác nhau hay tính cách hoàn toàn đối lập nhau như hai người đàn ông đã gặp nhau trong ngày tháng 9 định mệnh. Họ khác nhau về dòng giống, quốc tịch, tôn giáo, tuổi tác, thế kỷ sinh ra, giai cấp, lịch sử gia đình, tính cách của cha mẹ, sự giáo dục ở nhà trường, sự giàu có, tình trạng sức khỏe, sở thích, năng khiếu thể thao, trình độ học vấn, hình thức và chiều cao. Một người đại diện cho nền quân chủ lâu đời nhất trên thế giới, trên 2.000 năm lịch sử có nguồn gốc từ Nữ thần Mặt trời, Amaterasu Omikami, và vì thế triều đại tồn tại và được truyền từ thời này sang thời khác. Người kia là con trai của một gia đình quân sự thuộc tầng lớp trung lưu Mỹ với mong muốn trở thành dòng dõi cao quý của một trong những quốc gia trẻ nhất hành tinh. Họ chỉ có một điểm chung đặc biệt duy nhất: có kỷ luật chặt chẽ, một người do sự rèn luyện trong môi trường quân đội và người còn lại do sự giáo dục của chế độ phong kiến hà khắc.

        Douglas MacArthur sinh ngày 26-1-1880 ở tiền đồn biên giới tại Little Rock, bang Arkansas, về sau, MacArthur cố gắng đưa dòng dõi của mình tiến xa hơn, như một câu ngạn ngữ của người Scotland: “Không có gì cổ xưa bằng những ngọn đồi, MacArthur và ma quỷ”. Tổ tiên của MacArthur có nguồn gốc từ Scotland. Vào thế kỷ 14, khi chi MacArthur của thị tộc Campbell liên kết với Robert the Bruce, chống lại chi Argyll đã gặp sự bế tắc cho đến triều đại của James I ở Scotland một thế kỷ sau đó. Sau khi thủ lĩnh của họ bại trận vào năm 1427, họ đã rút lui về vùng bờ biển ở Loch Awe gần Glasgow.

        Gần 400 năm sau, vào năm 1825, một quả phụ bước lên tàu đến vùng đất mới ở châu Mỹ. Bà mang theo đứa con trai Arthur 11 tuổi, là ông nội của Douglas. Vì vậy, trong dòng dõi người Mỹ, MacArthur không có nguồn gốc cách mạng, đúng hơn ông là thế hệ thứ ba trước cách mạng Mỹ. Sống ở Chicope Falls, Massachusetts, Arthur đã học ở ngôi trường Wesleyan danh tiếng trước khi chuyển đến New York vào năm 1840.

        Arthur nhanh chóng có địa vị xã hội. Ông cưới Aurelia, con gái của Sarah Barney Belchior, hậu duệ thuộc dòng dõi quý tộc Franklin Roosevelt và Winston Churchill. Họ có với nhau một con trai, Arthur con. Vào năm 35 tuổi, cũng giống như nhiều người Mỹ đầy khát khao, hy vọng, họ đi về miền Tây, đến Milwaukee, nơi mà chỉ trong vòng hai năm sau, ông đã trở thành luật sư dân biểu. Ba năm sau đó với tư cách là đảng viên đảng Dân chủ, ông được bầu làm phó thống đốc bang Wisconsin. Arthur bước vào dinh thự của ông chỉ năm ngày trước khi ứng cử viên Đảng Cộng hòa được tuyên bố là người chiến thắng.

        Sự thất bại chỉ là tạm thời. Vào năm 1867, ông được bầu làm thẩm phán của tòa án thuộc hàng quan trọng nhất của bang. Sau đó, được sự chú ý của Tổng thống Andrew Johnson, người đã giao nhiệm vụ cho ông dẫn đầu phái đoàn Mỹ đến tham dự cuộc Triển lãm lớn ở Paris năm 1868. Năm 1870, ở vào tuổi 56, MacArthur đã được Johnson bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa án tối cao khu vực Columbia. Ông có tiếng là người lạnh lùng, nghiêm khắc nhưng ngay thẳng và làm tốt nhiều việc trong suốt 18 năm tại chức. Lúc nghỉ hưư, đầu óc vẫn còn rất minh mẫn: Ông đã viết 10 quyển sách, một trong số đó là quyển Nữ hoàng Mary của Scotland. Ông mất vào tuổi 82 trong khi nghỉ lễ ở thành phố Atlantic.

        Từ một khởi đầu bình thường, Arthur MacArthur đã đưa gia đình mình từ thành phần thứ hai trong xã hội bước lên giai cấp có quyền cao chức trọng. Gương mặt góc cạnh cũng được di truyền cho đứa cháu nội trai. Một điều mà sau này Douglas cũng thừa hưởng từ ông nội của mình, đó chính là sự hiểu biết sâu rộng và khả năng hài hước.

        Tuy nhiên, chính cha mẹ mới là người có ảnh hưởng đến cuộc sống của Douglas. Arthur MacArthur con cũng có sự hiểu biết sâu rộng như người cha luật sư. Tuy nhiên, ông cũng là người bốc đồng. Dáng thấp, với gương mặt góc cạnh láu lỉnh và mái tóc dài dày bù xù, ông đã cho thấy một niềm say mê mãnh liệt với cuộc sống quân đội khi cuộc nội chiến đến gần chỗ chia nước Mỹ ra từng mảnh. Khi chiến tranh kết thúc ông chỉ mới 16 tuổi; ông đã theo đuổi để trỏ thành tình nguyện viên cho bên hòa hợp dân tộc phe Liên hiệp. Cha ông, thay vì gửi ông đến học viện quân sự địa phương nơi ông hoạt động rất tốt, đã được khuyên nên chọn Học viện Quân sự Mỹ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #5 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:42:19 PM »


        Một người bạn của cha ông, thượng nghị sĩ Doolittle bang Wisconsin, đã đưa MacArthur đến gặp Tổng thống để tìm người đỡ đầu cho ông. Abraham Lincoln, cao lớn và quyền uy, đã hứa sẽ tuyển chàng trai thấp, khỏe mạnh trong những năm sau. Tuy nhiên ông đã không đợi. Năm 17 tuổi, ông được cử làm trung úy và phụ tá thứ nhất trong đoàn Bộ binh tình nguyện Wisconsin thứ 24. Khi ông đến, giọng nói vẫn còn run và ngắt quãng, viên sĩ quan hét toáng lên: “Tôi sẽ viết thư cho thống đốc và yêu cầu ông gửi cho tôi một nhân viên phụ tá, thay vì một thằng nhóc”. Thế là ngay lập tức, ông được gọi là “Viên sĩ quan phụ tá trẻ tuổi”.

        Xác định phải chứng tỏ năng lực bản thân, chàng thanh niên đã lao vào trận đấu đầu tiên vào tháng 10 năm 1862 tại Perryville. Tại đây, ông đã gây ấn tượng tốt với Tướng Philip Sheridan nên đã được thăng chức lên đại úy. Tại Murereesboro ở Tennessee, trận chiến đẫm máu ba ngày bắt đầu trong cái lạnh thấu xương của ngày đầu năm mới. Ở đây, viên đại úy đã tìm thấy chính mình. Sau này con trai ông mô tả lại hành động:

        Sự tàn sát rất nhẫn tâm. Trung đoàn đã mất di gần 40% sức mạnh. Tướng Sill bị giết. Các viên sĩ quan đều bị kiệt sức ngoại trừ sĩ quan phụ tá. Kết quả là ông trở thành người chỉ huy của đoàn. Ông có mặt khắp mọi nơi, tập hợp lại lực lượng, tổ chức lại các đơn vị, quyết tâm giữ vững trận địa. Lời động viên của Sheridan văng vẳng bèn tai ông. Sheridan cưỡi ngựa đến vào đêm hôm đó, ông đã vỗ vai cậu bé và nhoẻn miệng cười khi nhìn thấy đoàn thứ 24 đã ở trong chiến hào và nói: “Arthur, cậu bé của ta, giỏi lắm. Anh đã không để mất một tí đất nào”.

        Sau đợt bệnh thương hàn, viên sĩ quan phụ tá trẻ tuổi đã quay trở lại chiến đấu trong trận đánh đỉnh Missionary nổi tiếng. 46 ngàn quân phe Ly khai đã chiếm giữ đỉnh đồi vào tháng 9 đen tối năm 1863, trong khi gần 59 ngàn quân Liên hiệp do Tướng Ulysses Grant chỉ huy bị mất nguồn tiếp tế đang ở thung lũng bên dưới. Trung đoàn Wisconsin thứ 24 được lệnh phải chiếm vị trí đường rãnh ở chân một ngọn núi dốc có nhiều hốc đá, cao gần 300 mét. Khi nhiệm vụ khó khăn này được thực hiện thì làn lửa cháy rực ở phía bên trên, dường như không còn cách nào khác là phải rút lui.

        Tuy nhiên, dù không nhận được lệnh (có thể do hiểu sai hiệu lệnh của Tướng Sheridan) nhưng dưới sự chỉ huy của viên sĩ quan phụ tá 18 tuổi, dẫn đầu là trung sĩ và hai hạ sĩ, 18 ngàn quân đã leo lên phía trên bất chấp sự đe dọa tàn ác của quân thù. Grant nổi đóa với sĩ quan phụ tá của mình và hỏi ai đã ra lệnh cho quân lính thực hiện nhiệm vụ nguy hiểm đến như vậy.

        Không một ai biết Arthur đã leo lên phía kẻ thù cho đến khi ông cắm được cờ trên đỉnh đồi, trước khi quân đội Liên hiệp tấn công phe Ly khai để chiếm quả đồi.

        Các sĩ quan dồng nghiệp rất tín nhiệm ông. Tại núi Kennesaw, ông tham gia vào một nhiệm vụ nguy hiểm khác là chống lại việc đào hào của quân thù trên đồi, và đã bị bắn trúng tay và ngực. Tuy nhiên, rất may viên đạn không xuyên trúng tim nhờ cái ví da dày cộm. Khi hành quân qua Georgia, ông đã tham gia hơn 13 trận đánh trong thời gian hơn 4 tháng. Lúc này, ông đã được thăng chức đại tá, là một viên sĩ quan 19 tuổi trẻ nhất trong toàn quân đội Liên hiệp. Khi thử ra ứng cử trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 1864, ông bị cho là quá trẻ và toàn bộ trung đoàn đã từ chối bỏ phiếu.

        Vào tháng 11 năm 1864, ông lại lập công lớn trong trận chiến dữ dội, trận đánh ở Franklin. Khi Arthur và phụ tá đang ăn tối, phe Ly khai bất ngờ tấn công gần vị trí của họ tại trung tâm trọng yếu của quân Liên hiệp. Con ngựa của Arthur bị trúng đạn và ông bị thương ở vai và ngực.

        Sau khi chữa lành vết thương, Arthur đã đánh trả kẻ thù bằng một trận kinh khủng ở New Orleans, khi hai người phụ nữ cứ nhất định đòi gặp vị tướng mà ông vừa mới ghé thăm. Con trai ông đã kể lại như sau:

        Sự yên tĩnh của văn phòng dơ bẩn đã bị phá vỡ bởi giọng nói của người phụ nữ lớn tuổi hơn: “Tôi sẽ đến đó ngay lập tức. Chúng tôi phải tạm thời dùng các phương tiện giao thông để vận chuyển vải bông. Đất nước ông không muốn gây thù địch với người Anh để đưa miền Nam vào cuộc chiến và hãy tạm thời ngưng lại. Có thể ông sẽ không bằng lòng khi tôi sử dụng các toa xe lửa. Nhưng đổi lại, đây là 250.000 đôla. Và nếu ông cần thèm những vật đút lót khác”. Bà nói và nhoẻn miệng cười, “Người phụ nữ trẻ đẹp này sẽ thuộc về ông”. Họ cúi chào rồi bước ra và để lại trên bàn địa chỉ của người phụ nữ trẻ.

        Cha tôi nói hai đầu gối của ông va mạnh vào nhau, điều mà ông chưa bao giờ gặp trong trận chiến. Tuy nhiên, giọng của viên tướng rất rõ ràng khi ông trở lại và đọc cho viết những dòng chữ gửi đi như sau:

        “Kính gửi Tổng thống Mỹ:

        Tối vừa được tặng 250.000 đôla và một người phụ nữ đẹp nhất mà mình từng gặp. Tôi đang chuyển số tiền này vào Ngân khố của Mỹ và rất mong nhận được chỉ đạo của Ngài”.


        MacArthur lại tiếp tục hành trình để quay trở lại và dẫn dắt trung đoàn đến thắng lợi ở Milwaukee. Trung đoàn đã mất 2/3 sĩ quan và binh lính. Vào năm 1865, viên đại tá trẻ lại xuất ngũ để cố gắng theo học luật. Thế nhưng ông không thu xếp được, và trong vòng vài tháng lại tham gia vào quân đội chính quy, đầu tiên là làm một thiếu úy, sau đó nhanh chóng được thăng cấp lên trung úy và lên đại úy.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #6 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:42:46 PM »


        Ông được gửi đến một tiền đồn, vùng phía Tây hoang đã. Ông chiến đấu với người da đỏ tại Utah và Wyoming và vài lần bắt gặp Jesse James, Wild Bill Hickock và Buffalo Bill. Ông đứng gác tại tuyến đường sắt liên Thái Bình Dương vì nó di dời để nối với tuyến trung tâm Thái Bình Dương đến từ miền duyên hải phía Tây. ông đã chứng kiến đợt hạn hán lớn trong những năm 1870 khiến hàng ngàn người chăn bò phải vào trong núi tìm kế sinh nhãi.

        Năm 1874, ở vào tuổi 29, trong một lần đến thăm New Orleans, ông đã gặp ý trung nhân tại buổi khiêu vũ Mardi Gras. Mary Pinkney (Pinky) Harding chỉ mới 22 tuổi, cô có một vẻ đẹp đầy lôi cuốn. Cái miệng rộng xinh xắn, chiếc cằm gọn gàng là hai điểm nổi trội. Đôi mắt sắc sảo bên dưới cặp lông mày quyến rũ, chiếc mũi thanh tú nhô cao kiêu hãnh. Cô gái gốc người miền Nam, con gái của một nhà buôn vải giàu có người Virginia. Gia đình cô thuộc đòng dõi khác biệt hơn so với Arthur: Tổ tiên đến dịnh cư ở Jamestown, cùng nơi với Washington và Andrew Jackson, những người anh em của cô đều tham gia vào quân đội phe Ly khai dưới sự lãnh đạo của Tướng Robert Lee. Trong thời nội chiến, cô đã ở ngôi nhà mùa hè của gia dinh tại Nam Carolina.

        Người hùng chiến tranh Yankee bị chê là người phương Bắc giàu lên nhờ những nhà quý tộc miền Nam. Một năm sau, khi họ tổ chức lễ cưới tại biệt thự của gia đình cô, Riveredge, ở Norfolk, Virginia thì những người anh em không đến. Ba đứa trẻ lần lượt ra đời: Arthur III, Malcom và ngày 26-1-1880 là Douglas. Malcom chết vì bệnh sởi khi được 5 tuổi vào năm 1883.

        Những năm sau đó, đại úy MacArthur được lệnh hành quân gần 480km từ Fort Washington đến Fort Selden, 95km từ E1 Paso để tấn công những kẻ cướp Geronimo. Ký ức đầu tiên của cậu bé Douglas chính là những cuộc hành quân. Ba năm tiếp theo, với hai chàng trai nhỏ tuổi và cậu bạn của chúng, William Hughes, con trai trung úy đơn vị thứ nhất, tiền đồn gần như là sa mạc này là một thiên đường, nơi các cậu được hai sĩ quan và 46 quân nhân hết mực yêu thương.

        Khi Douglas lên 6 tuổi, gia đình dời đến nơi nhộn nhịp hơn ở Fort Leavenworth, Kansas. Cậu bé Douglas bây giờ đã đi học. Cha cậu, một đại tá thanh niên anh hùng giờ đã ở tuổi 41. Ông để bộ ria nhỏ, người mập mạp và đeo chiếc kính kẹp mũi khiến có vẻ bề ngoài giống như Tổng thống Theodore Roosevelt. Tinh thần còn rất minh mẫn, ông đọc những quyển sách lịch sử và các vấn đề về hiến pháp cũng như những tác phẩm kinh điển (ông đã để lại cho con trai 4000 quyển sách).

        Pinky, người vợ 34 tuổi của ông có bề ngoài ấn tượng so với các phụ nữ đương thời. Arthur, con trai cả của ông, dáng người cao và đẹp trai đã được 10 tuổi, trong khi cậu bé Douglas 7 tuổi vẫn còn mặc quần áo con gái như một thứ được xem là hợp thời trang trong nhiều gia đình thời bấy giờ. Cả hai đều là những đứa trẻ nhanh nhẹn.

        Vào năm 1889, cuối cùng Arthur MacArthur cũng được công nhận sau những giúp đỡ của cha: Ông được thăng cấp lên thiếu tá và được bổ nhiệm là sĩ quan quản trị cấp cao trong quân đội. Ông nhận được nhiều lời khen ngợi “Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là đại úy tiêu biểu nhất của quân đội Mỹ vì sự can đảm và sự chỉ đạo rất tốt trong chiến tranh”.

        Arthur phục vụ ở đó với nhiều ưu đãi đặc biệt. Ba năm sau, Arthur tham gia vào Viện Hàn lâm Quốc gia ở Annapolis. Một năm sau, thiếu tá được lệnh phải chỉ huy đơn vị đồn trú ở Fort Sam Houston, Texas và một điều đặc biệt là trường Douglas đang học ngay lập tức được chuyển thành Học viện Quân sự Tây Texas. Douglas cũng rất xuất sắc trong các môn thể thao ở trường, trở thành tiền vệ trong đội bóng và vô địch môn tennis của trường. Bốn năm sau, từ năm 13 đến năm 16 tuổi, “Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong đời tôi”, Douglas nhớ lại.

        Vào năm 1896, cha ông được lệnh đến St Paul, Minnesota để lãnh đạo Cục Dakotas. Douglas sống với mẹ tại khách sạn Plankinton House, hàng ngày đi xe ngựa đến trường cách đó 3km và chỉ gặp cha vào dịp cuối tuần. Dường như có một sợi dây liên kết không thể tách rời giữa bà mẹ đầy ý chí và cậu con trai. Đây chính là điều đã tạo nên tính cách đặc biệt cho Douglas khi bước vào tuổi trưởng thành.

        Đến kỳ thi vào trường West Point, người mẹ đã khuyên nhủ ông bằng sự ước ao xen lẫn ý chí quyết tâm: “Doug, con sẽ chiến thắng nếu không đánh mất ý chí. Con phải tự tin vào bản thân mình, hỡi con trai của mẹ. Hãy tự tin ngay cả khi không có mẹ, con sẽ biết làm thế nào là tốt nhất. Bây giờ, hãy đi đi”. Ông đã thành công mỳ mãn. Điểm của ông là 99,3 so với người xếp kế tiếp là 77,9.

        Douglas bị vẹo xương sống, điều này khiến ông có thể bị loại khỏi Học viện và đây là một trong số ít những điểm tương đồng giữa chàng MacArthur trẻ với vị Hoàng đế chưa ra đời của Nhật Bản. Với sự giúp đỡ của thầy thuốc địa phương, chàng trai trẻ MacArthur đã vượt qua được nhờ những bài tập thường xuyên và kỹ lưỡng. Cậu bé lớn lên trong bộ váy con gái và mái tóc dài cho đến năm 7 tuổi giờ đã thành một chàng thanh niên cao lớn, lực lưỡng. Gương mặt với đôi mắt u sầu, mơ màng thời bé giờ đã trở nên nhanh nhẹn, khỏe mạnh. Ông đã thừa hưởng những nét từ mẹ, chứ không phải từ cha: cái miệng rộng, chiếc mũi cao hơi khoằm, đôi mắt tinh anh bên dưới đôi lông mày rậm. Mái tóc đen, đôi mắt nhìn xa xăm, vẻ hài hước đã tạo cho ông một dáng vẻ bề ngoài hơi ngông nghênh và ông không gây ấn tượng với các cô gái vì tật hay xấu hổ. Thật ra, ông đã bị con gái của Thượng nghị sĩ John Lendrum Mitchell từ chối, ông đã viết một bài thơ buồn:

        Hỡi cô gái miền Tây xinh đẹp.
        Với sự quay cuồng của tình yêu và sự tự do.
        Chính em là người tôi thương nhớ.
        Nhưng vì sao em lại không yêu tôi?

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #7 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:44:06 PM »

   
Chương 2

WEST POINT

        Việc thi đỗ vào trường West Point đã đánh dấu một bước ngoặt đầu tiên trong cuộc đời Douglas. Sự kiện thứ hai xảy ra cùng tháng (tháng 6 năm 1898) cũng có tính chất quyết định cho niềm đam mê miền Viễn Đông của ông. Sau thành công thời trai trẻ và gặp thất bại khi trưởng thành, cuối cùng Arthur MacArthur đạt được những vị trí cao nhất trong quân đội Mỹ. Ở vào tuổi 53, bằng tuyên bô chiến tranh với Tây Ban Nha, đại tá MacArthur rất mong muốn được tham gia vào kế hoạch xâm chiếm Cuba. Nhưng thay vào đó, ông được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh lãnh đạo gần 5 ngàn quân tình nguyện làm mũi nhọn dẫn đầu cho 11 ngàn quân viễn chinh tinh nhuệ của tướng Wesley Merritt để giành lấy Philippines từ tay Tây Ban Nha.

        Điều này đã bắt đầu cho thời kỳ gần nửa thế kỷ gia đình ông sống gắn liền với các quần đảo. Con trai 18 tuổi đã rất cố gắng để được thu nhận vào đoàn quân đến Phillippines như cha cậu đã làm trong cuộc nội chiến, nhưng ông lại muốn con mình học ở West Point để trau dồi kiến thức và khả năng chiến đấu. Ảnh hưởng từ sự thăng tiến của cha thời tuổi trẻ chính là động lực để Douglas phấn đấu. Một chút kiêu ngạo, hơi tách biệt, luôn mơ về sự vĩ đại, rất dễ bị tổn thương, hay trầm ngâm và kiên quyết, dường như đó là tính cách thực sự dễ nhận ra của gia đình ông.

        Khi Arthur ra đi nhận nhiệm vụ mới, Pinky tiếp tục ở nhà chăm sóc Douglas. Một năm sau, vào tháng 6 năm 1899, hai mẹ con đã đến Học viện Quân đội Mỹ tại West Point nằm trong những ngọn đồi cây cối rậm rạp, tại đây có thể nhìn thấy dòng sông Hudson. Xa hơn một chút là khách sạn Craney, bà Arthur quyết định ở lại đây để được gần con.

        Bây giờ Douglas mới thực sự trải qua những thử thách đầu tiên của cuộc đời. Là người mới đến nên trong vài tuần đầu, ông bị đưa vào khu doanh trại “Dành cho súc vật” và thường bị bắt nạt. Những học viên lớn tuổi hơn buộc ông phải kể đi kể lại những chiến công của cha ông trong cuộc nội chiến; ông bị bắt đứng yên trong một giờ, bị buộc phải giơ đầu gối qua những mảnh kính vỡ có thể gây thương tích bất kỳ lúc nào nếu ông cảm thấy mệt. Sau này, ở trong lều, theo một số người kể lại, ông bị hoảng loạn và hai chân co giật trên sàn nhà, nhưng ông vẫn nhất định không nói gì mặc dù những người bạn thân cùng lớp biết rõ điều ấy. Ông cũng trải qua những cuộc rèn luyện truyền thống, chẳng hạn như lao vào hơi nước nóng, chạy giữa hai hàng người dội nước lạnh vào hay trần như nhộng lăn trên tấm ván gỗ gồ ghề.

        Một người bạn cùng khóa đã chết vì những nghi thức nhập môn này, và một cuộc thẩm tra đã được tiến hành. Douglas được gọi lên để làm chứng. Điều này đã đẩy ông vào một tình thế khó xử khi phải chọn giữa hai nguyên tắc của mẹ ông, “Không bao giờ nói dối, không bao giờ ba hoa”. Sau này, MacArthur đã kể lại câu chuyện:

        Khi được hỏi, tôi đã giải thích đầy đủ tất cả các sự việc, nhưng từ chối để lộ ra tên những người lớp trên có liên quan. Cha mẹ tôi đã dạy hai nguyền tắc bất di bất dịch: không bao giờ nói dối, không bao giờ ba hoa. Tuy nhiên lúc đó tôi thật liều mạng. Nếu tòa yèu cầu tiết lộ ra những cái tên đó và tôi từ chối chấp hành mệnh lệnh, rất có thể sẽ bị buộc thôi học và mọi giấc mơ, hy vọng của mình sẽ tan biến hết. Thật ra quá dễ và hợp lý để nói tất cả và ai dám khiển trách tôi?

        Mặc dù hơn sáu mươi năm đã trôi qua kể từ ngày đó, nhưng tôi vẫn còn cảm nhận được những dòng mồ hôi tuôn ra trên trán, vẫn cảm nhận được đôi chân run và sự kinh tởm khủng khiếp mà tôi đã một lần cảm thấy trước khi đối mặt với sự thẩm tra tại hội trường thành phố ở Milwaukee. Tôi đã cố gắng hết sức né tránh các câu hỏi nhưng vẫn không thoát khỏi những cái đầu khôn ngoan đang ngồi ở vị trí xét xử. Mệnh lệnh ngắn, kiên quyết và dứt khoát được đưa ra, cuối cùng tôi cảm thấy mệt vi bào chữa cho lòng nhân từ của mình: Rằng ước mơ cả đời của tôi là được trở thành sĩ quan; rằng tôi chấp nhận mọi hình phạt nhưng đừng buộc tôi phải thôi học. Và sau đó tôi không nói nữa, nghe người lính già ở vị trí chủ tọa nói: “Phiên tòa tạm ngưng. Hãy đưa anh ta về doanh trại”.

        Khi được Nghị sĩ Edmund H. Driggs của New York hỏi, ông đã thể hiện sự trưởng thành đặc biệt, tư thế đĩnh đạc và khả năng lảng tránh khi mới ỏ tuổi 20:

        DRIGGS: Anh có nghĩ rằng khi anh đến West Point sẽ bị đối xử như thế này không?

        MAC ARTHUR: Không, thưa ngài!

        DRIGGS: Vào lúc đó, anh không cho rằng nó thật tàn bạo sao?

        MACARTHUR: Có lẽ tôi hơi ngạc nhiên về sự đánh giá này!

        DRIGGS: Tôi mong anh có thể trả lời câu hỏi của tôi; anh có cho rằng điều đó là tàn bạo không?

        MACARTHUR: Tôi muốn ngài phải xác định sự tàn bạo!

        DRIGGS: Được thôi! Sẵn sàng chịu đựng sự đau đớn, thờ ơ với sự hiện diện của đau đớn, lòng can đảm, chịu đựng vết thương về tinh thần hay thể xác, gây ra sự đau đớn.

        MACARTHUR: Có lẽ tôi nên nói đó là sự tàn bạo.

        DRIGGS: Anh đã làm nhẹ bớt câu trả lời của mình. Có hay không có sự tàn bạo?

        MACARTHUR: Vâng, thưa ngài!
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #8 vào lúc: 03 Tháng Mười, 2019, 05:45:41 PM »


        Tuy nhiên, khi tòa tạm ngưng, ông đã nhận được lời chỉ bảo từ mẹ:

        Con có biết rằng tâm hồn con là một phần trong tâm hồn của mẹ.
        Rằng con là thớ và lõi trong tim mẹ không?
        Không ai có thể làm mẹ đau đớn bằng con.
        Không ai có thể khiến mẹ vui lòng hay tôn thờ mẹ như con.
        Hãy nhớ rằng thế giới này luôn tồn tại những lời khiển trách.
        Nếu bóng tối hay sự e thẹn che khuất bản thân con.
        Giống như mẹ, giống như con trai, đang nói sự thật.
        Thế giới này sẽ phán xét mẹ thay cho con.
        Hãy thực hiện nhiệm vụ của mình, nếu như phải làm như vậy.
        Để buộc thế giới này phải kính trọng con.
        Hãy chắc chắn những gì sẽ nói, khi lời phán quyết rằng con đã thắng.
        Mẹ sẽ thu về hạt đã gieo: “Chàng trai ấy chính là con tôi”.


        Sau này, MacArthur xác nhận ông không bao giờ tiết lộ tên những người đã hành hạ mình: Thật ra ông đã nêu tên của những người đã tốt nghiệp hoặc đã thú tội. Đây là một sự thỏa hiệp tinh ranh, thể hiện tính cách của người thực dụng khôn ngoan đằng sau vẻ bề ngoài cứng cỏi. Không ai có thể chỉ trích ông vì tội không ngay thẳng, tuy nhiên ông đã đạt được sự thán phục của bạn bè đồng trang lứa.

        Sự việc xảy ra không chỉ chứng minh sự tính toán nhanh nhẹn cùng khả năng bẻ cong sự thật khi ông muốn mà còn thể hiện sự dũng cảm. Giống như cha ông trong trận chiến đỉnh Missionary, nó thể hiện tính cách không chịu phục tùng. MacArthur không bao giờ tuân lệnh một cách mù quáng, ông luôn xem xét mệnh lệnh và sau đó tự mình đánh giá.

        Sau kinh nghiệm đầu tiên, Douglas đã bước vào tuổi trưởng thành đầy hứa hẹn. 1,8 mét là chiều cao thuộc hàng trên trung bình thời bấy giờ; cân nặng 60kg, dáng người mảnh khảnh, khỏe mạnh. Những người bạn cùng khóa mô tả ông “Đó là học viên đẹp trai nhất từng theo học tại Học viện, cao 1,8 mét, với thân hình cân đối và đôi mắt nâu”, “Một học viên West Point tiêu biểu với làn da hồng hào, khỏe mạnh”, “Gan dạ như sư tử, tinh ranh như quỷ”. Ít tâng bốc hơn, ông “có lẽ kiêu căng từ thuở lên 8”.

        Ông cũng rất chăm chỉ, thỉnh thoảng làm việc cả đêm, che kín cửa sổ và học cho đến sáng. Ông thường tự hỏi, liệu mình có thể trở nên vĩ đại như cha không, người mà ông luôn yêu thương và hãnh diện.

        Trong vòng một năm, khi có được sự tự tin ở West Point, rõ ràng ông được sinh ra để làm người lãnh đạo và ông rất ý thức về điều này cũng như trở nên hơi tự phụ trong mắt các bạn cùng lớp. Ông thể hiện năng lực, trí thông minh cũng như thiên hướng làm việc chăm chỉ. Ổng đã bị khiển trách vì “Vung tay quá nhiều và bước lên trước khi diễu hành”, tuy nhiên, trang phục thì không chê vào đâu được, “Như người mẫu trong tủ kính, với chiếc khăn quàng đỏ và chiếc quần được ủi ly thật sắc”. Mặc dù là vận động viên bóng rổ bình thường và chỉ quản lý đội bóng, nhưng ông rất giỏi dẫn và ném bóng.

        Ông tốt nghiệp với số điểm 98%, đứng dầu trong số 94 học viên của lớp. Đây là sô điểm cao nhất tại trường West Point sau trường hợp Tướng Robert E. Lee. Ông này đã đạt 100% trong môn luật, lịch sử và tiếng Anh. Sau khi phục vụ như một hạ sĩ trong năm đầu tiên, đến trung sĩ thứ nhất trong năm thứ hai và ông ra trường với hàm đại úy thứ nhất như tướng Lee. ông được bầu chọn là học viên xuất sắc nhất.

        MacArthur cũng không hẳn là người hiền lành. Ông được nhắc đến bởi hai trò đùa tinh nghịch với khẩu súng đánh thức. Một lần ông đưa nó lên nóc nhà của Học viện West Point và lần khác là chuyển nó đến cửa trước của phòng giám thị. MacArthur đã nhớ lại kí ức về những hoạt động ngoại khóa thật chi tiết:

        Một khoảnh khắc kinh hoàng khi viên sĩ quan chiến thuật bắt gặp tôi đang hôn một cô gái công khai trên phố Flirtation, và thay vì đánh giá cách cư xử của tôi không thích hợp, họ lại cười và nói, “Xin chúc mừng, MacArthur!”.

        Ngày tôi đến xem đua ngựa ở New York cùng các bạn chung phòng là Charles Severson và Laurson ngớ ngẩn, học viên đại úy của đơn vị E. Chúng tôi đi nghênh ngang vào quán Rector ở Broadway, bắt tay với “Diamond Jim” Brady và gọi chín ly rượu martini. Người phục vụ sửng sốt hỏi “Sáu người khác ở đâu?” và chỉ vào 6 chiếc ly, “Rượu mạnh ở đằng kia”. Sau đó chúng tôi ra ngoài đi xem vở hài kịch. Chúng tôi thích chúng!

        Ngày hôm đó, trong lớp, tiết đầu tiễn chúng tôi được học về mối quan hệ giữa không gian - thời gian của Einstein trong Thuyết tương đối của ông. Bài giảng rất phức tạp và khó hiểu, tôi lật từng trang để nhớ. Khi được gọi lên trả bài, tôi đã đọc lưu loát những gì quyển sách viết. Người hướng dẫn của chúng tôi, đại tá Feiberger, nhìn tôi và hỏi, “Em có hiểu học thuyết này không?”. Đó là thời điểm tồi tệ đối với tôi, tuy nhiên tôi đã không ngần ngại trả lời, “Không, thưa thầy”. Tôi cố đứng vững và chờ đợi. Cuối cùng thầy củng chậm rãi nói: “Tôi cũng không hiểu, em MacArthur. Tiết học dừng tại đây”. Cuối cùng, tôi vẫn không hiểu học thuyết.

        Trong thời gian học tại West Point, ông quen 8 người bạn gái. Tuy nhiên, mẹ ông đã gặp từng người và làm họ tiêu tan hy vọng bằng cách nói rằng ông muốn tập trung vào sự nghiệp. Hầu hết các buổi tối, ông đều gặp mẹ để cùng bà đi dạo hay uống trà.

        Về điểm này có thể chưa rõ ràng, với sự giáo dục ở những đồn trú xa xôi, cuộc sống gần như khép kín tại West Point, liệu ông có thể vạch ra trước được bất cứ thứ gì khác hơn là hình ảnh của một người lính. Ông không hề có sự nhiệt tình và trí tưởng tượng trong các lĩnh vực khác.

        Tuy vậy, tính chất gay go và phân biệt trong cuộc sống ở West Point dường như đã đưa người ta tách ra khỏi hành trình thông thường của cuộc sống thường dân. Như Winston Churchill đã quan sát khi đến thăm West Point, các học viên ít tự do hơn bất kỳ ngôi trường công lập nào trong nước. MacArthur đã thành công rực rỡ khi bước ra từ tu viện quân sự để vào thế giới mà ông thực sự biết rất ít về nó. Khi ông tốt nghiệp, những lời của Ngoại trưởng Elihu Root vang bên tai ông: “Theo tất cả những sự kiện trong lịch sử của chúng ta, trước khi rời học viện, anh sẽ đối mặt với chiến tranh. Nó chắc chắn xảy ra và sẽ xảy ra. Hãy chuẩn bị cho cuộc chiến đó!”.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21990


« Trả lời #9 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2019, 11:07:19 PM »


PHẦN II

BÌNH MINH CỦA XỨ SỞ MẶT TRỜI MỌC


Chương 3

THỜI HEIAN

        Đúng lúc MacArthur bước vào tuổi trưởng thành và vẫn đang học năm đầu tiên tại West Point, vào ngày 29-4- 1901, cậu bé Michinomiya được sinh ra trong nhung gấm vàng son khác hẳn với tiền đồn mộc mạc nơi Douglas chào đời 21 năm về trước. Sau này, cậu được biết đến với tên gọi Hirohito, và sau đó là Showa.

        Tháng 11 năm 1867, khi Arthur MacArthur thích nghi với cuộc sống sau khi kết thúc cuộc nội chiến Mỹ, một bước ngoặt xảy ra được xem như điểm mở đầu của lịch sử hiện đại Nhật Bản. Sự kiện này có ý nghĩa với Nhật Bản giống như người Anh và cuộc nội chiến Mỹ, người Pháp và cuộc cách mạng Nga hay sự thống nhất của Đức và Italia. Đó chính là sự phế bỏ 250 năm chế độ độc tài quân sự ở Nhật Bản, thời Tướng quân Tokugawa, và việc phục hồi lại quyền lực chính thức cho Nhật Hoàng. Đây được xem là thời điểm mà chế độ phong kiến nhường chỗ cho một Nhật Bản hiện đại.

        Đó không phải là cuộc cách mạng do tầng lớp trung lưu tiến hành mà chỉ là sự chuyển giao quyền lực cho tầng lớp lỗi thời nhất tại Nhật Bản. Tầng lớp Samurai trở nên dư thừa và bị chà đạp. Có vẻ như đây là cuộc cách mạng có tính chất quý tộc. Trong một đất nước được đại diện bởi tầng lớp có ruộng đất theo truyền thống thì Samurai ít quý tộc hơn những giai cấp có đặc quyền, thể hiện qua địa vị lâu đời và những quyền lợi đặc biệt.

        Sự việc tầng lớp hơi hào hiệp này đứng sau sự chuyển đổi của Nhật Bản thành một quốc gia hiện đại đã cho thấy một hướng đi khác thường trong sự phát triển của đất nước Nhật Bản trong thế kỷ này. Nó hơi khác so với tầng lớp địa chủ ở Anh, quý tộc của miền Nam ly khai ở Mỹ, hay tầng lớp quý tộc nhỏ sở hữu ruộng đất ở Nga đã giơ cao khẩu hiệu của cuộc cách mạng xã hội và hiện đại hóa. Để hiểu cách thức tầng lớp lỗi thời nhất của Nhật Bản thâu tóm quyền lực vào năm 1867, thì việc tìm hiểu sơ bộ về xã hội Nhật Bản ngay từ buổi đầu hình thành là rất cần thiết.

        Sau đây là truyền thuyết về sự hình thành đất Nhật Bản. Hãy bắt đầu từ cõi Trời, nơi cư ngụ của các vị thần, trong số họ có Izanagi và Izanami. Hai người đã sinh ra quần đảo Nhật Bản. Izanami đã chết, trong khi Izanagi đang rửa mắt, mũi và sinh ra ba người con là các vị thần Mặt trời, Mặt trăng và Bão tố. Nữ thần Mặt trời là Amaterasu Omikami được trao quyền cai quản cõi Trời. Em trai bà Susanowo-no-Mikoto đã rất tức giận, ông cũng thèm khát chị gái của mình và đã bị ném ra khỏi phòng chị khi tiến lại gần.

        Ông trả thù bằng cách ném phân vào phòng ăn nơi Nữ thần đang tổ chức buổi tiệc mừng cho những thành quả đầu tiên. Ông đã phá hủy dải phân cách của các cánh đồng lúa và cuối cùng là ném một con ngựa thối rữa mà ông đã lột da vào phòng của Nữ thần qua lỗ hổng trên mái nhà. Amaterasu bay vào trong hang và thế giới chìm vào bóng đêm.

         Các vị thần thất kinh đã tập trung bên ngoài hang và dựng một cái cây thiêng. Trên đó họ treo một viên đá quý ở nhánh trên và một cái gương ở nhánh giữa. Sau đó, họ đã mời Ama-no-Uzume, nữ thần báo thức thiên đình, đến để nhảy một vũ điệu hoang dại. Kojiki, người ghi chép các sự kiện vào thời đó, kể lại:

        Nữ thần báo thức thiên đình oai phong, đang treo cây thạch tùng của núi Kagu để đội lên đầu và kết những chiếc lá tre thành chùm cầm trong tay, đặt một chiếc chậu trước của hang và dậm chân cho đến khi nó cất lên tiếng vang. Sau đó trời rung lên và tám trăm vị thần cùng cười.

        Amaterasu nghe thấy sự rung chuyển, nhẹ nhàng ra miệng hang. Bỗng nhiên bà bắt gặp sự phản chiếu của gương. Lo sợ rằng mình đã bị thay thế bởi một sắc đẹp rạng ngời khác, thế là bà ra khỏi hang. Tại đây các vị thần đã giữ bà lại và cuối cùng nữ thần đã quay lại chiếu sáng cho thiên đình. Susanowo bị đuổi ra khỏi thiên đình và bị đày đến vùng đất của bóng đêm, ở đó, ông đã giết chết quái vật và tìm thấy thanh gươm.

        Để giữ cho ý niệm của Nhật Bản rằng không có gì là tốt hay xấu, vị thần hung ác Susanowo vẫn được tôn thờ. Cháu trai bốn đời của Amaterasu trở thành Hoàng đế đầu tiên của Nhật Bản sau khi trận chiến ác liệt kết thúc bằng việc ông cho xây dựng kinh đô ở Yamato, phía nam Kyoto vào năm 660 trước Công nguyên. Vì vậy Nhật Bản được hình thành bởi người thống trị có nguồn gốc từ các vị thần và cứ như thế được truyền từ đời này sang đời khác thành một sự kế vị liên tục để cai trị Nhật Bản cho đến ngày hôm nay. Thần dân là con cháu của thần Susanono. Điều này đã đặt người Nhật lên trên tất cả các chủng tộc khác vì có nguồn gốc trực tiếp từ các vị thần. Đó chính là thần thoại về sự hình thành Nhật Bản.

         Nhật Bản, một nhóm các hòn đảo lớn nằm ngoài bờ biển của châu Á thường xuyên hứng chịu các trận động đất và núi lửa phun trào. Những người đi khai hoang từ lục địa châu Á đã đến đây, có thể là người Triều Tiên, họ đã thay thế người Ainu bản địa. Trong hàng thế kỷ, dân số đã sinh sôi nảy nở trên vùng đất này. Việc thống nhất cả quốc gia cho thấy sự khó khăn trong việc cáng đáng các vùng đất xa xôi, nên các địa phương dựa trên cấu trúc xã hội đã tồn tại: Những lãnh chúa thời xưa thống trị tầng lớp nông dân khốn khổ và cơ cực.
Logged

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM