Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Hai, 2020, 11:02:44 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức Tây Nguyên - Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp  (Đọc 3625 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #80 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:33:46 AM »

VI

BƯỚC NGOẶT QUYẾT ĐỊNH

Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược Xuân Hè năm 1971 của quân và dân ba nước Đông Dương làm cho cục diện chiến tranh đã thay đổi quan trọng. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ bị thất bại nặng nề. Mỹ - ngụy buộc phải chuyển hẳn vào thế phòng ngự chiến lược. Quân ngụy Sài Gòn tuy còn trên một triệu quân, được Mỹ trang bị thêm nhiều súng đạn và phương tiện kỹ thuật chiến tranh, nhưng sức chiến đấu đã bị sa sút nặng. Việc bổ sung quân gặp nhiều khó khăn. Sau đợt rút quân tháng 3 năm 1972, quân viễn chinh Mỹ còn khoảng 9,5 vạn tên, nhưng trên thực tế đã chấm dứt hoạt động chiến đấu bằng bộ binh trên chiến trường. Nếu so sánh cục diện chiến tranh, rõ ràng: Ta đang ở thế thắng, thế đi lên! Mỹ - ngụy đang ở thế thua, thế đi xuống! Nhưng với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, với tiềm lực chiến tranh lớn họ vẫn tiếp tục thực hiện những âm mưu và hoạt động chiến tranh phiêu lưu nhằm chống lại nhân dân ba nước Đông Dương, thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần số quân Mỹ còn lại, tạo điều kiện để mặc cả với ta trên thế mạnh ở Hội nghị Pa-ri, đồng thời xoa dịu phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam của nhân dân Mỹ, mở đường cho Ních-Xơn tái cử tổng thống trong cuộc bâu cử vào cuối năm 1972.

Tháng 8 năm 1971, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã họp, ra nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng chiến lược Đông Nam Bộ, Trị Thiên và Tây Nguyên nhằm đẩy mạnh đánh phá “bình định” của địch ở nông thôn, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị, phát huy thế chủ động chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam tạo ra một bước chuyển biến cơ bản, tiến lên thay đổi cục diện chiến tranh. Chiến trường miền Đông Nam Bộ được chọn là hướng tiến công chủ yếu vì đánh vào đây sẽ có tác động lung lay mạnh đến Sài Gòn. Nhưng thông qua diễn biến trên chiến trường, nhất là việc chuẩn bị vật chất cho miền Đông Nam Bộ tuy có nỗ lực lớn song vẫn chưa bảo đảm được yêu cầu, vì vậy đến đầu tháng 1 năm 1972 Quân ủy Trung ương quyết định thay đổi hướng tiến công chiến lược chính là Trị Thiên. Hai chiến trường miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên chuyển thành hướng tiến công chiến lược phối hợp quan trọng. Theo tôi, việc thay đổi hướng tiến công chiến lược như vậy là một quyết định đúng đắn, sáng tạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; bởi vì chiến trường Trị Thiên tiếp giáp với miền Bắc - hậu phương chiến lược của cả nước, chẳng những có điều kiện tập trung lực lượng, bảo đảm vật chất cho một chiến dịch quy mô dài ngày, mà còn có thể phát huy cao độ những yếu tố thuận lợi giành thắng lợi lớn hơn, hoặc khi tình huống khó khăn có thể xử lý kịp thời.

Từ xác định nhiệm vụ chiến lược trên toàn Miền, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho chiến trường Tây Nguyên: Với lực lượng bản thân, cùng lực lượng và binh khí kỹ thuật tăng cường, tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực quân đoàn 2 và tổng dự bị ngụy, giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, sau đó giải phóng thị xã Kon Tum, có điều kiện thì phát triển xuống Plây Cu, mở rộng vùng căn cứ tây Gia Lai và Đắc Lắc để hình thành một vùng căn cứ địa hoàn chỉnh nối liền với căn cứ miền Đông Nam Bộ.

Căn cứ nhiệm vụ trên giao cuối tháng 10 năm 1971, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên chúng tôi họp bàn triển khai thực hiện. Với nhiệm vụ quân sự to lớn có ý nghĩa chiến lược chưa từng có trên chiến trường Tây Nguyên, các anh đảng ủy viên mặt trận đều phấn khởi, tự hào về sự trưởng thành lớn mạnh của lực lượng vù trang toàn Miền nói chung và chiến trường Tây Nguyên nói riêng. Mở đầu cuộc họp anh Hoàng Minh Thảo - Tư lệnh một trận trình bày tình hình địch, ta trước khi bước vào chiến dịch Xuân Hè năm 1972, anh nói:

- Xuất phát từ ý đồ chiến lược Tây Nguyên là khu vực quan trọng trong hệ thông phòng ngự chiến lược cua đích, nên mặc dù trong năm 1971 nhiều vị trí phòng ngự trên cao nguyên của vùng 2 chiến thuật bị ta đánh đi đánh lại nhiều lần, nhưng chúng vẫn ngoan cố phản kích chiếm lại, không chịu bỏ mất một mắt xích nào; bước vào năm 1972, Mỹ - Thiệu phán đoán rằng ta sẽ mở chiến dịch lớn ở Tây Nguyên nên ra sức đề phòng. Chúng dùng B52 đánh phá tập trung vào các tuyến đường vận chuyển, các khu vực kho tàng của ta. Chúng tập trung lực lượng vùng 2 chiến thuật gồm sư đoàn 22, sư đoàn 23, hai liên đoàn biệt động quân số 2 và số 6, sư đoàn dù (thiếu) - lực lượng tổng dự bị chiến lược, tất cả gồm 44 tiểu đoàn bộ binh, về binh chủng, có 10 chi đoàn thiết giáp của 4 quân đoàn (3, 8,14,19), 7 tiểu đoàn pháo binh khoảng 160 khẩu từ 105 đến 175 ly. Khi tác chiến chúng được sư đoàn không quân 6 và các đơn vị không quân khác với khoảng 214 máy bay các loại chi viện. Ngoài ra địch còn có 14 tiểu đoàn và 14 liên đội bảo an. Tổng số quân địch tập trung ở khu vực chủ yếu của chiến dịch là 27 nghìn quân chủ lực và hàng chục nghìn quân địa phương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #81 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:36:01 AM »

Để ngăn chặn chiến dịch tiến công của ta, những người chỉ huy quân đội Mỹ - ngụy ở Sài Gòn và vùng 2 chiến thuật đã thực hiện biện pháp: Tăng cường các tuyến phòng ngự cơ bản ở khu vực bắc Kon Tum, trên đường 14 và đường 18. Đặc biệt ở Đắc Tô - Tân Cảnh địch hình thành một cụm phòng ngự dày đặc gồm có sư đoàn 22 (thiếu), trung đoàn thiết giáp 14, hai tiểu đoàn biệt động biên phòng. Đồng thời địch hình thành tuyến ngăn chặn ở tây sông Pô Cô từ Ngọc Bờ Biêng đến Chư Gô Tông do lữ đoàn dù 2 đảm nhiệm để án ngữ, bảo vệ đường 14 và thị xã Kon Tum. Dùng sư đoàn 23 và 2 liên đoàn biệt động quân làm lực lượng dự bị bố trí ở Plây Cu và Buôn Ma Thuột. Những người chỉ huy quân đội Mỹ là những người biết nghiên cứu và rút kinh nghiệm nhanh. Họ rất chú trọng nghiên cứu từng đơn vị, từng trận đánh và thậm chí từng người chỉ huy của ta. Do vậy, mưu kế lừa địch phải coi là một nghệ thuật, nói đúng hơn đó là sự nhận thức quy luật chiến dịch và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể và tình huống cụ thể.

Về lực lượng ta, sau khi Bộ điều trung đoàn 24A vào miền Đông Nam Bộ, ở Tây Nguyên chỉ còn lại các trung đoàn 28, 66, 95 và trung đoàn 40 cùng một số đơn vị binh chủng kỹ thuật. Bộ Tổng tư lệnh bổ sung cho Tây Nguyên sư đoàn 320A(1), trung đoàn 24B, trung đoàn công binh 7, trung đoàn pháo binh 675, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly, tiểu đoàn xe tăng T54, 1 đại đội tên lửa chiến thuật B72, 1 đại đội pháo cao xạ tự hành 57 ly, 1 tiểu đoàn ô tô vận tải, 1 tiểu đoàn thông tin. Như vậy, bước vào chiến dịch Xuân Hè năm 1972 khối chủ lực Tây Nguyên đã có bước phát triển nhảy vọt cả về chất lượng và số lượng.

Sau khi trình bày nhiệm vụ trên giao cho Mặt trận Tây Nguyên là phải tiêu diệt từ 10 đến 15 tiểu đoàn bộ binh địch, trong đó có từ 2 đến 3 chiến đoàn, trung đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu 1 sư đoàn của quân đoàn 2 và một số lữ đoàn thuộc lực lượng dự bị, giải phóng toàn bộ tỉnh Kon Tum, bao vây thị xã Plây Cu và Buôn Ma Thuột, giải phóng phần lớn nông thôn Tây Nguyên, thu hút và kiềm chế, giam chân một lực lượng quân chủ lực ngụy, phối hợp chặt chẽ với Khu 5 và toàn Miền, anh Hoàng Minh Thảo nói tiếp:

- Căn cứ so sánh tương quan lực lượng giữa địch và ta, căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, hướng chủ yếu của chiến dịch là Đắc Tô - Cảnh, các hướng phối hợp là Gia Lai và Đắc Lắc. Dự kiến tiến trình chiến dịch gồm 3 bước:

Bước một: Tập trung lực lượng bao vây và tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn phòng ngự của sư đoàn 22 và các lực lượng tăng cường ở Đắc Tô - Tân Cảnh, đồng thời tiêu diệt quân dù trên dải ngăn chặn ở tây sông Pô Cô.

Bước hai: Đánh chiếm thị xã Kon Tum.

Bước ba: Bao vây Plây Cu và Buôn Ma Thuột, giải phóng nông thôn, khi có điều kiện thì tiến lên giải phóng hai thị xã trên.

Kết luận hội nghị, anh Trần Thế Môn, Chính ủy, Bí thư Đảng ùy Mặt trận Tây Nguyên nhấn mạnh: Động viên toàn đảng bộ toàn thể lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên cùng nhân dân và cấp ủy địa phương nắm vững thời cơ mới, phát huy thế thắng, thế mạnh, thế chủ động tiến công trên cơ sở kiên trì đánh lâu dài mà nỗ lực vượt bậc, đẩy mạnh tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng, kiên quyết đánh bại hoàn toàn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giải phóng toàn bộ nông thôn và 1 đến 2 thị xã, tiến lên giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, làm thay đổi cục diện chiến tranh, buộc đế quốc Mỹ phải chịu thua và chấm dứt chiến tranh, chấp nhận một giải pháp chính trị theo điều kiện của ta.

Nhằm thực hiện thắng lợi quyết tâm chiến dịch và để tiện việc chỉ huy, tháng 2 năm 1972 Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thành lập Sở chỉ huy tiền phương của Mặt trận đứng chân ở phía đông Đắc Tô - Tân Cảnh, gọi tắt là Mặt trận Cánh Đông, mang mật danh Thăng Long. Mặt trận Cánh Đông, do anh Nguyễn Mạnh Quân - Phó tư lệnh Mặt trận - Tư lệnh; tôi (Đặng Vũ Hiệp) - Phó chính ủy Mặt trận - Chính ủy; anh Hồ Đệ - Phó tư lệnh; anh Lã Ngọc Châu - Phó chính ủy. Một bộ phận các ngành của cơ quan mặt trận được tổ chức thành các phòng tham mưu, chính trị, hậu cần do anh Trần Quốc Biên - Tham mưu trưởng; anh Nguyễn Hữu Hưu - Chủ nhiệm chính trị; anh Đặng Văn Khoát - Chủ nhiệm hậu cần.

Lực lượng trên Mặt trận Cánh Đông gồm các trung đoàn cũ của Tây Nguyên: trung đoàn 28 do anh Nguyễn Quốc Thước - trung đoàn trường, anh Nguyên Bàng - chính ủy; trung đoàn 66 do anh Phùng Bá Thưởng - trung đoàn trưởng, anh Lưu Quý Ngũ - chính ủy; trung đoàn 95 do anh Huỳnh Nghĩ : trung đoàn trưởng, anh Lê Quang Mỹ - chính ủy; trung đoàn 24 do anh Hoàng Minh - trung đoàn trường, anh Nguyễn Quang Thoan - chính ủy. Bước vào chiến dịch, Bộ tăng cường thêm Sư đoàn 2 (thiếu) do anh Nguyễn Chơn làm sư đoàn trưởng, anh Lê Đình Yên làm chính ủy.


(1) Sư đoàn 320A đến Tây Nguyên ngày 28 tháng 1 năm 1972, do anh Nguyễn Kim Tuấn, sư đoàn trưởng, anh Phí Triệu Hàm. chính ủy sư đoàn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #82 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:38:20 AM »

Cuộc tiến công quy mô lớn có ý nghĩa lược đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên đặt ra cho Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận nhiều vấn đề phải giải quyết. Nhiệm vụ chiến dịch là tiến công vào tuyến phòng ngự của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng quân sự của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân. Muốn giải phóng được đất đai, vấn đề quan trọng là phải tiêu diệt được sinh lực địch. Trong nhiều năm qua bộ đội Tây Nguyên rất có kinh nghiệm lừa nhử địch ra ngoài công sự để tiêu diệt. Tình hình thực tế ở chiến trường trong năm qua cho thấy địch không còn khả năng chống chọi với ta ở bên ngoài, nhưng chúng cũng chưa chịu để mất một điểm nào trong tuyến phòng ngự. Chúng còn dựa được vào quân đông, hỏa lực nhiều, phương tiện cơ động nhanh nên chưa phải đã hoàn toàn cố thủ. Do vậy Bộ tư lệnh Mặt trận đề ra cách đánh chiến dịch là “vây hãm diệt sinh lực kết hợp với đột phá”. Trước tiên ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng của địch ở vòng ngoài, vây hãm những khu trung tâm phòng ngự làm cho lực lượng chiến dịch của địch suy yếu, sứt mẻ. Tiếp đó ta siết chặt, vây hãm làm cho địch trong công sự hoang mang, lúc đó mới tiến hành đột phá. Làm như vậy sẽ tạo được thời cơ, tạo được điều kiện để đột phá nhanh chóng và chắc thắng.

Từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 2 năm 1972, Đảng ủy Mặt trận Cánh Đông tiến hành hội nghị quán triệt nhiệm vụ và thông qua kế hoạch tác chiến. Hội nghị tập trung thảo luận tình hình nhiệm vụ mới của Tây Nguyên, đặc biệt là nhiệm vụ của Mặt trận Cánh Sông. Đảng ủy phân tích sâu sắc những vấn đề về phương án tác  chiến, nhất là công tác bảo đảm hậu cân. Do tinh hình gạo, đạn gặp khó khăn có ý kiến cho ràng “chỉ đánh quận lỵ Đắc Tô, khi có điều kiện mới đánh Tân Cảnh". Đảng ủy đã kiên quyết bác bỏ ý kiến này và hạ quyết tâm khắc phục mọi khó khăn tiêu diệt cho được căn cứ Tân Cảnh.

Quyết tâm là vậy, ngày nổ súng đã tới gần nhưng đường sá mở chưa xong, địch đánh phá ngày càng ác liệt, sức vận chuyên bị hạn chế rất nhiều. Theo số liệu còn lưu lại trong cuốn sổ công tác số 26 của tôi, tính đến ngày 7 tháng 4 năm 1972, Bộ mới giao cho Tây Nguyên 25% kế hoạch, trong đó gạo dự trữ cho chiến dịch chỉ được 35%. Mặt hàng lại không đáp ứng yêu cầu, không đồng bộ, một số còn để cách đến 100km (binh trạm 37). Để giải quyết tình trạng trên, một mặt chúng tôi huy động bộ đội tự vận chuyển lương thực, đạn dược, mặt khác yêu cầu tỉnh Kon Tum giúp đỡ.

Ngày 3 tháng 3 năm 1972, tôi và anh Đặng Văn Khoát (chủ nhiệm hậu cần) cùng một số cán bộ cơ quan về làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum ở xã Ngọc Lây, huyện 80 (Đắc Tô). Như đón biết được tình hình khó khăn của chúng tôi, anh Phan Phụ (tức Quyết) thông báo luôn: Ngay từ đầu năm 1972, tỉnh ủy Kon Tum đã chủ động động viên nỗ lực cao nhất của quân và dân trong tỉnh. Các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, du kích, đội vũ trang công tác đều được tăng cường bổ sung quân số. Các lực lượng quân, dân, chính, đảng đều được chỉnh huấn, học tập quán triệt tình hình nhiệm vụ mới. Tại vùng căn cứ đảng bộ lãnh đạo nhân dân tăng gia sản xuất, tích cực trông thêm các loại hoa màu phu, nhất là sắn. Khắp các buôn làng đâu đâu cũng vang lên tiếng chày giã gạo thâu đêm, chuẩn bị lương thực cho bộ đội đánh giặc. Theo kế hoạch trong đợt nàv tỉnh Kon Tum ủng hộ bộ đội B3: 300 tấn gạo. Riêng huyện 80 ủng hộ 180 tấn, huyện 16 ủng hộ 95 tấn(1).

Ngoài ra tính còn huy động hàng nghìn dân công tham gia gùi đạn, tải thương, vận chuyển hàng hóa, mở đường quân sự. Để giải quyết khó khăn trước mắt, đồng bào các dân tộc tộc huyện 80 còn ủng hộ bộ đội Mặt trận Cánh Đông 56 tấn sắn tươi. Khó có thể tường tượng nổi, bộ đội trung đoàn 66 đã vào vị trí tập kết vẫn phải cử người đeo gùi trở lại phía sau để lấy sắn về cho đơn vị.

Tỉnh ủy Kon Tum còn chỉ thị cho bệnh xá tỉnh đội đóng trên ngọn Ngọc Ny Ay mở rộng, sẵn sàng đón thương binh Một trận Cánh Đông.

Những tình cảm sâu nặng, những đóng góp lớn lao của người dân Kon Tum trong chiến dịch Xuân Hè năm 1972 cho đến bây giờ vẫn vẹn nguyên tươi rói trong tôi.


(1) Anh Đặng Văn Khoát báo cáo, tính đến ngày 30 tháng 3 huyện 80 đã ủng hộ 152/180 tấn, huyện 16 ủng hộ 80/95 tấn gạo.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #83 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:39:07 AM »

Ngày 27 tháng 3 năm 1972, tôi về dự hội nghị đáng ủy trung đoàn 66 quán triệt nhiệm vụ chiến dịch. Chưa bao giờ tôi thây trên gương mặt của các anh Lưu Quý Ngữ, Phùng Bá Thường, Trịnh Hữu Tân, Võ Quang Tịnh, Nguyễn Đình Kiệp, Phạm Văn Vượng... lại rạng rỡ tự tin đến thế, tuy vào thời điểm này các anh vẫn phải ăn bo bo và sắn luộc bởi lẽ gạo chuyển ra chưa kịp. Họ tự tin có lý, bởi những con người này đều dạn dày trận mạc. Chính các anh đã làm nên chiến thắng la Đrăng, Sa Thầy, Đức Vinh, Đắc Tô, Ngọc Rinh Rua và hôm nay trong thế trận chung lại được chuẩn bị kỹ càng, bàng nghìn con người của trung đoàn đều náo nức xung trận. Phát biểu với hội nghị, tôi nói:

- Đảng ủy trung đoàn đã quán triệt nhiệm vụ, thấy rõ vinh dự, xác định trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ. Là một trung đoàn có kinh nghiệm chiến đấu, có thể chỗ này chỗ khác còn phải bổ sung, nhưng những vấn đề cơ bản đã được các đồng chí xác định đúng đắn.

Thực hiện nhiệm vu trong chiến dịch này các đồng chí cần làm tốt một số vấn đề:

Về tư tưởng, phải làm cho cán bộ, chiến sĩ, đảng viên đoàn viên trung đoàn nhất trí cao với hình thức tác chiến đánh công sự vững chắc. Vì chỉ khi nào tiêu diệt quân địch trong công sự vững chắc thì mới đánh vỡ tuyến phòng thủ cơ bản của địch, mới tiêu diệt quân địch tại trận địa của chúng và cuối cùng mới đánh bại hoàn toàn chúng. Những vấn đề này đã trở thành niềm thôi thúc cán bộ chiến sĩ Tây Nguyên trong nhiều năm. Những cuộc tập huấn ở mặt trận đã tập trung nghiên cứu chiên thuật đánh công sự vững chắc. Khắp các đơn vị trên toàn mặt trận đều tham gia đánh công sự vững chắc. Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định xây dựng trung đoàn 66 là đơn vị nghiên cứu chiến thuật này. Vừa qua trong đại hội đảng trung đoàn các đồng chí đã thảo luận sôi nổi và ra nghị quyết xây dựng chiến thuật đánh công sự vững chắc cho đơn vị. Các đồng chí đã tập trung xây dựng đại đội 6 tiểu đoàn 8, đại đội 3 tiểu đoàn 7, đại đội 11 tiểu đoàn 9 là những đại đội mở cửa. Trong các đại đội này các đồng chí tập trung xây dựng trung đội mở cửa như thế là rất tốt. Mong rằng các đồng chí tiếp tục giáo dục để cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn thông suốt cách đánh, quán triệt tư tưởng chiến thuật mới, từ đó làm cơ sở giải quyết vấn đề khác. Phải xây dựng trung đoàn có tinh thần tự cường, không ỷ vào hỏa lực, không ỷ lại đơn vị bạn. Đảng ủy cần tập trung xây dựng tinh thần tiến công liên tục, tiến công triệt để. Các đồng chí phải khắc phục tình trạng “đầu gối huân chương, mình đắp cờ danh dự nằm ngủ”, kiên quyết chông tư tưởng thỏa mãn, nửa chừng dừng lại. Trong chiến dịch này, sau khi đánh xong C1 (căn cứ Tân Cảnh) các đồng chí phải nhanh chóng xốc lại đội hình làm dự bị cho Sư đoàn 2 đánh vào quận lỵ Đắc Tô. Đảng ủy cần làm tốt đoàn kết hiệp đồng, học tập đơn vị bạn, không được huênh hoang.

Trung đoàn 66 cần nhận rõ vinh dự của mình là đơn vị luôn luôn đi đầu giải quyết các nhiệm vụ về chiến thuật đặt ra trong các thời kỳ của cuộc chiến trên chiến trường. Mong rằng các đồng chí hãy phát huy truyền thống đó để làm tốt nhiệm vụ trong chiến dịch lịch sử này, trước hết là nhiệm vụ C1.

Để vây hãm chặt quân địch ở Đắc Tô - Tân Cảnh và Kon Tum chúng tôi thực hành hai tầng chia cắt chiến dịch. Tầng thứ nhất cắt đường 14 đoạn Kon Kô - Võ Định do trung đoàn 28 đảm nhiệm; tầng thứ hai, cắt đường 14 đoạn từ cầu la Tô Ve đến chân núi Chư Thoi do trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24), tiểu đoàn 631 và hai đại đội 31, 32 của huyện 4 Gia Lai đảm nhiệm. Lực lượng vây hãm căn cứ Đắc Tô 2, sân bay Phượng Hoàng do trung đoàn 1 Sư đoàn 2, tiểu đoàn 4 trung đoàn 24 và tiểu đoàn bộ binh 304 của tỉnh Kon Tum đảm nhiệm. Toàn bộ lực lượng trên đã triển khai và bước vào hoạt động đúng kế hoạch.

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, để phối hợp với chiến trường toàn Miền, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên lệnh cho Sư đoàn 320 dùng trung đoàn 52 vây ép tiểu đoàn 2 lữ dù 2 ở điểm cao 1049 (địch gọi là căn cứ Đen-ta). Bị vây ép mạnh, địch co dồn lại, ta ngày càng siết chặt. Đến 3 giờ ngày 3 tháng 4, trung đoàn 52 được lệnh tiến công. Sau 3 tiếng đồng hồ chiến đấu tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 6 đã chiếm được sở chỉ huy tiểu đoàn 2 của địch. Nhưng do tổ chức lùng sục tảo trừ chưa tốt, bộ đội mất cảnh giác nên bị tàn binh địch cụm lại gọi pháo binh và máy bay đánh trùm lên trận địa rồi phản kích chiếm lại. Bộ đội bi thương vong, trung đoàn 52 phải lui quân về tuyến xuất phát.

Ngày 7 tháng 4 Bộ tư lệnh Mặt trận chỉ thị cho Sư đoàn 320 dùng trung đoàn 64 bao vây tiêu diệt tiểu đoàn 11 lữ dù 3 mới đổ xuống chiếm giữ điểm cao 1015 (địch gọi là căn cứ Sác-ly); đồng thời lệnh cho trung, đoàn 52 dùng tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn đặc cỏng 19 tiếp tục vây ép giữ chân địch ở điểm cao 1049, khi có thời cơ công dứt điểm căn cứ này.

5 giờ 50 phút ngày 12 tháng 4 năm 1972, hai trận địa pháo 122 và Đ74 cùng cối 120 ly nã những quả đạn chính xác xuống điểm cao 1015. Khi pháo chiến dịch chuyển làn kiềm chế pháo binh địch, trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến ra lệnh cho tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9 xung phong.

Tôi được anh em trung đoàn 64 kể lại: ở hướng chủ yếu do tiểu đoàn 9 đảm nhiệm, cuộc chiến đấu ở đây diễn ra quyết liệt. Địch tập trung tất cả các loại hỏa lực vào hai cửa mở của đại đội 10. Bộ đội ta không tiến lên được. Đại đội trưởng Đặng Văn Lưu bất chấp nguy hiểm vượt lên chỉ huy trung đội 3 mở cửa. Tổ mở cửa của trung đội 3 chi còn 3 người. Chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Điện ôm bộc phá lao lên phá tung hàng rào cuối cùng. Các chiến sĩ trung đội 3 xông lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu.

Mũi đột phá thứ hai của đại đội 10 do đại đội phó Nguyên Văn Hòa chỉ huy phát triển thuận lợi hơn. Khi pháo ta vừa chuyển làn tổ mở cửa xông lên mở hết hàng rào rồi ào ạt đánh vào chi viện cho trung đội 3. Đến 13 giờ tiểu đoàn 9 đã hoàn toàn làm chủ mục tiêu được phán công.

Trên hướng tiểu đoàn 8, cuộc chiến đấu diễn ra cũng hết sức quyết liệt. Dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Đàm Vũ Hiệp và chính trị viên Nguyễn Văn The, các tổ hỏa lực của ta bắn rất chính xác vào các mục tiêu, chi viện đắc lực cho tổ bộc phá mở cửa của đại đội 7. Cửa mở thông, cả đơn vị tràn lên đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ. Nhưng khi áp sát sở chỉ huy tiểu đoàn 11 thì đại đội 7 bị chặn lại. Từ trên cao địch có thể quan sát và khống chế mọi hành động của bộ đội ta. Chúng gọi máy bay đến ném bom bắn phá vào trận địa của tiểu đoàn 8. Một quả bom rơi trúng hầm chỉ huy tiểu đoàn 8. Tiểu đoàn trưởng Hiệp và chính trị viên The hy sinh. Chỉ huy trung đoàn đã giao cho đồng chí Thoan, tham mưu phó trung đoàn trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn 8, xốc lại đội hình, giữ vững thế trận.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #84 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:40:44 AM »

Những ngày tiếp theo cuộc chiến đấu của trung đoàn 64 diễn ra quyết liệt hơn. Lợi dụng độ dốc và trống trải địch có thể quan sát chống trả lại ta. Các trận địa pháo từ Ngoe Bờ Biêng, điểm cao 966 Diên Binh, Đắc Vát cũng thay nhau bắn như đổ đạn vào các tuyến vây ép của trung đoàn 64. Tuy vậy các chiến sĩ trung đoàn 64 bất chấp ác liệt, hy sinh gan góc bám giữ trận địa có thời cơ là tiến công tiêu diệt địch.

19 giờ 30 phút ngày 14 tháng 4, Sư đoàn 320 tung tiểu đoàn 3 tiếp sức cho tiểu đoàn 9 đồng thời ra lệnh cho hai đơn vị này tiến công địch ngay trong đêm; đồng thời điều thêm tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 vào khu vực Ngọc Đi Ốc đón lõng quân địch ở điểm cao 1015 chạy về.

1 giờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1972, tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 9 bắt đầu tiến công địch. Chỉ sau 15 phút quân ta đã làm chủ trận địa. Quân địch còn lại tháo chạy về hướng đông, lọt vào trận địa của đại đội 5 và đại đội 6 liền bị hai đơn vị này đánh chặn, diệt 80 tên. Số còn lại xô đạp lên nhau chạy về phía Ngọc Đi ốc, lại sa vào trận địa giăng sẵn của tiểu đoàn 2, toàn bộ quân địch bị diệt và bị bắt làm tù binh.

Sau 3 ngày chiến đấu, trung đoàn 64 và tiểu đoàn 2 trung đoàn 48 đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn 11 lữ dù 3, diệt 260 tên, bắt sống 166 tên (có 1 trung tá, 1 thiếu tá, 2 đại úy, 5 trung úy), bắn rơi 20 máy bay các loại, thu toàn bộ vũ khí quân trang, quân dụng. Tiểu đoàn 11 cũng là tiểu đoàn đầu tiên bị diệt gọn ở Tây Nguyên.

Đây là lần thứ hai trung đoàn 64 đọ sức với lữ dù 3. Lần trước, trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, trung đoàn đã diệt 2 tiểu đoàn của lữ đoàn này, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ - lữ đoàn trưởng. Và lần này, trên chiến trường Tây Nguyên, trung đoàn 64 trong trận then chốt thứ nhất tuy kéo dài nhưng thu được thắng lợi lớn buộc quân dù phải rút bỏ các vị trí còn lại lui về cùng quân đoàn 2 ngụy củng cố tuyến phòng ngự từ Võ Định đên thị xã Kon Tum.

Phối hợp với Sư đoàn 320 ở hướng tây, trên Mặt trận Cánh Đông, chúng tôi ra lệnh cho các đơn vị đẩy mạnh cường độ hoạt động.

Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2), tiểu đoàn 4 (trung đoàn 24) cùng bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum tiến hành vây hãm căn cứ Đắc Tô 2 và sân bay Phượng Hoàng. Bằng nhiều hình thức tác chiến phong phú, sáng tạo, phục kích, tập kích, bắn tỉa, chiến sĩ ta đã loại khỏi vòng chiên đấu hàng trăm tên địch, bắn rơi và phả hủy 36 máy bay, hàng chục xe quân sự, gần 40 khẩu pháo và súng cối. Tiêu biểu nhất là trận đánh của đại đội 1 tiểu đoàn 4 trung đoàn 24. ngày 17 tháng 4 năm 1972, đại đội 1 chặt nứa ghép lại thành bè vượt sông Pô Cô bí mật tập kích tiêu diệt hoàn toàn trận địa pháo Đắc Rao Peng, loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội địch, phá hủy 4 khẩu pháo 105 ly.

Trên đường 14, khu vực Võ Định, trung đoàn 28 tích cực hoạt động chặn đánh giao thông địch, diệt gọn 2 chi đội xe bọc thép thuộc trung đoàn thiết giáp 14, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn biệt động quân 23. Đại đội cối 82 ly của trung đoàn liên tiếp bắn phá sở chỉ huy của lữ đoàn dù sô 2 và số 3 gây cho địch tổn thất lớn. Đêm 6 tháng 4, đại đội đặc công 19 của trung đoàn 28 tập kích diệt gọn trận địa pháo của lữ đoàn dù số 2 ở Kông Trang Lăng Loi phá hủy 4 pháo 155 ly, 6 pháo 105 ly và 20 xe quân sự.

Tại Chư Thoi, trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 (trung đoàn 24), tiểu đoàn 631 cùng du kích các xã Bl, B2 và B3 (huyện 4) bám sát bộ đội chủ lực đắp ụ, chôn mìn, xây dựng những trận địa chốt ngay mép đường ở khu vực cầu Ia-tô-ve. Bộ đội và lực lượng địa phương kiên cường trụ bám, chịu đựng hàng trăm tấn bom rải thảm của máy bay B52, hàng chục quả bom 7 tấn của Mỹ, hàng vạn quả đạn pháo các loại, liên tiếp giáng cho địch những đòn nặng nề. Nhiều đoàn xe tiếp tế của địch bị diệt, có đoàn tới 40 chiếc và 120 chiếc. Địch phải dùng 2 trung đoàn 45 và 53 (sư đoàn 23 ngụy) có xe tăng và máy bay yểm trợ thay nhau phản kích hòng đẩy chiến sĩ ta ra khỏi Chư Thoi. Dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Huỳnh Nghĩ và chính ủy Lê Quang Mỹ(1), cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 95 đã gan góc trụ vững, biến khu vực Chư Thoi thành cánh cửa thép chặn đứng mọi cuộc phản kích của địch. Đường 14 bị cắt đứt hẳn ở cả hai phía bắc và nam thị xã Kon Tum. Trung đoàn 95 và trung đoàn 28 đã góp phần tạo thế vây hãm chiến dịch đôi với cụm phòng ngự ở Kon Tum và Đắc Tô - Tân Cảnh.

Qua bước một chiến dịch, tình hình phát triển thuận lợi cho ta tuyến ngăn chặn vòng ngoài của địch ở phía tây sông Pô Cô đã bị sư đoàn 320 đột thủng, cánh cửa chiến dịch ở phía tây đã được mở. Quân dù phải rút đi quá nửa để ứng cứu cho Bình Long, lực lượng nòng cốt chiến dịch bị ta đánh thiệt hại nặng mất sức phản kích. Thời cơ chiến dịch đã xuất hiện, điều kiện đột phá Tân Cảnh đã chín muồi. Anh Hoàng Minh Thảo điện cho tôi và anh Nguyễn Mạnh Quân tổ chức đột phá đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh, giải phóng thị trấn Tân Cảnh và toàn bộ khu vực đảm nhiệm từ Võ Định - Trí Đạo đến Diên Bình - Đắc Tô - Đắc Mót.


(1) Anh Lê Quang Mỹ, ở số nhà 235 đường Cách mạng Tháng Tám, Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Binh Dương là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Anh có thói quen ăn cơm bằng đĩa và thìa. Nghe kể trước khi tập kết, mẹ anh tặng hai vật này để mỗi khi ăn anh nhớ tới mẹ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #85 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:42:42 AM »

Trong cụm phòng ngự ở Đắc Tô - Tân Cảnh, căn cứ Tân Cảnh (còn gọi là căn cứ 42) là trung tâm chỉ huy tập đoàn phòng ngự phía bắc tình Kon Tum, căn cứ hậu cần, nơi xuất phát hành quân của địch ra vùng ba biên giới. Lực lượng trong căn cứ gồm có: sở chỉ huy sư đoàn 22, khu cố vấn Mỹ, sở chỉ huy trung đoàn 42, sở chỉ huy trung đoàn thiết giáp 14, một tiểu đoàn xe tăng M41, một tiểu đoàn pháo binh với quân số khoảng 1.500 tên.

Ở phía đông căn cứ khoảng 1km, thị trấn Tân Cảnh nằm giữa ngã ba đường 14 và 18 với 5 nghìn dân. Trong thị trấn có 1 đại đội cảnh sát, 1 đại đội bảo an, thị trấn này là hậu phương trực tiếp của căn cứ Tân Cảnh. Do vậy, trong cách bố trí phòng ngự, địch tập trung mạnh về hướng tây và hướng bắc. Sở chỉ huy sư đoàn 22 và khu cố vấn Mỹ cũng đặt lùi sâu về hướng đông.

Khi phân tích tình hình cụ thể, chúng tôi thống nhất những hoạt động ở hướng tây và hướng bắc trong nhiều năm qua đã thu hút hết sự chú ý của địch. Lợi dụng điểm yếu cơ bản của địch để đánh địch và quyết định tập trung lực lương chủ yếu từ hướng đông vào căn cứ Tân Cảnh.

Trung đoàn 66 được tăng cường tiểu đoàn đặc công 37, một đại đội xe tăng T54, một đại đội B72, ngoài ra còn được pháo binh chiến dịch chi viện, có nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Tân Cảnh và giải phóng thị trấn Tân Cảnh. Trước khi bước vào nhiệm vụ chủ yếu cán bộ chiến sĩ trung đoàn 66 và các lực lượng tham gia tiến công căn cứ Tân Cảnh đã phải giải quyết nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp. Những khu vực ta dự kiến đặt pháo bắn thẳng địch đã nống ra chốt giữ. Gạo ăn đã cạn, nếu trận đánh kéo dài có nguy cơ bộ đội phải nhịn đói đánh giặc.

Trước tình hình đó, tôi và anh Đặng Văn Khoát đến trung đoàn bàn cách khắc phục. Nhìn anh em lính trẻ, sức lực là thế suốt ngày cưa gỗ, đào hầm, đánh địch mà mỗi người một ngày chỉ vẻn vẹn 3 lạng hạt bo bo với rau rừng tự kiếm. Tôi nghe anh Lưu Quý Ngữ, chính ủy trung đoàn 66 kể lại: Vì đói quá, nhiều chi bộ (cả đơn vị và cơ quan) đã họp ra nghị quyết sử dụng một phần gạo rang (lương thực dành cho lúc chiến đấu) để anh em có sức. Tôi và anh Khoát không cầm được lòng. Ngay tối hôm đó, chúng tôi hội ý Thường vụ và Bộ tư lệnh quyết định: cơ quan Bộ tư lệnh bớt nửa khẩu phần ăn để chi viện cho anh em phía trước. Ngày hôm sau, anh Đặng Văn Khoát trực tiếp chỉ huy đơn vị vận tải chuyển gấp gạo xuống cho trung đoàn 66, nhưng cũng chẳng được là bao vì kho Mặt trận Cánh Đông cũng cạn. Gạo trên chuyển đến nhỏ giọt vì đường vận chuyển quá xa, lại phải qua nhiều ngọn núi cao hơn nghìn mét hiểm trở. Tôi trực tiếp đặt vấn đề với lãnh đạo tỉnh Kon Tum giúp đỡ. Anh Phan Phụ đã động viên cơ quan tỉnh, huyện đóng góp 50 tấn lương thực trong phần tự túc của mình gồm cả gạo, ngô, sắn và huy động nhân dân chuyển ra phía trước. Theo anh Khoát báo cáo, trong đợt này tỉnh Kon Tum đã cung cấp cho Mặt trận Cánh Đông hơn 36 tấn gạo, 42 tấn sắn tươi (số gạo và sắn trên chủ yếu ở huyện 16 và huyện 80).

Chúng tôi huy động cán bộ ba cơ quan tiền phương mặt trận, đội điều trị cùng hàng trăm dân công của tỉnh Kon Tum tham vận chuyển.

Khấu hiệu “Tất cả cho phía trước, tất cổ để giải phóng Tân Cảnh” đã thực sự trở thành ý chí và tình cảm quân và dân trên Một trận Cánh Đông, Cho đến hôm nay nghĩ lại, những ngáy tháng ấy sao mà đẹp mà hào hùng đến thế! Minh đang đói vàng mắt vẫn vui vẻ nhường đồng độí bát cơm, củ sắn; sẵn sàng nhận thay đồng đội vào những nơi nguy hiểm, dẫu biết có thể hy sinh, Cán chiến sĩ có cơm ăn cơm, không có cơm cùng ăn Hấn, hết sắn “nghiến” bo bo mà vẫn cười vang, tự tin ở ngày chiến thắng, với khí thế:

         Trường Sơn chuyển minh,
         Pô Cô dậy sóng!
         Quét sạch quản thù,
         Giải phóng Tây Nguyên!


Được sự chi viện của đồng bào, đồng chí, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 66 hạ quyết tâm: Quyết đánh thắng nhanh căn cứ Tân Cảnh, giải phóng địa bàn để thông đường hành lang vận chuyển bằng xe cơ giới!

Tiểu đoàn 9 (trung đoàn 66) đẩy mạnh hoạt động đánh dồn ép quân địch giành lấy địa bàn, Ngày 21 tháng 4 toàn bộ quân địch đá bị các chiến sĩ trung đoàn 66 quét sạch khỏi các điểm cao 1023, 1034, đồi Tròn... Các đơn vị pháo binh bắn thẳng của ta đã vào chiếm lĩnh trận địa đúng vị trí an toàn, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

15 giờ ngày 21 tháng 4 năm 1972 và liên tiếp trong các ngày 22 và 23 tháng 4, các cụm pháo binh chiến dịch của trung đoàn 40 và trung đoàn 675 tập trung bắn phá căn cứ Tân Cảnh. Đại đội 29 Œ72) lần đầu xuất trận đánh giỏi, bắn trúng tiêu diệt hầu hết xe tăng địch ra phản kích, bắn lộn nhào cả 2 khẩu ĐKZ của địch đặt trên tháp nước trong căn cứ. Toàn bộ lô cốt, boong-ke vòng ngoài trên hướng cửa mở đã bị đạn B72 và đạn ĐKZ bắn thẳng phá hủy. Căn cứ địch mịt mù khói đạn và xăng dầu bốc cháy. Trung tâm thông tin bị phá hủy, chỉ huy sư đoàn 22 phải nhờ mạng chỉ huy của cố vấn Mỹ điều khiển quân lính.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #86 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:46:12 AM »

Đêm ngày 23 tháng 4, từ ngầm Pô Cô Hạ, chín chiếc xe tăng T54 của đại đội 7 xuất kích. Theo đường 50K công binh mới mở(1), xe tăng ta lướt qua quận lỵ Đắc Tô rồi lao thẳng về căn cứ Tân Cảnh. Hơn 30 cán bộ chiến sĩ trung đoàn 66 do tham mưu phó Hoàng Anh Tài chỉ huy đã làm thành những lộ tiêu sống hướng dẫn cho xe tăng ta. Tôi được anh em lái xe tăng kể lại: Khi thấy xe tăng ta xuất hiện, từng dàn máy bay đủ loại từ đâu lao tới ném bom bắn phá. Ngồi trong xe nhìn qua lớp kính dày chiến sĩ lái thấy vỏ thép của những chiếc xe tăng đi trước chốc chốc lại lóe lên sáng chói vì mảnh của những quả bom nổ gần đập vào. Nhưng họ vẫn thấy thấp thoáng trong khói bom những chiến sĩ bộ binh Trần Minh Dần, Phan Bá Nhân, Mai Xuân Hóa... bình thản đi trước mũi xe dẫn đường. Tôi được biết, nhiều anh em đã hy sinh anh dũng, nhiều đồng chí bị thương không đi được nữa vẫn cố leo lên ngồi trên thành xe để tiếp tục chỉ đường.

1 giờ sáng ngày 24 tháng 4, xe tăng ta theo đường 14 thọc qua thị trấn Tân Cảnh tiến về cửa mở hướng đông. Toàn bộ lực lượng địch trong thị trấn sửng sốt, bàng hoàng không kịp đối phó. Chớp thời cơ địch đang hoang mang, tiểu đoàn 9 được đội công tác vũ trang tỉnh Kon Tum do Hồ Thị Lục, quê Quế Long, Quế Sơn, Quảng Nam chỉ huy dẫn đường lập tức tiến công giải phóng thị trấn Tân Cảnh. Các chiên sĩ tiểu đoàn 9 cùng đội công tác vũ trang tỉnh Kon Tum phối hợp chặt chẽ vừa đánh địch vừa kêu gọi nhân dân nổi dậy.

4 giờ 55 phút ngày 24 tháng 4 năm 1972, thị trấn Tân Cảnh hoàn toàn giải phóng, mở ra một địa bàn quan trọng có lợi cho ta đưa lực lượng vào hướng chính (phía đông căn cứ Tân Cảnh).

5 giờ, pháo binh chiến dịch của ta giáng đòn sấm sét cuối cùng xuống căn cứ Tân Cảnh. Được sự chi viện đắc lực của pháo binh, các chiến sĩ đại đội 3 tiểu đoàn 7 đã phá xong lớp rào cuối cùng ở hướng chính phía đông.

Trên hướng bắc, địch chống trả quyết liệt, một số chiến sĩ bộc phá hy sinh. Đại đội trưởng đại đội 6 Nguyễn Phước Hậu và trung đội trưởng Trần Bá Vinh ôm quả ĐH30(2) lao lên dưới sự chi viện của xe tăng ta. Địch cho bộ binh và xe tăng ra bịt cửa mở, chiến sĩ B40 Bùi Viết Nhần không chần chừ đứng thẳng người lên trước làn đạn kẻ thù bình tĩnh giương súng ngắm và bóp cò. Chiếc xe tăng phản kích bùng cháy, cửa mở được giữ vững.

5 giờ 10 phút, sau ba phát pháo hiệu các chiến sĩ trung đoàn 66 phối hợp cùng xe tăng ào ạt tràn qua cửa mở lần lượt đánh chiếm các mục tiêu bên trong.

Cuộc chiến đấu trong căn cứ Tân Cảnh diễn ra vô cùng ác liệt. Địch cho máy bay oanh tạc dữ dội xuống cửa mở và các khu vực ta vừa chiếm được. Trong bước đường cùng, quân địch trong căn cứ dùng dàn phóng chất độc hóa học bắn hơi ngạt, hơi cay hòng chặn bước tiến quân ta. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7, đảng ủy viên đảng ủy trung đoàn Phan Văn Vượng bị thương nhưng vẫn xông xáo dẫn đầu đội hình tiểu đoàn thọc sâu vào sở chỉ huy địch.

Giữa lúc tình huống diễn biến phức tạp, khẩn trương trung đoàn trưởng Phùng Bá Thường đã có mặt trong căn cứ, trực tiếp chỉ huy bộ đội.

9 giờ 30 phút, từng tốp tù binh vài chục, rồi hàng trăm tên lũ lượt theo cửa mở hướng đông đi ra dưới sự hướng dẫn của bộ đội ta.

Đúng 11 giờ trưa ngày 24 tháng 4 năm 1972, trung đoàn 66 làm chủ hoàn toàn căn cứ Tân Cảnh. Lá cờ giải phóng nửa đỏ nửa xanh giữa có ngôi sao vàng năm cánh do anh Phan Phụ - Bí thư tỉnh ủy Kon Tum trao cho trung đoàn 66 trước lúc xuất quân được Nguyễn Xuân Hòa, tiểu đội trưởng tiểu đội 4 đại đội 2 tiểu đoàn 7 kéo lên phấp phới tung bay giữa trung tâm chỉ huy căn cứ Tân Cảnh.

Toàn bộ quân địch trong căn cứ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Đại tá Lê Đức Đạt, sư đoàn trưởng sư đoàn 22 và viên đại tá cố vấn Mỹ bị bắn chết. Đại tá Vi Văn Bình, sư đoàn phó và một sĩ quan khác chạy trốn cũng bị lính ta bắt làm tù binh. Riêng trung đoàn 66 bắt 429 tù binh có đủ mặt các sắc lính trong căn cứ, bắn rơi 8 máy bay, thu 9 xe tăng, 20 khẩu pháo từ 105 đến 155 ly, gần 100 xe quân sự, hàng vạn quả đạn pháo và toàn bộ kho tàng phương tiện chiến tranh trong căn cứ.

Ngay từ khi thấy khả năng căn cứ Tân Cảnh bị tiêu diệt, Bộ tư lệnh Cánh Đông ra lệnh cho pháo binh chuyển làn bắn phá căn cứ Đắc Tô 2. Tám giờ sáng cùng ngày, trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) được lệnh đánh thẳng vào sở chỉ huy trung đoàn 47 ở căn cứ Đắc Tô 2. Theo kế hoạch, 4 xe tăng T54 và 1 pháo cao xạ 57 ly được lệnh rời căn cứ Tân Cảnh theo đường 18 tiến về Đắc Tô 2 phối hợp chiến đấu. Xe tăng 377 gồm có trung đội trưởng Nguyễn Nhân Triển, quê Việt Hùng, Quế Võ, Hà Bắc; Cao Trần Vịnh, lái xe, quê Cao Xá, Phong Châu, Phú Thọ; Vũ Đức Lương, pháo thủ số 1, quê Khải Xuân, Thanh Ba, Phú Thọ; Nguyễn Đức Toàn, pháo thủ số 2, quê Phú Ninh, Phù Ninh, Phú Thọ dẫn đầu vượt nhanh lên trước lao vào giữa đội hình xe tăng địch. Tổ chiến đấu của Nguyễn Nhân Triển tả xung hữu đột diệt hết chiếc này đến chiếc khác, nêu kỷ lục diệt liền một lúc 7 xe tăng M41 của địch ra phản kích. Nhưng vì lực lượng địch quá đông nên xe tăng 377 của ta đã bị đạn chống tăng của địch bắn cháy. Sau này chiến sĩ ta đưa thi hài của bốn anh em trong chiếc xe tăng 377 ra còn phát hiện có cả nắm cơm đã cháy thành thàn mà anh em ta chưa kịp ăn.


(1) Bộ đội công binh đã bí mật cưa trước ba phẩn tư đường kính những cây trên dọc đường rối ngụy trang lại.
(2) Mìn đinh hướng với khối thuốc nổ 30kg dùng để phá rào.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #87 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2019, 06:48:49 AM »

Trung đoàn 1 (Sư đoàn 2) nhanh chóng đè bẹp sức chống cự cua trung đoàn 47 ngụy, làm chủ căn cứ Đắc Tô 2.

Toàn bộ quân địch ở Tân Cảnh - Đắc Tô đã bị tiêu diệt gồm có: sơ chi huy sư đoàn 22, trung đoàn 42, trung đoàn 47, trung đoàn thiết giáp 14, tiểu đoàn dù 9, tiểu đoàn 1 (trung đoàn 41), 1 tiểu đoàn pháo binh địch và toàn bộ cơ quan hành chính quận lỵ Đắc Tô và quận lỵ Đắc Sút lưu vong.

Căn cứ Tân Cảnh - Đắc Tô bị tiêu diệt, cụm phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum sụp để nhanh chóng. Quân ngụy ở các căn cứ trên dải phòng ngự phía tây sông Pô Cô, trên các trục đường 14, 18 từ Diên Bình, Công Hơ Rinh, đến quận lỵ Đắc Tô và Đắc Mót rút chạy tán loạn. Nhiều sĩ quan ngụy trút bỏ áo lính, mặc áo thường dân trà trộn vào dân chạy trốn.

Ở Tân Cảnh - Đắc Tô, lần đầu tiên, bộ đội Tây Nguyên mở chiến dịch tiến công vào tuyến phòng thủ cơ bản mạnh nhất của địch ở bắc Tây Nguyên. Lần đầu tiên bộ đội Tây Nguyên tiêu diệt 1 sư đoàn địch, nhiều trung đoàn, thiết đoàn trong một cụm phòng ngự kiên cố và dày đặc. Lần đầu tiên ta đã giải phóng một khu vực rộng lớn, gần hết một tỉnh và đã đánh bại liên tiếp các đợt phản kích bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Trong chiến dịch này, nghệ thuật chiến dịch tiến công trận địa với quy mô hiệp đồng binh chủng lớn là bước phát triển có tính chất nhảy vọt, thành phần đánh công sự vững chắc đã trở thành một trong hai thành phần tác chiến cơ bản của phương thức tác chiến chiến dịch. Thắng lợi này mở ra tiền đề cho việc tiến lên công kích và tiêu diệt quân địch phòng thủ thành phố và thị xã ở Tây Nguyên, mở ra khả năng rất hiện thực tiến lên giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên.

Cùng thời gian này, trên chiến trường toàn Miền chiến sự diễn ra sôi động, ở Trị - Thiên, quân và dân ta đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở đây, đánh chiếm và làm chủ các căn cứ Ái Tử, La Vang, Đông Hà, thành Quảng Trị, giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị và khu vực Động Tranh, trực tiếp uy hiếp Thừa Thiên – Huế. Ở miền Đông Nam Bộ, quân và dân ta phá vỡ tuyến phòng ngự biên giới của địch, tiêu diệt 3 chiến đoàn bộ binh (thiếu) và 2 tiểu đoàn thiết giáp (thiếu), giải phóng 3 huyện Lộc Ninh, Bù Đốp, Thiện Ngôn và thị xã An Lộc, mở ra một khu vực rộng lớn và hoàn chỉnh ở miền Đông Nam Bộ thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long và Phước Long. Khối chú lực của ta đã phá vỡ được các khu vực phòng ngự mạnh nhất của địch, đã chiếm và đứng vững trên các địa bàn cơ động vùng rừng núi, giáp ranh va một số vùng quan trọng ở đồng bằng. Ta đã tạo ra dượt một cục diện mới trên chiến trường miền Nam làm thay đổi một phần quan trọng so sánh lực lượng có lợi cho ta mở ra một tình thế cách mạng rất thuận lợi.

Trong cuộc đọ sức lần này, quân ngụy được Mỹ xây dựng theo công thức của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” đã bị suy yếu sau những cuộc phiêu lưu ở Cam-pu-chia và Đường 9 - Nam Lào, đến đây đang đứng trước nguy cơ sụp đổ.

Trước tình trạng nguy khốn của quân ngụy Sài Gòn, chính quyền Ních-xơn đã phải tiến hành một chủ trương có ý nghĩa chiến lược vượt ra khỏi khuôn khổ của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tức là “Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến. Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã huy động một lực lượng lớn không quân, hải quân để chi viện cho quân ngụy phản kích và cho hệ thống cố vấn Mỹ trở lại hoạt động đến cấp trung đoàn, nắm quyền chỉ huy để trực tiếp điều khiển cuộc chiến tranh.

Đối với miền Bắc Việt Nam, ngày 6 tháng 4, tổng thống Ních-xơn quyết định huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân cao nhất từ trước đến lúc bấy giờ(1) đánh phá trở lại miền Bắc, nói là đe trả đũa lại các cuộc tiến công của ta ở miền Nam. Ngày 9 tháng 5, Ních-xơn lại ra lệnh phong tỏa các cảng và vùng biển miền Bắc, tăng cường ném bom hệ thông giao thông trên bộ và đánh phá tất cả các cơ sờ kinh tế và quốc phòng của ta. Ông ta trắng trợn tuyên bố: Thà thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống còn hơn thua trong cuộc chiến tranh này. Âm mưu của họ là bóp nghẹt miền Bắc, cắt đứt nguồn tiếp tế từ ngoài vào nước ta và từ miền Bắc vào miền Nam. Với thủ đoạn thâm độc này Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tính toán rằng chậm nhất trong vòng 3 tháng ta sẽ kiệt quệ và buộc phải thương lượng với họ trên thế yếu.

Cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở miền Bắc chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ ác liệt hơn, quy mô lớn hơn lần trước đã diễn ra.


(1) Máy bay chiến thuật lúc cao nhất 1.400 chiếc, chiếm tới 40% lực lượng không quân chiến thuật Mỹ. Máy bay chiến lược B52 lúc cao nhất 193 chiếc, chiếm 45% số B52 của cả nước Mỹ. Về tàu chiến, 14 chiếc chiếm 3/4 số tàu chiến của hạm đội 7, trong đó có 5 đến 6 tàu sân bay, chiếm 50% tổng số tàu sân bay của Mỹ. Chỉ tính riêng lực lượng không quản đánh Việt Nam đã bằng lực lượng không quân ba nước manh nhất Tây Âu lúc đó cộng lại là: Anh 600 chiếc, Pháp 475 chiếc, Tây Đức 500 chiếc (số lượng năm 1972).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #88 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2019, 10:05:27 AM »

*
*   *

Trở lại tình hình chiến trường Tây Nguyên. Sau khi Đắc Tô - Tân Cảnh bị tiêu diệt, lực lượng địch ở thị xã Kon Tum rất mỏng yếu, số cố vấn Mỹ đã “di tản” về Plây Cu, trong thị xã chỉ có hai tiểu đoàn chủ lực và một số đơn vị bảo an. Đại bộ phận sư đoàn 23 và liên đoàn biệt động quân 6 (mới ở Nam Bộ ra thay cho lữ dù 2) vẫn phải rải quân ra đối phó trên đường 14 đoạn Lam Sơn - Trí Đạo.

Về phía ta, đường 50K chưa nối thông được với đường 14 ở phía bắc, đường 70B cũng chưa vượt qua điểm cao phía tây sông Pô Cô. Việc vận chuyển đạn, gạo và cơ động binh khí kỹ thuật gặp nhiều khó khăn. Ngày 25 tháng 4, Thường vụ Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên họp nhận định: ở Kon Tum địch sơ hở, nhưng ta chưa đủ điều kiện để đánh ngay. Ta cần phải nhanh chóng chuẩn bị vật chất, đường sá và cơ động lưc lương. Dư kiến ngày 10 tháng 5 sẽ tiến công vào thị xã. Đến ngày nổ súng công tác chuẩn bị không kíp nên lại phải kéo thêm thời gian.

Ngày 11 tháng 5, Ngô Du - tư lệnh quân đoàn 2 ngụy bị cách chức, thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn lên thay, việc đầu tiên của viên tư lệnh mới này là điều chỉnh lại lực lượng và đội hình phòng ngự. Toàn cho rút bỏ Krông, bỏ luôn cả quận lỵ Kon Tum (cũ), rút toàn bộ lực lượng sư đoàn 23 về để dựng thành một tuyến phòng ngự mới khá chặt chẽ. Chúng bố trí nhiều cứ điểm nhỏ có công sự vững chắc liên kết chặt chẽ với nhau. Khi pháo ta hắn mạnh, chúng nhanh chóng sơ tán đội hình, sau đó tìm cách dồn đội hình lại để phản kích.

Tình huống diễn ra phức tạp đối với việc tiến công vào thị xã. Thời cơ tiến công không còn thuận lợi nữa. Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Măt trận quyết định phải đánh địch bằng hai bước: tiêu diệt bộ phận một bộ phận quan trọng sinh lực sư đoàn 23 ở vùng ven, sau đó mới tiến công vào nội thị.

Ngày 14 tháng 5, trung đoàn 64 và trung đoàn 28 bắt đầu tiến công vào vành ngoài của trung đoàn 44 và trung đoàn 45. Qua 12 ngày đêm chiến đấu liên tục trung đoàn 64 và trung đoàn 28 đã phá vỡ một khu vực phòng ngự của địch ở tây bắc thị xã Kon Tum, đẩy chúng co về phía đông suối Đắc Lây.

Sáng ngày 25 tháng 5, tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 6 (sư đoàn 2) cùng đại đội 209 của thị đội Kon Tum tiến vào thị xã từ hướng đông nam. Trung đoàn 1 (sư đoàn 2), đại đội 3, tiểu đoàn đặc công 10 cùng xe tăng đột phá từ hướng đông bắc đánh vào thị xã. Các mũi tiến công của Sư đoàn 2 và lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum đã đánh chiếm được khu hành chính tỉnh, sở chỉ huy trung đoàn 44, kho 40, 41, bệnh viện dã chiến và hai phần ba biệt khu 24. Một bộ phận của trung đoàn 28 cũng đánh vào thị xã nhưng không phát triển được. Quân địch điên cuồng chống cự, chúng tập trung pháo binh và máy bay đánh phá ác liệt vào các khu vực có quân ta. Địch sử dụng cả bom phá, bom bi, bom na-pan, hóa chất độc và tung xe tăng, bộ binh phản kích giành giật với ta từng căn nhà góc phố. Bộ tư lệnh mặt trận phải điều chỉnh lại đội hình chiến đấu và cho thêm trung đoàn 66 vào bên trong thị xã để tiếp tục tiến công nối liền các khu đã chiếm thành một khu vực lớn hơn.

Ngày 30 tháng 5 năm 1972, đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cùng viên tư lệnh quân đoàn 2 Nguyễn Văn Toàn đáp máy bay đến Kon Tum động viên binh lính của họ “tử thủ” thị xã này

Về phía ta, bộ đội vẫn kiên cường bám trụ quyết giữ vững vị trí đã chiếm được, nhưng sức chiến đấu giảm dần do thương vong nhiều, gạo, đạn thiếu. Thêm vào đó mùa mưa đã ập đến, việc tiếp tế qua sông Pô Cô bị cản trở.

Đêm ngày 5 tháng 6 năm 1972, xét thấy những điều kiện để tiêu diệt hoàn toàn quân địch trong thị xã Kon Tum không còn nữa, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định cho các đơn vị lui quân(1).

Có một sự kiện cần nói thêm, sau khi lực lượng ta rút, ngày 9 tháng 6 năm 1972, Giôn Pôn-van - trưởng cố vấn Mỹ ở quân đoàn 2 ngụy lên thị sát thị xã Kon Tum bằng máy bay lên thẳng, khi quay về máy bay của ông ta bị bộ đội phòng không trung đoàn 40 bắn rơi trên đường 14. Giôn Pôn-van là nhân vật quan trọng thứ ba của Mỹ ở Việt Nam sau đại sứ Bân-cơ và tướng Oét-mo-len.


(1) Những khuyết điểm trong trận đánh không thành công này (chuẩn bị không chu đáo trong đó nổi lên là công tác thiết bị chiến trường và công tác đảm bảo vật chất, khi đánh vào thị xã việc chỉ huy không sát dưới, thiếu chặt chẽ…) là bài học võ lòng trong tiến công vào thị xã được chúng tôi ghi nhớ sâu sắc và đã làm tốt trong cuộc tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột sau này.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9261


Lính của PTL


« Trả lời #89 vào lúc: 30 Tháng Chín, 2019, 10:06:28 AM »

*
*   *

Tháng 6 năm 1972, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp và nhận định: Đế quốc Mỹ đã trắng trợn gây trở lại chiến tranh phá hoại trên miền Bắc nước ta, đánh phá bằng không quân và hải quân trên quy mô lớn. Chúng âm mưu ngăn chặn cuộc tiến công và nổi dậy nhằm hạn chế thắng lợi của quân và dân ta, cứu vãn chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, cố giữ cho cục diện chiến trường miền Nam không xấu hơn đối với chúng... Mặt khác cũng do tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp mới. Nhân dân phải luôn luôn vững vàng nâng cao cảnh giác, tích cực đề phòng, tiếp tục chiến đấu và chiến thắng trong mọi tình huống.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận chúng tôi chủ trương tập trung củng cố bộ đội, bố trí lại thế trận chiến dịch cho phù hợp với nhiệm vụ chiến đấu tiêu diệt địch, giành dân, bảo vệ vùng giải phóng với khả năng và cơ sở vật chất hiện có.

Tháng 6 năm 1972, Bộ điều Sư đoàn 2, trung đoàn 52 (Sư đoàn 320) và trung đoàn công binh 83 về Quân khu 5.

Đầu tháng 7 năm 1972, Sư đoàn 320 (thiếu) hành quân vào tây nam thị xã Plây Cu, đứng chân trên địa bàn huyện 4 và huyện 5 tỉnh Gia Lai, chủ yếu trên trục đường 14 đoạn từ Hòn Rồng đi bắc Phú Nhơn và trên đường 19 từ ngả ba Hòn Rồng đoạn nối đường 14 qua Thanh An lên Đức Cơ, mở mặt trận mới ở đây.

Trung đoàn 24 được điều vào khu vực Cheo Reo, Phú Thiện. Cũng vào thời điểm này Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết địch thành lập trung đoàn 25, đứng chân ở bắc Buôn Ma Thuột.

Trên Mặt trận Cánh Đông chỉ còn lại ba trung đoàn 28, 66, 95, một số tiểu đoàn pháo binh và binh chủng kỹ thuật. Trung đoàn 66 và trung đoàn 28 cùng lực lượng pháo binh thay phiên nhau vừa củng cố huấn luyện, vừa tiếp tục bao vây thị xã Kon Tum, tiêu diệt địch nống ra bảo vệ vùng giải phóng. Trung đoàn 95 cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Gia Lai tiếp tục đánh giao thông, từng thời gian làm chủ đường 14, cô lập thị xã Kon Tum, uy hiếp thị xã Plây Cu.

Sau đòn tiến công Xuân Hè của ta, quân ngụy ở Tây Nguyên đã lún sâu vào thế bị động lúng túng. Chúng không còn khả năng mở những cuộc hành quân lớn và buộc phải lui về cố thủ thị xã và những căn cứ quân sự hiểm yếu ở vùng ven.

Lực lượng cách mạng ở Tây Nguyên đã có bước trưởng thành vượt bậc, vùng giải phóng rộng lớn nối liền ba tỉnh Kon Tum Gia Lai, Đắc Lắc nay được mở rộng và củng cố vững chắc. Cơ sở chính trị vùng giải phóng và trong vùng địch tạm thời kiểm soát không ngừng phát triển vững mạnh. Lực lượng vũ trang địa phương đã trưởng thành, có khả năng độc lập tác chiến, tiêu diệt gọn từng đại đội địch trong và ngoài công sự. Nhiều đội công tác vũ trang, biệt động đã được thành lập và bước vào hoạt động mạnh trong các thị xã, thị trấn là mối lo sợ thường xuyên đối với kẻ thù.

Thời gian này, đường hành lang chiến lược từ miền Bắc vào Tây Nguyên đang bị máy bay Mỹ đánh phá ngăn chặn ác liệt nhưng chúng cũng không thể ngăn nổi sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn. Cuối tháng 8 năm 1972, chính cơ quan tình báo Mỹ đã báo cáo với tổng thống Ních-xơn rằng: Mặc dù ném bom rất ác liệt, vẫn không giảm được một cách có ý nghĩa việc đưa người và trang bị vào miền Nam Việt Nam. Mạng đường chiến dịch của ta đã bảo đảm cho xe cơ giới đưa binh khí kỹ thuật đến sát vùng ven thị xã. Lượng dự trữ hậu cần đã đáp ứng cho đánh tập trung hiệp đồng binh chủng. Tình hình đó đặt ra cho lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên phải có nhiều hơn nữa các đơn vị tập trung đủ sức đánh thẳng vào các cụm cứ điểm lớn, các thị xã, thành phố nhằm tiêu diệt lớn quân địch, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, tạo nên bước phát triển mới trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh giải phóng.

Được sự chuẩn y của Quân uy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 20 tháng 9 năm 1972, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định thành lập Sư đoàn 10. Bộ tư lệnh và cơ quan Mặt trận Cánh Đông được chuyển thành Bộ tư lệnh và cơ quan sư đoàn. Anh Nguyễn Mạnh Quân giữ chức sư đoàn trưởng, tôi (Đặng Vù Hiệp) giữ chức chính ủy, anh Hồ Đệ, giữ chức sư đoàn phó, anh Ngọc Châu giữ chức phó chính ủy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM