Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2019, 09:31:36 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mùa gió chướng + Cánh đồng hoang (Nguyễn Quang Sáng)  (Đọc 1101 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #50 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2019, 04:49:19 PM »

CHƯƠNG 27

   Tháng bảy nước nhảy lên bờ. Năm nào cũng vậy, sau những ngày mưa dầm, đến con nưóc rong rằm tháng bảy thì nước trên mặt sông Cửu Long dâng cao. Nước tràn qua bờ, chảy qua mặt đường, bò qua sàn nhà. Nước sông hòa với nước trên cánh đồng. Mưa vẫn tầm tã. Mặt nước mỗi lúc mỗi dâng cao. Đến con nước rong rằm tháng tám, nước lại cao vọt lên. Rồi đến con nước rong rằm tháng chín, nước trên cánh đồng Tháp Mười lai láng, mênh mông. Đó là cuộc sống hằng năm của con sông và mưa gió của trời đất ở đây. Cá từ Biển Hồ xuôi theo nước, kéo về đồng. Cây lúa được tắm mát, phủ ngọn lên mặt nước, mướt mượt màu xanh. Điên điển trổ bông, từng chòm, từng chòm rải rác trên cánh đồng, vàng rực như bông mai.

   Những cái chòi hoang trên cánh đồng bị nước cuốn trôi. Hầm hố bị ngập. Chúng tôi sống và chiến đấu trên mặt nước. Sáng nay, tôi được dự trận đánh đầu tiên trên cánh đồng nước.

   Mặt trời vừa lên khỏi mặt nước, chúng tôi đã nghe tiếng động cơ.

   Một đoàn tàu mủ của quân ngụy mưòi hai chiếc, mỗi chiếc hai thằng từ trong rặng cây ngoài sông, một bè ba chiếc, theo đội hình chữ V, nổ máy, như mười hai mũi tên băng thẳng vào cánh đồng. Tiếng máy “veo veo”, nước trước mặt tàu dựng ngược lên, lả ra, trắng xóa. Trên trời, một chiếc đầm già bay tè tè, đi trước, tắt máy, cắm đầu, sút hỏa tiễn vào khu vườn.

   Trong khu vườn, năm chiếc xuồng của đội du kích dàn ra, mỗi chiếc cách nhau hàng hai ba trăm mét, mặt trận dài độ một cây số.

   Tàu mủ của bọn ngụy, vừa chạy, vừa bắn. Lúc đầu, chỉ nghe tiếng máy, với nước dựng ngược lên sủi tới, không mấy chốc mà đã thấy rõ mặt nó.

   - Bắn chưa Út Đợ?

   Tôi ngồi trước mũi xuồng, cầm cây AK của Năm Bờ để lại, nép mình sau cây xoài, chong về phía nó hỏi.

   - Chờ một chút nữa, đừng nóng!

   Thật ra thì tôi có nóng nảy gì đâu. Chẳng qua là tôi chưa quen. Những người chưa quen, thường như vậy, cứ muốn nổ súng ngay. Cái phút chờ đợi thật hồi hộp. Đây là trận đánh trên mặt nước lần đầu đối với tôi.

   Với cái đà ấy, tưởng chừng bọn chúng, mười hai chiếc sẽ lao thẳng vào khu vườn. Không ngờ, chiếc chạy đầu vấp phải sợi dây thép căng ngầm dưới mặt nước, nó nhào lộn. Hai thằng lóp ngóp! Tôi chưa kịp bắn. Chiếc xuồng của Châu gần đó, Châu đã nổ trước tôi. Hai chiếc sau vấp theo, nhưng không lộn nhào, cũng không thể dừng lại, với cái trớn đang lao tới, cả hai chiếc đều rẽ theo đường dây thép đâm thẳng vào khu vườn! Lựu đạn gài đã sẵn ở đó, treo trên cành cây, là đà dưới mặt nước. Lựu đạn nổ nghe thật sướng tai! Còn mấy chiếc kia, tưởng sao, nó quay đầu, nổ máy to hơn, lao nhanh, ào ào, một bãi sóng đuổi theo và trong nháy mắt, nó khuất mất trong rặng cây. Mặt trận trên đồng nước chỉ còn một con đầm già, đạn hỏa tiễn cũng hết, nó tè tè, ngơ ngác.

   Một hồi sau, ba chiếc trực thăng bay tới, bắn như rãi đá xuống mặt nước. Nó bắn thì chúng tôi lặn. Lặn hết hơi, lại trồi lên, lấy hơi, lặn xuống. Nó bắn khu vườn đến tả tơi, nhưng mặt nước thì vẫn y nguyên. Nước vẫn đầy. Nó bắn dai như trâu đái, bắn đến mấy tiếng mới chịu đi.

   Nó đi rồi, năm chiếc xuồng của du kích lại đậu mũi dưới cây xoài nhà ông Hai. Châu với Thon một chiếc xuồng ba lá, dài như con thoi. Chiếc xuồng động cơ, phóng như mũi lao. Lâm, Thảnh với Tuyết đi trên chiếc xuồng cui, lừ lừ như tàu chiến. Dũng với Thả đi trên chiếc xuồng Cần Thơ, người bơi mũi, người bơi lái trông thật thong dong. Bé Ba, Quyền với Út Trầm đi trên chiếc tam bản nhỏ, ba ngưòi ba mái đầm.

   Kiểm điểm, rút kinh nghiệm xong, lại tản ra mỗi chiếc về một nơi.

   Tôi với Út Đợ cho xuồng vào tận cửa nhà ông Hai, thay quần áo, mỗi đứa uống một hớp rượu. Hai đứa lại bơi về  vọng gác. Xuồng của chúng tôi cũng xuồng cui, xuồng đi sông lớn, mũi quớt cao. Cũng như xuồng của cả đội du kích, xuồng có đủ thứ cho đời sống. Trước mũi là công sự bằng cây chuối, bên ngoài tô một lớp đất, có thể tránh được đạn, mảnh pháo với bom bi. Mỗi người một cây dầm và mỗi người một cây sào dài. Trong xuồng có bếp có củi, chén đũa, gạo, thức ăn, quần áo, tăng, và hai cái cần câu, như một gia đình, hơn cả gia đình là mỗi người một cây súng và một giỏ lựu đạn.

   Chúng tôi bơi trên con đường đất cập bờ kinh. Chống gậy dầm xuống, nước trên mặt đường cao hơn một thước. Nước ngầu đỏ phù sa. Út Đợ bơi lái, tôi bơi mũi. Còn khoái với trận đánh, anh kêu tôi:

   - Nè, anh Thắng! Ba cái máy đó phải có ai sửa, mình gắn sau đít xuồng, mình chạy tóe nước chơi, há!

   Nghe anh nói, tôi hỏi:

   - Máy đó chắc mạnh hơn máy đuôi tôm?

   - Mạnh hơn nhiều chớ anh. Lúc nó quay đầu nó chạy nó bay trên mặt nước anh không thấy sao?

   - Thấy!

   Tôi cũng đang còn khoái với trận đánh, nhưng tôi lại nghĩ đến một điều khác, những sợi dây thép. Dây to bằng ngón tay, mỗi cuộn dài hơn nghìn mét. Mỗi cuộn không biết nặng đến bao nhiêu, chỉ biết là nặng đến khẳm xuồng. Dây để trên xuồng, còn người thì lội dưới nước, đeo theo bè đẩy đi. Hôm ấy nhằm con nước rong rằm tháng tám. Ông Hai Cò, cô bé Thiều cũng chống xuồng tiếp tay du kích. Dây buộc vào gốc cây giữa đồng, căng thẳng đến tận vườn. Mỗi một đầu dây là một bãi lựu đạn gài. Hì hục từ sáng cho đến tối mịt mới căng xong. Người nào người nấy lạnh đến móp cả đầu ngón tay. Ngưòi cực khổ nhứt là Châu. Chỉ có bàn tay khỏe mạnh của anh mới ghịt chặt được mối dây. Sáu sợi căng dọc căng ngang như bàn cờ.

   Tôi không hình dung được những sợi dây ấy sẽ đánh giặc ra sao? Thì sáng nay, tôi đã thấy rõ. Chỉ vì vấp phải những sợi dây căng ngầm dưới mặt nước mà chúng phải quay đầu tháo chạy!

   Trận đánh diễn ra trước mắt tôi như một giấc mơ. Tôi chưa kịp bắn, chưa kịp có cái cảm giác của người dự trận đánh thì bọn nó, chín chiếc còn lại, đã “cao chạy xa bay rồi!”. Có gì đâu, chỉ vì những sợi dây căng ngầm dưới mặt nước!

   - Ai là người đầu tiên nghĩ ra trận đánh này vậy Út?

   - Anh Cổi bí thư của tụi tôi, anh chưa được gặp ảnh, tiếc quá, song toàn!

   - Bắt đầu từ cái gì mà ảnh nghĩ ra?

   - Anh có cái tật, đã hỏi thì hỏi đến tận gốc. Chuyện như vầy nè. - Út Đợ vừa bơi vừa nói, tôi cũng vừa bơi vừa nghe. Anh tiếp:

   - Hồi Mậu Thân năm sáu mươi tám, chủ lực đi ngang qua đây. Xứ của mình, qua rạch qua kinh thì đi cầu khỉ. Chủ lực tới chủ lực của mình không phải là người sanh đẻ ở đây, có người từ nhỏ tới lớn chưa biết cái cầu khỉ ra làm sao. Ầu ơ ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi! Mà! Mấy ảnh, bước lên cây cầu, hai cái chân cứ lắc lia lắc lịa, hai tay chới với chơi vơi như hát xiệc đi dây, rồi té xuống một cái đùng, ba lô quần áo, súng ống, đạn dược, ướt hết. Lại không biết lội. Một trung đoàn qua cái cầu khỉ, thì tới bao giò? Sáng đêm cũng chưa qua được, làm sao đến điểm X đúng giờ G mà chiến đấu! Ai dè! Nếu có dè thì cũng không thể bắc cầu cho đường hoàng được. Cây gỗ thiếu gì. Hô một tiếng, xong. Nhưng bắc một cây cầu vừa đi nện gót được thì tụi nó thấy, nó biết. Anh biết sao không?

   - Sao?

   - Xã đội mới đem xuồng lại. Nhưng xuồng chở cũng không kịp. Do đó, tụi tôi mới nghĩ ra cách, giăng dây ngang qua kinh. Xuồng để súng ống, đạn dược, với ba lô đồ đạc, còn người thì cứ đeo theo dây mà lội qua. Nhờ vậy mà cánh quân mới kịp giờ chiến đấu.

   - Nhưng bắt đầu từ cái gì mà anh Cổi nghĩ ra cách đánh bằng dây? - Nghe anh nói dài dòng, tôi sợ anh lạc đề, tôi sốt ruột nhắc lại câu hỏi.

   - Biết rồi! Nói phải có đầu có đuôi chớ anh. Sau đó, tôi với anh Cổi lái chiếc xuồng đuôi tôm, từ trong ngọn chạy ra, chạy ban ngày. Tôi với ảnh chạy ra xóm ngoài, vận động bà con đi tải đạn. Mấy ngày đó, chuyện này hết chuyện khác, dồn dập. Thả hết tốc lực, xuồng đang cất mũi chạy ào ào, chạy như tụi nó hồi sáng vậy, chiếc xuồng vấp phải sợi dây, hai đứa tôi lộn nhào xuống nước. Lúc đó mới biết sợi dây thép căng qua sông, quên cuốn. Hai đứa lóp ngóp. Tôi lắc xuồng, trèo lên. Thấy ảnh ngồi buồn hiu, tôi hỏi: “Anh có bị gì không anh Cổi?”. Ảnh nhìn tôi: “Hay lắm!” - “Lộn cổ xuống nước mà hay?” - “Mở máy chạy đi, tối tôi nói cho nghe!” - Tôi lại nổ máy, thả hết tốc lực. Xuồng đang chạy băng băng, thì ào một cái, ầm một cái, mũi xuồng đâm vô bờ, hai đứa lật ngang! Mũi xuồng bể nát như bánh tráng nướng, chìm luôn. Tôi với ảnh lại lóp ngóp leo lên bờ. Ướt như chuột. Lại đụng cái sợi dây căng ngầm dưới mặt nước! Anh đứng chắp tay sau đít, ảnh nhìn xuống: “Hay, hay, hay!” - “Ba cái hay! Chìm xuồng mà hay, hay cái con khỉ gì mà hay, anh?” - Tôi nói với ảnh! Ảnh nhìn lại tôi, ảnh cười: “Chạy đi mượn chiếc xuồng khác đi, tối tôi nói cho nghe”. Bắt đầu từ như vậy đó?

   Tôi gật gù. Đúng là đồng chí bí thư.

   - Ảnh đánh đươc mấy trận như vậy?


   - Ảnh chưa kịp đánh thì ảnh hy sinh.

   - Phải chi ảnh còn sống, ảnh thấy cho ảnh đã con mắt!

   Mái chèo sau lái trong tay anh quạt mạnh.

   - Như có tiếng đầm già đó, móc vô!

   Tôi đưa dầm qua bên trái, móc cái mũi quay vào khu vườn. Xuồng chúng tôi bỏ con đường nước trên mặt đưòng, bơi len len theo cụm vườn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #51 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2019, 04:53:02 PM »

Con đầm già lại tè tè bay qua, hướng ra cánh đồng, chỗ đánh buổi sáng. Nó vẫn xoáy người đó, rồi đánh một vòng rộng, vây tròn cả cụm vườn.

   - Nó gọi pháo đó anh Thắng! Thằng này hay bắn bậy lắm. Đi - Út Đợ gác mái dầm, cầm lấy cây sào, đứng dậy, chống xuồng đi. Anh chống, tôi bơi, xuồng lao nhanh.

         Xuồng đi trên mặt nước trong khu vườn, phải lách qua cây, phải tránh những cành lá là đà dưới mặt nước. Út Đợ với cây sào dài, tay lái anh thật vững vàng. Đường xuồng lượn như con rắn... ào... à... òa... òa... o. Không mấy chốc mà xuồng vượt ra khỏi tầm bay của đầm già.

   Đi trong khu vườn, không thể thấy được nó, nhưng nghe tiếng bay, chúng tôi biết. Nó đang xiết vòng bay, mỗi lúc mỗi nhỏ lại, rồi bung ra xa. Pháo nổ.

   - Hụp! - Nó “đè ba” đó, Út Đợ bảo tôi, coi chừng! Tiếng pháo hú qua đầu chúng tôi. Ùng!

   - Hụp. Ùng! Hụp. Ùng...

   Pháo nổ liền ba trái. Ngưng. Con đầm già bung ra ngoài xa, lại tè tè bay vào, xoáy thêm một điểm mới. Nó bung ra xa. Pháo nổ.

   - Hụp. Ùng! Hụp. Ùng! Hụp. Ùng!

   Lại ngưng. Con đầm già từ ngoài xa lại tè tè bay vào, xoay trên mặt điểm ba bốn vòng, lại bung ra. Pháo nổ.

   - Hụp. Ùng! Hụp. Ùng! Hụp. Ùng!

   Tiếng pháo nổ trên đồng nước, nghe to, nghe rền hơn tiếng pháo nổ trên mặt đất. Gió động lá rụng, mặt nước gợn rung rinh. Tiếng pháo vang dài, vang xa, rất xa. Pháo nổ trên cánh đồng nước nghe như nổ trên mặt biển to rền, nhưng nghe nó lạc lõng làm sao.

   - Nó bắn chỗ hồi sáng?

   - Thì đó chớ đâu anh.

   - Nhắm xem dây của mình có bị đứt không Út?

   - Một trái pháo của nó mắc tiền hơn sợi dây của mình. Pháo nó nổ rồi, nó không hốt lại được, còn dây của mình đứt mình nối lại, không lo gì!

   Út Đợ gác sào lên xuồng, cầm lấy cây dầm bơi nhởn nhơ. Pháo vẫn nổ. Biết mình đã ra khỏi tầm pháo không lo gì nữa, hai đứa vừa bơi vừa nói chuyện.

   - Đánh thằng Mỹ với thằng ngụy, hai thằng, thằng nào khó hơn, Út Đợ?

   Câu này tôi đã hỏi Năm Bờ, anh còn dè dặt chưa trả lời. Còn Út Đợ, anh đáp ngay:

   - Thằng nào cũng khó, thằng nào cũng dễ.

   - Hai thằng có khác nhau lắm không? - Tôi lại hỏi.

   Út Đợ cũng đáp ngay, không một phút chần chờ.

   - Sao lại không khác, anh này hỏi lạ! Nghe anh hỏi mà tôi phát thèm thuốc! Làm một điếu đi.

   Hai đứa móc thuốc, Út Đợ ngậm điếu thuốc, bật lửa nhưng chưa đốt, anh nhìn tôi:

   - Đi với anh có cái sướng là có chuyện nói tối ngày, đỡ buồn ngủ. Nhưng có cái cực...

   - Cực gì?

   - Anh có cái tật, hỏi như nhận người ta xuống nước vậy, thở không ra hơi.

   - Tật tôi vậy, khác nhau làm sao?

   Út Đợ hít mấy hơi liền, cầm cây dầm bơi mạnh, trong lúc đó pháo vẫn nổ, anh hăng lên:

   - Khác nhau... ví dụ như trận đánh hồi sáng này. Nếu là bọn Mỹ thì nó không đánh như vậy đâu. Thằng ngụy tụi nó quay đầu chạy như vậy là vì tụi nó thấy không êm, nó chạy. Thấy thằng này chạy được thì thằng kia chạy theo, rồi chạy hết cả đám. Thằng chỉ huy ở sau, thấy vậy cũng chạy luôn, cho xong. Còn Mỹ thì khác. Trước khi nó tới thì bom pháo nó tới trước rồi. Nếu ba chiếc đi đầu mà bị vấp, bị nhào, bị tạt vô bãi lựu đạn, mấy chiếc sau, theo lệnh trên, nó vẫn cứ tiến tới, chừng nào chết hẵng hay! Khác là vậy.

   - Chỉ khác có như vậy thôi à?

   - Còn nữa chớ anh, để tôi kể cho anh nghe! Thằng Mỹ này kỳ cục lắm. Lúc nó mới tới, không hiểu nó ra làm sao cả. Nó khôn hay nó ngu chẳng biết. Đi hành quân, nó đi một đưòng, thẳng băng. Đi ngay cái đìa. Nếu là thằng ngụy thì nó vòng theo cái bờ nó đi. Thằng Mỹ thì không. Cứ con đường thẳng, nó đi. Thằng đi trước bước xuống một cái đùng, thằng theo sau cũng bước xuống một cái đùng. Nếu đìa cạn thì nó đi, đìa sâu thì nó lội. Thằng này nối thằng kia một hàng dọc, lội lõm chõm như chó! Hành quân sau hè nhà người ta, đụng cái chuồng heo thì vòng qua một cái, có mấy bước đâu, nó cũng không thèm. Nó đá cái chuồng heo của người ta, nó đi. Thằng sau cũng vậy, cứ theo cái dấu chân của thằng trước, đạp bừa lên cứt heo! Lúc đầu bọn tôi tưởng bọn nó là bọn khùng! Quánh nhau rồi mói biết! Nó hành quân theo kiểu của một đội quân cơ giới, rất máy móc. Trên bản đồ, thằng chỉ huy vạch ra: đường nào hành quân thì hành quân, đường nào của máy bay thì bay, đường của pháo thì pháo cứ theo đó mà nã tới. Thủy lực không quân với cơ giới, nó phối hợp với nhau, chặt chẽ máy móc, khít riêm. Chệch đường chết chịu. Nó đo đạc thế nào mà nó bắn sát nút anh? Mấy lần chụp bót, tôi biết. Lúc đầu tụi tôi tưởng, nếu mình áp sát vào hàng rào hoặc áp sát vào công sự của nó thì sẽ tránh được pháo. Không phải như vậy đâu! Trước khi đóng bót, nó đo đạc hết rồi. Hễ nghe bót kêu pháo thì nó coi theo bản đồ nó bắn. Mảnh pháo tạ vô công sự cứ chan chát vậy. Nếu mình “alaxô” chiếm bót, nó biết không thể cứu vãn được, cho pháo nổ thẳng vô, nổ tới tấp, hủy diệt cả hai bên! Thằng Mỹ nó khác với thằng ngụy là như vậy. Cơ giới, máy móc, khít riêm. Vậy đó!

   Lúc nói, anh gác dầm qua đùi, nói xong, anh thọc dầm quạt mạnh.

   - Chỉ khác có vậy thôi sao?

   - Còn nữa chớ. - Anh lại gác dầm qua đùi.

   - Quánh với nó trận đầu, tôi thấy nó quánh sao mà kỳ cục! Trận đầu tôi đụng với nó, anh Cổi bắn trung liên, tôi bắn AK, thằng Châu bắn CKC. Từ ngoài đồng, nó đâm thẳng vô, thằng nào thằng nấy cao lêu nghêu, mập thù lù như con trâu, bắn nó nghe bình bịch thiệt đã! Để nó vô gần, ba đứa tôi mới hè nhau nổ. Nó ngã thôi liệt địa! Nếu thằng Tây hay thằng ngụy thì nó quay đầu nó chạy mất mẹ nó rồi. Không chạy thì cũng tháo trở ra, thay lại chiến thuật, tung ra nhiều mũi, mũi đánh vô sườn, mũi vòng ra sau lưng, mới phải. Còn thằng Mỹ! Trận đó, cũng như những trận mà tôi quánh nó, nó không làm vậy. Tốp trước chết, tốp sau bò lên kéo xác, tưởng lấy xác rồi chạy, không, nó lại tiến lên, lừ lừ ngay họng súng. Anh biết nó làm sao không?

   - Làm sao?

   - Nó chầu Diêm vương chớ làm sao nữa! Mình đồng da sắt gì mà chịu nổi đạn của tụi tôi, anh! Tốp sau lại bò lên, kéo xác, ngồi bệt ở ngoài kia, trong đám lúa, khóc hu hu. Nó khóc như bò rống! Lúc mới nghe, tụi tôi có biết đâu. Đã khóc rồi thì đánh đấm gì nữa, vậy mà cũng chưa chạy, khóc đã rồi lại cầm súng, lóp ngóp tiến lên, đưa ngực ngay họng súng! Cứ như vậy hoài, từ sáng cho đến trưa. Cuối cùng anh biết sao không?

   - Sao?

   - Tụi tôi hết đạn, tụi tôi phải rút.

   - Rút!

   - Chớ sao anh! Quánh du kích, quánh vậy chớ sao nữa!

   - Rồi sao?

   - Nó tiến lên nó chiếm lấy cái mô đất của tụi tôi. Nó coi là nó chiếm được trận địa của đối phương, theo nó, vậy là nó thắng! Lúc đầu tôi tưởng bọn nó ngu. Sau này tôi mới được biết là trong sách vở của nó dạy, dạy như vầy: Không phân tán lực lượng thành từng mảng, mà tập trung toàn lực vào một mũi, mà khoan vào trận địa của đối phương. Với sức mạnh tuyệt đối của mũi nhọn, trận địa của đối phương trước sau gì cũng bị khoan thủng. Nó làm y như vậy, cuối cùng, tụi tôi hết đạn phải rút... Nó chiếm đến chiều, nó lại rút. Tụi tôi lại trở ra chơi. Cái đó sách vở có dạy không, tôi không biết, khi nào anh gặp được nó thì anh hỏi.

   Tấm ảnh của cô gái mặc áo bà ba đầu đội nón lá trong cái đèn chai của anh lại cười, cười với cái duyên kể chuyện của anh.

   - Còn thằng ngụy thì khác - Anh tiếp - như hồi sáng, anh thấy rồi đó. Hễ mình thổi nó một loạt, thằng nào chết thì nằm lại, thằng nào bị thương thì bò lóp ngóp, còn mấy thằng còn sống, chạy tứ tung. Thằng nấp dưói bờ mẫu, thằng nhảy xuống đìa, thằng lặn xuống mương, thẳng lủi vô lúa, trốn mất... Vậy đó!

   Anh ném cái tàn thuốc đánh xèo một tiếng trên mặt nước, rồi cầm cây dầm, quạt mạnh.

   - Chỉ khác có mấy cái vậy thôi sao?

   - Còn, còn nhiều, kể tối mai cũng không hết.

   - Ví dụ như cái gì?

   Út Đợ gác dầm qua đùi:

   - Ví dụ... Thằng Mỹ bay trên trời, ném bom từ trên trời ném xuống, thằng Mỹ giật cò pháo, thằng Mỹ lái xe tăng, cho tới thằng thủy quân lục chiến cầm súng đi càn, mình không hề biết tên biết tuổi nó, cũng không biết nó con ai, ở xóm nào, làng nào, quận nào, tỉnh nào ở nước Mỹ; nó có tên đó, nhưng cái tên của nó muốn nói, như tôi đã có lần nói với anh, nói tên nó thì vặn miệng bẻ mồm như đớ lưỡi, cho nên dân mình cứ gọi chung là thằng Mỹ, thằng nào cũng Mỹ, Mỹ tuốt! Ngược lại, dân mình, tụi lính đó, nó cũng chẳng biết tên ai! Người bị nó giết bằng bom từ trên trời liệng xuống, ngưòi bị nó giết bằng pháo từ xa bắn tới, người bị nó giết bằng súng bộ binh, người bị nó giết bằng mìn, người bị nó xẻo lỗ tai, nó cũng chẳng biết người đó tên gì, con ai, người nào bị nó giết, nó coi Vi Ci tuốt! Vi Ci là người như thế nào, nó cũng không hiểu! Trước đó, nó ở tận bên kia, xa lơ xa lắc, hai bên, chẳng người nào quen với ngưòi nào! Vậy mà từ bên đó, nó kéo qua đây, nó bắn, nó giết mình. Nó xâm lăng! Đánh cái thằng xâm lăng ngoại quốc thật sướng tay. Mày ỷ mày giàu, mày ỷ mày mạnh, mày ỷ mày có nhiều vũ khí tối tân, tao đánh cho mày chết, đánh cho mày chừa. Còn thằng ngụy, cũng là da vàng mũi tẹt, xa đến mấy cũng là người một nước, gần hơn là người một tỉnh, gần hơn nữa là người ở một làng, gần nữa là người một nhà cùng một mẹ một cha! Ở ngoài ấp chiến lược giờ, có gia đình, trên một bàn thờ có hai tấm hình của hai đứa con, đứa thì hy sinh vì Tổ quốc, đứa thì bị đền tội vì tội Việt gian; ngay trên bàn thờ nhỏ xíu mà đã như vậy đó! Mình với nó lạ gì nhau? Hai bên không chỉ biết tên, biết tuổi mà còn biết cả đời cha, đời ông nội, ông cố, ông sở ông sơ nhau nữa. Ví dụ như ở cái làng này. Như tôi chẳng hạn. Chị tôi hồi trước ở đợ cho thằng Phiến. Cha tôi ngày trước ở đợ cho nhà thằng Long. Trong làng trong xóm, nó biết chị nào, cô nào có chồng đi kháng chiến. Không làm gì được anh em mình, nó lại đánh cách khác, cho lính ve vãn o bế, làm cho gia đình anh em mình nghi ngờ ly tán. Có đứa thật là đáng đánh; có đứa mình không muốn đánh mà cũng phải đánh! Trận càn năm ngoái, tụi tôi bắt được bảy đứa của đoàn Chín. Mới mười sáu mười bảy tuổi, không có tiền lo lót, bị bắt đi quân dịch, nó kêu tụi tôi bằng anh, bằng chú. Có một thằng bị thương gãy chân, nó vừa khóc vừa nói: “... Cháu định bụng hễ đụng trận, thì cháu đưa tay cháu đầu hàng ngay, nhưng cháu chưa kịp đưa tay thì cháu té sụm xuống rồi, ối đau quá má ơi”. Nghe nó nói mà rơi nước mắt. Đánh với thằng Mỹ thằng ngụy khác nhau như vậy đó! Tôi biết anh hỏi làm gì mà! Thấy sao tôi nói vậy, còn tổng kết để rút ra rút vô cái gì đó là chuyện của mấy anh. Đánh với Mỹ là đánh với đám giặc ở ngoài, đánh dữ dội; đánh với thằng ngụy là đánh với người trong nước, trong làng, trong xóm, trong nhà, nó khuất tạp... (Út Đợ thường hay dùng hai tiếng khuất tạp thay cho hai tiếng phức tạp. Lần nào cũng vậy, khi anh nói đến tiếng khuất tạp thì đôi mày rậm anh lại chau lại, miệng lại chu nhọn, thấy khó khăn, trắc tréo, nó phức, nó tạp hơn cả cái nghĩa phức tạp mà anh muốn nói). Như vậy được chưa cha!

   Ý kiến của anh Út Đợ lẻ mẻ rời rạc, nhưng đó là ý nghĩ của một người thực sự cầm súng đánh với kẻ thù, gợi cho tôi nhiều điều hay hay.

   - Được. - Tôi cười.

   - Được rồi thì bơi đi, bơi nhanh về, tới giờ rồi.

   Anh cầm dầm, tôi cũng cầm dầm, hai đứa khom lưng quạt mạnh.

   Tự nãy giờ tiếng pháo vẫn nổ, một chùm ba trái.

   - Hụp. Ùng.... Hụp... Ùng... Hụp... Ùng...

   Hai đứa bơi về phía vọng gác vườn xoài. Chiếc xuồng đậu ngay cái chỗ trước chỗ căng võng dưới mái tăng. Tôi lấy dây buộc vào nhánh xoài.

   Pháo thôi bắn... đầm già cũng bay đi tè tè ngang qua đầu chúng tôi, bay thẳng ra sông lớn, về sân...

   Trời trưa nắng nhưng trong khu vưòn vẫn râm mát. Mặt nước im phăng phắc. Thỉnh thoảng, một vài con rắn mối từ trên cây rơi xuống, lõm tõm lội đi. Con cá nghe mồi, quẫy đuôi, tớp ùm ùm. Sóng xôn xao gợn thành những khoanh sóng tròn, lan rộng ra, lặn dần.

   Tôi buộc võng lên hai cành cây là là trên mặt nước, Út Đợ lui cui chẻ củi, nấu nước pha trà. Sau khi uống một tuần trà hiệu “Củ măng”, Út Đợ dồn đồ đạc ra sau lái, trải đệm lên giữa khoang, lấy vở lấy bút ra, bảo:

   - Bữa nay viết chánh tả chớ anh?

   - Ờ, chính tả.

   Tôi dạy Út Đợ được hơn tháng, ngày nào anh cũng thu xếp thời giờ để học, lúc buổi trưa, lúc buổi chiều, lúc buổi sáng.

   Trên xuồng không thể kê bàn, anh đặt quyển vở xuống đệm, quỳ hai gối xuống để viết:

   - Rồi! Anh đọc đi.

   - Chờ tôi một chút. - Tôi lấy cần câu, móc, cầm lấy cái dùa đựng trứng kiến, leo lên võng. Tôi để cái dùa mồi vào chảng ba, móc mồi. Tôi gác cần lên một cái cây gần võng, buông nhợ xuống gần gốc xoài chỗ im bóng, xong, tôi ngồi xếp bằng trên võng, nhìn xuống quyển vở học trò giấy kẻ ô vuông, đọc:

   - Nói lối, gạch đít, hai chấm xuống hàng. - Dạy cho Út Đợ học, tôi không dạy theo sách giáo khoa, cũng không dạy theo chương trình được soạn sẵn của nhà trường. Vì tôi không phải là nhà giáo, cũng không phải là cán bộ giáo dục, tài liệu giáo dục không có, nên đành phải dạy theo ý riêng, về toán, trừ cộng nhân chia, anh đã qua. Tôi bắt đầu dạy phép nhân, chia có số lẻ. Về văn, theo yêu cầu của anh thì đọc bài ca cho anh viết. Mấy hôm trước, nhân một cuộc họp xã đội, anh em có đề nghị tôi viết sáu câu vọng cổ về cuộc đời của anh Cổi, vừa là đồng chí bí thư, vừa là xã đội trưởng, và cũng là người yêu quý của anh chị em. Viết sáu câu vọng cổ, với tôi không khó, nhưng viết có văn học là một việc tôi không làm nổi. Nhưng với anh chị em, tôi không nề hà. Tôi viết xong, và hôm nay tôi lấy đó làm bài viết chánh tả cho anh.

   - Nói lối, gạch đít, hai chấm, xuống hàng, xong!

   Tôi đọc tiếp:

   - Hò... ơ... Tháp Mười đất nước mênh mông.

   Út Đợ vẫn quỳ như vậy, vừa đọc lại lời bằng giọng hò nho nhỏ, vừa cắm bút viết. Viết xong, như vừa qua một việc nặng nhọc, anh ngẩng lên, thở phào, nhìn tôi, cười. Tôi vừa đọc tiếp thì anh kêu:

   - Giựt, giựt!

   Tôi quay lại, giựt cái cần câu lên, nặng trĩu. Một con cá rô bằng bàn tay. Tôi hất con cá vào xuồng, nhảy xuống, gỡ cá bỏ vào khoang; lại leo lên võng, móc mồi, gác cần câu vào chỗ cũ, rồi đọc tiếp...

   Đọc cho anh viết xong ba câu thì được năm con cá đủ bữa cơm chiều. Tôi cầm lại quyển vở soát lỗi. Chữ anh tròn như trứng gà, không lỗi, vở viết sạch sẽ, đáng mười điểm. Tôi vừa cầm cây bút cho anh điểm thì anh kêu tôi:

   - Khoan, anh!

   Tôi dừng lại, nhìn anh:

   - Sao?

   - Anh có ruột bic màu đỏ không?

   - Có. Chi vậy.

   - Cho “bon” phải cho điểm màu đỏ chớ anh!

   - Tôi để trong ba lô ấy, lấy mất công lắm.

   - Được, anh để tôi lấy cho. Tôi viết mực xanh, cho “bon” anh cũng cho mực xanh, trùng màu, tôi chán quá!

   Anh mở ba lô tôi, lấy cái ruột màu đỏ đưa cho tôi. Tôi tra vào viết, chấm mười trên mười; tôi viết bên lề, số thật to và hơi nghiêng - theo kiểu thầy giáo, rồi đưa lại cho anh.

   Anh cầm quyển vở. Gương mặt của anh góc cạnh, mày rậm, vẻ dày dạn của một chiến sĩ trải nhiều trận mạc, nhưng mắt anh khi nhìn cái điểm mười trên mười viết bằng mực đỏ, mắt anh sáng trong như mắt học trò. Thương anh quá!

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM