Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Sáu, 2020, 07:02:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: L  (Đọc 1543 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #50 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:20:06 pm »


        LUẬN CHỨNG KINH TẾ CHIỂN - KĨ THUẬT, văn kiện phản tích điều kiện sử dụng, nhiệm vụ cần giải quyết và đánh giá tính kinh tế của một tổ hợp (đơn mẫu) trang bị KTQS với các tổ hợp (đơn mẫu) đã có trong nước hoặc của nước ngoài có tính nâng chiến - kĩ thuật tương tự. LCKTC-KT được thực hiện nhằm mục đích đưa ra cơ sở cần thiết phải chế tạo (mua sắm. cài tiến) và lợi ích của việc đưa vào trang bị tổ hợp (đơn mầu) trang bị KTQS đó. Nội dung chủ yếu gồm: phân tích tính cấp thiết khách quan của các hoạt động tác chiến; chức năng, nhiệm vụ và điều kiện khai thác sử dụng trang bị KTQS; tính hợp lí và tiên tiến về mặt kĩ thuật; chi phí cần thiết cho việc chế tạo (mua sắm, cải tiến) và đánh giá hiệu quà kinh tế của chúng so với phương tiện cùng loại.

        “LUẬN CƯƠNG CHÍNH TRỊ 1930”, cương lĩnh CM đầu tiên của ĐCS Đông Dương do Trần Phú soạn thảo, được hội nghị lần thứ nhất BCHTƯ thông qua (10.1930). Nội dung chỉ rõ: CM VN là CM tư sản dân quyền (cách mạng dân tộc dân chủ nhãn dân), tiến lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN; nhiệm vụ, mục tiêu của CM là chống đế quốc, phong kiến thực hiện độc lập dân tộc, người cày có ruộng; công-nông là gốc của CM do giai cấp công nhân lãnh đạo; giành chính quyền bằng khởi nghĩa vũ trang, tăng cường đoàn kết quốc té; ĐCS lãnh đạo là nhân tố quyết định thắng lợi của CM. “LCCT1930” còn một số hạn chế như: chưa xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu, nhiêm vụ chủ yếu và lực lượng CM. Sau này được các nghị quyết hội nghị BCHTƯ lần thứ 6 (11.1939), 7 (11.1940), 8 (5.1941) bổ sung và phát triển. Thực tiễn CM VN đã chứng minh sự đúng đắn của “LCCT1930” về con đường và phương pháp cách mạng VN.

        “LUẬN TRÌ CỬU CHIỂN” (“Bàn về đánh lâu dài”), tác phẩm QS của Mao Trạch Đông bàn về phương thức tiến hành chiến tranh trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật. Xuất xứ từ bài nói tại hội nghị nghiên cứu chiến tranh chống Nhật tổ chức ở Diên An (TQ) 5.1938, được đăng lần đầu trên tuần san “Giải phóng” (TQ) 7.1938, sau được in thành sách và phát hành rộng rãi. Gồm 120 đoạn, 21 vấn đề. Các vấn đề từ 1 đến 9 luận giải vì sao phải đánh lâu dài và thế nào là đánh lâu dài, phê phán sai lầm của “thuyết vong quốc” trong Quốc dân đảng và “thuyết tốc thắng” trong ĐCS TQ; 12 vấn đề còn lại trình bày cách đánh lâu dài và phương pháp giành thắng lợi trong chiến tranh. Trên cơ sở phân tích đặc điểm thời đại, mâu thuẫn Trung - Nhật, xu thế và diễn biến của chiến tranh, “LTCC” đã chỉ ra quy luật khách quan của đánh lâu dài và khẳng định thắng lợi sẽ thuộc về TQ; dự kiến ba giai đoạn chiến tranh: phòng ngự, cầm cự và phản công với hình thái đặc thù là thế cài răng lược; khẳng định “nguồn gốc sâu xa tạo nên sức mạnh to lớn của chiến tranh là ở trong dân chúng”, “dân binh là gốc của thắng lợi”; những quan điểm cơ bản chỉ đạo tiến hành chiến tranh: chiến tranh không tách khỏi chính trị, thắng bại của chiến tranh được quyết định bởi điều kiện khách quan và sự nỗ lực chủ quan, con người là nhân tô quyết định, vũ khí là nhân tố quan trọng, việc động viên chính trị sâu rộng trong nhân dân và phát huy tính năng động, tự giác của quần chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc giành thắng lợi... “LTCC” đã trình bày có hệ thống  các nguyên tắc chiến lược, chiến thuật và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, trong đó có các vấn đề quan trọng nổi bật: xác định phương châm chiến lược đánh lâu dài, kết hợp phòng ngự chiến lược lâu dài ở nội tuyến với tiến công chiến dịch mau lẹ ở ngoại tuyến trong giai đoạn phòng ngự và cầm cự rồi chuyển sang phản công chiến lược; xác định phương châm tác chiến chiến lược, trong đó lấy vận động chiến là chính, đánh du kích là cơ bản, thực hành đánh tiêu diệt trong những điều kiện có lợi để đạt mục tiêu chiến lược là tiêu hao lực lượng địch; xác định nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến: tích cực, chủ động, linh hoạt, sử dụng binh lực khi phần tán, khi tập trung, chỉ đánh khi có lợi, tích cực giành chủ động, không để mất quyền tự do hành động... “LTCC” có giá trị chỉ đạo chiến lược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân TQ.

        LUẬT 10-59, đạo luật số 10 do chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành 6.5.1959 với tiêu đề “trừng phạt sự phá hoại, sự xâm phạm an ninh quốc gia, sự xâm phạm sinh mạng hay tài sản của nhân dân và thiết lập tòa án quân sự đặc biệt”. Gồm hai phần: phần một với 5 điều, trong đó xác định 10 tội danh phải đưa ra xét xử và quy định hai mức án là tử hình (luật số 21 ngày 4.7.1959 cho dùng máy chém) và tù khổ sai chung thân; phần hai với 16 điều, quy định tổ chức các tòa án QS đặc biệt với quyền hạn rộng rãi (xử chung thẩm; không cho phép kháng án...) để xét xử. L10-59 thể hiện tính chất phát xít, phản dân chủ của chính quyền Ngô Đình Diệm, nhằm công khai hóa, hợp pháp hóa việc đàn áp phong trào đấu tranh yêu nước của các lực lượng kháng chiến ở miền Nam VN. Đã gây cho CM miền Nam nhiều tổn thất (1954-60: có 466.000 đv ĐLĐ VN và người yêu nước bị bắt; 400.000 người bị tù đầy; 65.000 người bị giết).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #51 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:21:32 pm »


        LUẬT BIÊN GIỚI QUỐC GIA, luật quy định về biên giới quốc gia do Quốc hội nước CHXHCN VN khóa XI, kì họp thứ 3 thông qua ngày 17.6.2003, chủ tịch nước công bố ngày 26.6.2003. Gồm 6 chương (41 điều) về: những quy định chung; chế độ pháp lí về biên giới quốc gia, khu vực biên giới; xây dựng, quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia. khu vực biên giới; quân lí nhà nước về biên giới quốc gia; khen thưởng và xử lí vi phạm; điều khoản thi hành. LBGQG góp phần tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước về biên giới quốc gia; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng.

        LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ của Việt Nam, luật quy định ché độ nghĩa vụ quân sự của công dân, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị QĐ, nhà trường, gia đình, cá nhân trong việc thi hành chế độ đó. LNVQS đầu tiên được Quốc hội nước VN DCCH thông qua 15.4.1960, chủ tịch nước công bố 28.4.1960, sửa đổi, bổ sung hai lần (26.10.1962 và 10.6.1965). LNVQS hiện hành được Quốc hội nước CHXHCN VN thông qua 30.12.1981, chủ tịch HĐNN công bố 10.1.1982, sửa đổi, bổ sung hai lần (21.12.1990 và 22.6.1994), gồm 11 chương (71 điều) quy định việc đáng kí nghĩa vụ quân sự, phục vụ tại ngũ, phục vụ trong ngạch dự bị, gọi nhập ngũ, hoãn gọi nhập ngũ, miễn làm nghĩa vụ quân sự, phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp, của hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, nhập ngũ theo lệnh động viên, việc xuất ngũ, hội đồng nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ quyền lợi của quân nhân, xứ lí các vi phạm... Việc thực hiện LNVQS đã góp phần nâng cao chất lượng QĐ, củng cố quốc phòng bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

        LUẬT PHÁP QUÂN SỰ, toàn bộ các luật, pháp lệnh và văn bản pháp quy (kể cả những nội dung trong các văn bản pháp luật có liên quan), làm cơ sở pháp lí để tổ chức, xây dựng và hoạt động của LLVT; bộ phận cấu thành của luật pháp nhà nước.

        LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, luật quy định chế độ phục vụ của sĩ quan QĐND VN. Luật hiện hành do Quốc hội khóa X thông qua 21.12.1999. chủ tịch nước công bố 4.1.2000 (có hiệu lực từ 1.4.2000) thay thế các luật 1958, luật 1982 và luật sửa đổi bổ sung 1990. Gồm 7 chương (51 điếu), xác định khái niệm về sĩ quan, các loại sĩ quan, quân hàm và chức vụ, nghĩa vụ và quyền lợi của sĩ quan. Việc thực hiện luật đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan để xây dựng QĐND hùng mạnh.

        LỤC ĐỊA. vùng rộng lớn của vỏ Trái Đất, phần lớn cao hơn mặt đại dương. Trong thời kì địa chất hiện nay có các lục địa: Á - Âu, Bắc Mĩ. Nam Mĩ. Phi, Ôxtrâylia. Nam Cực.

        LỤC NIÊN, thành đá do Đinh Liệt xây 1424 (khi nghĩa quân Lam Sơn tiến quân vào Nghệ An) trên núi Thiên Nhận, ranh giới tự nhiên giữa hai huyện Nam Đàn. t. Nghệ An và Hương Sơn. t. Hà Tĩnh, tây nam tp Vinh 18km. Địa hình hiểm trở, trên núi dưới sông. Nghĩa quân đóng ở thành 6 năm nên thành có tên LN.

        LỤC QUÂN, quân chủng hoạt động chủ yếu trên mặt đất. thường có số quân đông nhất, có trang bị và phương thức tác chiến đa dạng, phong phú. LQ tác chiến độc lập hoặc hiệp đồng với các quân chủng và lực lượng khác, giữ vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt lực lượng đối phương, chiếm và giữ đất đai. Tùy điều kiện của mỗi nước. LQ có thể được tổ chức thành một bộ riêng (Bộ LQ Mĩ, do bộ trưởng chỉ đạo: tham mưu trưởng chỉ huy); BTL hoặc bộ tham mưu riêng (Thái Lan, Nhật Bản.... do tư lệnh, hoặc tham mưu trường chỉ huy); hoặc do BTTM chỉ huy chung (TQ, VN, Lào...). LQ VN có các binh chủng: bộ binh (bộ binh cơ giới), thiết giáp, pháo binh, phòng không LQ, đặc công, công binh, thông tin liên lạc, hóa học...

        “LỤC THAO”, binh thư nổi tiếng thời cổ TQ, một trong “Vũ kinh thất thư”, ra đời khoảng nửa cuối thời Chiến Quốc. Gồm sáu phần: Văn thao, Vũ thao. Long thao, Hổ thao. Báo thao. Khuyển thao. Nội dung chủ yếu: QS gắn liền với chính trị; chiến tranh cần có danh nghĩa chính đáng, coi trọng việc thu phục lòng người, chuẩn bị đầy đủ, nắm vững thời cơ, vận dụng mọi thủ đoạn chính trị để làm tan rã địch; miêu tả ti mì biên chế tổ chức bộ chỉ huy, các loại vũ khí và chiến cụ đương thời, các phương pháp phá vây, vượt sông, đối trận, vu hồi, phục kích, công thành... Tác phẩm có giá trị sử liệu quý, lần đầu tiên nêu ra việc hiệp đồng tác chiến giữa chiến xa, kị binh và bộ binh; được nhiều nhà QS đời sau đánh giá cao.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #52 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:23:13 pm »


        LỤC VĨNH TƯỞNG (s. 1948). Ah LLVTND (1973). Dân tộc Thái, quê xã Thanh Lâm, h. Như Xuân, t. Thanh Hóa; nhập ngũ 1966; đv ĐCS VN (1968); khi tuyên dương Ah là trung sĩ, khẩu đội trường tên lửa chống tăng (B72), Đại đội 15, Tiểu đoàn 371. BTL pháo binh. Trong KCCM, 1966-72 chiến đấu ở chiến trường Trị - Thiên, đã đánh 40 trận. 4-9.1972 đánh ba trận, bắn 11 quả đạn B72 diệt 11 xe tăng địch, nổi tiếng về sử dụng vũ khí mới (B72) đạt hiệu suất cao; cùng đơn vị đánh thắng chiến thuật “vỏ thép cứng di động của địch”. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhất. 3 hạng ba).



        LUDÔNG. đảo lớn nhất thuộc quần đảo Philippin. lãnh thổ của Philippin. Dt 105.600km2: ds khoảng 31 triệu người. Địa hình đồi núi trung bình, cao tới 2.934m (ngọn Pulôc). Có các núi lửa đang hoạt động. Khí hậu cận xích đạo, lượng mưa trung bình 2.000-3.000mm/năm. thường có bão lớn. Rừng quanh năm xanh tốt. Nông nghiệp nhiệt đới. Các thành phố lớn: Manila, Kexơn Xiti. Trong CTTG-II, 4.1942 Nhật chiếm L. 9.1.1945 QĐ Mĩ đổ bộ lên L (x. chiến dịch Philippin, 20.10.1944-5.7.1945).

        LUNAKHÔT , thiết bị có điều khiển (tự động hoặc do người) để di chuyển và làm việc trên bề mặt Mặt Trăng. L đầu tiên trên thể giới là L-1 của LX, điều khiển từ Trái Đất, có 8 bánh xe, mỗi bánh có động cơ điện riêng chạy bằng pin Mặt Trời. 4 camera truyền hình có ống kính quay xa, hướng về bốn phía. Làm việc trên Mặt Trăng từ 17.11.1970 đến 4.10.1971. đi được 10,54km. truyền về Trái Đất 206 ảnh toàn cảnh, 20.000 ảnh về bề mặt Mặt Trăng, thực hiện 500 phân tích cơ lí và 25 phân tích hóa học đất trên Mặt Trăng ở những vị trí khác nhau. L-2 (cũng của LX) làm việc trên Mặt Trảng từ 16.1.1973 đến 8.5.1973, đi được 37km, truyền về Trái Đất 88 ảnh toàn cảnh, 80.000 ảnh vô tuyến truyền hình về bể mặt Mặt Trăng. Thuật ngữ L ban đầu được dùng theo tên gọi các thiết bị nói trên của LX, sau đó được sử dụng cho cả các thiết bị tương tự của Mĩ kiểu Rôvơ (Rover) (1971-72) để phục vụ di chuyển của các nhà du hành vũ trụ Mĩ trên bề mặt Mặt Trăng, khi họ thực hiện các chuyến bay trên tàu vũ trụ Apôlô-15, Apôlô-16 và Apôlô-17.

        LŨNG NHAI (cổ), làng bên bờ Sông Âm, ở chân núi Bù Me (cao 703m), nay là làng Lũng Mĩ (tên nôm là Làng Mé, gồm làng Mé Trên và làng Mé Dưới), xã Ngọc Phụng, h. Thường Xuân, t. Thanh Hóa, cách Lam Sơn 12km về phía tây. Tại LN, 2.1416 đã diễn ra hội thề Lũng Nhãi. Lê Lợi và 18 người cùng chí hướng của ông làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em, nguyện hợp sức đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập cho đất nước. Tại đây bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hình thành, đặt cơ sở đầu tiên cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng chống Minh (1418-27).

        LŨNG PHÀY X. ĐÈO BÔNG LAU

        LUỒN SÂU, thủ đoạn tác chiến lợi dụng sơ hở. khoảng cách trong phòng ngự của đối phương và những điểu kiện khác (đêm tối, sương mù, địa hình...) bí mật bất ngờ cơ động một bộ phận lực lượng vào sâu trong thế trận của chúng để đánh chiếm hoặc tiêu diệt một số mục tiêu hiểm yếu; ngăn chặn quân địch rút chạy hoặc tăng viện, làm rối loạn đội hình chiến đấu (bố trí chiến dịch) của chúng, tạo điều kiện và phối hợp với lực lượng chủ yếu tiêu diệt quân địch hoàn thành nhiệm vụ được giao. Có: LS chiến thuật, LS chiến dịch và có thể có LS chiến lược. LS thường thực hiện trước, cũng có khi đồng thời với bắt đầu tiến công. Lực lượng LS phải được tổ chức tinh gọn, đủ khả năng chiến đấu độc lập.

        LUÔN SÂU đặc công, bí mật đưa lực lượng vào bên trong mục tiêu hoặc vào chiều sâu phòng ngự của địch để tiến hành trinh sát. thực hiện đòn đánh và thực hiện nhiệm vụ chiến đấu khác; thủ đoạn tác chiến chủ yếu của bộ đội đặc công.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #53 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:25:01 pm »


        LUỒN - THỌC SÂU đặc công, kết hợp giữa luồn sâu và thọc sâu. được thực hiện bằng cách luồn sâu đến vị trí quy định rồi bất ngờ thọc sâu thẳng đến mục tiêu công kích; thủ đoạn tác chiến cơ bản. quan trọng của đặc công. Thường dùng để tiến hành tập kích bí mật, khi tình hình địch và địa hình không cho phép sử dụng một thủ đoạn tác chiến luồn sâu hay thọc sâu.

        LUY LÂU (Liên Lâu), huyện thuộc q. Giao Chỉ thời thuộc Hán (111tcn- 220scn) và thuộc Ngô (222-80). Ở vào khoảng khu vực phía đông tp Hà Nội, nam t. Bắc Ninh, bắc t. Hưng Yên ngày nay. Huyện thành ở phía nam Sông Đuống (hiện còn di tích ở xã Thanh Khương, h. Thuận Thành, t. Bắc Ninh), từ cuối đời Tây Hán đến 218 là nơi đặt trị sở q. Giao Chi. Năm 40-43, Hai Bà Trưng lãnh đạo nhân dân Giao Chỉ khởi nghĩa chông lại ách đô hộ nhà Hán. nghĩa quân đã giải phóng được 65 thành trì, trong đó có LL. thành lũy cuối cùng của quân đô hộ.

        LŨY X. CHIẾN LŨY

        LŨY NHẬT LỆ. lũy đắp bằng đất, bên ngoài đóng cọc lim ở h. Lệ Ninh. t. Quảng Bình, cao 6m, dài khoảng 18km. từ cửa Nhật Lệ đến núi Đầu Mâu. Do Đào Duy Từ tổ chức xây dựng 1631. Là công trình phòng ngự của chúa Nguyễn, ngăn chặn quân Trịnh từ bắc tiến vào. Lợi dụng địa thế hiểm trở của núi, sông kết hợp với hệ thống chiến lũy có bố trí hỏa lực mạnh (cứ 20m có 1 súng thần công, 40m có 1 máy phóng đá), LNL hợp với lũy Trường Dực trở thành một hệ thống phòng thủ vững chắc mà trước đây được xem là bất khả xâm phạm. Được gọi là Lũy Thày để tỏ lòng tôn kính Đào Duy Từ, người sáng tạo công trình này. 1842 Thiệu Trị đổi tên là Định Bác trường thành. Cg lũy Đồng Hới, lũy Trấn Ninh.

        LŨY THÀY X. LŨY NHẬT LỆ

        LŨY TRƯỜNG DỰC, lũy đất ở h. Lệ Ninh. t. Quảng Bình, dài khoảng 10km, cao 3m, dọc theo sông Rào Đá và sông Nhật Lệ, bắt đầu từ chân dãy núi đá Hoàng Sơn thuộc làng Trường Dực theo hướng đông đến các đầm lầy ven biển. LTD do Đào Duy Từ tổ chức đắp 1630, dựa vào địa thế hiểm trở của sông, núi, phá và đầm lầy với hệ thống chiến lũy nhằm mục đích ngăn chặn quân Trịnh tiến từ Bắc vào.

        LŨY TRƯỜNG SA, lũy đất ở h. Phong Lộc, phủ Quảng Ninh, nay thuộc tx Đồng Hới và h. Quảng Ninh, t. Quàng Bình do Nguyễn Hữu Dật tổ chức đắp 1634 theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi). Dài 7km, từ Sa Động men theo bờ cát ven biển đến Huân Cát (Dòc Cát, nay thuộc xã Bảo Ninh, tx Đồng Hới) trên bờ nam sông Nhật Lệ. Cùng với lũy Nhật Lệ và lũy Trường Dực tạo thành hệ thống phòng ngự liên hoàn, ngăn chặn các cuộc tiến công của quân Trịnh từ phía Bắc.

        LUYCHXĂMBUA nh LUYXEMBUA

        LUYỆN QUÂN LẬP CÔNG, cuộc vận động huấn luyện QS nâng cao kĩ thuật chiến đấu cơ bản trong LLVTND VN những năm 1948-49. Được tiến hành theo huấn lệnh của Bộ tổng chỉ huy (11.1947). LQLC nhanh chóng phát triển rộng khắp trong toàn quân với nội dung toàn diện, trong đó các môn: bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn được luyện tập kĩ; ngoài ra việc học tập những nội dung phục vụ nhiệm vụ công đồn và vận động chiến cũng được tiến hành. LQLC góp phần nâng cao rõ rệt trình độ kĩ thuật chiến đấu cơ bản của bộ đội; có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và chiến đấu của LLVTND VN trong những năm đầu KCCP.

        LUYỆN TẬP THAM MƯU, hình thức huấn luyện cơ quan tham mưu nhằm bồi dưỡng và nâng cao kĩ năng thực hiện chức trách của cán bộ tham mưu và hiệp đồng giữa các cơ quan. LTTM có thể tiến hành: trên bản đồ hay ngoài thực địa; luyện tập riêng hay tập chung. Tập riêng là luyện tập theo chức trách của ban, phòng, cục, ngành, cơ quan tham mưu binh chủng dưới sự chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan đó. Tập chung là hợp luyện các ban, phòng, cục, ngành, cơ quan tham mưu binh chủng theo kế hoạch chung về huấn luyện chiến đấu (chiến dịch) của binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn, dưới sự chỉ đạo của tham mưu trưởng hoặc người chỉ huy trường cấp đó.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #54 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:26:40 pm »


        LUYXEMBUA (Đại công quốc Luyxembua; Grand-Duché de Luxembourg, A. Grand Duchy of Luxembourg), quốc gia ở Tây Âu; bắc giáp Bỉ, đông giáp Đức, tây và tây nam giáp Pháp. Dt 2.586km2; ds 454 nghìn người (2003). Ngôn ngữ chính thức: tiếng Pháp, Đức, Luyxembua. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thủ đỏ: Luyxembua. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là đại quốc chủ. Cơ quan lập pháp: viện đại biểu. Cơ quan hành pháp: chính phủ. Địa hình đồng bằng xen kẽ đồi, độ cao 300-400m. Phía bắc là các nhánh núi, thuộc dãy Anpơ. Khí hậu cận nhiệt đới, ôn hòa. Mạng sông ngòi dày đặc. Rừng chiếm 1/3 lãnh thổ. Công nghiệp phát triển. Cơ sở của nền kinh tế là ngành khai thác quặng sắt, luyện kim, do tư bản Pháp, Bỉ kiểm soát. GDP 18,54 tỉ USD (2002), bình quân đầu người 42.040 USD. Thành viên LHQ (24.10.1945), Liên minh châu Âu (EU), NATO... Lập quan hệ ngoại giao với VN cấp đại sứ 15.11.1973. LLVT: lực lượng thường trực 900 người, lực lượng bán vũ trang 610 người. Tuyển quân theo chế độ tình nguyện. Trang bị: 5 xe thiết giáp, 6 cối 81mm, 6 tên lửa chống tăng... Sân bay của NATO ở L có 17 máy bay chiến đấu. Ngân sách quốc phòng 180 triệu USD (2002).



        LƯ GIANG (Lê Bá Ườc; 1920-94), tư lệnh Quân khu Thủ Đô (1980-89). Quê xã Vô Tranh, h. Lục Nam, t. Bắc Giang; tham gia CM 1942, nhập ngũ 5.1945, trung tướng (1984); đv ĐCS VN (1945). Tháng 10.1942 cán bộ Việt Minh tỉnh Bắc Giang. 7.1945 chỉ đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Lục Nam và tx Bắc Giang; đại đội trưởng Cứu quốc quân; đại đội trưởng Đại đội Nam tiến Bắc Bắc. 1946-52 tiểu đoàn trường, trung đoàn trường các trung đoàn chủ lực của Liên khu 5. Tháng 12.1953-54 phái viên BTTM ở Liên khu 5; chỉ huy lực lượng tiếp quản Quy Nhơn. 12.1954- 64 tham mưu trường Sư đoàn pháo binh 349, lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 368, tham mưu phó BTL pháo binh, tư lệnh Phân khu Nam Quân khu 5. Tháng 9.1968 sư đoàn trưởng Sư đoàn 3. Năm 1970-71 phó tư lệnh rồi tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Quân khu 5. Tháng 2.1973 trưởng đoàn đại biểu QGP MN trong Ban liên hợp QS bốn bên ở khu vực Đà Nẵng. 5.1973 trưởng đoàn QS của chính phủ CM lâm thời cộng hòa miền Nam VN trong Ban liên hợp QS hai bên ở khu vực Plây Cu. 3.1975 phó tư lệnh Quân khu 5. Tháng 11.1977-79 tư lệnh BTL Thủ Đô; phó tư lệnh Quân khu Thủ Đô. 1980-89 tư lệnh, bí thư đảng ủy Quân khu Thủ Đô, ủy viên thành ủy Hà Nội. Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII. Huân chương: Độc lập hạng nhất, Quân công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến công (hạng nhất, hạng nhì), Chiến thắng hạng nhất...



        LƯ HÁN (Lu Han; 1891-?), tướng của phái quân phiệt Vân Nam (TQ), chỉ huy 200 nghìn quân Tưởng (QĐ Trung Hoa di quốc) nhận sự đầu hàng và giải giáp quân Nhật ở VN và Lào (bắc vĩ tuyến 16) sau CTTG-II. trung tướng (1945). Dân tộc Ló Lô. người Vân Nam (TQ). Đầu 1940 tư lệnh Phương diện quản 1 ở Chiến khu 9 (TQ). 9.1945 được Tưởng Giới Thạch giao cho chỉ huy 4 quân đoàn và một số sư đoàn độc lập sang Đông Dương. Tại VN, LH đã áp dụng chính sách “diệt cộng, cầm Hồ” (bắt Hồ Chí Minh) và “tiền - tiêu diệt Việt Minh, hậu - giải giáp quân Nhật” nhằm thủ tiêu ĐCS Đông Dương và chính phủ VN DCCH, đặt nhiệm vụ giải giáp quân Nhật xuống hàng thứ yếu. 1946 do sự thỏa thuận giữa Pháp và Trung Hoa dân quốc. theo hiệp ước Pháp - Hoa (1946), LH phải rút quân về nước, không thực hiện được ý đồ chống phá CM VN. 1949 khi quân Tưởng rút ra Đài Loan, LH ở lại lục địa.

        LỮ, 1) đơn vị tổ chức của quân đội Đinh, liền dưới quân. gồm 10 tốt (mỗi tốt gồm 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người), quân số khoảng 1.000 người. Trong QĐ TQ đời nhà Chu, 1 L gồm 5 tốt với quân số khoảng 500 người; 5 L là một sư, quân số 2.500 người; 2) nh lữ đoàn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #55 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:27:42 pm »


        LỮ ĐẠI (H. Luda), tàu khu trục tên lửa do TQ thiết kế và chế tạo theo mẫu tàu khu trục kiểu Côtlin của LX. Tính năng chiến - kĩ thuật: lượng giãn nước tiêu chuẩn 3.250t, chờ đầy 3.670t. Kích thước: 132 X 12,8 X 4,6m. Máy chính: 2 máy hơi nước công suất 53 MW (72.000cv), 2 trục chân vịt. Tốc độ 32 hải lí /h; tầm đi xa 2.970 hải lí ở tốc độ 18 hải lí /h. Quân số: 280 (45 sĩ quan). Vũ khí trang bị: 6 tên lửa đối hải (2 bệ X 3 ống) HY-2 (C-201); tên lửa phòng không HQ-7 phóng thẳng đứng tới độ cao 13km; 4 hoặc 2 pháo 130mm 2 nòng (Nga). 8 pháo (TQ) 57mm; 8 pháo (TQ) 37mm; 8 pháo (Nga) 25mm; 6 ống phóng ngư lôi (2x3 ống 324mm, ngư lôi Yu-2); súng cối: 2 giàn FQF 2500 có 12 ống cố định; 38 thủy lôi. Chiếc đầu tiên được đóng và đưa vào hoạt động 1971. Năm 1972-85, sản xuất hàng loạt và đưa vào sử dụng các tàu có số hiệu từ 105 đến 110 đóng ở Lữ Đại (TQ), trang bị cho Hạm đội Bắc Hải; số hiệu từ 131 đến 134 đóng ở Thượng Hải. trang bị cho Hạm đội Đông Hải; số hiệu từ 161 đến 165 đóng ở Quảng Châu, trang bị cho Hạm đội Nam Hải. 1978 tàu LĐ 160 bị hỏng trong một vụ nổ và bị loại bỏ. Từ 1984 một số tàu LĐ được hiện đại hóa thành LĐ II bằng việc trang bị động cơ tuabin khí LM-2500 của hãng Generơn Electric (Mĩ), cái tiến tên lửa đối hải (nâng tầm bắn lên 70km), đối không, trang bị máy bay trực thăng chống ngầm, rađa mạng pha, pháo phòng không tự động 2 nòng và các thiết bị điện tử mới nhất của TQ...

        LỮ ĐOÀN, đơn vị lớn hơn trung đoàn, nhỏ hơn sư đoàn, là binh đoàn chiến thuật, có thể hành động độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Ở VN, LĐ thường gồm 4-6 tiểu đoàn và một số đại đội trực thuộc, nằm trong biên chế quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng, bộ đội chuyên môn hoặc trực thuộc BQP, BTTM. Có LĐ chiến đấu (LĐ bộ binh, LĐ bộ binh cơ giới, LĐ xe tăng, LĐ pháo binh, LĐ hải quân đánh bộ...), LĐ bảo đảm hoặc phục vụ (LĐ công binh, LĐ thông tin...) Trong QĐND VN, LĐ được tổ chức lần đầu tiên theo nghị định 47-NĐA ngày 21.3.1958 của BQP. 

        LỮ ĐOÀN 45 X. ĐOÀN PHÁO BINH TÂT THẮNG

        LỮ ĐOÀN 203. lữ đoàn xe tăng thuộc Quán đoàn 2 (từ 5.1974), tiền thân là Trung đoàn 203 - trung đoàn xe tăng thứ hai của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1975). Thành lập 22.6.1965 thuộc BTL thiết giáp; 6.1973 thuộc Quân khu Trị - Thiên. Gồm 3 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn thiết giáp... Đánh thắng trận đầu ở Tà Mây - Làng Vây (chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, 1968), tham gia các chiến dịch: Đường 9 - Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972)... Đặc biệt, trong chiến dịch Hồ Chí  Minh (26-30.4.1975), LĐ 203 dẫn đầu đội hình thọc sâu của Quân đoàn 2 đánh chiếm dinh Độc Lập, cắm cờ chiến thắng lên nóc dinh, cùng đơn vị bạn bắt toàn bộ thành viên nội các chính quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện (30.4.1975). Từ 28.8.1991 chuyển thành Trung đoàn 203. Ngày truyền thống 22.6.1965. Lữ đoàn trường, chính ủy đầu tiên: Phạm Quang Độ, Nguyễn Kim Hoàng.

        LỮ ĐOÀN 205, lữ đoàn thông tin thuộc BTL thông tin liên lạc; đơn vị Ah LLVTND (1978). Thành lập 1.8.1985. Tiền thân là Tiểu đoàn 303 (tiểu đoàn thông tin đầu tiên của QĐND VN), thành lập 15.2.1951 thuộc Cục thông tin liên lạc (tiểu đoàn trường: Nguyễn Tân, chính trị viên: Trần Văn Sơn); đổi thành Tiểu đoàn 133 (1954); phát triển thành Trung đoàn 303 (1957); đổi là Trung đoàn 205 (1958) và chuyển thành LĐ 205 (1985). Trong KCCP và KCCM, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc giữa các cơ quan lãnh dạo, chỉ huy của BQP với các đơn vị trong toàn quân. Ngày truyền thống 23.10.1958 (ngày lễ thành lập Trung đoàn 205). Lữ đoàn trường, phó lữ đoàn trường về chính trị đầu tiên: Nguyễn Xuân Bá, Nguyễn Tiến Thủy.

        LỮ ĐOÀN 229. lữ đoàn công binh công trình của QĐND VN trực thuộc BTL công binh: đơn vị Ah LLVTND (1985). Tổ chức tiền thân là Trung đoàn 151 - trung đoàn công binh đầu tiên của QĐND VN, thành lập 15.1.1951 (trung đoàn trưởng: Phạm Hoàng, chính ủy: Lê Khắc), thuộc Đại đoàn 351 (từ 3.1951). Tham gia các chiến dịch: Trần Hưng Đạo (12.1950-1.1951), Hoàng Hoa Thám (1951), Hoà Bình (1952), Thượng Lào (1953), Điện Biên Phù (1954). Đến 7.1954 Trung đoàn 151 tách khỏi Đại đoàn 351 để thành lập bốn đoàn công binh (106, 333, 444 và 555), trong đó Đoàn 444 kế thừa truyền thông Trung đoàn 151 và chuyển thành Trung đoàn 229 (1958). Trung đoàn 229 làm nhiều công trình QS quan trọng ở miền Bắc: tham gia chiến dịch Trị Thiên (1972), làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào (1959-61). Năm 1981 chuyển thành LĐ 229. Ngày truyền thống 15.1.1951. Cg Đoàn công binh Sông Đà. Lữ đoàn trường (1981): Nguyễn Đắc Nền.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #56 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:29:08 pm »


        LỮ ĐOÀN 249. lữ đoàn công binh vượt sông của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (1985). Tiền thân là Đoàn 555; thành lập 2.1955 trên cơ sở tách Trung đoàn 151 (thuộc Đại đoàn 351, tháng 7.1954) thành 4 đoàn công binh (555, 444, 333 và 106); chuyên thành Trung đoàn công binh vượt sông 249 (1958), Lữ đoàn công binh vượt sông 249 (1977). Tham gia bảo đảm vượt sông ở khu vực Hà Nội, trên địa bàn Quân khu 4 (trong những năm chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mĩ ở miền Bắc VN) và chiến dịch Quảng Trị 1972, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia (1979). Lữ đoàn trưởng, chính ủy đầu tiên: Dương Văn Cách, Thân Thế Xương. Cg Đoàn công binh Sông Lô.

        LỮ ĐOÀN 614. lữ đoàn thông tin tiếp sức, đôi lưu trực thuộc BTL thông tin liên lạc. Thành lập 18.4.1988, trên cơ sở hợp nhất Trung đoàn thông tin tiếp sức 138 và Trung đoàn thông tin đối lưu 612. Tiền thân là Đại đội vô tuyến điện tiếp sức 22 thuộc Trung đoàn thông tin 205, Cục thông tin liên lạc (thành lập 19.8.1959), phát triển thành Tiểu đoàn thông tin tiếp sức 4 (12.4.1962), sáp nhập với Đoàn 138 thành Trung đoàn thông tin tiếp sức 138 (5.2.1977). Trong KCCM, có nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc đường trục vô tuyến điện tiếp sức, từ BQP (BTTM) đến một số đơn vị trên chiến trường. Sau 4.1975 các đường trục liên lạc vô tuyến điện tiếp sức, vô tuyến điện đối lưu tiếp tục được triển khai để bảo đảm thông tin liên lạc BQP (BTTM) với các quân khu, quân đoàn... ở phía Bắc; kết nối với đường trục viễn thông phía Nam hình thành đường trục liên lạc QS Bắc - Nam, kịp thời đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy. Ngày truyền thống 19.8.1959. Lữ đoàn trưởng và phó lữ đoàn trưởng về chính trị đầu tiên: Đàm Rơi và Phạm Tư.

        LỮ ĐOÀN 675 X. ĐOÀN PHÁO BINH ANH DŨNG

        LỮ ĐOÀN CÔNG BINH, binh đoàn thuộc công binh chủ lực, biên chế trong quân khu, quân chủng, Binh chủng công binh gồm từ 4 đến 6 tiểu đoàn công binh được chuyên môn hóa, có trang bị cơ giới và một số đại đội chuyên môn khác để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và bảo đảm công binh trong tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng ở quy mô chiến dịch, chiến lược. Thường có các loại LĐCB: hỗn hợp (trực thuộc quân khu, quân chủng), chuyên trách (trực thuộc Binh chủng công binh). Trong QĐND VN, LĐCB được tổ chức lần đầu tiên vào 10.1973 (Lữ đoàn 299, Quân đoàn 1).

        LỮ ĐOÀN CÔNG BINH 513, lữ đoàn công binh hỗn hợp thuộc Quân khu 3; đơn vị hai lần Ah LLVTND (1985 và 1994). Tiền thân là Tiểu đoàn công binh 25 thuộc Quân khu Tả Ngạn, thành lập 19.5.1958, phát triển thành Trung đoàn công binh 513 (15.7.1976), LĐCB513 (26.8.1989) theo quyết định số 229/QĐ-QP của BQP. Trong KCCM, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông ở Thanh Hóa, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hoà Bình (xây, lắp 50.000m cầu nổi, chèo chở 25.000 chuyến phà, bắn rơi 1 máy bay Mĩ). 1975-76 phá gỡ bom, mìn, thủy lôi ở Bình - Trị - Thiên, Hải Phòng, Lào (rà phá 35.900 quả bom, mìn, thủy lôi, giải phóng hơn 10.000 ha đất sản xuất). 1982 phá gỡ hết số bom tại công trường thủy điện Sông Đà (Hoà Bình). 1984-94 rà phá bom mìn, vật cản (tháo gờ 3.432 quả mìn. 10.596 chông các loại), mở đường, xây dựng công trình phòng thủ biên giới phía Bắc, địa bàn Quân khu 3, làm nghĩa vụ quốc tế ở Lào. 1995-97 xây dựng, sửa chữa nâng cấp một số công trình quốc phòng, công trình kết hợp kinh tế với quốc phòng, rà phá bom mìn trên địa bàn Quân khu 3. Ngày truyền thống 15.5.1958. Lữ đoàn trưởng, phó lữ đoàn trưởng về chính trị đầu tiên: Vũ Anh Đức. Đỗ Hằng.

        LỮ ĐOÀN CƠ ĐỘNG VIỄN ĐÔNG nh BMEO

        LỮ ĐOÀN GARIBANĐI, 1) Lữ đoàn 12, một trong bảy lữ đoàn quốc tế đã tham gia nội chiến Tây Ban Nha (1936-39) bên phía những người cộng hòa. Thành lập 4.1937 trên cơ sở tiểu đoàn mang tên người anh hùng dân tộc Italia Garibanđi (1807-82); tiểu đoàn này được tổ chức từ 10.1936, gồm 520 người Italia; 2) gọi chung các đội du kích do ĐCS Italia thành lập để chiến đấu chống phát xít Đức chiếm đóng Italia (1943- 45). Có 575 LĐG, gồm 153.000 người, nòng cốt là đv ĐCS và hàng nghìn công dân LX trốn khỏi trại tập trung phát xít Đức. Có vai trò quan trọng trong chiến tranh giải phóng dân tộc Italia.

        LỮ ĐOÀN HẢI QUÂN, lữ đoàn làm nhiệm vụ chiến đấu hoặc bảo đảm chiến đấu của hải quân, gồm những tàu cùng loại hoặc khác loại; có khả năng hoạt động độc lập hoặc trong đội hình cấp trên. Tổ chức thường gồm 4-6 hải đoàn hoặc tiểu đoàn và một số đơn vị trực thuộc. LĐHQ thuộc biên chế của vùng hải quân hoặc trực thuộc BTL hải quân. Có LĐHQ chiến đấu (tàu tên lửa, tàu ngư lôi, tàu tuần tiễu...), LĐHQ bảo đảm phục vụ (vận tải - đổ bộ...).

        LỮ ĐOÀN HẢI QUÂN ĐÁNH BỘ. lữ đoàn hải quân có chức năng tiến hành các trận chiến đấu trên bộ (trong thành phần quân đổ bộ đường biển), phòng thủ bờ biển, hải đảo, cảng, căn cứ hải quân... LĐHQĐB gồm: ban chỉ huy lữ, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần kĩ thuật, một số tiểu đoàn hải quân đánh bộ, các phân đội xe tăng, pháo binh, công binh và một số phân đội chuyên môn và hậu cần khác.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #57 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:30:58 pm »


        LỮ ĐOÀN PHÁO BINH, binh đoàn chiến thuật của pháo binh thường gồm 4 tiểu đoàn pháo và các phân đội chỉ huy, bảo đảm. Được tổ chức trong lực lượng pháo binh dự bị của Bộ, các quân khu, một số quân đoàn và quân chủng hải quân. LĐPB thường được trang bị một số loại pháo xe kéo cỡ lớn. LĐPB đầu tiên của QĐND VN được thành lập 3.1958 (LĐPB 368...).

        LỮ ĐOÀN PHÒNG KHÔNG, lữ đoàn thuộc Quân chủng phòng không - không quân, quân khu, quân đoàn; gồm một số tiểu đoàn phòng không và các phân đội bảo đảm, phục vụ. Có nhiệm vụ tiêu diệt phương tiện tiến công đường không của địch; bảo vệ các mục tiêu chính trị, kinh tế, QS và thực hiện nhiệm vụ độc lập hoặc trong đội hình của bộ đội binh chủng hợp thành. Có lữ đoàn tên lửa phòng không, lữ đoàn pháo phòng không. Lữ đoàn pháo phòng không thường được tổ chức ở các quân khu, quân đoàn.

        LỮ ĐOÀN QUỐC TẾ, gọi chung các lữ đoàn gồm người tình nguyện từ 54 nước (chủ yếu ở châu Âu) tham gia nội chiến Tây Ban Nha (1936-39) bên phía những người cộng hòa. Được thành lập theo đề xướng của Quốc tế III; LX giúp đỡ về tổ chức, trang bị và huấn luyện. Có 7 LĐQT (11, 12, 13, 14, 15, 150 và 129, gồm khoảng 35.000 người), chiến đấu ở bắc Tây Ban Nha và Mađrit. Các LĐQT lần lượt rút khỏi Tây Ban Nha từ 10.1938 theo yêu cầu của chính phủ cộng hòa.

        LỮ ĐOÀN RỒNG XANH. Lữ đoàn thủy quân lục chiến 2 của QĐ Nam Triều Tiên tham chiến ở miền Nam VN (1965). Tổ chức gồm: 4 tiểu đoàn bộ binh, Tiểu đoàn pháo binh 569 (105mm); đại đội xe tăng, đại đội xe lội nước. LĐRX hoạt động chủ yếu ở Vùng chiến thuật 1, SCH ở Chu Lai; rút khỏi miền Nam VN 1972.

        LỮ ĐOÀN TĂNG, lữ đoàn chiến đấu được trang bị xe tăng và xe thiết giáp (xe chiến đấu bộ binh), thuộc BTL tăng thiét giáp, quân đoàn, quân khu, quân chủng... Thường biên chẽ 3- 4 tiểu đoàn tăng, 1 tiểu đoàn bộ binh cơ giới, các đại đội trực thuộc: trinh sát. thông tin, công binh, sửa chữa, vận tải. quân y và một sỏ phân đội bảo đảm khác; có khi có tiểu đoàn (đại đội) pháo tự hành hoặc pháo phòng không. LĐT hoạt động tác chiến độc lập hoặc trong đội hình chiến dịch. Trong QĐND VN, Lữ đoàn 202 là LĐT đầu tiên, thành lập 25.10.1973 thuộc Binh chủng tăng thiết giáp, từ 27.12.1973 thuộc Quân đoàn 1.

        LỮ ĐOÀN THÔNG TIN. lữ đoàn thuộc BTL thông tin liên lạc, Quân chung phòng không - không quân, có chức năng bảo đảm thông tin liên lạc trong tác chiến và các nhiệm vụ khác. LĐTT thường gồm: 4-6 tiểu đoàn và các cơ quan. Theo chức năng và nhiệm vụ, có LĐTT: tổng trạm, đường trục. LĐTT đầu tiên của QĐND VN là LĐTT 205, thành lập 2.8.1985

        LỮ THUẬN, thành phố cảng, căn cứ hải quân TQ trên bán đảo Liêu Đông. Dt vùng nước 5km2, sâu 10m. Có xưởng sửa chữa tàu. Cuối tk 19, LT là một làng, theo hiệp định 1898. cho Nga thuê làm căn cứ hải quân trong 25 năm. Nhật chiếm đóng từ 1905-45. Tháng 8.1945 QĐ LX giải phóng LT. Theo thỏa ước Xô - Trung (1945) LX và TQ sử dụng chung căn cứ LT. 1955 QĐ LX rút khỏi LT, chuyển giao toàn bộ các thiết bị của căn cứ cho TQ.

        LỰC, gọi tắt của lực lượng, thường dùng đi đôi với thuật ngữ thế.

        LỰC LƯỢNG, 1) toàn bộ sinh lực, phương tiện vật chất và các khả năng khác được sử dụng để tiến hành chiến tranh và các hoạt động quản sự. Có LL QS, LL chính trị, LL kinh tế, LL vật chất. LL tinh thần...; 2) sinh lực và các phương tiện vật chất được sử dụng để tác chiến, bảo đảm và phục vụ tác chiến, như LL: chủ yếu, thứ yếu (bổ trợ), tiến công, phòng ngự, bao vây, vu hồi, chặn viện, phòng không, vận tải QS... Trong một số trường hợp, LL gọi tắt là lực, có khi là binh lực.

        LỰC LƯỢNG AN NINH ĐỊA PHƯƠNG, gọi chung các tổ chức QS, bán QS và lực lượng nhân dân có vũ trang ở địa phương (tỉnh, huyện, xã) của chính quyền Sài Gòn. LLANĐP gồm: địa phương quân (bảo an đoàn), nghĩa quân (dân vệ đoàn), cảnh sát quốc gia và nhân dân tự vệ. Nhiệm vụ: bảo đảm an ninh, yểm trợ bình định, hoạt động tình báo... và phối hợp với các lực lượng tại địa phương để hoàn thành những nhiệm vụ khác. LLANĐP thuộc quyền chỉ huy của cơ quan QS địa phương (tiểu khu, chi khu, phân chi khu).

        LỰC LƯỢNG BÁN VŨ TRANG, lực lượng được vũ trang ở mức độ nhất định, không thoát li sản xuất và cơ sở (địa phương), do một giai cấp, nhà nước hoặc tập đoàn xã hội tổ chức nhằm những mục đích nhất định (chủ yếu là hỗ trợ hoạt động của lực lượng vũ trang tập trung). LLBVT có thể là một thành phần trong LLVT của nhà nước (như dân quân tự vệ trong LLVTND VN); hoặc độc lập thậm chí đối lập với nhà nước (như LLBVT của các phong trào CM hoặc phong trào chống đối ở một số nước...). Cg lực lượng vũ trang quân chúng.

        LỰC LƯỢNG BẢO ĐẢM KĨ THUẬT, gọi chung sinh lực, phương tiện vật chất và các kha năng khác của ngành kĩ thuật có thể sử dụng để thực hiện công tác bảo đảm kĩ thuật cho các nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của một đơn vị hay toàn bộ LLVT. Bao gồm toàn bộ lực lượng, phương tiện của các cơ quan kĩ thuật và cơ sở kĩ thuật.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #58 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:32:08 pm »


        LỰC LƯỢNG BIỆT ĐỘNG thành phố Sài Gòn, đơn vị Ah LLVTND (1976); thành lập 1963, tiền thân là các đơn vị tự vệ, cảm tử, quyết tử và công tác đặc biệt thuộc LLVT, các đoàn thể và tổ chức xã hội, từ thời kì đầu KCCP. Vừa chiến đấu vừa xây dựng trướng thành, nhất là thời kì 1963-75. Nhiệm vụ chủ yếu: tiến công những mục tiêu đặc biệt quan trọng, hiểm yếu của địch như: cơ quan đầu não, sinh lực cao cấp, các phương tiện chiến tranh hiện đại. Tổ chức LLBĐ rất đa dạng: tổ, đội, đại đội, tiểu đoàn độc lập hoặc đoàn, tiểu đoàn trong Lữ đoàn đặc công - biệt động. Liên tục chiến đấu. mưu trí, sáng tạo, bất ngờ, táo bạo, đánh hiểm thắng lớn. Từ 1963-75 đã đánh hàng trăm trận, điển hình là trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất, tàu Cađơ, Toà đại sứ Mĩ... và tiến công hàng chục mục tiêu hiểm yếu trong cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. Diệt hơn 10.000 địch (có hàng nghìn Mĩ), phá hủy hàng trăm máy bay, hàng trăm xe QS, cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại khác, góp phần vào thắng lợi của quân và dân thành phố Sài Gòn và sự nghiệp giải phóng miền Nam. Chỉ huy đầu tiên: Trấn Hải Phụng.
   
        LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN. lực lượng vũ trang chuyên trách của một số nước có biển thực hiện chức năng quân lí về an ninh, trật tự, an toàn và đảm bào việc chấp hành pháp luật và các điều ước quốc tế có liên quan mà nhà nước kí kết hoặc tham gia trên các vùng biển và thềm lục địa của nhà nước đó. Ở VN, LLCSB thành lập 28.8.1998 đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN, sự thống lĩnh của chủ tịch nước, sự thống nhất quản lí nhà nước của chính phủ. BQP trực tiếp tổ chức, quản lí và điều hành mọi hoạt động của LLCSB. Tổ chức hiện nay gồm: Cục cảnh sát biển, các vùng cảnh sát biển (có các hải đội. hải đoàn, đội cảnh sát biển), trường đào tạo cành sát biển và các đơn vị cơ sở.

        LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT ĐẶC BIỆT TOÀN ĐÔNG DƯƠNG. LLVT do Pháp tổ chức ở Đông Dương và Quảng Châu Loan (xứ bảo hộ của Pháp ở TQ) để phục vụ cho việc cai trị thuộc địa của Pháp. Thành lập 30.6.1915 theo sắc lệnh của tổng thống Pháp, gồm toàn bộ binh lính người bản xứ (Đông Dương và Quảng Châu Loan) không thuộc lực lượng chính quy (QĐ thuộc địa của Pháp); thuộc quyền chỉ huy tối cao của chính quyền Pháp (ở VN, do thống đốc Nam Kì, thống sứ Bắc Kì và khâm sứ Trung Kì chỉ huy). Có chức năng: bảo đảm trật tự an ninh; canh gác cổng sở, trại giam, tuyến giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa (của chính quyền ); đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy...; LLCSĐBTĐD được coi như địa phương quân; được tuyển mộ như lính thuộc quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương và sẵn sàng bổ sung cho QĐ thuộc địa khi cần theo lệnh của toàn quyền Đông Dương. Thuộc LLCSĐBTĐD có: vệ binh bản xứ (P. Garde Indigene; ở Bắc Kì, Trung Kì, Lào và Quảng Châu Loan thường gọi là lính khố xanh, ở Nam Kì gọi là lính thủ bộ), vệ binh miền núi (P. Garde Montagnade; thường gọi là lính châu hoặc lính dõng) và lính cơ (P. Miiice). Quân số (đầu 1945) khoảng 22.000 người. Tan rã khi Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945); một bộ phận (lính khố xanh) được Nhật chuyển thành bảo an binh.

        LỰC LƯỢNG CHI VIỆN, gọi chung các phân đội, binh đội... và các phương tiện chiến đấu của cấp trên phái ra, để tăng cường sức chiến đấu cho cấp dưới giải quyết nhiệm vụ tác chiến; một thành phần của lực lượng tác chiến. LLCV không thuộc quyền người chỉ huy đơn vị được chi viện, nhưng phải thực hiện các nhiệm vụ do người chỉ huy đơn vị đó đề ra theo kế hoạch hiệp đồng tác chiến.

        LỰC LƯỢNG CHIẾN LƯỢC, 1) bộ phận LLVT dưới sự chỉ đạo (chỉ huy) trực tiếp của bộ tổng tư lệnh để thực hiện nhiệm vụ tác chiến chiến lược, tăng cường cho các tập đoàn (liên binh đoàn) chiến dịch và chiến lược, thành lập các đơn vị mới và thực hiên những nhiệm vụ khác... Thành phần và tổ chức LLCL được xác định căn cứ vào ý định và nhiệm vụ chiến lược, tình hình và khả năng của LLVT của hai bên đối địch, khả năng động viên của đất nước cho chiến tranh, khả năng bảo đảm các mặt, điều kiện địa lí chiến trường và các điều kiện khác... LLCL bao gồm: các tập đoàn (cụm) LLCL đang tiến hành hoạt động tác chiến; các liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội... làm lực lượng dự bị chiến lược; lượng dự trữ chiến lược như vũ khí, trang bị và các phương tiện vật chất, kĩ thuật khác...; 2) bộ phận LLVT của các cường quốc hạt nhân trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ chiến lược trong chiến tranh hạt nhân (không thông qua tiến hành các chiến dịch và trận chiến đấu). Bao gồm: lực lượng tiến công chiến lược (bộ đội tên lửa hạt nhân chiến lược, máy bay chiến lược, tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa đạn đạo); lực lượng phòng ngự chiến lược (hệ thống thông báo, báo động về đột kích hạt nhân, lực lượng và phương tiện chống tên lửa và phương tiện vũ trụ...); 3) thứ quân có vai trò chiến lược trong LLVTND VN (dân quân tự vệ...).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23683


« Trả lời #59 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:33:27 pm »


        LỰC LƯỢNG CHỐNG NGẦM, đơn vị được trang bị các phương tiện chuyên dụng, có nhiệm vụ phát hiện và tiêu diệt tàu ngầm đối phương. Thường có tàu mặt nước, tàu ngầm, máy bay, máy bay trực thăng chống ngầm... Để săn tìm và tiêu diệt tàu ngầm. LLCN thường hoạt động trong đội hình các nhóm tàu tìm diệt, đội hình của binh đoàn chống ngầm, ở khu vực (dải) dự định, trên các tuyến chống ngầm và khi bảo đảm chống ngầm cho tàu mặt nước hành quân trên biển.

        LỰC LƯỢNG CHỦ YẾU, bộ phận lực lượng được tổ chức theo các quy mô khác nhau (chiến thuật, chiến dịch, chiến lược), dùng để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu, trên hướng chủ yếu. Thành phần của LLCY gồm: phần lớn các đơn vị trong biên chế, các lực lượng phối thuộc, chi viện và phần lớn trữ lượng bay của không quân dành cho chiến dịch (trận chiến đấu). Trong tiến công, LLCY là tập đoàn (cụm) tiến công (đột kích) chủ yếu. Trong phòng ngự, LLCY là lực lượng triển khai trên hướng tiến công chủ yếu của đối phương. Khi hành quân chiến đấu, LLCY đi theo các trục đường bảo đảm khi gặp địch có thể nhanh chóng, bí mật triển khai đội hình chiến đấu và chiếm tuyến có lợi, đánh vào bên sườn hoặc sau lưng quân địch.

        LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG, 1) bộ phận LLVT, thường là bộ đội chủ lực của BQP và quân khu, dùng để tác chiến trên chiến trường cả nước, mỗi vùng chiến lược (mặt trận) hoặc địa bàn mỗi quân khu; có nhiệm vụ thực hiện các đòn tiêu diệt lớn, làm chuyển biến cục diện chiến trường. LLCĐ phối hợp tác chiến với lực lượng tại chỗ làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu của LLVT; 2) bộ phận LLVT của khối liên minh QS có sức cơ động cao để thực hiện nhiệm vụ tác chiến trên các chiến trường chiến tranh; 3) lực lượng phản ứng nhanh hoặc binh đoàn cơ động nhanh của một số nước.

        LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG ĐƯỜNG SÔNG, binh đoàn chiến thuật Mĩ chuyên hoạt động tác chiến trên các sông lớn ở đồng bằng sông Cửu Long trong chiến tranh xâm lược VN. Thành lập để bảo đảm cơ động nhanh và tác chiến với lực lượng lớn ở địa hình bị sông rạch chia cắt nhiều. Nhiệm vụ: bảo đảm an toàn cho các căn cứ Mĩ và các tuyến giao thông đường thủy; phối hợp với các cuộc tiến công vào đối phương trên bộ; yểm trợ cho hoạt động bình định; làm lực lượng dự bị của MACV ở đồng bằng sông Cửu Long. Đơn vị đầu tiên làm LLCĐĐS là Lữ đoàn 2 thuộc Sư đoàn bộ binh 9, được huấn luyện đặc biệt ở vùng sình lầy Rừng Sác, được trang bị thuyền vải cao su, phao bơi, giày ráo nước nhanh... và đóng quân trên một cụm tàu tác chiến đường sông; gồm 52 tàu chở quân và xe thiết giáp lội nước, 5 tàu chỉ huy - truyền tin, 10 tàu giám sát, 32 tàu tuần tra yểm trợ tiến công, 2 tàu tiếp dầu, 2 tàu vận tải 2.000t, 2 tàu kéo, 2 tàu nhiều chức năng và 3 đốc nổi l00t. Từ khi ra đời (cuối 1966) đến khi rút về Mĩ (8.7.1969), LLCĐĐS đã chịu nhiều thất bại và tổn thất nặng.

        LỰC LƯỢNG DÂN PHÒNG, lực lượng nòng cốt bảo đảm an ninh, ưật tự địa bàn do UBND xã, phường, thị trấn tổ chức và lãnh đạo. Có nhiệm vụ: giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu phố, cụm dân cư thuộc xã, phường, thị trấn; góp phần xây dựng xã, phường, thị trấn an toàn. LLDP ở phường, thị trấn do tiểu ban bảo vệ dân phố trực tiếp chỉ đạo công tác, công an phường (thị trấn) hướng dẫn nghiệp vụ; ở xã do công an xã huấn luyện, hướng dẫn và quản lí hoạt động. Mỗi phường, thị trấn, thôn trong xã tổ chức một đội dân phòng, gồm đội trưởng, một đến hai đội phó và các đội viên.

        LỰC LƯỢNG DỰ BỊ, đơn vị để ở tuyến sau, trong thế trận, dùng để tăng cường cho các đơn vị đang tác chiến ở tuyến trước; giải quyết những nhiệm vụ mới nảy sinh trong quá trình chiến tranh, chiến dịch và trận chiến đấu. LLDB có các loại: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

        LỰC LƯỢNG DỰ BỊ BINH CHỦNG nh ĐỘI DỰ BỊ BINH CHỦNG .

        LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN, toàn thể quân nhân dự bị và phương tiện (vận tải, làm đường, xếp dỡ, thông tin liên lạc, y tế và một số phương tiện khác do chính phủ quy đinh) đã được lựa chọn, sắp xếp để đáp ứng nhu cầu động viên về người theo kế hoạch động viên. Trong thời bình, LLDBĐV được đăng kí, quản lí, tổ chức thành đơn vị dự bị động viên, huấn luyện theo chương trình quy định và thực hiện những nhiệm vụ khác tại địa phương. Khi có lệnh động viên. LLDBĐV được huy động để khôi phục và mở rộng lực lượng QĐ theo tổ chức biên chế thời chiến.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM