Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Năm, 2020, 03:02:41 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: L  (Đọc 1499 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #60 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:34:46 pm »


        LỰC LƯỢNG ĐA QUỐC GIA, lực lượng được huy động theo thỏa thuận từ nhiều nước (khu vực hoặc quốc tế) để tiến hành chiến tranh hoặc các hoạt động QS khác nhằm những mục đích nhất định. LLĐQG gồm chủ yếu là QĐ các nước thành viên, dưới sự chỉ huy của một bộ chỉ huy thống nhất được bố trí ở những khu vực thích hợp, bảo đảm cơ động nhanh, sức đột kích lớn, kịp thời giải quyết các xung đột khu vực, can thiệp quân sự vào nước khác hoặc tiến hành chiến tranh cục bộ... LLĐQG được sử dụng lần đầu để thực hiện thỏa ước Trại Đêvit (1981) do Mĩ bảo trợ; LLĐQG trong chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91) chống Irắc có gần 50 nước tham gia do Mĩ chỉ huy, LLĐQG của NATO do Mĩ lãnh đạo tiến hành chiến tranh chống Nam Tư (3.1999) có 19 nước tham gia.

        LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT MĨ, LLVT do Mĩ thành lập và trực tiếp chỉ huy để tiến hành tác chiến du kích nhằm mục đích chống lại các cuộc nổi dậy vũ trang. Toán LLĐBM đầu tiên được thành lập ở Nhật 6.1957, sau đó đưa vào Nha Trang (VN) để huấn luyện cho QĐ Sài Gòn. LLĐBM được đặc biệt chú ý phát triển dưới thời tổng thống Kennơđi (từ 1960) để thực hiện học thuyết chống nổi dậy, do CIA tổ chức, trang bị, huấn luyện. Ở VN LLĐBM chú trọng phát triển trong các dân tộc ở Tây Nguyên, từ 12.000 quân (1963) đến 42.000 (1964), chia thành toán và đóng thành các trại dọc theo đường Trường Sơn để hoạt động thám báo, biệt kích. Rút khỏi VN 3.1971. Cg lính mũ nồi xanh.

        LỰC LƯỢNG ĐẶC BIỆT VÀNG PAO. LLVT gồm phấn lớn binh sĩ người Mẹo (Mông) do Mĩ trực tiếp tổ chức, trang bị, huấn luyện và cố vấn, Vàng Pao chỉ huy, để tiến hành chiến lược chiến tranh đặc biệt tăng cường của Mĩ ở Lào. Cg đội quân bí mật, không thuộc QĐ Vương quốc Lào. Được xây dựng trên cơ sở Tiểu đoàn 2 biệt kích do Vàng Pao là tiểu đoàn trưởng và số thổ phỉ người Mông còn lại sau cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Lào (1945-54), khoảng 5.000 người. Tới 1961 có 9.000 người, phát triển lên 12.000 (1962), 15.000 (1964), 19.000 (1969), gần 30.000 (1971). Đơn vị tổ chức phổ biến là đại đội, tiểu đoàn; trong một số cuộc hành binh lớn, lâm thời tổ chức binh đoàn cơ động. Trang bị vũ khí nhẹ (tiểu liên, súng trường, cối 60, các loại mìn...). LLĐBVP chia vùng hoạt động thành 5 khu vực chiến lược: Khu 1 (tây sông Nậm U), Khu 2 (Sầm Nưa. Xiêng Khoảng), Khu 3 (Khăm Muộn, Xayannakhẹt), Khu 4 (Hạ Lào), Khu 5 (Viêng Chăn, Bôlikhămxay). Căn cứ chính: Sảm Thông - Long Chẹng (vùng núi hiểm trở đông bắc Viêng Chăn 135km). Có bộ chỉ huy hỗn hợp (gồm sĩ quan Mĩ, Thái, Lào đặt dưới sự chỉ đạo của phân cục CIA) đóng ở U Đon (Thái Lan). Hàng năm, Mĩ chi phí cho LLĐBVP khoảng 150 triệu USD. Từ 1968 được Mĩ sử dụng như lực lượng xung kích. Đã tiến hành nhiều cuộc hành binh đánh phá vùng giải phóng và chịu tổn thất nặng nề. Sau 1975 đại bộ phận tan rã, bộ phận còn lại (cuối 1994 khoảng 8.000) tiếp tục hoạt động chống phá nước CHDC nhân dân Lào.

        LỰC LƯỢNG ĐỒ BỘ đường biển, gọi chung các lực lượng được tổ chức để thực hiện đổ bộ đường biển. Trong thành phần thường có các lực lượng chủ yếu: quân đổ bộ đường biển, lực lượng đổ bộ quân và các lực lượng chi viện.

        LỰC LƯỢNG ĐỔ BỘ QUÂN, tổ chức lâm thời của hải quân khi tiến hành đổ bộ đường biển, bao gồm các đội đổ bộ, đội tàu chi viện hỏa lực, các nhóm tàu tiến công, các nhóm tàu bảo đảm, các tàu bảo vệ khu vực đổ bộ, các nhóm tàu phá vật cản chống đổ bộ và các nhóm tàu khác (bảo đảm vận tải, phục vụ). Nhiệm vụ của LLĐBQ: tiếp nhận quân đổ bộ xuống tàu, đưa quân đổ bộ vượt biển, chiến đấu đưa quân đổ bộ lên bờ và chi viện quân đổ bộ chiến đấu trên bờ biển.

        LỰC LƯỢNG ĐỘNG VIÊN BỔ SUNG CƠ BẢN, lực lượng chủ yếu của đơn vị dự bị động viên và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân, thường được huy động sau lực lượng động viên tăng cường đầu tiên và triển khai xong trạm tiếp nhận lực lượng dự bị động viên.

        LỰC LƯỢNG ĐỘNG VIÊN TĂNG CƯỜNG ĐẨU TIÊN, bộ phận quân nhân dự bị và phương tiện kĩ thuật của nền kinh tế quốc dân được tuyển chọn với tỉ lệ nhất định trong nguồn động viên (đã sắp xếp vào đơn vị dự bị động viên) và huy động trước lực lượng động viên bổ sung cơ bản để thực hiện những còng việc ban đầu (mở niêm bảo quản, vận chuyển trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật chiến đấu, dự trữ vật chất, triển khai trạm tiếp nhận lực lượng động viên bổ sung cơ bản...) khi có lệnh động viên.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #61 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:36:01 pm »


        LỰC LƯỢNG ĐỘT KÍCH, lực lượng làm nhiệm vụ chủ yếu trong trận chiến đấu (chiến dịch) tiến công; thành phần chính của đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch. Có LLĐK: lục quân, hải quân và không quân. Trong lục quân (bộ đội binh chủng hợp thành), LLĐK có thể tổ chức thành các tổ, đội. cụm (có khi đến tập đoàn quân) để giải quyết nhiệm vụ tác chiến chủ yếu của các phân đội, binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn; trong hải quản, LLĐK có thể tổ chức thành các nhóm, tàu (nhóm tàu đột kích, nhóm tàu tìm diệt), để giải quyết nhiệm vụ của trận chiến đấu (chiến dịch); trong không quân. LLĐK có thể tổ chức thành các tốp máy bay, để tiêu diệt mục tiêu ở mặt đất, mặt biển và ở trên không.

        LỰC LƯỢNG HẠT NHÂN, gọi chung các tổ chức LLVT được trang bị vũ khí hạt nhân, gồm sinh lực và phương tiện chiến tranh hạt nhân; bộ phận của LLVT một số nước. Có LLHN: chiến thuật, chiến dịch, chiến lược. Thuật ngữ LLHN ra đời từ những năm 50 của tk 20.

        LỰC LƯỢNG HẬU CẦN, tổng thể lực lượng các cơ quan, đơn vị, phân đội hậu cần trong một tổ chức, lực lượng QS nhất định. Được tổ chức ở tất cả các cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. LLHC cấp chiến lược gồm các cơ quan, đơn vị thuộc TCHC; các kho, trạm, viện, bệnh viện, xí nghiệp... do ngành hậu cần quản lí. LLHC cấp chiến dịch (chiến thuật) bao gồm LLHC trong biên chế của cấp đó cùng với LLHC do cấp trên tăng cường và lực lượng có thể khai thác, huy động tại chỗ của khu vực phòng thủ địa phương.

        LỰC LƯỢNG HẬU CẨN DỰ BỊ, bộ phận của lực lượng hậu cần chưa phân phối cho các đơn vị thuộc quyền, do người chỉ huy hậu cần trực tiếp nắm để giải quyết những nhiệm vụ đột xuất. LLHCDB có ở cấp chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và được bố trí trong thế trận theo ý định của người chỉ huy. Khi LLHCDB đã được sử dụng, người chỉ huy phải tổ chức LLHCDB mới.

        LỰC LƯỢNG LÃNH THỔ, bộ phận của QĐ Sài Gòn gồm địa phương quân và nghĩa quân, có nhiệm vụ bình định nông thôn, bảo đảm an ninh địa phương, phối hợp bảo vệ các mục tiêu quan trọng (cơ quan chính quyền, đô thị lớn, sân bay, tuyến vận chuyển...), chống chiến tranh du kích CM và phối hợp tác chiến với chủ lực quân trong khu vực đảm nhiệm. Được coi như lực lượng bộ binh thuộc lục quân và nằm trong hệ thống chỉ huy chung của QĐ Sài Gòn (từ 1970). Từ 1971, LLLT được xây dựng theo hướng hiện đại hóa (nâng cấp tổ chức chiến đấu, tính cơ động, trang bị...) để dần dần thay thế chủ lực quân tác chiến ở phạm vi tỉnh. Quân số (1975) tới 500.000   người; chịu thương vong nhiều nhất trong chiến tranh (chiếm 25% tổng sổ thương vong của QĐ Sài Gòn). Tan rã hoàn toàn 4.1975.

        LỰC LƯỢNG PHẢN ỨNG NHANH (ngoại), lực lượtig cơ động của một nước hoặc một liên minh QS được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, dùng để giải quyết các nhiệm vụ khẩn cấp. Gồm lực lượng các quân chủng, binh chủng, lấy. lục quấn làm nòng cốt (lực lượng lục quân thường tổ chức từ cấp tiểu đoàn đến quân đoàn), do bộ chỉ huy QS tối cao chỉ huy . Bố trí ở vị trí thích hợp đảm bảo cơ động nhanh đến các khu vực hoạt động. LLPƯN có thể thực hiện nhiệm vụ đàn áp các lực lượng chống đối trong nước hoặc ở nước đồng minh; đối phó với các cuộc xung đột khu vực, chiến tranh cục bộ, vũ trang can thiệp vào nước khác; cứu trợ thiên tai,'hỏa hoạn... LLPƯN xuất hiện từ đầu thập ki 60 của tk 20 (ở Mĩ thành lập 1980 có hơn 200.000 quân). Thời kì sau chiến tranh lạnh và sau chiến tranh Vùng Vịnh (1990-91), đã được tổ chức ở nhiều nước (Nga, Malaixia, TQ.„), không ngừng nâng cao khả năng cơ động và tác chiến, với tên gọi khác nhau: lực lượng cơ động nhanh, lực lượng triển khai nhanh, lực lượng hành động nhanh, lực lượng phản ứng tức thì. bộ đội tác chiến đặc biệt...

        LỰC LƯỢNG PHÒNG KHÔNG, gọi chung các đơn vị phòng không có biên chế cố định và lâm thời, thuộc bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ làm nhiệm vụ trinh sát, đánh dịch trên không và phục vụ chiến đấu phòng không. Theo tổ chức và nhiệm vụ, có: PK quốc gia, PK lục quân, PK hải quân, PK địa phương và PK nhân dân. Các loại PK có vai trò vị trí riêng từng loại nhưng lại có sự liên hệ với nhau, bổ trợ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ. LLPK được tổ chức thành các phân đội, binh đội, binh đoàn phòng không, được trang bị phương tiện vũ khí, khí tài như: tên lửa phòng không, pháo (súng máy) phòng không, rađa phòng không, các phương tiện tác chiến điện tử, có thể có máy bay tiêm kích. Ngoài ra còn được trang bị vũ khí bộ binh để đánh địch mặt đất và bắn máy bay bay thấp. Ở VN. LLPK có ở cả ba thứ quân.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #62 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:37:36 pm »


        LỰC LƯỢNG QUỐC PHÒNG, sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực có thể huy động trực tiếp hoặc gián tiếp để phòng thủ bảo vệ tổ quốc. Gồm: thực lực quốc phòng (QĐ thường trực, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp dân dụng phục vụ quốc phòng, các kho vũ khí, quân dụng, các cơ sở hạ tầng đặc dụng...) và tiềm lực quốc phòng. LLQP phụ thuộc vào chất lượng chính trị. QS, kinh tế, khoa học và công nghệ, ngoại giao... Để xây dựng LLQP cần phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và động viên toàn dân tham gia.

        LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT, toàn bộ năng lực sản xuất của một xã hội ở một thời kì nhất định, biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con người với tự nhiên và trình độ sản xuất, năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất của cải vật chất. LLSX bao gồm: tư liệu sản xuất (tư liệu lao động, đối tượng lao động): người lao động (tri thức, phương pháp sản xuất, kĩ năng, kĩ xảo, thói quen lao động); khoa học và công nghệ. Các yếu tố trong cấu trúc LLSX có quan hệ thống nhất, biện chứng với nhau, trong đó người lao động đóng vai trò chủ thể. Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, LLSX phát triển từ thấp đến cao, từ thô sơ đến hiện đại. LLSX và quan hệ sản xuất hợp thành phương thức sản xuất; LLSX là yếu tố động nhất, CM nhất quyết định quan hệ sản xuất, quan hệ sản xuất có tác động trở lại (kìm hãm hoặc thúc đẩy) sự phát triển của LLSX. Trình độ phát triển của LLSX trực tiếp quyết định việc tạo ra cơ sở vật chất kĩ thuật cho nền quốc phòng và an ninh của đất nước.

        LỰC LƯỢNG SỬA CHỮA, bộ phận lực lượng bảo đảm kĩ thuật trực tiếp thực hiện hoặc làm nòng cốt trong việc tiến hành kiểm tra, bảo dưỡng kĩ thuật, sửa chữa vũ khí, trang bị kĩ thuật. Theo đặc điểm tổ chức, có: LLSC cố định. LLSC cơ động, LLSC dự bị. Theo phân cấp quản lí điều hành, có: LLSC cấp chiến lược, LLSC cấp chiến dịch. LLSC cấp chiến thuật, LLSC khu vực phòng thủ địa phương. Theo nhiệm vụ chuyên môn, có: LLSC tổng hợp, LLSC chuyên ngành (quân khí, xe máy, tăng thiết giáp...).

        LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN, bộ phận LLVT dùng để tiến hành tác chiến. Ở VN có LLTC của ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ). Trong thực hành tác chiến được chia ra các loại LLTC: tiến công (phòng ngự), tăng cường, chi viện, phối thuộc, dự bị... LLTC của LLVTND VN đánh giặc bằng mọi vũ khí từ thô sơ đến hiện đại, với quy mô lực lượng khác nhau và các hình thức, phương pháp tác chiến thích hợp.

        LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN KHÔNG - BỘ X. BỘ ĐỘI ĐỔ BỘ ĐƯỜNG KHÔNG

        LỰC LƯỢNG TẠI CHỖ, bộ phận LLVT được tổ chức và bố trí trên từng khu vực (địa bàn tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã, phường...) để thực hiện nhiệm vụ trên khu vực (địa bàn) đó. Ở VN, LLTC thường là các đơn vị của LLVT địa phương, làm nòng cốt trong chiến tranh nhân dân địa phương có nhiệm vụ dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân thực hành đánh địch ở mọi nơi khi chúng vừa đến, tiêu hao và tiêu diệt từng bộ phận của chúng; bảo vệ địa phương: căng kéo lực lượng địch, tạo điều kiện cho lực lượng cơ động đánh lớn tiêu diệt địch và làm những nhiệm vụ khác. Trong LLTC có một bộ phận (đơn vị) làm nhiệm vụ cơ động ở khu vực (địa bàn và khi cần có thể cơ động ra ngoài khu vực (địa bàn) hoặc trở thành lực lượng cơ động. LLTC mạnh được triển khai phối hợp chặt chẽ với lực lượng cơ động tạo thành thế bố trí lực lượng vững chắc trên toàn bộ chiến trường, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng và là nét đặc thù của việc xây dựng và sử dụng LLVTND VN.

        LỰC LƯỢNG TÀU MẶT NƯỚC X. BINH CHỦNG TÀU MẶT NƯỚC

        LỰC LƯỢNG THÔNG THƯỜNG, gọi chung các tổ chức LLVT được trang bị vũ khí không thuộc vũ khí hủy diệt lớn; gồm sinh lực và phương tiện chiến tranh thông thường. Thuật ngữ LLTT xuất hiện từ những năm 50 của tk 20, khi QĐ một số nước được trang bị vũ khí hạt nhân. Hiện nay LLTT vẫn là bộ phận chủ yếu của LLVT nhiều nước và vũ khí thông thường luôn được hoàn thiện theo hướng tăng sức cơ động, uy lực, tầm hoạt động; độ chính xác, độ tin cậy và giảm thời gian thao tác vận hành...
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #63 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:38:30 pm »


        LỰC LƯỢNG THỦY BỘ 3, liên binh đoàn chiến dịch -  chiến lược của QĐ Mĩ gồm một số binh đoàn thuộc các quân chủng  khác nhau, được huấn luyện làm lực lượng triển khai nhanh, lần đầu được Mĩ đưa vào sử dụng trong chiến tranh xâm lược VN những năm 1965-73. Gồm các đơn vị: 2 sư đoàn lính thủy đánh bộ 1 và 3, 2 lực lượng đổ bộ cỡ trung đoàn lính thủy đánh bộ, Không đoàn 1 hải quân. Quân đoàn 24 lục quân (gồm Sư đoàn Amêricơn, Sư đoàn kị binh bay 1, Sư đoàn dù 101, Lữ đoàn 1 cơ giới hóa thuộc Sư đoàn bộ binh 5) với tổng quân số đến 85.755 người (nhiều quân hơn khi Mĩ tiến công Ivô Gima và Ôkinaoa trong CTTG-II). Ngày thành lập 6.5.1965. SCH đóng tại Đà Nẵng. LLTB3 có nhiệm vụ: bảo vệ các căn cứ Mĩ ở ven biển (Đà Nẵng, Chu Lai. Phú Bài); yểm trợ các cuộc hành binh của QĐ Sài Gòn ở Vùng chiến thuật 1; tác chiến chống LLVT CM và yểm trợ bình định. Khu vực trách nhiệm: Vùng chiến thuật 1. Việc thành lập LLTB3 của Mĩ nhằm thực hiện một cuộc chiến tranh quy ước với các binh đoàn lớn nhưng do quan điểm sử dụng, tổ chức chỉ huy không hợp lí và luôn thay đổi tư lệnh đã làm tăng thêm mâu thuẫn MACV và CINCPAC (BTL Thái Bình Dương) nên trong thực tế, lực lượng này hầu như chỉ làm nhiệm vụ quét và giữ hơn là tìm và diệt, do đó không phát huy hết ưu thế binh lực và hỏa lực. Vai trò trở nên mờ nhạt. Sau 6 năm ở VN, LLTB3 chuyển giao toàn bộ trách nhiệm hành binh cho Quân đoàn 24 Mĩ (3.1970) và đến 4.1971 lực lượng còn lại rời Đà Nẵng về Ôkinaoa. Thương vong của LLTB3 tính từ 1961-72: chết 12.938, bị thương 88.633, nhiều hơn thương vong của lính thủy đánh bộ Mĩ trong CTTG-I1 (86.940). Từ 1988, đổi lại thành Lực lượng viễn chinh lính thủy đánh bộ 3.

        LỰC LƯỢNG THƯỜNG TRỰC, toàn bộ quân nhân tại ngũ và công nhân, viên chức quốc phòng đang phục vụ trong QĐ. LLTT được duy trì ở mức tối thiểu trong thời bình để thực hiện các nhiệm vụ: huấn luyện; sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc; bảo quản trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật và dự trữ vật chất; xây dựng lực lượng dự bị động viên;... LLTT dược phát triển theo tổ chức biên chê thời chiến của QĐ.

        LỰC LƯỢNG TRINH SÁT BIÊN PHÒNG, lực lượng của bộ đội biên phòng hoạt động bằng nghiệp vụ trinh sát, làm tham mưu cho chỉ huy biên phòng các cấp về công tác nắm dịch, đánh địch và đề xuất chủ trương đối sách. Hoạt động theo sáu phương thức cơ bản: trinh sát phản gián, trinh sát điệp báo, trinh sát đặc nhiệm, trinh sát vô tuyến điện, hoạt động điều tra hình sự và trinh sát quân báo. Nhiệm vụ của LLTSBP: tổ chức nắm tình hình toàn diện các mặt có liên quan đến an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa - xã hội, chủ trương chính sách đối ngoại, hoạt động ngoại giao của nước có ảnh hường trực tiếp đến biên giới ta; kịp thời phát hiện âm mưu, ý đồ, phương thức thủ đoạn hoạt động cụ thể của các loại đối tượng; tiến hành thường xuyên công tác nghiệp vụ cơ bản nhằm quản lí chặt chẽ địa bàn, đối tượng ở khu vực biên giới; tổ chức xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mặt tạo thành thế trận bí mật liên hoàn khép kín, có đủ khả năng quán xuyến địa bàn, mục tiêu, đối tượng; trực tiếp chiến đấu bằng nghiệp vụ và vận dụng pháp luật đấu tranh với các loại đối tượng trong các chuyên án, khởi tố điều tra các vụ án hình sự; lập danh sách hồ sơ các tổ chức phản động, tổ chức tình báo gián điệp phục vụ cho kế hoạch chủ động tấn công làm trong sạch địa bàn trước khi xảy ra tình huống phức tạp, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ trinh sát biên phòng cấp dưới. LLTSBP được tổ chức theo ba cấp: ở BTL có cục trinh sát, ở bộ chỉ huy biên phòng tỉnh có phòng trinh sát và ở đồn biên phòng có đội trinh sát. LLTSBP có quan hệ phối hợp với lực lượng an ninh, QĐ, các ban ngành đoàn thể ở địa phương, tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, tăng cường đoàn kết dân tộc, thực hiện chủ trương và chương trình kinh tế, xã hội của Đảng và Nhà nước.

        LỰC LƯỢNG TRỰC CHIẾN, gọi chung các đơn vị được chỉ định sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu hoặc những nhiệm vụ đột xuất. LLTC có thể là các tổ, đội, khẩu đội, tàu, xe, máy bay, các phân đội, binh đội, binh đoàn và các đơn vị chuyên môn, bảo đảm... LLTC thường được bảo đảm và bổ sung trang bị vật chất phù hợp với nhiệm vụ được giao.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #64 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:39:40 pm »


        LỰC LƯỢNG VẬN TẢI CƠ ĐỘNG, 1) bộ phận lực lượng vận tải quân sự cấp chiến lược và chiến dịch làm nhiệm vụ vận chuyển trên tất cả các địa bàn; thực hiện những nhiệm vụ vặn chuyển với khối lượng lớn, cự li xa, yêu cầu khẩn trương; hoặc cơ động thay đổi thế bố trí chiến lược, chiến dịch, vận chuyển bảo đảm hậu cần cho một mặt trận hoặc một chiến dịch. Thường được tổ chức thành các trung đoàn, lữ đoàn vận tải có sức cơ động cao, năng lực vận tải lớn, bố trí trên phạm vi rộng lớn trong thế trận vận tải quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc. LLVTCĐ có thể được sử dụng tăng cường, phối hợp với lực lượng vận tải tại chỗ nhằm nâng cao nâng lực vận tải trên địa bàn: 2) bộ phận của lực lượng vận tải ở từng cấp, khu vực (địa bàn tỉnh, thành phố, quận, huyện...), được tổ chức để sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển của cấp mình, khu vực đảm nhiệm và sẵn sàng chi viện cho các đơn vị, khu vực khác theo mệnh lệnh của cấp trên.

        LỰC LƯỢNG VẬN TẢI QUÂN SỰ, lực lượng có nhiệm vụ vận chuyển và phục vụ vận chuyển phương tiện vật chất, thương binh, bệnh binh, cơ động bộ đội. Có LLVTQS: chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Vd: Binh đoàn Trường Sơn trong KCCM là LLVTQS chiến lược. Ở cấp chiến dịch LLVTQS: thường có trung đoàn (tiểu đoàn) vận tải ô tô, trung đoàn (tiểu đoàn) vận tải khu vực, trung đoàn (tiểu đoàn) vận tải đường thủy. Ở cấp chiến thuật thường có tiểu đoàn (đại đội) vận tải ô tô, phân đội vận tải đường thủy. Các phân đội phục vụ vận tải thường có: trạm điều chỉnh giao thông, phân đội cảnh vệ, phân đội thông tin, trạm sửa chữa...

        LỰC LƯỢNG VẬN TẢI TẠI CHỖ, lực lượng vận tải có thể tự mình hoặc phối hợp với lực lượng vận tải cơ động thực hiện nhiệm vụ vận tải bảo đảm hậu cần, cơ động lực lượng và các nhiệm vụ khác trong khu vực (địa bàn). Gồm: lực lượng vận tải cấp chiến lược, chiến dịch (làm nhiệm vụ vận tải khu vực); lực lượng vận tải của nhà nước và nhân dân, lấy lực lượng vận tải QS địa phương làm nòng cốt... Được tổ chức, bố trí trên từng khu vực, địa bàn trong thế trận vận tải và được xây dựng ngay trong thời bình. Để hoàn thành nhiệm vụ LLVTTC phải: thường xuyên nắm vững mạng lưới giao thông, lực lượng vận tải của các thành phần kinh tế khu vực (địa bàn), xây dựng phương án động viên và tổ chức luyện tập phục vụ các tình huống chiến đấu, tổ chức huy động lực lượng vận tải nhân dân khi cần thiết.

        LỰC LƯỢNG VIỄN CHINH PHÁP Ở VIỄN ĐÔNG nh FEFEO

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG, lực lượng có tổ chức, được trang bị vũ khí, phương tiện kĩ thuật quân sự và huấn luyện QS do một giai cấp, nhà nước hoặc tập đoàn xã hội lập ra nhằm những mục đích nhất định: sản phẩm của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, nguyên tắc xây dựng và tổ chức, nhiệm vụ của LLVT do bản chất giai cấp, đường lối, chính sách của nhà nước, tập đoàn xã hội tổ chức ra LLVT đó quyết định. Ở một số nước LLVT chỉ có quân đội thường trực gồm những quân chủng và binh chủng nhất định, có nước còn có bộ đội biên phòng, lực lượng cảnh sát vũ trang; ở một số nước khác còn gồm lực lượng bán vũ trang. LLVTND VN bao gồm QĐND (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #65 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:40:17 pm »


        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG ẤN ĐỘ, các tổ chức vũ trang của Ấn Độ gồm: lực lượng chính quy, lực lượng không chính quy và lực lượng dự bị. Lực lượng chính quy gồm ba quân chủng (với hơn 1,3 triệu quân); hải quân, lục quân, không quân. Tổng thống thông qua thủ tướng và ủy ban nội các để lãnh đạo LLVT. Thủ tướng có quyền chỉ huy tác chiến thống nhất liên quân. Bộ trưởng BQP chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến QĐ. Tổ chức BQP gồm: Cục quốc phòng, Cục sản xuất và cung ứng quốc phòng, Cục nghiên cứu khoa học quốc phòng, Phòng cố vấn tài chính; ủy ban điều chỉnh và thực hiện kế hoạch quốc phòng. Chế độ tuyển quân tự nguyện; lục quân tuyển từ 16 tuổi; hải quân từ 16-20 tuổi; không quân từ 15-19 tuổi. BTL của quân chủng là cơ quan chỉ huy và hành chính, người lãnh đạo cao nhất của mỗi quân chủng là tham mưu trưởng. Tổ chức, quân số 2002: lục quân 1.100.000; phân thành 5 quân khu (Đông, Tây, Nam, Bắc và miền Trung); trong quân khu có các vùng, tiểu vùng và tiểu vùng độc lập; biên chế chủ yếu: 12 quân đoàn, 35 sư đoàn (2 sư thiết giáp, 1 sư cơ động, 22 sư bộ binh, 10 sư sơn cước) và 14 lữ độc lập, 3 lữ pháo binh độc lập, 6 lữ phòng không, 4 lữ công binh (tổng cộng có 53 trung đoàn tăng, 25 trung đoàn cơ giới hóa, 332 trung đoàn bộ binh, 9 trung đoàn dù, 8 liên đội (tiểu đoàn) không quân lục quân, 164 trung đoàn pháo binh (trong đó có 1 trung đoàn pháo hạng nặng, 5 trung đoàn tên lửa, 50 trung đoàn pháo tầm trung...), 29 trung đoàn pháo phòng không, 10 liên đội tên lửa đất đối không, 8 liên đội quan sát trên không, 4 liên đội máy bay trực thăng liên lạc, 6 liên đội máy bay trực thăng chống tăng và 30 trung đoàn dự bị); ngoài ra còn có BTL huấn luyện. Hải quân: 53.000 quân (bao gồm cả không quân hải quân và lính thủy đánh bộ), có 4 BTL: Đông, Tây, Nam và Viễn Đông, mỗi BTL có hạm đội tàu riêng; ngoài ra còn có BTL không quân hải quân và BTL tàu ngầm. Không quân: 145.000 quân, tổ chức thành 5 BTL: Đông, Tây, Nam, Bắc và Đông Nam; ngoài ra còn có 2 BTL huấn luyện, bảo dưỡng, cùng 45 liên đội trực thuộc (39 liên đội máy bay, 6 liên đội tên lửa). 30 tiểu đoàn tên lửa đất đối không. Lực lượng bán vũ trang khoảng 600.000, gồm: lực lượng an ninh quốc gia, lực lượng QS hóa đặc biệt, lực lượng biên phòng, lực lượng cảnh vệ... đóng quân phân tán, nhiệm vụ chủ yếu: tuần tra, cứu hộ, chống buôn lậu... có thể đảm nhiệm đột kích nhanh và tác chiến cơ động độc lập, có đặc điểm là biên chế, trang bị gọn nhẹ. về cơ bản được bố trí tương tự quân chính quy, thường phân thành 5 cấp: BTL, liên đội (đơn vị tác chiến chủ yếu), tiểu đoàn, đại đội, trung đội; đứng đầu là một sĩ quan cấp tướng đang tại ngũ. Lực lượng dự bị hơn 2,4 triệu.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG CUBA, LLVT của nhà nước và nhân dân Cuba dưới sự lãnh đạo của ĐCS Cuba. Do chủ tịch HĐNN làm tổng tư lệnh tối cao. Đến 2002, LLVTơnC có 46.000 người; gồm ba quân chủng : lục quân (35.000), phòng không - không quân (8.000), hải quân (3.000). Có hệ thống cơ quân chiến lược, các binh đội, binh đoàn, liên binh đoàn, học viện, trường QS... Được bổ sung quân số theo luật nghĩa vụ QS (ban hành 2.8.1973). LLVTCMC ra đời trong tiến trình CM chống chế độ độc tài Batixta. Khởi đầu là tổ chức Thanh niên thế hệ 100 do Phiđen Caxtrô và các bạn chiến đấu thành lập nhân dịp ki niệm 100 năm ngày sinh Hôxê Macti (1853-1953). Tổ chức này mở cuộc tiến công pháo đài Môncađa (26.7.1953, Phiđen chỉ huy), tuy không thành công (trong số 135 nghĩa quân, hầu hết bị giết, Phiđen và một số đồng đội bị bắt) nhưng đã dấy lên phong trào đấu tranh vũ trang của những người yêu nước Cuba và dẫn đến sự ra đời của tổ chức Phong trào 26.7. Sau khi được trả tự do (5.1955), Phiđen cùng một số cán bộ của Phong trào 26.7 sang Mêhicô xây dựng lực lượng (7.1955). Tới 2.12.1956, Phiđen và 82 chiến sĩ trở về tổ quốc bằng tàu Granma, đổ bộ vào bờ biển Xiera Maextra. Sau 15 ngày vừa hành quân, vừa chiến đấu, nghĩa quân chỉ còn 12 người, 7 súng, tập trung ở đỉnh núi Tuốckinô. Được nhân dân che chờ, nuôi dưỡng, lực lượng phát triển nhanh, giành những thắng lợi quan trọng (diệt đồn La Plate 17.1.1957, En Ubêró 18.5.1957); xây dựng thêm nhiều đơn vị và căn cứ mới ở Xiera Maextra (Ché Ghêvara chỉ huy), đông bắc Orienté (3.1958, Raun Caxtrô chỉ huy), Xantiagò (3.1958, Anmâyđa chỉ huy), Bagiamô (3.1958, Camilô Xienphuẽgỗt chỉ huy), Camaguây (4.1958, Vichto Môra chỉ huy)... trong 76 ngày với 30 trận chiến đấu, LLVTCMC đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của QĐ Batixta vào vùng căn cứ chính ở Xiera Maextra (từ 24.5.1958; lực lượng QĐ Batixta gồm 14 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh được không quân, hải quân chi viện) diệt gần 1.000, bất trên 600 địch, thu hơn 500 vũ khí, bắn rơi 3 máy bay; làm rung chuyển chế độ độc tài, tạo điều kiện để tiến quân về đồng bằng và đô thị. Sau khi hợp nhất Phong trào 26.7 với Ban chỉ đạo CM 13.3 (tổ chức CM của sinh viên, thanh niên ở Lat Vigiat; Phanrêchômôn chỉ huy ) và các đơn vị du kích của ĐXH nhân dân Cuba ở Giagoahay (Phêlilô Tôrẽt chỉ huy) dưới quyền chỉ huy tới cao của Phiđen, LLVTCMC mở cuộc tiến công ở các vùng rộng lớn thuộc các tỉnh Orientê, Camaguây, Lat Vigiat; phát triển chiến tranh du kích trong cả nước, lập thêm nhiều căn cứ mới ở miền tây và ở t. Pina đen Riô; cắt đứt nhiều đường giao thông quan trọng (cuối 1958)... dẫn đến việc Batixta chạy trốn, cuộc tổng bãi công nổ ra ở thủ đô La Habana và hầu hết các thành phố lớn (1.1.1959) Trong tình hình đó, các cánh quân của LLVTCMC tiến về giải phóng thủ đô, chấp nhận sự đầu hàng của QĐ Batixta tại trại Môncada ở Xantiagô đê Cuba, giành lại độc lập (1.1.1959). Từ đó LLVTCMC được xây dựng thành QĐ chính quy, hiện đại: đã đánh bại cuộc tiến công xâm lược của Mĩ ở bãi biến Hirôn và bãi biển Lacga thuộc t. Lat Vigiat (17-19.4.1961; X. trận Hirôn); cùng toàn dân làm thất bại kế hoạch của Mĩ bao vây QS chống Cuba (1962); thực hiện nghĩa vụ quốc tế ở Ănggôla, Êtiôpia, Nicaragoa... Ngày nay LLVTCMC thường xuyên sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc và tham gia xây dựng kinh tế (có tập đoàn quân lao động thanh niên với hơn 100.000 cán bộ, chiến sĩ). Ngày truyền thống 2.12.1956.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #66 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:41:33 pm »


        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CAMPUCHIA X. QUÂN ĐỘI HOÀNG GIA CAMPUCHIA

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HOÀNG GIA BRUNÂY, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Brunây, có nhiệm vụ: bảo đảm  an ninh toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ hoàng gia và các đặc khu kinh tế trên bộ, trên biển,... hợp tác QS chặt chẽ với các nước trong khu vực, đặc biệt là với QĐ Anh, Xingapo. Vua là nhà lãnh đạo danh dự LLVTHGB. BQP chịu sự giám sát của một phó thủ tướng và thư kí thường trực, thực hiện chính sách quản lí tài chính, hành chính, mua sắm vũ khí thực hiện chế độ tình nguyện. LLVTHGB (2002) có 5.900 người. Lục quân 3.900 người (3 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn yểm trợ), trang bị chủ yếu 20 xe tăng hạng nhẹ Scopion. Hải quân 900 người, trang bị một số tàu loại nhỏ, vừa và tàu đa tác dụng. Không quân 1.100 người, với 26 máy bay trực thăng vũ trang, không có máy bay chiến đấu. Lực lượng bán vũ trang có 3.750 người, gồm cảnh sát Hoàng gia Brunây và quân dự phòng Nêpan. Trong lịch sử hình thành và phát triển, nước Anh luôn đáp ứng các yêu cầu về quốc phòng của Brunây. Hiệp ước 1971 với Anh. Brunây tự mình giải quyết các công việc nội bộ và nước Anh ủng hộ Brunây phát triển tiềm lực quốc phòng. LLVTHGB luôn hợp tác chặt chẽ với LLVT Xingapo. Các đơn vị của LLVTHGB và LLVT Xingapo thường xuyên tổ chức các cuộc diễn tập song phương.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG INĐÔNÊXIA, các tổ chức vũ trang của Inđônêxia gồm QĐ và cảnh sát; có nhiệm vụ bảo vệ đất nước chống lại kẻ thù trong và ngoài nước, tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, quốc phòng của đất nước. Tổng thống là tổng tư lệnh các LLVT. LLVTI thực hiện chế độ quân dịch kết hợp tình nguyện 2 năm. Các kế hoạch về quốc phòng được thông qua tại Hội đồng nghị viện, được bộ trưởng BQP và an ninh phê duyệt. LLVTT có 297.000 người (2002), gồm 10 quân khu, 3 quân chủng, trong đó: lục quân 230.000 người gồm: 2 sư đoàn và 3 lữ đoàn bộ binh, 3 lữ đoàn đổ bộ đường không, 1 trung đoàn pháo phòng không, 2 tiểu đoàn bọc thép, 2 trung đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh. Không quân 27.000 người gồm: BTL không quân miền với các đại đội máy bay chiến đấu, tuần tiễu, vận tải trực thăng, huấn luyện và đại đội máy bay trinh sát; hải quân 40.000 người gồm: 2 hạm đội với 6 lữ đoàn hải quân, hải quân đánh bộ, trung đoàn yểm trợ, trung đoàn phục vụ, trung đoàn huấn luyện. Lực lượng dự bị 400.000, cảnh sát chiến đấu  180.000. LLVTI luôn được tổng thống quan tâm và ban cho nhiều ân huệ. Đặc biệt trong liên minh giữa LLVT Gonca (đảng phái chính trị lớn nhất ở Inđônêxia hiện nay) đã chi phối lĩnh vực chính trị và chính quyền ở Inđônêxia. LLVTI luôn giữ một vai trò lớn trong đời sống cộng đồng, dân tộc, quốc gia, cũng như trong lĩnh vực chính trị và các lĩnh vực khác.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LIÊN HỢP QUỐC, gọi chung các LLVT được huy động theo thỏa thuận từ các nước thành viên LHQ. nhằm duy trì hòa bình và an ninh ở những khu vực có xung đột vũ trang khi các biên pháp hòa giải khác không có hiệu lực thực tế. LLVTLHQ được Hội đồng bảo an sử dụng thông qua ủy ban tham mưu quân sự Liên hợp quốc. Trong một số trường hợp, LLVTLHQ bị CNĐQ và thế lực phản động quốc tế lợi dụng nhằm phục vụ lợi ích riêng của họ.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MALAIXIA, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Malaixia; có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và bảo đảm an ninh quốc gia. Thành lập 1930, vua là tư lệnh tối cao các LLVTM. BQP là cơ quan hành chính QS cao nhất, BTL LLVT là cơ quan chỉ huy cao nhất. Bộ trường BQP điều hành các công việc hàng ngày và là chủ tịch Hội đồng các LLVT. Hội đồng này gồm: bộ trưởng BQP, tổng thư kí BQP, tham mưu trưởng các LLVT, tư lệnh các quân chủng, binh chủng và hai sĩ quan (một đại diện cho nhà vua, một được chỉ định), LLVTM có 100.000 người (2002). Lục quân 80.000 gồm 2 quân khu, 1 bộ chỉ huy  dã chiến, 4 bộ chỉ huy vùng, 11 lữ đoàn bộ binh; 1 lữ đoàn dù. Không quân 8.000 gồm 4 sư đoàn. 84 máy bay chiến đấu. Hải quân 12.000 gồm: 1 hạm đội, 2 vùng hải quân. Lực lượng dự bị: 41.600, lực lượng bán vũ trang 20.100, cảnh sát chiến đấu 18.000.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MĨ, các tổ chức vũ trang chính quy của chính phủ Mĩ làm công cụ thực hiện chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược QS toàn cầu. Thành lập 14.6.1775. Từ 1947 thành lập cơ quan QS quốc gia, đến 1949 đổi thành BQP gồm 3 bộ: lục quân, hải quân, không quân. Đứng đầu BQP là một quan chức dân sự, chỉ đạo các LLVT về chiến lược. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân có chức năng cố vấn cho Hội đồng an ninh quốc gia, điều hành tác chiến của QĐ và đặt trực tiếp dưới quyền tổng thống. Năm 2002, LLVTM gồm 1.374.000 quân (lục quân: 471.730; không quân: 357.030; hải quân: 545.240). Bố trí LLVT Mĩ (2002): tại Mĩ (cả bờ Tây Thái Binh Dương) có 1.172.860 người, gồm 1 BTL tập đoàn quân, 3 BTL quân đoàn lục quân, 9 tập đoàn quân không quân, 2 hạm đội, 2 cụm lính thủy đánh bộ viễn chinh; châu Mĩ (trừ Mĩ) có 3.970 quân, gồm lục quân: 1.280, không quân: 260, hải quân: 1.960, lính thủy đánh bộ: 590; châu Âu có 100.000 quân, gồm 1 BTL lục quân, 2 BTL không quân, 1 hạm đội; châu Á có 100.000 quân, gồm 1 BTL lục quân, 3 BTL không quân, 2 hạm đội, 1 cụm lính thủy đánh bộ viễn chinh. 5.1997 Mĩ đưa ra chiến lược QS đến 2015 là đảm bảo cho LLVTM có khả năng góp phần định hình môi trường quốc tế có lợi cho Mĩ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #67 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:42:35 pm »


        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIANMA. các tổ chức vũ trang và bán vũ trang, dưới quyển kiểm soát của Đảng thống nhất quốc gia (Đảng cương lĩnh XHCN Mianma), có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và bảo đảm an ninh trong nước. LLVTM có 444.000 người (2002). Lục quân có 325.000 quân, gồm 10 sư bộ binh nhẹ (mỗi sư gồm 3 trung tâm tác chiến chiến thuật), 12 bộ chỉ huy vùng, 32 trung tâm tác chiến chiến thuật với 145 tiểu đoàn bộ binh đồn trú. Hải quân 10.000 (có 800 hải quân đánh bộ). Không quân 9.000 gồm 83 máy bay chiến đấu, 29 máy bay trực thăng vũ trang. Lực lượng bán vũ trang có 100.000, gồm 65.000 cảnh sát, 35.000 dân quân. BQP có: 3 sư đoàn riêng được triển khai theo nhu cầu cần thiết đối với khu vực; thực hiện nhiệm vụ giám sát về tài chính, quản lí và tác chiến của LLVT, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng nhà nước, sự giám sát của Hội đồng bộ trưởng (chính phủ). Hội đồng nhà nước có quyền tuyên bố tình trạng khẩn cấp, thiết quân luật, tổng động viên. Bộ trưởng BQP là người đứng đầu và là tham mưu trường LLVT.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGA, LLVT của nhà nước CHLB Nga. Thành lập theo sắc lệnh của tổng thống Nga 7.5.1992 trên cơ sở các tổ chức của QĐ và hải quân LX trước đây. Tổ chức hiện nay gồm: 3 quân chủng (lục quân, không quân, hải quân), 3 binh chủng độc lập (bộ đội tên lửa chiến lược, lực lượng vũ trụ, bộ đội đổ bộ đường không), bộ đội hậu cần và một số lực lượng đặc biệt khác. Tổng quân số 988.100 người. Lục quân tổ chức thành 6 quân khu và 1 đặc khu QS (Caliningrat), gồm: 6 BTL tập đoàn quân, 3 BTL quân đoàn, 5 sư đoàn xe tăng, 21 sư đoàn bộ binh cơ giới, 4 sư đoàn đổ bộ đường không, 4 sư đoàn pháo phòng không, 5 sư đoàn pháo binh, 7 lữ đoàn đặc nhiệm. 13 lữ đoàn tên lửa chiến dịch đất đối đất. 5 lữ đoàn và 3 trung đoàn chống tăng, 19 lữ đoàn tên lửa  phòng không, 20 trung đoàn máy bay trực thăng, 11 lữ đoàn bộ binh cơ giới, 4 sư đoàn và 4 lữ đoàn phản ứng nhanh. Không quân gồm: 2 tập đoàn quân phòng không, 5 quân đoàn phòng không, 2 tập đoàn quân không quân. Hải quân gồm: 4 hạm đội (Biển Bắc, Bantich, Biển Đen, Thái Bình Dương) và phân hạm đội Caxpi; không quân của hải quân (4 BTL thuộc hạm đội, 4 sư đoàn khung, 5 trung đoàn máy bay ném bom); lực lượng hải quân đánh bộ (1 sư đoàn, 4 lữ đoàn, 3 lữ đoàn đặc nhiệm); lực lượng phòng thủ bờ biển (1 sư đoàn, 1 lữ đoàn phòng thủ bờ biển, 1 trung đoàn pháo binh. 2 trung đoàn tên lửa phòng không). Lực lượng vũ trụ thành lập 6.2001 trên cơ sở  một số đơn vị tên lửa chiến lược và phòng không.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN, lực lượng vũ trang do chính dàng của giai cấp công nhân tổ chức và lãnh đạo; mang bản chất CM và tính nhân dân sâu sắc. Tổ chức và cơ cấu của LLVTND tùy thuộc đặc điểm và truyền thống mỗi nước. Ở VN, LLVTND bao gồm: QĐND (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân (x. Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam).

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN ĐỊA PHƯƠNG, bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, gồm bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân và chiến tranh nhân dân địa phương: do cấp ủy ĐCS VN và chính quyền địa phương trực tiếp lãnh đạo, quản lí, cơ quan QS địa phương chỉ huy và cơ quan QS cấp trên chỉ đạo. Có nhiệm vụ: bảo vệ nhân dân. bảo vệ Đảng và chính quyền, phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực trong hoạt động tác chiến và các hoạt động khác, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, xây dựng địa phương vững mạnh.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân VN do ĐCS VN lãnh đạo, nhà nước CHXHCN VN quân lí; có nhiệm vụ chiến đấu giành và giữ độc lập. chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân. bào vệ chế độ XHCN và những thành quả của CM cùng toàn dân xây dựng đất nước; là lực lượng xung kích trong khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền, lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân. LLVTND VN gồm QĐND (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng), dân quân tự vệ, lực lượng cảnh sát biển và công an nhân dân. LLVTND VN sinh ra trong cao trào đấu tranh CM của quần chúng giành độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH, từ những đội vũ trang CM của ĐCS Đông Dương, trưởng thành lớn mạnh qua CM tháng Tám 1945, KCCP, KCCM và thời kì xây dựng, bào vệ tổ quốc. LLVTND VN ngày nay được xâv dựng theo phương hướng: QĐND và công an nhân dân CM chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ hùng hậu. LLVTND VN luôn trung thành với Đảng, nhân dân và Tổ quốc.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #68 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:43:26 pm »


        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHẬT BẢN, các tổ chức vũ trang của Nhật Bản, gồm lực lượng thương trực và dự bị; có nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia. Theo hiến pháp. Nhật Bản không xây dựng QĐ và sử dụng QĐ trong tranh chấp quốc tế. Tổ chức lãnh đạo LLVTNB gồm: Hội đồng an ninh quốc gia, Cục phòng vệ, Hội đồng tham mưu trường liên quân, bộ tham mưu của các quân chủng. Thủ tướng là tổng tư lệnh tối cao. Hội đồng an ninh quốc gia là cơ quan trực thuộc thủ tướng (gồm: cục trưởng Cục phòng vệ, bộ trưởng Bộ ngoại giao, bộ trưởng Bộ tài chính, bộ trưởng Bộ nội vụ. chánh văn phòng nội các, cục trưởng Kế hoạch kinh tế) có nhiệm vụ làm tư vấn cho thủ tướng về các vấn đề quốc phòng: đường lối, chính sách quốc phòng, lập các kế hoạch quốc phòng, quyết định sử dụng QĐ khi cần thiết, đồng thời tư vấn cho thủ tướng các vấn đề an ninh nội bộ. Cục phòng vệ (tương đương BQP) đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của thủ tướng, có nhiệm vụ chỉ đạo Hội đồng tham mưu trường liên quân. Hội đồng tham mưu trưởng liên quân là cơ quan tham mưu cho Cục phòng vệ, lập kế hoạch phòng thủ, tổ chức xây dựng QĐ, phương án sử dụng lực lượng. Bộ tham mưu quân chủng là cơ quan tham mưu của Cục phòng vệ, có chức năng như Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, nhưng chỉ thực hiện trong quân chủng. LLVTNB (2002) gồm 239.900 quân thường trực, trong đó: lục quân 148.200 người, với 5 BTL (Phương diện đội Bắc, Phương diện đội Đông Bắc. Phương diện đội Đông, Phương diện đội Trung, Phương diện đội Tây). Dưới các BTL phương diện đội có các sư đoàn, lữ đoàn. Không quân 45.600 người, với 4 BTL (Không quân chiến đấu, Tập đoàn không quân huấn luyện, Tập đoàn không quân hỗ trợ. Tập đoàn không quân thử nghiệm). Hải quân 44.400 người, với 8 BTL (Hạm đội hỗn hợp, Hạm đội địa phương Yôcôxuca, Hạm đội địa phương Cure, Hạm đội địa phương Sasebo, Hạm đội địa phương Maisuru, Hạm đội địa phương Ôminato, Hạm đội huấn luyện, Không quân hải quân). Lực lượng thường trực phân thành: tự vệ lục quân, tự vệ hải quân, tự vệ không quân.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHILIPPIN, các lực lượng QĐ và cảnh sát vũ trang của Philippin thực hiện chế độ QS chuyên nghiệp; có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lược từ bên ngoài, sự đe dọa vũ trang trong nước; bảo vệ tài sản và cuộc sống của nhân dân Philippin, giúp chính phủ trong việc duy trì sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế. Tổng thống là tổng tư lệnh các LLVT, Hội đồng an ninh quốc gia cố vấn cho tổng thống về các vấn đề có liên quan đến quốc phòng. BQP và Tổng tham mưu trưởng điều hành các hoạt động của LLVT. LLVTP có 106.000   quân thường trực (2002), trong đó: lục quân 66.000 gồm 5 bộ chỉ huy vùng, 8 sư đoàn bộ binh, 1 bộ chỉ huy tác chiến đặc biệt, 5 tiểu đoàn công binh, 1 trung đoàn pháo binh và lực lượng bảo vệ trực thuộc tổng thống. Hải quân 24.000 người, gồm 6 vùng hải quân. Không quân 16.000 người, gồm 49 máy bay chiến đấu, khoảng 67 máy bay trực thăng vũ trang. Philippin kí kết một số hiệp ước QS với Mĩ cho phép nhân viên QS Mĩ được vào Philippin, tổ chức diễn tập giữa lực lượng QS Mĩ và Philippin. Hiện nay. Philippin đang tăng cường hiện đại hóa, nâng cao sức mạnh của LLVT (chú trọng lực lượng không quân và hải quân).

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG THÁI LAN, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Thái Lan; có nhiệm vụ báo vệ chủ quyền, lãnh thổ quốc gia và bảo vệ những lợi ích dân tộc, chống lại những đe dọa từ bên trong và bén ngoài; hợp tác với các nước đồng minh và LHQ để duy trì hòa binh và tăng cường an ninh khu vực. Được thành lập từ giữa tk 19. Vua là tổng tư lệnh LLVT, thủ tướng làm chủ tịch Hội đồng quốc phòng. Thực hiện chế độ quân dịch kết hợp tình nguyện. LLVTTL (2002) gồm: 360.000 quân thường trực, trong đó: lục quân 184.000 gồm 4 BTL quân khu, 2 BTL quân đoàn, 2 sư đoàn kị binh, 3 sư đoàn bọc thép, 2 sư đoàn bộ binh cơ giới, 1 sư đoàn bộ binh nhẹ, 2 sư đoàn biệt kích, 1 sư đoàn pháo binh, 1 sư đoàn pháo phòng khống, 1 sư đoàn công binh, 4 sư đoàn phát triển kinh tế và các đơn vị độc lập. Không quân có 40.000 gồm 4 sư đoàn với 153 máy bay chiến đấu, không có máy bay trực thăng vũ trang, một trường huấn luyện bay, 3 liên đoàn. Hải quân có 64.000 gồm 3 hạm đội, 1 sư đoàn không quân của hải quân. Lực lượng bán vũ trang gồm: quân đoàn phòng vệ tình nguyện, lực lượng bán chính quy tình nguyện, cảnh sát biển, kiểm soát không vận, tuần tra biên giới, biệt động và lực lượng phản ứng nhanh. Xu hướng xây dựng LLVT: chuyên nghiệp, trung lập, không can thiệp vào nội bộ các nước khác.

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRUNG QUỐC X. QUÂN GIẢI PHÓNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23620


« Trả lời #69 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2019, 07:44:05 pm »


        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG XINGAPO, các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Xingapo; có nhiệm vụ bảo vệ biên giới, duy trì và ổn định an ninh trong nước. Tổng thống là tổng tư lệnh danh dự. BQP trực tiếp giám sát và điều hành LLVT. Thực hiện luật nghĩa vụ QS được công bố 1967 (tất cả nam giới 18 tuổi phải phục vụ trong QĐ từ 24-30 tháng). LLVTX (2002) bao gồm: lực lượng thường trực 60.500 người, lực lượng dự bị 213.800. Tổ chức cụ thể: lục quân có 50.000 người, gồm 3 sư đoàn bộ binh hỗn hợp. 1 sư đoàn triển khai nhanh, 1 lữ đoàn cơ giới. Không quân 6.000 người, với 136 máy bay chiến đấu, 20 máy bay trực thăng vũ trang tổ chức thành 18 phi đoàn các loại. Hải quân 4.500 người, có 1 BTL và 3 căn cứ hải quân. LLVTX có quan hộ QS mật thiết với Mĩ. 11.1990 Mĩ và Xingapo thỏa thuận cho phép một phần lực lượng của Mĩ được vào căn cứ QS của Xingapo. Xingapo rất chú trọng trong việc tự sản xuất các trang thiết bị ở trong nước. Hải quân đã tự thiết kế và đóng các loại tàu khu trục lớp Vichtori...; Xingapo đang sản xuất hai loại xe chiến đấu  bộ binh mới IFV25 và IFV 40/50).

        LỰC LƯỢNG VŨ TRANG XÔ VIẾT. LLVT của nhà nước Liên bang cộng hòa XHCN xô viết (LX), để bảo vệ thành quả XHCN, tự do và độc lập của LX. Thành lập dưới sự lãnh đạo trục tiếp của V. I. Lênin, theo sắc lệnh tổ chức Hồng quân còng nông (28.1.1918) và sắc lệnh tổ chức Hải quân công nông đỏ (11.2.1918) của Hội đồng dân ủy (chính phủ Xô viết) sau CM tháng Mười để đối phó với các lực lượng phản động bên trong và can thiệp vũ trang của các nước tư bản từ bên ngoài. Từ đó nhiều liên binh đoàn, binh đoàn, binh đội dược thành lập và được triển khai (trong đó có Quân đoàn 1 Hồng quân công nông - quân đoàn đầu tiên, thành lập 1.1918 ỜPètrògrat (x. Xanh Pêtecbua). 23.2.1918 các lực lượng CM được tổng động viên để chống kẻ thù. Trong thời gian đầu, Hồng quân được xây dựng theo chế độ tình nguyện, gồm những đội cận vệ đỏ, những đơn vị bộ binh và thủy binh CM, do ĐCS tổ chức ở các thành phố lớn và trung tâm công nghiệp, với quân số khoảng 196.000 người; từ 5.1918 theo chế độ phục vụ QS bắt buộc. Quân số tăng nhanh từ 3 triệu người (1919) lên tới 5 triệu (cuối 1920). Đã lần lượt đánh bại đội quân can thiệp của các nước tư bản châu Âu (Anh, Pháp, Đức, Ba Lan...) và Mĩ, Nhật; đánh tan các lực lượng bạch vệ và thổ phỉ trong nội chiến ở Nga 1918-23, bảo vệ vững chắc nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Sau nội chiến, LLVTXV được xây dựng theo hướng chính quy, hiện đại. Trong hải quân đã thành lập không quân hài quân; ngoài 2 hạm đội đã có (Hạm đội Bantich và Hạm đội Biển Đen) thành lập thêm Hạm đội Thái Bình Dương (1935) và Hạm đội Biển Bắc (1937); nhiều tàu chiến thế hệ mới được đưa vào trang bị. Các đơn vị không quân, thiết giáp, pháo binh... được tổ chức và hoàn thiện cơ cấu tổ chức, biên chế, trang bị. Nền công nghiệp quốc phòng phát triển nhanh: nếu từ 1930 đến 1931 mới cung cấp được 860 máy bay, 740 xe tăng, 1.911 pháo, 41.000 súng máy, 174.000 súng trường thì đến 1938 đã cung cấp được 5.469 máy bay, 2.271 xe tăng, 12.687 pháo, 74.500 súng máy, 1.174.000 súng trường. Quân số giảm xuống còn khoảng 586.000 người (1927); tuyển quân từ 1939 theo luật nghĩa vụ QS phổ thông. Cán bộ QĐ được đào tạo chính quy trong các trường QS. 1939-41 để đối phó với nguy cơ xàm lược của chủ nghĩa phát xít. LLVTXV đã được củng cố và phát triển nhanh. Quân số tăng lên tới trên 5 triệu người. Xây dựng nhiều đơn vị chiến đấu (riêng lục quân tới 6.1941 đã có 303 sư đoàn, trong đó gần 1/4 đang được xây dựng). Công nghiệp quốc phòng 9.1939-41 đã sản xuất và đưa vào trang bị hơn 7.000 xe tăng, 29.637 pháo dã chiến. 52.407 súng cối, 17.745 máy bay, 100 tàu chiến (riêng 1940), trong đó có nhiều loại trang bị thế hệ mới như máy bay Iak-1, MiG-3, IL-2; xe tăng KV (hạng nặng), T-34 (hạng trung); hỏa tiễn BM-13 (Cachiusa). Hệ thống chỉ huy được kiện toàn: bộ tham mưu Hồng quân công nông được cải tổ thành BTTM Hồng quân; CTĐ.CTCT được tăng cường; số lượng đảng viên ĐCS trong LLVTXV lên tới 500.000 người (gấp 3 lần so với 1938). Trong những năm chiến tranh giữ nước vĩ đại. ĐCS LX, chính phủ và nhân dân LX đã làm tất cả để bảo đảm cho LLVTXV có sức mạnh để chiến thắng. Trong 6 tháng cuối 1941, đã thành lập hơn 400 sư đoàn mới; hơn 1.100.000 đv ĐCS được huy động vào QĐ và hạm đội; riêng trên Mặt trận Xô - Đức (1945), lực lượng chiến đấu có 6.700.000 người (73%), 106.300 pháo và súng cối (73%), trên 12.000 xe tăng và pháo tự hành (75%), gần 15.000 máy bay chiến đấu (65%). LLVTXV đã hoàn thành sứ mệnh bảo vệ tổ quốc XHCN, cứu loài người khỏi thảm họa phát xít (xt chiến tranh thế giới lần II, 1939-45; chiến tranh Xô - Đức, 1941-45; chiến tranh Xô - Nhật, 1945). Từ sau CTTG-II đến 4.1991, LLVTXV là một trong những QĐ hiện đại và mạnh nhất thế giới, có tên gọi truyền thống là QĐ và hải quân LX. Đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS LX, các cơ quan quyền lực tối cao (Xô viết tối cao LX, HĐBT LX), dưới sự chỉ huy, chỉ đạo trực tiếp của bộ trường BQP LX (riêng bộ đội biên phòng và bộ đội nội vụ do ủy ban an ninh quốc gia và Bộ nội vụ trực tiếp chỉ đạo). Thành phần LLVTXV gồm: lục quân (1.200.000 người), hải quân (400.000 người), không quân (410.000), phòng không (470.000 người), bộ đội tên lửa chiến lược (250.000 người), bộ đội biên phòng (400.000 người), bộ đội nội vụ (230.000 người) và bộ đội phòng thủ dân sự. Quân số thường trực trên 3 triệu người. Có lực lượng dự bị động viên 5.500.000 người (khoảng 10% tổng số quân nhân dự bị). Có hệ thống cơ quan QS địa phương (tên gọi là ủy ban quân vụ, chuyên làm công tác động viên và tuyển quân), tổ chức theo hệ thống đơn vị hành chính nhà nước ở các cấp (nước cộng hòa, cộng hòa tự trị, miền, tỉnh...). Tuyển quân theo luật nghĩa vụ QS phổ thông. LLVTXV được trang bị những vũ khí, phương tiện KTQS hiện đại nhất. Ngày truyền thống 23.2.1918.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM