Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 03:33:36 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: H  (Đọc 1418 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #70 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:06:35 PM »


        HỌC THUYẾT XUNG ĐỘT CUỜNG ĐỘ THẤP, học thuyết chỉ đạo hành động của Mĩ trong các cuộc xung đột, đấu tranh QS, chính trị phức tạp giữa các lực lượng đối địch trong một nước hoặc giữa các nước trong một khu vực dưới mức chiến tranh thông thường và trên mức “cạnh tranh hòa bình” liên quan đến an ninh khu vực và lợi ích toàn cầu của Mĩ. Ra đời từ sau 1975, được bổ sung hoàn chỉnh 1981 và 1986. Theo đó, đối tượng của HTXĐCĐT gồm: các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc hoặc đã giành dược độc lập dân tộc nhưng có xu hướng XHCN hoặc chống Mĩ đang gặp khó khăn về kinh tế, chính trị. Mục tiêu của HTXĐCĐT nhằm ngăn chặn, dập tắt phong trào giải phóng dân tộc, duy trì chính quyền thân Mĩ, hoặc ủng hộ bọn phản động giành chính quyền ở các nước độc lập có xu hướng XHCN hoặc chống Mĩ. Lực lượng tham gia xung đột cường độ thấp chủ yếu là lực lượng của chính quyền thân Mĩ (hoặc lực lượng phán động) bản xứ; Mĩ giúp đỡ về tình báo. huấn luyện, cố vấn, viện trợ QS, kinh tế... Khi cần Mĩ có thể tham gia chiến đấu (dưới chiêu bài hợp pháp) nhưng có lựa chọn, với lực lượng hạn chế, chắc thắng trong thời gian ngắn; chủ động tiến công bằng vũ khí kĩ thuật cao, tốc độ nhanh...; coi trọng các biện pháp chính trị, kinh tế. xã hội, đồng thời với các biện pháp QS. HTXĐCĐT đã được Mĩ vận dụng để can thiệp vào nhiều nơi như Grenada (1983), Panama (1990) Xômáli (1993), Haiti (1994). ... Cg LIC (vt từ Low-Intensity Conflict).

        HỌC VẤN QUÂN SỰ, trình độ tri thức, kĩ năng và kĩ xảo QS có hệ thống mà quân nhân thu nhận được qua quá trình học tập. công tác. Ở VN, HVQS được chia thành ba trình độ: sơ cấp. trung cấp, cao cấp. Để đạt dược mỗi trình độ HVQS, sĩ quan phải được học tập và tốt nghiệp ở các trường sĩ quan, học viện của QĐ và ở các khoa QS trong các trường đại học và cao đẳng của nhà nước; hạ sĩ quan, binh sĩ tiếp thu những tri thức QS sơ cấp trong quá trình phục vụ QĐ.

        HỌC VỊ. cấp bậc khoa học được trao cho người có trình độ học vấn trên đại học thuộc một ngành khoa học nhất định, đã bảo vệ thành công luận án khoa học. Ở VN, do nhà nước quy định và quản lí; từ 1998 có các HV: thạc sĩ, tiến sĩ và tiến sĩ khoa học. Một số nước có HV: phó tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; hoặc thạc sĩ và tiến sĩ... HV của người VN do nước ngoài công nhận hoặc người nước ngoài do VN công nhận được thực hiện theo quy định của nhà nước VN và điều ước quốc tế mà VN kí kết hoặc gia nhập. Người được công nhận HV được cấp bằng thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học.

        HỌC VIỆN BIÊN PHÒNG, học viện đào tạo sĩ quan biên phòng cấp phân đội (và tương đương) có trình độ đại học. Gồm các chuyên ngành: quản lí bảo vệ biên giới quốc gia; trinh sát biên phòng; kiểm soát cửa khẩu; đào tạo bồi dưỡng sĩ quan chỉ huy chuyên ngành (tham mưu, chính trị, trinh sát, hậu cần); đào tạo bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học QS; đào tạo nhân viên, chuyên môn nghiệp vụ trung cấp, sơ cấp biên phòng; đào tạo bổi dưỡng văn hóa nguồn; tổ chức nghiên cứu khoa học biên phòng; trực thuộc BTL Bộ đội biên phòng. Thành lập 7.7.2003 (theo quyết định số 85/2003/QĐ-BQP). Tiền thân là Trường sĩ quan công an vũ trang (1963, hiệu trưởng Chu Đốc); Trường đại học công an nhân dân vũ trang (1976); Trường sĩ quan biên phòng (1979); Trường đại học biên phòng (1989); hợp nhất Trường trung cao biên phòng vào Trường đại học biên phòng (1991); sáp nhập Trường văn hóa và Trường trung học biên phòng 1 vào Trường đại học biên phòng (1997). Huân chương: 4 Quân công, 4 Chiến công. Ngày truyền thống 20.5.1963. Giám đốc đầu tiên: Trần Xuân Tịnh.

        HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - QUÂN SỰ, học viện đào tạo cán bộ chính trị - QS cấp phân đội, binh đội, binh đoàn và những đối tượng khác (đào tạo, bổ túc giáo viên một số ngành khoa học xã hội cho trường QS; bổi dưỡng chính trị cho cán bộ trung cấp và cao cấp; đào tạo cán bộ sau đại học một số môn khoa học xã hội trong QS); trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn QS. Thành lập 21.5.1965 theo quyết định 68/QP. Tổ chức tiền thân là Trường chính trị trung cấp (thành lập 1951; giám đốc đầu tiên: Nguyễn Chí Thanh)-, qua nhiều thời kì xây dựng và phát triển với tên gọi: Trường lí luận chính trị (1956), Trường chính trị trung - cao cấp (1958) và 1961 hợp nhất với Trường bổ túc QS trung - cao cấp thành Học viện quân chính. Đến 1965 Học viện quân chính tách thành Học viện chính trị và Học viện QS (xt Học viện lục quân). 12.1981 đổi tên thành HVCT-QS; 5.1995 hợp nhất Trường sĩ quan chính trị - QS vào HVCT-QS. Ngày truyền thống 25.10.1951 (ngày chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường chính trị trung cấp). Giám đốc đầu tiên (1965): Tô Kí.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #71 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:07:41 PM »


        HỌC VIỆN HẢI QUÂN, học viện đào tạo sĩ quan sơ cấp hải quân có trình độ đại học, sĩ quan trung cấp và cao cấp hải quân có trình độ sau đại học; trung tâm nghiên cứu khoa học QS hải quân, trực thuộc BTL hải quân. Thành lập 3.4.1993 theo quyết định số 125/QĐ-QP của BQP, trên cơ sở nâng cấp Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật hải quân. Tổ chức tiền thân là Trường huấn luyện bờ biển (mật danh: C45), trực thuộc Cục phòng thủ bờ biển, thành lập 26.4.1955 (theo quyết định số 1125/QF/TTL của BQP), hiệu trưởng: Vũ Thanh Giang. Đã qua các tên gọi: Trường huấn luyện hải quân (26.1.1959); Trường hải quân VN (1.1961); Trường sĩ quan hải quân (25.7.1967); Trường sĩ quan hải quân 1 và Trường sĩ quan hải quân 2 (10.9.1975). Trường sĩ quan chỉ huy - kĩ thuật hải quân (23.10.1980). Ngày truyền thống 26.4.1955. Giám đốc đầu tiên: Lê Kế Lâm.

        HỌC VIỆN HẬU CẦN, học viện đào tạo, bổ túc cán bộ hậu cần cấp phân đội, binh đội, binh đoàn và tương đương, đào tạo cán bộ sau đại học về khoa học hậu cần QS; trung tâm nghiên cứu khoa học hậu cần QS của QĐND VN; đơn vị Ah LLVTND (2002). Thành lập 23.7.1974 trên cơ sở Trường sĩ quan hậu cần; trực thuộc BQP. Từ 3.1980, HVHC tách một bộ phận để thành lập lại Trường sĩ quan hậu cần. 3.1996 hợp nhất Trường sĩ quan hậu cần vào HVHC. Huân chương: 3 Quân công, 5 Chiến công, Lao động. Ngày truyền thống 23.7.1974. Viện trưởng đầu tiên: Hoàng Kiện.

        HỌC VIỆN KHÔNG QUÂN, học viện đào tạo sĩ quan chỉ huy  - tham mưu không quân cấp phân đội, sĩ quan lái máy bay (cùng với Trường huấn luyện bay - kĩ thuật không quân) có trình độ đại học, liên kết với Học viện KTQS đào tạo kĩ sư không quân; đào tạo sau đại học; đào tạo cán bộ giảng dạy. cán bộ nghiên cứu khoa học QS và kĩ thuật hàng không: chuyên loại, bồi dưỡng cán bộ chính trị, kĩ thuật, nghiệp vụ, hậu cần không quân và thực hiện những nhiệm vụ khác. Thành lập 31.12.1994. Tiền thân là Trường tập huấn (2.1979- 4.1980), Trường sĩ quan tham mưu không quân (5.1980- 3.1985), Trường trung cao không quân (4.1985-12.1994) và hệ sĩ quan tham mưu sơ cấp của Trường huấn luyện bay - kĩ thuật không quân. Từ 7.1999 hợp nhất với Học viện phòng không thành Học viện phòng không - không quân. Ngày truyền thống 15.12.1979 (thành lập Trường tập huấn). Giám đốc đầu tiên: Đinh Văn Bổng.

        HỌC VIỆN KĨ THUẬT QUÂN SỰ, học viện đào tạo cán bộ kĩ thuật, quản lí kĩ thuật, quản lí khoa học công nghệ, sàn xuất bậc đại học và sau đại học, cán bộ chỉ huy tham mưu kĩ thuật cấp chiến thuật - chiến dịch; trung tâm nghiên cứu khoa học KTQS và chỉ huy tham mưu kĩ thuật. Thành lập theo quyết định số 146/CP ngày 8.8.1966 với tên gọi Phân hiệu 2 Đại học bách khoa Hà Nội (phân hiệu trưởng: Vũ Văn Hà); chuyển thành Đại học KTQS theo quyết định số 88/CP ngày 18.6.1968 (chính ủy kiêm hiệu trưởng: Đặng Quốc Bảo), HVKTQS theo quyết định 412/QP ngày 15.12.1981 (Viện trưởng: Nguyễn Quỳ). Huân chương: Độc lập hạng ba, 2 Quân công, 2 Chiến công, Lao động. Ngày truyền thống 28.10.1966, ngày công bố quyết định thành lập Phân hiệu 2 Đại học bách khoa Hà Nội và khai giảng khóa đào tạo đầu tiên.

        HỌC VIỆN LỤC QUÂN, học viện đào tạo và bổ túc cán bộ chỉ huy - tham mưu binh chủng hợp thành cấp chiến thuật, bổi dưỡng cán bộ QS địa phương huyện và tỉnh; trung tàm nghiên cứu khoa học QS và đào tạo cán bộ sau đại học về khoa học QS; đơn vị Ah LLVTND (2001). Tiền thân là lớp bổ túc cán bộ QS trung cấp đầu tiên của QĐND VN, khai giảng 7.7.1946, có gần 100 học viên (giám đốc: Trần Hưng Nghĩa; chính trị ủy viên: Hoàng Điền); phát triển thành: Trường bổ túc quân chính trung cấp (15.3.1948; hiệu trưởng: Cao Xuân Hổ), Trường bổ túc QS trung - cao cấp (5.1955; giám đốc: Hoàng Minh Thảo). Học viện quân chính (3.3.1961; giám đốc: Trần Văn Trà); Học viện QS (1965; giám đốc: Hoàng Minh Thảo). HVLQ (16.12.1981; viện trưởng: Vũ Lăng). 4 huân chương Hồ Chí Minh, 3 Quân công, 2 Chiến công. Ngày truyền thống 7.7.1946.

        HỌC VIỆN PHÒNG KHÔNG, học viện đào tạo, bổ túc sĩ quan chỉ huy tham mưu phòng không có trình độ đại học, trên đại học, chuyển loại sĩ quan chính trị; trung tâm nghiên cứu khoa học QS phòng không. Thành lập 10.3.1993, tiền thân là hệ cao xạ Trường sĩ quan pháo binh (1957), Trường sĩ quan cao xạ (1964), Trường sĩ quan phòng không (1967), Trường phòng không (1971), Trường sĩ quan phòng không (1973), Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật tên lửa - rađa và Trường pháo phòng không (1980); Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật phòng không (1987). Đến 1993 hợp nhất Trường sĩ quan chỉ huy kĩ thuật phòng không với Trường trung cao cấp phòng không (1986) thành HVPK. 7.1999 hợp nhất với Học viện không quân thành Học viện phòng không - không quân. Ngày truyền thống 16.7.1964 (ngày thành lập Trường sĩ quan cao xạ). Giám đốc đầu tiên: Nguyễn Văn Thực.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #72 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:09:11 PM »

       
        HỌC VIỆN PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN, học viện đào tạo, bổ túc sĩ quan chỉ huy phòng không - không quân bậc đại học, sau đại học, chuyển loại sĩ quan chính trị, kĩ thuật nghiệp vụ, đào tạo sĩ quan lái máy bay (cùng với trường huấn luyện bay kĩ thuật không quân) có trình độ đại học, liên kết với Học viện kĩ thuật quân sự đào tạo kĩ sư hàng không, đồng thời là trung tâm nghiên cứu khoa học QS phòng không - không quân; thuộc Quân chủng phỏng không - không quân. Thành lập 21.7.1999, trên cơ sở hợp nhất Học viện phòng không và Học viện không quân. Ngày truyền thống 16.7.1964 (ngày thành lập Trường sĩ quan cao xạ). Giám đốc đầu tiên: Đinh Văn Bồng.

        HỌC VIỆN QUÂN SỰ, gọi chung các học viện đào tạo và bổ túc cán bộ sơ cấp, trung cấp và cao cấp về QS, bậc đại học và sau đại học, trung tâm nghiên cứu KHQS của QĐ. QĐND VN hiện có các HVQS trực thuộc BQP: Học viện quốc phòng. Học viện lục quân, Học viện chính trị - quân sự, Học viện hậu cần, Học viện kĩ thuật quân sự, Học viện quân y và các HVQS trực thuộc quân chủng, tổng cục và Bộ đội biên phòng, Học viện hải quân, Học viện phòng không - không quân. Học viện khoa học QS, Học viện biên phòng.

        HỌC VIỆN QUÂN SỰ CẤP CAO X. HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG

        HỌC VIỆN QUÂN Y, học viện đào tạo bác sĩ quân y, bổ túc chủ nhiệm quân y cấp sư đoàn (và tương đương) trở lên, đào tạo sau đại học về y học và dược học; trung tâm nghiên cứu y học và y học QS. Tổ chức tiền thân là Trường quân y sĩ, thành lập theo sắc lệnh 234-SL ngày 28.8.1948 của chủ tịch nước VN DCCH. tại Tuần Lũng, h. Tam Dương, t. Vĩnh Phúc (giám đốc đầu tiên: Đinh Văn Thắng). Được xây dựng và phát triển thành: Trường sĩ quan quân y (1957), Viện y học QS (1962), Đại học quân y (1966) và HVQY (16.12.1981), trực thuộc BQP. Có bệnh viện thực hành từ 1958 (x. Viện quân y 103). Huân chương: Độc lập hạng nhất, 4 Quân công, 3 Chiến công. Ngày truyền thống 10.3.1949 (ngày Trường quân y sĩ khai giảng khóa đầu tiên). Viện trưởng đầu tiên (1981): Nguyễn Thúc Mậu.

        HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG, học viện đào tạo, bổ túc cán bộ chỉ huy tham mưu binh chủng hợp thành cấp chiến dịch, chiến lược, đào tạo cán bộ sau đại học về khoa học QS, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho cán bộ của cơ quan Đảng và nhà nước; trung tâm nghiên cứu khoa học QS. Thành lập 21.2.1976 theo quyết định 38/QP với tên gọi Học viện QS cao cấp; đổi thành Học viện QS cấp cao (12.1981), HVQP (12.1994). Huân chương: Quân công hạng nhất. Ngày truyền thống 3.1.1977 (ngày khai giảng khóa đầu tiên). Viện trưởng dầu tiên: Lê Trọng Tấn.

        HỎI CUNG BỊ CAN, biện pháp điều tra tiến hành theo trình tự luật định đối với người đã bị khởi tố về hình sự; khâu quan trọng trong công tác điều tra nhầm làm rõ sự thật về hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm. HCBC được tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, khởi tố vụ án do điều tra viên (hoặc cán bộ điều tra) thực hiện, tại trụ sở của cơ quan điểu tra, trụ sở UBND xã, phường, thị trấn, nơi đang tiến hành điểu tra hoặc nơi ở của bị can. Trước khi HCBC, điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố và giải thích cho bị can biết quyền và nghĩa vụ của họ. Nếu vụ án có nhiều người thì hỏi riêng từng người và không cho họ tiếp xúc thông cung với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình. Việc HCBC không được tiến hành vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lí do vào biên bản và được lập theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. HCBC phải đảm bảo nguyên tắc khách quan, toàn diện đầy đủ, không được bức cung, mớm cung hoặc nhục hình.

        HÒM HÓA NGHIỆM DÃ CHIẾN, hòm đựng hóa chất, dung môi, dụng cụ hóa nghiệm, dùng để phát hiện, xác định (định tính hoặc định lượng) một số chất độc, mức độ nhiễm và tiêu độc cho người, vũ khí, trang bị, lương thực, thực phẩm, nước và môi trường. Có kích thước nhỏ và kết cấu đơn giản (vd: HHNDC K68 40x35x15cm), có thể xách tay, phù hợp  với điều kiện dã chiến. Trong QĐND VN, có các loại HHNDC: PKhL-54, K68 (TQ). HHNDC thường dùng cho phân đội phòng hóa hoạt động độc lập.

        HÒN CHÔNG, núi trên mũi đất nhô ra vịnh Thái Lan, thuộc xã Bình An. h. Hà Tiên, t. Kiên Giang, nam tx Hà Tiên 30km. Đỉnh cao nhất 161m. Trên núi có Chùa Hang (cg núi Chùa Hang). 1868 Nguyễn Trung Trực lập căn cứ chống Pháp tại đây. Hiện nay trên núi có nhà máy xi măng HC công suất 1,7 triệu tấn/năm. 6.1995 xây dựng cầu cảng với cầu dẫn dài 330m. cầu chính dài 100m, có thể tiếp nhận tàu trọng tài 8.500t.

        HÒN DẤU. đảo thuộc tx Đồ Sơn, tp Hải Phòng, đông nam bán đảo Đổ Sơn khoảng lkm. Dt 0,7km2, đỉnh cao nhất 128m. Bắc là bãi đá, nam là bãi cát. Đèn biển HD có cự li phát sáng 25 hải lí, dẫn đường cho tàu biển qua 4 cửa lạch: Nam Triệu, Bạch Đằng, Cửa Ống, Hòn Gai ra vào cảng Hải Phòng. Trên đảo có đền thờ Nguyễn Khoái, trạm hải văn và điếm gốc “0” chuẩn quốc gia về độ cao cho lục địa.

        HÒN KHOAI, đảo thuộc h. Ngọc Hiển. t. Cà Mau, đông nam mũi Cà Mau 20km. dt 5km2: đinh cao nhất 319m có cột đèn biển. Là đảo đất, cây cối xanh tốt, có nước ngọt. Xung quanh HK có nhiều đảo nhỏ: Hòn Lớn. Hòn Sao, Hòn Tượng, Hòn Khô, hòn Đồi Mồi, hòn Đá Lè. 13.12.1940 nổ ra cuộc khởi nghĩa HK do Phạm Ngọc Hiển lãnh đạo.

        HÒN MẮT. đảo thuộc h. Nghi Lộc, t. Nghệ An. đông bắc Cửa Hội 21km, dt 0,8km2. Là đảo đá có đỉnh cao 218m, có nguồn nước ngọt. Có 6 bến cho tàu neo đậu. tàu không đổ bộ trực tiếp được.

        HÒN MÊ, đảo thuộc h. Tĩnh Gia, t. Thanh Hóa, đỏng nam tp Thanh Hóa 50km, cách đất liền 15km, dt 4.7km2. Là đảo đá, xung quanh vách đứng, đỉnh cao nhất 25lm. Ngày 2.8.1964 tàu Mađôc của hải quân Mĩ xâm phạm vùng biển Bắc VN (nằm giữa HM và cửa Lạch Trường), bị hải quân VN đánh đuổi.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #73 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:11:49 PM »

       
        HỒ CẨM ĐÀO (s. 1942), tổng bí thư BCHTƯ ĐCS TQ (2002), chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (2003). Người h. Tích Khê, t. An Huy (TQ); đv ĐCS TQ (1965). 1959 sinh viên Trường đại học Thanh Hoa, 1965 tốt nghiệp, ở lại làm giảng viên, tham gia CM văn hóa. 1968 cán bộ kĩ thuật và cán bộ đảng t. Cam Túc. 1982 bí thư thứ nhất Đoàn thanh niên cộng sản t. Cam Túc. 1983 bí thư Ban bí thư trung ương Đoàn thanh niên cộng sản TQ. 1985 bí thư Tỉnh ủy t. Quý Châu. 1988 bí thư Khu ủy khu tự trị Tày Tạng, ủy viên BCHTƯ ĐCS TQ khóa XII-XVI (dự khuyết 1982-85), ủy viên thường vụ BCT, bí thư Ban bí thư (khóa XIV-XVI). 1993-98 hiệu trưởng Trường đảng trung ương. 1998 phó chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 11.2002 tổng bí thư BCHTƯ ĐCS TQ (khóa XVI). 3.2003 chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. 9.2004 chủ tịch Quân ủy trung ương.

        HỒ CHÍ MINH (Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Ái Quốc...; 19.5.1890-2.9.1969), chủ tịch nước VN DCCH (1945-69), chủ tịch BCHTƯ ĐCS VN (1951-69), người thầy của CM VN. lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và dân tộc VN. nhà yêu nước vĩ đại, chiến sĩ xuất sắc trong phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc tk 20. người sáng lập. lãnh đạo và rèn luyện ĐCS VN, người xây dựng nền cộng hòa dân chủ VN và Mặt trận dân tộc thống nhất, nhà tư tưởng  lỗi lạc của CM, nhà lãnh đạo QS xuất sắc, người sáng lập và rèn luyện các LLVTND VN. danh nhân văn hóa thế giới. Quê xã Kim Liên, h. Nam Đàn. t. Nghệ An. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, từ nhỏ sớm có tinh thần và ý chí cứu nước. Trước sự thất bại của phong trào Văn thân và sự bế tắc của các cuộc vận động cứu nước của Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh, 1911 HCM rời tổ quốc, ra nước ngoài tìm đường cứu nước; đã đi qua nhiều nước châu Âu, châu Phi, châu Mĩ, cuối cùng dừng lại ở Anh, Pháp; vừa làm việc để kiếm sống, vừa học tập và hoạt động chính trị. Đầu 1919 gia nhập ĐXH Pháp. 6.1919 gửi đến hội nghị Vecxây bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” đòi các nước tham gia hội nghị công nhận quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của dân tộc VN. 7.1920 đọc tác phẩm của Lênin “về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, HCM nhận thấy con đường giải phóng tổ quốc VN chỉ có thể là con đường CM vô sản, kết hợp CM giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với CM vô sản ở chính quốc. Phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, Hơn đã đề ra một luận điểm mới: “cách mạng ở thuộc địa không phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc mà có thể chủ động tự lực đứng lên tự giải phóng, bằng cách đó có thể giúp cách mạng ở chính quốc". 12.1920 tham gia đại hội Pháp tại Tua, kêu gọi đẩy mạnh tuyên truyền CNXH ở các nước thuộc địa, tán thành gia nhập Quốc tế III (Quốc tế cộng sản), được coi là một trong những người sáng lập ĐCS Pháp và là người cộng sản VN đầu tiên. 1921 tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp và là chủ bút tờ báo “Người cùng khổ”, xuất bản 1922. Năm 1923 dự hội nghị lần thứ nhất của Quốc tế nông dân họp ở Nga, được bầu vào đoàn chủ tịch của Hội đồng quốc tế nông dân. 1924 tham dự đại hội V Quốc tế cộng sản, được chỉ định là ủy viên thường trực Ban phương Đông, phụ trách văn phòng phương Nam, cuối năm đó đi Quảng Châu (TQ) bắt liên lạc với các nhà CM VN. 1925 mở trường huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ CM VN và là giảng viên chính của trường, thành lập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội) tổ chức tiền thân của ĐCS VN, sáng lập báo “Thanh niên” - cơ quan trung ương của Hội VN CM thanh niên, tham gia thành lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức và được cử làm bí thư Hội. 1930 tại Hồng Công (TQ) chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước thành một Đảng duy nhất mang tên ĐCS VN. 1931-33 bị nhà cầm quyền Anh ở Hồng Công bắt giam gần hai năm. 1934 sang LX. học Trường đại học Lênin và tham gia các hoạt động của Quốc tế cộng sản. 1938 về TQ. bắt liên lạc với tổ chức của ĐCS Đông Dương ở nước ngoài. 1941 về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào CM VN. chủ trương thành lập Mặt trận VN độc lập đồng minh (Việt Minh). 8.1942 sang TQ bắt liên lạc với các lực lượng CM của người VN và lực lượng đồng minh tại TQ. bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam gần 13 tháng trong các nhà tù tỉnh Quảng Tây. 9.1944 trở về VN. Đến 12.1944. chỉ thị thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân, cùng BCHTƯĐCS Đông Dương lãnh đạo xây dựng căn cứ địa CM. lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và 8.1945 tổng khởi nghĩa thành công trên cả nước. Sau CM tháng Tám (1945), trên cương vị chủ tịch nước, HCM đã lãnh đạo nhân dân giữ vững chính quyền CM trong hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài. 1946-54 cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước KCCP thắng lợi. 1955-69 lãnh đạo nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của CM VN là xây dựng CNXH ở miền Bắc. đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam. thống nhất đất nước. HCM đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của VN. giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN với tư tưởng CM triệt để của giai cấp công nhân, kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, để ra đường lối đúng đắn, đưa CM VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hơn là hiện thân cho ý chí giành độc lập tự do của dân tộc VN (“Không có gì quý hơn độc lập, tự do”), tượng trưng và là hạt nhân của khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. HCM đã cống hiến trọn đời cho CM, nhân dân và Tổ quốc VN, là tấm gương sáng về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị, để lại cho dân tộc VN những di sản vô cùng quy báu, mở ra thời đại HCM, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc, kỉ nguyên độc lập, tự do và CNXH ở VN


« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:33:56 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #74 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:15:08 PM »

     
        HỒ CHÍ TOÁN (Stefan Kubiak; 1923-63), người Ba Lan, chiến sĩ trong QĐND VN (1947-63). Đại úy (1958). Trong CTTG-II bị quân Đức bắt đưa về lao động tại Đức (1940). Năm 1943 trốn sang Litva tham gia du kích đánh phát xít Đức. 1944 tham gia Hồng quân LX. sau phục vụ trong QĐ Ba Lan (1945-46). Năm 1946 trên đường sang Italia công tác, bị Pháp bắt đưa vào đội quân lê dương và điều sang chiến đấu ở VN (12.1946). Tháng 4.1947 mang vũ khí chạy sang phía QĐND VN, được bố trí làm công tác địch vận. 1948-54 tham gia 10 chiến dịch lớn trong KCCP, chiến đấu 50 trận, có hai trận lập công xuất sắc (Phủ Thông, Him Lam). 1955-57 tham mưu trường trung đoàn pháo binh. 1957-63 cán bộ báo “Quản đội nhân dân”. Chết bệnh tại VN, Huân chương: 2 Chiến công hạng ba.

        “HỒ CHỦ TỊCH VÀ NHŨNG VẤN ĐỂ QUÂN SỰ CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM”, tác phẩm của Trường Chinh viết (1965) nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh: xuất bàn 1971. Đầu tiên đăng trên tạp chí “Quân đội nhân dân” (5.1965) với bút danh Tân Trào. Nội dung: trình bày một số vấn đề về tư tưởng QS VN; phương hướng nghiên cứu về sự nghiệp và tu tường quân sự Hồ Chí Minh. Có giá trị tổng kết về lí luận quân sự và chỉ đạo thực tiễn, cổ vũ quân và dân VN kiên trì đấy mạnh cuộc KCCM đến thắng lợi hoàn toàn.

        HỒ NGUYÊN TRỪNG (?-?), nhà KTQS nổi tiếng thời Hồ. Quê Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Âu, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Con trưởng Hồ Quý Li. Từng làm quan tư đồ thời Trần (1399). Khi Hồ Quý Li làm vua. HNT nhường ngôi vị thái tử cho em là Hồ Hán Thương. 1401 được phong tả tướng quốc, trông coi việc chế tạo súng và đóng thuyền. Chế tạo thành công súng thần cơ, đóng thuyền lớn hai tầng (tầng dưới để chèo thuyền, tầng trên chiến đấu). 1405 khi nhà Minh (TQ) chuẩn bị xâm lược Đại Việt, HNT thấy trước nguy cơ thất bại của nhà Hồ đã nói với Hồ Quý Li: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”. 1407 khi quân Minh xâm lược. HNT chỉ huy chiến đấu ở Giao Thủy (Nam Định) và cửa Hàm Tử. 6.1407 bị bắt ở cửa biển Kì La (Kì Anh, Hà Tĩnh), bị giải sang Kim Lăng (Nam Kinh. TQ). Nhà Minh phong chức tả thị lang Bộ công, trông coi xưởng đúc súng, nhưng luôn hướng về quê hương, viết sách “Nam ông mộng lục”.

        HỒ PHÒM (s. 1917), Ah LLVTND (1970). Dân tộc Khùa (một nhóm thuộc dân tộc Bru - Vân Kiều), quê xã Dân Hóa, h. Minh Hóa, t. Quảng Bình: nhập ngũ 1955; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là trung úy, đồn phó Đồn biên phòng Cha Lo (t. Quang Bình). Trước khi nhập ngũ. tham gia du kích xã, phó chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã. 1955 chiến sĩ công an tinh Quảng Bình: 3.1959 chuyển sang công an nhân dân vũ trang và công tác liên tục ở Đồn biên phòng Cha Lo. HP đã xây dựng được mạng lưới cơ sở rộng lớn ở vùng biên giới VN - Lào, bền bỉ bám dân, bám địa bàn, vận động nhân dân định canh, định cư, ổn định sản xuất, được dân gọi là “Pò thâu phò” (người già có uy tín). Trong chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ, đã kiên trì, tận tụy vận động đồng bào dân tộc Khùa, dân tộc Mày (Chứt) làm tốt công tác phòng không sơ tán, đồng thời bảo đảm sản xuất: tổ chức cho dân quân vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ biên giới. Huân chương: Chiến công hạng nhì.



        HỒ PHUƠNG (Nguyễn Thế Xương; s. 1930), nhà văn QĐ. Quê xã Kiên Hưng, tx Hà Đông, t. Hà Tây; nhập ngũ 1947, thiếu tướng (1990); đv ĐCS VN (1949). Trong KCCP, một trong những người đầu tiên phụ trách báo “Quân tiên phong” của Đại đoàn 308. Tham gia nhiều chiến dịch, trong đó có chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ 1956 làm việc tại tạp chí "Văn nghệ quân đội”, 1981-92 phó tổng biên tập, thư kí Chi hội nhà văn QĐ. ủy viên BCH Hội nhà văn VN (khóa III). Đã xuất bản gần 30 tác phẩm, tiêu biểu là: “Lưỡi mác xung kích” (truyện ngắn đầu tay), “Thư nhà” (1949, đươc coi là truyện ngắn xuất sắc của văn xuôi thời kì đầu KCCP), “Cỏ non” (truyện ngắn. 1960), “Xóm mới” (truyện ngắn, 1963), ‘Trên biển lớn” (truyện ngắn, 1964), “Chúng tôi ở Cồn Cỏ” (1966), “Nhằm thẳng quân thù mà bắn” (1967), “Can Lịch” (1968), “Khi có một mặt trời” (1972), “Những tầm cao” (1973-77), “Những tiếng súng đầu tiên”, “Cánh đồng phía tây” (giải thường văn học BQP, 1994)... Huân chương: Độc lập hạng ba, Quân công hạng nhì, Chiến công hạng ba...


« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:33:28 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #75 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:18:34 PM »

     
        HỒ QUÝ LI (1336-?), vua đầu tiên nhà Hồ (1400-01). Tổ tiên HQL sinh sống ở Quỳnh Lưu (Nghệ An), sau dời ra làng Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Âu, h. Vĩnh Lộc, t. Thanh Hóa). Lúc nhỏ làm con nuôi gia đình Lê Huấn nên mang họ Lê. lớn lên được vua Trần Nghệ Tông tin dùng, trải qua các chức khu mật viện đại sứ (1371), tiểu tư không (1379), thống chế đô hải tây (1380). Năm 1387 được phong đồng bình chương sự và là người có thế lực lớn trong triều lúc đó. 1395 sau khi Trần Nghệ Tông mất, được cử làm phụ chính thái sư, nắm quyền nhiếp chính, 1400 truất ngôi vua Trần Thiếu Đế. lập ra nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, năm sau nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương để lên làm thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm thực quyền. Thi hành nhiều chính sách cải cách xã hội (hạn điền, hạn nô, phát hành tiền giấy, định lại chế độ thuế khóa, chấn chinh việc học hành thi cử...), chăm lo việc phòng thủ đất nước (tăng cường và tổ chức lại QĐ, mở xưởng rèn đúc vũ khí, đóng tàu thuyền, xây đắp hệ thống thành lũy, cùng cố các nơi hiểm yếu...). 1406 tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Minh (TQ) xâm lược, lúc đầu giành được một số thắng lợi, nhưng sau bị các tướng Minh là Trương Phụ. Mộc Thạnh đánh bại, phải lui vào giữ Thanh Hóa rồi chạy về cửa biển Kì La (Hà Tĩnh). 6.1407 bị quân Minh bắt đưa về Kim Lăng (Nam Kinh, TQ) và mất tại đó (xt kháng chiến chống Minh, 1406-07).

        HỒ SĨ NHẤT (s. 1946), Ah LLVTND (1973). Quê xã Quỳnh Long, h. Quỳnh Lưu. t. Nghệ An: nhập ngũ 1965, thượng tá (1993); đv ĐCS VN (1967); khi tuyên dương Ah là chính trị viên Đại đội đặc công nước 6, Đoàn 8 QGPMN VN. 1970-7.2 chiến đấu ở chiến trường miền Tây Nam Bộ. đánh chìm 4 tàu chiến, đánh sập 3 cầu (dài l00m). diệt gần 100 địch; chỉ huy tổ đặc công đánh chìm nhiều tàu. diệt nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Trận đánh tàu ở cảng Bến Cầu, Rạch Giá (17.4.1972), khi tiếp cận mục tiêu, bị địch phát hiện, HSN nhanh chóng bơi đến đặt mìn phá hủy 2 chiếc tàu khác. 23.10.1972 chỉ huy tổ 3 người đón đầu đoàn tàu chạy chậm trên sông Rạch Giá, đánh chìm 3 chiếc. Đêm 24.10.1972 chỉ huy 12 chiến sĩ, đánh chìm 12 tàu vận tải (HSN đánh chìm 1 chiếc). Huân chương: Chiến công (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba), 7 lần Dũng sĩ.



        HỒ SƠ BÃI MÌN, văn kiện tác chiến quan trọng về bãi mìn được lưu lại sau khi đã bố trí mìn để giúp cho việc quản lí, sử dụng bãi mìn và là căn cứ để tháo gỡ mìn. Nội dung cơ bản của HSBM: mô tả vật chuẩn, tọa độ vị trí khu vực bãi mìn. loại bãi mìn, sơ đồ tổng thể và trích dẫn bố trí mìn, số lượng, kiểu loại mìn đã bố trí, thuyết minh mìn bẫy, tên đơn vị bố trí, chữ kí người ra lệnh và người chỉ huy bố trí mìn; thời gian bắt đầu và hoàn thành, quá trình theo dõi và bố trí bổ sung của bộ phận quản lí. HSBM do người chỉ huy các phân đội (bộ binh, công binh, pháo binh...) trực tiếp bố trí bãi mìn thực hiện, nộp về cơ quan công binh cấp trên quản lí. Những bãi mìn trong khu vực quan trọng. HSBM còn được quản lí ở cấp chiến lược (cấp nhà nước, BQP).

        HỒ SƠ DOANH TRẠI, gọi chung những tài liệu về nhà đất. vật chất doanh trại, sau khi đã đưa vào sử dụng, quản lí. Gồm: hồ sơ đất khu vực đóng quân; hồ sơ kĩ thuật các hạng mục công trình (nhà ở, nhà ăn, khu kĩ thuật, kho...); hồ sơ quân lí (lí lịch, đăng kí thống kê, báo cáo tài sản, văn bản kiểm kê...); các sơ đồ (bố trí mặt bằng, điện, nước...) và các văn bản pháp quy có liên quan trong việc khai thác, sử dụng và quản lí doanh trại. HSDT được quản lí theo phân cấp, được đãng kí thống kê, báo cáo và bổ sung kịp thời khi có thay đổi về doanh trại.

        HỒ THÀNH, thành cổ ở xã Hoà Định Đông, h. Phú Hòa, t. Phú Yên, bên sông Đà Rằng, tây nam thị trấn Tuy Hòa 10km. Chu vi 6,6km. Là kinh đô của Chiêm Thành, sau khi thành Đồ Bàn bị nhà Lê đánh chiếm (1471).
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:26:01 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #76 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:21:33 PM »


        HỒ THỊ BI (Hồ Thị Hoa; s. 1915), Ah LLVTND (1994). Quê xã Xuân Thới Thượng, h. Hóc Môn, tp Hồ Chí Minh: nhập ngũ 1945, đại tá (1980); đv ĐCS VN (1945). Năm 1936 tham gia Đông Dương đại hội. 1945 trưởng ban tiếp tế, hội phó Hội phụ nữ cứu quốc huyện Hóc Môn. 1946 đội trường đội trừ gian ở Hóc Môn. 1947 trường ban công tác 12 (biệt động), đại đội trưởng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 935. Năm 1949-51 tham gia xây dựng Chiến khu Dương Minh Châu và cơ sở kinh tế thương mại ở Tà Nốt (Campuchia). 1954-73 cán bộ: Cục tổ chức, Cục cán bộ, Cục chính sách TCCT. 1973-74 đặc phái viên Cục chính trị B2. Năm 1979 tham gia công tác bảo đảm hậu cần tại Phnôm Pênh trong chiến tranh biên giới Tây Nam. 1980 phó chủ nhiệm chính trị Bộ chỉ huy QS Thành phố Hồ Chí Minh. Đại biểu Quốc hội khóa II, III; ủy viên BCH Hội liên hiệp phụ nữ VN khóa II. Huân chương: Độc lập hạng nhì, 2 Kháng chiến hạng nhất, Quân công (hạng nhì, hạng ba)...



        HỒ THỊ BỜI (Tư A; s. 1926), Ah LLVTND (1978). Quê xã Hưng Long, h. Bình Chánh, tp Hồ Chí Minh: nhập ngũ 1949, thiếu tá (1993); đv ĐCS VN (1962); khi tuyên dương Ah là trung úy, tổ trưởng giao liên tình báo thuộc Đoàn 22, Bộ tham mưu B2. Năm 1949-50 tổ trưởng binh vận Trung đoàn 300. làm tốt công tác vận động binh lính địch, tạo điều kiện cho đơn vị diệt và bắt toàn bộ địch ở đồn Hưng Long (Long An). 1950-54 bị Pháp bắt, tra tấn cực hình, vẫn kiên trung bất khuất. Trong KCCM, cán bộ tình báo, giữ đường dây liên lạc từ Sài Gòn ra căn cứ giải phóng, thực hiện 600 chuyến liên lạc bí mật, an toàn. Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968), HTB là người thực hiện chuyến liên lạc đầu tiên giữa SCH với cơ sở tình báo nội thành Sài Gòn. phục vụ tốt nhiệm vụ chiến đấu. Cuối 1969-72 mặc dù địch kiểm soát nghiêm ngặt, một số cơ sở bị lộ, HTB vẫn kiên trì bám địa bàn. xây dựng 22 cơ sở tin cậy, tạo thành mạng lưới tình báo quan trọng từ Sài Gòn đi Châu Đốc. Mĩ Tho. Tây Ninh. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, dẫn đường cho một cánh quân vào giải phóng Sài Gòn. Huân chương: Chiến công (hạng nhất. 2 hạng nhì, hạng ba).



        HỒ THỊ KỈ (1949-70), Ah LLVTND (truy tặng 1972). Quê xã Tân Lợi (nay là xã Hồ Thị Kỉ), h. Thới Bình. t. Cà Mau; nhập ngũ 1968; đv ĐCS VN (1969); khi hi sinh là tổ trưởng đội biệt động, bộ đội địa phương tx Cà Mau. 1968-70 chiến sĩ biệt động tx Cà Mau. tham gia đánh 6 trận, diệt 46 địch, phá hủy 2 kho xăng, 1 kho đạn. 5 xe QS. Trận đánh ti cảnh sát Cà Mau (3.4.1970), HTK ôm mìn lao vào xe chở cánh sát chuẩn bị đi càn. phá hủy 3 xe. đánh sập 1 lô cốt, diệt 27 địch (có 1 sĩ quan Mĩ, 2 sĩ quan ỌĐ Sài Gòn), HTK hi sinh. Huân chương: Chiên công hạng nhất.



        HỒ TRUNG THÀNH (Hồ Thành Lân; 1952-78), Ah LLVT- ND (1973). Quê xã Phú Mĩ, h. Cái Nước, t. Cà Mau; nhập ngũ 1970, thượng úy (1978); đv ĐCS VN (1972); khi tuyên dương Ah là đại đội trường Đại đội đặc công 19 thuộc Đoàn 8, QGPMN VN. 1970-72 chiến sĩ đặc công Quân khu 9, tham gia đánh 10 trận, diệt nhiều địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Hai trận đánh sân bay Trà Nóc (Cần Thơ, đêm 16.5.1972 và đêm 11.9.1972), trực tiếp điều tra nghiên cứu và chỉ huy tổ đặc công phá hủy 15 máy bay (HTT phá hủy 9 chiếc). Hai trận đánh kho Vị Thanh (Rạch Giá, đêm 15.10.1972 và đêm 14.11.1972). HTT sử dụng mìn hẹn giờ phá hủy 27 xe QS, 3 kho đạn (15.000t), 1 kho xăng (l.000t), diệt 47 địch. Huân chương: Chiến công (1 hạng nhì, 3 hạng ba).


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #77 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2019, 05:24:10 PM »


        HỒ TÙNG MẬU (Hồ Bá Cự; 1896-1951), người tham gia thành lập tổ chức CM Tâm tâm xã (tiền thân của Hội VN CM thanh niên). Quê xã Quỳnh Đôi. h. Quỳnh Lưu, t. Nghệ An. 1920 hoạt động CM tại Thái Lan rồi sang TQ. 1923 cùng một số thanh niên VN yêu nước (Lê Hồng Sơn, Phạm Hồng Thái, Lê Hỏng Phong...) lập nhóm Tâm tâm xã. 1925 gia nhập Hội VN CM thanh niên (VN thanh niên CM đồng chí hội), giúp Nguyễn Ái Quốc mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (TQ). 1927-29 bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 4 lần. 2.1930 tham dự hội nghị thành lập Đảng (3-7.2.1930). Tháng 4.1931 bị mật thám Anh bắt và trục xuất khỏi Hương Cảng (TQ). Cuối 6.1931 bị mật thám Pháp bắt ở Thượng Hải (TQ), đưa về VN xét xử, kết án tù khổ sai chung thân (sau giảm xuống 10 năm), giam tại các nhà lao Vinh, Lao Bào, Kon Tum, Buôn Ma Thuột rồi quản thúc tại Trà Khê. 3.1945 vượt ngục về hoạt động ở miền Trung. Trong cách mạng tháng Tám (1945). tham gia lãnh đạo khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên. 1946 giám đốc kiêm chính ủy phụ trách Trường quân chính Trung Bộ; ủy viên thường vụ Liên khu ủy, chủ tịch ủy ban hành chính kháng chiến Liên khu 4. Năm 1947 tổng thanh tra chính phủ. Ủy viên BCHTƯ ĐLĐ VN khóa II (1951). Ngày 23.7.1951 hi sinh ở Liên khu 4. Huân chương: Hồ Chí Minh.



        HỒ VAI (Cu Thời; s. 1942), Ah LLVTND (1965). Dân tộc Pa Cô (Tà Ôi), quê xã A Ngo, h. A Lưới, t. Thừa Thiên - Huế; tham gia du kích 1961. nhập ngũ 1965, trung tá (1984); đv ĐCS VN (1965); khi tuyên dương Ah là xã đội trưởng xã A Ngo. 1961-69 xây dựng đội du kích xã A Ngo vưng mạnh, vận động nhân dân đánh giặc giữ làng, chi huy du kích tự tạo chông, mìn, cạm bẫy, chủ động đánh địch, bẻ gãy nhiều cuộc càn, gây cho địch nhiều tổn thất. 1961 HV đánh 22 trận, diệt 32, làm bị thương 59 địch. 11.7.1963 được tin địch càn vào xã A Ninh, HV đi tắt rừng, phục kích đợi địch đến gần 5m mới nổ súng, diệt 3 địch. Đêm 27.7.1969 dẫn một tổ bò vào sát đồn A Lưới nằm phục kích, đợi khi địch ra sân tập trung, đồng loạt nổ súng bắn chết 3 địch và làm bị thương một số khác. Huân chương: Quân công hạng ba.



        HỒ VĂN BIỂN (Nguyễn Cậy; 1903-92), Ah LLVTND (1969). Quê xã Điện Dương, h. Điện Bàn, t. Quảng Nam; đv ĐCS VN; khi tuyên dương Ah là du kích xã Điện Dương. Trong KCCP, tham gia du kích xã. Trong KCCM. 1965-68 dùng vũ khí tự tạo, diệt 67 Mĩ. phá hủy 2 xe bọc thép; vận động nhân dân phá ấp chiến lược, xây dựng làng chiến đấu, chống dồn dân, bắt lính; tự tay rải 4.000 truyền đơn, vận động một số binh lính địch trở về nhà làm ăn; 16 lần dẫn đầu quần chúng đấu tranh trực diện với địch ở tx Hội An. HVB nuôi giấu 12 thương binh tại nhà ngay sát đồn bốt địch bảo đảm an toàn; nhiều lần xung phong di dân công. 1968 được tuyên dương là lá cờ đầu trong hàng ngũ lão du kích của tỉnh. Huân chương: Chiến công hạng nhất; Dũng sĩ diệt cơ giới, Dũng sĩ diệt Mĩ cấp ưu tú.



        HỒ VĂN HUÊ (1917-76), phó chủ nhiệm hậu cần QGPMN VN (1964-75). Quê xã Phước Tuy, h. Cần Đước, t. Long An; nhập ngũ 1945, đại tá (1974); đv ĐCS VN (1950). Trong KCCP, 1945-50 bác sĩ phụ trách quân y các chiến khu: Thuận Lợi. Thủ Dầu Một, Lộc An - Biên Hoà, chủ nhiệm quân y Khu 7. Năm 1951-54 trưởng phòng quân y: Nam Bộ. Phân liên khu Miền Đông. Trong KCCM. 1955-57 trưởng phòng, rồi cục phó Cục quân y TCHC. 1964-75 phó chủ nhiệm hậu cần. kiêm chủ nhiệm quân y QGPMN VN. Huân chương: Chiến thắng hạng nhất...


Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #78 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2019, 04:00:48 PM »


        HỒ VĂN NHÁNH (1955-69), Ah LLVTND (truy tặng 1978). Quê xã Long Hưng, h. Châu Thành, t. Tiền Giang; khi hi sinh là du kích thiếu niên xã Long Hưng. 12.1968-9.1969 mới 13 tuổi đã nhiều lần vào căn cứ địch ở Đồng Tâm tháo gỡ hơn 4.000 quả mìn các loại, phục vụ du kích và bộ đội đánh 30 trận. Kinh nghiệm gỡ mìn của HVN được phổ biến trong 6 xã vành đai Bình Đức (vành đai diệt Mĩ của t. Mĩ Tho). 15.9.1969 hi sinh khi đang gỡ mìn. Huân chương: Chiến công hạng nhất.



        HỒ VĂN SINH (1949-82), Ah LLVTND (1976). Quê xã Quỳnh Phương, h. Quỳnh Lưu, t. Nghệ An: nhập ngũ 1969, trung úy (1981); đv ĐCS VN (1973); khi tuyên dương Ah là chuẩn úy, đại đội phó Đại đội đặc công 53, Trung đoàn 113, Đoàn 2 QGPMN VN. 1972-75 chiến đấu ở Biên Hòa, trực tiếp trinh sát điều tra hàng chục mục tiêu quan trọng, phục vụ cho đơn vị đánh thắng; HVS đánh 9 trận, phá hủy 34 xe QS, 2 máy bay, 4 kho xăng, 2 kho đạn của địch. Trận tiến công sân bay Biên Hòa (8.1973), chỉ huy tổ đặc công đột nhập phá hủy 5 máy bay F-5 (HVS phá hủy 2 chiếc). Trận đánh kho bom Bình Ý (4.1975), chỉ huy đơn vị vượt qua sân bay, đánh vào kho, phá hủy 500 nghìn tấn bom đạn (HVS phá 2 kho chứa 20 vạn tấn). Huân chương: Chiến công (2 hạng nhì, 4 hạng ba).



        “HỒ TRƯỚNG KHU CƠ”, binh thư nổi tiếng do Đào Duy Từ soạn để dạy tướng sĩ Đàng Trong (tk 17). Sách gồm ba quyển. Quyển 1 (tập Thiên) gồm sáu phần: tổng luận về cơ yếu binh pháp, hỏa công, thủy chiến, bộ chiến, giữ trại, lời tổng bình về tập thiên. Quyển 2 (tập Địa) gồm năm phần: yếu chí bàn về trận, các phép trận, yếu luận về giáo trường diễn trận, yếu pháp phá trận, tổng bình về tập địa. Quyển 3 (tập Nhân) gồm sáu phần: yếu chí bàn về tướng, phép chọn tướng luyện binh, yếu luận về quân cơ, phép dạy quân đánh giặc, phép giữ thành chống giặc, yếu luận về địa thế. “HTKC” chủ yếu trình bày về phương pháp đánh trận và kĩ thuật chế tạo binh khí, phản ánh nhiều vấn đề cơ bản của truyền thống QS VN.

        HỐ. công sự đơn giản có bình diện vuông, tròn hoặc chữ nhật, chủ yếu dùng để tránh sát thương của mảnh bom. đạn. H có nhiều loại: H bắn (dùng để bảo đảm an toàn cho xạ thủ và là vị trí đặt bắn của các loại hỏa khí như súng trường, súng máy...), H chông (có cắm các mũi chông bên trong), H chống tăng...

        HỐ BẮN, công sự bắn đơn giản, dùng làm vị trí đặt bắn của các loại hỏa khí bộ binh như súng trường, súng máy... Có bình diện vuông, tròn hoặc chữ nhật... và chiều sâu tùy thuộc vào loại súng, tư thế bắn và địa hình cho phép; chủ yếu tránh sát thương do mảnh bom, đạn cho người bắn. Thường bố trí phía trước chiến hào tiền duyên trong trận địa phòng ngự, hoặc ở trận địa bắn máy bay bay thấp. HB có 2 loại: có nắp và không nắp. HB có nắp có thể có 1 hoặc 2, 3 lỗ bắn (lỗ châu mai); đặt ở vị trí hiểm yếu, quan trọng.

         HỐ CHUỐI, căn cứ của nghĩa quân Yên Thế bên bờ Sông Sỏi (nhánh của Sòng Thương), nay thuộc xã Phồn Xương, h. Yên Thế. t. Bắc Giang. Được xây dựng từ 1886 trong giai đoạn đầu của khởi nghĩa Yên Thế (1884-1913), dưới sự chỉ huy  của Hoàng Hoa Thám. Gồm một hệ thống đồn nằm trong một thung lũng rậm rạp, được các ngọn đồi bao quanh che chở. Đồn chính hình chữ nhật, 4 pháo đài, có một lớp chông tre bảo vệ xung quanh rộng 40m với nhiều hầm chông, hố sập. Các chướng ngại tự nhiên như Suối Gồ cũng được lợi dụng làm thành con hào lớn, đáy cắm đầy chông làm vành đai bảo vệ. Cách đồn chính 100m ở hai hướng bắc và nam có các pháo đài trấn giữ. Pháo đài bắc chu vi 300m. pháo đài nam chứa được 50 người. Từ 9.12.1890 đến 9.1.1891, nghĩa quân liên tiếp gây thương vong nặng và đánh lui bốn cuộc tiến công của quân Pháp (x. trận Hố Chuối, 9.12.1890- 10.1.1891). Để bảo toàn lực lượng, 10.1.1891 nghĩa quân Hoàng Hoa Thám bí mật rút khỏi căn cứ. Từ 7.1893 khi nhiều căn cứ thuộc vùng Nhã Nam được Hoàng Hoa Thám xây dựng lại, HC lại trở thành một trong các căn cứ đầu não của cuộc khởi nghĩa. Tại đây, đêm 18 rạng 19.5.1894 nghĩa quân đã đánh bại cuộc tiến công của quân Pháp sau khi làm cho chúng mắc lừa trong âm mưu ám hại Hoàng Hoa Thám (xt trận Hố Chuối, 19.5.1894).
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 23070


« Trả lời #79 vào lúc: 16 Tháng Bảy, 2019, 04:03:28 PM »


        HỘ TỐNG TRÊN BIỂN, hoạt động tác chiến được tiến hành nhằm bảo vệ an toàn cho tàu thuyền vận chuyển và hành quân trên biển trước nguy cơ tiến công của đối phương. Nội dung chính của HTTB là: lập kế hoạch hành quân và hộ tống cho các tàu thuyền, xác định các biện pháp phòng thủ, bảo vệ và yểm hộ cho các tàu thuyền trong quá trình hành quân, xác định và thực hiện các biện pháp phòng tránh và đánh trả cho các tàu thuyền được bảo vệ và lực lượng bảo vệ khi bị đối phương tiến công, thực hiện các biện pháp bảo đảm hành quân cho đoàn tàu có hộ tống.

        HOC (HAWK, vt từ A. Home AU-the-Way Killer - phương tiện tiêu diệt tự dẫn toàn hành trình), tổ hợp tên lửa phòng không của Mĩ, sản xuất và trang bị từ cuối những năm 50, đầu 60 tk 20. Gồm: tên lửa. thiết bị phóng (cho 3 tên lửa), nguồn điện, hai đài rađa phát hiện mục tiêu (một cho tầm thấp, một cho tẩm trung và cao), đài rađa chiếu xạ mục tiêu, thiết bị điều khiển hỏa lực, xe vận chuyển - nạp đạn. Tên lửa kí hiệu M1M-23 (kiểu cải tiến MIM-23B) có động cơ nhiên liệu rắn, đầu đạn kiểu nổ mảnh, khối lượng 45 (54,4)kg, hệ thống tự dẫn rađa bán chủ động; khối lượng phóng 584 (627)kg, dài 5,08 (5,19)m, sải cánh l,22m, đường kính 0,370 (0,356)m, tốc độ bay lớn nhất 800m/s, diệt mục tiêu ở cự li tà 1.8-35 (40)km, độ cao 0,030-11(18)km. Còn có các phương án cải tiến MIM-23C, MIM-23D, MIM-23F và hệ thống SPHAWK (tự hành).



        HÔC có trong trang bị của QĐ Mĩ (từ 1959), các nước NATO, một số nước Arập - Trung Đông và châu Á. HÓC đã được triển khai trên chiến trường miền Nam VN cuối những năm 60 đầu 70 của tk 20 và trong chiến tranh Vùng Vịnh (1991).

        HÔCCAIĐÔ, đảo lớn thứ hai của quần đảo Nhật Bản. ở phía bắc Nhật Bàn. Dt 77.700km- (tính cả các đảo phụ cận 83.500km2); ds 5,7 triệu người (2001), cư dân chủ yếu là người Ainu. Địa hình giữa cao, xung quanh thấp dần. Núi chiếm 60% diện tích, phần lớn là núi lửa. Đỉnh cao nhất Axahi 2.290m. một số núi lửa đang hoạt động. Gần 60% diện tích là rừng lá nhọn (ở phía bắc) và rừng lá rộng (ở phía nam), ở đồng bằng trồng lúa nước và lúa mì. Đánh bắt hải sản. Thành phố chính: Xappôrô. Căn cứ QS lớn: Chitôxê (không quân).

        HỒI HỒI PHÁO X. MÁY BẮN ĐÁ

        HỘI CHIẾN (ngoại), trận quyết chiến do chủ lực của QĐ hai bên tham chiến tiến hành ở một khu vực và trong một thời gian nhất định. Để giành thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, trong HC thường sử dụng các tập đoàn lực lượng chủ yếu, tiến hành đồng thời hay lần lượt các chiến dịch tiến công và chiến dịch phòng ngự ở các khu vực và hướng quan trọng nhất (xt trận hội chiến).

        HỘI CHỮ THẬP ĐỎ QUỐC TẾ (A. International Red Cross, vt IRC), tổ chức nhân đạo quốc tế, có mục đích trợ giúp các thương binh, tù binh, những nạn nhân chiến tranh và những người ốm đau, thiệt hại do thiên tai. Thành phần gồm: các hội chữ thập đỏ quốc gia, Hội trăng lưỡi liềm đỏ (LX và các nước Arập), Hội sư tử đỏ và mặt trời (Iran), ủy ban quốc tế chữ thập đỏ (Thụy Sĩ) và Hiệp hội chữ thập đỏ. Trong đó dông đảo nhất là Hiệp hội chữ thập đỏ (thành lập 1919, gồm 136 hội quốc gia, Hội chữ thập đỏ VN gia nhập từ 1957). Các thành viên HCTĐQT không lệ thuộc nhau về pháp lí. HCTĐQT và nhiều hội chữ thập đỏ quốc gia đã tích cực trợ giúp nhân đạo VN khắc phục hậu quả chiến tranh và thiên tai. Cơ quan cao nhất là Hội nghị quốc tế. Trụ sở đặt tại Giơnevơ (Thụy Sĩ).

        HỘI CHỨNG VIỆT NAM, những triệu chứng của căn bệnh xã hội xuất hiện ở MT bắt nguồn từ cuộc chiến tranh xâm lược VN (1954-75). Được bộc lộ ở các hiện tượng xã hội - chính trị - kinh tế... như : khủng hoảng lòng tin, tâm trạng chán chường, mặc cảm của nhân dân Mĩ, đặc biệt là thanh niên đối với cuộc chiến (phong trào chống quân dịch, phản đối chiến tranh); sự ám ảnh bời tội lỗi do họ gây ra của phần lớn lính Mĩ tham chiến ở VN...; nội bộ nước Mĩ chia rẽ, giới cầm quyền mâu thuẫn sâu sắc, nhất là trong hoạch định chính sách đối ngoại (quốc hội nổi loạn, “vụ Oatơghêt”...); sự gia tăng tốc độ suy thoái kinh tế và các tệ nạn xã hội (lạm phát, thất nghiệp, tội ác...); sự suy giảm vị thế của Mĩ trên thế giới...
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM