Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Bảy, 2019, 11:55:11 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hàng không dân dụng Việt Nam - Những chặng đường lịch sử  (Đọc 1456 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 194



« Trả lời #30 vào lúc: 11 Tháng Bảy, 2019, 09:36:51 PM »

3. Ngành hàng không dân dụng Việt Nam góp phần đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đẩy mạnh hoạt động chi viện cho miền Nam (1972 - 1973)

Cuộc tiến công chiến lược của quân dân miền Nam đầu năm 1972 đã giành thắng lợi to lớn và toàn diện. Bị bất ngờ về chiến lược, trước nguy cơ sụp đổ của quân ngụy và sự phá sản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", chính quyền Níchxơn liều lĩnh huy động một lực lượng lớn không quân và hải quân cùng với những vũ khí sát thương lợi hại nhất (trừ vũ khí hạt nhân), đánh phá miền Bắc ác liệt chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới.


Hội nghị Pari bị dẫm chân tại chỗ, không tiến triển được, do phía Mỹ - ngụy đặt ra những điều kiện phi lý cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Còng hòa miền Nam Việt Nam. Níchxơn đã thực hiện một cuộc phiêu lưu quấn sự mới hết sức nghiêm trọng. Chúng coi đó là "biện pháp chiến lược quyết định", là "cách duy nhất để chấm dứt chiến tranh” có lợi cho chúng. Đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại, dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo, leo thang nhanh, với quy mô lớn, đánh vào tất cả các mục tiêu kinh tế, quân sự, dân sự, đường sá, đê điều. Chúng dùng B52 thả bom kiểu rải thảm xuống nhiều thành phố, khu đông dân cư giết hại nhân dân và phá hủy các tiềm lực quân sự, kinh tế của miền Bắc; chúng kết hợp máy bay với tàu chiến, pháo kích tập trung đánh phá vùng ven biển, đường giao thông huyết mạch Khu IV, rải chất độc hóa học làm trụi lá cây rừng... nhằm ngăn cản sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam và với các chiến trường khác ở Đông Dương.


Dã man hơn, ngày 9-5-1972, Níchxơn đã ra lệnh thả mìn và thủy lôi vào vịnh Bắc Bộ, phong tỏa chặt cảng Hải Phòng và các cửa biển, hải cảng, sông ngòi miền Bắc. Chỉ trong 10   ngày   đầu chiến dịch, đế quốc Mỹ đã điên cuồng rải tới 43 bãi mìn và thủy lôi với diện tích trên 655km vuông gồm 481km vuông bờ biển và 174km vuông cửa sông từ Hải Phòng đến Khu IV. Chúng cho tàu chiến bao vây, phong tỏa vùng biển miền Bắc nhằm cắt đứt mọi sự liên hệ giữa miền Bắc và thế giới bên ngoài.


Bằng những thủ đoạn quân sự cực kỳ hung bạo, đế quốc Mỹ hy vọng sẽ chặn được cuộc tiến công và nổi dậy đang diễn ra mạnh mẽ đều khắp ở miền Nam, cứu vãn "Chiến lược Việt Nam hóa", cố giữ cho tình hình ở chiến trường miền Nam không xấu đi. Mặt khác, chúng cố sức ngăn chặn và làm giảm sự viện trợ vật chất của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới đối với nhân dân Việt Nam, chặn đường chi viện của miền Bắc với miền Nam, phá hoại tiềm lực kinh tế và quân sự của miền Bắc, hòng tạo ra một sức ép về chính trị và tâm lý buộc Việt Nam phải chấp nhận một giải pháp có lợi cho Mỹ và tay sai.


Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của miền Bắc là kiên cường chiến đấu đánh bại chiến tranh phá hoại của chính quyền Níchxơn, đồng thời chuyển hướng nền kinh tế cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh phá hoại ác liệt, ổn định đời sống nhân dân, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn trong mọi tình huống. Mặc cho bom, đạn và chất độc hóa học, nhân dân và lực lượng vũ trang hai miền Nam - Bắc vẫn vững vàng trên mặt trận sản xuất và chiến đấu.


Hàng không dân dụng và không quân vận tải đối chọi với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ ác liệt gấp nhiều lần so với lần thứ nhất. Nhiệm vụ của hàng không dân dụng và không quân vận tải vẫn là sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trong mọi tình huống, đồng thời phải tích cực sơ tán, ngụy trang để bảo vệ lực lượng và phương tiện, khắc phục khó khăn, tích cực huấn luyện để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ quân sự, dân dụng trong mọi điều kiện.


Các sân bay lớn trên miền Bắc, kể cả sân bay quốc tế Gia Lâm là mục tiêu đánh phá, hủy diệt của đế quốc Mỹ. Có ngày, địch huy động tới 44 lần chiếc để đánh phá sân bay Gia Lâm. Đặc biệt, 19 giờ ngày 18-12-1972, đế quốc Mỹ huy động 90 lần chiếc B-52 và 135 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh liên tiếp 3 đợt vào các sân bay Nội Bài, Kép, Gia Lâm... Ngày 28-12 chúng lại huy động lực lượng lớn máy bay chiến thuật đánh ngày và 60 lần chiếc B-52 đánh đêm vào các sân bay này. Bầu trời trên các sân bay luôn là nơi diễn ra những trận không chiến ác liệt giữa ta và địch. Để đảm bảo an toàn phương tiện vận tải và chiến đấu lâu dài, Trung đoàn 919 được lệnh tổ chức sơ tán máy bay. Các loại AN-24, IL-14, Li-2 sơ tán lên sấn bay Lạng Sơn. AN-2 sơ tán lên Cao Bằng, Chũ, Lạng Sơn. Các máy bay trực thăng sơ tán lên sân bay Hòa Lạc và các thôn xóm ngoại thành Hà Nội, chỉ để lại một số chiếc trực chiến ở sân bay Gia Lâm.


Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, bộ phận trực thăng Mi-6 của Trung đoàn 919 với các phi công như Xuân Trường, Ký, San... đã thực hiện cẩu 400 lần chiếc máy bay phản lực chiến đấu MIC-17, MIC-21 phục vụ yêu cầu cơ động chiến đấu và sơ tán, bảo quản máy bay, để tạo nên tình huống bất ngờ trong chiến đấu. Lực lượng trực thăng Mi-6 cũng đã cẩu ba trạm radar lên một số điểm cao thuộc vùng núi tỉnh Hòa Bình, Hà Tây, góp phần tạo thế bố trí lực lượng mới, đảm bảo cho các đơn vị phòng không và không quân của ta đánh địch. Cũng chính lực lượng này đã cẩu một số khẩu pháo cao xạ ra bãi nổi giữa sông Hồng, chiếm lĩnh địa bàn có lợi đánh trả máy bay địch, bảo vệ sân bay Gia Lâm và Hà Nội. Nhiều lúc, khi những chiếc máy bay trực thăng đang lơ lửng trên không với chiếc phản lực MIC-21 dưới bụng thì máy bay Mỹ ập đến quần đảo, bắn phá trên đầu và tên lửa, pháo cao xạ của ta từ dưới đất bắn lên dày đặc. Các phi công lái trực thăng đã bình tĩnh, dũng cảm cơ động ra khỏi sự săn đuổi của máy   bay địch, khôn khéo đánh lạc hướng chúng và bí mật đưa MIC về đúng nơi đã quy định.


Trong cuộc chiến đấu chống giặc Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng, lực lượng máy bay AN-2 tích cực tham gia phá thủy lôi, góp phần giải tỏa giao thông trên luồng chính vào cảng. Khi địch đánh vào sân bay Gia Lâm, toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên, phi công của không quân vận tải và hàng không dân dụng đã lao ra cùng với anh em công binh và nhân dân quanh khu vực sân bay sửa chữa gấp để kịp cho máy bay hạ, cất cánh ngay dưới làn bom đạn. Một số đồng chí đã anh dũng hy sinh, trong đó có Lương Nhật Nguyễn, một sĩ quan dẫn đường tài ba của hàng không dân dụng - không quân vận tải Việt Nam.


Lực lượng cán bộ kỹ thuật, phi công, thợ máy phân tán trên địa bàn rộng. Kho xăng sân bay Gia Lâm được tăng thêm bể chứa, tăng lượng dự trữ lên 250 tấn. Lực lượng sửa chữa, khắc phục hậu quả đánh phá của địch ở các sân bay được tăng cường nhân lực và phương tiện. Do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, một số cán bộ chuyên môn về hàng không dân dụng được điều đi công tác. Đặc trách lo công việc về hàng không dân dụng lúc này là đồng chí Đỗ Xuân Nghi và một số sĩ quan và chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng. Mặc dù vậy, Cục hàng không dân dụng vẫn phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 919 để thực hiện tốt các chuyến bay của hàng không dân dụng và phục vụ chiến đấu theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh Binh chủng Không quân.


Người lái và máy bay sơ tán, nhưng vẫn tổ chức trực chiến, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ được ngay. Mỗi khi có nhiệm vụ, đơn vị bố trí phương tiện chở tổ lái lên nơi sơ tán, đưa máy bay về Gia Lâm cất cánh.


Hoạt động bay vận tải thời kỳ này phần lớn diễn ra vào ban đêm. Như vậy, càng thêm nhiều khó khăn cho công tác phục vụ, bảo đảm ở mặt đất. Các chuyến bay chuyên cơ hoặc dân dụng quốc tế cũng phải tiến hành vào ban đêm. Quanh bầu trời Hà Nội được phòng thủ bằng bóng khí cầu thả cao từ 1000m đến 2000m để chống máy bay địch bay thấp đột nhập vào Hà Nội ném bom. Vì vậy, máy bay hàng không dân dụng của ta ra, vào sân bay Gia Lâm phải bay theo một sơ đồ vòng lượn rất nghiêm ngặt để tránh va vào cáp và bóng khí cầu.


Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền Nam - Bắc, ngày 30-12-1972, chính quyền Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra. Cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ hai của đế quôc Mỹ mà đỉnh cao là cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào Hà Nội - Hải Phòng kéo dài 12 ngày đêm đã bị thất bại hoàn toàn. Chiến thắng này đã buộc Hoa Kỳ phải "xuống thang", và đề nghị gặp lại đại diện Chính phủ ta ở Pari để bàn việc ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh.


Giữa lúc sân bay Gia Lâm còn vương khói bom và lỗ chỗ những hố bom chưa kịp san lấp, chuyên cơ IL-18, BH-195 của hàng không dân dụng Việt Nam đã cất cánh đưa phái đoàn Việt Nam do đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng làm trưởng đoàn đi Pari để ký kết Hiệp định về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.  
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 194



« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2019, 10:26:33 AM »

4. Hàng không dân dụng Việt Nam trong khôi phục phát triển kinh tế miền Bắc (1973-1975)

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Các điều khoản của Hiệp định đều khẳng định Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Chính phủ Hoa Kỳ cam kết chấm dứt dính líu quân sự, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhân dân Việt Nam, chấm dứt các hành động quân sự đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, rút hết quân đội viễn chinh về nước. Như vậy là, sau mười tám năm trường chiến đấu với bao xương máu, bao hy sinh mất mát, quân và dân ta đã "Đánh cho Mỹ cút". Đây là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trọng đại, tạo điều kiện thuận lợi và thời cơ mới để quân và dân ta tiến tới "Đánh cho ngụy nhào", hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cán bộ và chiến sĩ hàng không dân dụng - không quân vận tải ở sân bay Gia Lâm kiêu hãnh và tự hào chứng kiến sự ra đi của những tên giặc lái Mỹ đã bị quân và dân ta bắn rơi trên miền Bắc, được trao trả theo các điều khoản của Hiệp định Pari. Suốt gần hai tuần lễ, cán bộ, chiến sĩ sân bay Gia Lâm đã bảo đảm cho hàng chục chuyến bay C-130, C-1411 (Máy bay vận tải quân sự của Mỹ nhận chở giặc lái được Việt Nam trao trả theo Hiệp định Pari) hạ cánh và cất cánh an toàn trong bối cảnh nhà ga, sân bay vẫn còn đổ nát, chưa sửa chữa kịp.


Ngay sau khi địch buộc phải chấm dứt chiến tranh phá hoại lần thứ hai đối với miền Bắc, Bộ Tư lệnh Không quân - Cục hàng không dân dụng nhanh chóng thực hiện nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và tăng cường cơ sở vật chất của không quân và hàng không dân dụng. Các sân bay bị địch bắn phá đã được sửa chữa. Các đơn vị từ các điểm sơ tán trở về, xây dựng lại doanh trại, bảo đảm các chế độ sinh hoạt, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu. Bộ đội công binh và nhân dân các địa phương huy động hàng vạn ngày công cùng bộ đội không quân sửa chữa, khôi phục các sân bay lớn, san lấp trên một triệu mét vuông hệ thông đường bảo hiểm, đắp hơn 10.000 mét khối đá, san lấp hàng trăm hố bom và những chỗ bị sụt, lún ở các sân bay Vinh, Đồng Hới, Nà Sản... Đồng thời, tăng cường lực lượng và trang bị kỹ thuật như máy vô tuyến đối không, máy dẫn đường, đèn chiếu sáng ban đêm... Mạng thông tin liên lạc của Binh chủng được trang bị thêm một số khí tài mới, nâng cao chất lượng thu thập tin tức giữa Sở chỉ huy trung tâm với Sở chỉ huy các trung đoàn, giữa các sân bay với nhau... Cơ sở bảo đảm mặt đất (chỉ huy dẫn đường, xăng dầu, hậu cần...) được tổ chức có hệ thống, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động không quân vận tải - hàng không dân dụng...


Theo yêu cầu của Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang Lào, giữa năm 1973, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân cử một tổ chuyên gia1 (Tổ chuyên gia giúp bạn đến giữa năm 1975 thì được lệnh rút về nước) của Trung đoàn Không quân vận tải 919 sang giúp bạn xây dựng lực lượng không quân. Tổ có: Trung tá Nguyễn Phúc Ninh, Tham mưu trưởng Trung đoàn 919, Thiếu tá Ngô Thế Dong, Tiểu đoàn trưởng sân bay Gia Lâm, Đại úy Nguyễn Văn Ngộ, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn máy bay AN-2. Tổ chuyên gia làm việc trong điều kiện hết sức khó khăn vất vả, thiếu thốn mọi bề trong chiến khu vùng rừng núi Tây Bắc của Lào. Họ phải làm lấy lán trại để ở, tự đi kiếm củi, đi vác gạo... Có những đợt đi lấy củi và vác gạo kéo dài hàng tuần lễ, nhất là trước mùa mưa lũ. Các đồng chí chỉ được hưởng theo chế độ bộ đội đi chiến trường "C"2 (Chiến trường "C" là chiến trường ở Lào). Tuy khó khăn vất vả, nhưng cả tổ đoàn kết cùng nhau tận tình giúp đỡ bạn, được bạn hết sức khen ngợi.


Theo yêu cầu của chiến trường miền Nam, Bộ Quốc phòng đã cử một số cán bộ của Trung đoàn Không quân vận tải 919 lên đường vào mặt trận B2. Đoàn gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Ba, Trung đoàn phó Trung đoàn 919, Trương Hồng Sơn, Lê Văn An. Đoàn vào tiếp quản sân baỵ Lộc Ninh và Thiện Ngôn1 (Sân bay Lộc Ninh và Thiện Ngôn thuộc tỉnh Tây Ninh, lúc đó do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam kiểm soát), tổ chức lực lượng sửa chữa lại đường băng. Sau đó, đoàn đã tổ chức việc bảo đảm cho các máy bay C-130, trực thăng của chính quyền Sài Gòn chở tù chính trị trao trả cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Hết đợt trao trả, máy bay chính quyền Sài Gòn đã lập tức ném bom bắn phá rất ác liệt các sân bay này. Song, các đồng chí vẫn bám sát sân bay, sửa chữa sẵn sàng phục vụ cho máy bay ta khi có thời cơ. Ban quản lý sân bay do đồng chí Nguyễn Văn Ba phụ trách.
Để tăng cường sức mạnh của lực lượng vận tải hàng không kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ quân sự và hàng không dân dụng, Bộ Quốc phòng ra quyết định (số 151/QĐ - QP ngày 10-11-1973) tổ chức Lữ đoàn 919 trên cơ sở sáp nhập cơ quan hàng không dân dụng và Trung đoàn Không quân vận tải 919 trực thuộc Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân.


Đồng chí Nguyễn Phúc Trạch, Thượng tá, nguyên Tham mưu phó Binh chủng Không quân được bổ nhiệm làm Lữ đoàn trưởng. Đồng chí Đỗ Xuân Nghi, Thượng tá, nguyên Cục phó Cục hàng không dân dụng được bổ nhiệm làm Lữ đoàn phó phụ trách hàng không dân dụng. Thượng tá Nguyễn Mạnh Đàn, được bổ nhiệm làm Lữ đoàn phó phụ trách hậu cần và kỹ thuật. Thượng tá Đỗ Long được bổ nhiệm làm Chính ủy Lữ đoàn.


Nhiệm vụ hàng không dân dụng được giao về cho Lữ đoàn Không quân vận tải 919, nhưng về mặt quản lý nhà nước vẫn với danh nghĩa Cục hàng không dân dụng do đồng chí Nguyễn Văn Tiên, Phó tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân - Tư lệnh Không quân kiêm Cục trưởng Cục hàng không dân dụng. Các cơ quan đặc trách về hàng không dân dụng nằm trong Lữ đoàn vẫn là cơ quan của Cục hàng không dân dụng Việt Nam.


Tháng 4-1974, đồng chí Nguyễn Văn Tiên được điều đi nhận công tác khác, đồng chí Đỗ Xuân Nghi, Lữ đoàn phó Lữ đoàn Không quân vận tải 919, Cục phó Cục hàng không dân dụng Việt Nam được phân công đặc trách công việc của Cục hàng không dân dụng. Bộ Tư lệnh và căn cứ chính của Lứ đoàn Không quân vận tải đóng tại sân bay Gia Lâm. Lữ đoàn 919 tổ chức thành các tiểu đoàn, gồm: 4 tiểu đoàn sử dụng 49 máy bay có cánh cố định đặt căn cứ ở sân bay Gia Lâm, một tiểu đoàn sử dụng 20 trực thăng các loại đặt căn cứ ở sân bay Hòa Lạc. Lữ đoàn được giao nhiệm vụ quản lý một số sân bay trong vùng giải phóng miền Nam là Tà Cơn, Đắc Tô, Tân Cảnh, Lộc Ninh và bố trí 3 tổ bay ở sân bay Na Cay (Lào) làm nhiệm vụ quốc tế. Lữ đoàn còn quản lý cơ sở tiếp nhận và lắp ráp máy bay mới ở sân bay Cát Bi.
Cơ quan Cục hàng không dân dụng đặt trụ sở tại Thủ đô Hà Nội, thời gian này chuyển từ số nhà 106 phố Trần Hưng Đạo sang số nhà 100 Trần Hưng Đạo, một thời gian ngắn sau lại chuyển sang số nhà 25 phố Tràng Thi. Tại đây, tầng 1 là nơi bán vé, kho vận, hải quan, tầng 2 là văn phòng Cục làm việc và giao dịch quốc tế.


Lữ đoàn 919 được giao làm cả hai nhiệm vụ vận tải quân sự và hàng không dân dạng. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, quan hệ giao lưu giữa Việt Nam và quốc tế được mở rộng. Đường hàng không dân dụng hoạt động tăng. Lữ đoàn Không quân vận tải - hàng không dân dụng là lực lượng chủ yếu đảm đương cả hai chức năng và nhiệm vụ ngày càng nặng nề.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 194



« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2019, 10:27:51 AM »

Quân chủng Phòng không - Không quân đã bổ sung lực lượng, tăng thêm phương tiện chỉ huy, xe máy cho các sân bay, chỉ đạo Lữ đoàn đẩy mạnh huấn luyện nâng cao trình độ bay đường dài của các tổ bay trong bốn khí tượng, tập cất cánh và hạ cánh ở nhiều sân bay khác nhau trong điều kiện thời tiết phức tạp. Các tổ bay trực thăng Mi-6 huấn luyện bay chiến đấu, tìm cứu người ở địa hình rừng núi, trên mặt nước. Các tổ bay vận tải huấn luyện khoa mục ném bom mục tiêu mặt đất, mặt nước, thả dù, thả hàng, cơ động lực lượng đường dài. Chính phủ đã mua máy bay mới IAK-40 và Mi-8 để tăng cường cho đội bay của Lữ đoàn phục vụ vận tải quân sự và hàng không dân dụng. Đồng thời Chính phủ cũng đã ký Hiệp định Hàng không giữa nước ta với Cộng hòa dân chủ Đức1 (Hiệp định do đồng chí Dương Bạch Liên, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải thay mặt Chính phủ ta ký ngày 12-4-1975 tại Beclin), và lần đầu tiên sau gần 20 năm, đại diện của hàng không Pháp làm việc với Cục hàng không dân dụng Việt Nam, tìm hiểu để nối lại quan hệ về hàng không dân dụng.


a. Tuyến vân tải trong nước

Hàng không dân dụng - không quân vận tải đã khôi phục lại tuyến bay chở khách và hàng hóa Hà Nội - Vinh - Đồng Hới và ngược lại; Hà Nội - Nà Sản - Điện Biên Phủ và ngược lại; đáp ứng nhu cầu đi lại của cán bộ, nhân dân và sự giao lưu hàng hóa giữa miền ngược và miền xuôi. Trên tuyến Hà Nội - Đồng Hới giá vé đã được nâng lên là 50 đồng (xấp xỉ 1 chỉ vàng lúc đó).


Lữ đoàn 919 đã điều một số máy bay trực thăng tham gia cẩu, móc ống dẫn dầu để xấy dựng đường ống dẫn dầu từ cảng Cửa Ông (Quảng Ninh) về Đồng Mỏ (Bắc Thái).


b. Bay chuyên cơ

Bay chuyên cơ vẫn là nhiệm vụ thường xuyên của Hàng không dân dụng và Lữ đoàn 919. Trong thời gian này, do được trang bị các máy bay chở khách hiện đại, như IL-18, IAK-40, nên ngoài việc hoàn thành tốt các chuyến bay chuyên cơ bằng các loại máy bay đã được trang bị để đưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đi làm việc tại các địa phương, hàng không dân dụng - không quân vận tải đã thực hiện những chuyên chuyên cơ đi các nước, có chuyến đi liền hàng tháng, bay qua vùng trời nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, hàng không dân dụng - không quân vận tải cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bay chuyên cơ phục vụ các vị lãnh đạo hai nước Lào - Campuchia. Có những chuyến, trên chuyên cơ chở một lúc bốn vị nguyên thủ quốc gia: Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ, Quốc vương Campuchia Nôrôđôm Xihanúc, Chủ tịch Mặt trận Lào yêu nước Hoàng thân Xuphanuvông. Đó là những chuyến bay góp phần củng cố tình hữu nghị, đoàn kết chiến đấu bảo vệ hòa bình của ba nước Đông Dương.


Để tăng cường tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước Việt Nam - Lào, tháng 3-1974, Chính phủ giao cho Cục hàng không dân dụng Việt Nam nhiệm vụ bố trí một máy bay AN-24 và tổ bay đặc trách giúp Lào chuyên chở các vị lãnh đạo của Pathét Lào đi lại làm việc trong những ngày tham gia Chính phủ liên hiệp ở Lào. Tổ bay đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo đảm an toàn tuyệt đối và bí mật mọi nhiệm vụ được giao.


c. Tuyến vận tải ngoài nước

Thực hiện Hiệp định vận chuyển Hàng không đã được ký kết với các nước, hàng không dân dụng - không quân vận tải đã tổ chức được một số chuyến bay trên tuyến Hà Nội - Bắc Kinh; cùng với Hàng không dân dụng Lào tổ chức chuyên bay trên tuyến Hà Nội - Na Cay - Bắc Kinh.


Để xây dựng ngành hàng không dân dụng Việt Nam ngày càng chính quy, hiện đại, ngày 10-1-1975, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đã chính thức ra chỉ thị về quy định trang phục trước mắt cho cán bộ, công nhân làm công tác hàng không dân dụng thuộc Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân. Trang phục của nam nữ quy định đối với cán bộ, nhân viên cơ quan làm công tác hàng không dân dụng, các tổ lái máy bay dân dụng, máy bay chuyên cơ (cả trực thăng) gồm đồng phục mầu tím than, mũ kêpi đồng mầu, có đính phù hiệu Hàng không Việt Nam. Trang phục này chỉ được sử dụng trong khi làm nhiệm vụ hàng không dân dụng. Trong các sinh hoạt, học tập và công tác khác đều phải mặc trang phục quân nhân theo quy định của quân đội.


Với khí thế thắng lợi của năm 1974, năm bản lề của kế hoạch hai năm khôi phục và phát triển kinh tế trong điều kiện miền Bắc có hòa bình, cán bộ, công nhân viên hàng không dân dụng Việt Nam phấn khởi bước vào thực hiện kế hoạch năm 1975 với quyết tâm lập thành tích thiết thực kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng, 30 năm ngày thành lập nước, 85 năm ngày sinh Bác Hồ kính yêu, đồng thời luôn luôn quán triệt nhiệm vụ quân sự, chính trị, sẵn sàng huy động lực lượng và phương tiện tham gia cuộc tổng tiến công giải phóng miền Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 194



« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2019, 10:30:51 AM »

5. Hàng không dân dụng tham gia cuộc Tổng tiến công của quân và dân ta giải phóng miền Nam Xuân - Hè 1975

Từ sau Hiệp định Pari về Việt Nam, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được sự chi viện đắc lực của miền Bắc, quân và dân ta ở miền Nam đã kiên quyết giáng trả những hành động chiến tranh phá hoại Hiệp định Pari của Mỹ - ngụy. Kết quả là đến cuối năm 1974, quân và dân ta đã đánh bại hầu hết các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, giành lại những vùng đã bị chúng chiếm đóng, thu hẹp vùng kiểm soát của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng của ta, đẩy địch vào thế phòng ngự bị động, phải co về giữ các vùng đô thị và các trục đường giao thông quan trọng. Tình hình đã có những chuyển biến căn bản thuận lợi cho việc giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Tháng 1-1975, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp, xem xét tình hình và ra một Nghị quyết lịch sử. Hội nghị nhận định chưa bao giờ ta có thời cơ thuận lợi như lúc này để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và đã quyết định: "Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện lực lượng so sánh trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta, tiến hành rất khẩn trương và hoàn thành công tác chuẩn bị mọi mặt, tạo điều kiện chín muồi, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng miền Nam".


Đồng thời, Hội nghị nhấn mạnh phải ra sức chuẩn bị mọi mặt để khi có thời cơ lịch sử thỉ tập trung lực lượng cả nước giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, toàn bộ lực lượng không quân vận tải - hàng không dân dạng chuẩn bị sẵn sàng lực lượng và phương tiện để chi viện tối đa cho chiến trường miền Nam.


Những ngày đầu năm 1975, sân bay Đồng Hới tấp nập như ngày hội của Lữ đoàn Không quân vận tải 919. Tất cả các kiểu loại máy bay (trực thăng Mi-6, Mi-8, Mi-4 và máy bay cánh cố định AN-2, Li-2, IL-14, và IAK-40) dồn dập vận chuyển quân, vũ khí, lương thực, thuốc men từ Gia Lâm vào và từ đó dùng ôtô vận chuyển tiếp, vượt   sông Bến Hải vào Đông Hà - đường 9, phân đi các chiến trường miền Nam. Sân bay lúc nào cũng mù mịt bụi bốc lên bởi cánh quay của những chiếc trực thăng Mi-6 mang trong bụng hàng chục tấn hàng. Cán bộ, chiến sĩ không quân vận tải - hàng không dân dụng phục vụ tận tình, chu đáo, an toàn ngày đêm trên sân bay Đồng Hới.


Ngày 4-3-1975, quân và dân ta nổ súng tấn công địch ở chiến trường Nam Tây Nguyên, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam. Chỉ trong một thời gian ngắn, sau khi đánh chiếm thị xã Buôn Mê Thuột, quân ta phát triển tiến công, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn lực lượng Quấn đoàn 2 và Quân khu 2 của địch, giải phòng hoàn toàn Tây Nguyên. Với sự chuẩn bị từ trước, bộ đội không quân đã kịp thời tổ chức các đoàn cán bộ, nhân viên kỹ thuật vào tiếp quản sân bay Buôn Mê Thuột, Pleiku, tiếp thu các cơ sở của không quân địch ở các vùng mới giải phóng. Sau khi bộ đội ta giải phóng Huế (25-3), ngay ngày hôm sau, một chiếc trực thăng Mi-8 do đồng chí Nguyễn Như Chứng lái chính đã cất cánh từ sân bay Đồng Hới chở các đồng chí: Phùng Thế Tài, Phó tổng tham mưu trưởng, Lê Văn Tri, Tư lệnh quân chủng Phòng khồng - Không quân, Nguyễn Hồng Nhị, Phó tư lệnh Sư đoàn Không quân 371, Phạm Đình Cường, Lữ đoàn phó Lữ đoàn Không quân vận tải - Hàng không dân dụng 919 vào sân bay Phú Bài - Huế. Sau đó, máy bay lại đưa đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó tư lệnh mặt trận ra Hà Nội báo cáo tình hình chiến trường với các đồng chí trong Bộ Chính trị. Nhờ những báo cáo trực tiếp từ chiến trường như vậy, Bộ Chính trị đã kịp thời nắm vững tình hình, chỉ đạo chặt chẽ từng bước của chiến dịch.


Tổ bay IL-14 của Vũ Quí Đĩnh bay thẳng từ Gia Lâm đưa đồng chí Nguyễn Ái Đồng và Chủ nhiệm chính trị ữứ đoàn 919 Ngô Đắc Thường vào sân bay Phù Cát.


Ngày 29-3-1975, ta giải phóng thành phố Đà Năng, căn cứ quân sự liên hợp hải - lục - không quân lớn nhất miền Trung của Mỹ - ngụy. Ngay lập tức từ sân bay Phú Bài (Huế), tổ bay Mi-8 của Nguyễn Như Chứng cất cánh kịp thời chở các cán bộ của không quân hạ cánh xuống sân bay Đà Nẵng. Tiếp sau đó, tổ bay IL-18 của Võ Quang Bốn đã chở các cán bộ của không quân và hàng không dân dụng vào bổ sung lực lượng tiếp quản sân bay Đà Nẵng. Lực lượng không quân - hàng không dân dụng tiếp quản sân bay Đà Nẵng được tổ chức thành một đơn vị kỹ thuật tương đương cấp trung đoàn làm nhiệm vụ quản lý sân bay, khôi phục các hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước, xăng dầu ở sân bay và trạm radar dẫn đường ở bán đảo Sơn Trà.


Trước xu thế phát triển rất nhanh của tình hình cách mạng miền Nam, ngày 31-3-1975, tư tưởng chỉ đạo tổ chức và chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh được phát đi: "Thần tốc, Táo bạo, Bất ngờ, Chắc thắng".


Cả nước bừng bừng khí thế ra trận. Các tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường không tấp nập các đoàn tàu, ôtô, máy bay chở quân, chở đạn, gạo, thuốc men... ra tiền tuyến. Ngày 5-4, chuyến bay vận tải AN-24 do Lê Văn Nha lái chính đã hạ cánh xuống sân bay Phá Bài. Hai ngày sau, máy bay tiếp tục lên đường và đáp xuống sân bay Đà Nắng. Từ đó, cầu hàng không dân dụng đã mở tuyến Hà Nội - Huế, Hà Nội - Đà Nãng bay thẳng bằng máy bay AN-24, IL-18. Đơn vị trực thăng lấy sân bay Đồng Hới làm trạm tập kết trung chuyển để từ đó bay tiếp vào Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng, các chuyến bay lên các sân bay vừa giải phóng ở Tây Nguyên ngày một tăng.


Ngày 20-4, chiếc IL-18 từ Hà Nội bay vào Đà Nẵng chở các phi công Từ Đễ, Mai Xuân Vượng, Phạm Ngọc Lan, Phạm Bổn, Nguyễn Văn Lục... và 6 thợ máy để huấn luyện chuyển loại sử dụng máy bay A-37 thu được của địch, chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh.


Ngày 21-4, sau khi quân ta giải phóng Xuân Lộc, các Quân đoàn đã áp sát Sài Gòn trên các hướng. 16
giờ 25 phút ngày 28-4-1975, phi đội máy bay A-37 thu được của địch ở Đà Năng, Phù Cát do phi công Nguyễn Thành Trung làm đội trưởng, và các đội viên là Từ Đễ, Nguyễn Văn Lục, Mai Xuân Vượng, Hán Văn Quảng xuất kích từ sân bay Phan Rang tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất, trận đánh đã thắng lợi dòn dã.


Đêm ngày 28-4 và rạng sáng ngày 29-4-1975, không quân chính quyền Sài Gòn cho hai đợt máy bay A-37 và F-5E từ Sài Gòn bay ra ném bom xuống đường băng và bãi để máy bay Mi-6 và AN-24 của Lữ đoàn 919, nhưng đều không trúng máy bay, chỉ làm bị thương một thợ máy và một chiến sĩ cảnh vệ canh gác máy bay tại sân bay Phan Rang.


Trong quá trình chuẩn bị và tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, các máy bay không quân vận tải - hàng không dân dụng đã thực hiện 163 chuyến bay, cơ động 4.250 cán bộ, chiến sĩ, vận chuyển 120,7 tấn vũ khí, phương tiện kỹ thuật (trong đó có 48 tấn đạn pháo cho xe tăng), bản đồ thành phố Sài Gòn, nhiều cờ, biểu ngữ, truyền đơn, thuốc men... đáp ứng các nhu cầu cấp bách của chiến dịch.


Sáng ngày 30-4-1975, một buổi sáng trời quang mây và khí hậu oi ả, năm cánh quân lớn của quân đội ta đồng loạt tiến vào Sài Gòn, cùng với quần chúng nổi dậy, giải phóng thành phố. Vào lúc 11 giờ 30 phút, lá cờ cách mạng tung bay trước tòa nhà chính dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.


Sau hơn 30 năm tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng giành độc lập và thống nhất Tổ quốc vô cùng oanh liệt, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, có một không hai trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 194



« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2019, 10:33:34 AM »

Ngày 1-5-1975, chiếc máy bay trực thăng Mi-6 do đồng chí Lê Đình Ký lái chính - chiếc máy bay đầu tiên sơn phù hiệu Không quân nhân dân Việt Nam hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, đem theo một lá cờ Tổ quốc rất lớn để cắm trên nóc dinh Độc Lập.


Một đoàn cán bộ kỹ thuật của không quân, trong đó có các cán bộ kỹ thuật của Ban kỹ thuật Lữ đoàn 919 do đồng chí Nguyễn Văn Chung dẫn đầu đã có mặt ở sân bay Tân Sơn Nhất, tiếp quản Trung tâm kỹ thuật của hàng không dân dụng chính quyền Sài Gòn.


Ngày 15-5-1975, chiếc máy bay chuyên cơ IL-18 số hiệu VN195 của Hàng không dân dụng Việt Nam cất cánh từ sân bay Gia Lâm bay thẳng đến sân bay Tân Sơn Nhất lần đầu tiên đưa đồng chí Tôn Đức Thắng - người công nhân của nhà máy đóng tàu Ba Son năm nào đã kéo cờ phản chiến để ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đã hoạt động cách mạng bất chấp hy sinh tù tội..., nay là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta vào thành phố Sài Gòn dự lễ mừng chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Ngày 3-6-1975, Quốc hội và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Quyết định tuyên dương danh hiệu "Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" cho Binh chủng Không quân nhân dân Việt Nam. Thành tích vẻ vang đó có sự đóng góp xứng đáng của cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn Không quân vận tải 919 và lực lượng hàng không dân dụng thuộc Lữ đoàn.


Ngay sau khi Sài Gòn và các địa phương ở miền Nam được giải phóng, cùng với việc cấp bách xây dựng và củng cố chính quyền địa phương các cấp, các ngành, các Bộ đã nhanh chóng tiếp quản và quản lý các cơ sở hoạt động kinh tế, giao thông, thương nghiệp..., duy trì các hoạt động bình thường trở lại, nhằm sớm đảm bảo đời sống cho nhân dân.


Hàng không dân dụng vẫn nằm trong Lữ đoàn không quân vận tải 919, được phân công tổ chức tiếp quản các cơ sở hàng không dân dụng của chính quyền cũ, trong đó tập trung chủ yếu là Nha hàng không dân dụng miền Nam và Công ty Hàng không Việt Nam (được gọi là Air Vietnam). Lữ đoàn Không quân vận tải 919 - Hàng không dân dụng tiếp nhận và khôi phục toàn bộ máy bay vận tải, trực thăng, trong đó có máy bay dân dụng của Air Vietnam. Kêu gọi số nhân viên làm việc cho Nha hàng không dân dụng Sài Gòn và Air Vietnam ra trình diện và trở lại làm việc theo chủ trương của Ủy ban quân quản và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Cơ quan quản lý về hàng không dân dụng của chính quyền Sài Gòn là Tổng nha hàng không dân sự, tổ chức thành 4 sở, 10 nha với cơ sở vật chất kỹ thuật khá lớn. Tổ chức kinh doanh vận tải hàng không là Háng hàng không Việt Nam (Air Vietnam). Hàng không dân dụng Sài Gòn đã gia nhập ICAO và là hội viên của tổ chức IATA.


Để nhanh chóng xác lập chủ quyền vùng trời quốc gia của chính quyền cách mạng, bảo đảm an toàn cho máy bay trong nước và quốc tế hoạt động, Cục hàng không dân dụng Việt Nam đã soạn thảo một Bản quy chế bay tạm thời cho các nước khi bay qua lãnh thổ miền Nam. Và ngày 15-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã công bố bản quy chế này, thay thế các quy chế của chính quyền Sài Gòn trước đây. Bản quy chế quy định các nguyên tắc, thủ tục bay đến và bay qua vùng trời miền Nam Việt Nam, quy định cụ thể hành lang, hành trình, độ cao, thời gian cho phép bay qua và thời gian sân bay tiếp nhận các máy bay đi, đến...


Toàn bộ công tác tổ chức tiếp quản và điều hành hoạt động hàng không dân dụng ở miền Nam vẫn đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân. Ban quản lý và điều hành hoạt động ở sân bay Tân Sơn Nhất gồm có: Giám đốc Khúc Đình Bính, các phó giám đốc Đoàn Mạnh Nghi, Nguyễn Văn Ba, Chính ủy Ngô Đắc Thưởng.


Thực hiện chính sách của chính quyền Cách mạng, Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân quyết định vừa giáo dục vừa sử dụng những người có chuyên môn kỹ thuật trước đây đã làm việc cho chế độ Sài Gòn, nay thống nhất cách gọi là "nhân viên mới”. Họ được khuyến khích làm việc, trong nhiều lĩnh vực, họ được xem như là những chuyên gia hướng dẫn chuyên môn cho những cán bộ, nhân viên đã quen sử dụng hệ kỹ thuật hàng không xã hội chủ nghĩa, để những người này nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật của máy bay hệ tư bản, có thể quản lý và khai thác phục vụ nhiệm vụ quân sự cũng như dân dụng hiệu quả hơn trong giai đoạn trước mắt của chính quyền Cách mạng.


Sau ngày giải phóng miền Nam, ta thu hồi toàn bộ 282 sân bay lớn, nhỏ (gồm 9 sân bay cấp 1 với đường băng dài trên 3000m), 81 sân bay cấp 2, 12 sân bay cấp 3 và 180 bãi hạ cánh; 11 sân bay có đường bêtông, 30 sân bay có đường băng bêtông nhựa, 53 đường băng bằng ghi sắt, 11 sân bay đường băng bằng ghi nhôm... Sân bay Tân Sơn Nhất, Chu Lai, Đà Nẵng, Biên Hòa, Phan Rang, Tuy Hòa có hai đường băng, dùng chung cho cả Hàng không dân dụng và Không quân.


Về máy bay, ta thu được 14 chiếc kiểu DC (7 chiếc DC-3, 5 chiếc DC-4 và 2 chiếc DC-6) máy bay dân dụng của Air Vietnam. Tổng số nhân viên của Nha hàng không dân sự Sài Gòn và Air Vietnam được chính quyền Cách mạng gọi ra làm việc trong ngành hàng không dân dụng - không quân vận tải có 2.166 người.


Sau ngày 30-4-1975, nhu cầu đi lại của cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, các Bộ, các ngành và việc chuyên chở cán bộ, bộ đội, thương binh, hàng hóa, thuốc men giữa hai miền rất lớn. Những sân bay chính đã được khôi phục bảo đảm hoạt động bình thường, hệ thống thông tin liên lạc, radar đã được sửa chữa và bảo đảm thông suốt từ Bắc vào Nam. Trung tâm kiểm soát không lưu (ACC) Sài Gòn đã đưa vào hoạt động theo quy chế mới. Tổ nghiên cứu điều chỉnh sơ đồ đường bay ở trên vùng trời miền Nam, quy chế kiểm soát không lưu (do đông chí Đặng Hanh Khoa phụ trách) đã hoàn thành và được đưa vào áp dụng. Các chuyến bay thường xuyên theo lịch Hà Nội - Tân Sơn Nhất - Hà Nội và Hà Nội - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất - Đà Nẵng - Hà Nội đã bắt đầu hoạt động, chủ yếu phục vụ cho cán bộ, bộ đội, thương binh, gia đình cách mạng... và vận chuyển hàng hóa bằng các loại máy bay IL-18, AN-24, DC-4, DC-6, IL-14 và trực thăng Mi-6.


Đất nước độc lập, hòa bình, thống nhất, đòi hỏi hàng không dân dụng - một ngành kinh tế kỹ thuật - đối ngoại cần được phát triển mạnh mẽ. Sau khi nắm một cách tổng quát tình hình tiếp quản các cơ sở hàng không dân dụng ở miền Nam, ngày 22-9-1975, Bộ Tư lệnh tiền phương Quân chủng Phòng không - Không quân và Lữ đoàn 919 đã họp và thống nhất đề nghị lên Chính phủ và Bộ Quốc phòng tổ chức hàng không dân dụng thành một ngành độc lập để có điều kiện xây dựng ngày càng hoàn chình, có hệ thống trong cả nước, chuẩn bị cho những bước phát triển mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng đất nước. Cuối năm 1975, Bộ Quốc phòng và Quân chủng Phòng không - Không quân đã ra quyết định giải tán Lữ đoàn Không quân vận tải 919, đồng thời thành lập 4 trung đoàn độc lập là 916, 917, 918, 919. Tất cả các loại máy bay trực thăng thu được như UH-1, CH-47, L-19, U-17 kèm theo cả các tổ lái của Lữ đoàn 919 mới chuyển loại tập trung vào Trung đoàn 917. Các loại máy bay trực thăng Mi-4, Mi-6, Mi-8 tập trung về Trung đoàn 916. Các loại máy bay vận tải quân sự thu hồi được của địch như C-130, C-47, C-119, C-123 (C-7A) tập trung về Trung đoàn 918. Còn tất cả các loại máy bay thiết bị ghế mềm chở khách như IL-14, Li-2, AN-2, IL-18, IAK-40, AN-24, các loại DC-3, DC-4, DC-6 thuộc về Trung đoàn Không quân vận tải 919 quản lý và khai thác. Đồng thời, Cục Hàng không dân dụng đã làm công văn gửi Phủ Thủ tướng, Bộ Quốc phòng đề nghị sang đầu năm 1976 cho Hàng không dân dụng tổ chức bán vé trên đường bay Hà Nội - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất và ngược lại. Đây là những bước chuẩn bị để ngành hàng không dân dụng phát triển trong giai đoạn mới.


Ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền, trải qua chặng đường gần 20 năm, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tư lệnh Không quân, Quân chủng Phòng không - Không quân, hàng không dân dụng - không quân vận tải đã luôn luôn quán triệt và chấp hành nghiêm chỉnh mọi đường lối chính trị, quân sự, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của nhân Việt Nam trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, và làm nghĩa vụ quốc tế giúp cách mạng Lào.


Trên chặng đường từ năm 1965 đến 1975, trong lúc miền Bắc nước ta bị chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ tàn phá nặng nề, mặc dù cùng một lúc phải vừa chiến đấu vừa xây dựng, không quân vận tải và hàng không dân dụng vẫn từng bước phát triển vứng chắc, xứng đáng là một ngành kỹ thuật cao của cả đất nước. Không quân vận tải - hàng không dân dụng là một trong những mục tiêu trọng tâm mà giặc Mỹ tập trung đánh phá. Không quân vận tải và hàng không dân dụng đã anh dũng chiến đấu, lập nhiều chiến công hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, nhưng bên cạnh đó cũng phải chịu những tổn thất, hy sinh to lớn.


Bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, ngành hàng không dân dụng có nhiều điều kiện thuận lợi để vươn lên xây dựng thành một ngành kinh tế - kỹ thuật hoàn chỉnh nhằm khai thác tiềm năng kinh tế về hàng không dân dụng trong nước và quốc tế. Đảng và Nhà nước đã quyết định thành lập Tổng cục hàng không dân dụng Việt Nam, tách lực lượng hàng không dân dụng ra khỏi lực lượng không quân thành một binh đoàn làm kinh tế hàng không, trực thuộc Bộ Quốc phòng, mang tên Binh đoàn 909.


Những chiến công oanh liệt, truyền thống vẻ vang của không quân vận tải - hàng không dân dụng sẽ được phát huy mạnh mẽ trong nhiệm vụ mới được Đảng và Nhà nước giao phó - nhiệm vụ làm kinh tế. Đã trải qua 20 năm kể từ khi thành lập, nhưng thực tế giờ đây Hàng không dân dụng Việt Nam mới có đủ điều kiện xây dựng và phát triển đúng với danh nghĩa là một ngành kinh tế - kỹ thuật - ngoại giao mũi nhọn của đất nước. Một trang mới trong lịch sử của ngành hàng không dân dụng sẽ được mở ra cùng bao sự đổi thay trên một nước Việt Nam thống nhất, độc lập và hòa bình.
Logged
Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM