Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 07:24:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức miền Đông - Đại tá Trương Văn Đàng  (Đọc 4859 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #70 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2019, 09:59:46 AM »

Hành động leo thang đánh phá tàn bạo của Mỹ đã bị quân và dân miền Bắc, nhất là quân và dân thủ đô Hà Nội trừng trị đích đáng. Ngay từ đợt đầu, trận đầu, các lực lượng phòng không của ta đã bắn rơi tại chỗ máy bay B-52 của Mỹ. Mặc dù chúng tìm mọi cách nghi binh gây nhiễu, tổ chức đội hình chặt chẽ, phối hợp nhiều kiểu loại máy bay đánh ở tầng cao và cả ở tầng thấp, đánh ban đêm rồi lại đánh liên tục cả ban ngày, sử dụng nhiều loại bom đạn và tên lửa, kể cả “bom tinh khôn”… nhưng chúng vẫn bị thất bại thảm hại.

Chỉ trong 12 ngày đêm của đợt tập kích, ta đã bắn rơi 81 máy bay, nhiều giặc lái bị bắt sống, trong đó con “át chủ bài” B-52 đã bị bắn rơi 34 chiếc, lực lượng “đột nhập mọi thời tiết” là máy bay F-111 cánh cụp cánh xòe cũng bị bắn rơi 5 chiếc. Các lực lượng phòng không của ta, trong những ngày thử thách quyết liệt này đã lập được thành tích đặc biệt xuất sắc. Nhiều địa phương đã lập chiến công lớn, nổi bật là Thủ đô Hà Nội đã bắn rơi 30 máy bay Mỹ.

12 ngày đêm chiến đấu và chiến thắng trên bầu trời miền Bắc, nhất là trên bầu trời thủ đô cuối năm 1972 là một chiến dịch phòng không đạt mức tiêu diệt máy bay chiến lược hiện đại của Mỹ cao nhất, oanh liệt nhất, đạt hiệu quả chiến lược lớn nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Bắc cũng như trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Tôi được biết, đây là chiến dịch tiêu diệt lớn máy bay chiến lược B-52 của đế quốc Mỹ đầu tiên trên thế giới, giáng cho lực lượng không quân chiến lược Mỹ đòn tiêu diệt nặng nề nhất trong lịch sử xây dựng và xâm lược của nó.

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này, trong đó nổi bật thắng lợi oanh liệt đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược của đế quốc Mỹ đã góp phần quan trọng trong thắng lợi chung, có tác dụng đè bẹp ý chí “đàm phán trên thế mạnh” của Níchxơn, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận việc ngừng ném bom, bắn phá và trở lại Hội nghị Pari trên thế yếu và bị cô lập.

Bị thất bại nặng nề trên cả hai miền nam – Bắc, đặc biệt là thất bại trong cuộc tập kích chiến lược đường không vào miền Bắc nước ta, những người đứng đầu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc lại bị một sức ép rất mạnh của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới lên án, đòi hỏi phải chấm dứt ném bom và ký ngay hiệp định hòa bình.

Ngày 30 tháng 12 năm 1972, Níchxơn buộc phải tuyên bố trở lại tình trạng trước ngày 18 tháng 12 năm 1972, nghĩa là ngừng ném bom, bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, bắt đầu từ 7 giờ ngày 30 tháng 12 năm 1972 để có thể tiếp tục trở lại bàn đàm phá ở Pari.

Cuộc gặp riêng giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kítxinhgiơ được nối lại từ ngày 8 tháng 1 năm 1973. Đứng trên thế mạnh của người chiến thắng, ta đấu tranh giữ vững nội dung của bản dự thảo Hiệp định đã được thỏa thuận ngày 20 tháng 10 năm 1972.

Lần này, Kítxinhgiơ đã phải hạ giọng, thừa nhận một sự thật cay đắng đối với họ ở miền Nam có 2 vùng kiểm soát, 2 chính quyền, 2 quân đội và 3 lực lượng chính trị. Trong lần gặp gỡ này, chính Kítxinhgiơ đã phải thốt ra với đồng chi Lê Đức Thọ; “Các ngài không những anh hùng lại còn thông minh”.

Ngày 12 và 13 tháng 1 năm 1973, bản dự thảo Hiệp định về cơ bản đã được thỏa thuận. Ngày 15 tháng 1 năm 1973, Chính phủ Mỹ phải tuyên bố: “Ngừng mọi hoạt động quân sự bao gồm ném bom, bắn trọng pháo và thả mìn ở miền Bắc ở nước ta”.

Ngày 23 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký tắt giữa đồng chí Lê Đức Thọ và Kítxinhgiơ. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định được ký chính thức giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các bên tham dự Hội nghị Pari. Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 7 giờ ngày 28 tháng 1 năm 1973.

Nội dung của Hiệp định đạt bốn yêu cầu cơ bản mà ta đã đề ra từ trước:

- Mỹ và các nước cam kết phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

- Mỹ phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu, phá hủy các căn cứ quân sự của Mỹ, cam kết sẽ không tiếp tục dính lúi quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, để cho nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của mình.

- Chính quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một bên của “hai bên miền Nam Việt Nam”, phải công nhận trên thực tế miền Nam Việt Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát.

- Mỹ phải bồi thường chiến tranh.

Điều mà Mỹ cay cú nhất là chúng phải thừa nhận quân đội miền Bắc không rút khỏi miền Nam, thừa nhận sự tồn tại và địa vị hợp pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #71 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:27:55 PM »

CHƯƠNG SÁU
BẢO VỆ BIÊN GIỚI TÂY NAM TỔ QUỐC LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ

Tháng 11 năm 1973, tôi được cấp trên cử ra miền Bắc học ở Học viện quân sự cấp cao. Thế là sau 12 năm xa miền Bắc, xa vợ con, tôi trở lại miền Bắc, khi Mỹ đã ngừng ném bom bắn phá. Tất cả làng mạc, phố phường, đồng ruộng những nơi tôi đi qua còn đầy hố bom vết đạn, nhà cửa đổ nát nhưng nét mặt của người dân đều lộ rõ vẻ phấn khởi, rạng rỡ.

Tôi về đến nhà, vợ con đi vắng, hỏi chị hàng xóm thì được biết Tùng (vợ tôi) đang làm ở Ủy ban Khu phố 3. Chị ấy bảo:

- Để tôi đi gọi chị ấy về.

Nói rồi chị đạp xe ra Ủy ban Khu phố 3. Một lát sau, nhà tôi về cùng chị ấy.

Hơn chục năm xa nhau, khi tôi vào Nam, Tùng mới 24 tuổi, giờ đã 36 tuổi. Nhìn gương mặt cô ấy, tôi biết Tùng vất vả vì công việc xã hội và một mình nuôi dạy con thay tôi, trong chờ đợt khắc khoải, âu lo. Giờ gặp nhau, cô ấy xúc động, một lát sau Tùng mới hỏi:

- Anh về tranh thủ được mấy ngày?

Tôi nói:

- Anh được cấp trên cho đi học, ở nhà với mẹ con em hơn một năm. Hai con, chúng nó đâu rồi?

- Nó đi học, chắc cũng sắp về rồi anh ạ.

Tôi giới thiệu với Tùng:

- Đây là lái xe và cần vụ.

Nhà tôi rất vui, ân cần rót nước mời hai chú. Hơn một tiếng sau, Hoàng và Nga đi học về nhưng không dám vào nhà mà bẽn lẽn đứng ngoài cửa. Vợ tôi giục:

- Hoàng, Nga vào chào bố đi con.

Tôi chạy ra cửa, dắt Hoàng và Nga vào.

Con bé vẫn chưa quen gọi bố. Khi tôi đi Nam, cháu mới được vừa đúng một tuần. Mãi đến hôm sau Nga mới ngượng ngùng gọi tiếng “Bố” đầu tiên.

Tối hôm đó, Tùng kể cho tôi nghe về những ngày xa hau: Hôi anh nói với mẹ con em là đi Liên Xô học. Vài tháng sau chẳng thấy thư từ gì, em đã sinh nghi. Mấy năm sau có người nói anh vào Nam chiến đấu và đã hy sinh. Được tin ấy, em chỉ âm thầm khóc một mình chứ không dám nói gì cho mẹ và các con. Mẹ già, được tin này bả cả nghĩ ốm thì khổ, còn thằng Hoàng và cái Nga nhỏ quá, nó không biết gì càng nghĩ em càng thương các con. Đằng đẵng 10 năm, chờ đợi không một lá thư anh viết gửi về. Thế rồi cuối năm 1971, một hôm em nhận được thư của anh. Chữ viết trong thư không phải chữ anh, anh chỉ ký tên Năm Đàng thôi. Nhận được thư em mừng lắm khóc với mẹ, đưa cho hai con đọc. Chúng nó tin đó là chữ của anh. Có địa chỉ em viết thư và gửi ảnh mẹ cho anh. Anh có nhận được không?

- Chiến đấu liên tục, căng thẳng, quyết liệt lắm. Anh nhờ chú cần vụ viết rồi anh ký đấy. Hai tấm hình em gửi anh còn giữ. Một tấm phía sau em ghi: “Anh giữ lấy trong ngày xa cách. Em, Hoàng và Nga con chúng mình”. Tấm hình này, mẹ con em chụp vào ngày 12 tháng 6 năm 1965. Còn tấm hình kia em chụp ngày 11 tháng 5 năm 1970. Em ghi: “Anh giữ lấy tấm hình này để kỷ niệm trong những năm xa” có phải không nà?

- Đúng rồi.

Tôi an ủi Tùng:

- Lúc đó để bảo đảm bí mật nên anh phải nói đi Liên Xô học. Anh chiến đấu, chỉ bị thương một vài lần. Anh về với mẹ con em đây.

Rồi Tùng kể cho tôi nghe mười năm cô ấy làm Chủ tịch Hội phụ nữ thị xã, được kết nạp vào Đảng, được trên cử đi học y sĩ. 10 năm liên tục được bầu là phụ nữ “Ba đảm đang”. Rồi cả chuyện mỗi tháng ba mẹ con được cấp 36 kg gạo mậu dịch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #72 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:28:05 PM »

Tôi ở nhà được hơn một tháng rồi trở về Học viện quân sự cấp cao học. Lúc này tôi mang quân hàm Thượng tá. Chiều thứ bảy, tôi được nhà trường cho về tranh thủ, chiều chủ nhật xuống trường.

Chúng tôi sinh cháu Trương Thị Ngọc Thủy, vào ngày 14 tháng 12 năm 1`974.

Cuối năm 1974, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975 – 1976.

Thực hiện quyết tâm chiến lược đó, chiến trường Đông Nam Bộ đã tiến công và giải phóng tỉnh Phước Long, tạo ra một thế trận chiến lược trực tiếp. Đồng thời thắng lợi đó cũng tạo thêm cơ sở thực tiễn cho việc đánh giá của Trưng ương về khả năng trở lại của Mỹ. Các chiến trường khác cũng giành được thắng lợi, mở rộng vùng giải phóng liên hoàn. Hậu phương lớn miền Bắc dồn sức người sức của cho miền Nam tăng quân, trang bị vũ khí và vật chất vào chiến trường. Đường vận tải chiến lược 559 được mở rộng, tăng cường năng lực vận chuyển và kéo dài đường ống dẫn dầu vào đến Tây Nguyên.

Sau thắng lợi của ta ở Tây Nguyên (tháng 3 năm 1975), buộc địch có những suy sụp đột biến, chúng đang thực hiện co cụm chiến lược với quy mô lớn, rút bỏ Tây Nguyên co về ven biển. Mỹ chưa có biểu hiện can thiệp trở lại miền Nam. Bộ Chính trị kịp thời chuyển quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam từ 2 năm sang ngay trong năm 1975 và xác định phương hướng tiến công chiến lược là Sài Gòn.

Sau thắng lợi của các chiến dịch Trị Thiên – Huế, Đà Nẵng, ta đã tiêu diệt và làm tan rã hàn toàn quân đoàn 1 địch và giải phóng địa bàn quân khu 1 của chúng. Chiến trường Đông Nam Bộ cũng giành được thắng lợi to lớn, càng tạo thế trận vô cùng có lợi cho ta chuẩn bị tiến công vào Sài Gòn. Bộ Chính trị lại kịp thời hạ quyết tâm tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng chủ lực của cả nước cùng với lực lượng tại chỗ nhằm vào hướng chiến lược chủ yếu là Sài Gòn – Gia Định, giải phóng Sài Gòn trước tháng 5 năm 1975.

Ngồi trong nhà trường, nhưng anh em chúng tôi không thể nào tập trung vào việc học được nữa. Tin thắng trận cứ dồn dập dội về. Từ Tây Nguyên, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoài rồi Huế, Đà Nẵng, ta còn giải phóng cả quần đảo Trường Sa. Chúng tôi liên tục đề nghị Ban giám đốc Học viện cho trở lại đơn vị để tham gia trận quyết chiến cuối cùng.

Nguyện vọng của anh em chúng tôi cuối cùng được đáp ứng.

Đầu tháng 4 năm 1975, Học viện có lệnh cho chúng tôi trở về đơn vị.

Tôi tranh thủ về thăm vợ con và nói với Tùng.

- Anh trở lại miền Nam chiến đấu. Chậm lắm là cuối năm anh sẽ ra đón em và các con vào Nam.

- Anh nhớ đấy! Đừng như lần trước nhé.

- Anh hứa!

Chiếc xe Zin ba cầu, phủ kín lá ngụy trang chở anh em chúng tôi rời Hà Nội xuôi về phía Nam. Trong lòng chúng tôi ai nấy đều phấn khởi, mong được tham gia trận đánh cuối cùng.

Đến miền Đông Nam Bộ, tôi được điều về Bộ phận cán bộ dự bị Cục Chính trị Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng bổ sung cho các hướng.

Lúc này tại Mặt trận Sài Gòn – Gia Định qua theo dõi diễn biến chúng tôi được biết chiến dịch Hồ Chí Minh đã bước sang tổng công kích.

Tính từ lúc thực hành nổ súng đến lúc kết thúc là 3 ngày rưỡi. Riêng giải quyết nội thành Sài Gòn trong 6 giờ (5 giờ 30 phút đến 11 giờ 30 phút). Chiến dịch diễn ra cơ bản đúng như ý định, đúng như kế hoạch, đúng như dự kiến hiệp đồng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #73 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:29:24 PM »

Chiến dịch Hồ Chí Minh ta đã tiêu diệt và làm tan rã khoảng 250.000 tên địch (trong đó có khoảng 160.000 tên bị bắt và đầu hàng, 15.700 tên bị diệt, còn lại tan rã). Tính đến ngày 10 tháng 10 năm 1975, có thêm 700.000 tên ra trình diện (có 30 tướng, hơn 400 đại tá, hơn 2.000 trung tá, gần 5.000 thiếu tá, gần 60.000 cấp úy, còn lại là hạ sĩ quan, binh sĩ và nhân viên ngụy quyền), 5 lữ đoàn, 4 sư đoàn phòng không, 90 đơn vị hải quân… Ta đa thu: 500 khẩu pháo, hơn 400 xe tăng thiết giáp, hơn 800 máy bay, hơn 600 tàu chiến, hơn 270.000 khẩu súng các loại, hơn 3.000 xe các loại, thu toàn bộ kho tàng của địch.

Ta hy sinh và bị thương hơn 6.000 cán bộ chiến sĩ bộ đội, bị cháy và hỏng 33 xe tăng, tiêu thụ khoảng 4.500 tấn đạn lớn.

Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đỉnh cao của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng có nhiều ý nghĩa hết sức to lớn.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc 30 năm chiến tranh lâu dài, gian khổ chống ngoại xâm của dân tộc ta; mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước ta.

Nếu trước đây Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ của đế quốc Pháp, thì thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đã đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam; đây là thất bại to lớn nhất của Mỹ từ trước tới lúc này, mở ra một thời kỳ mới cho phong trào cách mạng thế giới.

Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành thắng lợi trọn vẹn trong thời gian rất ngắn, đã thu được hầu như toàn bộ vũ khí kỹ thuật hiện đại, căn cứ, kho tàng của địch. Nhân dân trong khu vực chiến dịch hầu như không bị tổn thất, thành phố hầu như còn nguyên vẹn, hầu hết cơ sở vật chất về quân sự, về kinh tế, về sinh hoạt ta đều thu được, có tác dụng hết sức to lớn cho công cuộc xây dựng đất nước, trang bị cho quân đội sau này…

Chiến dịch Hồ Chí Minh diễn ra thuận lợi, nên số cán bộ dự bị cho chiến dịch chúng tôi không được về đơn vị chiến đấu mà cơ động theo Cục Chính trị Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh vào tiếp quản Thành phố Sài Gòn – Gia Định.



Cùng phó Tư lệnh Sư đoàn Tạ Quang Tỷ (người không đội mũ)
sau ngày chiến thắng 30-4-1975
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #74 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:31:01 PM »

Tháng 8 năm 1975, tôi đề nghị Bộ Tư lệnh Miền xin một xe con ra Bắc đón vợ con vào thành phố. Trên xe chỉ có tôi và chú Tân lái xe.

Vợ con thấy tôi về đều mừng vui. Tôi nói với Tùng:

- Em thu xếp cho các con vào Sài Gòn. Công việc của anh sau giải phóng rất bận nên phải đi sớm. Em nhớ đừng nói cho ai biết là đi vào Sài Gòn nhé, mà chỉ bảo đi Hà Nội chơi ít ngày.

Nghỉ ở nhà một ngày, sáng ngày thứ hai chúng tôi lên đường sớm. Xe chở gia đình tôi theo trạm nên cũng nhàn. Có ngày chỉ đi đến trưa đã đến trạm, ăn nghỉ do trạm lo nên sức khỏe cả gia đình đều ổn. Hoàng và Nga lần đầu được đi xe theo chiều dài đất nước, gặp cảnh đẹp đất nước, gặp cả đồng bào dân tộc đóng khố nên tỏ ra thích thú. Đi đến đâu tôi giới thiệu cho vợ con biết đến đó.

Gần chục ngày đi đường, chúng tôi đã đến Sài Gòn an toàn. Bộ Tư lệnh Miền cấp cho một căn hộ ở cư xã Bắc Hải, Chí Hòa, Quận 10.

Tùng và các con nghỉ ngơi một tháng, lúc này mới giải phóng nên ngành nào cũng thiếu người. Tùng là y sĩ, lại là đảng viên nên được bố trí làm việc tại Phòng y tế Quận 10.



Sau ngày giải phóng miền Nam 1975

Tháng 12 năm 1975, Sư đoàn 5 được biên chế về Quân khu 7, làm lực lượng cơ động của quân khu. Tôi được điều về làm Tư lệnh Sư đoàn 5.

Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn chúng tôi nhanh chóng triển khai làm nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu của Quân khu, tham gia xây dựng chính quyền cách mạng cơ sở các địa phương, huấn luyện bộ đội, xây dựng doanh trại, tăng gia sản xuất, đón nhận và huấn luyện tân binh.

Dù phải liên tục cơ động di chuyển, tổ chức biên chế biến động, bàn giao Trung đoàn 3 cho tỉnh Tây Ninh, điều chuyển 378 cán bộ, chiến sĩ đi tăng cường cấp huyện và bổ sung cho Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp nhận Trung đoàn 4, giải quyết chính sách, phục viên, chuyển ngành, cử cán bộ đi học…, tuy có một số ít đồng chí bộc lộ tư tưởng muốn nghỉ ngơi, chờ giải quyết chính sách… song cán bộ chiến sĩ sư đoàn tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp trong chiến tranh chống Mỹ, khắc phục mọi lệch lạc mới nảy sinh, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Trên lĩnh vực sẵn sàng chiến đấu, truy quét tàn quân địch, tính riêng năm 1976, sư đoàn đã tổ chức hành quân chiến đấu 25 lần, diệt và bắt 17 tốp địch, truy phá 25 tổ chức phản động, ngăn chặn và vây bắt 180 vụ phản loạn chống đối, bắt 200 tên, thu 69 súng các loại.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #75 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:32:26 PM »

Vừa sẵn sàng chiến đấu, truy quét, xây cất lán trại, sản xuất tự túc, sư đoàn đã tổ chức huấn luyện quân sự cho các đơn vị trong toàn sư đoàn. Chúng tôi chọn Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174 làm đơn vị huấn luyện đột phá của sư đoàn, đã đạt thành tích cao trong môn kiểm tra bắn đạn thật và khoa mục chiến thuật tiểu đội.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện, Tiểu đoàn 5 được giao nhiệm vụ về đứng chân tại Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai làm nhiệm vụ truy quét tàn quân ngụy và tham gia xây dựng chính quyền cơ sở cách mạng.

Tháng 11 năm 1976, sư đoàn chúng tôi tiếp nhận 3.400 chiến sĩ mới của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là đợt chiến sĩ mới đầu tiên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Trong điều kiện vừa di chuyển đội hình về vị trí mới chưa kịp củng cố, ổn định nơi ăn ở, nhưng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn đã tích cực chỉ đạo các đơn vị tập trung xây dựng doanh trại, tổ chức huấn luyện và tăng gia tự túc để nâng cao đời sống bộ đội.

Cuối tháng 11 năm 1976, Trung đoàn 1 đã hoàn chỉnh 47 nhà ở và 4 hội trường đủ để 3 tiểu đoàn tiếp nhận và tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới. Trung đoàn 174 cũng đã tích cực tự khai thác tre, gỗ hoàn chỉnh doanh trại cho Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 và khu vực sở chỉ huy sư đoàn.

Vừa sẵn sàng chiến đấu, truy quét tàn quân, vừa huấn luyện, các đơn vị trong sư đoàn đã tích cực tăng gia sản xuất. Mặc dù phải thay đổi vị trí đứng chân nhiều lần trong thời gian ngắn, đất canh tác ở Tây Ninh phải giao lại cho địa phương, khi về đến Bà Rịa, Long Khánh đã quá thời vụ, bộ đội vẫn tranh thủ thời gian để trồng tỉa, chăn nuôi góp phần cải thiện đời sống bộ đội.

Cuối năm 1976, toàn Sư đoàn 5 thu hoạch được 134 tấn bắp, 650 kg thóc, 21 tấn khoai, 12 tấn đậu, 124 tấn rau quả, chăn nuôi 816 con trâu, bò, heo, 5.716 con gà, vịt, chưa kể 172 ha mì chưa thu hoạch.

Đến cuối năm 1976, Sư đoàn 5 đã xây dựng ổn định xong căn cứ doanh trại, từ sở chỉ huy sư đoàn đến các nhà ở phân đội, hệ thống kho tàng, bệnh xá, hội trường… Mọi hoạt động công tác sinh hoạt trong điều kiện mới đã đi vào nền nếp ổn định.



Dự Đại hội đại biểu toàn quân năm 1976
Trong ảnh từ phải qua trái thứ 11 Trương Văn Đàng

Thời gian này, tập đoàn Pônpốt – Iêng Xari thường xuyên tiến hành các hoạt động khiêu khích dọn đường cho cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới. Chúng đột nhập vào kho vũ khí của ta ở Tây Ninh, tăng cường các hoạt động trinh sát, tuần tiễu dọc theo biên giới, sử dụng lực lượng nhỏ (cấp tiểu đội đến trung đội), bí mật thọc sâu vào đất ta để gài mìn, lừa bắt trộm trâu bò, giết hại cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta. Quân Pônpốt còn đào và dời cả cột mốc biên giới tại các khu vực Gò Dầu, Kà Tum, cưỡng ép dân Campuchia sang xâm canh tại các khu vực Mộc Bài, Khuốc, Vát Sa, Tà Nốt, Tà Đạt (thuộc tỉnh Tây Ninh) tung các toán gián điệp, tình báo vào địa bàn Quân khu 7 (đặc biệt là trung tâm Sài Gòn) để móc nối với các lực lượng phản động ở nội địa. Nghiêm trọng hơn, trong hai ngày 25 tháng 2 và ngày 2 tháng 3 năm 1976, quân Pônpốt đã bất ngờ tiến công và Đồn công an vũ trang số 7 và số 8 của ta ở Bu Prăng, Đắc Nông. Số vụ xâm lấn, vi phạm chủ quyền Việt Nam trên biên giới thuộc địa bàn Quân khu 7 từ 18 vụ trong năm 1975, tăng lên 171 vụ (gấp 9 lần) trên 82 điểm trong năm 1976. Căn cứ xuất phát hành quân của những cuộc xâm lấn biên giới trên địa bàn Quân khu 7 là quân khu 203 (còn gọi quân khu Đông) của Pônpốt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #76 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:32:55 PM »

Nhằm thực hiện cuộc chiến tranh xâm lấn, chính quyền Pônpốt tổ chức Campuchia thành 7 quân khu Đông, Đông Bắc, Tây, Tây Nam, Tây Bắc, Bắc, và Trung tâm. Hai khu Phnôm Pênh, Kông Pông Chàm trực thuộc trung ương và vùng đặc biệt Krachiê, phát triển quân đội từ 18 đến 20 vạn quân chủ lực, chưa kể 10 vạn quân địa phương.

Đối diện với Quân khu 7 là quân khu Đông của Pônpốt bao gồm địa bàn các vùng 20 (Krek); vùng 21 (Mê Nốt); vùng 22 (phía đông sông Mê Kông tiếp giáp với Phnôm Pênh); vùng 23 (Svay Riêng); 24 (Prây Veng). Trước lúc nổ ra chiến sự, quân khu Đông có hai sư đoàn 3 và 4. Sư bộ binh số 3 đóng ở Svay Riêng (có ba trung đoàn: 153, 269, 182). Sư bộ binh 4 đóng ở Krếch (có 3 trung đoàn 154, 155, 156). Quân số mỗi sư đoàn có từ 3.500 đến 4.000 quân và Pônpốt đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng các đơn vị đặc biệt như trinh sát, đặc công ở các cấp từ trung ương đến các đơn vị chủ lực, địa phương và du kích quận, huyện. Khi chiến sự nổ ra, Pônpốt tập trung lực lượng vào khu vực trọng điểm là quân khu Đông từ 2 sư đoàn tăng lên 7 sư đoàn chủ lực (trong đó có 2 sư đoàn tổng dự bị và 2 sư đoàn ở thủ đô Phnôm Pênh). Tổng quân số của Pônpốt thời điểm đó có 17 sư đoàn thì 13 sư đoàn (76% quân chủ lực) bị huy động vào cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới Việt Nam.

Bước vào cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, các lực lượng vũ trang Quân khu 7 đứng trước nhiều khó khăn. Đối tượng tác chiến là quân đội của một nước láng giếng mới hôm qua còn là bạn hữu, cùng chung lưng đấu cật đánh đuổi đế quốc để giành độc lập. Phải qua một thời gian dài tìm hiểu và trả giá, nhân dân Việt Nam mới nhận diện và đánh giá được hết ý đồ đen tối của chính quyền Pônpốt – Iêng Xari. Cuộc kháng chiến kéo dài suốt ba thập kỷ chống Pháp, Mỹ để lại gánh nặng hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề, không phải một sớm một chiều có thể khắc phục được. Những tồn đọng sau chiến tranh làm cho hậu phương, hậu cần của các quân khu phía Nam nói chung và Quân khu 7 nói riêng đều chưa vững chắc để có thể bước vào cuộc chiến với tư thế chủ động hoàn toàn. Đời sống nhân dân chưa được ổn định. Tình hình trật tự trị an xã hội chưa được củng cố, chính quyền cách mạng ở cấp cơ sở (phường, xã) còn yếu. Sau chiến thắng, một số cán bộ chiến sĩ có tư tưởng thỏa mãn, muốn xả hơi, dẫn đến chủ quan, mất cảnh giác. Việc giảm biên chế, giải quyết sang khung biên chế thời bình, lại tập trung vào việc sản xuất, dẫn đến chất lượng huấn luyện, quản lý cũng như trình độ tác chiến của bộ đội còn nhiều khiếm khuyết. Thế trận chiến tranh nhân dân trên tuyến biên giới chưa được tạo dựng một cách cơ bản.

Ngày 30 tháng 4 năm 1977, Pônpốt – Iêng Xari mở đầu cuộc tấn công bất ngờ, tới cấp sư đoàn, trên toàn tuyến biên giới An Giang (miền Tây Nam Bộ, thuộc địa bàn Quân khu 9), sát hại trên 1.000 đồng bào ta, đốt phá nhà cửa, trường học, bệnh viện, cướp đoạt tài sản của nhân dân.

Đứng trước tình thế nghiêm trọng này, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Thường vụ Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã ra Chỉ thị số 21, giao nhiệm vụ cho lực lượng trang quân khu: “… bất cứ tình huống nào, lực lượng vũ trang quân khu cũng phải sẵn sàng chiến đấu, khẩn trương hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, bảo vệ toàn vẹn biên giới trong toàn quân khu, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, các cơ sở sản xuất, các kho tàng ở biên giới, tránh được tổn thất, thiệt hại cho dân và các lực lượng vũ trang của ta, không để bị bất ngờ, bị động, đối phó lúng túng”.

Triển khai Chỉ thị 21, Quân khu 7 xây dựng kế hoạch phòng thủ biên giới theo hai phương án. Một là, sử dụng lực lượng địa phương phòng thủ chiến đấu tại chỗ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ biên giới. Phương án hai, dùng lực lượng chủ lực quân khu kết hợp với lực lượng địa phương và lực lượng cấp trên đánh vừa, đánh lớn tiêu diệt địch. Công việc cấp bách trước mắt của Quân khu là khẩn trương tổ chức, kiện toàn ba trung đoàn: Trung đoàn 210, Trung đoàn 205, Trung đoàn 6 và xây dựng một số đốn, chốt dọc biên giới, củng cố chính quyền cơ sở, có kế hoạch phòng tránh và sơ tán, nhân dân các xã ở biên giới để tránh thiệt hại cho dân.

Tháng 5 năm 1977, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Quân khu 7 hiệp đồng tác chiến với Quân đoàn 4 trên hai hướng. Hướng chủ yếu là nam bắc liên tỉnh lộ 13 (bao gồm hai khu ở nam bắc liên tỉnh lộ 13, đoạn Phước Tân, Ba Chàm giáp Tà Nông). Khu vực quan trọng ở nam bắc đường 1, điểm chính là Mộc Bài, Bến Cầu. Hướng quan trọng từ phía bắc đến tây bắc thị xã Tây Ninh, đoạn chủ yếu là Xa Mát – Lò Gò.

Để chuẩn bị lực lượng chiến đấu bảo vệ biên giới. bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập Sư đoàn bộ binh 303, chuyển 6 trung đoàn và 4 tiểu đoàn đang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, đồng thời điều Sư đoàn 5 chúng tôi đến vị trí sẵn sàng chiến đấu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #77 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:34:31 PM »

0 giờ ngày 24 rạng 25 tháng 9 năm 1977, tập đoàn phản động Pônpốt – Iêng Xari mở cuộc tiến công ồ ạt xâm lấn biên giới thuộc địa bàn các tỉnh Quân khu 7. 4 sư đoàn địch chia làm nhiều mũi, nhiều hướng bất ngờ vượt biên giới đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành tỉnh Tây Ninh. Ý định của chúng là nhằm xâm lấn biên giới, giết hại nhân dân, cướp phá tài sản, chiếm đất đai. Tại Tân Biên, chúng tiến công xã Tân Phú, Tân Lập, Tân Hội, các đồn công an vũ trang ở Ta Nốt, Xa Mát, Tơ Riếc, Ta Đai, Bến Đá, đồi 62, Khuộc. Tại Bến Cầu, Châu Thành địch đánh vào khu vực đông dân cư, các đồn chốt của ta ở Cây Me, Thúc Múc, Long Phước. Tiến tới, lính Pônpốt ra sức đốt phá bắn giết đến đấy. 471 ngôi nhà bị chúng đốt và phá sập. Gần 800 đồng bào ta bị giết hại.

Ngày 30 tháng 9 năm 1977, Quân khu 7 thành lập Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân khu, trực tiếp chỉ đạo công cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam.

Trưa ngày 27 tháng 9 năm 1977, sau khi nhận nhiệm vụ chiến đấu từ Quân khu trở về tôi đã khẩn trương trao đổi với anh Nguyễn Ngọc Doãn – Chính ủy Sư đoàn, rồi khẩn trương triệu tập hội nghị cán bộ, truyền đạt mệnh lệnh của Quân khu. Tôi nói:

- Những hành động của tập đoàn Pônpốt – Iêng Xari đặt nhân dân ta trước tình thế không còn con đường nào khác là phải dùng quyền tự vệ chính đáng để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thực hiện chỉ thị 21 của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 7 về việc tăng cường chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Sư đoàn khẩn trương kiện toàn lại tổ chức biên chế, bổ sung trang bị, rèn luyện nâng cao khả năng cơ động chiến đấu cho bộ đội, tổ chức cán bộ nghiên cứu địa hình. Tuy nhiên, do việc điều chuyển cán bộ, chiến sĩ đi học, chuyển ngành, ra quân với tỷ lệ lớn đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tổ chức lực lượng sẵn sàng chiến đấu. Nhưng dù khó khăn đến mấy, chúng ta cũng kiên quyết chấp hành mệnh lệnh cấp trên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương sư đoàn do các anh Nguyễn Thanh Tùng – Sư đoàn phó, anh Nguyễn Minh Quang – Phó chính ủy sư đoàn phụ trách và điều động Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 cùng một số đơn vị pháo binh, trinh sát, thông tin lên biên giới tham gia chiến đấu.



Cùng anh Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) quán triệt nhiệm vụ bảo vệ biên giới

21 giờ ngày 27 tháng 9 năm 1977, Bộ Chỉ huy tiền phương sư đoàn cùng các đơn vị được điều động cấp tốc cơ động bằng cơ giới lên biên giới Tây Ninh. 10 giờ sáng ngày 28 tháng 9 năm 1977, lực lượng của sư đoàn đã đến vị trí tập kết tại xã Tân Lập thuộc huyện Tân Biên, phía nam đồn biên phòng Xa Mát, cách biên giới 3km.

Tại xã Tân Lập, cán bộ chiến sĩ sư đoàn tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng dã man do bọn Pônpốt gây ra cho đồng bào ta. Hàng trăm ngôi nhà bị đốt chỉ còn trơ lại đống tro tàn và những khung cháy dở. Hàng trăm ngôi mộ hầu hết là người già và trẻ em bị chúng giết hại. Nhiều người bị lính Pônpốt quẳng xác xuống giếng. Ở nhiều hố bom chiến sĩ ta vớt được hàng chục xác dân lành bị lính Pônpốt dùng rìu đập đầu, mổ bụng.

Sự căm phẫn lũ giết người trào dâng trong lòng người chiến sĩ sư đoàn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #78 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:35:19 PM »

Ngày 30 tháng 9 năm 1977, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4 được lệnh nổ súng tiến công quân địch đang chiếm đồn biên phòng Xa Mát.

Được pháo binh chi viện Tiểu đoàn 2 chia làm hai hướng tiến công. Quân Pônpốt hoảng loạn bỏ đồn tháo chạy về phía bên kia biên giới, bỏ lại hơn chục xác đồng bọn.

Ngày 5 tháng 10 năm 1977, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174 tiêu diệt cụm quân địch ở Bãi Bàu, diệt hai chục tên. Số còn lại chạy thục mạng về bên kia biên giới. Sư đoàn đã quét sạch quân địch ra khỏi biên giới.

Ngày 3 tháng 10 năm 1977, Quân khu ủy họp ra Nghị quyết nêu rõ: “Trên cơ sở quán triệt đường lối quốc tế của Đảng, lực lượng vũ trang Quân khu kiên quyết hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ… chủ động kịp thời giáng trả trừng trị tội ác của bọn xâm lấn. Kết hợp chặt chẽ với tiến công chính trị, vạch trần tội ác của bọn phản động Pônpốt, tuyên truyền vận động nhân dân Campuchia, lực lượng vũ trang Campuchia tôn trọng chuyển biên giới…”.

Từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 10 năm 1977, Quân khu điều chỉnh lại lực lượng. Các đơn vị còn lại của Sư đoàn 5 được điều động toàn bộ lên biên giới Tây Ninh. Sư đoàn được bổ sung Trung đoàn 16 đang làm nhiệm vụ kinh tế ở núi Chứa Chan và được tăng cường thêm Trung đoàn 1 Gia Định. Sở chỉ huy sư đoàn chúng tôi đóng ở khu vực Suối Mây. Toàn bộ đội hình của sư đoàn triển khai trên một phòng tuyến kéo dài hơn 10km từ Xa Mát vòng theo cung bắc Lộ Ủi đến Kà Tum.

Từ đây, các đơn vị của Sư đoàn 5 chúng tôi vừa củng cố ổn định tổ chức biên chế và trang bị, vừa liên tục chiến đấu trên hướng chủ yếu của Quân khu, mở các đợt phản công đẩy lùi địch sang bên kia biên giới.

Liên tục từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 11, lính Pônpốt liên tục bu bám đánh phá các điểm chốt của Trung đoàn 174, Trung đoàn 4 và Trung đoàn 16… Tại khu vực làng 24, Đại đội 2 Tiểu đoàn 25 công binh, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, đánh lui hàng chục đợt tiến công của 3 tiểu đoàn địch. Riêng Trung đội phó Vũ Trọng Cường trong một tuần đã cùng phân đội dùng mìn ĐH10 và súng bộ binh tiêu diệt 53 tên địch, giữ vững điểm chốt, tạo điều kiện cho các đơn vi bạn đánh vui hồi tiêu diệt địch tạo cao điểm 62.

Ngày 23 tháng 10, chúng tôi tổ chức đợt phản công quân Pônpốt lấn chiếm phần đất của ta, lực lượng chủ yếu là Trung đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 174. Ngày 24 tháng 10, được pháo chi viện Trung đoàn 4 đã đánh bật địch khỏi làng 24, Tiểu đoàn 5 tiêu diệt cụm quân địch ở điểm cao 62. Hướng thứ yếu, Trung đoàn 16 cũng đánh bật địch ra khỏi Chà Rí, bắc cầu 15.

Do chưa xác định rõ ràng kẻ thù và âm mưu của chúng, những ngày đầu chiến đấu phòng thủ biên giới là những ngày vừa đánh vừa giải quyết hàng loạt nội dung trong nhận thức về nhiệm vụ, đánh giá địch, ta và tìm cách thích hợp với đối tượng tác chiến mới. cũng trong những ngày chiến đấu đầu tiên này, nhiều cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn đã ngã xuống để bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc.

Từ tháng 12 năm 1977, quân Pônpốt tăng cường thêm lực lượng áp sát biên giới. Trên tuyến biên giới đối diện với các tỉnh của Quân khu 7, quân địch tăng từ 5 sư đoàn lên 9 sư đoàn, đến tháng 11 năm 1978 lên 11 sư đoàn. Chúng luân phiên tác chiến liên tục khu vực giáp biên, đồng thời tổ chức các cuộc tiến công quy mô lớn trên hướng nam – bắc đường số 13 và đông – tây đường 22. Âm mưu của chúng là đánh chiếm các khu vực Bến Sỏi, dọc lưu vực sông Vàm Cỏ Đông, Xa Mát, Lò Gò, Thiện Ngôn, uy hiếp trực tiếp thị xã Tây Ninh.

Ngày 5 tháng 12 năm 1977, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 họp quyết định mở chiến dịch phản công sang đường 7, nhằm trừng trị đích đáng và quét địch ra khỏi biên giới, tiêu diệt sinh lực địch, đánh phá các bàn đạp tấn công của chúng dọc nam bắc đường số 7, góp phần đẩy cuộc chiến tranh ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân khu, đêm 21 rạng 22 tháng 12 năm 1977, tôi bàn với anh Nguyễn Ngọc Ngoãn – Chính ủy Sư đoàn về sử dụng lực lượng. Tôi nói:

- Ta sẽ dùng Trung đoàn 16 được tăng cường 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 Gia Định đảm nhiệm hướng chủ yếu đánh chiếm cao điểm 53 và đánh vào phum Kh.Đa. Dùng Trung đoàn 4 đánh địch mở đường từ Tơ Riếc đi Ga Lông Xíc đến Tà Đạt. Trên hướng Trung đoàn 2, được tăng cường Tiểu đoàn 2 Trung đoàn Gia Định quét địch ra khỏi khu vực Vạc Xa.

Anh Doãn hoàn toàn nhất trí phương án của tôi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #79 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2019, 03:36:36 PM »

5 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 1977, tôi lệnh cho Trung đoàn 16 nổ súng. Được pháo binh sư đoàn chi viện các chiến sĩ Trung đoàn 16 tiến công mãnh liệt, diệt gọn 1 đại đội địch ở tây nam phum Kh.Đa. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 2 nổ súng tiến công tiêu diệt quân địch ở khu vực Vạc Xa đánh chiếm và làm chủ điểm cao 53.

Thừa thắng, tôi ra lệnh cho đại đội xe tăng tăng cường Trung đoàn 16 và Trung đoàn Gia Định tiêu diệt cụm quân địch ở Sàm Rông, cắt đứt đường 7, tạo bàn đạp tiến công thị trấn Mê Mốt.

Ngày 23 tháng 12, Trung đoàn 16 hoàn toàn tiêu diệt quân địch, làm chủ Sàm Rông. Một bộ phận lớn quân địch chạy về Mê Mốt.

Lợi dụng quân địch đang hoảng loạn, đêm ngày 24 tháng 12, tôi lệnh cho Trung đoàn 4 được tăng cường 2 đại đội xe tăng, 2 tiểu đoàn của Trung đoàn Gia Định đột kích theo đường số 7 vu hồi đánh cặp sườn đông nam Mê Mốt.

11 giờ trưa Trung đoàn 4 làm chủ sân bay và thị trấn Mê Mốt.



Đánh chiếm và làm chủ thị trấn Mê Mốt – Kông Pông Chàm 1977.
Trong ảnh từ trái qua phải thứ nhất Trương Văn Đàng

Trên hướng bắc, Sư đoàn 10 Quân đoàn 3 cũng đánh chiếm một phần của thị trấn Mê Mốt, đến 12 giờ ta hoàn toàn làm chủ thị trấn Mê Mốt, kết thúc thắng lợi trận đánh thọc sâu. Sư đoàn đã vừa hành tiến vừa đánh địch lên To Kê, Kà Chay, Mê Mốt phá thế áp sát, dùng phân đội nhỏ đánh vào hậu phương ta.

Trong bước hai của chiến dịch, Sư đoàn 5 chúng tôi tiếp tục phát triển truy kích địch lên Bra Bao, Cây Me, cùng tiểu đoàn đặc nhiệm của Quân khu đánh chiếm Snun.

Đêm 5 tháng 1 năm 1978, chấp hành mệnh lệnh của trên, Bộ Tư lệnh Quân khu ra lệnh cho các đơn vị lần lượt rút về tỉnh Tây Ninh, tỏ rõ thiện chí của ta. Hàng nghìn người dân Campuchia mang theo tài sản đổ ra đường yêu cầu bộ đội ta cho về Việt Nam.

Sự tin cậy mà nhân dân Campuchia dành cho quân đội ta làm cho cán bộ chiến sĩ sư đoàn vô cùng xúc động và thấy rõ trách nhiệm của mình phải giúp đỡ nhân dân bạn. Không thể khước từ nguyện vọng chính đáng của người dân Campuchia. Họ không muốn sống thêm dù một ngày, một giờ dưới chế độ khát máu Pônpốt. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 chúng tôi đã cử một bộ phận cán bộ chiến sĩ giúp đỡ lương thực, thuốc men, chuyển nhân dân bạn khỏi vùng địch kiểm soát.

Đến cuối tháng 2 năm 1978, cuộc chiến đấu chống quân Pônpốt ở biên giới Tây Ninh đã bước sang tháng thứ 4. Qua 4 tháng chiến đấu với kẻ thù mới, Sư đoàn 5 đã nhanh chóng thích nghi, nắm quyền chủ động chiến trường, góp phần bảo vệ vững chắc biên giới Tổ quốc. Sư đoàn đã phát hiện thủ đoạn tác chiến của địch, nếu nơi nào lực lượng ta mạnh thì chúng tránh, nơi nào ta sơ hở, mỏng yếu thì chúng tiến công và triệt để sử dụng thủ đoạn cho các tổ nhỏ liên tục bắt bám, quấy phá làm cho ta mệt mỏi. Chúng thường xuyên bắn pháo bừa bãi vào những khu vực nằm sâu trong đất ta, kể cả huyện lỵ Tân Biên và thị xã Tây Ninh gây thương vong cho nhân dân ta.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM