Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười Hai, 2019, 02:17:24 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Chiến khu XI  (Đọc 4037 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2018, 09:33:00 PM »

Tên sách: Lịch sử Chiến khu XI
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2006
Số hoá: ptlinh


* Chỉ đạo biên soạn:
- BỘ TƯ LỆNH QUÂN KHU THỦ ĐÔ
- BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

* Tổ chức thực hiện:
PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG QUÂN KHU THỦ ĐÔ

* Những người biên soạn:
- Đại tá NGUYỄN THẾ NGUYÊN (Chủ biên)
- Đại tá NGUYỄN GIANG
- Đại tá TRỊNH NGỌC NGHI
- Đại tá NGUYỄN KIM PHÒNG

Cố vấn biên soạn:
Đồng chí NGUYỄN VĂN TRÂN, nguyên Bí thư Khu ủy XI, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu XI
 


- Cuốn sách có dùng nhiều tư liệu của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Thành ủy Hà Nội, của các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Lê Quang Đạo, Vương Thừa Vũ, Lê Trung Toản, Vũ Kỳ... Bộ tư lệnh Quân khu Thủ đô xin trân trọng cảm ơn các cơ quan và các đồng chí.

- Nhân dịp xuất bản cuốn sách, Bộ tư lệnh Quân khu Thủ đô trân trọng cảm ơn Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Phòng Lịch sử Đảng Thành ủy Hà Nội, Văn phòng ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân và các đồng chí đã có nhiều đóng góp trong quá trình tổ chức biên soạn:
Nguyễn Văn Trân, Ngô Thị Thanh Hằng, Đỗ Trình, Nguyễn Tiệp, Ngô Huy Phát, Chu Phác, Nguyễn Trọng Hàm, Lưu Đình Quế, Nguyễn Hiền, Lê Ngọc Tấn, Nguyễn Việt Chiến, Trần Quân Lập, Hà Giáp, Trịnh Vương Hồng, Vũ Tang Bồng, Vũ Tiến Tuynh, Nguyễn Hồng Thăng và nhiều đồng chí khác.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #1 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2018, 09:35:56 PM »

LỜI GIỚI THIỆU
CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN TRÂN
NGUYÊN BÍ THƯ KHU ỦY
CHỦ TỊCH ỦY BAN KHÁNG CHIẾN KHU XI


Cách đây 60 năm, ngày 19 tháng 12 năm 1946 đã nổ ra cuộc Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược.

Thủ đô Hà Nội có vinh dự được Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp chỉ đạo, đã vang lên tiếng súng mở đầu cuộc kháng chiến.

Thủ đô Hà Nội là Chiến khu XI trở thành chiến trường chính. Nhưng cuộc chiến đấu ở đây, lực lượng của ta và địch không cân sức.

Nhiệm vụ của quân dân Chiến khu XI thật nặng nề:

- Phải chiến đấu giỏi, tiêu diệt nhiều địch, bảo toàn lực lượng ta, kìm giữ giam chân địch càng lâu càng tốt trong thành phố - ít nhất là một tháng - để Chính phủ có thời gian tổ chức và huy động lực lượng toàn dân đi vào cuộc kháng chiến.

- Phải bảo toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước rút ra ngoài an toàn.

- Phải di chuyển máy móc, tài sản, vật tư cần thiết cho công cuộc kháng chiến ra ngoài thành phố đưa lên Chiến khu Việt Bắc.

- Phải bảo vệ cho dân và giữ gìn tài sản cho dân, tổ chức đi tản cư và bố trí nơi ăn ở an toàn.

Tinh thần bao quát nhất là làm cho địch bị thiệt hại và suy yếu, bảo toàn và phát triển lực lượng ta trong quá trình kháng chiến.

Cuộc chiến đấu đã diễn ra rất ác liệt, giành giật từng căn nhà, góc phố.

Bộ đội Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu, Tự vệ Thành, Công an xung phong, Tự vệ xí nghiệp, Dân quân ngoại thành và đông đảo nhân dân dưới sự lãnh đạo của Khu ủy XI và sự chỉ đạo, chỉ huy của Bộ chỉ huy Chiến khu XI đã chiến đấu cực kỳ anh dũng với tinh thần "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh".

Các lực lượng đã đoàn kết chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau, bộ đội chủ lực dìu dắt lực lượng địa phương về tác chiến, lực lượng địa phương phát huy sở trường thông thạo địa hình thành phố giúp lực lượng chủ lực xây dựng phương án tác chiến và đánh địch. Có nơi như ở Liên khu 1, chủ lực và địa phương hòa làm một thành Trung đoàn Thủ đô kiên cường chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù.

Bộ chỉ huy Chiến khu XI đã phát huy vai trò chỉ đạo, chỉ huy trong chiến tranh. Đã xây dựng kế hoạch tác chiến hợp lý, bố trí lực lượng chiến đấu thích hợp, xử trí các tình huống ở cấp chiến dịch đúng đắn, có nhiều cố gắng đảm bảo cung cấp vũ khí, trang bị giúp cho các liên khu và các đơn vị chiến đấu thắng lợi. Đặc biệt, cấp cơ sở ở các đơn vị, các địa phương đã thể hiện rất rõ vai trò chủ động, sáng tạo của mình trong chiến tranh.

Bên cạnh lực lượng vũ trang, đông đảo nhân dân Thủ đô, từ già, trẻ, gái, trai không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, bằng khả năng của mình đã tích cực tham gia chiến đấu hoặc phục vụ cho lực lượng vũ trang chiến đấu. Thanh niên là lực lượng chủ yếu, xung kích, họ hăng hái tham gia xây dựng chiến lũy, ngả cây, phá đường, đục tường thông từ nhà nọ sang nhà kia để cơ động khi chiến đấu. Khi chiến sự xảy ra thì chiến đấu rất dũng cảm. Chị em phụ nữ cũng hăng hái lo cơm nước, làm cứu thương, làm công tác địch vận, tình báo, vận chuyển thực phẩm từ ngoại thành vào nội thành. Nhiều cháu thiếu niên được gọi là "vệ út" chỉ 14, 15 tuổi cũng tham gia làm giao thông, liên lạc. Thật đúng là một cuộc chiến tranh toàn dân.

Những trận chiến đấu ác liệt ở Bắc Bộ Phủ, Nhà Hát Lớn, Ô Cầu Dền, Ô Chợ Dừa, nhà dầu Shell Khâm Thiên, Nhà thương Vọng, làng Giảng Võ, phố Hàng Thiếc, khu vực chợ Đồng Xuân, cuộc rút lui vượt qua vòng vây địch của hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô qua sông Hồng trót lọt để bảo toàn lực lượng... là những bài ca bất hủ về chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đáng được ghi nhớ muôn đời.

Nhờ những cuộc chiến đấu anh hùng đó, quân và dân toàn thành phố đã hoàn thành vượt mức trên đề ra, kìm giữ giam chân địch tới 60 ngày đêm, bảo toàn và phát triển được lực lượng, rút ra ngoài cùng quân và dân toàn quốc tiếp tục cuộc chiến đấu cho tới thắng lợi cuối cùng.

Cuốn sách Lịch sử Chiến khu XI được Bộ tư lệnh Quân khu Thủ đô và Bộ chỉ huy quân sự thành phô Hà Nội biên soạn công phu, tập hợp được nhiều tư liệu, có xác minh cụ thể, đã phản ánh được tương đối khách quan cuộc chiến đấu này.

Qua cuốn sách, người đọc phần nào thấy được sự lãnh đạo chủ động, sáng tạo của các cấp bộ Đảng của thành phố, tài thao lược về quân sự trong buổi ban đầu của cuộc kháng chiến của Bộ Tổng chỉ huy và Bộ chỉ huy Chiến khu XI cũng như các liên khu, các trung đoàn và đơn vị.

Mong rằng cuốn sách được đồng bào, đồng chí đọc và góp ý bổ sung cho Ban biên soạn để lần xuất bản sau được tốt hơn.


NGUYỄN VĂN TRÂN
Nguyên Bí thư Khu ủy
Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Khu XI
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #2 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2018, 09:38:58 PM »

LỜI NÓI ĐẦU


Trong việc tổ chức quốc phòng, nói chung quốc gia nào cũng chia đất nước thành nhiều khu vực quân sự chiến lược. Các khu vực quân sự chiến lược thời hiện đại được gọi chung là chiến khu hoặc quân khu.


Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được chia thành 10 khu vực hành chính quân sự, gọi là chiến khu, bao gồm: Bắc Bộ có 3 chiến khu (I, II, III), Trung Bộ có 3 chiến khu (IV, V, VI), Nam Bộ có 3 chiến khu (VII, VIII, IX). Thủ đô Hà Nội được gọi là Khu đặc biệt Hà Nội, chưa đánh số.


Ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc do Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp"1 (Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr.133). Cho nên phải tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng, đặc biệt là lực lượng vũ trang và phải khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt.


Trong việc chuẩn bị đó, có việc chia lại các chiến khu2 (50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.40). Trung Bộ và Nam Bộ vẫn để 6 chiến khu: IV, V, VI, VII, VIII, IX như cũ. Bắc Bộ có sự điều chỉnh địa bàn các chiến khu I và II, hình thành thêm 2 chiến khu: Chiến khu X và Chiến khu XII. Khu đặc biệt Hà Nội được đổi tên là Chiến khu XI1 (Nhiều lúc chiến khu còn gọi tắt là khu, Chiến khu XI là Khu XI).


Để phát huy hết sức mạnh của các lực lượng vũ trang vào cuộc chiến đấu chống kẻ thù, Hội nghị quân sự toàn quốc còn có một quyết định quan trọng: Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia không chỉ chỉ huy bộ đội chủ lực (lúc này đã đổi tên từ Giải phóng quân thành Vệ quốc đoàn) mà chỉ huy cả lực lượng dân quân tự vệ. Cũng như vậy, tại các chiến khu, Bộ chỉ huy Chiến khu vừa chỉ huy bộ đội chủ lực vừa chỉ huy dân quân tự vệ trên địa bàn. Theo tinh thần đó, Bộ chỉ huy Chiến khu XI chỉ đạo, chỉ huy toàn bộ lực lượng vũ trang và công tác quốc phòng trên địa bàn Thủ đô.


Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chấp hành lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng, quân và dân Hà Nội đã chủ động nổ súng mở đầu "Toàn quốc kháng chiến".

Do lực lượng phòng thủ Hà Nội có hạn và phạm vi phòng thủ Hà Nội quá hẹp, không đảm bảo được cuộc chiến đấu lâu dài, ngày 25 tháng 12 năm 1946, Trung ương đã quyết định sáp nhập Hà Nội vào Chiến khu II2 (Chiến khu II gồm các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Lực lượng vũ trang có các trung đoàn 35 (Sơn Tây), 37 (Hà Đông), 38 (Sơn La), 33 (Nam Định)). Bộ chỉ huy Chiến khu XI trước đây chuyển thành Bộ chỉ huy tiền phương của Chiến khu II, tiếp tục chỉ huy chiến đấu trên toàn mặt trận Hà Nội cho đến ngày lực lượng ta rút ra ngoài (18.2.1947). Sau khi Hà Nội cơ bản trở thành vùng tạm chiếm của địch, Bộ chỉ huy Chiến khu XI vẫn tiếp tục chỉ huy lực lượng vũ trang chiến đấu tại vùng ngoại vi, gây nhiều khó khăn cho việc "bình định" của địch. Tháng 7 năm 1947, Khu XI lại được tách ra khỏi Khu II, nhưng địa bàn được mở rộng hơn, bao gồm cả Hà Nội, các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây. Cuộc chiến tranh du kích tại Chiến khu XI vẫn tiếp tục phát triển. Ngày 25 tháng 1 năm 1948, căn cứ vào thực tế mới của tình hình, Trung ương đã quyết định điều chỉnh các chiến khu ở Bắc Bộ. 7 khu ở Bắc Bộ được điều chỉnh lại thành 3 liên khu, trong đó Chiến khu XI được sáp nhập với các chiến khu II và III thành Liên khu III1 (Đến tháng 10 năm 1948, Hà Nội lại tách khỏi Lưỡng Hà, nhưng vẫn trực thuộc Liên khu III. Tháng 5 năm 1949, do tính chất đặc biệt của Hà Nội, Chính phủ lại quyết định đặt Ủy ban kháng chiến Hà Nội trực thuộc Chính phủ, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội cũng được lập lại, chịu sự chỉ huy của Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy), nay là Quân khu 3.


Chiến khu XI trong lịch sử của mình đã làm được nhiều việc rất quan trọng. Khu ủy, Ủy ban bảo vệ Hà Nội, Bộ chỉ huy Chiến khu XI đã xây dựng kế hoạch tác chiến phù hợp, tổ chức toàn quân, toàn dân làm mọi công tác chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến. Trong thế không thể nhân nhượng được mãi, nghiêm chỉnh chấp hành lệnh của trên, Chiến khu XI đã tổ chức và thực hành một cách chủ động, mở đầu kháng chiến cho Hà Nội và cho toàn quốc đạt thắng lợi to lớn.


Về chiến lược, cuộc chiến đấu 60 ngày đêm ở Hà Nội là đòn đánh quyết định nhất trong trận tổng giao chiến mở đầu kháng chiến toàn quốc bởi vì Chiến khu XI đã đương đầu với bộ phận đông nhất và mạnh nhất của địch trên chiến trường Bắc Bộ và Đông Dương nói chung. Chiến khu XI, phải đấu trí, đấu lực với Bộ chỉ huy miền Bắc Đông Dương và Bộ Tổng chỉ huy của địch, liên tiếp đối phó với nhiều đợt tiến công của chúng. Chiến khu XI đã đánh nhiều trận quyết liệt, tiêu hao tiêu diệt nhiều địch, giam chân địch vượt xa mức yêu cầu ban đầu đề ra.


Chiến khu XI đã giáng đòn quyết định đánh bại âm mưu đảo chính của địch hòng nhanh chóng lật đổ chính quyền trung ương của ta, nhanh chóng kết thúc cuộc xâm lược; làm phá sản hoàn toàn kế hoạch của địch định đánh chiếm Thủ đô trong vòng 24 giờ, buộc địch phải đi vào một cuộc chiến tranh lâu dài hoàn toàn trái với ý muốn của chúng.


Thắng lợi của Chiến khu XI góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho cả nước chuyển sang thời chiến, góp phần quan trọng động viên, cổ vũ tinh thần quân dân cả nước bước vào cuộc kháng chiến lâu dài nhất định thắng lợi. Thắng lợi của Chiến khu XI còn để lại nhiều kinh nghiệm quý báu về việc xác định quy mô phạm vi, khu vực phòng thủ của Thủ đô Hà Nội, về cách xây dựng lực lượng phòng thủ và cách đánh.


Sở dĩ Chiến khu XI đạt được những kết quả có ý nghĩa to lớn như vậy là vì Chiến khu XI được sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng, sự chỉ huy trực tiếp, sáng tạo và linh hoạt của Bộ Tổng chỉ huy. Đặc biệt là do sự lãnh đạo đúng đắn của Khu ủy Khu XI, Ủy ban kháng chiến thành phố, sự chỉ huy chặt chẽ của Bộ chỉ huy Chiến khu XI, sự chấp hành nghiêm chỉnh và sáng tạo của Đảng ủy, Ủy ban kháng chiến và ban chỉ huy quân sự các liên khu và các cấp. Tuy nhiên, nguyên nhân thắng lợi nằm trong những yếu tố rất quyết định, đó là do lòng dũng cảm tuyệt vời của các lực lượng vũ trang, sự tham gia kháng chiến đầy nhiệt tình của toàn dân nội ngoại thành, sự đóng góp trực tiếp và rất quan trọng của hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây, có sự phối hợp của các chiến trường khác, sự cổ vũ của nhân dân cả nước. Ngoài ra cũng cần kể đến một số chiến sĩ quốc tế người Nhật, người Đức,... có cảm tình với cuộc kháng chiến chính nghĩa của ta, do hoàn cảnh thời cuộc mang lại, đã tích cực tham gia cùng quân và dân Thủ đô kháng chiến. Với những kiến thức nhất định về quân sự, họ đã góp phần tích cực và có hiệu quả vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.


Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày Chiến khu XI bắt đầu nổ súng đánh Pháp (19.12.1946 - 19.12.2006), công trình này được biên soạn nhằm góp phần lý giải các điểm nói trên, rút ra những bài học chủ yếu về thực hiện chiến tranh nhân dân ở Thủ đô Hà Nội, gợi mở một số vấn đề về quốc phòng an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang ở Hà Nội.


Trong quá trình nghiên cứu và biên soạn công trình này, tập thể tác giả đã kế thừa kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trước đây về cuộc chiến đấu mở đầu Toàn quốc kháng chiến của quân dân Thủ đô. Tuy nhiên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan, công trình khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được bạn đọc góp ý kiến phê bình để lần xuất bản sau, công trình sẽ có chất lượng tốt hơn.


BAN BIÊN SOẠN
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #3 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2018, 09:41:55 PM »

Chương 1
BỐI CẢNH VÀ SỰ RA ĐỜI CHIẾN KHU XI


Lúc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Hà Nội có diện tích 150km2.

Nội thành có diện tích 13km2 nằm trong phạm vi Ô Yên Phụ, đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên), đường Ngọc Hà, Ô cầu Giấy, Ô Chợ Dừa, Ô Kim Liên1 (Còn gọi là Ô Đồng Lâm), Ô Cầu Dền, Ô Đống Mác; phía đông và đông bắc là sông Hồng.


Nội thành được chia làm ba liên khu:

- Liên khu 1 nằm ở phía bắc nội thành, cơ bản nằm trên địa phận quận Hoàn Kiếm hiện nay, trong phạm vi: đông và đông bắc là sông Hồng, tây từ Ô Yên Phụ theo đường Cổ Ngư, vườn Bách Thảo, nam là đường Cột Cờ, đường Tràng Thi, đường Hàng Khay, đường Tràng Tiền, Nhà Hát Lớn, gồm bảy khu hành chính: Trúc Bạch, Hồng Hà, Đồng Xuân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Đông Thành, Long Biên.

- Liên khu 2 nằm ở đông nam thành phố, cơ bản nằm trên địa phận quận Hai Bà Trưng ngày nay, bắc giáp Liên khu 1, đông là sông Hồng, tây là đường Hàng Lọng (nay là đường Lê Duẩn), nam là tuyến Kim Liên, Ô cầu Dền, Ô Đống Mác, gồm bảy khu hành chính: Chợ Hôm, Bạch Mai, Lò Đúc, Bảy Mẫu, Đồng Nhân, Quán Sứ, Đại Học.

- Liên khu 3 cơ bản nằm trên địa bàn các quận Đống Đa và Ba Đình ngày nay, bắc giáp Liên khu 1, đông giáp Liên khu 2, tây theo đường Ngọc Hà, nam giáp các làng Thịnh Hào, Linh Quang đến Kim Liên, gồm ba khu hành chính: Thăng Long, Văn Miếu, Hỏa Xa.


Ngoại thành có diện tích 137km2 gồm 118 thôn được chia thành 5 khu hành chính: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh.


Về địa lý quân sự, khu vực quan trọng nhất của Hà Nội là khu vực tây bắc. Ở đây có Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), trường An-be Xa-rô (nay là cơ quan Trung ương Đảng), khu Thành Hà Nội, Nha Tài chính (nay là Bộ Ngoại giao) và trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An). Phủ Toàn quyền là một dinh thự rất kiên cố có ba tầng nằm giữa một khu vườn rộng có nhiều cây cổ thụ, xung quanh có hàng rào. Khu Thành Hà Nội vốn là một phần khu thành cổ Thăng Long bị thực dân Pháp phá gần hết và xây lại thành một trại lính rộng khoảng một ki-lô-mét vuông. Các trường An-be Xa-rô, trường Bưởi, Nha Tài chính gồm nhiều ngôi nhà ba tầng kiên cố. Khống chế được khu vực tây bắc của Hà Nội, địch có thể tỏa ra khống chế toàn bộ thành phố.


Khu vực quan trọng thứ hai là khu vực phía đông hồ Hoàn Kiếm. Ở đây có Bắc Bộ Phủ - nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (trước Cách mạng Tháng Tám là Phủ Khâm sai Bắc Kỳ, nay là nhà khách của Chính phủ), Bộ Lao động - Thương binh Xã hội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, nhà Bưu điện, Nhà Hát Lớn, nhà Ngân hàng Đông Dương, khách sạn Mê-tơ-rô-pôn... là những kiến trúc kiên cố, nơi tập trung cơ quan chính quyền trung ương và thành phố Hà Nội.


Khu vực quan trọng thứ ba nằm trong khu tứ giác mà các đỉnh là ngã năm đầu đường Hàng Lọng (tức ngã năm các phố Lê Duẩn - Nguyễn Khuyến - Cửa Nam - Hai Bà Trưng ngày nay), ga Hàng Cỏ, nhà thương Đồn Thủy, Nhà Hát Lớn. Trong đó có các trục đường (lúc đó gọi là đại lộ) Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng nằm song song với nhau. Khu vực này được quy hoạch rõ ràng, có nhiều công sở, biệt thự của Pháp thường gọi là khu phố Tây. Các dinh thự, công sở, nhà ở của Pháp kiều được xây dựng tại đây đều khá kiên cố, thường là nhà độc lập hoặc biệt thự 2-3 tầng ở cách xa nhau và có vườn bao quanh, có đường phố rộng từ 12-15m. Trong khu vực này có những vị trí quan trọng như nhà ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội hiện nay), nhà Đấu xảo (Cung văn hoá Hữu Nghị ngày nay), sở Hỏa xa Vân Nam (Tổng liên đoàn Lao động hiện nay), Tòa án, viện Rađium (Bệnh viện K ngày nay), sở Liêm phóng (Sở Công an), Bộ Quốc phòng (trường Trưng Vương ngày nay), Trại Vệ quốc đoàn Trung ương (Tổng cục Cảnh sát ngày nay), rạp chiếu bóng Ma-giét-xtíc (rạp Tháng Tám), Đồn Thủy (bao gồm khu vực nhà khách Bộ Quốc phòng, Quân khu Thủ đô, Bộ tư lệnh Biên phòng, Viện quân y 108 ngày nay). Đồn Thủy là nơi cơ quan tham mưu của quân Pháp đóng. Nhìn chung, trừ những nơi địch đóng, còn lại là các trụ sở cơ quan của ta, ít dân cư ở, nhà cửa xây cách biệt nên ít có điều kiện tổ chức phòng thủ liên hoàn. Đường phố lại rộng nên khó đắp chiến lũy ngăn chặn và chiến đấu.


Khu vực thứ tư là khu vực phía bắc hồ Hoàn Kiếm, bao gồm các khu công sở hành chính: Đồng Xuân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Đông Thành, tức là phần lớn phạm vi của Liên khu 1. Đây là khu vực buôn bán, dân số tập trung cao, gồm phần lớn là người Việt, khoảng một vạn người Hoa và mấy chục người An Độ, rất ít Pháp kiều. Người Pháp thường gọi đây là khu phố Hoa - Việt. Phố xá ngang dọc chằng chịt, đường hẹp khoảng 5-10m, nhà cửa một, hai tầng xây sát nhau dễ tạo thế liên hoàn đánh địch dài ngày. Đây là khu vực có thể lợi dụng để tổ chức đánh địch dài ngày, nhưng việc liên lạc, tiếp tế cũng như rút lui rất khó khăn.


Khu vực thứ năm là khu vực ở phía nam khu phố Tây, từ Hàm Long trải dài xuống phía nam. Đây là khu phố ta nhưng cũng có khá nhiều nhà của Pháp kiều xen kẽ ở các phố Hàm Long, Thi Sách, Ngô Thì Nhậm, Lê Văn Hưu... Khu vực này nhiều phố xá ngang dọc có thể lợi dụng để tổ chức ngăn chặn địch. Tuy vậy không được dày đặc liên hoàn như ở khu vực phố cổ Liên khu 1. Ở phía nam của khu vực này còn nhiều bãi rác, bãi trống, ao hồ xen kẽ, nay là khu vực nhà tập thể Nguyễn Công Trứ, chợ Hòa Bình...
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười Hai, 2018, 06:18:53 AM gửi bởi macbupda » Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Mười Hai, 2018, 09:44:46 PM »

Nội thành Hà Nội có 338 đường phố lớn nhỏ, ngang dọc, địch có thể phát huy ưu thế về xe tăng, thiết giáp, cơ giới để tiến đánh theo các đường phố nhưng cũng tạo nhiều "góc chết" để ta tiếp cận dùng vũ khí thô sơ diệt địch.

Đó là vấn đề mấu chốt mà việc tác chiến bảo vệ thành phố phải tìm cách khắc phục, khi phòng ngự chống địch tiến công trong thành phố cũng như khi chúng đánh ra các cửa ô để khống chế toàn thành phố.


Từ giữa thành phố ra các cửa ô có những đường phố quan trọng như sau:

- Đường từ Thành cửa Bắc qua Hàng Đậu lên cầu Long Biên. Đây là cửa ngõ vô cùng quan trọng ra vào Thủ đô ở hướng đông bắc. Cầu Long Biên là một cầu hết sức hiểm yếu vì lúc này là chiếc cầu duy nhất vượt qua sông Hồng để đến các hướng phía bắc và đi Hải Phòng, cửa biển lớn nhất của Bắc Bộ. Gần cầu Long Biên có sân bay Gia Lâm, một sân bay dân dụng và quân sự lớn của miền Bắc.

- Từ trung tâm thành phố xuống phía nam có 4 trục đường, trong đó trục đường qua ga Hàng Cỏ, xuống Ngã Tư Vọng vào đường quốc lộ số 1 và trục đường đê hữu ngạn sông Hồng là quan trọng nhất. Gần Ngã Tư Vọng có sân bay Bạch Mai, một sân bay quân sự của địch do ta kiểm soát.

- Từ trung tâm đi về phía tây nam có trục đường từ Quốc Tử Giám theo phố Hàng Bột (nay là phố Tôn Đức Thắng), Ô Chợ Dừa qua Ngã Tư sở đến Hà Đông, nối liền với quốc lộ số 6 tới biên giới Lào, Trung Quốc. Đây là trục đường quan trọng nhất về quân sự ở hướng tây nam để ra vào thành phố.

- Đi về phía tây bắc và phía tây có 5 trục đường, trong đó trục đường từ Cửa Nam theo phố Kim Mã ra Cầu Giấy lên Sơn Tây là trục đường quan trọng ra vào thành phố ở phía tây.


Vì sông Hồng ngăn cách ở phía đông, nên khi tác chiến, Hà Nội không thể lấy Phúc Yên và Bắc Ninh làm hậu phương mà phải dựa vào địa bàn tỉnh Hà Đông làm hậu phương. Trên đất Hà Đông có ba vành đai đường sá bao quanh Hà Nội.

- Vành đai thứ nhất là đường ngoại ô từ Nhật Tân qua Bưởi, Cầu Giấy, Ngã Tư Sở, ngã tư Trung Hiền, Vĩnh Tuy.

- Vành đai thứ hai từ đê Đại Hà qua Thượng Cát, Phú Diễn, Đại Mỗ, thị xã Hà Đông, Văn Điển, Đông Trạch.

- Vành đai thứ ba theo đê sông Đáy, từ Bồng Lai qua Phùng, Yên sở, Thanh Quang, Mai Lĩnh.

Đó là những vành đai có thể dựa vào đó để cơ động lực lượng.


Về kinh tế - xã hội, Hà Nội là một trung tâm kinh tế, nhưng chủ yếu vẫn là một thành phố tiêu thụ, chưa có công nghiệp lớn đáng kể, mới chỉ có một số nhà máy nhỏ: điện, nước, bia, nước đá, thuộc da, rượu, diêm, in. Đáng chú ý là mấy cơ sở cơ khí chuyên về sửa chữa phương tiên vận tải, như các nhà máy Stai, Aviat, Boillot, xe lửa Gia Lâm. Trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa có công nghiệp quốc phòng, các cơ sở sửa chữa phương tiện vận tải này rất quý để dựng nên những xưởng quân giới đầu tiên phục vụ cho cuộc kháng chiến lâu dài.


Trong khoảng 523.000 dân (nội thành 30 vạn, ngoại thành 223.000), có khoảng 1 vạn công nhân, 5 vạn thợ thủ công, 10 vạn dân nghèo thành thị, 1 vạn người bán rong gần 1 vạn người buôn chuyến, gần 1 vạn người có hiệu buôn lớn nhỏ. Phần lớn đều có lòng yêu nước và tích cực đi theo kháng chiến.


Hà Nội có một số trường cao đẳng và đại học, nhiều trường trung học, tiểu học công và tư. Số học sinh trung học và sinh viên lên đến hàng nghìn người. Từ thời Pháp thuộc, nhất là từ khi Nhật đảo chính Pháp, đứng trước tình thế bế tắc, thanh niên, học sinh, sinh viên tích cực tham gia cách mạng và trở thành một lực lượng xung kích quan trọng.


Hà Nội là nơi có nhiều tòa báo, nhà xuất bản, rạp hát, rạp chiếu bóng, đài phát thanh, là nơi tập trung phần lớn văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, trí thức của cả nước. Tuy nhiều người xuất thân ở tầng lớp trung gian và tầng lớp trên, nhưng được Việt Minh khơi dậy tinh thần yêu nước, họ đã theo cách mạng, tập hợp xung quanh ngọn cờ độc lập dân tộc do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đại bộ phận quan lại cũ, kể cả một số đại thần cũ không theo Pháp mà ngả về phía kháng chiến. Một số người vốn có nợ máu với cách mạng, với nhân dân cũng được ta giác ngộ, tranh thủ, đã đứng vào hàng ngũ của ta.


Hà Nội là trung tâm chính trị của quốc gia. Có nhiều cơ quan đầu não của trung ương và của thành phố, nhiều cơ quan của các ngành, đội ngũ cán bộ công nhân viên quân, dân, chính, đảng rất đông đảo. Việc bảo vệ các cơ quan đầu não, tổ chức di chuyển các cơ quan và đội ngũ cán bộ công nhân viên đông đảo đó ra ngoài thành phố là một nhiệm vụ chính trị rất quan trọng.


Ngoại thành có trên 22 vạn dân chủ yếu làm nông nghiệp. Họ có thể cung cấp lương thực, thực phẩm và rau xanh cho nội thành chiến đấu. Nhiều gia đình ngoại thành vừa làm ruộng, vừa vào nội thành làm công, buôn thúng, bán mẹt, bán rau có quan hệ mật thiết với nội thành, thông thạo phố xá có thể tham gia việc giao thông liên lạc, dẫn đường, vận chuyển tiếp tế cho nội thành, giúp đỡ nhân dân nội thành tản cư.


Vì thế nếu tổ chức động viên được mọi tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến thì Hà Nội có một sức mạnh hết sức to lớn. Đồng thời việc bảo vệ tính mạng, tài sản của dân, việc tổ chức tản cư nhân dân, việc động viên đông đảo đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, kể cả quan lại, đại thần tham gia kháng chiến trở thành những việc rất quan trọng.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười Hai, 2018, 06:17:39 AM gửi bởi macbupda » Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #5 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2018, 07:32:50 PM »

Theo Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3, thực dân Pháp được đưa 15.000 quân ra bắc vĩ tuyến 16 (trong đó có 5.000 quân đóng ở Hà Nội) để làm nhiệm vụ tiếp phòng1 (Là một nhiệm vụ trong đó địch phối hợp cùng với ta canh gác, bảo vệ các vị trí quan trọng trong thành phố như các nhà máy điện, nước, xăng dầu, nhà in, ngân hàng, các nhà ga xe lửa, cầu Long Biên...) cùng với lực lượng vũ trang của ta thay cho 20 vạn quân Tưởng rút về nước. Nhưng với dã tâm tái chiếm toàn bộ nước ta, thực dân Pháp đã không ngừng đưa thêm quân ra Hà Nội và các địa phương trên miền Bắc.


Đến trước ngày 19 tháng 12 năm 1946, số quân Pháp ở bắc vĩ tuyến 16 đã lên đến 30.000 tên và riêng ở Hà Nội lên 6.500 tên gồm các phiên hiệu như sau:

- Trung đoàn bộ binh thuộc địa 6 (6eRIC) thiếu một tiểu đoàn.

- Binh đoàn Mát-xuy thuộc Sư đoàn thiết giáp 2 (2DB).

- Một tiểu đoàn của Trung đoàn pháo binh thuộc địa Ma-rốc số 4 (4eRACM).

- Một phân đội biệt kích.

- Một phân đội dù.

- Một đơn vị không quân.

- Một phân đội thủy quân.


Ngoài ra Bộ tư lệnh Sư đoàn bộ binh thuộc địa 9 (9 DIC) với tất cả các đơn vị trực thuộc, được đổi tên thành Bộ tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương do Trung tướng Moóc-li-e đứng đầu cũng đóng ở Hà Nội. Thực dân Pháp còn trang bị vũ khí cho 4.000 sĩ quan, binh lính trước đây bị Nhật bắt đang giam lỏng trong Thành.


Vũ khí của địch có 5.000 súng trường, 600 tiểu liên, 150 trung liên và đại liên, 42 khẩu pháo (sơn pháo và dã pháo 75mm, lựu pháo 105mm, pháo 37mm), 22 xe tăng, 40 thiết giáp, 30 máy bay và một số tàu chiến trên sông. Đó đều là những phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất đã được sử dụng trong đại chiến thế giới lần thứ hai.


Như vậy là so với các nơi khác, ở Hà Nội địch có lực lượng mạnh nhất. Ở Hải Phòng tuy địch cũng có một lực lượng lớn, nhưng phạm vi địch đóng khá rộng. Ở những địa bàn quanh Hà Nội như Hải Dương, Nam Định, mỗi nơi địch chỉ có một tiểu đoàn. Cả vùng Bắc Giang, Bắc Ninh chỉ có 1 tiểu đoàn.


Với lực lượng đó, địch rải quân đóng thành 54 vị trí xen kẽ với ta trong thành phố Hà Nội, trong đó có 6 nơi chúng tập trung khá lớn: Thành (1.200 tên), Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch, 500 tên), trường An-be Xa-rô (nay là trụ sở Trung ương Đảng, 500 tên), trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An, 250 tên), khu Đồn Thủy (nay là khu Quân khu Thủ đô, Bộ tư lệnh Biên phòng, Viện quân y 108, 800 tên), sân bay Gia Lâm (1.800 tên), ở trường An-be Xa-rô và trong sân bay Gia Lâm, địch bố trí hai trận địa pháo có thể bắn vào nhiều mục tiêu trong thành phố.


Xe tăng - thiết giáp tập trung chủ yếu trong Thành. Máy bay tập trung chủ yếu ở sân bay Gia Lâm.
Bộ chỉ huy quân viễn chinh ở miền Bắc Đông Dương đóng ở trong Thành.

Do được làm nhiệm vụ tiếp phòng, thay quân Tưởng, Pháp đã chiếm được những vị trí quân sự có lợi nhất, đặc biệt là khu vực tây bắc, Đồn Thủy và Gia Lâm.

Ở những vị trí khác, địch có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội, trong đó có một số nơi, chúng gác chung với ta như nhà Ngân hàng, nhà ga, sở Liên kiểm Việt - Pháp, nhà máy điện, nhà máy nước, nhà máy đèn Bờ Hồ, cầu Long Biên, nhà in Viễn Đông, nhà Thương chính.


Đáng chú ý là ở khách sạn Mê-tơ-rô-pôn trên đường Ngô Quyền (cách Bắc Bộ Phủ và Bộ Nội vụ một con đường), địch đưa khoảng 200 tên có vũ khí hóa trang thành thường dân đến ém sẵn. Ở rạp chiếu bóng Ma-giét-xtíc (tức rạp chiếu bóng Tháng Tám ngày nay) trước trại Vệ quốc đoàn trung ương, địch cũng có khoảng một tiểu đội hóa trang ém sẵn.


Nhiều gia đình trong số 7.000 Pháp kiều cũng được trang bị vũ khí và tổ chức thành hàng trăm ổ chiến đấu độc lập rải ra các khu phố. Mỗi ổ thường có một vài hạ sĩ quan Pháp, một vài tên lính com-măng-đô mũ đỏ, trang bị đầy đủ súng máy, tiểu liên, súng ngắn, nhiều đạn dược và lương thực, thực phẩm để đánh nhiều ngày.


Ngoài ra địch còn tận dụng một số Hoa kiểu, ngoài cửa treo quốc kỳ Trung Hoa dân quốc nhưng cũng được trang bị vũ khí để chống lại ta. Địch còn có một số tay sai, Việt gian, gián điệp khá đông đảo.
Về mặt hậu cần, từ đầu tháng 12, Pháp đã tích trữ nhiều bột mỳ, gạo, trâu bò, gà lợn ở trong Thành.
Ngày 16 tháng 12, Đác-giăng-li-ơ, Cao ủy Pháp ở Đông Dương láo xược tuyên bố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng là lãnh thổ của nước Pháp.


Cũng ngày 16, Va-luy, Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương họp cùng Moóc-li-e, Tư lệnh quân viễn chinh ở Bắc Đông Dương và Xanh-tơ-ni, Cao ủy Pháp ở Bắc Đông Dương để thông qua kế hoạch đánh chiếm Hà Nội.


Ngày 17, máy bay giặc trinh sát khắp thành phố và cho xe tăng, pháo binh, bộ binh bắn phá các ụ đất và nhà cửa ở phố Yên Ninh, giết chết 43 thường dân và tự vệ, bắt 15 phụ nữ vào Thành, ở phố Lò Đúc chúng cũng cho xe tăng, xe ủi đất và bộ binh đến phá ụ và giết hại đồng bào và tự vệ. Đây là những vụ tàn sát đẫm máu nhất kể từ khi Pháp vào đóng quân ở Hà Nội.


Cùng ngày chúng đưa quân khiêu khích ở phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ), ở phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân).

Sáng 18, chúng tiếp tục khiêu khích ở các phố Hàng Lược, Hàng Than, Hàng Đậu, giết 3 thường dân, 1 vệ quốc đoàn, cho thiết giáp đến bắn vào phố Hàng Khoai và chợ Đồng Xuân, bao vây trụ sở công an Hàng Đậu chiếm đóng lại Nha Tài chính.


21 giờ 15 phút ngày 18 tháng 12, tướng Moóc-li-e gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ, công an của ta và đòi ta trao quyền kiểm soát trật tự an ninh ở Hà Nội cho Pháp. Nếu sáng 20 tháng 12 năm 1946 những điều kiện trên không được chấp thuận phía Pháp sẽ hành động.


Như vậy là quân Pháp đã ở tư thế sẵn sàng đưa lực lượng để đánh chiếm các cơ quan đầu não, các vị trí quân sự và hành chính của ta, vô hiệu hóa chính quyền của ta. Chính họ đã tuyên chiến với ta, dự định sẽ đánh bại ta trong một thời gian ngắn nhất kể từ sáng 20 tháng 12 năm 1946.


Địch có những mặt mạnh như sau:

- Chúng không phải từ ngoài tiến công vào Hà Nội mà đã có quân đóng xen kẽ với ta và đã chiếm những vị trí hiểm yếu nhất về quân sự ở Thủ đô.

- Chúng có ưu thế về binh lực, quân số của chúng đông gấp 4 lần quân số Vệ quốc đoàn (địch có 6.500 quân và 4.000 tên trước đây bị Nhật giam lỏng trong Thành, từ sau cuộc đảo chính 9.3.1945, nay được thả và trang bị lại; ta có 2.516 chiến sĩ Vệ quốc đoàn).

Chúng được trang bị hiện đại. Hỏa lực bộ binh, pháo binh khá mạnh. Với ưu thế về xe tăng, thiết giáp và xe lội nước; chúng có thế tiến theo các đường phố, vượt sông, hồ để tiến công ta. Máy bay địch có thể chi viện cho bộ binh chiến đấu, oanh tạc bắn phá đội hình ta. Tàu chiến địch có thể phong tỏa mặt sông Hồng và hiệp đồng với bộ binh đánh mục tiêu trên bộ.

- Chúng có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng khá, có những phương tiện thông tin liên lạc hiện đại, có sĩ quan nhà nghề đã được đào tạo ở các trường.

- Mặc dù có một bộ phận binh lực mới được trưng tập, nhưng các đơn vị của quân viễn chinh ở Hà Nội đều thuộc những đơn vị có kinh nghiệm chiến đấu trong chiến tranh thế giới thứ hai: binh đoàn Mát-xuy là một binh đoàn của Sư đoàn thiết giáp 2, một sư đoàn do tướng Lơ-cléc chỉ huy đã từng tiến vào giải phóng Pa-ri. Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 là một sư đoàn đã tham gia giải phóng nước Pháp và cùng quân Đồng minh tiến quân đánh chiếm Tây Đức.


Địch cũng có những mặt yếu là:

- Chúng tiến hành chiến tranh phi nghĩa nên gặp phải sự kháng chiến kiên quyết của toàn dân Hà Nội, bị cô lập cao độ về chính trị, tinh thần của binh lính địch tuy hung hăng nhưng đại bộ phận là lính thuộc địa mang tính chất đánh thuê nên tinh thần dễ suy sụp nếu ta làm tốt công tác binh vận.

- Tuy binh lực của chúng nhiều hơn ta nhưng vẫn có hạn, phải rải ra đóng nhiều nơi, không đủ sức mở tiến công lớn nhanh chóng đánh chiếm tất cả trong một thời gian ngắn.

- Lực lượng dự bị chiến lược rất ít trong lúc phải đồng thời đối phó với quân ta ở Hà Nội và ở nhiều thành phố khác. Việc tăng cường lực lượng cho Hà Nội có khó khăn.

- Khó khăn về tiếp tế. Dù đã có chuẩn bị về vật chất, bản thân quân địch ở Hà Nội cũng không đủ bảo đảm để đánh dài ngày. Hơn nữa Bộ tư lệnh quân viễn chinh Bắc Đông Dương ở Hà Nội còn phải tổ chức tiếp tế cho các thành phố thị xã khác bị đánh.

- Chúng không thông thạo địa hình Hà Nội, không hiểu biết các ngõ ngách của Hà Nội bằng quân ta.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #6 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2018, 07:41:23 PM »

Về phía ta, lực lượng vũ trang cách mạng của Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được hình thành từ lâu. Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lực lượng vũ trang Hà Nội đã xung kích và bảo vệ cho quần chúng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyển, đưa cuộc khởi nghĩa đến thành công.


Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng vũ trang tại Hà nội có 2 lực lượng cơ bản. Lực lượng vũ trang địa phương do Thành ủy, Ủy ban nhân dân Hà Nội phụ trách. Lực lượng chủ lực gồm các đơn vị bộ đội giải phóng quân, sau gọi là Vệ quốc đoàn, do Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội phụ trách.


Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội hình thành ngay sau khi ta giành được chính quyền và chiếm được Trại bảo an binh1 (Trại lính khố xanh, ở 40 Hàng Bài, đối diện rạp Tháng Tám, nay là trụ sở một cơ quan của Bộ Công an. Sau Tổng khởi nghĩa, khu vực này là trụ sở của Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội, cũng được gọi là Trại Vệ quốc đoàn trung ương), một doanh trại lớn của ngụy quân tại trung tâm thành phố. Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội lúc đầu do đồng chí Nguyễn Quyết, Bí thư Thành ủy Hà Nội, Ủy viên quân sự của ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945) làm Khu trưởng một thời gian ngắn. Sau đó lần lượt các đồng chí Vương Thừa Vũ, Đàm Quang Trung, Lâm Kính, Lê Quảng Ba được giao làm Khu trưởng. Đồng chí Trần Độ là Chính trị ủy viên1 (Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Hà Nội, 1986, tr.100. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb QUân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.29). Cơ quan khá gọn nhẹ, có khoảng năm, sáu chục người. Có 1 xe mô tô 3 bánh, chủ yếu dùng đưa cán bộ đi công tác. Vì được thành lập ngay sau khi ta khởi nghĩa thành công (19.8.1945) nên có thể nói đây là Bộ tư lệnh khu vực đầu tiên của quân đội ta. Khu đặc biệt Hà Nội cũng có lúc được gọi là Đặc khu Hà Nội. Tên gọi của nó đã nói lên vai trò và vị trí đặc biệt của Mặt trận Hà Nội trong công tác quốc phòng của ta nói chung.


Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu. Quan hệ với Thành ủy và cơ quan Chỉ huy tự vệ chiến đấu của thành phô Hà Nội là quan hệ phối hợp công tác.


Lực lượng của Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội lúc đầu gồm một số đơn vị Giải phóng quân từ Việt Bắc về, trong đó có nhiều đồng chí thuộc dân tộc thiểu số, sau được bổ sung thêm nhiều chiến sĩ tự vệ Hà Nội trưởng thành trong Cách mạng Tháng Tám, hình thành nên 5 tiểu đoàn 101, 77, 212, 145, 523.


Tiểu đoàn 101 có nguồn gốc là chi đội Giải phóng quân do đồng chí Đàm Quang Trung chỉ huy. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, chi đội từ Việt Bắc được lệnh tiến về Hà Nội chuẩn bị bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời từ Tân Trào về Thủ đô. Tiểu đoàn gồm 3 đại đội và 2 trung đội trực thuộc, trong đó đại đội 1 trực tiếp bảo vệ Bắc Bộ Phủ, nơi Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về làm việc cho tới ngày Toàn quốc kháng chiến (19 tháng 12 năm 1946). Tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Văn Triệu là tiểu đoàn trưởng, đồng chí Bạch Thành Phong, nguyên Xứ ủy viên Bắc Kỳ làm chính trị viên.


Tiểu đoàn 77 hình thành từ một số chiến sĩ Giải phóng quân và đông đảo anh em tự vệ chiến đấu của Hà Nội. Từ sau Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3, ta và Pháp thoả thuận cùng tiếp nhận bảo vệ các cơ sở do quân Tưởng trước đây canh giữ. Số đơn vị này gọi là Tiếp phòng quân. Tiểu đoàn 77 là một trong các đơn vị tiếp phòng quân của ta. Tiểu đoàn do đồng chí Hoàng Kiện là tiểu đoàn trưởng, đồng chí Hồng Kỳ là chính trị viên.


Tiểu đoàn 212 cũng được hình thành từ những phân đội giải phóng quân từ Việt Bắc về và tự vệ Hà Nội. Tiểu đoàn lúc đầu do đồng chí Anh Đệ làm tiểu đoàn trưởng. Nhiều chiến sĩ của tiểu đoàn là tham gia bảo vệ Lễ độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình. Trước tình hình phức tạp tại mặt trận Lào, theo yêu cầu của bạn và lệnh của Bộ Tổng chỉ huy, tiểu đoàn sang chiến đấu ở Sầm Nưa (Lào). Tháng 10 năm 1945, tiểu đoàn đã đánh thắng trận đầu tại Mường Láp, giáng một đòn phủ đầu âm mưu tái chiếm Đông Dương của thực dân Pháp. Tháng 5 năm 1946 tiểu đoàn được lệnh trở về Hà Nội, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Tiểu đoàn bộ đóng tại sân bay Bạch Mai. Bước vào kháng chiến, đồng chí Quang Tuần được điều về làm tiểu đoàn trưởng thay cho đồng chí Anh Đệ được chuyển công tác khác.


Tiểu đoàn 145 thành lập đầu năm 1946 từ một số phân đội Giải phóng quân về và bổ sung nhiều chiến sĩ tự vệ Hà Nội. Tiểu đoàn do đồng chí Trác Vinh Nam làm tiểu đoàn trưởng. Tiểu đoàn đóng quân và phụ trách địa bàn bắc Liên khu 1 gồm khu vực Quán Thánh, Cửa Bắc, các đường Thụy Khuê, Hoàng Hoa Thám, Yên Phụ...


Tiểu đoàn 523 thành lập ngày 25 tháng 3 năm 1946 tại Đống Đa, gồm các đại đội 27, 28, 29. Thành phần chủ yếu là thanh niên tự vệ Hà Nội. Địa bàn đóng quân từ khi thành lập đến ngày Toàn quốc kháng chiến là trục đường từ Hàng Bột - Ngã Tư Sở, đường Láng - Cầu Giấy - Nguyễn Thái Học. Tiểu đoàn lúc đầu do đồng chí An Giao là tiểu đoàn trưởng, sau đồng chí Nguyễn Tiệp là tiểu đoàn trưởng.


Ngoài ra còn có 4 trung đội pháo binh đóng ở 4 pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh và Thủ Khối.
Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội trực tiếp chỉ huy đến các tiểu đoàn và trung đội pháo binh.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #7 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2018, 07:43:23 PM »

Bộ đội Vệ quốc đoàn Hà Nội còn rất non trẻ, số lượng ít ỏi, trang bị và sinh hoạt còn thiếu thốn, rất thiếu kinh nghiệm chiến đấu nhưng tinh thần chiến đấu rất cao, tin tưởng tuyệt đối và trung thành vô hạn với Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ. Họ xuất thân từ nhân dân lao động ở nhiều nơi của đất nước. Bên cạnh công nhân, lao động, dân nghèo và học sinh Thủ đô và nông dân ngoại thành là những chiến sĩ trong các chi đội Giải phóng quân ở Khu giải phóng Việt Bắc về, trong đó rất nhiều ngưòi thuộc các dân tộc thiểu số. Trước khi vào bộ đội, anh em đều đã từng tham gia các đoàn thể cứu quốc nên tinh thần chiến đấu khá cao. Quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ rất thân thiết, dân chủ và kỷ luật, vì trình độ giác ngộ chính trị giống nhau, vì chung một lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc và còn vì tuổi đời của họ hầu hết đều rất trẻ, không chênh lệch nhau nhiều, tuổi quân đều mới như nhau. Sự nhận thức về quân sự và chính trị không chênh lệch nhau nhiều, trừ các cán bộ chỉ huy chiến khu. Đó là một đội quân trong đó mọi người coi nhau như anh em, nhưng không vì thế mà kỷ luật tự giác của quân đội không cao. Tuy vậy trong buổi đầu xây dựng quân chủ lực của một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, cán bộ, chiến sĩ không khỏi có những ấu trĩ, từ ăn ở tập thể, rèn luyện chính quy, đảm bảo về hậu cần, kỹ thuật đến thống nhất trong tác phong sinh hoạt... Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đến thăm bộ đội Khu đặc biệt Hà Nội. Người đã đi thăm từ nhà chỉ huy, nhà bếp, vườn rau trong doanh trại, nhắc nhở bộ đội về những điều kỷ luật, chấn chỉnh cả về ăn mặc của cán bộ khu. Những chỉ dẫn của Người là những bài học đầu tiên, rất quý báu đối với cán bộ, chiến sĩ trong những buổi đầu xây dựng đơn vị.


Về tổ chức đảng trong Khu đặc biệt Hà Nội, các đồng chí trong Bộ chỉ huy Khu đều là đảng viên cộng sản. Lúc đầu, cơ quan Bộ chỉ huy Khu chỉ có 1 chi bộ đảng, mỗi tiểu đoàn có 1 chi bộ, gồm đảng viên từ các nơi vào bộ đội hợp thành. Đi đôi với việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, sinh hoạt chính trị của bộ đội được duy trì đều đặn như các đoàn thể chính trị. Có lần đồng chí Trường Chinh, Tổng bí thư đã đến tham gia sinh hoạt chi bộ cơ quan Khu đặc biệt Hà Nội. Công tác đảng trong quân đội cũng là điều mới mẻ ngay cả với cán bộ chính trị trong chiến khu cũng như toàn quân lúc bấy giờ. Đồng chí Trường Chinh đã lắng nghe ý kiến của các đảng viên rồi hướng dẫn những điều cần thảo luận và ra nghị quyết của chi bộ. Bộ đội của khu được phổ biến tình hình thời sự thường xuyên. Chương trình huấn luyện về chính trị cho bộ đội cũng là chương trình huấn luyện chính trị của Việt Minh cho các đoàn thể cách mạng, do các cán bộ chính trị đảm nhiệm. Ở khu là chính ủy, cấp tiểu đoàn, đại đội, trung đội là các chính trị viên.


Với khí thế cách mạng sau khởi nghĩa Tháng Tám, quan hệ quân đội vói nhân dân rất gắn bó, thân thiết. Từ các cụ già đến các em thiếu nhi đều gọi cán bộ, chiến sĩ là "anh bộ đội", khác hẳn cách xưng hô với lính khố xanh, khố đỏ trước Cách mạng Tháng Tám. Về trang phục, đối với chiến sĩ, quân hiệu có ngôi sao vàng, ở giữa nền đỏ, còn cán bộ chỉ huy thêm viền vàng bao quanh. Nhân dân Thủ đô rất quan tâm đến đội quân con em của mình. Những ngày đầu mới thành lập, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, việc đảm bảo hậu cần của Bộ Quốc phòng còn khó khăn, mọi việc ăn uống hàng ngày đều do Hội Phụ nữ Cứu quốc quyên góp trong nhân dân và nấu ăn cho bộ đội. Tại trụ sở của Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội - 40 Hàng Bài, thường xuyên được tiếp đoàn đại biểu của các giới đến thăm hỏi, tặng quà cho bộ đội. Ngược lại, bộ đội đóng ở đâu đều làm công tác dân vận, tuyên truyền chính trị, chống nạn mù chữ, tổ chức cho các em thiếu nhi học hát, vui chơi...


Bộ đội thuộc Khu đặc biệt Hà Nội ngay từ khi mới thành lập đã thể hiện bản chất của một quân đội cách mạng, từ nhân dân lao động và các đoàn thể chính trị mà ra, có trình độ chính trị cao, tuyệt đối trung thành vối sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, được nhân dân mến yêu và nhiệt tình ủng hộ.


Bên cạnh lực lượng chủ lực nhỏ bé, với khí thế cách mạng sau khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, các lực lượng vũ trang địa phương do Thành ủy phụ trách lại phát triển khá mạnh mẽ, đông đảo với quân số khoảng hơn 1 vạn người. Lực lượng này bao gồm các loại hình tổ chức: Tự vệ chiến đấu, Tự vệ Thành, Tự vệ xí nghiệp, Tự vệ ngoại thành và Công an xung phong. Tự vệ chiến đấu do đồng chí Lê Trung Toản, Thành ủy viên phụ trách. Tự vệ Thành do đồng chí Khuất Duy Tiến, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố phụ trách. Chuẩn bị đối phó với nguy cơ chiến tranh xảy ra, các đơn vị tự vệ đều được củng cố về tổ chức, nâng cao trình độ chính trị và quân sự. Để tập trung sự lãnh đạo của Thành ủy đối với các lực lượng vũ trang địa phương, ngày 29 tháng 8 năm 1946, các lực lượng tự vệ được thống nhất vào một tổ chức chung lấy tên là Đoàn thanh niên tự vệ Hà Nội1 (Thủ đô Hà Nội - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Hà Nội, 1986, tr.105. Có tài liệu gọi là Ủy ban tự vệ Hà Nội). Đồng chí Lê Trung Toản, Thành ủy viên được Thành ủy giao cho phụ trách Ban chỉ huy tự vệ thống nhất.
Tuy nhiên các tổ chức tự vệ vẫn có hệ thống tổ chức dọc của mình.


Đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu có khoảng 300 người, được trang bị khá đầy đủ bằng súng trường, về danh nghĩa đây là một tổ chức vũ trang quần chúng, song thực chất đây là một đơn vị bộ đội địa phương của thành phố Hà Nội. Đội ăn, ở tập trung trong doanh trại, được Bộ Quốc phòng trang bị súng trường, có quân phục thống nhất. Trụ sở của đội tại 107 Trần Hưng Đạo. Các trung đội đóng ở nhiều nơi, đáng kể là tại trường Kỹ nghệ thực hành phố Quang Trung và nhà Đấu Xảo1 (Nay là Cung văn hóa Hữu nghị). Do sách lược mềm dẻo để đối phó với quân Pháp và quân Tưởng, ta không sử dụng nhiều lực lượng vũ trang chính quy làm công tác bảo vệ trong thành phố mà sử dụng các lực lượng tự vệ. Vì vậy Đội Tự vệ chiến đấu đã được sử dụng vào mục đích này. Đội đã đảm nhiệm canh gác nhiều vị trí như trụ sở Quốc hội2 (Trụ sở Quốc hội lúc này ở tại Nhà Khai trí Tiến Đức cũ, nay là Cục Văn hóa quần chúng, đối diện khách sạn Phú Gia, phố Hàng Trống, nhìn ra hồ Hoàn Kiếm), Tổng bộ Việt Minh, Bộ Quốc phòng, Thành bộ Việt Minh, trụ sở liên lạc của Xứ ủy và Trung ương Đảng, Đài vô tuyến điện Bạch Mai, đóng chốt ở một số khu vực và tham gia tuần tra bảo vệ trật tự an ninh trong thành phố. Đặc biệt năm đồng chí trong đội đã được cử làm cận vệ cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đội được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đồng thời làm tốt công tác dân vận, được nhân dân Hà Nội thời kỳ này rất tin yêu, chính vì vậy trong một bài đăng trên báo Cứu quốc, Bác Hồ đã khen ngợi: "Anh em Tự vệ chiến đấu Thành Hoàng Diệu thật xứng đáng làm gương cho không những tự vệ các địa phương mà cho cả các hạng thanh niên nữa"1 (Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 4, tr.254-255).


Lực lượng Tự vệ Thành được tổ chức như lực lượng dân quân tự vệ ngày nay, có khoảng 8.500 người. Đây là lực lượng đông đảo nhất, rộng rãi nhất tại các khu phố trong nội thành. Thành phần Tự vệ Thành rất đa dạng từ công nhân, dân nghèo thành thị, người buôn bán, học sinh, viên chức, cựu binh sĩ... Tự vệ Thành được tổ chức từ tiểu đội, trung đội đến đại đội do Ban chấp hành tự vệ các khu phố phụ trách, ở cấp thành có Ban chấp hành toàn thành phụ trách. Điều độc đáo là, hầu hết chỉ huy các đơn vị đều do các đơn vị bầu ra, lựa chọn trong số những người có tín nhiệm cao trong quần chúng, có khả năng tổ chức và chỉ huy chiến đấu, tuy kiến thức về quân sự hầu như chưa có gì, phải tự tìm hiểu và học hỏi thêm. Trang bị do các cá nhân và đơn vị tự lo, phần lớn là thô sơ, nhưng cũng có nhiều súng do anh em mua hoặc lấy của quân Tưởng, quân Nhật. Huy hiệu của Tự vệ Thành là hình vuông để phân biệt với Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu, có nền đỏ, giữa là sao vàng năm cánh. Nhân dân thường gọi là tự vệ sao vuông, quân Pháp thì gọi là "Tu ve ca-rê"2 (Carré - ca rê (hình vuông). Tự vệ sao vuông). Đây là lực lượng vũ trang rộng rãi ở khắp các cơ sở trong thành phố, hoạt động chống địch bằng nhiều biện pháp phong phú sáng tạo, địch không lường được nên chúng rất hoảng sợ.


Ngoài ra, ở các xí nghiệp như nhà máy điện, nhà máy nước Yên Phụ, nhà máy đèn Bờ Hồ, xưởng sửa chữa xe lửa Gia Lâm, các xưởng Aviat, Boillot, Sở Xe điện, ga Hàng Cỏ... mỗi nơi có khoảng từ 1 trung đội đến 1 đại đội Tự vệ xí nghiệp.


Công an xung phong được tổ chức thành 1 đại đội, đóng ở 3 đồn công an tại 3 - quận nội thành.
Dân quân tự vệ ở ngoại thành có khoảng 1 vạn người. Mỗi khu hành chính ngoại thành Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh đều có một Ban chỉ huy dân quân tự vệ. Mỗi khu có một số tiểu khu bao gồm các thôn xã gần nhau. Mỗi thôn, xã có từ 1 trung đội đến một đại đội.


Quá trình hoạt động của các lực lượng vũ trang, tất yếu dẫn đến yêu cầu phải quan hệ với nhau trong việc xây dựng lực lượng, huấn luyện quân sự, chính trị và xây dựng kế hoạch chiến đấu. Bộ đội giúp tự vệ xây dựng đơn vị, huấn luyện quân sự, tự vệ giúp bộ đội tìm hiểu mọi mặt về địa bàn, cùng nhau xây dựng phương án phối hợp tác chiến... Ở nhiều khu vực như Lò Đúc, Chợ Hôm, Bạch Mai, Khâm Thiên sự liên kết giữa các lực lượng vũ trang khá chặt chẽ.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #8 vào lúc: 23 Tháng Mười Hai, 2018, 07:50:53 PM »

Trước tình hình địch liên tiếp khiêu khích, âm mưu gây chiến nhằm xâm lược nước ta một lần nữa, ngày 19 tháng 10 năm 1946, Hội nghị quân sự toàn quốc do Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập nhận định: "Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp"1 (Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr.133). Cho nên phải tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng, đặc biệt là lực lượng vũ trang và phải khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt.


Cả nước được chia lại thành 12 chiến khu, từ Chiến khu I đến Chiến khu XII. Khu đặc biệt Hà Nội được đổi tên là Chiến khu XI (có lúc gọi tắt là Khu XI). Đây là chiến khu duy nhất của cả nước chỉ có 1 tỉnh, thành phố là Thủ đô Hà Nội. Khu ủy, Ủy ban bảo vệ, Bộ chỉ huy Chiến khu XI đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương. Thành ủy Hà Nội được kiện toàn và đổi thành Khu ủy XI1 (Tuy đổi thành Khu ủy XI, nhưng Khu XI vẫn chỉ có 1 thành phố Hà Nội nên theo thói quen, nhiều người vẫn gọi Khu ủy XI là Thành ủy Hà Nội. Anh em ở dưới đơn vị thường nói đùa Chiến khu XI là chiến khi xi). Đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân Bắc Bộ, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ thành phố làm Bí thư Khu ủy. Đồng chí Lê Quang Đạo, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội được chỉ định làm Phó bí thư Khu ủy. Đồng chí Vương Thừa Vũ được trên điều về làm Chỉ huy trưởng Chiến khu XI (thường gọi là khu trưởng). Đồng chí Trần Độ vẫn làm Chính trị ủy viên. Đồng chí Nguyễn Tấn Dương làm Tham mưu trưởng, đồng chí Hoàng Văn Khánh làm Tham mưu chủ nhiệm (một chức vụ như tham mưu phó ngày nay). Đồng chí Trương Công Cẩn làm Chủ nhiệm chính trị. Điểm mới giữa Bộ chỉ huy Chiến khu XI so với Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội là từ tháng 11 năm 1946, khi Thường vụ Trung ương quyết định giao cho Bộ Quổc phòng - Tổng chỉ huy, chỉ huy cả bộ đội Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ thì Bộ chỉ huy Khu XI cũng chỉ huy cả lực lượng Vệ quốc đoàn và dân quân tự vệ tại Thủ đô. Không như trước đây Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội chỉ huy lực lượng chủ lực, còn Thành ủy, Ủy ban nhân dân Hà Nội lãnh đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang địa phương.


Là thủ đô, gần Trung ương Đảng và Chính phủ, được Trung ương trực tiếp chỉ đạo, Hà Nội được dự báo và chuẩn bị từ trước về việc sẽ phát triển Khu đặc biệt Hà Nội thành Chiến khu XI. Ngày 13 tháng 10, tại Hà Đông, trong một cuộc họp quan trọng, đồng chí Trường Chinh đã thông báo "Trung ương trao nhiệm vụ cho đồng chí Vương Thừa Vũ làm chỉ huy trưởng Chiến khu XI", yêu cầu Bộ chỉ huy Khu XI "chuẩn bị tổ chức mọi mặt, sẵn sàng chiến đấu với âm mưu gây chiến của quân Pháp". Chính vì vậy ngay sau khi Hội nghị quân sự toàn quốc ngày 19 tháng 10 năm 1946 kết thúc, việc xúc tiến thành lập Chiến khu XI được thực hiện ngay. Ngày 20 tháng 10 năm 19461 (Vương Thừa Vũ, Hà Nội 60 ngày đêm khói lửa, Nxb Hà Nội, 1996, tr.35), tại trụ sở cơ quan Bộ chỉ huy Khu đặc biệt Hà Nội, lúc này đã di chuyển về khu vực Lò Lợn2 (Một vị trí cuối phố Nguyễn Huy Tự, Lê Quý Đôn ngày nay, cạnh đê hữu ngạn sông Hồng), đồng chí Lê Quảng Ba, nguyên chỉ huy trưởng đã tiến hành bàn giao nhiệm vụ cho đồng chí Vương Thừa Vũ. Chiến khu XI chính thức ra đời.


Chiến khu XI ra đời đáp ứng yêu cầu thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang bảo vệ Thủ đô trên địa bàn. Việc tổ chức xây dựng phương án chiến đấu tại Thủ đô có điều kiện nghiên cứu thực hiện bài bản hơn. Lực lượng vũ trang bảo vệ Thủ đô bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ dưới sự lãnh đạo của Khu ủy XI có điều kiện phát huy vai trò nòng cốt trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện trên địa bàn.


Cơ quan Bộ chỉ huy được kiện toàn. Lực lượng chủ lực của Bộ chỉ huy Khu XI vẫn bao gồm 5 tiểu đoàn vệ quốc đoàn, 1 đại đội cảnh vệ, 4 trung đội pháo cao xạ ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Thủ Khối, Xuân Tảo với tổng quân số là 2.516 người, được trang bị 1.516 súng trường, 3 trung liên, 1 đại liên, 1 ba-dô-ca 60mm, 1.000 lựu đạn, 80 bom ba càng, 200 chai xăng cơ-rếp, 7 khẩu pháo cao xạ, 1 khẩu sơn pháo 75mm, 1 khẩu pháo 25mm, 2 khẩu cối 60mm. Lực lượng vũ trang địa phương gần một vạn người, vũ khí có khoảng 500 - 600 súng trường, 2 trung liên, một số súng ngắn, một số mìn, lựu đạn; còn lại toàn là giáo mác, kiếm, dao găm. Chiến khu còn tổ chức 13 đội quyết tử đánh tăng và 36 tổ du kích đặc biệt. Khi kháng chiến bùng nổ các đội và tổ này sẽ được phân công về các liên khu.


Để đào tạo cán bộ, Bộ chỉ huy Khu tổ chức trường quân sự để huấn luyện cán bộ cho các đơn vị. Bộ chỉ huy Khu còn ra tờ báo Quân giải phóng, sau là báo Chiến thắng để tuyên truyền giáo dục bộ đội và phát hành rộng rãi trong nhân dân.


Ngoài lực lượng vũ trang, Chiến khu XI có lực lượng chính trị khá hùng hậu, rất quan trọng, hậu thuẫn cho cuộc chiến đấu của bộ đội và các lực lượng tự vệ Thủ đô.

Sau khi Tổng khởi nghĩa thành công, Thành ủy Hà Nội đã nhanh chóng phát triển các đoàn thể cứu quốc, làm cho Mặt trận Việt Minh của thành phố thành một lực lượng hùng hậu. Theo thống kê chưa đầy đủ, các đoàn viên, hội viên của các đoàn thể trong Mặt trận đã bao gồm 16 vạn người.


Sau 16 tháng xây dựng và rèn luyện, nhân dân Hà Nội vẫn giữ vững khí thế sôi sục của Cách mạng Tháng Tám, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến với quyết tâm thà chết không chịu làm nô lệ, quyết sống chết với Thủ đô.

Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương thành phố Hà Nội là cơ quan lãnh đạo toàn dân, toàn quân Thủ đô tiến hành kháng chiến.

Đảng bộ được tăng cường từng bước. Thay cho Thành ủy trước khởi nghĩa, ngày 25 tháng 9 năm 1945 Khu ủy mới được chỉ định. Từ tháng 11 năm 1945, khi Đảng Cộng sản Đông Dương rút vào hoạt động bí mật thì Đảng bộ Hà Nội lấy danh nghĩa Mặt trận Việt Minh để lãnh đạo tiến hành mọi mặt công tác.

Công tác phát triển đảng được coi trọng. Khi kháng chiến bùng nổ, số đảng viên có khoảng 400 người (chưa kể số đảng viên trong quân đội).


Mỗi đảng bộ liên khu có một số chi bộ ở các khu phố và một số chi bộ ở các xí nghiệp. Một số xí nghiệp như xe lửa Gia Lâm, cơ khí Aviat, Stai, rượu, bia, nước đá có 3 đảng viên trở lên được tổ chức thành chi bộ độc lập. Riêng chi bộ Đội Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy Khu XI.


Ban cán sự Đảng ngoại thành được tổ chức thành một đảng ủy lãnh đạo 5 chi bộ của 5 khu: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh.

Như vậy là, để lãnh đạo việc kháng chiến của một thành phố lớn như Hà Nội, số đảng viên không nhiều. Tuy nhiên đây là những đảng viên đã được tôi luyện trong đấu tranh thực tế, nhiều đồng chí đã trải qua các nhà tù của bọn đế quốc thực dân. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương và của Bác Hồ, Đảng bộ Khu XI có trình độ lãnh đạo khá vững vàng.


Nhìn chung, khi bước vào kháng chiến, về mặt mạnh ta có một số điểm như sau:

- Một là, sức mạnh của tinh thần yêu nước bảo vệ độc lập. Mọi người, mọi ngành sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Thủ đô, bảo vệ Tổ quốc.

- Hai là, có ưu thế to lớn về lực lượng chính trị. Đó là lực lượng toàn dân, vừa vùng lên giành chính quyền, có tổ chức, có lãnh đạo, có lòng yêu nước cao, căm thù giặc sâu sắc. Lực lượng chính trị toàn dân có sức mạnh tiềm tàng rất to lớn.

- Ba là, có một đảng bộ tuy số lượng ít nhưng vững vàng, linh hồn của cuộc kháng chiến ở Hà Nội, có một ủy ban kháng chiến đại diện chính quyền cách mạng có thể huy động sức mạnh tổng hợp tiềm tàng rất to lớn của toàn dân để tham gia kháng chiến.

- Bốn là, đánh địch ngay trên nơi chôn rau cắt rốn của mình, thông thạo mọi ngõ ngách địa hình, địa vật của Thủ đô.

- Năm là, tiến hành một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện trong một chiến cuộc lớn, trong đó nhiều thành phố thị xã đồng thời cùng đánh địch, được sự phối hợp của các thành phố thị xã đó, của các chiến trường khác do đó phân tán được lực lượng và sự đối phó của địch.

- Sáu là, được Bác Hồ, Thường vụ Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy. Mọi chỉ thị, mệnh lệnh của trên có thể nhanh chóng được chuyển đạt cho Hà Nội. Việc xử lý các tình huống trong chiến đấu có thể kịp thời và chính xác.


Bên cạnh đó cũng có một số điểm yếu:

- Một là, bộ đội ta chưa được huấn luyện gì đáng kể. Chiến sĩ chỉ mới học bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê, hầu hết chưa được bắn đạn thật.

Tuy phải chiến đấu với địch trong thành phố, nhưng quân ta chưa hề biết cách đánh trong thành phố.

- Hai là, trình độ của cán bộ chỉ huy của ta còn rất non. Cán bộ phần lớn được huấn luyện cấp tốc 1 tháng đến 2 - 3 tháng, nhiều lắm là 6 tháng, chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Trình độ cán bộ chỉ huy còn rất non là một điểm yếu rất đáng kể.

- Ba là, trang bị của bộ đội Hà Nội rất kém. Tuy có 1.516 súng trường, nhưng đó là những súng cũ kỹ đủ các loại Tây, Nhật, Tàu, Nga, Bỉ... với đạn dược rất ít. Đạn súng trường có tất cả khoảng 1 vạn viên. Nhiều người phải trang bị bằng mác búp đa, dao, kiếm. Lựu đạn phần nhiều là loại lọ mực do xưởng Phan Đình Phùng chế, có thể nổ ở tay khi ném, còn bom mìn đều là loại nhặt nhạnh có quả nổ, quả không nổ. Về vũ khí chống tăng chỉ có độc nhất một khẩu ba-dô-ca do Mỹ thả dù viện trợ ở Việt Bắc với ít viên đạn, còn phải dùng chai xăng cơ-rếp và bom ba càng. Bảy khẩu pháo ở các pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo, Thủ Khối là loại pháo phòng không cũ của Pháp. Nếu bắn mục tiêu dưới đất thì chỉ bắn được theo diện, không có các khí tài đo đạc, không có đài quan sát.

- Bốn là, lực lượng ta phải phân ra đóng xen kẽ với địch. Các cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Khu bộ Khu XI đều ở trong thành phố. Ta rất khó giữ bí mật, rất dễ bị địch tập kích bất ngờ.

Các mặt mạnh, mặt yếu của địch, của ta nói trên cũng chính là các thuận lợi, các khó khăn của địch, của ta.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 176



« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 08:52:23 AM »

Chương 2
GẤP RÚT CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN


Để bảo vệ thành quả cách mạng, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tiếp có những chủ trương thích hợp để đối phó với thù trong giặc ngoài, cố gắng dùng những biện pháp ngoại giao để tránh một cuộc chiến ác liệt có thể diễn ra với quân Pháp. Nhưng âm mưu xâm lược nước ta của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Nguy cơ chiến tranh với Pháp là khó tránh khỏi. Để chủ động đối phó với địch, Bộ Tổng chỉ huy đã xây dựng kê hoạch tác chiến trên quy mô cả nước, trong đó Mặt trận Hà Nội được coi là chiến trường chính trong trận tổng giao chiến đầu tiên.


Bộ Tổng chỉ huy quyết định: "Chiến khu Hà Nội không để bị rơi vào thế bất ngờ, nếu địch đánh trước, ta có thể quật lại ngay. Trận đánh ở Thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hoà phải tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước. Hà Nội cần giam chân địch một thời gian càng lâu càng tốt tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh"1 (Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, Nxb Hà Nội, 1997, tr.20-21, bài "Chiến đấu trong vòng vây" của Đại tướng Võ Nguyên Giáp).


Làm kế hoạch tác chiến là việc rất mới và rất khó. Cơ quan tham mưu của Bộ Quốc phòng và Bộ chỉ huy Chiến khu XI đều mới ra đời, nên việc làm kế hoạch càng khó. Từ Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng chỉ huy, Tổng tham mưu trưởng đến Chủ tịch Ủy ban bảo vệ Hà Nội, Khu trưởng Chiến khu XI (tức Mặt trận Hà Nội) phải cùng nhau bàn bạc, từng bước nghiên cứu xây dựng kế hoạch tác chiến.


Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Khu XI "Phải luôn luôn sẵn sàng chiến đấu cao độ, không được bị động để địch đánh úp bất ngờ, nếu bị đánh thì phải có kế hoạch quật lại, giành lấy quyền chủ động". Đó là một yêu cầu đúng. Nhưng kế hoạch "quật lại địch giành lấy quyền chủ động" trong điều kiện so sánh lực lượng địch mạnh ta yếu rất chênh lệch, thì ta lại chưa nói rõ.


Kế hoạch bảo vệ lúc đầu của Bộ chỉ huy Khu XI chỉ là đem 5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn cùng lực lượng Tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu phân ra bảo vệ các cơ quan, nhiều nơi bố trí từ 1 đến 2 tiểu đội, một số nơi quan trọng hơn có 1 trung đội, ở Bắc Bộ Phủ và ở sân bay Bạch Mai mỗi nơi có 1 đại đội. Riêng ở Quần Ngựa có 2 đại đội. Cụ thể, Liên khu 1 có tiểu đoàn 101 và tiểu đoàn 145 chia ra bố trí ở 17 điểm. Liên khu 2 có tiểu đoàn 77 và 212 chia ra bố trí tại 27 điểm. Liên khu 3 có tiểu đoàn 523 chia ra bố trí tại 20 điểm.


Như vậy là hầu như đại bộ phận lực lượng Vệ quốc quân được phân ra làm bộ đội cảnh vệ bảo vệ các cơ quan. Chỉ riêng ở Bạch Mai có 1 đại đội và ở Quần Ngựa có 2 đại đội có tính chất lực lượng dự bị.


Trong lúc địch có 5 điểm tập trung lớn, còn ta với lực lượng được bố trí rất phân tán, quả là khó có khả năng "quật lại địch để giành quyền chủ động"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chiến đấu trong vòng vây, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.32). Tuy nhiên lúc đầu vì bản thân địch cũng khó khăn, địch chưa làm gì ta được. Ta chưa phải quật lại chúng.


Nhưng khi thấy rõ địch không thực lòng đàm phán ở Phông-ten-nơ-blô, Hội nghị cán bộ Trung ương cuối tháng 7 đầu tháng 8 năm 1946 do đồng chí Trường Chinh chủ trì đã đề ra chủ trương phải: sẵn sàng về chính trị và quân sự đối phó với những bất trắc có thể xảy ra. Việc đặt kế hoạch tác chiến của Hà Nội đề phòng địch đánh úp, kế hoạch quật lại địch trở nên cấp thiết.


Hội nghị cán bộ Trung ương đã rút ra những kinh nghiệm về tác chiến ở miền Nam rất sắc sảo, rất có ích cho việc nghiên cứu kế hoạch tác chiến ở miền Bắc, trong đó có ba vấn đề quan trọng: một là, giữ gìn lực lượng không đem tiêu phí vào việc bảo vệ một số thành phố; hai là, phá hoại đường sá không cho địch phát huy được ưu thế về cơ giới đánh chiếm nhanh chóng các thành phố thị xã; ba là, nghiên cứu đánh cho được xe tăng. Ngoài ra một điểm hết sức quan trọng là phải nắm được quyền chủ động chiến lược2 (Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 8, tr.118).


Đó là những kinh nghiệm xương máu mà đồng bào miền Nam giúp cho Hà Nội trong việc đặt kế hoạch tác chiến.


Xuất phát từ những kết luận của hội nghị và theo chỉ thị của Quân ủy, Bộ Tổng Tham mưu tổ chức nghiên cứu ba vấn đề:

a) Đánh xe tăng.

b) Phá hoại đường sá.

c) Đánh thành phố.

Có giải quyết được ba vấn đề này, mới làm được kế hoạch tác chiến chiến lược của Bộ và kế hoạch tác chiến của Hà Nội.


Về đánh xe tăng, cái khó nhất là dùng vũ khí gì để đánh. Bộ Tổng Tham mưu và Cục Quân giới đồng thời cùng nghiên cứu.

Ta nghĩ ra một số cách:

- Dùng chai xăng cơ-rếp để đốt. Từ cuối tháng 10 ta chế tạo được loại "vũ khí" này và bắt đầu sản xuất để phát cho Hà Nội và các nơi khác.

- Dùng ba-dô-ca để bắn. Ta phải chế tạo súng, mấu chốt là chế tạo đạn lõm. Đến ngày 19 tháng 12 năm 1946 vẫn đang thí nghiệm chưa thành công. Khu chỉ có một khẩu ba-dô-ca từ Việt Bắc đưa về do khu nắm làm lực lượng cơ động.

- Dùng bom ba càng, nhược điểm là phải có người ôm bom đâm vào xe tăng, bom nổ là người hy sinh. Không có cách nào khác, Khu XI phải tổ chức 12 tổ quyết tử đánh tăng bằng bom ba càng.

- Chôn bom, mìn cũ nhặt nhạnh được, có thể nổ, có thể không nổ. Ta chưa sản xuất được mìn chống tăng.


Về phá hoại đường sá, để ngăn chặn địch phát huy ưu thế về cơ giới tiến công ta, Bộ Tổng Tham mưu đề ra mấy biện pháp: đắp ụ, đóng cọc, đào đường, phá cầu cống...

Vì kháng chiến toàn quốc chưa nổ ra, xe cộ nhân dân còn phải đi lại làm ăn nên chưa thể đào đường, phá cầu cống, nhưng cần dự kiến địa điểm phá và chuẩn bị trước.

Việc có thể làm ngay từ tháng 8 là đắp ụ ba-ri-cát; ụ đắp nửa đường theo kiểu chữ chi, xe cộ phải chậm lại nhưng vẫn chạy được. Khi chiến tranh nổ ra sẽ đắp hết ngang đường kết hợp đào đường, phá cầu cống.


Về cách đánh thành phố, Bộ lấy Hà Nội làm trọng điểm để nghiên cứu rồi phổ biến cho các thành phố khác.

Bí thư Quân ủy, Tổng tham mưu trưởng, một bộ phận cán bộ tác chiến bí mật cùng nghiên cứu với Chủ tịch Ủy ban bảo vệ và Khu trưởng Khu XI.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM