Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 11:54:59 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20234 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #540 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:09:56 PM »


*

        Lúc này, tôi nắm quyền kiểm soát trực tiếp hơn đối với công việc. Khi biết rằng những người Cộng sản đã chiếm giữ gần như toàn bộ các đồn cảnh sát ở Athens, và ở cách các cơ quan Chính phủ trong vòng nửa dặm, tôi đã ra lệnh cho Tướng Scobie và đội quân gồm 5.000 lính Anh của ông ta, những người ma với tư cách là quân giải phóng đã được dân cư tiếp đón với sự hân hoan tột độ mười ngày trước đó, can thiệp và bắn vào những kẻ hiếu chiến nguy hiểm này. Đối với những việc kiểu này mà làm nửa vời thì chẳng có ích gì. Sự bạo loạn của số đông mà những người Cộng sản đã sử dụng để tìm cách chinh phục thành phố và tự giới thiệu họ với thế giới với tư cách là Chính phủ do nhân dân Hy Lạp đòi hỏi chỉ có thể giải quyết được bằng thần lửa. Không còn thời gian để triệu tập Nội các.

        Anthony và tôi vẫn ngồi cùng nhau cho đến khoảng hai giờ, và hoàn toàn nhất trí rằng chúng tôi phải phát hỏa. Thấy ông ta đã quá mệt mỏi, tôi bảo ông ta, "Nếu ông muốn đi nghỉ, hãy để việc đó lại cho tôi", ông ta đã đi nghỉ và vào khoảng ba giờ chiều tôi thảo bức điện sau cho Tướng Scobie:

        "...Ông có trách nhiệm giữ trật tự ở Athens và vô hiệu hóa hay tiêu diệt toàn bộ các nhóm EAM - ELAS tiến vào thành phố. Ông có thể đặt ra bất cứ quy định nào nếu muốn để kiểm soát nghiêm ngặt các đường phố và để vây bắt bất kỳ bọn gây rối nào. Hiển nhiên là ELAS sẽ cố gắng tống phụ nữ và trẻ em vào xe tải hạng nhẹ ở những nơi có thể giao chiến. Ồng phải tỉnh táo về việc này và tránh sai lầm. Nhưng dừng do dự bắn vào những người đàn ông vũ trang ở Athens, những kẻ tấn công các nhà chức trách Anh hay Hy Lạp mà chúng ta đang cộng tác với họ. Dĩ nhiên sẽ rất tốt nếu mệnh lệnh của ông được củng cố bởi chút ít quyền hành của Chính phủ Hy Lạp, và Leeper đã bảo Papandreou phải ngưng lại và giúp một tay. Tuy nhiên đừng ngần ngại hành động như thể ông đang ở trong một thành phố đã được chinh phục, nơi mà cuộc phiến loạn địa phương đang tiến triển.

        Đối với các băng nhóm ELAS đang tiến dến từ bên ngoài, chắc chắn ông với lực lượng thiết giáp của mình có thể dạy cho bọn này một bài học để làm cho những kẻ khác có các vàng cũng không muốn thử nữa. Ông có thể dựa vào sự ủng hộ của tôi trong tất cả các hành dộng hợp lý và nhạy cảm được thực hiện trên cơ sở này. Chúng ta phái nắm giữ và chế ngự Athens. Sẽ thật vĩ đại nếu ông có thể thành công ở đây mà không cần đến sự đổ máu nếu có thể, nhưng vẫn cần sự đổ máu nếu cần thiết".


        Bức điện nay được gửi đi lúc 4.50 phút sáng ngày 5. Tôi phải công nhận rằng nó có giọng điệu hơi khó nghe. Tôi cảm thấy thật cần thiết phải có sự chỉ đạo mạnh mẽ đối với viên tư lệnh quân đội đến mức tôi cố ý nói điều này một cách sắc nhọn nhất. Sự thật là ông ta đã nhận một mệnh lệnh như thế, sẽ không những khuyến khích ông hành động kiên quyết mà còn cho ông sự bảo lãnh nhất định nào đó rằng tôi sẽ ở bên ông ta trong bất kỳ hành động nào được cho là đúng mà ông ta có thể làm, bất chấp hậu quả có như thế nào đi chăng nữa. Tôi cảm thấy rất lo lắng về toàn bộ công việc này, nhưng tôi tin chắc rằng không có chỗ cho sự nghi ngờ hay bức rào ngăn cách. Tôi nhớ lại bức điện chúc mừng của Arthur Balfour trong những năm 80 gửi cho chính quyền Anh ở Ireland: "Đùng ngại bắn bỏ!" Bức điện đã được gửi qua bưu điện một cách công khai. Bão táp đã nổi lên về vấn đề này tại Hạ Nghị Viện lúc đó, nhưng chắc chắn nó đã ngăn được những mất mát trong cuộc sống. Đó là một trong những bước tiến chủ yếu mà với nó Balfour đã tiến đến nắm quyền lục và sự kiểm soát. Toan cảnh giờ đây lại hoàn toàn khác. Tuy nhiên, câu "Đừng ngại bắn bỏ" đang lởn vởn trong đầu tôi như một lời nhắc nhở từ xa xưa.

        Giờ đây, toàn bộ thế giới tự do đã biết nhiều gấp bội so với những nhận thức lúc đó về phong trào Cộng sản ở Hy Lạp và ở những nơi khác, nhiều độc giả sẽ kinh ngạc về những cuộc công kích dữ dội nhằm vào Chính phủ Hoàng gia và đặc biệt là tôi với tư cách là người đứng đầu. Đa số báo giới Mỹ đã cực lực lên án hành động của chúng tôi, điều mà như họ tuyên bố đã xuyên tạc cái sự nghiệp mà vì nó họ đã ra trận. Bộ Ngoại giao Mỹ, dưới sự đảm trách của ông Stettinius, đã ra một tuyên bố hết sức gay gắt, mà họ sẽ phải lấy làm ân hận hay ít nhất là phải đảo ngược lại trong những năm sau. Ở Anh đã có sự lo lắng rất lớn, tờ Times và Manchester Guardian đã phê phán cái mà họ coi là chính sách phản động của chúng tôi. Tuy nhiên, Staline đã tuân thủ chính xác và trung thành bản thỏa thuận Tháng Mười của chúng tôi, và trong suốt những tuần lễ dài chiến đấu chống lại Cộng sản trên các đường phố Athens, không có bất kỳ lời trách cứ nào xuất hiện trên báo Pravda hay Isvestia.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #541 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:11:10 PM »


        Tại Hạ Nghị Viện đã có sự khuấy động lớn. Đã có một luồng rất mạnh những ý kiến mơ hồ, thậm chí là rất hung hăng, và bất cứ Chính phủ nào dựa trên cơ sở ít vững chắc hơn Chính phủ Liên hiệp Quốc gia chắc chắn sẽ bị vỡ ra từng mảnh. Nhưng Hội đồng Chiến tranh đã trụ vững như tảng đá bị sóng gió đập vào một cách vô vọng. Khi chúng tôi nhớ lại những gì xảy ra đối với Ba Lan, Hungary và Tiệp Khắc trong những năm sau này, chúng tôi sẽ có thể rất biết ơn số phận vì trong thời điểm gay go này đã cho chúng tôi sự điềm tĩnh, sức mạnh thống nhất của các vị lãnh đạo kiên quyết của tất cả các đảng phái. Không đủ chỗ để tôi có thể trích dẫn nhiều hơn vai đoạn từ bài diễn văn của tôi ngày 8 tháng Mười Hai.

        Chúng tôi đã bị kết tội... là đã dùng lực lượng Hoàng gia để giải giáp những người bạn dân chủ ở Hy Lạp, ở những nơi khác của châu Âu, và để đàn áp các phong trào quần chúng đã hỗ trợ một cách anh dũng trong việc đánh bại kẻ thù...

        Tuy nhiên, câu hỏi đã xuất hiện, và lúc này người ta có thể được phép dừng lại một chút với câu hỏi này, ai là bạn của nền dân chủ và từ "dân chủ" có thể được hiểu như thế nào? Khái niệm của tôi về vấn đề này như sau: nền tảng của dân chủ là việc một người đơn giản, khiêm tốn, đại chúng, chỉ là một con người bình thường đang có vợ và một gia đình, là người ra đi chiến đấu cho đất nước của anh ta khi đất nước gặp khó khăn, đến những nơi bầu cử vào thời gian thích hợp và gạch dấu X trên lá phiếu để chỉ ra ứng cử viên mà anh ta muốn bầu vào Nghị Viện. Và điều cốt yếu của nền tảng này còn là việc người đàn ông hay đàn bà kia sẽ làm việc đó mà không hề sợ sệt, và không chịu bất cứ sự hăm dọa hay trừng phạt dưới bất cứ hình thức nào. Anh ta đánh dấu lá phiếu của mình trong sự bí mật tuyệt đối, rồi những đại biểu được bầu hợp lại và cùng nhau quyết định rằng một Chính phủ nào, hay thậm chí, trong những lúc căng thẳng, loại Chính phủ nào họ muốn có trong đất nước của họ. Nếu đó là dân chủ, tôi đón mừng nó. Tôi tán thành điều đó. Tôi sẽ làm cho nó... Tôi đứng trên nền tảng của những cuộc bầu cử tự do dựa trên cơ sở phổ thông đầu phiếu, và đó là những gì mà chúng tôi coi là nền tảng của dân chủ.

        Người ta phải có một sự tôn trọng nào đó với nền dân chủ và không được dùng ngôn từ đó một cách dễ dãi. Điều cuối cùng có vẻ như dân chủ là luật của đám đông dân chúng, với những băng nhóm trộm cướp, được trang bị thứ vũ khí chết người, tiến vào các thành phố lớn, chiếm các đồn cảnh sát và những điểm trọng yếu của chính phủ để cố gắng giới thiệu một chính thể độc tài với một bàn tay sắt, và lớn tiếng đòi hỏi, như giờ đây họ có thể làm, nếu họ có quyền lực trong tay.

        Dân chủ không dựa trên bạo lực và khủng bố, mà trên lý trí, trên một cuộc chơi công bằng, trên tự do, trên sự tôn trọng quyền lợi của những người khác. Dân chủ không phải là gái điếm bị người đàn ông có súng tiểu liên bắt trên đường phố. Tôi tin vào nhân dân, vào quần chúng, ở hầu hết tất cả các nước, nhưng tôi muốn làm rõ ra rằng đó là nhân dân chứ không phải một băng cướp, những kẻ cho rằng với bạo lục chúng có thể lật đổ được quyền lực hợp hiến, trong một số trường hợp là các Nghị viện cổ xưa, các Chính phủ, và các Nhà nước...

        Chỉ có ba mươi nghị sĩ chống lại chúng tôi trong nhóm người vận động bỏ phiếu biểu quyết. Gần ba trăm người bỏ phiếu tín nhiệm. Ở đây, một lần nữa lại có một khoảnh khắc trong đó Hạ Nghị Viện chứng tỏ sức mạnh và quyền lực lâu bền.

        Không còn nghi ngờ gì nữa là sự bày tỏ tình cảm của dư luận Mỹ và con tàu tư tưởng lúc đó đang được Bộ Ngoại giao Mỹ đi theo, đã ảnh hưởng đến Tổng thống Roosevelt và những người thân cận của ông ta. Những tình cảm tôi đã bày tỏ ở Hạ Nghị viện bây giờ đã trở thành cẩm nang cho học thuyết và chính sách của Mỹ, và đưa đến sự tán thành của Liên Hiệp Quốc. Nhưng vào những ngày đó họ đang say sưa trong một bầu không khí mới mà có thể làm sửng sốt những ai đang bị những ấn tượng của quá khứ điều khiển và không cảm thấy sự ập tới của dòng thủy triều mới trong cuộc sống con người.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #542 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:12:35 PM »


*

        Trong lúc đó các đội quân của Anh chiến đấu ác liệt ở trung tâm Athens, bị vây chặt và bị áp đảo về số lượng. Chúng tôi đang bận tham gia vào cuộc giành giật từng căn nhà với kẻ địch mà ít nhất một phần năm trong số đó đang mặc thường phục. Không giống như nhiều phóng viên báo chí của Đồng minh ở Athens, các đội quân của chúng tôi đã không khó khăn gì trong việc tìm hiểu các vấn đề có liên quan. Papandreou và các Bộ Trưởng còn lại của ông đã mất hết quyền lục. Các tuyên bố trước đây để thành lập một Ban Nhiếp Chính dưới quyền của Tổng Giám Mục Damaskinos đã bị Nhà Vua bác bỏ, nhưng ngày 10 tháng Mười Hai ông Leeper đã làm sống lại ý tưởng này. Tuy nhiên, Nhà Vua George phản đối việc nay, và lúc đó chúng tôi đã buộc phải ép ông ta tuân theo.

        Giữa lúc lộn xộn nay, Đại Nguyên soái Alexander và ông Harold Macmillan đã đến Athens. Ngày 12 tháng Mười Hai, Nội các Chiến tranh đã cho Alexander được tự do áp dụng mọi biện pháp quân sự. Sư đoàn 4 của Anh, trên đường đi từ Ý đến Ai Cập, đã được lệnh chuyển hướng, và việc họ đến nơi trong vòng nửa cuối tháng này như dự kiến đã làm thay đổi cán cân, nhưng lúc này cuộc chiến đấu giành đi chiếm lại trên đường phố đang diễn ra ở một qui mô ngày càng lan rộng. Vào ngày 15, Alexander đã nhắc tôi rằng điều quan trọng nhất là phải nhanh chóng giải quyết ổn thỏa, và cơ hội tốt nhất là thông qua Tổng Giám Mục. "Nếu không, ông ta đánh điện, tôi e rằng sự kháng cự của những kẻ phiến loạn tiếp tục căng thẳng như thời điểm hiện nay, tôi sẽ phải điều một lực lượng tăng viện lớn hơn nữa từ mặt trận nước Ý để đảm bảo dọn sạch được toàn bộ vùng Piraeus-Athens, trong đó có năm mươi dặm vuông nhà cửa".

        Sau đó vài ngày, tôi đã quyết định đến đó để chúng kiến tận mắt.

        Đó là ngày 24 tháng Mười Hai, chúng tôi đã tổ chức một bữa tiệc cho gia đình và bọn trẻ nhân dịp Giáng Sinh. Chúng tôi có một cây thông Giáng sinh - được Tổng thống gửi đến tất cả đều trông chờ một buổi tối thú vị, sáng sủa hơn, có lẽ vì bị những bóng đen ám ảnh. Nhưng khi đọc xong các bức điện tín của mình, tôi cảm thấy chắc chắn là phải bay đến Athens để tìm hiểu tình hình ngay tại hiện trường và đặc biệt là làm quen với Tổng Giám Mục, người mà nhiều vấn đề đang xoay quanh ông ta. Vì vậy tôi đã cho điện thoại hoạt động và cho chuẩn bị một chiếc máy bay ở Northolt đêm hôm đó. Tôi cũng làm hỏng đi lễ Giáng Sinh của ông Eden bằng lời đề nghị này và được ông ta đồng ý ngay rằng ông ta cũng nên đến đó. Sau khi đã bị gia đình chỉ trích rất nhiều vì đã làm cho buổi tiệc vắng tanh, tôi đã đi ô tô đến Northolt gặp ông Eden, nơi chiếc Skymaster mà Tướng Arnold vừa điều đến cho tôi đang đợi sẵn một cách chu đáo và đúng lúc.

        Chúng tôi ngủ trong tiếng ầm ầm đến khoảng tám giờ, khi chúng tôi hạ cánh xuống Naples để nạp thêm nhiên liệu. Noi đây có rất nhiều vị tướng, và chúng tôi đã cùng ăn sáng với nhau trên những chiếc bàn kê san sát. Bữa sáng không phải là thời gian tốt nhất trong ngày và những tin tức cả hai mặt trận Ý và Athens đều rất ảm đạm. Sau một giờ chúng tôi lại đi tiếp, và chúng tôi đã bay ngang qua Peloponnese và eo biển Corinth trong một giờ thời tiết mỹ mãn. Athens và Piraeus đã mở ra phía dưới chúng tôi như một tấm bản đồ khổng lồ, và chúng tôi đã liếc nhìn xuống phía dưới đó và tự hỏi vùng nào thuộc về ai.

        Khoảng trưa, chúng tôi đã hạ cánh xuống phi trường Kalamaki đang được khoảng hai ngàn lính không quân của Anh canh giữ, tất cả đều được trang bị hoàn hảo và rất năng động. Đại Nguyên soái Alexander, ông Peeper và ông Macmillan đang chờ ở đây.

        Họ lên máy bay, và chúng tôi đã có gần ba tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt về toàn bộ vị trí này, về mặt quân sự cũng như về mặt chính trị. Tôi nghĩ, chúng đang ở trong giai đoạn dàn xếp sau cùng, và nghĩ đến các bước kế tiếp sẽ được thực hiện.

        Tôi và bầu đoàn của mình sẽ phải ngủ trên chiếc tàu thủy Ajax trước khi bóng tối ập xuống và lần đầu tiên, tôi nhận ra đó là ngày Giáng Sinh. Thủy thủ đoàn đã chuẩn bị đầy đủ cho một buổi tiệc vui vẻ, và chắc chắn là chúng tôi đã làm phiền họ ở mức ít nhất có thể.

        Các thủy thủ đã có kế hoạch cho khoảng mười hai người trong số họ ăn mặc nhiều loại y phục, cải trang như người Hoa, người Da đen, thổ dân Da đỏ, người Cockney, và những diễn viên hề - tất cả là khúc nhạc dạo cho các sĩ quan và hạ sĩ quan quân đội, và nói chung là sự khai mạc thích hợp cho bữa tiệc này. Tổng Giám Mục và những người phục vụ của ông ta đều có vóc dáng khổng lồ trong những trang phục thụng, lòe xòe, và đội những chiếc mũ cao dành cho các nhân vật quyền cao chức trọng trong Giáo hội Hy Lạp. Hai bên đã gặp nhau. Các thủy thủ cho rằng ông ta là một phẩn của buổi biểu diễn mà họ không được báo trước, và đã nhảy múa một. cách nhiệt tình quanh ông ta. Tổng Giám Mục lại nghĩ rằng nhóm ăn mặc pha tạp này là một sự lăng nhục có dự tính trước, và hẳn là đã bỏ lên bờ nếu không có viên thuyền trưởng đến đúng lúc, và, sau một chút lúng túng, viên thuyền trưởng đã giải thích thỏa đáng mọi vấn đề. Trong lúc chờ đợi, tôi băn khoăn không hiểu điều gì đã xảy ra. Nhưng tất cả đều kết thúc vui vẻ.

        Với nỗi cay đắng tột độ ông ta đã phản đối lại những hành động hung bạo của ELAS, và bàn tay đen tối và nham hiểm đằng sau EAM. Nghe ông ta nói không thể nghi ngờ rằng ông ta rất sợ tổ chức của Cộng sản, hay Trotsky theo cách gọi của ông ta, trong nội vụ ở Hy Lạp. Ông ta đã bảo với chúng tôi rằng ông ta đã ra một lời buộc tội sẽ được phổ biến rộng rãi đối với ELAS vì đã bắt tám nghìn con tin, những người thuộc giới trung lưu, mà rất nhiều trong số họ là người Ai Cập, và mỗi ngày đều bắn bỏ đi một số người, và rằng ông ta sẽ thông báo những vấn đề này cho báo chí thế giới nếu phụ nữ không được trả tự do. Nói chung ông ta đã gây ấn tượng với tôi bởi một niềm tin lớn. Ông ta là nhân vật rất cừ và ngay lập tức đã chấp nhận đề nghị làm chủ tọa cuộc họp, sẽ được tổ chức vào ngày hôm sau, ELAS đã được mời cử đại diện đến dự.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #543 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:13:41 PM »


*

        Sáng ngày 26, là "Ngày đầu tuần liền sau lễ Giáng Sinh" tôi đã lên đường đến Đại Sứ quán. Tôi nhớ rằng ba hay bốn quả đạn pháo từ các trận đánh cách đó một dặm đã làm cho nước phía sườn trái chiếc Ajax phun lên tung tóe, khi chúng tôi chuẩn bị lên bờ, một chiếc xe bọc thép và một đoàn hộ tống đã đợi chúng tôi. Chúng tôi phóng ầm ầm theo con đường đến Đại Sứ quán mà không có phiền toái gì. Tôi đã gặp lại vị Tổng Giám Mục, người sắp giúp đỡ chúng tôi rất nhiều, ông ta đã đồng ý với tất cả những gì chúng tôi đề nghị. Chúng tôi đã dự kiến chương trình cuộc họp sẽ được tổ chức vào buổi chiều. Tôi đã tin chắc rằng ông ta là một nhân vật nổi tiếng trong sự rối ren của Hy Lạp. Về những khía cạnh khác, tôi biết ông ta là quán quân đô vật trước khi vào giáo hội chính thống. Khoảng sáu giờ tối hôm đó, hội nghị đã khai mạc ở Bộ Ngoại giao Hy Lạp.

        Chúng tôi ngồi vào chỗ của mình trong căn phòng rộng rãi trông trải sau khi bóng tối phủ xuống. Mùa đông lạnh lẽo ở Athens, không có lò sưởi, và vài cây đèn bão tỏa thứ ánh sáng lờ mờ trên toàn bộ khung cảnh này. Tôi ngồi bên phải Tổng Giám Mục, với ông Eden, và Đại Nguyên soái Alexander ngồi ở bên trái ông ta. Ông Mac Veagh, Đại sứ Hoa Kỳ, M.Baelen, Công sứ Pháp, và các đại diện quân sự của Nga đã nhận lời mời của chúng tôi. Ba vị lãnh đạo Cộng sản đã đến muộn. Đó không phải là lỗi của họ. Đã có một cuộc tranh cãi nhỏ kéo dài tại các tiền đồn. Khoảng nửa giờ sau khi chúng tôi đã bắt đầu công việc của mình và tôi bắt đầu phát biểu thì họ bước vào. Họ là những nhân vật chỉnh tề trong bộ quân phục của Anh.

        "Tốt hơn hết", tôi bảo với họ, "Hãy để mặc cho mọi nỗ lực được thực hiện nhằm tái tạo Hy Lạp như một nhân tố của chiến thắng, và hãy làm ngay bây giờ. Chúng tôi không có ý cản trở sự cân nhắc kỹ càng của các ông. Nước Anh chúng tôi và các đại diện khác của Khối cường quốc chiến thắng sẽ để cho người Hy Lạp các ông tự thảo luận dưới sự chủ tọa của người công dân lỗi lạc và đáng tôn kính nhất này, và chúng tôi sẽ không làm phiền đến các ông trừ phi các ông tìm đến chúng tôi một lần nữa... tuy nhiên hy vọng của tôi là hội nghị sẽ bắt đầu ở đây vào chiều ngày hôm nay tại Athens, sẽ phục hồi lại cho Hy Lạp một lần nữa thanh danh và sức mạnh của nó đối với các Đồng minh và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới, sẽ bảo vệ cho biên giới của Hy Lạp khỏi bất kỳ mối nguy hiểm nào từ phía Bắc và sẽ cho phép tất cả những người Hy Lạp phát huy hết được sức mạnh của mình và của đất nước mình trước sự chứng kiến của toàn thế giới..."

        Alexander đã thêm vào một chi tiết tuy nhỏ nhưng sắc sảo rằng quân Hy Lạp nên chiến đấu ở Ý và không nên chống lại quân Anh ở Hy Lạp.

        Một khi chúng tôi đã phá vỡ được lóp băng dày và nắm được người Hy Lạp, những người đã gây ra những vết thương khủng khiếp như vậy cho nhau để ngồi quanh bàn đàm phán hòa bình dưới sự chủ tọa của Tổng Giám Mục, những bài phát biểu chính thức đã được thực hiện, các thành viên của phái đoàn Anh tại hội nghị đã rút lui.

        Những cuộc thảo luận gay gắt và ầm ĩ giữa các đảng phái của Hy Lạp đã chiếm toàn bộ ngày hôm sau. Năm giờ ba mươi phút tối hôm đó tôi đã có cuộc thảo luận sau cùng với Tổng

        Giám Mục. Theo kết quả của các cuộc đối thoại của ông ta với các đại biểu ELAS, mọi việc đã được thỏa thuận rằng tôi nên yêu cầu Nhà Vua Hy Lạp phong ông ta làm Nhiếp chính. Ông ta sẽ bắt đầu chuẩn bị thành lập Chính phủ mới không có bất kỳ thành viên Cộng sản nào. Chúng tôi đã quyết định sẽ tiếp tục cuộc chiến với toàn bộ sức lực cho đến khi hoặc là ELAS đồng ý ngừng bắn hoặc khu vực Athens không còn bóng dáng họ nữa. Tôi bảo với ông ta rằng tôi không thể thực hiện bất cứ nhiệm vụ quân sự nào ngoài Athens và Attica, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng giữ các lực lượng của Anh ở Hy Lạp cho đến khi Quân đội Quốc gia Hy Lạp được thành lập.

        Ngày hôm sau, 28 tháng Mười Hai, tôi và ông Eden đã rời khỏi bằng máy bay. Tôi không có cơ hội chào tạm biệt ông Papandreou trước khi đi. Ông ta sắp từ chức và đó là người đã thua thiệt nhất trong toàn bộ chuyện này. Tôi đã yêu cầu Đại sứ của chúng tôi giữ mối quan hệ thân thiện với ông. Ngày 29 tháng Mười Hai chúng tôi trở lại Luân Đôn. Ông Eden và tôi đã thức cùng Nhà Vua Hy Lạp đến bốn giờ ba mươi phút sáng, và đến phút cuối cùng, Đức Vua tôn kính đã đồng ý không trở về Hy Lạp trừ phi được triệu về theo ý nguyện được bày tỏ một cách tự do và bình đẳng của dân tộc, và phong Tổng Giám Mục làm Nhiếp chính trong lúc cấp bách này. Ngay lập tức tôi đã gửi bản tuyên bố của Hoàng gia cho ông Leeper, và Tổng Giám Mục đã trả lời với Đức Vua là chấp nhận sự ủy nhiệm của ông ta làm Nhiếp chính. Thế là đã có một Chính phủ Hy Lạp mới điều hành thực sự. Ngày 3 tháng Giêng, Tướng Plastiras, một người Cộng hòa đặc sệt, người lãnh đạo cuộc đảo chính quân sự chống lại Nhà Vua ở Constantine năm 1922, đã trở thành Thủ tướng.

        Những cuộc chiến liên tiếp ở Athens trong suốt tháng Mười Hai cuối cùng đã đẩy lui quân nổi dậy khỏi thủ đô, và đến giữa tháng Giêng, quân Anh đã kiểm soát được toàn bộ Attica. Những người Cộng sản đã không thể làm được gì để chống lại quân chúng tôi trong cái đất nước tự do này, và việc ngừng bắn được ký kết ngày 11 tháng Giêng.

        Cuộc chiến sau tuần lễ giành Athens đã kết thúc như vậy, và, như cuối cùng nó đã chứng tỏ, nền tự do của Hy Lạp đã thoát khỏi sự chinh phục của Cộng sản. Khi ba triệu quân lính đang chiến đấu hoặc là bên này hoặc là bên kia mặt trận phía tây và một lực lượng lớn của Mỹ đang được triển khai chống lại Nhật Bản ở Thái Bình Dương, sự bùng nổ của Hy Lạp dường như rất nhỏ bé, tuy nhiên họ đang đứng ở trung tâm của quyền lực, luật lệ và tự do của thế giới phương Tây. Thật là kỳ quặc khi nhìn lại những sự kiện này, với bao năm đã qua đi, để thấy rằng cái chính sách vì nó mà tôi và các đồng nghiệp của mình đã tranh đấu một cách hết sức kiên cường, đã được thực tế chúng minh là đúng. Chúng tôi đã không hoàn thành nốt nhiệm vụ ở Hy Lạp. Tuy nhiên, vào cuối năm 1944 tôi cũng có suy nghĩ đôi chút rằng Bộ Ngoại giao Mỹ, với sự ủng hộ của dư luận áp đảo ở đó, trong vòng hơn hai năm sẽ không chỉ phê chuẩn và tiến hành sự nghiệp mà chúng tôi đã bắt đầu, mà con thực hiện một nỗ lực mãnh liệt và tốn kém, thậm chí về mặt quân sự đã biến nó thành hiện thực. Nếu Hy Lạp thoát khỏi số phận như của Tiệp Khắc và sống sót đến ngày nay như một trong những quốc gia tự do, là không chỉ nhờ vào các hành động của Anh năm 1944, mà còn nhờ vào những nỗ lực kiên trì của những gì mà lúc này đã trở thành sức mạnh thống nhất trong thế giới nói tiếng Anh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #544 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:15:29 PM »


22

MALTA VÀ YALTA - NHỮNG KẾ HOẠCH CHO HÒA BÌNH THẾ GIỚI

        Vào cuối tháng Giêng năm 1945, quân đội Hitler gần như đã bị dồn vào địa giới riêng, chỉ còn lại lực lượng mỏng ở Hungary và miền Bắc nước Ý, nhưng dù nói gì đi nữa thì tình hình chính trị ở Đông Âu cũng chẳng thể nào tốt hơn thế. Ớ Hy Lạp, quả thực đã đạt được một tình hình yên tĩnh tuy bấp bênh và dường như có một Chính phủ tự do dân chủ được lập ra trên nguyên tắc phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín, sẽ có thể được thành lập ở đó vào một thời điểm thích hợp. Rumani và Bungari đã bước vào thế chịu sự kìm kẹp của quân đội Xô Viết, Hungary và Nam Tư đang nằm dưới hình bóng của chiến trường, và Ba Lan, mặc dù đã được giải phóng khỏi quân Đức, nhưng cũng chỉ là sự chuyển giao từ kẻ chiến thắng này sang kẻ chiến thắng kia mà thôi. Việc dàn xếp không chính thức và tạm thời mà tôi đã thảo luận với Staline trong chuyến thăm Matxcova hồi tháng Mười là không thể xảy ra, và theo tôi được biết cho đến bây giờ không bao giờ có thể chi phối hay ảnh hưởng đối với tương lai của những vùng rộng lớn này một khi quân Đức bại trận.

        Toàn bộ hình dạng và cấu trúc của châu Âu sau chiến tranh đã lên tiếng đòi hỏi phải được xem xét lại. Khi bọn Quốc Xã bị đánh bại, nước Đức sẽ được đối xử như thế nào? Chúng ta có thể trông chờ vào những trợ giúp nào từ Liên Bang Xô Viết khi cuối cùng Nhật Bản bị lật nhào? Và một khi những mục tiêu của quân đội ta đã đạt được, ba Đồng Minh vĩ đại của thế giới sẽ đem lại những giải pháp gì và tổ chức được gì cho hòa bình trong tương lai và sự thống trị tốt đẹp cho thế giới? Những cuộc thảo luận ở hội nghị Dumbarton Oaks đã kết thúc trong sự bất đồng mang tính bộ phận. Cho nên trong một phạm vi nhỏ hơn nhưng không kém phần quan trọng, chính những cuộc thương lượng giữa "Ba Lan Lubin" được Xô Viết bảo trợ và những người đồng hương của họ từ Luân Đôn mà ông Eden và tôi đã đề cử một cách hết sức khó khăn, đã xúc tiến cho chuyên viếng thăm của tôi đến điện Kremlin vào tháng Mười năm 1944. Một bức thư trao đổi nhạt nhẽo giữa ngài Tổng thống và Staline, bức thư mà ngài Roosevelt đã thông báo cho tôi, đã dẫn đến việc khai trừ M.Mikolajczyk khỏi những đồng nghiệp của ông ta ở Luân Đôn, trong khi vào ngày 5 tháng Giêng, trái với nguyện ước của cả Hoa Kỳ và Anh, những người Xô Viết đã công nhận Ủy Ban Lublin là Chính phủ Lâm thời của Ba Lan.

        Tổng thống đã hoàn toàn bị thuyết phục về sự cần thiết có một cuộc gặp của "Tam Hùng", và sau khi cố thuyết phục tôi, ông cũng đồng ý rằng chúng tôi nên có một cuộc họp sơ bộ giữa hai chúng tôi ở Malta. Bạn đọc hẳn sẽ còn nhớ đến những lo lắng mà tôi đã bày tỏ về hoạt động của chúng tôi ở Tây Bắc Âu trong bức điện tín của tôi gửi cho Ngài Tổng thống ngày 6 tháng Mười Hai. Những điều này, với tôi vẫn còn có trọng lượng. Tham mưu trưởng quân Mỹ và Anh đã rất cần có một cuộc thảo luận trước khi chúng tôi gặp những người Xô Viết, chính vì thế vào ngày 29 tháng Giêng năm 1945, tôi đã rời Northolt trên chiếc Skymaster mà Tướng Arnold đã cấp cho. Con gái của tôi, Tư lệnh Thompson đều đi cùng tôi trên máy bay. Những nhân viên còn lại của tôi và một vài quan chức của các bộ đi trên hai chiếc máy bay khác. Chúng tôi đến Malta vừa đúng trước tảng sáng ngày 30 tháng Giêng, và đến đó tôi mới hay rằng một trong hai chiếc máy bay kia đã rơi ở gần Pantelleria. Chỉ có ba thành viên trong đội bay và hai hành khách còn sống sót.

        Sáng ngày 2 tháng Hai, đoàn Tổng thống trên tàu u.s.s Quincy, vào cảng Valletta. Đó là một ngày ấm áp, và dưới bầu trời không một gợn mây, tôi đã quan sát toàn cảnh từ trên boong của chiếc tàu H.M.S Orion. Khi chiếc tàu chiến chầm chậm chạy qua chỗ chúng tôi về phía bến tàu dọc theo cầu cảng, tôi có thể nhìn thấy dáng Ngài Tổng thống đang ngồi trên đài chỉ huy của thuyền trưởng, và chúng tôi đã vẫy tay chào nhau. Với đoàn tùy tùng Spitfires ở phía trước, những khẩu hiệu đón chào và những biểu ngữ của những công ty tàu thủy trên cảng với những "Lá cờ Đính Sao", đã khiến cho nơi đó thật là một cảnh tráng lệ. Tôi ăn bữa cơm trưa trên tàu Quincy, và vào lúc 6 giờ tối hôm đó, chúng tôi đã có cuộc gặp chính thức đầu tiên trong phòng Tổng thống. Ở đây, chúng tôi đã xem xét tất cả báo cáo của Bộ tham mưu hỗn hợp và kết quả của những cuộc thảo luận quân sự diễn ra ở Malta trong suốt ba ngày trước đó. Bộ tham mưu của chúng tôi đã làm được một công việc đáng kể. Những cuộc thảo luận của họ tập trung chủ yếu xung quanh những kế hoạch của Eisenhower nhằm trải quân của ông ta đến tận sông Rhine và dọc theo con sông này. Có nhiều ý kiến khác nhau về chủ đề này nhưng tôi sẽ xin được đề cập đến một trong chương khác. Dĩ nhiên, cơ hội này cũng đã được nắm bắt để nhìn lại toàn bộ quá trình của chiến tranh, kể cả cuộc chiến đấu chống lại những tàu ngầm Đức, những chiến dịch trong tương lai ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương, và tình hình Địa Trung Hải. Chúng tôi buộc 1òng phải đồng ý rút hai sư đoàn khỏi Hy Lạp ngay khi họ rảnh, nhưng tôi cũng xin nói rõ rằng chúng tôi không bắt buộc phải làm như vậy trước khi Chính phủ Hy Lạp xây dựng được lực lượng quân đội của riêng họ. Ba sư đoàn nữa cũng sẽ được rút khỏi Ý để củng cố lại Tây Bắc Âu, nhưng tôi nhấn mạnh rằng sẽ không khôn ngoan chút nào khi rút một số lượng đáng kể cả lực lượng hải quân và lục quân như thế. Thật là hết sức quan trọng phải bám sát bất kỳ sự đầu hàng nào của Đức ở Ý, và tôi đã bảo với Tổng thống rằng chúng ta phải chiếm được càng nhiều phần đất ở Áo càng tốt, vì "không thể mong rằng người Nga sẽ chiếm được phần đất nhiều hơn mức cần thiết ở Tây Âu". Trong tất cả những vấn đề quân sự, một giải pháp thỏa thuận lớn đã đạt được, và những cuộc thảo luận đã có kết quả hữu ích nên Bộ Tổng tham mưu Hỗn hợp đã ý thức được những quan điểm riêng của họ trước đây liên quan đến những cuộc đàm phán với những người đồng cấp Nga của họ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #545 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:16:36 PM »


        Đêm hôm đó, mọi người bắt đầu khởi hành. Các máy bay vận tải cất cánh cách nhau mười phút chở theo khoảng 700 người của các phái đoàn Anh và Mỹ, bay hơn 1.400 dặm đến phi trường Saki, ở Crimea. Tôi lên máy bay sau bữa ăn tối, và thiếp đi luôn. Sau một chuyến bay dài và lạnh, chúng tôi hạ cánh xuống phi trường đang ngập trong tuyết dày. Máy bay của tôi đi trước máy bay ông Roosevelt và chúng tôi phải đứng một lúc đợi ông đến. Khi bước xuống cẩu thang chiếc máy bay "Sacred Cow", trông ông nhợt nhạt như người ốm. Chúng tôi cùng duyệt đội danh dự, Tổng thống ngồi trên một chiếc xe mui trần còn tôi thì đi bộ bên cạnh.

        Lúc này, chúng tôi bắt đầu chuyến đi bằng ô tô trên một chặng đường dài từ Saki đến Yalta. Huân tước Moran và Ngài Martin cũng cùng đi trên chiếc xe của tôi. Chuyến đi của chúng tôi mất gần tám tiếng đồng hồ và suốt dọc đường thường có những đội lính đặc nhiệm của Nga khác nhau đứng xếp hàng, một số là phụ nữ, vai kề vai đứng trên những con đường làng, trên những cây cầu, những đèo núi chính và ở những điểm khác nữa. Khi vượt qua các ngọn núi và đi xuống phía Biển Đen, chúng tôi bất chọt đến một vùng ấm áp với ánh mặt trồi rục rỡ, một vùng khí hậu ôn hòa.

        Tổng hành dinh Xô Viết ở Yalta nằm trong Cung điện Yusupov, và từ trung tâm này Staline, Molotov và những vị tướng của họ đã điều hành hoạt động của chính phủ Nga, và đây là đầu não của mặt trận lớn, lúc này đang xảy ra cuộc chiến ác liệt của họ. Tổng thống Roosevelt được sắp xếp ở tại Cung điện Livadia tráng lệ hơn, ngay gần đấy, để tiện cho ông trong sinh hoạt, tất cả các phiên họp toàn thể của chúng tôi đều được tổ chức ở đây. Thế là chúng tôi đã dùng tất cả những chỗ chưa hề bị hư hại ở đó. Tôi và các thành viên quan trọng của đoàn đại biểu Anh được bố trí ở một tòa biệt thự rất rộng cách đấy chùng năm dặm được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ mười chín bởi một kiến trúc sư người Anh dành cho Hoàng thân Vorontzov, người đã từng là Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền Nga ở Triều đình St. James. Những người còn lại của đoàn chúng tôi được bố trí vào hai nhà nghỉ cách đó chùng 20 phút di chuyển, năm hay sáu người gì đó cùng ngủ chung một phòng, kể cả các quan chức cao cấp, nhưng dường như chẳng có ai để ý đến việc đó cả. Quân Đức đã rút khỏi vùng lân cận này chỉ trước đó mười tháng, và những tòa nhà xung quanh đó bị hư hỏng nặng. Chúng tôi được báo trước rằng vùng này chưa được dọn sạch mìn, chỉ trừ nền nhà của ngôi biệt thự, nơi mà như thường lệ, đã được lính gác Nga tuần tra rất kỹ. Hơn một nghìn người đã dọn dẹp sạch ở đây trước khi chúng tôi đến. Những cửa sổ và của lớn đã được sửa chữa và đồ đạc trong nhà, đồ dự trữ thì được đem tới đây từ Matxcova.

        Việc bài trí nơi ở của chúng tôi rất ấn tượng. Phía sau ngôi biệt thự, nửa kiểu Gothic và nửa kiểu Moorish là những ngọn núi, phủ đầy tuyết, lên đến đỉnh cao nhất ở Crimea. Trước mặt chúng tôi, Biển Đen trải rộng, khắc nghiệt nhưng vẫn hài hòa và ấm áp ngay cả ở thời gian này trong năm. Nhũng con sư tử trắng được chạm khắc ngay ở lối vào ngôi nhà, và bên kia sân là một công viên rất đẹp trồng những cây vùng cận nhiệt đới và những cây bách. Trong phòng ăn, tôi nhận ra hai bức tranh treo hai bên bệ lò sưởi là những bản sao của những bức họa gia đình Herberts ở Wilton. Thì ra Hoàng thân Vorontzov đã cưới một người con gái của gia đình này và đã đem những bức ảnh này về từ Anh Quốc. Những người chủ nhà của chúng tôi cố gắng hết sức để chúng tôi thoải mái ở đây và bất cứ một nhận xét gì của chúng tôi đều được họ ghi nhận với một thái độ quan tâm chu đáo nhất. Trong một dịp nào đó, Portal đã thán phục cái bể thủy tinh lớn có trồng cây ở bên trong và nhận xét rằng chẳng có một con cá nào trong bể cả. Hai ngày sau đó, những con cá vàng đã được gửi đến. Một lần khác ai đó đã buột miệng nói rằng không có vỏ chanh trong món rượu Cocktail, ngay ngay hôm sau một cây chanh đầy quả đã được đem trồng vào trong sảnh. Tất cả những thứ đó đều chỉ có thể được vận chuyển bằng đường hàng không từ xa đến.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #546 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:17:47 PM »


*

        Phiên họp toàn thể đầu tiên của Hội nghị bắt đầu lúc 4 giờ 55 chiều ngày 5 tháng Hai. Cuộc thảo luận bắt đầu về vấn đề tương lai cho nước Đức. Dĩ nhiên là tôi đã rất cân nhắc vấn đề  này và tôi đã gửi cho ông Eden cách đây một tháng.

        Việc đối xử với nước Đức sau chiến tranh, thật là quá sớm để chúng tôi quyết định những vấn đề quá lớn như thế này. Hiển nhiên rằng khi việc tổ chức kháng cự của quân Đức chấm dứt, giai đoạn đầu tiên sẽ là việc kiểm soát quân sự khắt khe. Điều này có thể tiếp tục tốt đẹp trong nhiều tháng, hay có lẽ là trong một vài năm, nếu phong trào bí mật của Đức hoạt động tích cực... Tôi sẽ bị phản đối bất cứ khi nào tôi nêu ý kiến theo suy nghĩ tiềm ẩn của mình, điều sẽ được khơi dậy bởi một cách giải quyết "lại đặt nước Đức bất hạnh trên chính đôi chân của nó". Tôi cũng biết rất rõ những tranh luận về cái gọi là: "không thể có một cộng đồng đã bị đầu độc ở trung tâm của châu Âu". Tôi đã gọi ý rằng, với tất cả những công việc mà chúng tôi đang làm hiện nay, chúng tôi không nên dự kiến trước những cuộc thảo luận và những bất đồng đau thương này, vì điều đó là có thể có. Tôi phải nghĩ tới một Quốc hội mới, là nơi sẽ có những ý kiến mà chúng tôi không thể nói trước được.

        Chính bản thân tôi cũng mong muốn được tập trung vào những vấn đề thực tế, những vấn đề sẽ là thống lĩnh trong hai hay ba năm tới, hơn là ban cãi về mối quan hệ lâu dài của Đức đối với châu Âu... Thật là sai lầm khi cố gắng viết ra trên những mẩu giấy nhỏ về cái thế giới bị tổn thương và đang run rẩy này cảm nhận được những gì ngay sau cuộc chiến kết thúc, hay khi cái lạnh sẽ xuất hiện một cách không thể tránh khỏi thay cái nóng, hay khi cái lạnh thủy triều đầy kinh hoàng trong cảm xúc này ngự trị trong hầu hết tâm trí loài người, và những nhân vật độc lập có xu hướng trở nên không chỉ cô độc, mà còn thất thường nữa. Sự chỉ dẫn về những vấn đề có tính trần tục đến với chúng tôi từ từ, hoặc cùng lắm là phải đợi thêm một hai bước nữa. Vì vậy cần có sự sáng suốt trong việc bảo lưu những quyết định của riêng mình càng lâu càng tốt và cho đến khi tất cả những sự kiện và thế lực có thể phát huy uy lực của mình vào thời điểm nay bị phơi bày ra.

        Cho nên khi Staline hỏi tại sao nước Đức lại bị chia cắt, tôi bảo rằng quả thật là quá phức tạp để chuyện đó có thể giải thích ổn thỏa trong năm hay sáu ngày. Nó đòi hỏi phải có một cuộc tìm kiếm những sự thật về lịch sử, dân tộc học và kinh tế học, và phải có sự  xem xét lại tương đối lâu của một ủy ban đặc biệt, ủy ban này có thể đề xuất nhiều đề nghị và gợi ý khác nhau về những vấn đề này. Có rất nhiều điều phải được cân nhắc. Phải làm gì với nước Phổ? Lãnh thổ nào có thể giao cho Ba Lan và Nga? Ai sẽ được quyền kiểm soát thung lũng Rhine và những vùng công nghiệp rộng lớn như Ruhr và Saar? Phải thành lập ngay một cơ quan để xem xét những vấn đề này, và lẽ ra chúng tôi phải có bản báo cáo về vấn đề đó trước khi đi đến một quyết định cuối cùng. Ngài Roosevelt gọi ý yêu cầu các ngoại trưởng của chúng tôi lên kế hoạch để nghiên cứu vấn đề này trong vòng hai mươi tư tiếng đồng hồ và có một kế hoạch cụ thể về việc chia cắt nước Đức trong vòng một tháng ở đây, vấn đề này bị gác lại trong một thời gian.

        Sau đó chúng tôi bố trí gặp nhau vào ngày hôm sau và để xem xét hai vấn đề chủ yếu nhất trong những cuộc thảo luận này của chúng tôi, kế hoạch Dumbarton Oaks về vấn đề an ninh thế giới và Ba Lan.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #547 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:18:56 PM »


*

        Như đã đề cập đến ở một chương trước, hội nghị Dumbarton Oaks đã kết thúc mà không đi đến một sự thỏa thuận đầy đủ về vấn đề hết sức quan trọng là quyền bỏ phiếu trong Hội đồng Bảo an và thời gian lúc này không cho phép chúng tôi làm được một cái gì nhiều hơn là việc tham khảo một vài điểm nổi bật trong những cuộc thảo luận của chúng tôi. Staline nói ông ta e rằng, dù ba cường quốc hôm nay còn là đồng minh, và có lẽ không có một cường quốc nào sẽ thực hiện bất cứ hành động xâm lược nào, nhưng chỉ trong vòng mười năm, hoặc không đến, ba vị lãnh tụ sẽ không còn trên đời này nữa, và một thế hệ mới chưa hề trải qua chiến tranh có thể sẽ lên nắm quyền và sẽ quên đi những gì chúng tôi đã trải qua. Ông tuyên bố, "tất cả chúng ta muốn bảo đảm hòa bình ít nhất 50 năm. Nguy hiểm lớn nhất là những xung đột giữa ba chúng ta, bởi vì nếu chúng ta duy trì sự thống nhất, mối đe dọa của Đức sẽ không còn có ý nghĩa quan trọng nữa. Vì vậy bây giờ chúng ta phải nghĩ xem làm sao có thể bảo đảm được sự thống nhất giữa chúng ta trong tương lai và làm sao để đảm bảo rằng ba Cường quốc (và có thể còn có Trung Quốc và Pháp nữa) sẽ duy trì một mặt trận thống nhất. Hệ thống này phải được giải thích chi tiết để tránh những xung đột giữa các Cường quốc Chủ yếu". Người Nga bị buộc tội là đã nói quá nhiều về việc bỏ phiếu. Đúng, họ nghĩ điều đó là rất quan trọng, bởi vì mọi thứ sẽ được quyết định bằng bỏ phiếu, và họ sẽ rất quan tâm đến kết quả. Giả sử Trung Quốc là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an đòi lại Hồng Kông, hay Ai Cập đòi lại kênh Suez, ông nhận rằng họ không chỉ có một mình mà sẽ có những người bạn và có thể cả những người bảo vệ họ ở Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc hay là ở Hội đồng Bảo an, và ông ta sợ rằng những tranh chấp như thế sẽ phá vỡ đi sự thống nhất giữa ba Cường quốc.

        "Những đồng nghiệp của tôi ở Matxcova không thể quên những gì xảy ra trong tháng Mười Hai năm 1939, trong suốt cuộc chiến tranh Nga - Phần Lan, khi quân Anh và Pháp đã sử dụng chống lại chúng tôi và đã thành công trong việc cô lập Nga và khai trừ Liên Bang Xô Viết ra khỏi Hội và sau này khi họ vận động chống chúng tôi và nói đến một cuộc thập tự chinh chống lại Nga. Phải chăng chúng tôi không có cái gì đó để bảo đảm rằng những chuyện như vậy sẽ không xảy ra một lần nữa?"

        Sau cuộc đấu tranh và giải thích, chúng tôi thuyết phục ông ta chấp nhận kế hoạch của Mỹ rằng Hội đồng Bảo an sẽ gần như không có quyền lực trừ phi "Tứ Cường" nhất trí với nhau. Nếu Hoa Kỳ, Liên bang Xô Viết, Liên hiệp Anh và Trung Quốc không đồng tình trong bất cứ một vấn đền lớn nào, thì bất cứ một ai trong nhóm đó cũng có thể phủ nhận sự tán thành của đa số và được quyền buộc Hội đồng phải ngừng bất cứ chuyện gì. Đây là Quyền Phủ quyết. Thế hệ con cháu mai sau có thể sẽ phán xét những kết quả của nó.

        Chính bản thân tôi luôn giữ quan điểm rằng nền tảng của một Công cụ Thế giới nên được tìm kiếm trên cơ sở khu vực. Hầu hết các khu vực quan trọng đã tự nói lên điều đó - Hoa Kỳ, châu Âu Thống nhất, Khối Thịnh vượng chung và Đế quốc Anh, Liên bang Xô Viết, Nam Mỹ. Những khối khác bây giờ rất khó xác định - như nhóm châu Á hay các nhóm ở châu Âu, hay nhóm châu Phi - nhưng có thể xác định được qua nghiên cứu. Nhưng mục tiêu sẽ là có rất nhiều vấn đề tranh cãi khu vực gay gắt sẽ được đưa ra bàn luận một cách triệt để tại Hội đồng Khu vực, nơi sau này có thể cử ba hay bốn đại diện vào Cơ quan Tối cao, bằng cách chọn ra những người có địa vị quan trọng nhất. Điều này có thể tạo nên một nhóm Tối cao chừng ba mươi hay bốn mươi chính khách của thế giới, mỗi người chịu trách nhiệm không chỉ đại diện cho khu vực của họ mà còn bàn đến những sự nghiệp chung của thế giới, mà bắt đầu là việc ngăn chặn chiến tranh. Những gì chúng ta hiện có không hề tác động đối với mục tiêu nổi cộm này. Việc triệu tập tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, để bàn về các điều khoản chính xác liên quan đến cơ quan trung ương có thể được so sánh với tổ chức của một quân đội không có sự phân cấp nào giữa Bộ Tổng Tư Lệnh với Tư lệnh của các sư đoàn, lữ đoàn. Tất cả đều được mời tới Tổng hành dinh. Sự hỗn độn do những cố gắng vận động hành lang là tất cả những kết quả đạt được cho tới nay. Nhưng chúng tôi vẫn phải kiên trì.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #548 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:27:31 PM »


23

NGA VÀ BA LAN : LỜI HỨA HẸN CỦA XÔ VIẾT

        Vấn đề Ba Lan đã được bàn bạc ở không ít hơn bảy trong số tám phiên họp toàn thể của Hội Nghị Yalta và một bản tường trình của Liên Hiệp Anh về việc trao đổi nội bộ về chủ đề này giữa Staline, Roosevelt và tôi dài đến gần tám mươi ngàn từ. Được sự trợ giúp của các Ngoại Trưởng của mình và những người dưới quyền họ, cũng là những người đã tổ chức những cuộc tranh cãi căng thẳng và chi tiết ở những cuộc gặp riêng giữa từng nhóm, cuối cùng chúng tôi đã cho ra một tuyên bố giới thiệu cả tương lai hứa hẹn cho thế giới và sự nhất trí giữa chúng tôi về những hành động trong tương lai. Câu chuyện đau lòng này vẫn chưa kết thúc và những sự thật lúc đó chưa được biết đến một cách hoàn hảo, nhưng những gì đưa ra ở đây có thể đóng góp vào việc đánh giá một cách đúng đắn về những nỗ lực của chúng tôi vào hội nghị áp chót của những Hội Nghị thời chiến tranh. Những khó khăn, những vấn đề cũ kỹ còn nhiều và rất cấp bách. Chính phủ Lublin được Xô Viết bảo trợ của Ba Lan, hay chính phủ "Varsovie" như tất cả những người Nga dưới tất cả những cái tên khác nhau thích gọi như thế hơn, nhìn nhận Chính phủ Ba Lan ở Luân Đôn với sự hận thù cay nghiệt. Cảm thấy quan hệ giữa họ ngày càng trở nên tồi tệ, không tốt lên thêm được, từ sau cuộc họp của chúng tôi hồi tháng Mười ở Matxcova, những đội quân Xô Viết đang tràn về dọc theo biên giới Ba Lan và quân đội bí mật của Ba Lan đang bị buộc tội một cách tùy tiện là những kẻ sát hại những người lính Nga và là những phần tử tấn công phá hoại ở khu vực hậu phương và các tuyến đường giao thông. Sự tiếp cận và trao đổi thông tin của họ đối với các cường quốc phương tây đã bị cự tuyệt. Ở Ý và ở Mặt trận phía Tây, 150.000 lính Ba Lan đang dũng cảm chiến đấu để đánh bại các đạo quân Quốc Xã. Họ và những người khác ở nhiều miền khác nhau ở châu Âu đang háo hức trông chờ sự giải phóng đất nước và một cuộc quay trở về tổ quốc sau thời gian lưu đầy tự nguyện mà vẻ vang này. Một cộng đồng lớn những người Ba Lan ở Hoa Kỳ đang lo lắng trông chờ sự giải quyết ổn thỏa của ba Cường quốc.

        Những vấn đề mà chúng tôi thảo luận có thể được tóm tắt như sau:

        - Làm sao để xây dựng một Chính phủ Lâm thời duy nhất cho Ba Lan.

        - Làm sao và khi nào sẽ tổ chức một cuộc bầu cử tự do.

        - Làm thế nào để ổn định các miền biên giới Ba Lan, cả ở phía đông và phía tây.

        - Làm sao để giữ vững an toàn cho các vùng hậu phương và những tuyến đường giao thông của các đạo quân Xô Viết đang tiến tới.

        Ba Lan thật sự đã trở thành một lý do cấp bách nhất thế giới để mở Hội nghị Yalta và được chứng tỏ là một trong những nguyên do lớn nhất có thể dẫn đến sự tan vỡ của Khối Đồng minh. Chính bản thân tôi khẳng định rằng một nước Ba Lan vững mạnh tự do và độc lập là quan trọng nhiều hơn những ranh giới lãnh thổ riêng biệt nào đó. Tôi muốn người Ba Lan được sông tự do và tự quyết định cuộc sống của họ. Chính vì thế mà chúng tôi đã tham gia chiến tranh chống lại quân Đức năm 1939. Cuộc chiến đã gần như cướp đi cuộc đời của chúng tôi, không chỉ với tư cách một đế chế, mà là cả một dân tộc, và khi chúng tôi gặp nhau vào ngày 6 tháng Hai năm 1945, tôi đã đặt vấn đề như sau: Liệu chúng ta có thể không thành lập một Chính phủ hay một công cụ chính phủ cho Ba Lan, mà trông chờ một cuộc bầu cử phổ thông và tự do, nó có thể được mọi người thừa nhận? Một chính phủ như vậy sẽ có thể chuẩn bị cho một cuộc bỏ phiếu tự do của người Ba Lan theo hiến pháp và hệ thống hành chính trong tương lai. Nếu thực hiện được điều này, chúng ta có thể tiến một bước lớn về phía trước hòa bình và sự thịnh vượng trong tương lai của miền Trung Âu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #549 vào lúc: 24 Tháng Tư, 2019, 09:29:18 PM »


        Trong một cuộc tranh luận sau đó, Staline cho rằng ông đã hiểu thái độ của chúng tôi. Đối với người Anh, ông nói, Ba Lan là một vấn đề về niềm tự hào nhưng đối với người Nga đó là vấn đề của cả niềm tự hào và an ninh; tự hào là vì họ đã có những cuộc xung đột với người Ba Lan và họ mong muốn loại ra những nguyên do của những cuộc xung đột như vậy; an ninh là vì Ba Lan giáp với những miền biên giới của Nga, và trong lịch sử Ba Lan đã là một hành lang mà qua đó những kẻ thù của Nga đã đi qua để tấn công nước Nga. Quân Đức đã làm như vậy hai lần trong vòng 30 năm trở lại đây và họ có thể làm như vậy vì Ba Lan rất yếu. Nga muốn Ba Lan là một nước mạnh và có thế lực để họ có thể tự đóng cửa cái hành lang này bằng chính sức lực của mình. Nước Nga không thể để một thế lực bên ngoài đóng của cái hành lang đó. Nó chỉ có thể đóng được lại từ bên trong bởi chính Ba Lan. Đây là một vấn đề, một vấn đề sống còn của nhà nước Xô Viết.

        Về các miền biên giới của họ, Staline tiếp tục nói rằng Tổng thống  đã gọi ý sửa đổi chút ít cho Đường Curzon và rằng Lvov và có thể một so huyện lỵ khác nào đó sẽ được trao về cho Ba Lan, và tôi đã nói rằng đây sẽ là một cử chỉ hào hiệp. Nhưng ông ta chỉ ra rằng không phải người Nga đã phát minh ra Đường Curzon. Đường này đã được Curzon và Clemenceau và những đại diện của Hoa Kỳ vạch ra tại hội nghị năm 1918, mà ở hội nghị đó Nga đã không được mời. Đường Curzon đã được chấp nhận không theo ý nguyện của Nga trên cơ sở những dử liệu về dân tộc học. Lê-nin đã không đồng ý về chuyện đó. Những người Nga rút lui quan điểm của Lê-nin, và bây giờ ai đó lại muốn Nga sẽ lấy ít hơn phần mà Curzon và Clemenceau đã nhượng bộ. Điều này thật đáng hổ thẹn. Khi những người Ukraina đến Matxcơva họ sẽ nói rằng Staline và Molotov là những người bảo vệ không đáng tin cậy của Nga bằng Curzon hay Clemenceau. Việc này sẽ thật sự tốt hơn nếu như chiến tranh sẽ kéo dài lâu hơn một chút, cho dù nó có lấy đi của người Nga rất nhiều máu, để cho Ba Lan có thể lấy được đền bù bằng chi phí của nước Đức. Khi Mikolajczyk ở Nga trong tháng Mười, ông đã hỏi xem đường biên giới nào giữa Ba Lan - Nga sẽ được công nhận ở phía Tây, và ông đã rất vui mừng khi nghe rằng nước Nga cho rằng biên giới phía Tây của Ba Lan sẽ mở rộng ra vùng Neisse. Có hai con sông cùng mang tên đó, Staline nói, một con sông ở gần Breslau và một con sông nữa ở xa hơn về phía Tây. Ông ta đã nghĩ đến chính là nhánh phía Tây của sông Neisse.

        Nhưng khi chúng tôi gặp nhau vào ngày 7 tháng Hai, tôi nhắc nhở những thính giả của tôi, luôn luôn tán thành việc di chuyển biên giới của Ba Lan về phía Tây bằng cách nói rằng người Ba Lan sẽ tự do khi nhận lấy lãnh thổ ở phía Tây, nhưng không nhiều hơn những gì họ mong đợi hay hiển nhiên có thể cố gắng đạt được. Thật là rất đáng tiếc khi nhồi vào con ngỗng Ba Lan một lượng thức ăn Đức quá nhiều để nó có thể bị chết vì bội thực... nhiều dư luận ở Anh đã bị sốc bởi ý tưởng sẽ phải di chuyển hàng triệu người bằng vũ lực. Nhũng thành công vĩ đại đã đạt được nhờ việc gỡ rối vấn đề dân số của Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ sau cuộc chiến tranh cuối cùng, và cả hai nước đã có những mối quan hệ tốt đẹp kể từ đó, nhưng trong trường hợp  này, gần hai triệu người đã bị di chuyển. Nếu Ba Lan lấy đi phần Đông của nước Phổ và Silesia cho đến vùng Oder, chỉ riêng điều đó sẽ có nghĩa là di chuyển sáu triệu người trở về nước. Điều đó có thể làm được, chỉ còn tùy thuộc vào ý nghĩa phải trái của vấn đề, điều mà tôi phải giải quyết ổn thỏa trong dân chúng của mình.

        Staline nói không có người Đức trong những vùng đó, vì tất cả bọn họ đã chạy khỏi đây rồi. Tôi trả 1ời rằng vấn đề là có còn chỗ cho họ không trong những phần còn lại của nước Đức. Sáu hay bảy triệu người Đức đã bị giết hại và khoảng một triệu người khác (Staline nói rằng hai triệu) chắc chắn sẽ có thể bị giết trước khi chiến tranh kết thúc. Vì vậy, sẽ phải có chỗ cho những người nhập cư ở một thời điểm nào đó. Họ sẽ rất là cần thiết để lấp đi chỗ trống. Tôi không sợ vấn đề di dân, một khi điều đó là tương xứng với những gì mà Ba Lan có thể làm được cái gì đó có thể đưa vào nước Đức. Nhưng đó là một vấn đề đòi hỏi cần được nghiên cứu, không phải là một vấn đề nguyên tắc, mà là một trong những những vấn đề mà chúng ta phải xử lý. Trong những cuộc thảo luận chung này, bản đồ không được dùng đến, và như lẽ thường tình sự phân biệt giữa miền đông và miền tây sông Neisse không được rõ ràng. Tuy nhiên, điều này sẽ sớm được làm rõ.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM