Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Mười Một, 2019, 06:32:12 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20508 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #520 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:18:59 AM »


        Các dữ kiện giờ đây biến chuyển rất nhanh. Một trong các sư đoàn của ông đã chiếm được vị trí của địch bên kia sông Irrawaddy, vào khoảng bốn mươi dặm về phía bắc Mandalay, và suốt tháng Hai họ đã đánh bật hàng loạt những cuộc phản công ác liệt. Ngay 12 tháng Hai, sư đoàn 20 đã vượt sông ở đoạn phía dưới và tiến về phía tây Mandalay. Trong vòng nửa tháng, họ đã có những trận chiến gay go để giữ vững những gì họ chiếm được, nhưng đúng lúc đó họ đã được Sư Đoàn số 2 của Anh sát nhập vào. Điều này đã thuyết phục Bộ Chỉ huy tối cao Nhật Bản rằng một trận chiến quyết định sẽ sớm xảy ra, và chúng đã cử tới đó một số lượng quân tăng viện. Chứng đã không tin rằng có thể có một mũi tấn công quan trọng ở sườn, và thậm chí còn điều đến Slim một sư đoàn mà chúng đã để dành một cách khó khăn. Tuy nhiên, đây chính là cái đòn mà Tướng Slim đã chuẩn bị. Ngày 13 tháng Hai, Sư Đoàn 7 vượt qua Irrawaddy ở phía nam Pakokku, và hình thành một vị trí nằm trên phía địch. Quân địch nghĩ rằng đây chỉ là một sự chuyển hướng nào đó, nhưng chẳng mấy chốc chúng đã được thông tin đầy đủ hơn. Ngày 21, hai lữ đoàn cơ giới của sư đoàn 17 và một lữ đoàn xe tăng đã lao ra từ đầu cầu và tiến đến Meiktila vào ngày 28. Đây là trung tâm hành chính quan trọng của mặt trận chủ yếu của Nhật, là đầu mối giao thông của chúng và là nơi tập trung nhiều phi trường. Nó được bảo vệ rất mạnh, và quân địch đã cấp tốc điều hai sư đoàn đến tiếp viện cho đơn vị đồn trú, nhưng chúng đã bị kìm chân ở đó khá xa trước khi viện binh của chúng tôi đến. Sau một tuần lễ chiến đấu gay go, thị trấn đã nằm trong tay chúng tôi và tất cả nỗ lực để chiếm lại nó đều bị đẩy lùi. Người Nhật đã thừa nhận mất năm ngàn quân và một số lượng bị thương tương đương trong một trận đánh mà Tổng Tư lệnh của chúng đã từng mô tả là "đòn quan trọng trong chiến lược của Đồng minh".

        Ở rất xa về phía đông bắc, Tướng Sultan cũng tiếp tục di chuyển, và vào giữa tháng Ba, ông ta đã đến được con đường nối Lashio tới Mandalay. Nhưng Tưởng Giói Thạch giờ đây lại buộc chúng tôi phải ngừng lại. Ông ta đã khăng khăng đòi di chuyển họ và đề nghị Tướng Slim phải tạm ngưng việc tiến quân của mình khi đã chiếm được Mandalay. Đây chính xác là những gì Mountbatten đã e ngại khi ông lập kế hoạch một tháng trước đó, và trong sự kiện này người Nhật đã có thể rút hai trong số ba sư đoàn của họ từ mặt trận này và điều chúng đến chống lại binh đoàn 14 của chúng tôi.

        Những trận chiến kết hợp ác liệt ở Mandalay và Meiktila kéo dài suốt tháng Ba. Ngày 9, chúng tôi đã vào Mandalay, và đồi Mandalay, cao 780 feet so với vùng đất xung quanh, đã bị chiếm trong vòng hai ngày, nhưng bọn Nhật đã kháng cự rất hăng, và những tên lửa bình thường không thể bắn xuyên qua những bức tường đồ sộ của pháo đài Dufferin. Cuối cùng một khoảng trống đã được phá bằng những quả bom loại 2.000 cân Anh, và vào ngày 20, quân địch đã tháo chạy. Trong lúc đó những đơn vị còn lại của quân đoàn 33 tiếp tục đánh tới Meiktila. Họ gặp phải đối phương rất đông trong khi Tổng Tư lệnh Nhật, mặc dù có sự can thiệp của sư đoàn 17 phía sau mặt trận của y, cho đến lúc đó vẫn chưa tỏ một dấu hiệu nào của việc rút quân, và các đạo quân thì đều ngang tài ngang sức. Nhưng đến cuối tháng, quân địch đã ngừng chống cự và bắt đầu lao đầu về phía sau xuôi theo con đường chính đến Toungoo và Rangoon, và đi qua những ngọn núi để về phía đông.

        Tuy nhiên, những trận đánh kéo dài lâu hơn nhiều so với điều chúng tôi chờ đợi. Tướng Sultan đã bị chặn lại trên đường Lashio, và giờ đây không có triển vọng gì là binh đoàn 14 sẽ đến được Rangoon vào giữa tháng Tư. Thật ra, sẽ rất đáng nghi ngờ  nếu họ có thể đến đó trước khi có gió mùa. Vì vậy cuối cùng Mountbatten đã quyết định mở một cuộc tập kích hải lục quân vào thị trấn. Điều này hẳn là quá nhỏ nhoi so với những cái gì chúng tôi đã hy vọng, và thậm chí như thế, nó cũng sẽ không thể được bắt đầu trước tuần đầu tiên của tháng Năm. Đến lúc đó có thể là đã quá muộn.

        Tuy nhiên tướng Slim đã quyết định không chỉ đến Rongoon mà còn giăng một cái lưới kép xuống miền nam Miến Điện, và bẫy quân địch bên trong đó. Vì vậy quân đoàn 33 từ Meiktila đã chuyển xuống Irrawaddy với những mũi thọc sâu chồng chéo và đến được Prome vào ngày 2 tháng Năm. Quân đoàn số 4, những người chiến thắng ở Imphal và Mandalay, đã tiến quân thậm chí còn nhanh hơn theo đường bộ và đường sắt về phía đông. Một đội hình thiết giáp, các lữ đoàn cơ giới của sư đoàn 5 và 17, tiến theo kiểu đan chéo nhau, đã đến Toungoo ngày 22 tháng Tư. Bước nhẩy vọt tiếp theo là đến Pegu, nơi mà nếu chiếm giữ được sẽ chặn được đường thoát ở phía cực nam của quân thù đang rút đi từ miền nam Miến Điện. Các mũi tiến quân của chúng tôi đã đến đó ngày 29 tháng Tư. Chiều hôm đó, một trận mua xối xả đã đổ xuống, báo trước một đợt gió mùa sớm. Các đường băng phía trước đã không thể sử dụng được, xe tăng và xe cộ không thể xuất phát được. Bọn Nhật đã huy động bất cứ ai có thể được để giữ thị trấn và những cầy cầu bắc qua sông. Ngay 2 tháng Năm, sư đoàn 17 cuối cùng đã đánh vào được, với hy vọng sẽ đến Rangoon trước tiên, và chuẩn bị tiến nốt vài dặm còn lại.

        Nhưng ngày 2 tháng Năm cũng là ngày chiến thắng của cuộc tập kích hải lục quân. Những máy bay ném bom hạng nặng của Đồng minh đã tấn công lực lượng phòng thủ đang chặn ngang lối vào khu vực sông Rangoon sớm trước hai ngày. Ngày 1 tháng Năm, một tiểu đoàn dù đã được thả xuống chỗ quân phòng thủ và con kênh này đã được mở cho việc dọn mìn. Ngày hôm sau, những chiếc tàu của sư đoàn 26, được tốp 224 Không quân Hoàng gia yểm trợ, đã đến của sông. Một máy bay do thám "con muỗi" đã bay qua Rangoon và không tìm thấy dấu vết gì của quân thù. Đội bay hạ cánh xuống phi trường gần đó, theo đường bộ đi vào thành phố, được một số tù binh của chúng tôi đón chào. Tin rằng cuộc tấn công bằng hải lục quân chắc chắn sê xảy ra không bao xa nữa, các đơn vị đồn trú của Nhật đã rời đi vài ngày trước đó để giữ Pegu. Chiều hôm đó, đợt gió mùa đã tràn về với toàn bộ sức mạnh của nó và Rangoon đã thất thủ chỉ trong một vài giờ.

        Lực lượng hải lục quân đã nhanh chóng đến được Pegu và Prome. Nhiều ngàn quân Nhật đã bị mắc kẹt trong đó và trong suốt ba tháng tiếp theo, một số lớn hơn đã bỏ mạng trong khi nỗ lực để thoát ra về phía đông. Thế là kết thúc một trận chiến đấu dai dẳng trong đó binh đoàn 14 đã chiến đấu anh dũng, vượt qua mọi trở ngại và đã đạt được cái dường như không thể đạt được.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #521 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2019, 02:09:05 AM »


17

CUỘC CHIỀN Ở VỊNH LEYTE

        Cuộc chiến trên đại dương chống lại Nhật Bản cũng đã lên đến cao điểm. Từ Vịnh Bengal đến trung tâm Thái Bình Dương, sức mạnh hải quân Đồng minh đang thăng hoa. Việc tổ chức  và sản xuất vũ khí của Hoa Kỳ đang sải những bước dài và đã đạt đến qui mô đáng kinh ngạc. Riêng một ví dụ sau cũng có thể minh họa được tầm cỡ và sự thành công trong nỗ lực của Hoa Kỳ. Mùa thu năm 1942, chỉ có ba tàu sân bay Hoa Kỳ hoạt động, một năm sau đó, có 50 chiếc và đến khi chiến tranh kết thúc đã có hơn một trăm chiếc. Thành tựu này đã được sánh với sự phát triển của ngành sản xuất máy bay, cũng đáng chú ý không kém. Sự tiến bộ của các lực lượng vĩ đại này được tiếp sức bởi một chiến lược mạnh bạo, một chiến lược cụ thể, mới lạ và hiệu quả. Nhiệm vụ mà giờ đây họ đang phải đối mặt là hết sức khó khăn.

        Một dải đảo, dài gần hai ngàn dặm, trải dài về phía nam trên Thái Bình Dương từ Nhật Bản đến Marianas và Carolines. Trong đó nhiều đảo đã được quân địch phòng thủ và được trang bị những phi trường tốt, ở điểm cực nam của giải đảo này là căn cứ thủy quân Truk của Nhật Bản. Phía sau tấm rào chắn bằng những quần đảo này là Đài Loan, quần đảo Philippines, Trung Quốc, trong khu vực đó có các con đường tiếp tế cho các vị trí tiền tiêu khác của quân địch chạy qua. Vì vậy không thể xâm nhập hay thả bom vào chính nước Nhật. Trước hết phải phá vỡ dải đảo này. Chế ngự và chinh phục từng hòn đảo được phòng thủ này sẽ mất rất nhiều thời gian, chính vì vậy người Mỹ đã tiến quân theo kiểu nhảy cóc. Họ chỉ chiếm những hòn đảo  quan trọng và bỏ qua những hòn đảo còn lại; nhưng sức mạnh hải quân của họ giờ đây to lớn và phát triển nhanh đến mức họ có thể thiết lập được những tuyến đường giao thông riêng cho mình, và phá hoại các tuyến giao thông của địch, làm cho quân phòng ngự ở những hòn đảo họ đi qua bất động và bất lực. Phương pháp tấn công của họ gần như đã thành công. Đầu tiên là những cuộc tấn công làm nhụt chí quân địch bằng máy bay từ các tàu sân bay, tiếp theo là dùng pháo dập ác liệt và đôi khi kéo dài từ ngoài biển, và cuối cùng là cuộc đổ bộ hải lục quân và trận chiến trên đất liền. Khi đã đánh xong một hòn đảo và biến thành nơi đồn trú, các máy bay trên đất liền sẽ vào và đánh gục những cuộc phản công. Đồng thời chúng cũng có ích cho lần tràn vào tiếp theo. Các hạm đội hoạt động theo đội hình kiểu bậc thang. Trong khi một nhóm tiến hành trận chiến, nhóm khác chuẩn bị cho bước nhảy mới. Điều này cần có những nguồn lực rất lớn, không chỉ để chiến đấu, mà còn để phát triển những căn cứ dọc theo tuyến tiến quân. Người Mỹ đã chiếm được tất cả trong những bước sải như vậy.

*

        Tháng Sáu năm 1944 cuộc tấn công theo hai cánh của Hoa Kỳ qua Thái Bình Dương đã tiến triển tốt đẹp. Ở miền đông nam, Tướng Mac Arthur đã sắp hoàn thành việc chinh phục New Guinea, và ở miền trung tâm Đô đốc Nimitz đang ép sâu vào dãy đảo đã được phòng thủ. Cả hai đang cùng lao về phía quần đảo Philippines, và giành giật lấy vùng này sẽ sớm dẫn đến sự tan vỡ của hạm đội Nhật Bản. Nó đã bị yếu đi rất nhiều và rất thiếu các tàu sân bay, nhưng hy vọng sống sót duy nhất của Nhật Bản là giành chiến thắng trên biển. Để giữ sức cho nước cờ liều lĩnh, hiểm độc và có tính chất sống còn này, đội quân chủ lục đã rút lui khỏi Truk và giờ đây đang phân tán ra giữa miền đông Ấn và vùng lãnh hải của nó, nhưng các sự kiện đã nhanh chóng lôi nó vào cuộc. Đầu tháng Sáu, Đô đốc Spruance cùng các tàu sân bay đã đánh quần đảo Marianas, và ngày 15 ông đã đổ bộ lên hòn đảo đang được phòng thủ Saipan. Nếu ông chiếm được Saipan và các hòn đảo lân cận Tinian và Guam, tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch sẽ bị phá vỡ. Mối de dọa thật là kinh khủng, và hạm đội Nhật Bản đã quyết định can thiệp. Ngày hôm đó, năm trong số các tàu chiến và chín tàu sân bay của chúng đã xuất hiện ở gần quần đảo Philippines, tiến về phía đông. Spruance có thừa thời gian để bố trí lực lượng. Mục đích   chính của ông là bảo vệ cuộc đổ bộ lên Saipan. Ông ta đã   làm được điều này. Sau đó ông ta tập hợp những chiếc tàu của mình lại, mười lăm trong số đó là tàu sân bay, và chờ đón quân địch tiến về phía tây của hòn đảo. Vào ngày 19 tháng Sáu, máy bay của Nhật xuất phát từ hàng không mẫu hạm đã tấn công hạm đội tàu sân bay của Mỹ từ mọi phía, và cuộc chiến trên không tiếp diễn suốt ngày hôm đó. Người Mỹ bị thiệt hại chút ít, các phi đội máy bay của Nhật đã bị đánh cho tan tác đến mức các hàng không mẫu hạm của chúng phải rút lui.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #522 vào lúc: 23 Tháng Ba, 2019, 02:09:57 AM »


        Đêm hôm đó Spruance đã truy tìm một cách vô vọng kẻ địch vừa bị đánh tan. Cuối chiều ngày 20, ông đã phát hiện ra chúng cách đó chừng hai trăm năm mươi dặm. Tấn công ngay trước khi mặt trời lặn, không quân Mỹ đã đánh chìm một tàu sân bay và phá hỏng nhiều chiếc khác, không kể một tàu chiến và một tàu tuần dương hạng nặng. Trước ngày hôm đó tàu ngầm Mỹ đã đánh chìm hai tàu sân bay lớn. Không thể có cuộc tấn công  nào nữa, một số ít còn lại của hạm đội địch đã tìm cách thoát thân, nhưng sự bỏ chạy của chúng đã định đoạt số phận của Saipan. Mặc dù các đơn vị đồn trú đã chống trả quyết liệt, các cuộc đổ bộ vẫn tiếp tục, quân Đồng minh trên đảo ngày một đông, và vào ngày 9 tháng Bảy toàn bộ cuộc kháng cự có tổ chức đã kết thúc. Đồng minh đã thắng trên các hòn đảo lân cận Guam và Tinian, và vào những ngày đầu tiên của tháng Tám chúng tôi đã hoàn thành việc chiếm giữ quần đảo Marianas.

        Sự thất thủ của Saipan là cú sốc lớn đối với Tổng Tư lệnh quân đội Nhật, và đã gián tiếp dẫn đến việc giải thể Chính phủ của Tướng Tojo. Mối lo của địch là hoàn toàn có cơ sở. Pháo đài nằm cách Tokyo chừng hơn một nghìn ba trăm dặm một chút. Chúng tôi đã tin rằng nó kiên cố đến mức không thể đột nhập vào được, thế nhưng giờ đây nó đã thất thủ. Các khu vực phòng ngự phía nam đã bị cắt rời và các máy bay ném bom hạng nặng của Mỹ đã chiếm được một căn cứ hạng nhất để tấn công vào chính đất nước Nhật. Trong suốt thời gian dài, các tàu ngầm Mỹ đã đánh chìm các tàu buôn Nhật Bản dọc theo bờ biển Trung Quốc, và giờ đây con đường đã được mở rộng cho các tàu chiến khác tham gia vào cuộc tấn công ác liệt. Dầu và các nguyên liệu thô của Nhật sẽ bị cắt nếu quân Mỹ tiến xa hơn nữa. Hạm đội Nhật Bản vẫn còn mạnh, nhưng không cân đối, và yếu về tàu khu trục, tàu sân bay và phi hành đoàn, đến mức nó không thể chiến đấu có hiệu quả nếu không có máy bay xuất phát từ đất liền. Nhiên liệu đang khan hiếm, không chỉ cản trở việc tập luyện mà còn làm cho những chiếc tàu không thể tập kết được vào một nơi, vì vậy đến cuối mùa hè hầu hết các tàu lớn và tuần dương hạm vẫn neo gần Singapore và nơi tiếp tế tàu dầu ở vùng đông Ấn thuộc Hà Lan, trong khi một số ít các tàu sân bay còn sống sót vẫn cứ ở lại trên vùng biển quê nhà, nơi những tốp không quân mới của chúng đang hoàn thành việc tập luyện, cảnh ngộ khốn khó của quân đội Nhật đã khá hơn một chút ít. Mặc dù số lượng vẫn con đông, chúng phải trải quân khắp Trung Quốc và Đông Nam Á, hoặc dàn mỏng quân trên các hòn đảo xa xôi nơi tiếp tế không thể đến được. Những kẻ điềm tĩnh trong số các lãnh đạo của kẻ thù đã bắt đầu tìm cách này cách khác để chấm dứt chiến tranh; nhưng bộ máy quân sự đã quá mạnh đối với họ. Bộ Tổng tư lệnh quân đội Nhật đã đưa quân tăng viện từ Mãn Châu, và hạ lệnh đánh một trận để chiếm lại cả Đài Loan và quần đảo Philippines. ở đây và ở quê nhà các đội quân Nhật sẽ tử thủ. Bộ Hải quân Nhật cũng không kém phần kiên quyết. Nếu chúng thua trong trận chiến giành lại các hòn đảo sắp tới, nguồn dầu từ vùng Đông Ân sẽ bị cắt. Chúng lý luận rằng nếu không có nhiên liệu thì việc bảo toàn đội tàu cũng chẳng ích lợi gì. Kiên quyết hi sinh nhưng đầy hy vọng chiến thắng, vào tháng Tám chúng quyết định điều toàn bộ hạm đội vào trận chiến.

        Ngày 15 tháng Chín, người Mỹ lại tiến thêm một bước nữa. Tướng Mac Arthur đã chiếm đảo Morotal nằm giữa mũi phía tây của New Guinea và Philippines, và Thủy sư đô đốc Halsey, người lúc này đảm nhiệm việc chỉ huy lực lượng hải quân Mỹ, đã chiếm được một căn cứ hiện đại cho hạm đội của mình ở nhóm đảo Palau. Những biến đổi đồng thời nay có tầm quan trọng lớn. Cùng lúc đó, Halsey tiếp tục thử sức quân phòng thủ của địch với toàn bộ lực lượng của mình. Ông hy vọng rằng theo cách này sẽ giúp ông tiêu diệt hạm đội Nhật, đặc biệt là những tàu sân bay con lại. Bước nhảy vọt tiếp theo sẽ chính là ở Philippines, và giờ đây đã có sự thay đổi gây ấn tượng mạnh trong kế hoạch của Hoa Kỳ. Cho đến lúc đó, mục đích của các nước Đồng minh chúng tôi là xâm chiếm phần cực nam quần đảo Philippines, đảo Mindanao, và máy bay trên các hàng không mẫu hạm của Halsey tấn công các phi trường của Nhật Bản, cả ở đó và trên hòn đảo Luzon ở phía bắc. Họ đã phá hủy một số lượng lớn máy bay địch và đã phát hiện ra trong trận đối đầu ác liệt này rằng các đơn vị đồn trú của Nhật Bản ở Leyte yếu kém đến không ngờ. Hòn đảo nhỏ nhưng bây giờ đã trở nên nổi tiếng nằm giữa hai vùng đất Mindanao và Luzon rộng hơn nhưng kém hơn về tầm quan trọng chiến lược, đã nghiễm nhiên trở thành điểm tấn công của Mỹ. Vào ngày 13 tháng Chín, trong khi các đại diện Đồng minh đang hợp ở Quebec, Đô đốc Nimitz, theo gọi ý của Halsey đã thúc giục việc xâm chiếm ngay lập tức hòn đảo này. Mac Arthur đã đồng ý và trong vòng hai ngày, các tham mưu trưởng Hoa Kỳ đã quyết định sẽ tấn công vào ngày 20 tháng Mười, sớm hơn dự định hai tháng. Đó là nguyên do của trận chiến vịnh Leyte.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #523 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2019, 06:07:49 AM »


*

        Người Mỹ đã mở chiến dịch vào ngày 10 tháng Mười bằng những cuộc tập kích vào các sân bay ở giữa Nhật Bản và quần đảo Philippines. Các cuộc tấn công liên tục và đầy sức công phá vào Đài Loan đã khiêu khích địch chống trả cực kỳ dữ dội, và tiếp theo từ ngày 12 đến ngày 16 là cuộc chiến ác liệt và giằng co trên không giữa máy bay xuất phát từ đất liền và từ hàng không mẫu hạm. Người Mỹ đã gây ra những thiệt hại nặng nề cả ở trên không lẫn trên mặt đất, nhưng chính họ lại chẳng tổn thất bao nhiêu, còn hạm đội tàu sân bay của họ đã trụ vững trước cuộc không kích dữ dội của máy bay từ đất liền. Kết quả có tính quyết định. Lực lượng Không quân địch tan vỡ trước khi trận đánh chiếm Leyte bắt đầu. Rất nhiều máy bay của hải quân Nhật được phiên chế đến hạm đội tàu sân bay đã bị điều đến Đài loan một cách vô tội vạ, với tư cách là lực lượng tăng viện, và bị phá hủy ở đó. Vì vậy trong trận chiến hải quân quan trọng nhất mà giờ đây đang sắp xảy ra, các hàng không mẫu hạm của Nhật được cấp hơn một trăm phi công mới chỉ được đào tạo một phần.

        Để hiểu đầy đủ các trận chiến về sau, cần phải nghiên cứu các bản đồ kèm theo. Hai hòn đảo lớn của quần đảo Philippines, Luzon ở phía bắc và Mindanao ở phía nam, bị ngăn cách bởi một nhóm những hòn đảo nhỏ hơn, trong đó Leyte là hơn đảo chủ chốt và nằm ở trung tâm. Nhóm hòn đảo trung tâm nay được hai eo biển mà tàu bè có thể đi lại được xuyên qua, cả hai đều được dự định sẽ chi phối trận chiến nổi tiếng này. Eo biển phía bắc là San Bernardino và cách nó khoảng 200 dặm về phía nam, trực tiếp dẫn vào Leyte, là eo biển Surigao. Như chúng ta đã thấy, người Mỹ có ý định chiếm Leyte, con người Nhật cương quyết chặn họ lại và tiêu diệt hạm đội của họ. Kế hoạch này thật giản đơn và liều lĩnh. Bốn sư đoàn dưới quyền của Tướng Mac Arthur sẽ đổ bộ lên đảo Leyte, dưới sự bảo vệ của súng cối và máy bay của hạm đội Mỹ - đó là những gì chúng đã biết hay phỏng đoán. Kéo hạm đội này đi nhử nó về phía xa xôi phương bắc và đẩy nó vào một trận chiến thứ yếu - đó là bước đầu tiên. Nhưng đây chỉ là khỏi đầu. Ngay khi hạm đội chủ lục bị nhử đi nơi khác, hai đội hình tàu chiến mạnh sẽ đi qua các eo biển này, một qua San Bernardino và một qua Surigao, rồi cùng vào bến. Phải tập trung toàn bộ sự chú ý trên bờ ở Leyte, tất cả súng ống đều sẵn sàng chĩa về phía bờ biển, và các tàu thủy hạng nặng, các tàu sân bay lớn, mà tự mình có thể chống cự lại cuộc tấn công, sẽ truy đuổi lực lượng nghi binh ở đằng xa phía bắc. Kế hoạch này đã gần như thắng lợi.

        Ngày 17 tháng Mười, Tổng Tư lệnh quân đội Nhật đã hạ lệnh cho hạm đội của mình lên đường. Lục lượng nghi binh, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Ozawa, Tư lệnh Tối cao, tiến thẳng từ Nhật Bản, hướng về Luzon. Đó là lực lượng phối hợp, bao gồm hàng không mẫu hạm, chiến hạm, tuần dương hạm và khu trục hạm. Nhiệm vụ của Ozawa là xuất hiện trên bờ biển phía đông Luzon, gây chiến với hạm đội Hoa Kỳ, và kéo nó ra khỏi các bến đỗ quân ở Vịnh Leyte. Các tàu sân bay thiếu cả phi công lẫn máy bay, nhưng không sao. Chúng chỉ là con mồi, và mồi làm ra là để bị ăn. Trong lúc đó, các lực lượng lớn tấn công chủ lực của Nhật Bản đã di chuyển về phía các eo biển này. Lực lượng lớn hơn hay có thể gọi là Lực lượng Trung tâm, đến từ Singapore bao gồm năm chiến hạm, mười hai tuần dương hạm, và mười lăm khu trục hạm, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Kurita đã tiến lên đến San Bernardino để vòng qua hòn đảo Samar mà đến Leyte. Lực lượng nhỏ hơn, hay còn gọi là Lực lượng phía Nam, có hai nhóm độc lập, gồm tất cả hai chiến hạm, bốn tuần dương hạm, và tám khu trục hạm, đã chạy xuyên qua Surigao.

        Ngày 20 tháng Mười, người Mỹ đổ bộ lên Leyte. Lúc đầu mọi việc đều tiến triển tốt đẹp. Sự kháng cự trên bờ yếu ớt, một vị trí sâu trong lòng địch nhanh chóng được hình thành và quân của Tướng Mac Arthur bắt đầu tiến lên. Họ được hạm đội 7 Mỹ của Đô đốc Kinkaid, lúc này đang dưới sự chỉ huy của Tướng Mac Arthur, yểm trợ các tàu chiến cũ hơn và các tàu sân bay nhỏ của ông là rất hợp cho những cuộc đổ bộ. Xa hơn nữa về phía bắc la hạm đội của Đô đốc Halsey, chắn họ khỏi bị tấn công từ ngoài biển.

        Tuy nhiên, khoảnh khắc quyết định vẫn chưa đến. Ngày 23 tháng Mười tàu ngầm Mỹ đã phát hiện ra Lực lượng Trung tâm Nhật Bản (Đô đôc Kurita) ở ngoài khơi Borneo và đã đánh chìm hai tuần dương hạm hạng nặng của y, một chiếc trong đó là chiếc kỳ hạm của Kurita, và làm hư hỏng nặng chiếc thứ ba. Ngày hôm sau, 24 tháng Muùi, máy bay từ hàng không mẫu hạm của Đô đốc Halsey đã tham gia tấn công. Chiếc tàu chiến khổng lồ Musashi, trên đó bố trí chín khẩu đại bác 18 inch, đã bị đánh chìm, những chiếc khác đã bị hư hỏng, và Kurita đã quay trở lại. Những bản báo cáo của không quân Hoa Kỳ là rất lạc quan và có lẽ là nhầm lẫn, và Halsey đã kết luận, không phải là không có nguyên do, rằng trận chiến, hoặc chí ít là phần đầu của nó, đã thắng lợi. Ông biết rằng lực lượng thứ hai hay lực lượng  địch ở miền nam đã tiến gần đến eo biển Surigao, nhưng ông đã nhận định rằng nó sẽ bị hạm đội 7 của Kinkaid đẩy lùi.

        Nhưng một điều đã làm ông phiền lòng, trong suốt ngày hôm đó, ông đã bị các máy bay của hải quân Nhật Bản tấn công. Nhiều máy bay đã bị bắn rơi, nhưng chiếc tàu sân bay Princeton đã bị hỏng và sau này phải bỏ đi. Ông phán đoán rằng những chiếc máy bay có lẽ đã xuất phát từ những chiếc hàng không mẫu hạm. Khả năng quân địch đã ra khơi mà không đem theo chúng là không hề chắc chắn, mặc dù vẫn chưa phát hiện ra chiếc nào. Hạm đội chủ lục của Nhật, dưới quyền chỉ huy của Kurita đã được định vị và rõ ràng đang ở thế lui quân, nhưng Kurita không có tàu sân bay. Lực lượng miền Nam cũng chẳng có chiếc nào. Chắc chắn phải có một lực lượng hàng không mẫu hạm, và phải khẩn cấp tìm bằng được nó. Vì vậy, ông ra lệnh tìm kiếm ở phía bắc, và chiều muộn ngày 24 tháng Mười, máy bay của ông đã chợt bắt gặp lực lượng nghi binh của Đô đốc Ozawa, xa hơn nữa về phía đông bắc Luzon và chếch về phía nam. Bốn hàng không mẫu hạm, hai chiến hạm được trang bị boong sân bay, ba tuần dương hạm, và mười khu trục hạm! Ông kết luận, đây là nguồn gốc của sự rắc rối và cái đích thực sự. Nếu giờ đây ông có thể phá hủy được những tàu sân bay này, ông và Tham mưu trưởng của ông, Đô đốc Camey, suy tính đúng đắn rằng sức mạnh của hạm đội Nhật Bản can thiệp vào các chiến dịch trong tương lai sẽ bị tan tác không phục hồi lại được. Đây là nhân tố thống trị trong trí óc ông ta, và sẽ đặc biệt thuận lợi khi Mac Arthur đến tấn công Luzon sau đó. Halsey đã không thể biết được sức mạnh của chúng yếu đến mức nào, cũng như chẳng phải là từ những tàu sân bay mà là từ những phi trường ở chính Luzon. Lực lượng Trung tâm của Kurita đang ở thế lui quân. Kinkaid có thể đối mặt với Lực lượng miền Nam và bảo vệ việc đổ bộ vào Leyte, con đường được dọn sạch cho cú đòn cuối cùng, và Halsey ra lệnh cho toan bộ hạm đội của ông tiến lên phía bắc và tiêu diệt hạm đội của Đô đốc Ozawa vào ngày hôm sau. Vì thế ông ta đã rơi vào bẫy. Chiều cùng ngày hôm đó, 24 tháng Mười, Kurita lại quay ra theo hướng đông, và một lần nữa lại chạy về phía eo biển San Bernardino. Lần này thì đã không có gì ngăn cản y cả.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #524 vào lúc: 24 Tháng Ba, 2019, 06:08:45 AM »


*

        Trong lúc đó Lực lượng miền Nam Nhật Bản đang tiến gần đến eo biển Surigao và đêm hôm đó chúng đã tiến vào đây theo hai nhóm. Tiếp theo là một trận chiến dữ dội, trong đó tất cả các loại tàu, từ tàu chiến cho đến tàu duyên hải loại nhẹ, đã tham gia vào. Nhóm đầu tiên bị tiêu diệt bởi hạm đội của Kinkaid đang tập trung vào đường sắt phía bắc; nhóm thứ hai cố gắng đột phá trong bóng tối và trong sự hỗn loạn, nhưng đã bị đẩy lùi. Tất cả đường như tiến triển tốt, nhưng người Mỹ vẫn còn phải thanh toán với Đô đốc Kurit. Trong khi Kinkaid đang chiến đấu ở eo biển Surigao và Halsey đang gắt gao truy tìm lực lượng nghi binh ở rất xa về phía bắc, Kurita đã vượt eo biển San Bernardino trong bóng tối mà không hề bị ngăn cản, và sáng sớm 25 tháng Mười, y đã bất thình lình tấn công một nhóm tàu sân bay hộ tống đang hỗ trợ việc đổ bộ của Tướng Mac Arthur. Bị bất ngờ tấn công và chạy trốn quá chậm, họ đã không thể ngay lập tức vũ trang lại máy bay của mình để đẩy lui các cuộc tấn công dữ dội từ ngoài biển. Trong vòng khoảng hai tiếng rưỡi đồng hồ, các tàu nhỏ của Mỹ đã chiến đấu ngoan cường và rút lui trong làn khói bao phủ. Hai trong số những hàng không mẫu hạm của họ, ba khu trục hạm và trên một trăm máy bay đã bị mất, một trong số các hàng không mẫu hạm bị oanh tạc cơ cảm tử tấn công; nhưng họ đã thanh công trong việc đánh chìm ba tuần dương hạm của địch và làm hư hỏng những chiếc khác. Lực lượng cứu trợ đang ở cách xa. Các tàu hạng nặng của Kinkaid hiện đang ở rất xa phía nam của Leyte, sau khi đánh tan tác Lực lượng Miền Nam, đang bị thiếu đạn dược và nhiên liệu. Halsey, với mười tàu sân bay và tất cả số tàu chiến cao tốc, đang còn ở xa hơn nữa, và mặc dù một nhóm tàu sân bay khác của ông đã bị tách đi nạp lại nhiên liệu và giờ đây được gọi lại, nó cũng không thể đến được trong vòng vài giờ. Chiến thắng dường như ở trong tay Kurita. Không có gì ngăn cản y tiến đến Vịnh Leyte và phá hủy hạm đội đổ bộ của Mac Arthur.

        Nhưng một lần nữa Kurita đã quay lại. Lý lẽ của y thật khó hiểu. Nhiều tầu của y đã bị các tầu sân bay hộ tống hạng nhẹ của Kinkaid đánh bom và chạy tán loạn, và giờ đây y biết

        rằng Lực lượng miền Nam đã gặp thảm họa. Y đã không có thông tin gì về số phận của những đoàn tàu nghi binh ở phía bắc và không biết chắc các hạm đội Mỹ đang ở đâu. Những tín hiệu ngắt quãng đã làm y nghĩ rằng Kinkaid và Halsey đang cùng đổ về phía y với sức mạnh áp đảo và rằng lực lượng vận tải của Mac Arthur đã tính cách thoát thân. Đơn độc và không được hỗ trợ, giờ đây y đã từ bỏ cái kế hoạch liều lĩnh mà bao nhiêu thứ đã phải hy sinh cho nó, và việc này đã sắp thành công, và, không hề cố gắng vào vịnh Leyte, y đã chuyển hướng, và một lần nữa lại nhằm vào eo biển San Bernardino. Y hy vọng sẽ chiến đấu một trận cuối cùng trên đường với hạm đội của Halsey, nhưng ngay cả việc đó cũng từ chối y. Đáp lại lời kêu gọi hỗ trợ liên tục của Kinkaid, cuối cùng Halsey đã thật sự quay lại cùng với các tầu chiến của mình, để đáp lại hai nhóm tầu sân bay tiếp tục truy tìm lên phía Bắc. Suốt ngày hôm đó, toàn bộ bốn tầu sân bay của Ozawa đã bị phá hủy. Nhưng chính Halsey đã trở về San Bernardino quá muộn. Các hạm đội đã không gặp được nhau. Kurita đã chạy thoát. Ngày hôm sau những chiếc máy bay của Halsey và Mac Arthur đã truy kích đô đốc Nhật Bản, đánh chìm một tuần dương hạm khác và hai khu trục hạm nữa. Đó là kết cục của cuộc chiến. Việc tâm trí của Kurita đã trở nên lú lẫn bởi áp lực của các sự kiện là có thể lắm chứ. Y đã bị tấn công hên tục trong ba ngày, chịu đựng những mất mát nặng nề, và tầu đô đốc của y đã bị đánh chìm ngay sau khi xuất phát từ Borneo. Những người đã phải trải qua thử thách tương tự mới có thể phán xét được y.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #525 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2019, 12:14:30 PM »


*

        Trận chiến ở vịnh Leyte mang tính chất quyết định. Với cái giá phải trả đối với họ là ba tàu sân bay, ba tàu khu trục và một tàu ngầm, người Mỹ đã khuất phục được hạm đội Nhật. Cuộc chiến đã kéo dài từ ngày 22 tháng mười đến 27 tháng mười. Ba tàu chiến, bốn tàu sân bay và hai mươi tàu chiến khác của địch đã bị đánh chìm và từ nay về sau máy bay cảm tử là vũ khí duy nhất có hiệu quả còn lại của kẻ thù. Là một công cụ tuyệt vọng, nhưng nó vẫn có khả năng hủy diệt, nhưng không mang chút hy vọng chiến thắng nào.

        Chiến thắng nay hẳn sẽ được trân trọng giữ gìn trong lịch sử Hoa Kỳ trong một thời gian rất dài. Ngoài sự dũng cảm, thiện chiến và táo bạo, nó đã thắp sáng cho một tương lai rõ ràng hơn, và có ảnh hưởng sâu rộng hơn bất cứ những gì chúng ta đã thấy. Nó đã giới thiệu một trận chiến mà ưu thế trên không được sử dụng nhiều hơn là súng ống. Tôi đã kể toàn bộ câu chuyện bởi vì lúc đó hầu như cả châu Âu đang rối ren đã không hề được biết đến nó. Có lẽ kết luận đơn lẻ quan trọng nhất có thể rút ra từ việc nghiên cứu những sự kiện này là sự cần thiết mang tính sống còn đối với việc thống nhất chỉ huy trong các hoạt động phối hợp kiểu này, thay vì quan niệm kiểm soát thông qua hợp tác như đang tồn tại giữa Mac Arthur và Halsey lúc này. Người Mỹ đã học bài học này và trong các chiến dịch cuối cùng chống lại quân Nhật ngay tại quê hương chúng, họ đã có ý định rằng quyền chỉ huy tối cao nên do Đô đốc Nimitz hay tướng Mac Arthur đảm nhiệm, và điều này có lẽ cũng thích hợp trong bất cứ thời điểm nào.

        Trong những tuần tiếp theo, trận chiến giành quần đảo Philippines đã lan rộng và lớn dần lên. Cuối tháng mười một gần hai trăm năm mươi ngàn lính Mỹ đã đổ bộ vào Leyte, và đến giữa tháng mười hai sự kháng cự của Nhật đã bị đập tan. Mac Arthur đã tăng cường sức ép bằng cuộc tiến quân chính của mình và chẳng mấy chốc đã đổ bộ, mà không gặp phải sự kháng cự nào, lên đảo Mondoro, nằm cách đảo Manila hơn một trăm dặm. Ngày 9 tháng Giêng năm 1945, một giai đoạn mới mở ra với sự đổ bộ của bốn sư đoàn vào vịnh Lingayen, phía bắc Manila, nơi diễn ra cuộc xâm lược chủ yếu của Nhật ba năm trước đó. Những biện pháp nghi binh phức tạp đã buộc quân địch phải đoán già đoán non nơi mà cú đòn sẽ giáng vào. Cú đòn này đã được bất ngờ tung ra và chỉ bị chống cự lại đôi chút. Cuộc tấn công đổ bộ mới lên vùng ven biển phía tây và bao vây thành phố. Một cuộc tử thủ đã dai dắng diễn ra cho đến đầu tháng ba, khi những tên sống sót cuối cùng đã bị giết. Người ta đã đếm được mười sáu ngàn xác lính Nhật trong những đống đổ nát. Các cuộc tấn công bằng máy bay thiêu thân giờ đây đã gây ra những mất mát đáng kể, mười sáu chiếc tầu bị dính đòn chỉ trong một ngày. Chiếc tuần dương hạm Australia một lần nữa đã không gặp may, bị đánh năm lần trong vòng bốn ngày, nhưng vẫn hoạt động được. Tuy nhiên thủ đoạn liều lĩnh nay cũng không ngăn cản được các hạm đội. Vào giữa tháng giêng, các tàu sân bay của đô đốc Halsey đã tiến vào biển Nam Hoa mà không hề bị quấy rầy, chạy dọc theo vùng ven biển và tấn công các sân bay và tàu bè, đánh về hướng Tây đến tận Sài Gòn. Ở Hồng Kông vào ngày 16 tháng giêng họ đã gây ra một sự thiệt hại trên quy mô lớn và những ngọn lửa dầu cực lớn đã bốc lên từ Canton.

        Mặc dù giao tranh trên các đảo đã tiếp diễn trong nhiều tháng, quyền kiểm soát ở vùng biển Nam Hoa đã chuyển sang tay người chiến thắng, và cùng với nó là việc kiểm soát được dầu và những đồ tiếp tế khác mà Nhật phải phụ thuộc vào.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #526 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2019, 12:16:01 PM »

 
18

GIẢI PHÓNG TÂY ÂU

        Tướng Eisenhower, theo kế hoạch đã được thỏa thuận trước đây, đã nắm quyền chỉ huy trục tiếp lực lượng lục quân ở miền Bắc nước Pháp vào ngay 1 tháng Chín. Lực lượng này bao gồm tập đoàn quân 21 của Anh, dưới sự chỉ huy của Đại nguyên soái Montgomery, và Tập đoàn quân 21 của Mỹ, dưới sự chỉ huy của Tướng Omar Bradley, mà các hoạt động của ông ta cho đến bấy giờ vẫn do nửa triệu lính chiến, và đạo đại binh này đang đuổi đánh tàn quân Đức ở miền Tây, những kẻ đã bị quấy rối ngày đêm bởi lực lượng không quân đang thống trị bầu trời của chúng tôi. Quân địch vẫn còn khoảng mười bảy sư đoàn mạnh nhưng cho đến khi chúng có thể được phiên chế lại và tăng cường, bọn chúng hầu như chẳng chịu đánh gì cả. Tướng Speidel, Cựu Tham mưu trưởng của Rommel, đã mô tả cảnh ngộ tuyệt vọng của chúng:

        ... Một cuộc rút lui có trật tự đã không thể thực hiện được. Các đạo quân được cơ giới hóa của Đồng minh bao vây các sư đoàn của Đức, đã kiệt quệ và rã rời chân tay và bị chia cắt thành từng nhóm lé, rồi bị đánh bại... Không còn lực lượng lục quân nào đáng kể của Đức còn tồn tại, chưa nói đến lực lượng không quân.

        Eisenhower đã có kế hoạch tấn công vào phía đông bắc với một lực lượng lớn nhất có thể được và đến giới hạn tiếp tế lớn nhất. Nỗ lực chủ đạo sẽ được thực hiện do Tập đoàn quân 21 của Anh, mà sự phát động của nó dọc theo bờ eo biển sẽ không chỉ quét qua những nơi phóng bom bay, mà còn chiếm lấy Antwerp. Không có bến cảng lớn của thành phố này, sẽ không một cuộc tiến công nào qua hạ lưu sông Rhine và vào miền đồng bằng Bắc Đức lại có thể thực hiện được. Tập đoàn quân 12 của Mỹ cũng sẽ truy kích quân địch, với Binh đoàn 1 của nó tiến song song với quân Anh, trong khi số còn lại, trấn giữ mặt phía đông về hướng Verdun và thượng lưu sông Meuse, chuẩn bị đánh về phía Saar.

        Montgomery đã có hai đề nghị ngược lại, một là vào cuối tháng Tám, Tập đoàn quân của ông và Tập đoàn quân 12 của Mỹ sẽ đánh về phía bắc với một lực lượng mạnh gồm gần bốn mươi sư đoàn, và hai là vào ngày mồng 4 tháng Chín chỉ thực hiện một mũi thọc sâu, hoặc là vào Rhur hoăc là vào Saar. Cho dù chọn chỗ nào, các lực lượng này phải được cung cấp tất cả những nguồn lực và sự bảo dưỡng họ cần. Ông đã đòi hỏi rằng phần còn lại của mặt trận phải được kiềm chế vì lợi ích của mũi thọc sâu chính sẽ do một người chỉ huy, có thể là chính ông hay Bradley tùy theo từng trường hợp. Ông tin rằng mũi này sẽ có thể đến được Berlin và cho rằng nên chọn Rhur hơn là Saar.

        Nhưng Eisenhower vẫn giữ vững kế hoạch của mình, Đức vẫn còn có quân dự bị ở trong nước, và ông tin rằng nếu một lực lượng nhỏ tương tự thọc sâu về phía trước qua sông Rhine họ sẽ làm mồi cho địch. Ông cho rằng Tập đoàn quân 21 nên nỗ lục hết sức chiếm lấy vị trí phòng thủ của địch bên kia sông Rhine trong khi Tập đoàn quân 12 sẽ tiến quân càng xa càng tốt về phía Phòng tuyến Siegfried.

        Các nhà chiến lược quân sự có lẽ còn sẽ tranh cãi lâu về vấn đề này.

        Việc tranh luận vẫn không làm chậm lại việc truy kích. Tuy nhiên số lượng các sư đoàn có thể duy trì được, tốc độ và phạm vi của những cuộc tiến quân của họ phụ thuộc hoàn toàn vào bến cảng, vận tải và tiếp tế. Tương đối ít vũ khí đạn dược đang được sử dụng, nhưng thực phẩm và trên hết là xăng dầu đã khống chế mọi sự vận động, cảng Cherbourg và "Mulberry" ở Arromanches là những bến cảng duy nhất chúng tôi có được, và càng ngày những bến cảng nay càng bị bỏ lại xa hơn về phía sau. Chiến tuyến vẫn con duy trì từ Normandy và hàng ngày, khoảng 20.000 tấn hàng tiếp tế cần phải được chuyên chở qua những quãng đường ngày một dài thêm, cùng với nhiều vật liệu để sửa cầu, sửa đường, và để xây dựng phi trường. các cảng ở Brittany, vào lúc chiếm được, thậm chí lại còn nằm xa hơn, nhưng các cảng eo biển từ Havre lên phía bắc, và đặc biệt Antwerp, nếu chúng tôi có thể chiếm được trước khi nó bị phá hủy nặng nề, là những chiến lợi phẩm có tính hệ quả quan trọng.

        Vì vậy, Antwerp là mục đích tức thời của Tập đoàn quân Montgomery, lúc này đang có cơ hội đầu tiên để chứng minh khả năng cơ động của nó. Sư đoàn Thiết giáp thứ 11 đã bắt được viên chỉ huy của Binh đoàn 7 của Đức vào lúc hắn đang ăn sáng ở Amiens ngày 31 tháng Tám. Những đô thị biên giới nổi tiếng đối với lực lượng viễn chinh Anh năm 1940, chí ít là cũng nổi tiếng đối với những người tiền nhiệm của họ một phần tư thế kỷ trước, như Arras, Douai, Lille và rất nhiều nơi khác sẽ được chiếm nhanh thôi. Quân Đức đã vội vã rút lui khỏi Brussels, và ngày 3 tháng Chín, Sư đoàn Vệ binh Thiết giáp đã tiến vào thành phố, và cũng như các nơi khác ở Bỉ, các đội quân của chúng tôi đã được lực lượng Kháng chiến tổ chức tốt đón tiếp rất linh đình và nhận được sự giúp đỡ rất lớn. Từ đó, lính Vệ binh đã quay sang hướng đông đến Louvain và Sư đoàn Thiết giáp 11 đã vào Antwerp ngày 4 tháng Chín, nơi mà trước sự kinh ngạc và vui mừng của chúng tôi họ đã tìm thấy một bến cảng gần như chưa hề bị suy suyển gì. Cuộc tiến quân đã mau lẹ với hơn hai trăm dặm trong vòng chưa đầy bốn ngày đã khiến quân địch phải vắt chân lên cổ chạy và không kịp phá tan mọi thứ như thường lệ.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #527 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2019, 09:31:00 PM »


        Nhưng các con tầu của chúng tôi chỉ có thể đến được Antwerp qua cửa sông uốn khúc, khó qua ngả Scheldt, nơi luôn có lính Đức canh giữ cả hai bên bờ. cần phải mở các cuộc hành quân gian khổ và tốn kém để đánh đuổi chúng và trên nguyên tắc nhiệm vụ đó là của Binh đoàn I Canada của Tướng Crera. Rất nhiều thứ phụ thuộc vào sự thành công của họ. Đến ngày mùng 9, họ đã quét sạch toàn bộ Pas de Calais cùng với những điểm phóng bom bay của nó. Các cảng trên biển Manche, Dieppe, Boulogne, Calais, Dunkirk hoặc đã được chiếm, hoặc đã được phát hiện ra. Havre, với một đơn vị đồn trú gồm 11.000 quân, đã kháng cự quyết liệt bất chấp cuộc pháo kích từ ngoài biển của những khẩu 15 inch và cuộc oanh tạc từ trên trời với hơn 10.000 tấn bom được ném xuống, và chỉ đầu hàng vào ngày 12 tháng Chín. Sư đoàn Thiết giáp Ba Lan đã chiếm được Ghent, chỉ cách Antwerp có bốn mươi dặm. Dĩ nhiên, tiến độ này không thể kéo dài mãi được. Bước nhảy vọt đã kết thúc và giờ đây sự chậm lại đã hiển hiện.

        Nhưng vẫn còn có cơ hội vượt qua vùng hạ lưu sông Rhine. Tuy nhiên Eisenhower coi chiến lợi phẩm này có giá trị đến mức ông ưu tiên trước hết cho việc quét sạch miền bờ biển gần của sông Scheldt và mở cảng Antwerp. Để Montgomery có thể bắt đầu một nỗ lục mới, Eisenhower đã cấp thêm cho ông ta phương tiện vận tải và sự tiếp tế theo đường hàng không của Mỹ. Binh đoàn Không quân, dưới quyền chỉ huy của Tướng Mỹ Brereton, đã sẵn sàng tập kích từ Anh và Montgomery quyết tâm chiếm được vị trí phòng thủ của địch ở bên kia sông tại Arnhem. Sư Đoàn 82 của Mỹ sẽ chiếm các vị trí phòng thủ của địch ở bên kia sông tại Nijmegen và Grave, trong khi Sư đoàn 101 của Mỹ bảo vệ con đường từ Grave đến Eindhoven. Quân đoàn 30, được dẫn đầu bởi Sư đoàn Vệ binh Thiết giáp, sẽ tiến về phía Eindhoven và từ đó đến Arnhem dọc theo "tấm thảm" của những đội đổ bộ bằng đường không, hy vọng sẽ tìm thấy những cây cầu qua ba con sông chính đã nằm trong tay họ một cách an toàn.

        Việc chuẩn bị cho cú đánh táo bạo này, mà cho đến thời điểm nay là một cuộc hành quân lớn nhất chưa tùng có, là hết sức phức tạp và khẩn cấp, bởi vì quân địch ngày càng quyết tâm hơn. Đáng chú ý là những sự chuẩn bị đó đã hoàn thành vào ngày định trước, ngày 17 tháng Chín. Không có đủ máy bay để đồng thời chở hết toàn bộ lực lượng đổ bộ và việc di chuyển phải kéo dài hơn ba ngày. Tuy nhiên vào ngày 17, các đơn vị đi đầu của ba sư đoàn này đã đến nơi an toàn và chính xác nhờ lực lượng không quân Đồng Minh đã hoạt động rất tốt. Sư đoàn 101 của Mỹ gần như hoàn thành toàn bộ công việc, nhưng chiếc cầu kênh trên đường đến Eindhoven đã bị nổ tung nên đến ngày 18 họ mới chiếm được thị trấn. Su đoàn 82 của Mỹ cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, nhưng đã không chiếm được chiếc cầu chủ chốt của Nijmegen.

        Có rất ít tin tức từ Arnhem, nhưng hình như một số Trung đoàn Lính dù đã tập kết được tại đầu phía bắc cây cầu. Sư đoàn Vệ binh Thiết giáp đã bắt đầu tiến quân vào buổi chiều ngược theo con đường đến Eindhoven, đã được pháo binh bắn chặn và máy bay phóng rốc két dọn đường, và được một quân đoàn yểm hộ từ cả hai bên sườn. Con đường được phòng ngự vũng chắc và mãi đến chiều ngày 18, quân Vệ binh mới đến được chỗ quân Hoa Kỳ. Những cuộc tấn công của Đức chống lại những đầu hẹp nhô ra của pháo đài bắt đầu ngày hôm sau và càng lúc càng mạnh lên. Sư đoàn 101 đã gặp khó khăn lớn trong việc giữ cho con đường thông suốt. Thỉnh thoảng, việc đi lại phải ngừng cho đến khi quân địch bị đánh đuổi khỏi đó. Cho đến lúc này, tin tức từ Arnhem là xấu. Lính dù của chúng tôi vẫn chiếm giữ đầu phía bắc của cây cầu, nhưng quân địch vẫn ở lại trong thị trấn và số còn lại của Sư đoàn 1 Không quân Liên hiệp Anh đã đổ bộ vào phía tây, không thể đột kích vào để tăng cường lực lượng cho họ.

        Con kênh được đặt cầu ngày 18, và sáng sớm hôm sau, lính Vệ binh đã chạy thẳng được đến Grave, ở đó họ đã tìm thấy Sư đoàn 82 Hoa Kỳ. Vào lúc sẩm tối, họ đã đến gần cậy cầu Nijmegen được phong thủ rất chắc, và vào ngày 20 đã xẩy ra một trận giao chiến lớn để giành lấy nó. Lính Mỹ đã qua sông ở phía tây của thị trấn, vượt sang bên phải và chiếm được đầu bên kia của chiếc cầu sắt. Lính Vệ binh đã leo qua con đường trên cầu. Quân phong thủ đã bị áp đảo và chúng tôi chiếm được cả hai cây cầu còn nguyên vẹn.

        Còn lại cuộc chạy đua cuối cùng đến Arnhem, thời tiết xấu ở đây đã gây trở ngại cho việc thả dù quân tăng viện, thực phẩm và đạn dược, và Sư đoàn Đổ bộ không vận số I đang ở trong tình trạng khốn khó đến vô vọng. Không thể đến được cây cầu của họ, phần còn lại của sư đoàn này đã bị vây hãm trong một vòng bán kính nhỏ bên bờ bắc và đang phải chịu đựng những cuộc tấn công mạnh mẽ. Từ bờ nam, mọi nỗ lực được huy động để cứu họ, nhưng quân địch quá mạnh. Vệ binh, Sư đoàn 43, Lữ đoàn Dù Ba Lan đã đổ bộ xuống gần đường, nhưng họ đều thất bại trong mọi nỗ lực dũng cảm để cứu viện. Trong bốn ngay tiếp theo, cuộc giao chiến vẫn tiếp tục một cách vô vọng. Vào ngày 25 Montgomery ra lệnh rút những ai còn sống sót của Sư đoàn Đổ bộ Không vận số I anh hùng. Họ đã phải vượt qua sông chảy xiết trong đêm tối trên những chiếc thuyền nhỏ và dưới làn hỏa lực tầm gần. Đến rạng sáng, khoảng 2.400 trên tổng số 10.000 binh sĩ ban đầu đã về an toàn bên phía bờ của chúng tôi.

        Trong trận chiến Arnhem chúng tôi đã thực hiện những hanh động mạo hiểm, mà đã được chứng minh là đúng đắn qua chiến lợi phẩm vĩ đại mà chúng tôi sắp nắm chắc trong tay. Nếu chúng tôi được may mắn hơn về mặt thời tiết, và trở nên thuận lợi cho chúng tôi vào những thời điểm nguy kịch và không hạn chế ưu thế của chúng tôi trên không, có lẽ chúng tôi đã có thể thành công. Không hiểm nguy nào có thể dọa được những con người dũng cảm, bao gồm cả Lực lượng Kháng chiến Hà Lan, những người đã chiến đấu giành lấy Arnhem, và không phải đợi cho đến lúc tôi trở về từ Canada, nơi dồn dập nhận được những bản báo công đầy vẻ vang, tôi mới có thể hiểu được toàn bộ những gì đã xẩy ra. Tướng Smit đã khổ sở về những gì dường như là thất bại, và tôi gửi điện: "Về chuyện Arnhem, tôi nghĩ rằng ông đã có một lập trường không rõ ràng. Trận chiến này là một chiến thắng đã được quyết định, nhưng sư đoàn đi tiên phong đã muốn hơn, và cũng chính đáng thôi, và họ đã bị chặt rời ra. Tôi không hề phiền lòng bởi bất cứ cảm giác thất vọng nào về chuyện này, và tôi vui lòng vì các chỉ huy của chúng ta đã có thể tiến hành những hành động mạo hiểm kiểu này".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #528 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2019, 09:31:21 PM »


*

        Giờ đây, việc được ưu tiên nhất là dọn sạch cửa sông Scheldt và mở rộng cảng Antwerp. Trong nửa cuối tháng Chín hàng loạt hành động sơ bộ đã bắt đầu giai đoạn này. "Hòn đảo" Breskens do một sư đoàn quân Đức dầy dạn kinh nghiệm phòng thủ, đã là một vị trí khó nuốt, và một cuộc chiến ác liệt để vượt qua kênh Leopold đã diễn ra. Nhiệm vụ khó khăn nhằm chiếm lấy miền nam Beveland đã được tiến hành bởi Sư đoàn II của Canada, đơn vị đang mở rộng đường tiến về phía tây qua những vùng rộng lớn bị lụt lội, và binh lính của họ luôn bị ngập nước đến tận lưng quần. Họ được trợ giúp bởi phần lớn hơn thuộc Sư đoàn 52, những người được chở bằng phà dọc theo Scheldt và đổ bộ lên bờ phía nam. Vào cuối tháng, sau những nỗ lực lớn, toàn bộ eo đất đã bị chiếm. Trong suốt thời gian của trận chiến bốn tuần, được Lực lượng Không quân Chiến thuật số 2, dưới sự chỉ huy của Thống chế Không quân Coningham, hỗ trợ đáng kể, họ đã bắt không ít hơn 12.500 tù binh Đức, những kẻ có thể làm mọi việc trừ việc đầu hàng. Toàn bộ khỏi đầu của cuộc tấn công Walcheren là như vậy.

        Hòn đảo Walcheren có hình cái đĩa nông được viền quanh băng các còn cát ngăn nước biển tràn vào gây lụt cho vùng đồng bằng trung tâm. Ở lề phía tây, gần Westkapelle là một khoảng trống giữa các đụn cát, nơi biển được ngăn giữ bởi một con đê lớn, cao ba mươi feet, với chân đến hơn một trăm yard. Đon vị đồn trú gồm gần 10.000 lính đã được bố trí bên trong hàng rào phòng ngự nhân tạo vững chắc, và được trợ lực bởi khoảng ba mươi khẩu đội pháo. Các chướng ngại vật chống tăng, mìn và dây thép gai được bao xung quanh, bởi vì quân địch đã có bốn năm để củng cố cái cửa ngõ vào Antwerp.

        Đầu tháng Mười, Lực lượng Không quân Hoàng gia đã đánh đòn đầu tiên. Với một loạt liên tiếp những đợt tấn công vẻ vang, họ đã đánh phá được một khoảng trống lớn, gần bốn trăm yard cắt ngang, trên đê Westkapelle. Qua đó nước biển đã đổ vào, gây lũ lụt cho toàn miền trung tâm của cái đĩa nông, dìm chết quân phòng ngự và các khẩu đội pháo nằm trong đó. Nhưng các ụ súng, các chướng ngại vật đáng gờm, vẫn còn nguyên trên đường viền của chiếc đĩa nông đó. Cuộc tấn công diễn ra theo kiểu đồng tâm. Mũi tấn công chủ đạo là ba đơn vị biệt kích hải quân. Khi họ đến, liên đội pháo binh hải quân đã nổ súng. Ở đây có chiến hạm Hoàng gia Warspite và hai khẩu đại bác cỡ 15 inch Erebus và Robert với một liên đội xuồng đổ bộ có vũ trang. Các đơn vị này sau đó đã đến gần bờ, và bất chấp những thương vong nghiêm trọng, họ vẫn duy trì hỏa lực cho đến khi hai đơn vị biệt kích tiên phong lên bờ an toàn. Toàn bộ lực lượng  pháo binh của Quân đoàn 2 Canada, đang bắn qua mặt sông từ bờ Breskens, đã được đưa tới để chống chọi với những khẩu trọng liên đang nhả đạn dữ dội từ trong lô cốt của quân địch, còn những máy bay phóng rốc két đã tấn công vào những lỗ châu mai. Khi màn đêm đổ xuống, đơn vị Biệt kích 48 đã tiêu diệt hoặc bắt sống bọn lính phòng thủ. Ngày hôm sau, họ lại tiếp tục sức ép, và đến trưa, đơn vị 47 đã bắt đầu cuộc tấn công , với sự phòng ngự đang bị yếu đi, họ đã đến được ngoại ô của Flushing. Ngày 3 tháng Mười Một, họ đã kết hợp được với đơn vị biệt kích số 4 sau cuộc giành giật vất vả của đơn vị này đối với tùng ngôi nhà trong thị trấn. Chỉ trong vài ngày, toàn bộ hòn đảo đã ở trong tay chúng tôi, với 8.000 tù binh.

        Các đội biệt kích đã lập rất nhiều chiến công hiển hách khác trong suốt thời gian chiến tranh và mặc dù các quân binh chủng khác cũng đã phát huy toàn bộ vai trò của mình, trong chiến dịch đặc biệt này công đầu tiên thuộc về sự gan dạ phi thường của Hải quân Hoàng gia. Một lần nữa ý tưởng của lực lượng  biệt kính đã chiến thắng. Việc phá mìn đã bắt đầu ngay sau khi chiếm được Flushing, và trong vòng ba tuần nữa một trăm tàu đã được sử dụng để dọn sạch bảy mươi dặm đường kênh. Ngày 28 tháng Mười Một, đoàn tiếp tế đầu tiên đã đến và Antwerp đã được mở ra cho các đạo quân của Anh và Mỹ. Bom bay và tên lủa đã gây tai họa cho thành phố ít lâu, và đã gây ra nhiều thương vong, nhưng không ngăn nổi những hoạt động chiến tranh tại đây.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21770


« Trả lời #529 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2019, 11:56:34 AM »


*

        Ở cánh phải của chúng tôi, việc tiến quân qua bên kia Paris của Tập đoàn quân 12 của Mỹ đã được tiến hành với tất cả sự thôi thúc mãnh liệt của Bradley và các sĩ quan năng nổ của ông. Charleroi, Mons và Liege đã rơi vào tay họ. Trong vòng nửa tháng họ đã giải phóng toàn bộ Luxembourg và miền nam nước Bỉ, và vào ngày 12 tháng Chín họ đã tiến đến sát biên giới nước Đức, trên mặt trận dài sáu mươi dặm, và chĩa mũi nhọn vào phòng tuyến Siegfried gần Achen.

        Ngày 16, các vị trí phòng thủ của địch bên kia sông Moselle ở Nancy và phía nam Metz đã bị chúng tôi chiếm được. Tập đoàn quân 6 dưới sự chỉ huy của Tướng Devers tiến từ nơi đổ bộ của họ ở miền nam nước Pháp đã gặp những đội quân tuần tra của đạo quân của Patton ở phía tây Dijon năm ngày trước đó và chuyển sang phía đông, tiến kịp với cuộc tiến quân chung. Nhưng đây cũng chính là lúc kết thúc cuộc đại truy kích này. Khắp nơi, sự kháng cự của quân địch trở nên ngoan cố hơn, và nguồn tiếp tế của chúng tôi đã bị căng ra hết mức. Achen bị

        tấn công từ ba phía và đầu hàng ngày 21 tháng Mười. Theo hướng một bên sườn, Binh đoàn 3 đã ở cách Moselle hai mươi dặm về phía đông. Binh đoàn 7 và Binh đoàn 1 của Pháp cùng tiến nhanh và đang thăm dò về hướng High Vosges và mũi Belfort. Người Mỹ đã hầu như hết sạch đồ tiếp tế trong các cuộc tiến quân chớp nhoáng, và cần phải tạm thời dừng lại để lo đồ dự trữ và chuẩn bị cho những cuộc hành quân qui mô lớn trong tháng Mười Một.

*

        Lực lượng Không quân Chiến lược có một vai trò quan trọng trong cuộc tiến quân của Đồng Minh đến những miền biên giới của Pháp và Bỉ. Trong mùa thu, họ đã trở lại với vai trò chủ yếu của mình là ném bom nước Đức, với những cái đích chủ yếu là các kho xăng dầu và các hệ thống vận tải, màn hình rada của địch và hệ thống báo động đã bị đẩy lại phía sau đường biên giới của chúng, lực lượng hàng hải và ném bom tăng viện của chúng tôi cũng nhờ đó mà tiến lên. Tỷ lệ thương vong của chúng tôi giảm sụt; sức mạnh và sự chính xác của các cuộc tấn công của chúng tôi đã tăng lên. Cuộc tấn công dử dội kéo dài và liên tục đã buộc quân Đức phải phân tán những nhà máy của chúng trên một phạm vi rất rộng. Giờ đây chúng đã phải trả giá rất nặng cho chuyện này, bởi vì chúng đã bị phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào một hệ thống giao thông tốt. Lượng than cần một cách khẩn cấp đã chất đầy ở các cửa lò vì thiếu xe chuyển đi. Hàng ngày một ngàn hay thậm chí còn nhiều hơn tàu chở hàng bị tạm ngưng hoạt động vì thiếu nhiên liệu. Các nhà máy công nghiệp, điện lực, và xăng dầu bắt đầu bị đóng của. Sản xuất và dự trữ đã giảm trầm trọng, ảnh hưởng không những đến khả năng cơ động của quân đội mà còn đến các hoạt động, và thậm chí cả đến việc tập luyện của lực lượng không quân của chúng.

        Trong tháng Tám, Speer đã cảnh báo cho Hitler rằng toàn bộ ngành công nghiệp hóa chất đang que quặt tồn tại qua sự thiếu hụt những sản phẩm phụ từ các nhà máy dầu tổng hợp và tình trạng này càng ngày càng tồi tệ hơn. Tháng Mười Một, y đã báo cáo rằng nếu giao thông bằng đường sắt tiếp tục xuống cấp, nó sẽ gây ra "một thảm họa về sản xuất có ý nghĩa quyết định", và đến tháng Mười Hai y đã phải bái phục "cái kế hoạch thông minh và có tầm ảnh hưởng sầu rộng xa" của chúng tôi. Sau khoảng thời gian khá lâu, cuộc công kích bằng máy bay ném bom của chúng tôi đã gặt hái được kết quả.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM