Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Mười Một, 2019, 07:22:59 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20671 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #510 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:01:42 AM »


        Tôi đã rất quan tâm đến bức điện nay và đã trả lời vào cùng ngày hôm đó:

        "... Cuộc chiến đấu sẽ bị tế liệt nếu như mọi người hỏi ý kiến những người khác về mọi việc trước khi nó diễn ra. Các sự kiện sẽ thường diễn ra nhanh hơn là các tình huống đang thay đổi ở khu vực Balkan này. Người nào đó phải có quyền lập kế hoạch và hành dộng. Hội đồng Tư vấn sẽ chỉ là một chướng ngại vật luôn bị bỏ qua trong những trường hợp khẩn cấp khi có sự trao đổi giữa ông và tôi hoặc là trong một số chúng ta với Staline.

        Bây giờ hãy xem cái gì đã xảy ra vào dịp lễ Phục sinh. Chúng ta có thể đương đầu với cuộc binh biến của toàn bộ lực lượng Hy Lạp, hoàn toàn phù hợp với cách nhìn nhận riêng của ông. Điều này là do tôi có thể ra lệnh ngay lập tức cho các đơn vị chỉ huy quân sự, những người mà lúc đầu đã chủ trương thỏa hiệp, không được sử dụng và thậm chí de dọa sử dụng vũ lực, để tránh gây thương vong. Tình hình Hy Lạp được cải thiện rất nhiều và sẽ được cứu thoát khỏi những rắc rối và thảm họa nếu như duy trì được sự vững chắc này. Nga sẵn sàng để chúng ta chủ động trong vấn đề Hy Lạp, điều này có nghĩa là EA.M. (Mặt trận Giải phóng Dân tộc) và toàn bộ tham mưu của tổ chức này có thể được lực lượng dân tộc Hy Lạp điều khiển... Nếu như trong những khó khăn như thế này mà chúng ta phải hỏi ý kiến của các cường quốc khác và đánh đi những bức điện tín ba bên, bốn bên thì kết quả duy nhất có lẽ sẽ là sự hỗn loạn hay bất lực. Dường như đối với tôi, xem xét việc Nga chuẩn bị xâm lược Rumani bằng lực lượng hùng mạnh và sẽ giúp đỡ Rumani giành lại vùng Transylvanm từ Hungary, miền là người Rumani dám làm, mà họ có thể làm, xét tất cả những điều dó, việc nên làm là ủng hộ giới lãnh đạo Liên Xô, lưu ý rằng tất cả các ông và chúng tôi đều chẳng hề có một lực lượng nào ở đó cả, lưu ý rằng dù sao họ cũng có thể làm bất kỳ cái gì mà họ muốn... Tóm lại, tôi đề nghị rằng chúng ta hãy đồng ý với những cách sắp xếp tôi đã nêu ra trong bức diện ngày 31 tháng 5 của tôi, có thể có một sự thử thách trong 3 tháng, sau đó ba cường quốc phải xem xét lại."


        Ngày 13 tháng 6, Tổng thống đã đồng ý với đề nghị này nhưng nói thêm: "Chúng ta phải thận trọng để khắng định rằng chúng ta không thiết lập bất kỳ khu vực ảnh hưởng hậu chiến nào". Tôi đồng ý với quan điểm của ông ta và hôm sau tôi trả lời:

        "Toi thực sự biết ơn ông về bức điện của ông. Tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại giao chuyển thông tin này đến cho Molotov và khẳng định rằng lý do giới hạn ba tháng là để cho chúng ta không nên giữ mãi định kiến về vấn đề thiết lập khu vực ảnh hưởng sau chiến tranh".

        Chiều hôm đó tôi đã báo cáo tình hình này cho Nội các Chiến tranh, chấp nhận thời gian giới hạn trong ba tháng, Bộ đã đồng ý rằng Bộ Ngoại giao sẽ thông báo cho Chính quyền Liên Xô biết rằng chúng tôi đã chấp nhận cách phân chia trách nhiệm chung này. Điều này đã được thực hiện ngày 19 tháng 6. Tuy nhiên, Tổng thống đã không hài lòng với cách mà chúng tôi đã làm, và tôi đã nhận được một bức điện đau đớn nói rằng "Chúng tôi rất buồn vì người của ông đã đưa vấn đề này ra với chúng tôi chỉ sau khi nó đã chuyển đến cho Nga". Để đáp lại lời khiển trách của ông ta, ngày 23 tháng 6 tôi đã phác họa tình hình mà tôi đã chứng kiến từ Luân Đôn cho Tổng thống biết:

        "Nga là cường quốc duy nhất có thể làm được tất cả ở Rumani... Mặt khác, Hy Lạp đã đẩy hầu như tất cả những gì còn lại lên phía chúng tôi, và họ đã làm như vậy từ khi chúng tôi để mất 40.000 người trong một cố gắng tuyệt vọng để giúp dỡ họ năm 1941. Tương tự như vậy, ông đã để cho chúng tôi nhúng tay vào Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng chúng tôi cũng thường xuyên hỏi ý kiến ông về chính sách, và tôi nghĩ có lẽ chúng ta nên nhất trí về đường lối phải theo đuổi. Đối với tôi, để mặc mọi việc tiến triển một cách tự nhiên thì quá dễ dàng vì nguyên tắc chung của việc trượt sang cánh Tả, phổ biến trong chính sách đối ngoại, nhất là khi Quốc vương Hy Lạp có thể bị buộc phải thoái vị, và E.A.M. sẽ bắt đầu một giai đoạn khủng bố ở Hy Lạp, buộc dân làng và các tầng lóp khác tạo thành các Vành đai An ninh dưới sự bảo trợ của Đức để ngăn chặn tình trạng vô chính phủ tuyệt dối. Cách duy nhất mà tôi có thể ngăn chặn được điều này là bằng cách thuyết phục Nga thôi giúp đỡ E.A.M. và thôi thúc ép tổ chức này bằng toàn bộ lực lượng của họ. Bởi vậy, tôi đã đề nghị Nga một cách sắp xếp làm việc tạm thời cho cách tiến hành tốt hơn cuộc chiến này. Đây chỉ là một đề nghị và phải được chuyến đến ông để được sự chấp thuận của ông.

        Tôi đã hành dộng cố gắng để mang lại một sự liên kết giữa lực lượng Tito với lực lượng ở Serbia, và sát nhập toàn bộ với Chính phủ Hoàng gia Nam Tư mà chúng ta đều đã thừa nhận. Có lẽ ông đã thông báo mỗi lần chúng tôi đang phải chịu dựng gánh nặng này như thế nào mà hiện tại chủ yếu đặt lên vai chúng tôi. Ở đây lại chẳng có gì có thể dễ dàng hơn là quẳng Quốc vương và Chính phủ Hoàng gia Nam Tư cho bầy sói và để cho cuộc nội chiến nổ ra ở Nam Tư thành sự vui mừng của người Đức. Tôi đang đấu tranh để thiết lập lại trật tự trong cả hai trường hợp và tập trung mọi nỗ lực để chống lại kẻ thù chung. Tôi muốn ông phải luôn luôn được biết đến điều này và tôi hy vọng nhận được sự tin tưởng và giúp đỡ cúa ông bên trong khu vực hành động mà quyền chủ động đã giao cho chúng tôi.

Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #511 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:03:41 AM »


        Bức điện trả lời của Ông Roosevelt đã giải quyết được vấn đề tranh cãi giữa những người bạn. Ông nói: "Dường như chúng ta đã hành động đơn phương một cách hồ dồ trong một đường lối cho rằng tất cả chúng ta bây giờ phải dồng ý là phải làm ngay trong lúc này. Điều cốt yếu là chúng ta thường xuyên nhất trí trong mọi vấn đề có liên quan đến mọi cố gắng trong chiến tranh của Liên minh chúng ta".

        Tôi trả lời "Có lẽ ông đúng, tôi thường xuyên để ý đến sự nhất trí của chúng ta trong mọi vấn đề trước đó, trong khi đó, và cả sau đó".


        Tuy nhiên những khó khăn vẫn tiếp tục ở cấp Chính phủ. Sau khi nhận thấy Mỹ có thái độ nghi ngờ, Staline đã nhất định hỏi ý kiến họ trực tiếp và cuối cùng chúng tôi không thể đạt đến sự nhất trí về việc phân chia trách nhiệm trên bán đảo Balkan. Đầu tháng 8, Nga đã mưu mẹo gửi từ Ý một phái đoàn đến E.L.A.S., một thành phần quân sự của E.A.M., ở miền Bắc Hy Lạp. Xét đen sự miễn cường của Mỹ và sự khẩn cấp của Liên Xô, chúng tôi đã từ bỏ mọi nỗ lực để đạt được một sự hiểu biết sâu rộng cho mãi đến khi tôi gặp Staline ở Matxcova hai tháng sau đó. Từ sau đó đã có rất nhiều điều xảy ra ở Mặt trận Miền Đông.

        Ở Phần Lan, quân đội Nga, khác xa với lực lượng đã chiến đấu ở đó năm 1940 về chất lượng và vũ khí, đã đột phá phòng tuyến Mannerheim, mở lại tuyến đường sắt từ Leningrad đến Murmansk, ga cuối cùng của đoàn tàu Arctic của chúng tôi, và đến cuối tháng 8 họ đã buộc người Phần Lan phải xin đình chiến. Cuộc tấn công chính của họ vào mặt trận Đức đã bắt đầu vào ngày 23 tháng 6. Nhiều thành phố và làng mạc đã biến thành các căn cứ mạnh mẽ có hàng rào bao quanh nhưng liên tục bị bao vây và phá hủy trong khi Hồng quân tràn ngập qua các khoảng trống giữa các làng. Cuối tháng 7 họ đã tiến đến Niemen ở Kovno và Grodno. Ở đây, sau một cuộc hành binh hai trăm năm mươi dặm trong vòng 5 tuần, họ chỉ được tạm thời nghỉ ngơi lấy lại sức. Những mất mát của Đức rất to lớn. Hai mươi lăm sư đoàn đã đầu hàng và một con số tương tự bị bao vây ở Courland. Chỉ riêng ngày 17 tháng 7, 57.000 tù nhân Đức bị dẫn qua Matxcova, ai biết được họ sẽ bị đưa đi đâu?

        Về hướng nam của những chiến thắng này là Rumani. Cho đến tháng 8, phòng tuyến của Đức từ Cemowitz đến Biển Đen đã chặn đường đến mỏ dầu Poloesti và vùng Balkan. Nay bị yếu đi do phải rút quân để chống đỡ phòng tuyến phía Bắc đang bị suy yếu, và trải qua một cuộc tấn công dữ dội bắt đầu từ ngày 22 tháng 8, nó đã nhanh chóng bị tan rã. Được các lực lượng đổ bộ bờ biển hỗ trợ, quân Nga đã giải quyết nhanh gọn đối thủ của mình. Mười sáu sư đoàn Đức đã bị tan rã. Ngày 23 tháng 8 một cuộc đảo chính ở Bucharest, do vị vua Michael tuổi trẻ và các quân sư thân cận của ông tổ chức, đã dẫn đến sự đảo lộn hoàn toàn tất cả các vị trí quân sự. Quân đội Rumani muôn người như một đã đi theo vị Vua của họ. Trong vòng ba ngày trước khi quân đội Nga có mặt, lực lượng Đức đã bị tước vũ khí hoặc rút lui qua biên giới phía Bắc. Đến 1 tháng 9, Bucharest bị quân Đức buộc di tản. Quân đội Rumani tan rã và đất nước này lại bị giày xéo. Chính phủ Rumani đầu hàng. Bungary sau một nỗ lực vào phút cuối cùng tuyên chiến với Đức, đã bị đè bẹp.

        Vòng qua phía tây, quân đội Nga đã tiến đến thung lũng Danube và qua dãy núi Alps ở phía Transylvania đến biên giới Hungary, trong khi cánh trái của họ, ở phía nam Danube, dừng lại nghỉ ở biên giới Nam Tư. Tại đây họ đã chuẩn bị một cuộc hành quân lớn về hướng tây mà vào thời điểm hợp lý có thể đưa họ tới Vienna.

        Ở Ba Lan đã diễn ra một thảm họa, cần một sự miêu tả chi tiết hơn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #512 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:05:06 AM »


*

        Cho đến cuối tháng 7 quân Nga đã đến trước sông Vistula, và tất cả các báo cáo cho thấy rằng trong một tương lai rất gần Ba Lan sẽ nằm trong tay Nga. Các nhà lãnh đạo Quân đội Bí mật Ba Lan được chính phủ Luân Đôn ủng hộ bây giờ phải quyết định khi nào phát động một cuộc tổng khởi nghĩa chống lại  quân Đức, nhằm đẩy mạnh quá trình giải phóng đất nước của họ và ngăn chặn bọn Đức lao vào một loạt các cuộc giao chiến phòng thủ ác liệt trên lãnh thổ Ba Lan, và đặc biệt chính ở Varsovie. Người chỉ huy Ba Lan, tướng Bor-Komorowski và người tham mưu dân sự của ông ta được Chính phủ Ba Lan ở Luân Đôn ủy quyền tuyên bố tổng khởi nghĩa bất cứ khi nào họ thấy thích hợp. Quả thực, thời điểm dường như đã thích hợp. Ngày 20 tháng 7 tin về âm mưu chống lại Hitler, được loan báo tiếp theo ngay sau đó là tin cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh từ vị trí đổ bộ Normandy. Khoảng ngày 22 tháng 7, người Ba Lan đã bắt được tin điện vô tuyến từ Đạo Quân Panzer 4 của Đức ra lệnh một cuộc tổng rút quân tới phía tây sông Vistula. Cùng ngày quân Nga vượt qua con sông này và các đội trinh sát của họ hướng tới Varsovie. Ở đó có một chút nghi ngờ rằng sự sụp đổ hoàn toàn sắp sửa diễn ra.

        Bỏi vậy, Tướng Bor đã quyết định bắt đầu một cuộc tổng khởi nghĩa và giải phóng thành phố. Ông ta có khoảng 40.000 lính cùng với khoản dự trữ lương thực và đạn dược cho cuộc chiến đấu kéo dài từ 7 đến 10 ngày. Tiếng gầm của các khẩu súng của Nga qua Vistula đến lúc này vẫn có thể nghe thấy. Lực lượng Không quân Nga đã bắt đầu đánh bom quân Đức ở Varsovie từ các sân bay bị chiếm mới đây gần thủ đô này, sân bay gần nhất chỉ cách khoảng 20 phút bay. Cùng lúc đó một Hội đồng Giải phóng Dân tộc Cộng sản đã được thành lập ở miền Đông Ba Lan, và Nga đã tuyên bố rằng lãnh thổ mới giải phóng sẽ được đặt dưới quyền kiểm soát của họ. Suốt một thời gian đáng kể, đài phát thanh Liên Xô đã thúc giục dân chúng Ba Lan đừng sợ những lời đe dọa và bắt đầu một cuộc tổng khởi nghĩa chống lại quân Đức. Ngày 29 tháng 7, ba ngày trước khi cuộc khởi nghĩa bắt đầu, đài phát thanh Matxcova đã phát đi một lời kêu gọi của những người Cộng sản Ba Lan với nhân dân thủ đô Varsovie rằng tiếng súng giải phóng vẫn còn vẳng bên tai và kêu gọi họ như năm 1939 hãy tham gia vào cuộc chiến với người Đức, lần này là lần hành động quyết định "Đối với Varsovie, chỉ có chiến đấu mà không hề khuất phục, thì giờ hành động đã điểm rồi!". Sau khi đã chỉ ra rằng kế hoạch của Đức lập các hàng rao bảo vệ cuối cùng sẽ dẫn đến việc phá hủy dần dần thành phố này, đài phát thanh đã kết thúc bằng việc nhắc nhở các cư dân rằng "Tất cả đã mất, không còn cứu vãn được", và rằng "bằng cuộc chiến đấu tích cực trực tiếp trên đường phố, trong mọi nhà, v.v... của Varsovie, thời khắc giải phóng cuối cùng sẽ đến nhanh chóng và mạng sống của đồng bào sẽ được cứu thoát".

        Chiều ngày 31 tháng 7, đội quân Bí mật ở Varsovie nhận được tin là các xe tăng của Nga đã đột phá các phòng tuyến của Đức ở phía Đông thành phố này. Đài quân sự của Đức đã thông báo "hôm nay quân Nga đã bắt đầu một cuộc tổng tấn công vào Varsovie từ phía đông nam". Quân đội Nga hiện chỉ cách không dưới 10 dặm. Chính tại thủ đô này đội quân Bí mật Ba Lan đã ra lệnh một cuộc tổng khởi nghĩa vào 5 giờ chiều ngày hôm sau. Chính tướng Bor đã miêu tả điều đã xảy ra như sau:

        "Đúng 5 giờ, hàng ngàn cửa sổ sáng choang khi chúng được mở ra. Từ mọi phía, hàng tràng đạn bắn sang quân Đức, bắn thủng các tòa nhà của họ và các đội quăn diễu hành. Trong chóp mắt các công dân còn sót lại đã biến mất khỏi đường phố. Từ lối vào các ngôi nhà, những người lính của chúng tôi tràn ra và lao vào cuộc tấn công. Trong vòng 15 phút toàn thành phố của một triệu công dân đã bị chìm ngập trong cuộc chiến. Mọi phương tiện giao thông bị ngưng trệ. Vì một trung tâm thông tin lớn nơi mà các con đường từ bắc, nam, đông, tây hội tụ lại nằm ngay phía sau mặt trận Đức, nên Varsovie không còn tồn tại nữa. Cuộc chiến dấu vì thành phố này vẫn tiếp diễn".

        Tin tức này đến Luân Đôn ngày hôm sau, và chúng tôi sốt ruột chờ đợi kết quả. Đài Liên Xô không phát nữa và hoạt động không quân của Nga cũng ngừng lại. Ngày 4 tháng 8, Đức đã bắt đầu tấn công từ các cứ điểm mà họ chiếm giữ khắp thành phố  và các vùng ven đô. Chính phủ Ba Lan ở Luân Đôn đã nói với chúng tôi về tình trạng khẩn cấp khôn cùng của việc gửi thêm đồ tiếp tế bằng đường hàng không. Cuộc khởi nghĩa giờ đã bị 5 sư đoàn Đức tập trung nhanh chóng đè bẹp. Sư đoàn Hermann Goering đã được điều đến từ Ý và hai sư đoàn S.S đã đến ngay sau đó.

        Tôi đã đánh điện ngay cho Staline:

        "Theo yêu cầu khẩn cấp của Quân đội Bí mật Ba Lan ở Luân Đôn, tùy thuộc vào thời tiết, chúng tôi đang đưa khoảng 60 tấn thiết bị và đạn được vào phía đông nam Varsovie, nơi mà người ta nói rằng một cuộc khởi nghĩa Ba Lan chống lại Đức là một cuộc chiến ác liệt. Họ cũng nói rằng họ kêu gọi sự viện trợ của Nga mà dường như rất gần. Họ đang bị gần một sư đoàn rưỡi Đức tấn công. Điều này có thể có lợi cho cuộc hành quân của ông".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #513 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:08:15 AM »


        Bức điện trả 1ời rất nhanh và khó chịu.

        "Tôi đã nhận được thông diệp của ông về Varsovie.

        Tôi nghĩ rằng những tin tức được người Ba Lan truyền tới ông đã bị thổi phồng quá đáng và không tin được. Người ta có thể đi tới kết luận như vậy thậm chí từ việc những người di trú Ba Lan đã công bố rằng tất cả bọn họ ngoại trừ Vilna bị bắt giữ, cùng với một vài đơn vị di lạc của quân nước họ và thậm chí họ đã tuyên bố như vậy trên đài. Nhưng dù sao chăng nữa thì điều đó cũng không khớp với thực tế. Quân đội Quốc gia của người Ba Lan này bao gồm một vài đội đặc nhiệm mà họ gọi không đúng là các sư đoàn. Họ không có pháo, không máy bay, và không có cả xe tăng. Tôi không thể tưởng tượng được làm thế nào họ có thể chiếm được Varsovie, vì phải bảo vệ nó mà Đức đã điều 4 sư đoàn xe tăng, trong số đó có sư đoàn Hermann Goering".

        Trong khi cuộc chiến nổ ra từ hết các phố này đến phố khác chống lại những chiếc xe tăng "Con hổ" của Đức, và đến ngày 9 tháng 8 Đức đã đẩy một mũi tiến công cánh phải qua thành phố thẳng tới Vistula, đột phá các quận huyện Ba Lan nắm giữ, vào tới các khu vực độc lập. Nhũng cố gắng của R.A.F., với các đội bay của Ba Lan, Anh, Dominion nhằm đưa thêm viện trợ cho Varsovie từ các cơ sở Ý đều trở nên mờ nhạt và không đủ. Hai chiếc máy bay đã xuất hiện vào đêm 4 tháng 8, và ba chiếc xuất hiện vào bốn đêm sau đó.

        Thủ tướng Ba Lan, Mykolajczyk, đã đến ở Matxcơva từ 30 tháng 7 đang cố xác lập một vài điều khoản với Chính quyền Liên Xô, đã công nhận Hội đồng Giải phóng Dân tộc Cộng sản Ba Lan, Hội đồng Lublin, như chúng tôi gọi, là chính quyền tương lai của đất nước này. Những cuộc đàm phán này đã diễn ra trong suốt những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Varsovie. Những bức điện của Tướng Bor được gửi tới Mikolajczyk hàng ngày để xin thêm đạn dược và vũ khí chống tăng, và xin thêm sự trợ giúp của Hồng Quân. Trong khi đó Nga đang phác thảo một hiệp định về đường biên giới Ba Lan hậu chiến tranh và thành lập một Chính phủ Liên hiệp. Cuộc họp cuối cùng không kết quả với Staline đã diễn ra ngày 9 tháng 8.

        Vào đêm 16 tháng 8, Vyshinsky giải thích rằng để tránh hiểu lầm, ông đã yêu cầu Đại sứ Mỹ tại Nga hãy gọi và giải thích rằng ông ta mong muốn tránh một khả năng hiểu lầm, đọc to tuyên bố lạ lùng sau đây:

        "Dĩ nhiên Chính phủ Liên Xô không thể phản đối không cho máy bay của Mỹ hoặc Anh cung cấp vũ khí cho khu vực Varsovie mặc dù dây là một vấn đề của Anh hoặc Mỹ. Nhưng họ dứt khoát không đồng ý cho máy bay Anh hoặc Mỹ, sau khi đã rót vũ khí cho khu vực này của Varsovie, sẽ hạ cánh xuống lãnh thổ Liên Xô vì Chính phủ Liên Xô không muốn mình dính líu một cách trực tiếp hay gián tiếp tới sự mạo hiểm ở Varsovie".

        Cùng ngày hôm đó tôi đã nhận được một bức điện với những từ ngữ mềm mỏng hơn của Staline như sau:

        "Sau cuộc nói chuyên với ông Mykolajczyk tôi đã lệnh cho Bộ Tư lệnh Hồng quân thả vũ khí liên tục cho khu vực Varsovie. Một sĩ quan liên lạc nhảy dù cũng được đưa xuống, người mà theo báo cáo của bộ chỉ huy đội quân này cho biết thì anh ta đã không tới được mục tiêu của mình vì đã bị quân Đức giết chết.

        Hơn thế, sau khi tự làm quen một cách mật thiết hơn với sụ kiện Varsovie, tôi cho rằng hành động Varsovie chứng tỏ một sự mạo hiểm khủng khiếp và liều lĩnh phải trá giá bằng sự hy sinh to lớn của dân chúng. Điều này sẽ chằng xảy ra nếu Bộ Tư lệnh Xô Viết được thông báo trước khi bắt đầu cuộc chiến đấu ở Varsovie và nếu người Ba Lan vẫn duy trì sự liên lạc với nó.

        Trong tình hình đang nổi lên như vậy, Bộ Tư lệnh Xô Viết đã đi đến kết luận rằng nó phải tự rút khỏi sự mạo hiểm Varsovie, vì nó không thể nhận trách nhiệm hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp về cuộc chiến đấu ở Varsovie".


        Theo như tường trình của Mykolajczyk thì đoạn đầu của bức điện này không đúng. Hai viên chức đã đến Varsovie an toàn và được quân đội Ba Lan đón tiếp. Một đại tá Liên Xô cũng đã ở đó vài ngày, và đã gửi các thông điệp cho Liên Xô thông qua Luân Đôn thúc giục sự hỗ trợ cho quân khởi nghĩa.

        Bốn ngày sau, Roosevelt và tôi gửi cho Staline bản kêu gọi chung mà Tổng thống đã phác thảo sau đây:

        "Chúng tôi đang nghĩ đến dư luận thế giới nếu những người chống Đức Quốc Xã tại Varsovie bị bỏ rơi. Chúng tôi cho rằng cả ba chúng ta nên làm hết sức để cứu những người yêu nước càng nhiều càng tốt. Chúng tôi hy vọng ông sẽ thả các thiết bị cần thiết và vũ khí cho người Ba Lan yêu nước ở Varsovie, hay là ông có đồng ý giúp đỡ những máy bay của chúng tôi làm công việc này nhanh chóng? Chúng tôi hy vọng ông sẽ thỏa thuận. Yếu tố thời gian là cực kỳ quan trọng".

        Đây là sự trả lời mà chúng tôi nhận được:

        "Tòi đã nhận được bức điện của Ông và Ông Roosevelt về Varsovỉe. Tôi muốn bày tỏ quan điểm của mình. Sớm hay muộn thì sự thật về nhóm tội phạm đã bắt tay vào sự mạo hiểm Varsovie để nắm giữ quyền lực sẽ được tất cả mọi người biết đến. Những người này đã khai thác, lợi dụng lòng tin tốt đẹp của người dân Varsovie, khiến những người dân hầu hết không vũ khí chống lại súng ống, xe tăng, và máy bay Đức. Tình hình đang ngày một dâng cao nhưng nó không phục vụ cho người Ba Lan giải phóng Varsovie mà cho những kẻ theo Hitler đang bắn giết không thương tiếc dân chúng Varsovie.

        Trong tình hình đang diễn ra, theo quan điểm quân sự, thì việc ngày càng hướng sự chú ý của Đức tới Varsovie là không thể đem lại lời ích cho Hồng quân cũng như là cho người Ba Lan. Trong khi đó quân đội Liên Xô vừa rồi đã chạm trán với những cố gắng mới và mạnh mẽ nhằm chuyển hướng phản công của quân Đức, đang làm mọi việc có thể để đập tan những cuộc phản công của quân Hitler và chuyển sang một cuộc tấn công đại qui mô vào khu vực Varsovỉe. Không thể nghi ngờ gì nữa,

        Hồng quân đang cố gắng hết sức để phá vỡ vòng vây Varsovie của Đức và giải phóng Varsovie cho người Ba Lan. Đó sẽ là sự giúp đỡ có hiệu quả nhất, tốt nhất cho người Ba Lan là những người chống lại Đức Quốc Xã".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #514 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:09:04 AM »


*

        Trong khi đó, nỗi thống khổ của Varsovie đã lên đến đỉnh cao. Một nhân chứng điện cho biết: "Suốt đêm qua, lực lượng thiết giáp Đức đã có những cố gắng quyết định để hỗ trợ cho những căn cứ địa trong thanh phố. Tuy nhiên, đây chẳng phải công việc dễ dàng gì bởi vì mọi góc phố đều được xây những chướng ngại vật khổng lồ, hầu hết được thiết kế bằng những miếng bê tông được lấy từ các phố đặc biệt cho mục đích này. Vì thế, trong hầu hết các trường hợp, những cố gắng đều thất bại và đoàn xe tăng đã trút nỗi thất vọng của họ bằng cách châm lửa đốt vài ngôi nhà và bắn pháo từ xa. Trong nhiều trường hợp họ phóng hỏa vào một số người chết đang nằm ngổn ngang trên phố ở nhiều nơi..."

        "Khi quân Đức mang tiếp thêm những chiếc xe tăng cho một trong số những tiền đồn của họ, họ đã đẩy ra trước mặt họ 500 phụ nữ và trẻ em để ngăn chặn quân đội (Ba Lan) có hành động chống lại họ. Nhiều người trong số họ đã bị chết và bị thương. Kiểu hành động tương tự cũng đã được báo lại từ rất nhiều nơi khác trong thành phố.

        "Người chết được chôn cất ở trong các sân sau và các quảng trường. Tình trạng lương thực xuống cấp liên tục, nhưng vẫn chưa xảy ra nạn đói. Hôm nay (15 tháng Cool chẳng có một tí nước nào trong đường ống cả. Nó đang được hút lên khỏi những giếng nước hiếm hoi và từ những nguồn dự trữ trong nhà. Bốn bề thành phố chìm trong lửa đạn. Sự thả xuống các nguồn tiếp tế đã tăng cường thêm ý chí. Tất cả mọi người đều muốn chiến đấu và sẽ chiến đấu, nhưng sự không chắc chắn về một kết quả nhanh chóng là điều đáng thất vọng..."

        Cuộc chiến cũng diễn ra ngầm dưới đất theo đúng nghĩa của nó. Phương tiện thông tin duy nhất nối giữa các khu vực khác nhau do người Ba Lan nắm giữ đều được đặt qua các ống ngầm. Quân Đức đã ném lựu đạn và bom ga vào các lỗ thông hơi nhân tạo. Cuộc chiến diễn ra trong màn tối đen như mục giữa những người ngập nửa mình trong phân, đôi khi chiến đấu giáp lá cà bằng dao và dìm các đối thủ của mình trong đống nước nhầy nhụa đó. Trên mặt đất, các chiến binh và pháo thủ Đức đã đốt cháy nhiều vùng rộng lớn của thành phố.

*

        Tôi đã hy vọng Mỹ sẽ giúp đỡ chúng tôi bằng những hành động mạnh mẽ, nhưng ông Roosevelt đã làm ngược lại. Ngày 1 tháng 9, tôi đã tiếp Mykolajczyk trên đường từ Matxcova trở về. Tôi chỉ có chút ít tiện nghi dành cho ông ta. Ông ta nói với tôi rằng ông ta chuẩn bị đề nghị một giải pháp chính trị với Hội đồng Lublin, cho họ 14 ghế trong Chính phủ Liên hiệp. Nhũng đề nghị này do chính những người đại diện của tổ chức Bí mật Ba Lan tại Varsovie thảo luận dưới lửa đạn. Đề nghị đã được đa số chấp thuận. Một năm sau đó hầu hết những người tham gia trong những quyết định này bị đưa ra trước một tòa án Liên Xô tại Varsovie vì tội "phản bội tổ quốc".

        Khi nội các triệu tập vào đêm 4 tháng 9, tôi nghĩ vấn đề nghiêm trọng tới mức mà mặc dù tôi đã bị sốt nhưng tôi đã phải rời khỏi giường để tới phòng hợp bí mật ngầm dưới đất của chúng tôi. Chúng tôi cùng bàn bạc với nhau nhiều vấn đề không hay. Tôi không còn nhớ trong vài trường hợp, những con giận ngấm ngầm của tất cả các thành viên của chúng tôi biếu lộ ra ngoài như các thành viên của đảng Bảo Thủ, Công Đảng, Tự Do. Lẽ ra tôi nên nói "Chúng tôi đang gửi những chiếc máy bay để hạ cánh xuống lãnh thổ của các ông sau khi giao các khoản tiếp tế giúp cho Varsovie. Nếu như các ông không đối xử với họ một cách hợp lý chúng tôi sẽ cho dừng tất cả các đoàn tàu ngay từ giờ phút này". Nhưng độc giả đọc đến trang này nhiều năm sau hẳn phải nhận thấy rằng tất cả mọi người luôn phải nghĩ đến vận mệnh của hàng triệu người chiến đấu trong một cuộc đại chiến thế giới, và phải thừa nhận rằng đôi khi phải chấp nhận quy phục một cách đau đớn và thậm chí nhục nhã vì mục đích chung. Bởi vậy, tôi đã không đề nghị phương án mạnh mẽ này. Nó chắc chắn là có hiệu quả, bởi vì chúng tôi đang giải quyết với những người trong điện Kremlin, những người đang bị những tính toán chứ không phải tình cảm sai khiến. Họ không có ý định để cho tinh thần Ba Lan lại nổi lên ở Varsovie. Các kế hoạch của họ được dựa trên cơ sở Hội đồng Lublin. Đó là Ba Lan duy nhất mà họ quan tâm. Việc cắt bớt những đoàn tàu vào thời điểm quan trọng trong bước tiến lớn của họ có lẽ đã nổi bật trong đầu óc họ nhiều như những sự tính toán về danh dự, lòng nhân đạo, lòng tin, thường quan trọng... với dân thường.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #515 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:10:16 AM »


        Với quyền hạn tập thể của mình, Nội các Chiến tranh đã gửi cho cho Staline bức điện sau. Chúng tôi nghĩ rằng đó là cách làm khôn ngoan nhất:

        "Nội các chiến tranh muốn Chính phủ Liên Xô biết rằng dư luận công chúng ở đất nước này xúc động sâu sắc bởi các sự kiện tại Varsovie và bởi nỗi đau khổ khủng khiếp của người Ba Lan ở đó. Bất cứ điều gì dù đúng hay sai về nguồn gốc của cuộc nổi dậy Varsovie, thì bản thân người dân Varsovie cũng không thể bị buộc phải nhận trách nhiệm về quyết định đã được đưa ra. Nhân dân chúng tôi không thể hiểu được tại sao không có một sự giúp đỡ vật chất nào từ bên ngoài được gửi đến Ba Lan tại Varsovie. Thực ra sự trợ giúp như vậy không được đưa đến bởi vì việc Chính phủ của ông từ chối cho máy bay Mỹ hạ cánh xuống các sân bay nằm trong tay Nga hiện dang được biết đến một cách rộng rãi. Nếu như vì tất cả những điều này mà người Ba Lan ở Varsovie có lẽ đã bị quân Đức giày xéo như là họ đã nói với chúng tôi chắc chắn bị như vậy trong vòng hai, ba ngày, thì chấn động đối với công luận là không thể tính được...

        Do lòng kính trọng đối với Nguyên soái Staline và người dân Liên Xô, những người mà chúng tôi có nguyện vọng thiết tha được cùng làm việc trong những năm sau này, Nội các Chiến tranh đã yêu cầu tôi đưa ra đề nghị này tới Chính phủ Liên Xô là hãy đưa ra bất kỳ sự giúp dỡ nào có thế được trong quyền hạn của mình, và trên hết là cung cấp các phương tiện cho máy bay Mỹ hạ cánh xuống các sân bay của ông vì mục đích này".


        Ngày 10 tháng 9, sau 6 tuần hành hạ người Ba Lan, điện Kremlin dường như đã thay đổi chiến thuật. Chiều hôm đó, đạn pháo của Liên Xô bắt đầu đổ vào vùng ngoại ô phía Đông Varsovie, và các máy bay Liên Xô đã xuất hiện trở lại khắp thành phố. Lực lượng Cộng sản Ba Lan theo lệnh Liên Xô đã đánh mở đường vào khu vực bao quanh thành phố từ ngày 14 tháng 9 trở đi. Lục lượng Không quân Liên Xô đã thả viện trợ, nhưng rất ít dù được mở và nhiều công-ten-nơ bị vỡ nát và vô dụng. Ngày hôm sau, Nga đã chiếm được ngoại ô Praha nhưng không tiến thêm nữa. Họ muốn những người Ba Lan không Cộng sản bị đập tan hoàn toàn, nhưng cũng muốn nuôi dưỡng ý tưởng rằng họ sẽ đi đến sự tự cứu của họ. Trong khi đó, quân Đức đã bắt đầu việc thanh toán các trung tâm kháng chiến khắp thành phố. Một vận mệnh đáng sợ đã xảy ra với dân chúng. Nhiều người bị quân Đức lưu đày. Những lời kêu gọi của tướng Bor tới vị chỉ huy Liên Xô, Nguyên soái Rokossovsky, đã không được trả lời. Nạn đói đã xảy ra.

        Mọi cố gắng của tôi để nhận được viện trợ của Mỹ đã dẫn đến một hành động đơn độc nhưng qui mô lớn. Ngày 18 tháng 9, 104 chiếc máy bay oanh tạc hạng nặng bay qua thành phố thả các khoản viện trợ. Đã quá muộn. Tối ngày 2 tháng 10, Mykolajczyk đã đến nói với tôi rằng lực lượng Ba Lan tại Varsovie đang chuẩn bị đầu hàng quân Đức. Ở Luân Đôn người ta bắt được một trong số những bài truyền thanh cuối cùng phát đi từ thanh phố lịch sử này:

        "Đây là một sự thật phũ phàng. Chúng tôi bị đối xử còn tồi tệ hơn cả những nước phụ thuộc của Hitler, tồi tệ hơn cả Ý, Rumani, Phần Lan. Có lẽ Chúa, người luôn công bằng, sẽ thông qua lời phán quyết đối với sự bất công khủng khiếp mà đất nước Ba Lan phải chịu đựng, và có lẽ Người sẽ trừng phạt tất cả những kẻ có tội.

        Những người anh hùng của các ông là những người lính chỉ với thứ vũ khí là những khẩu súng ru-lô và các chai lọ đựng đầy xăng để chống lại xe tăng, máy bay, và súng. Những người anh hùng của các ông là những phụ nữ đã chăm sóc cho những người bị thương và truyền những bức thông điệp đi dưới làn dạn, những người đã nấu nướng để nuôi dưỡng trẻ con và người già trong những hầm chứa đổ nát và trong những hố bom, những người đã xoa dịu và an ủi những người đã khuất. Những anh hùng của các ông là những trẻ em đang lặng lẽ chơi trong những đống đổ nát còn đang âm ỉ cháy, họ là những người dân Varsovie.

        Điều bất hủ là đất nước này đã có thể qui tụ chí khí anh hùng quốc tế như vậy. Bởi vì những người đã chết, đã chiến thắng và những người còn sống sẽ tiếp tục đấu tranh, sẽ chiến thắng và một lần nữa chứng minh rằng Ba Lan còn sống khi người Ba Lan còn tồn tại."


        Những lời nói này không thể nào xóa được. Cuộc chiến đấu ở Varsovie đã kéo dài hơn 60 ngay. Khoảng 15.000 trong số 40.000 đàn ông và phụ nữ trong Quân đội Bí mật Ba Lan đã ngã xuống. Gần 200.000 người dân trong khoảng 1 triệu người phải đau khổ mất mát. Việc đàn áp cuộc khởi nghĩa của Quân đội Đức phải trả giá bằng 10.000 người chết, 7.000 mất tích, và 9.000 người bị thương. Nhũng con số này đã minh chứng cho tính chất giáp lá cà của cuộc chiến đấu.

        Khi quân Nga tiến vào thành phố này ba tháng sau đó, họ đã tìm thấy vài con phố nhưng đã bị phá hủy và những xác chết chưa được chôn cất. Sự nghiệp giải phóng Ba Lan của họ nơi mà bây giờ họ đang quản lý là như vậy đấy. Tuy nhiên đây không thể là phần cuối của câu chuyện.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #516 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:10:56 AM »


16

MIẾN ĐIỆN

        Giờ đây bức màn được kéo lên tại một sân khấu rộng lớn khác ở Đông Nam Á. Trong vòng hơn 18 tháng, người Nhật đã làm chủ một vòng cung phòng thủ rộng lớn bảo vệ những miền lãnh thổ họ chiếm được lúc đầu. Vòng cung này trải dài từ vùng núi phủ rừng rậm nhiệt đói của miền Bắc và miền Tây Miến Điện, nơi những đội quân Anh - Ấn của chúng tôi đang sắp giáp chiến với họ, sang bên kia vùng biển đến Andamans và các thuộc địa lớn của Hà Lan là Sumatra và Java và từ đó vòng về phía đông dọc theo một dải những đảo nhỏ hơn đến New Guinea.

        Người Mỹ đã thành lập một lực lượng ném bom ở Trung Quốc, đang hoạt động rất tốt để chống lại sự giao thông trên biển giữa đất liền và quần đảo Philippines của địch. Họ muốn mở rộng nỗ lực này bằng cách dựa vào những máy bay tầm xa ở Trung Quốc để tấn công vào chính nước Nhật. Con đường Miến Điện đã bị chia cắt và họ đang vận chuyển toàn bộ nguồn tiếp tế cho quân của họ và những đạo quân Trung Quốc bằng đường hàng không qua những mũi núi nhô ra ở phía nam của dãy Himalayas, được họ gọi là "cái bướu". Đó là một kỳ tích lớn. Người Mỹ mong muốn cứu trợ Trung Quốc, không chỉ bằng vận tải theo đường hàng không ngày càng tăng mà còn bằng đường bộ, dẫn đến những đòi hỏi nặng nề đối với Anh và Ấn Độ . Họ đã thúc giục việc xây dựng một xa lộ từ đầu đường hiện có ở Ledo xuyên qua năm trăm dặm rừng nhiệt đới và núi non vào trong lãnh thổ Trung Quốc, coi đó như một vấn đề có tính cấp bách và quan trọng nhất. Chỉ có một đường sắt một chiều loại rộng một mét chạy qua Assam đến Ledo. Nó đã được sử dụng liên tục cho nhiều nhu cầu khác, kể cả việc chở quân đến nắm giữ những vị trí tiền tiêu, nhưng để xây dựng một con đường đến Trung Quốc, người Mỹ muốn chúng tôi trước hết phải nhanh chóng chiếm lại miền Bắc Miến Điện.

        Dĩ nhiên chúng tôi muốn giữ Trung Quốc trong cuộc chiến và điều hành lực lượng không quân từ lãnh thổ của nước này hơn, tuy nhiên cần có một cảm nhận về sự tương xứng và sự nghiên cứu về khả năng lựa chọn khác nhau. Tôi rất không thích cái triển vọng có một chiến dịch qui mô lớn ở miền Bắc Miến Điện. Người ta không thể chọn một nơi tồi tệ hơn vùng đó để đánh Nhật. Làm một con đường từ Ledo đến Trung Quốc cũng là nhiệm vụ to lớn và nặng nề, không ai nghĩ rằng con đường đó sẽ được hoàn thành trước khi nhu cầu đối với nó đã qua đi. Thậm chí nếu nó được hoàn thành đúng lúc để hỗ trợ thêm cho những đạo quân Trung Quốc trong khi họ vẫn còn tham chiến, điều này cũng chẳng khiến cho năng lục chiến đấu của họ khác đi là mấy. Theo quan điểm của chúng tôi, nhu cầu củng cố lại các căn cứ không quân Hoa Kỳ ở Trung Quốc cũng giảm bớt khi các cuộc tiến quân của Đồng minh tại vùng Thái Bình Dương và từ Úc đã mang lại cho chúng tôi những phi trường gần nước Nhật hơn. Vì vậy, đối với cả hai đề nghị này, chúng tôi lý luận rằng trong lúc này không đáng phải tiêu tốn nhân lực và vật lực nhiều đến như vậy. Nhưng chúng tôi đã chưa bao giờ thành công trong việc lung lạc người Mỹ khỏi những mục tiêu của họ. Tâm lý dân tộc của họ là ý tưởng càng lớn thì họ càng toàn tâm toàn ý và kiên định trong việc mang lại thành công cho nó. Đó là một tính cách đáng được ngưỡng mộ, miễn là ý tưởng đó phải hay.

        Dĩ nhiên là chúng tôi muốn tái chiếm Miến Điện, nhưng chúng tôi không muốn buộc phải làm điều này bằng những cuộc tiến quân đường bộ theo những con đường nhỏ và qua một quốc gia đang bị đe dọa là dễ có chiến tranh nhất. Miền nam Miến Điện với cảng Rangoon có giá trị hơn miền bắc rất nhiều. Nhưng cả hai miền này đều cách xa nước Nhật. Ngược hẳn lại, tôi muốn cầm chân người Nhật ở Miến Điện và đột nhập vào hay xuyên thọc qua vong cung khổng lồ những hòn đảo tạo thành vành đai bên bao quanh vùng Đông Ấn của Hà Lan, toàn bộ mặt trận của Anh và Ấn Độ vì vậy sẽ tiến quân qua vịnh Bengal để tiếp cận sát hơn với kẻ thù bằng lực lượng đổ bộ trong tất cả các giai đoạn. Những ý kiến khác nhau này, mặc dù được nêu ra một cách chân thành và được thảo luận một cách cởi mở, cùng với những quyết định được thực hiện một cách triệt để, vẫn cứ tiếp tục nảy sinh. Câu chuyện về chiến dịch này nên được bàn về cơ sở địa lý, nguồn lực hạn chế và sự và chạm giữa các phương sách.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #517 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:11:14 AM »


*

        Câu chuyện bắt đầu vào tháng Mười Hai 1943, khi tướng Stilwell, với hai sư đoàn được ông ta tổ chức và huấn luyện ở Ấn Độ, đã từ Ledo vượt qua khu lưu vực sông tiến vào trong vùng rừng rậm nhiệt đới phía dưới rặng núi chính. Ông ta đã gặp phải sự kháng cự của Sư đoàn 18 của Nhật mới được biên chế lại, nhưng vẫn tiến đều đặn về phía trước, và vào đầu tháng Giêng đã vào sâu được bốn mươi dặm, trong lúc những người làm đường vẫn còn đang làm việc cật lực ở phía sau. Ở miền nam một quân đoàn của Anh đã bắt đầu xuống vùng bờ biển Arakan thuộc vịnh Bengal và cùng lúc đó, với một cuộc tập kích của máy bay Spitfires, vừa mới tới đó, chúng tôi đã đạt được một sự vượt trội về không quân, mà chẳng mấy chốc đã được xác định là vô giá.

        Vào tháng Hai, việc tiến quân của chúng tôi đột nhiên tạm dừng lại. Người Nhật cũng đã có một kế hoạch. Từ tháng Mười Một, chúng đã tăng cường lực lượng tại Miến Điện từ 5 lên 8 sư đoàn, và bây giờ chúng định xâm chiếm vùng Đông Ấn và giương cao lá cờ chống Anh. Hành động tức khắc đầu tiên của chúng là một cuộc phản công ở Arakan về phía cảng Chittagong, để thu hút lực lượng dự bị và sự chú ý của chúng tôi. Trong khi kìm chân Sư đoàn 5 của chúng tôi ở phía trước trên bờ biển, chúng đã cho chuyển phần mạnh hơn tương đương với một sư đoàn vượt qua vùng rừng rậm nhiệt đới và vây quanh sườn Sư đoàn 7 hiện đang ở sâu hơn trong đất liền. Trong vòng vài ngày, nó bị bao vây và quân địch đe dọa sẽ cắt con đường dọc theo bờ biển phía sau Sư đoàn 5. Chúng hoàn toàn tin rằng cả hai sư đoàn này sẽ phải rút lui, nhưng chúng đã tính toán thiếu một yếu tố, đó là sự chi viện bằng máy bay. Sư đoan 7 đã tập hợp  lại ở vành ngoài, kiên cường trụ vững và đã đánh bật chúng ra. Trong vòng hai tuần, thức ăn, nước uống và đạn dược đã được thả xuống cho họ bằng máy bay, như là những lộc của trời cho. Quân địch đã không có những phương tiện như vậy; chúng chỉ đem theo nguồn dự trữ cho 10 ngày, và sự ngoan cường của Sư đoàn 7 đã ngăn đối phương tiến lại gần hơn. Không thể áp đảo được những đội tiền quân của chúng tôi và bị ép từ phía bắc bởi một sư đoàn rút từ quân dự bị của chúng tôi, chúng đã phải chia thành nhiều nhóm nhỏ và mở đường rút lui qua vùng rùng rậm nhiệt đới, để lại phía sau năm ngàn quân bị chết. Huyền thoại về sự vô địch của người Nhật tại vùng rừng rậm nhiệt đới kết thúc ở đây.

        Tuy nhiên, nhiều vấn đề nữa sắp xẩy đến. Cũng trong tháng Hai năm 1944, có những dấu hiệu chắc chắn cho thấy mặt trận trung tâm của chúng tôi ở Imphal sẽ bị tấn công. Chính chúng tôi cũng đang chuẩn bị tiến quân đến sông Chindwin. Lực lượng xâm nhập từ xa của Wingate, giờ đây rất nổi tiếng, đang sẵn sàng cho một cuộc tấn công đầy mạo hiểm vào các tuyến đường tiếp tế và hệ thống đường giao thông của kẻ thù, đặc biệt là tuyến đường tiếp tế và đường giao thông của những sư đoàn Nhật mà Stilwell đang sắp phải giáp chiến. Mặc dầu sự thật đã rõ rằng người Nhật sẽ ra đòn trước, người ta đã quyết định rằng các lữ đoàn của Wingate vẫn nên tiếp tục nhiệm vụ của họ. Một lữ đoàn của ông đã sẵn sàng bắt đầu vào ngày 5 tháng Hai. Họ đã hành quân xuyên qua bốn trăm năm mươi dặm đường núi và rừng nhiệt đới và chỉ được với tiếp tế từ trên không. Vào ngày 5 tháng Ba, được một "đơn vị đặc công hàng không" của Mỹ với hai trăm năm mươi súng máy yểm trợ, hai lữ đoàn nữa của Anh và những đội quân thuộc lực lượng Gurkha đã bắt đầu được đưa tới bằng máy bay. Sau khi tập trung lại ở điểm tập kết, họ đã lên đường và chia cắt đường xe lửa phía bắc Indaw. Wingate đã không sông được lâu để hưởng thành công đầu tiên hay để gặt hái kết quả này. Vào ngày 24 tháng Ba, trong nỗi đau to lớn của tôi, ông ta đã bị bắn chết trên không. Cùng với ông, một ngọn lửa cháy sáng đã tắt.

        Cú đồn chủ lực của kẻ thù đã thất bại đúng như chúng tôi đã trông đợi trên mặt trận trung tâm của chúng tôi. Vào ngày 8 tháng Ba, ba sư đoàn Nhật đã tấn công. Tướng Scoones rút quân đoàn 4, cũng gồm ba sư đoàn, đến miền trung du Imphal để tập trung chiến đấu trên một trận địa do ông ta lựa chọn. Bọn Nhật đã lặp lại chiến thuật chúng đã dùng trong tấm thảm kịch ở Arakan. Chúng đã tính đến cả việc chiếm lấy các kho dự trữ của chúng tôi ở Imphal để nuôi quân mình. Chúng cũng có ý định chia cắt không chỉ con đường bộ đến Dimapur mà cả đường sắt tới đó, để cắt đút con đường tiếp tế vẫn duy trì lực lượng của Stilwell và cuộc không vận của Mỹ đến Trung Quốc. Những vấn đề quan trọng đang bị đe dọa.

        Vấn đề chủ chốt lại là máy bay vận tải. Nguồn lực của Mountbatten, dẫu rằng là đáng kể, cũng không tạm đủ được. Ông ta tìm cách giữ lại 20 máy bay của Mỹ mượn được từ chiến dịch không vận mang tên "Cái Bướu", và còn xin thêm bẩy mươi chiếc nữa. Đây là một yêu cầu khó thực hiện. Trong những tuần lễ khó khăn tiếp theo đó, tôi đã dành cho ông ta sự ủng hộ mạnh mẽ nhất của mình. Chúng tôi tạm dừng cuộc hành quân trên bờ biển Arakan, cho rút hai sư đoàn chiến thắng của Ấn Độ  và đưa đội quân này bay đến giúp ông ta. Sư đoàn 5 đến Imphal, nơi đây quân địch đang ép mạn ở ba hướng vào rìa đồng bằng; sư đoàn 7 đến Dimapur. Tổng hành dinh quân đoàn thứ 33 của Tướng Stopford cũng đã được chuyển theo hướng đó bằng đường sắt, cùng với một sư đoàn của Anh và hai lữ đoàn khác. Con đường xuyên qua núi bây giờ đã bị chia cắt, và lực lượng mới này đã bắt đầu chiến đấu mở đường lên phía trước.

        Giữa họ và Imphal là thị xã bên đường Kohima, nơi có sẵn một đường đèo đến thung lũng Assam, và ở đây vào ngày 4 tháng Tư, bọn Nhật đã mở một đợt tấn công dữ dội khác. Chúng đã dùng trọn một sư đoàn. Đơn vị đồn trú của chúng tôi gồm một tiểu đoàn thuộc Royal West Kent, một tiểu đoàn Nepal và một tiểu đoàn của Assam Rifles, tất cả, thậm chí cả những người đang hồi phục sức khỏe từ các bệnh viện nhưng còn cầm được súng. Họ đã dần dần hồi phục lại trong một khu vực ngày càng hẹp, và cuối cùng bị dồn lên trên một quả đồi đơn độc. Họ không có tiếp tế ngoại trừ những gì được thả dù xuống. Bị tấn công ở tất cả các hướng, họ kiên cường trụ vững với sự yểm trợ của máy bay ném bom và hỏa lực ca nông từ trên không, cho đến khi tướng Stopford giải vây cho họ vào ngày 20, bốn nghìn lính Nhật đã bị giết. Sự phòng thủ kiên cường và quyết liệt của thị trấn Kohima là một tình tiết rất hay.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #518 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:12:11 AM »


*

        Cao trào của cuộc giao tranh đến vào tháng Năm năm 1944. Sáu mươi ngàn binh lính của Anh và Ấn Độ, với toàn bộ trang thiết bị hiện đại của họ, đã bị đặt trong vòng vây ở đồng bằng Imphal. Cùng với những công việc khác tôi đã cảm thấy căng thẳng. Tất cả đều phụ thuộc vào máy bay vận tải. Trên nguyên tắc "không có gì quan trọng bằng trận đánh" tôi đã dùng đến quyền lực của mình. Ngày 4 tôi gửi điện cho Đô đốc Mountbatten.

        "Đừng để tuột khỏi tay bất cứ thứ gì trong trận đánh mà ông cần phải chiến thắng. Tôi sẽ không chấp nhận sự từ chối điều này xuất phát từ bất kỳ sự khoan dung nào đối với kẻ thù đầu hàng, và sẽ hết sức hậu thuẫn ông".

        Cuối cùng những đòi hỏi của ông ta đã được đáp ứng khá đầy đủ, tuy nhiên hơn một tháng nữa qua đi, tình hình vẫn đang ở mức căng thẳng tuyệt đối. Không lực của chúng tôi làm chủ ở đây, nhưng mùa mưa gió đang cản trở việc tiếp tế bằng đường không, mà sự thành công của chúng tôi lại phụ thuộc vào đó. Tất cả bốn sư đoàn của quân đoàn 4 đang chậm chạp phá vây. Dọc theo đường Kohima, lực lượng giải vây và lực lượng đang bị vây hãm đang chiến đấu để tiếp cận với nhau. Đó là một cuộc đua chống lại thời gian. Chúng tôi đã theo dõi bước tiến của họ với cảm giác căng thẳng. Ngày 22 tháng Sáu, tôi gửi điện cho Mountbatten:

        "Các tham mưu trưởng đã tỏ ra lo lắng về tình hình ở Imphal, đặc biệt đối với dự trữ tiếp tế và đạn được. Ông hoàn toàn được quyền đòi hỏi toàn bộ số máy bay cần thiết để duy trì tình hình, có thể lấy từ chiến dịch "Cái Bướu" hay từ bất kỳ nguồn nào khác. "Cái Bướu" phải được coi là dự bị trong thời điểm hiện nay, và sẽ bị dừng lại bất cứ khi nào thấy cần... Nếu như nhu cầu của ông không thể được đáp ứng đúng lúc, hãy gọi cho tôi nếu thấy cần có sự giúp đỡ nào ở đây, và sẽ không hay ho gì nếu về sau ông lại phàn nàn khi việc này thất bại. Hãy luôn theo sát công việc, mà đối với tôi dường như là vừa quan trọng và vừa nguy hiểm. Xin gửi ông mọi lời chúc mừng tốt đẹp nhất".

        Giai đoạn kết đã đến khi bức thư này vẫn đang trên đường. Tôi xin trích dẫn lời báo cáo của ông ta:

        "Trong tuần thứ ba của tháng Sáu, tình hình rất nguy kịch, và sau tất cả những nỗ lực của hai tháng trước đó, cuối cùng dường như có thể là đầu tháng bẩy, quân đoàn 4 sẽ không còn quân dự bị nữa. Nhưng đến ngày 22 tháng Sáu, với một tuần rưỡi trong tay, sư đoàn 2 của Anh và sư đoàn 5 của Ấn Độ đã gặp nhau ở một điểm cách Imphal hai mươi chín dặm về phía Bắc và con đường đến miền đồng bằng đã mở. Cùng ngày hôm dó đoàn xe tiếp tế bắt đầu lăn bánh đến đây".

        Cuộc xâm lược của Nhật Bản vào Ấn Độ đã chấm dứt như thế. Những mất mát của chúng là khủng khiếp. Hơn mười ba ngàn xác chết đếm được trên chiến trường và tính cả người chết vì bị thương, bị bệnh, hay vì đói, tổng số theo một ước tính của người Nhật lên đến 65.000 người.

        Mùa gió mùa, lúc này đang ở cao điểm, trong những năm trước đã làm tắc những hoạt động quân sự mang tính chủ động và không nghi ngờ gì nữa đã trông chờ vào một khoảng dừng để tháo gỡ khó khăn và xây dựng lại lực lượng đã bị tổn thất nặng nề của mình. Không được phép để cho chúng có những khoảng dừng như vậy. Binh đoàn 14 của Anh - Ấn, dưới sự chỉ huy tài tình và mạnh bạo của tướng Slim, đã tấn công. Suốt dọc các con đường mòn trên núi, họ đã tìm được những bằng chứng của thảm họa - một số lượng lớn súng đạn, phương tiện vận tải, thiết bị đã bị bỏ lại, hàng ngàn người đã chết hay sắp chết. Việc tiến quân đã diễn ra rất chậm, mỗi ngày chỉ được vài dặm. Nhưng những người lính của chúng tôi đang chiến đấu dưới mưa, ướt sũng suốt ngày đêm. Cái gọi là đường ở đây chỉ gần như là những lối mòn đầy bụi vào lúc đẹp trời, còn lúc này đang rất lầy lội, và súng ống, xe cộ thường được khiêng vác hoặc đẩy qua đây. Đây không phải là sự chậm chạp trong việc tiến quân mà thật ra bất cứ một bước tiến nào cũng gây ra sự ngạc nhiên.

        Trong lúc đó lực lượng Chindits đã được củng cố, và nằm trong số các lữ đoàn của họ giờ đây, đang tiến lên phía bắc đến tuyến đường sắt từ Indaw, chặn đường quân tăng viện và phá hủy các kho quân dụng tạm thời trên đường đi. Bất chấp sự tàn phá của họ, bọn Nhật vẫn không rút quân từ mặt trận Imphal, và chỉ rút một tiểu đoàn từ mặt trận của Stilwell. Chúng đã điều sư đoàn 53 từ Siam, với cái giá phải trả là 5.400 người bị giết mà không thu được bất cứ thành công nào, để cố gắng nghiền nát những gì gây cản trở. Stilwell tiếp tục tiến đều và chiếm được Mytkyina vào ngày 3 tháng Tám, và như vậy đã tạo nên một trạm dừng cho những cuộc không vận của Mỹ đến Trung Quốc. Tuyến không vận "Cái Bướu" đã không còn là những chuyến bay trực tiếp và thường xuyên nguy hiểm từ miền bắc Assam đến vùng núi hùng vĩ Côn Minh nữa, Hoạt động đã tiến triển trên con đường dài từ miền Bắc Assam, được dự tính nối với con đường trước đây từ Miến Điện đến Trung Quốc, và sự căng thẳng trên các tuyến giao thông đi về phía sau đã giải tỏa bằng một đường ống dẫn dầu dài 750 dặm đặt từ Calcutta, còn dài hơn đường ống nổi tiếng qua sa mạc từ Iraq đến Haifa.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21790


« Trả lời #519 vào lúc: 22 Tháng Ba, 2019, 06:18:38 AM »


*

        Vào lúc này, tôi đang họp với Tổng thống ở Quebec và mặc dù có được những thành công này, tôi vẫn tiếp tục thúc giục cuộc chiến trong vùng rừng rậm nhiệt đới dù không muốn cũng phải tiếp diễn vô thời hạn. Tôi muốn có một cuộc đổ bộ qua vịnh Bengal lên Rangoon, tại cái nền của vùng đất Miến Điện. Nếu Binh đoàn 14 lúc đó quét xuống từ miền Trung Miến Điện chúng tôi sẽ có thể dọn sạch đường cho cuộc đột kích vào Sumatra. Nhưng tất cả các kế hoạch này đều đòi hỏi phải có một số lượng lớn người và của, và điều này không có đủ ỏ Đông Nam Á. Nơi duy nhất có thể có được là châu Âu. Tàu đổ bộ có thể được điều sang hoặc là từ Địa Trung Hải hay từ chiến dịch "Overlord", còn các đội quân được lấy từ Ý và từ những nơi khác, và họ sẽ phải sớm rời khỏi đó. Bây giờ là tháng Chín. Rangoon nằm cách cửa sông uốn khúc bốn mươi dặm về phía thượng nguồn, rất phức tạp với những chỗ nước chảy ngược và bờ đầy bùn lầy. Mùa gió mùa bắt đầu tháng Năm, và vì vậy chúng ta sẽ phải tấn công muộn nhất là vào tháng Tư năm 1945. Tuy nhiên, liệu có an toàn không khi bắt đầu giảm đi nỗ lục ở châu Âu? Chúng tôi đem theo lính Mỹ trong kế hoạch Rangoon, nhưng những hy vọng lạc quan, mà tôi đã không dự phần, rằng sự kháng cự của Đức sẽ tiếp tục tới cuối năm, sự kháng cự của quân Đức có thể còn kéo dài qua mùa đông, vì vậy Mountbatten đã được lệnh, không phải là lần đầu, phải làm những gì có thể với những gì có trong tay.

        Vì vậy, chúng tôi đã chậm chạp tiến về phía trước trong trận giao tranh trên bộ lớn nhất từ trước đến nay với Nhật. Giờ đây, tất cả các đơn vị của chúng tôi đều thực hiện kỷ luật vệ sinh tốt, việc sử dụng thuốc mới Mepacrine, xịt thuốc D.D.T. liên tục đã giữ tỷ lệ ốm đau ở một mức thấp đến đáng khâm phục. Bọn Nhật đã không rành những biện pháp đề phòng này nên đã có hàng trăm người chết. Binh đoàn 14 đã gặp được lực lượng  Mỹ - Hoa tiến xuống từ phía Bắc, giờ đây bao gồm cả một sư đoàn của Anh, và vào đầu tháng Mười Hai, với hai vị trí chiếm được của địch bên kia sông Chindwin, họ đã sẵn sàng dốc hết sức cho việc tiến quân vào vùng đồng bằng miền trung Miến Điện.

        Không tuân theo thứ tự thời gian, ở đây chúng tôi có thể tiếp tục câu chuyện đến kết cục thắng lợi của nó. Những khó khăn bắt đầu xuất hiện, ở đông nam Trung Quốc, người Nhật bắt đầu cuộc tiến quân vào Trùng Khánh, thủ phủ của Tưởng Thông chế, và Côn Minh, điểm giao hàng trong chiến dịch không vận của Mỹ. Người Mỹ đã coi tình hình này rất nghiêm trọng. Các căn cứ phía trước của lực lượng không quân đã bị áp đảo. Các đạo quân của Tưởng Giói Thạch không hứa hẹn kết quả nhiều, họ đang xin hai sư đoàn Trung Hoa ở miền bắc Miến Điện, và xin được chi viện thêm các phi đội Mỹ, đặc biệt là ba phi đội vận tải. Đây là những tin tức xấu, nhưng chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận chúng. Sự mất mát hai sư đoàn cừ khôi của Trung Hoa cũng không phải là một bất lợi lớn như việc rút bớt các phi đội vận tải. Binh đoàn 14 đang ở bên kia ga đầu mối đến bốn trăm dặm và Tướng Slim đã dựa vào sự tiếp tế bằng đường không để cứu trợ cho hệ thống đường mong manh này. Các phi đội phải ra đi, và mặc dù sau này chúng đã được thay thế, hầu hết bằng nguồn lực của Anh, sự vắng mặt này đã gây ra những sự chậm trễ nghiêm trọng đối với chiến dịch. Bất chấp tất cả những điều này, Binh đoàn 14 đã vượt ra khỏi những ngọn đồi tiến vào miền đồng bằng phía tây bắc Mandalay, và vào cuối tháng Giêng năm 1945, Tướng Sultan, người kế nhiệm tướng Stilwell, đã cho mở lại con đường bộ đến Trung Quốc.

        Đô đốc Moutbatten đã phải đối mặt với những quyết định chiến lược cứng rắn khi trận đánh quyết định qua Irrawaddy bắt đầu vào tháng sau đó. Chỉ thị của ông là giải phóng Miến Điện, vì mục đích đó, ông đã không trông chờ vào những nguồn lực lớn hơn những gì ông đang có trong tay, rồi chiếm lấy Malaya và mở eo biển Malaca. Thời tiết là quan trọng nhất. Công việc đầu tiên là chiếm đồng bằng miền trung Miến Điện và giành lấy Rangoon trước mùa gió mùa, thường là vào đầu tháng Năm. Ông hoặc sẽ tập trung toàn bộ Binh đoàn 14 vào một trận đánh quyết định ở đồng bằng Mandalay và tiến hành một cuộc tiến quân thần tốc xuống phía nam, hoặc sẽ dùng một số quân của mình trong cuộc đổ bộ về phía Rangoon, cả hai trường hợp này đều phụ thuộc nhiều vào việc tiếp tế bằng đường hàng không trong đó các máy bay của Mỹ sẽ đóng vai trò chủ yếu. Viện trợ cho Trung Quốc vẫn còn chi phối chính sách của Mỹ, thêm nhiều máy bay nữa sẽ có thể bị rút đi và những kế hoạch của ông có thể bị sụp đổ. Trước những mối nguy hiểm sẽ sớm trở nên nghiêm trọng này, Moutbatten đã quyết định tiến hành một chiến dịch duy nhất, được yểm trợ đầy đủ chống lại đạo quân chủ lực của kẻ thù ở phía tây Mandalay, và tiếp tục tiến về Rangoon, nơi mà người ta nói rằng ông có thể đặt chân đến vào khoảng 15 tháng Tư.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM