Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Một, 2019, 10:12:25 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20191 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #420 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2019, 12:32:38 AM »


2

CẢNG NHÂN TẠO

        Những triển vọng thắng lợi ở Sicily, tình hình nước Ý, và tiến triển của cuộc chiến đã khiến tôi cảm thấy cần có trong tháng Bảy một cuộc gặp nữa với Ngài Tổng thống và một hội nghị khác giữa hai nước Anh và Mỹ. Chính Roosevelt là ngươi gọi ý rằng địa điểm nên là Quebec. Ngài Mackenzie King đã hoan nghênh đề nghị này, và chúng tôi chẳng còn mong gì hơn nữa. Không có một địa điểm nào cho cuộc gặp gỡ vào thời điểm quan trọng này giữa những người hoạch định sách lược chiến tranh phù hợp và tuyệt vời hơn ngôi thành cổ Quebec, nằm trên của ngõ vào Canada và trông xuống dòng sông lớn St. Lawrence. Trong khi vui mừng đón nhận sự hiếu khách của Canada, Ngài Tổng thống cảm thấy việc Canada tham gia Hội nghị với tư cách chính thức là điều không thể, bởi ông lường trước được những đòi hòi tương tự từ Brazil và các đồng minh châu Mỹ khác trong Liên hiệp Quốc. Chúng ta con phải tính đến sự thỉnh cầu của Úc và các vùng lãnh thổ tự trị khác thuộc Khối Liên hiệp Anh. vấn đề tế nhị này đã được giải quyết ổn thỏa nhờ có cách nhìn rất thoáng của Thủ tướng và Chính phủ Canada, về phần mình, tôi kiên quyết cho rằng hội nghị phải được tổ chức riêng giữa chúng tôi và ngươi Mỹ do tầm quan trọng của công việc mà hai nước đang cùng tiến hành. Một cuộc gặp tay ba giữa nguyên thủ ba cường quốc là mục đích chính trong tương lai; còn bây giờ nhất thiết phải là cuộc gặp riêng giữa Anh và Mỹ. Chúng tôi đặt cho cái tên là "Quandrant".

        Tôi rời Luân Đôn đi Clyde, nơi tàu Queen Mary đang chờ chúng tôi, vào đêm mồng 4 tháng Tám, trên chuyến tàu hỏa chở một đội ngũ nhân viên rất đông của chúng tôi. Đoàn của chúng tôi cũng phải hơn hai trăm người, đó là không kể khoảng 50 lính cần vụ thuộc Địa Trung Hải, hiện giờ đang ở đỉnh điểm đầu tiên, mà con cả những chuẩn bị tiếp theo cho kế hoạch vượt eo biển vào năm 1944, toàn bộ việc tiến hành chiến tranh ở chiến trường Ấn Độ, và việc chia xẻ trách nhiệm trong cuộc chiến đấu chống Nhật. Để chuẩn bị cho việc vượt eo biển, có ba sĩ quan được Trung tướng F.E. Morgan, tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Tối cao Đồng minh, người vẫn chưa được chọn chính thức chỉ huy chiến dịch này nhưng đã cùng bộ tham mưu liên quân Anh Mỹ hoàn thành kế hoạch phác thảo chung. Do cần phải xem xét lại toàn bộ công việc ở hai chiến trường Ấn Độ và Viễn Đông, tôi mang theo Tướng Wavell, Giám đốc viện Chiến dịch Quân sự, người đã bay từ Ấn Độ về đây.

        Tôi cũng đưa theo một Thiếu tướng trẻ tên là Wingate, người đã nổi lên như là một thủ lĩnh quân địa phương ở Abyssinia, và khẳng định vai tro quan trọng trong cuộc chiến đấu vùng rừng rậm Miến Điện. Những chiến công chói lọi này đã thuyết phục được giới quân sự, và anh ta đã nhận được danh hiệu "Người Chinh phục Miến Điện". Tôi đã được nghe rất nhiều về chuyên này, và còn biết rằng những người phục quốc Do Thái đã coi anh ta như một vị Tổng tư lệnh tương lai của quân đội Israel có thể sẽ được thành lập. Tôi triệu anh ta về để có điều kiện đánh giá trước khi lên đường đi Quebec. Tôi đã định dùng bữa một mình vào tối mồng 4 tháng Tám ở phố Downing thì được báo rằng anh ta đã bay về đến nơi, và hiện đang ở dưới nhà, tôi lập tức mời anh ta dùng chung bữa tối. Chúng tôi không hề nói năng gì trong khoảng nửa giờ cho tới khi tôi cảm thấy mình đang ngồi trước một viên tướng tài ba. Anh ta ngay lập tức lao và chủ đề khuất phục quân Nhật bằng các nhóm đổ bộ từ xa tới bằng đương hàng không xuống đằng sau phòng tuyến của chúng. Điều này đã thu hút tôi rất mạnh. Tôi những muốn được nghe nhiều hơn nửa về vấn đề này, và tôi cũng bảo anh ta nên trình bày kế hoạch này với Bộ Tổng Tham mưu.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #421 vào lúc: 05 Tháng Ba, 2019, 12:40:55 AM »


        Tôi lập tức quyết định sẽ đưa anh ta theo trong chuyến đi của mình. Tôi nói với anh ta rằng chuyến tàu hỏa của chúng tôi sẽ khởi hành vào 10 giờ. Lúc đó đã là 9 giờ.

        Wingate đã tới đây sau ba ngày đêm bay thẳng từ chiến trường về và không mang theo quần áo gì cả ngoài bộ quân phục đang mặc. Anh tất nhiên là hoàn toàn sẵn sàng cho chuyền đi, nhưng vẫn bộc lộ nỗi tiếc rẻ là không được gặp vợ hiện đang ở Scotland, không hề được báo tin là chồng mình đã trở về. Mặc dù vậy, các nhân viên trong văn phòng của tôi đã hành động rất linh hoạt trong việc này. cảnh sát đã đánh thức bà Wingate tại nhà riêng và đưa bà đến Edinburgh nơi con tàu chở chúng tôi sẽ đi qua để cùng đến cảng và xuống tàu đi Quebec. Bà ta không hề hiểu chuyên gì đã xảy ra cho đến sáng sớm ngày hôm sau khi bà thực sự gặp chồng trên đường ke tại ga Waverley. Họ đã có một chuyến đi hạnh phúc bên nhau.

        Do biết Ngài Tổng thống rất thích gặp những nhân vật anh hùng trẻ tuổi, tôi còn mời thêm cả Trung tá Không quân Guy Gibson, vừa trở về ngay sau khi chỉ huy cuộc oanh kích tàn phá hai vùng Mohne và Eder Dams. Hai nơi này giữ vai trò tiếp tế cho khu công nghiệp Ruhr, và nuôi sống một vùng rộng lớn gồm nhiều cánh đồng và sông ngòi. Một loại mìn đặc biệt đã được phát minh để dùng cho việc tàn phá hai nơi này, nhưng nó phải được thả vào ban đêm từ độ cao không quá 60 feet. Sau hàng tháng trời tập dượt, Phi đội 617 thuộc Không quân Hoàng gia đã mở cuộc tấn công. Một nửa số máy bay bị bắn rơi, nhưng Gibson kiên trì đến phút chót, lượn lách trong lưới lửa dày đặc để chỉ huy phi đội đánh trúng mục tiêu. Giờ đây trên ngực anh ta là cả một bộ sưu tập huân chương đáng kể - Bội tinh Victoria, huân chương Quân công, và hai Bội tinh Phi công Dũng cảm. Thật là độc đáo.

        Vợ tôi cũng đi cùng tôi, và cô con gái Mary, giờ đây đã là một trung úy trong một khẩu đội pháo phòng không, đóng vai trò  cần vụ cho tôi. Chúng tôi nhổ neo vào ngày 5 tháng Tám, lần này thì hướng về Halifax thuộc Vova Scotia, thay vì New York.

        Tàu Queen Mary tiếp tục xuyên qua ngọn sóng, và chúng tôi sống trong điều kiện cực kỳ đầy đủ tiện nghi trên tàu, ăn những món vẫn thường ăn vào thời kỳ trước khi chiến tranh xảy ra. Theo thông lệ của những chuyến đi như thế này, chúng tôi làm việc suốt cả ngày. Đội ngũ nhân viên điện đài đông đảo, cùng với những chiếc xuồng máy cao tốc mang theo để chuyển các thông điệp, đã giúp chúng tôi nắm được những gì xảy ra hàng giờ. Hàng ngay chúng tôi cùng các Tham mưu trưởng tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của những vấn đề mà chúng tôi sẽ thảo luận cùng với các bạn Mỹ. Tất nhiên vấn đề quan trọng nhất trong đó là chiến dịch "Overlord".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #422 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:03:04 PM »


        Vào một buổi sáng trong chuyến hành trình của chúng tôi, theo yêu cầu của tôi, Thiếu tướng K.G. Mclean và ba sĩ quan dưới quyền Tướng Morgan đến chỗ tôi, do tôi phải nằm trên giường trong một cabin rộng rãi. Sau khi đã bày ra một tấm bản đồ lớn, bằng một lối giải thích đầy vẻ nghiêm trọng và có sức thuyết phục họ trình bày cho tôi nghe kế hoạch đã được chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vượt eo biển vào nước Pháp. Độc giả chắc hẳn đã biết những cuộc tranh luận vào những năm 1942 về vấn đề nóng bỏng này cùng với tất cả các phương án thực hiện nó, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được nghe toàn bộ một kế hoạch chặt chẽ, được giải trình một cách hết sức chi tiết về cả số lượng lẫn khối lượng. Đó là kết quả nghiên cứu trong một thời gian dài của các sĩ quan hai nước.

        Sự lựa chọn đã giới hạn lại ở Pas de Calais hoặc Normandy. Địa điểm đầu tiên có thuận lợi là được yểm trợ tốt nhất bằng không quân, nhưng ở đây khả năng phòng thủ của địch lại dữ dội nhất, và mặc dù con đường đến đó ngắn hơn, ưu thế này chỉ là bề ngoài. Trong khi đó khoảng cách từ Dover và Folkstone đến Calais và Boulogne gần hơn từ Wight đến Normandy rất nhiều, nhưng các cảng ở đó lại quá nhỏ để có thế hỗ trợ cho một cuộc chinh phạt. Hầu hết các tàu bè của chúng tôi sẽ phải giong buồm từ những cảng nằm dọc theo toàn bộ bờ biển phía nam nước Anh và từ của sông Thames, và vì vậy trong bất cứ trường hợp nào cũng phải vượt qua nhiều vùng nước mặn. Tướng Morgan và các sĩ quan tham mưu của ông ta gọi ý nên chọn bờ biển Normandy, địa điểm mà ngay từ đầu đã được Mountbatten tán thành. Normandy mang lại cho chúng tôi nhiều hy vọng hơn cả. Phòng thủ ở đó không mạnh như ở Pas de Calais. Vùng biển và các bãi ở đó nói chung là thích hợp, và ở một mức độ nao đó ít bị ảnh hưởng bởi những cơn gió mạnh thổi theo hướng tây từ bán đảo Cotentin khá thuận lợi cho việc triển khai một lực lượng lớn, và cách khá xa nơi tập trung sức mạnh của kẻ thù. Chúng tôi có thể cô lập và chiếm cảng Cherbourg ngay từ khi bắt đầu chiến dịch. Sau đó, có thể thọc sườn tấn công Brest và chiếm thành phố này.

        Toàn bộ dải bờ biển từ Havre đến Cherbourg tất nhiên là được phòng thủ bởi các công sự nổi và ngầm, nhưng do ở đó không có cảng nên rất khó duy trì một đội quân lớn trên một dải bờ cát dài tới 50 dặm vào thời gian thượng tuần trăng, chúng tôi cho rằng quân Đức sẽ không bố trí một lực lượng lớn để chi viện kịp thời cho mặt trận trên biến. Không còn nghi ngờ gì nữa Bộ chỉ huy Tối cao của chúng tôi đã tự nhủ rằng "Đây là một khu vực thuận lợi cho những cuộc đột kích với sự tham gia của nhiều nhất là một, hai vạn quân, trừ phi chiếm được Cherbourg một cách suôn sẻ, không một đạo quân lớn nào có thể đố bộ hoặc được tiếp viện để thực hiện đánh chiếm. Đây là bờ biển dành cho những cuộc đột kích, chứ không phải cho những chiến dịch có quy mô lớn..." Chỉ cần có những hải cảng có thể chứa được những đạo quân lớn, đây chắc hẳn sẽ là một trận ác liệt ra trò.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #423 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:03:23 PM »


        Tất nhiên, như độc giả sẽ thấy, tôi không hề lạc hậu với toàn bộ ý tưởng về tàu chở quân và xe tăng đổ bộ. Đã từ lâu tôi rất thích những cầu tàu nổi lên trên mặt biển. Có nhiều việc đã được thực hiện kể từ cái giây phút tôi đưa ra vấn đề này với Tổng Tư lệnh Liên quân, Huân tước Louis Mountbatten, trong cuộc thảo luận giữa chúng tôi vào ngày 30 tháng Năm, 1942.

        Những cầu tàu này phải nổi lên và chìm xuống theo thủy triều. Vấn đề neo phải được khắc phục. Những con tàu phải bỏ bớt nắp phụ bên sườn và chiếc cầu kéo phải đủ dài để vượt quá chỗ buộc neo của cầu tàu. "Hãy vạch cho tôi giải pháp tốt nhất. Không được tranh luận vấn đề này nữa. Những khó khăn sẽ tự biện hộ cho mình".

        Sau đó chúng tôi nghĩ tới việc tạo ra những vùng nước lặng được che chắn bởi một cái đập ngăn sóng nằm bên trên những cụm tàu được đưa tới nơi bằng chính động cơ của chúng và cho chìm xuống độ sâu đã định. Ý tưởng này do Thiếu tướng Hải quân J. Hughes-Hallett nghĩ ra vào tháng Sáu năm 1943, khi ông còn là Tham mưu trưởng hải quân trong tổ chức của Tướng Morgan. Không ngừng tưởng tượng, sáng chế, và thử nghiệm, và kết quả là giờ đây vào tháng Tám năm 1943 một dự án hoàn chỉnh cho việc xây dựng hai cảng tạm thời, nhưng với kích thước như thật, có thể kéo đi và đưa vào hoạt động chỉ ít ngày trước khi cuộc đổ bộ bắt đầu. Những hải lộ tự tạo này được gọi là "Những quả dâu", một mật danh chắc chắn không tiết lộ tính chất hay mục đích sử dụng của chúng.

        Toàn bộ dự án này thật vô cùng vĩ đại. Trên bãi biển sẽ là các cầu tàu lớn với đầu hướng ra biển của chúng nổi lên trên mặt nước và được che chắn an toàn, tại những cầu tàu này các tàu duyên hải và tàu đổ bộ có thể dỡ quân và dỡ hàng bất chấp điều kiện thủy triều thế nào. Để bảo vệ chúng trước những con gió và con sóng quái ác, các đập chắn sóng sẽ được trải ra theo hình vòng cung về phía biển, và quây kín một vùng nước lặng rộng lớn. Như vậy những tàu tầm nước sâu có thể thả neo và dỡ hàng, và tất cả các loại tàu đổ bộ đều có thể tự do chạy tới chạy lui. Những cái đập chắn sóng này sẽ được tạo thành bởi các cấu trúc bê tông và các cụm tàu. Tôi đã miêu tả những cấu trúc tương tự như những cái có thể đã được dùng trong Đệ Nhất Thế chiến để làm nên các cảng nhân tạo ở Heligoland Bight. Giờ đây họ sắp sửa hoàn thành phần chủ yếu của kế hoạch vĩ đại này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #424 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:03:44 PM »


*

        Các cuộc tranh luận vào những ngày tiếp theo chủ yếu tập trung vào các chi tiết kỹ thuật. Thủy triều ở eo biển vào sâu tới 20 phút cùng với những cuộn nước đập vào dọc bãi biển. Thời tiết thì luôn luôn thay đổi, và gió bão có khả năng tập trung sức mạnh trong vài giờ để tấn công lại những công trình mỏng manh do con người tạo ra. Những kẻ hoặc ngu xuẩn hoặc đểu giả đã vạch ra cái "Mặt trận thứ hai" ngay trên những bức tường của chúng tôi cách đây hai năm chắc hẳn chua cảm thấy bận tâm lắm bởi những vấn đề này. Còn tôi thì đã nghĩ tới chúng từ lâu.

        Giờ đây tôi hoàn toàn tin tưởng vào những điểm ưu việt của việc tấn công vào khu vực Havre - Cherbourg miễn là những hải cảng bất ngờ này phải được đưa đến ngay từ đầu và như vậy tạo điều kiện cho cuộc đổ bộ và cuộc tiến binh của những đạo quân, tổng cộng từ một đến hai triệu người, cùng với một khối lượng trang thiết bị hiện đại và quân trang, quân dụng khống lồ của họ để đi đến thành công. Điều đó có nghĩa rằng mỗi ngày phải tháo gỡ được ít nhất là 12 ngàn tấn.

        Có ba nhận định chủ yếu được cả các tác giả của kế hoạch này và các Tham mưu trưởng Quân đội Anh nêu ra. Tôi hoàn toàn nhất trí với những nhận định này, và, như độc giả sẽ thấy, chúng được người Mỹ chuẩn y và người Nga chấp thuận.

        1. Chắc chắn có sự suy giảm về sức mạnh của máy bay chiến đấu Đức ở Tây bắc Âu trước khi cuộc tập kích bắt đầu.

        2. Không thể có hơn 12 sư đoàn cơ động của Đức ở miền Bắc nước Pháp vào thời điểm chiến dịch được triển khai, và người Đức không thể thành lập nổi một số lượng hơn 15 sư đoàn sau hai tháng.

        3. Vấn đề duy trì trên bãi biển một lực lượng lớn trong điều kiện thủy triều ở eo biển trong khoảng một thời gian dài phải được khắc phục. Để bảo đảm được việc này, điều cốt yếu chúng ta cần làm là xây dựng được ít nhất hai cảng nhân tạo hữu hiệu.

        Tôi hết sức hài lòng với triển vọng toàn bộ câu chuyện sẽ được trình bày với Ngài Tổng thống cùng với sự ủng hộ của tôi. ít nhất cũng là để thuyết phục chính quyền Mỹ rằng chúng tôi không phải là không nghiêm túc đối với chiến dịch "Overlord", và không hề miễn cường trong việc đầu tư trí tuệ và thời gian chuẩn bị cho nó. Tôi đã sắp xếp để có thể tập trung tại Quebec những chuyên gia giỏi nhất về những lĩnh vực này đến từ Luân Đôn và Washington. Cùng với nhau họ có thể khai thác các nguồn và tìm ra những lời giải đáp tốt nhất cho nhiều vấn đề có tính kỹ thuật.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #425 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:04:01 PM »

   
*

        Tôi cũng đã thảo luận rất nhiều với các Tham mưu trưởng về công tác của chúng tôi ở các chiến trường Ấn Độ và Viễn đông. Chúng tôi không có những tin tức tốt đẹp lắm để kể ra. Vào cuối năm 1942 một sư đoàn đã tiến xuống bờ biển Arakan ở Miến Điện để chiếm lại cảng Akyab. Mặc dù đã tăng cường lực lượng tới mức cuối cùng có hẳn một quân đoàn, chiến dịch vẫn thất bại, và chúng tôi buộc phải rút lui về biên giới Ấn Độ.

        Dù cho thất bại này được biện minh rất nhiều, tôi vẫn cảm thấy rằng toàn bộ vấn đề về Bộ Chỉ huy Tối cao chống Nhật phải được xem xét lại. Cần có những phuơng sách mới và những con người mới. Đã từ lâu tôi cảm thấy rằng thật là dở khi giao cho Tổng tư lệnh ở Ấn Độ, ngoài những trách nhiệm có ảnh hưởng sâu rộng của mình, kiêm thêm việc chỉ huy các chiến dịch tại Miến Điện. Tôi cảm thấy rằng việc tiến hành ồ ạt các chiến dịch có qui mô lớn chống Nhật tại Đông Nam Á đồi hỏi phải thành lập một Bộ Chỉ huy Tối cao Đồng Minh riêng. Các Tham mưu trưởng đã hoàn toàn nhất trí, và chuẩn bị ngay một giác thư về phương sách này để bàn với các đồng nghiệp Mỹ của họ khi đến Quebec, vấn đề còn lại là ai sẽ chỉ huy mặt trận mới này, và chúng tôi tin chắc rằng đó phải là một người Anh. Trong số một loạt các tên được nêu ra, trong suy nghĩ của tôi tin chắc rằng Đô đốc Mountbatten có những phẩm chất vượt trội cho cương vị chỉ huy quan trọng này, và tôi quyết tâm đưa ra đề nghị này với Ngài Tổng thống ngay khi có cơ hội đầu tiên. Bổ nhiệm một sĩ quan mang hàm cố định là Hạm trưởng Hải quân Hoàng gia vào chức Tư lệnh Tối cao của một trong những chiến trường chủ yếu là một sự đề bạt không bình thường; nhưng do cẩn thận chuẩn bị lý lẽ từ trước nên tôi chẳng hề ngạc nhiên khi Ngài Tổng thống đã đồng ý một cách vui vẻ.

        Thoi gian của cuộc hành trình có thể trôi nhanh một cách đáng kinh ngạc nếu như người ta có đủ việc để choán hết những phút không ngủ. Tôi đã hy vọng là sẽ có một khoảng thời gian nghỉ ngơi và tách khỏi tiếng ồn bất tận của cuộc chiến tranh. Nhưng khi chúng tôi đến nơi thì kỳ nghỉ đã kết thúc trước khi nó bắt đầu.

        Chúng tôi tới Halifax vào ngày 9 tháng Tám. Con tàu đồ sộ tiến vào cầu tàu và chúng tôi bước thẳng lên tàu hỏa. Bất chấp tất cả những cảnh báo về nguyên tắc bảo mật, rất đông người đã tụ tập ở đó. Do tôi và vợ tôi ngồi trong phong khách riêng ở cuối tàu, mọi người vây xung quanh đó và chào đón chúng tôi. Trước khi khởi hành, tôi bắt nhịp cho họ hát "The Maple Leaf' và "O’ Canada!" Tôi sợ họ không biết bài "Rule

        Britania", mặc dù tôi tin rằng họ sẽ thích hơn nếu chúng tôi có một ban nhạc đệm. Sau khoảng hai mươi phút bắt tay, chụp ảnh và tặng chữ ký, chúng tôi lên đường đi Quebec. Vào ngày 17 tháng Tám, Ngài Tổng thống và Harry Hopkins có mặt, Eden và Brendan Bracken từ nước Anh cũng bay tới nơi. Khi các đoàn đại biểu đã tập trung, tin túc về những động thái hòa bình của nước Ý cũng tới tai chúng tôi, và cuộc hội đàm được tiến hành với cái ấn tượng là nước Ý đang chuẩn bị đầu hàng.

        Phiên hợp toàn thể đầu tiên diễn ra vào ngày 19 tháng Tám. Ưu tiên chiến lược lớn nhất được coi là tiền đề cho chiến dịch "Overlord" được dành cho cuộc ném bom tấn công nước Đức. Cả cuộc tranh luận rất dai về chiến dịch "Overlord" lúc đó đã được khái quát lại theo quan điểm của kế hoạch soạn thảo ỏ Luân Đôn do Tướng Morgan chủ trì. Bộ Tham mưu đã báo cáo lại như sau:

CHIẾN DỊCH "OVERLORD"

        "Chiến dịch này sẽ mở đầu cho nỗ lực chung của lục quân và không quản Anh - Mỹ chống lại phe Trục tại châu Âu. (Ngày hành dộng là 1 tháng Năm, 1944)...

        Do thiếu lực lượng để tiến hành đồng thời Chiến dịch "Overlord" và các chiến dịch khác ở Địa Trung Hái, các lực lượng có sẵn sẽ được phân bố và triển khai với mục tiêu chính là bảo đảm thắng lợi cho "Overlord". Các chiến dịch ó Địa Trung Hải sẽ được đảm nhiệm bởi các lực lượng đã được Hội nghị "Trident" (được tổ chức trước đó vào tháng Năm ở Washington) phân công, trừ trường hợp cho đến nay những lực lượng này có thể đã được Bộ Tham mưu Liên quân quyết định làm nhiệm vụ khác..."
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #426 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:05:58 PM »


        Những đoạn báo cáo trên đây đã phản ánh một phần nội dung tranh luận tại cuộc gặp của chúng tôi. Tôi chỉ ra rằng thắng lợi của "Overlord" phụ thuộc vào việc những điều kiện nhất định phải được thỏa mãn khi chỉ có một sức mạnh tương đối. Tôi đã nhấn mạnh rằng tôi tán thành việc mở chiến dịch "Overlord" vào năm 1944, mặc dù tôi lại không ủng hộ nỗ lực tấn công Brest hay Cherbourg vào những năm 1942 hay 1943. Những ý kiến phản đối của tôi đối với chiến dịch vượt eo biển dù sao giờ đây cũng được rút lại. Tôi cho rằng mỗi nỗ lục được tiến hành đều phải đóng góp ít nhất 25% cho cuộc tập kích đầu tiên. Điều này có nghĩa là chúng tôi phải tìm thêm tàu đổ bộ. Trước mắt vẫn còn chín tháng nữa, và trong khoảng thời gian này nhiều việc có thể được giải quyết. Các bãi biển được lựa chọn đều tốt nhưng mọi thứ có thể tốt hơn nếu cùng lúc đó một cuộc đổ bộ được tiến hành bên trong các bãi biển thuộc bán đảo Cotentin. "Trước hết", tôi nói, "vị trí khỏi đầu cần phải mạnh".

        Do Mỹ đã nắm quyền chỉ huy mặt trận châu Phi, nên trước đó Ngài Tổng thống và tôi đã thỏa thuận rằng tư lệnh chiến dịch "Overlord" phải là một người Anh, và tôi, với sự đồng ý của Ngài Tổng thống, đã đề cử vào chức vụ này Tướng Brooke, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Anh, người mà chắc độc giả còn nhớ đã chỉ huy một quân đoàn trong trận đánh quyết định mở đường đến Dunkirk, và lúc đó cả Alexander và Montgomery đều dưới quyền ông ta. Tôi đã thông báo ý định này cho Tướng Brooke từ đầu năm 1943. Chiến dịch này sẽ được bắt đầu với sự tham gia ngang nhau của quân Anh và quân Mỹ, và do địa điểm xuất phát là nước Anh nên việc lựa chọn như trên dường như hợp lý hơn cả. Mặc dù vậy, một năm đã trôi qua và cái kế hoạch đồ sộ cho cuộc xâm chiếm đã bắt đầu hình thành, tôi càng có ấn tượng mạnh rằng một số lượng lớn quân Mỹ có thể được bổ sung vào chiến dịch này sau khi cuộc đổ bộ thực sự với số quân Anh và Mỹ ngang nhau đã thành công, và giờ đây tại Quebec chính tôi đã chủ động đề nghị với Ngài Tổng thống nên bổ nhiệm một tư lệnh người Mỹ cho cuộc viễn chinh vào nước Pháp. Ông ta rất hài lòng với đề xuất này, và tôi dám quả quyết rằng ông ta cũng suy nghĩ theo hướng này. Do đó chúng tôi đã thỏa thuận rằng một sĩ quan Mỹ sẽ chỉ huy chiến dịch "Overlord", và các chiến dịch ở Địa Trung Hải sẽ trao cho một tư lệnh người Anh đảm trách, và ngày chuyển giao quyền lực thực phụ thuộc vào tiến trình của cuộc chiến tranh. Tôi đã thông báo cho Tướng Brooke, người được tôi hoàn toàn tin cậy, về sự thực thay đổi nay và những nguyên nhân của nó. Ông ta đã chịu đựng nỗi thất vọng to lớn này với phẩm cách của một người lính.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #427 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:08:30 PM »


*

        Đối với mặt trận Viễn đông, tranh chấp chủ yếu giữa các Bộ Tham mưu Anh và Mỹ là việc nước Anh đòi hòi có được một vị trí đầy đủ và công bằng trong cuộc chiến tranh chống Nhật kể từ thời điểm nước Đức bị đánh bại. Nước Anh đòi hỏi một phần các sân bay, các căn cứ cho Hải quân Hoàng gia, và các nhiệm vụ được giao một cách hợp lý cho bất cứ sư đoàn nào thuyên chuyển tới Viễn đông sau khi sự nghiệp của Hitler đã kết thúc. Các chiến hữu của tôi ở Bộ Tham mưu bị tôi ép phải tranh đấu điểm nay ở mức tối đa, bởi vì tại giai đoạn này của cuộc chiến tranh, điều tôi e ngại nhất là người Mỹ sẽ phê phán rằng, "nước Anh, sau khi đã nhận hết những gì mà chúng ta có thể giúp họ để đánh bại Hitler, lại đứng ngoài cuộc chiến tranh chống Nhật, và bỏ chúng ta trong cơn hoạn nạn". Mặc dù vậy, tại Hội nghị Quebec, ấn tượng này đã được trút bỏ một cách hữu hiệu. Đã không đạt được một quyết định nào cho những chiến dịch thực sự sẽ tiến hành, mặc dù họ kết luận rằng nỗ lực chủ yếu sẽ được tập trung vào những cuộc tấn công với mục đích "thiết lập đường giao thông trên bộ với Trung Quốc, cải thiện và bảo đảm tuyến đường hàng không". Trong "quan niệm chiến lược tổng thể" các kế hoạch sẽ được vạch ra nhằm đánh bại Nhật bản trong vòng 12 tháng sau khi Đức đã sụp đổ.

        Cuối cùng là vấn đề chiến trường Địa Trung Hải. Vào ngày 10 tháng Tám Eisenhower đã có cuộc gặp với các tư lệnh của mình để lựa chọn trong số một loạt đề nghị các phương sách để có thể mở chiến dịch vào nước Ý. Ồng ta đã phải đặc biệt tính đến sự bố trí quân của địch vào thời điểm đó. Tám trong số 16 sư đoàn quân Đức đóng ở phía Bắc dưới quyền chỉ huy của Rommel, hai sư đoàn đóng gần Rome, và sáu sư đoàn xa hơn nữa về phía nam dưới quyền Kesselring. Những sư đoàn này có thể được tăng viện bởi hai mươi sư đoàn khác đã được rút khỏi mặt trận Nga và chuyển tới đóng ở Pháp. Bất cứ những gì chúng ta có thể thu thập trong một thời gian dài đều không thể so sánh với sức mạnh này, thế nhưng người Anh và người Mỹ đang thắng thế trên cả vùng trời lẫn vùng biển, và còn đang ở thế chủ động. Cuộc tập kích đã được chuẩn bị bởi biết bao nhiêu bộ óc là một việc làm táo bạo. Chúng tôi hy vọng sẽ chiếm được cảng Naples và cảng Taranto, nơi những tổ hợp phương tiện cân xứng với quy mô các đạo quân chúng tôi phải sử dụng. Mục tiêu đầu tiên là việc nhanh chóng chiếm lấy các sân bay. Các sân bay nằm gần Rome vẫn được nằm ngoài tầm với của chúng ta, nhưng có một cụm sân bay nằm gần Foggia rất tiện cho việc rải bom tấn, và lực lượng không quân chiến thuật của ta tìm thấy những sân bay khác nằm tại "gót chân" nước Ý và Montecorvino, gần Salemo.

        Tướng Eisenhower đã quyết định bắt đầu cuộc tập kích vào đầu tháng Chín bằng cuộc tấn công vượt eo biển Messina, với các cuộc đổ bộ yểm trợ vào bờ biến Calabrian. Đây sẽ là trận báo hiệu cho việc chiếm Naples (Chiến dịch "Avalanche") bằng một quân đoàn liên quân Anh - Mỹ đổ bộ vào các bãi biển thuận lợi ở Vịnh Salerno. Cuộc đổ bộ này được yểm trợ bởi một lực lượng tiêm kích cực kỳ lớn xuất phát từ các sân bay chiếm được ở Sicily. Ngay sau khi những cuộc đổ bộ thực hiện xong, lực lượng Đồng minh sẽ tiến lên phía bắc để chiếm Naples.

        Bộ Tham mưu Liên quân đã khuyên Ngài Tổng thống và tôi chấp thuận kế hoạch này, và coi việc chiếm Sardinia và Corsica là ưu tiên thứ hai. Chúng tôi ngay lập tức chấp thuận việc này; thực ra mà nói đây chính là điều mà tôi hy vọng và phấn đấu. Sau đó lại có đề nghị cho một sư đoàn đổ bộ bằng đường không để chiếm các sân bay phía nam Rome. Điều này cũng được chấp thuận, hoàn cảnh mà trong đó kế hoạch này bị hủy bỏ sẽ được đề cập tới theo đúng trình tự của nó.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #428 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:09:33 PM »


3

CUỘC XÂM CHIẾM NƯỚC Ý

        Hội nghị Quebec kết thúc vào ngày 24 tháng Tám, và các đồng nghiệp cao quý của chúng tôi đã tản đi khắp nơi. Họ bay đi mỗi người theo một hướng khác nhau hệt như những mảnh vụn văng ra từ chiếc vỏ sò bị vỡ. Sau toàn bộ quá trình nghiên cứu và tranh luận, mọi người đều có một mong muốn chung là được nghỉ ngơi ít ngày. Một ông bạn Canada của tôi, Đại tá Clarke, người được chính phủ nước này biệt phái đến làm việc với tôi, là chủ sở hữu một trang trại cách đó chừng 75 dặm nằm giữa vùng núi và vùng rừng thông, nơi báo chí quảng cáo rùm beng lên rằng chúng tôi sẽ có một chuyến đi đáng nhớ để đời. Ở đây có Hồ Tuyết, một vùng nước mênh mông mà người ta nói là có đầy cá hồi. Brooke và Portal là những người câu cá say mê và sành sỏi, trong số những kế hoạch được vạch ra tại Hội nghị có một kế hoạch đưa họ đi câu. Tôi hứa rằng tôi sẽ nhập hội với họ nếu có thể, nhưng tôi lại phải chuẩn bị việc xuất hiện trên đài phát thanh vào ngày 31, và điều này cứ khiến tôi canh cánh trong lòng. Tôi lưu lại ít ngày trong ngôi Thành cổ, chiều nào cũng đi dạo trên các pháo đài cổ khoảng một tiếng và suy ngẫm về bức tranh hoành tráng của St. Lawrence cùng tất cả những truyền thuyết về Wolfe và Quebec. Tôi đã hứa sẽ ngồi xe đi tham quan khắp thành phố, và ở đâu tôi cũng được mọi người chào đón nồng nhiệt. Tôi còn tham dự cuộc họp của Chính phủ Canada, và tôi kể cho họ nghe những điều mà họ chưa được biết về cuộc Hội nghị. Tôi đã tuyên thệ nhậm chức Tham vấn Cơ mật cho Nội các của lãnh thố tự trị này. Phần thưởng này được dành cho tôi là do sự gợi ý của một người bạn từ 40 năm nay và đồng thời là một đồng nghiệp đáng tin cậy, ngài Mackenzie King.

        Trong bài phát biểu của tôi trên đài phát thanh, những điều nên nói và không nên nói nhiều tới mức làm tôi nhức đầu, vì vậy tâm trí của tôi thường xuyên hướng về Hồ Tuyết, nơi mà những người hiện đã có mặt ở đó ca ngợi hết lời. Tôi nghĩ rằng mình có thể kết hợp câu cá vào ban ngày và chuẩn bị cho bài phát biểu vào buổi tôi. Tôi quyết định nhận lời mời của Đại tá Clarke, và cùng vợ lên xe đi tới đó. Tôi để ý thấy rằng Đô đốc Pound đã không đi đến hồ cùng hai Tham mưu trưởng khác và tôi đề nghị ông nên đến với chúng tôi lúc này. Viên sĩ quan tham mưu của ông nói rằng sau Hội nghị ông ta có rất nhiều việc phải hoàn thành. Tôi đã rất ngạc nhiên trước thái độ nhẫn nhục của ông ta trong những cuộc tranh luận kéo dài về đề tài hải quân, nhưng đến khi ông ta nói rằng ông ta không thể đi câu cá cùng chúng tôi thì tôi sợ rằng mọi chuyện đã không ổn. Chúng tôi đã cùng làm việc với nhau như những chiến hữu gần gũi ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến tranh. Tôi hiểu giá trị và lòng quả cảm của ông ta. Tôi còn biết rằng hồi con ở nhà, hễ có bất kỳ một cơ hội nào là ông ta có thể sẵn sàng dậy từ bốn hay năm giờ sáng để đi câu trong vài tiếng đồng hồ trước khi quay trở về Bộ hải quân bắt đầu ngày làm việc. Mặc dù vậy, lần này ông ta đã ở lì trong doanh trại, và cho tới khi lên đường, tôi không hề gặp lại ông ta.

        Chúng tôi đã có trọn một ngày tuyệt voi, phóng xe ngược theo thung lũng sông, sau một ngày đêm ngủ lại tại nhà nghỉ dọc đường, hai vợ chồng tôi đã tới một căn nhà gỗ ghép nằm bên hồ. Brooke và Portal sẽ rời khỏi nơi đây vào ngày hôm sau. Thế là tuyệt vời lắm rồi. Mỗi ngay mỗi ngươi câu được một trăm con cá, chỉ tiếp tục duy trì cái mức đó để làm vơi đi đáng kể số lượng cá dưới hồ. Vợ tôi và tôi đi trên hai con thuyền khác nhau trong nhiều giờ liền, và mặc dù chẳng ai trong chúng tôi câu giỏi, chúng tôi vẫn câu được rất nhiều cá. Thỉnh thoảng họ đưa cho chúng tôi loại cần câu với ba lưỡi rời, và một lần tôi câu được ba con cá cùng một lúc. Tôi không biết có đúng là mình câu được như vậy hay không. Trong các bữa ăn tuyệt vời ở đó chẳng hôm nào thiếu cá hồi. Ngài tổng thống cũng muốn tự mình đến đây, thế nhưng những công việc khác đã giữ ông lại. Tôi gửi đến Hyde Park biếu ông con cá lớn nhất mà tôi câu được. Bài phát biểu tôi soạn đã tạm ổn, nhưng cái bố cục ban đầu làm tôi mệt mỏi hơn cả tranh luận hoặc đi câu rất nhiều.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #429 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2019, 08:10:29 PM »


        Chúng tôi trở về Quebec vào tối 29. Tôi đã tham dự một phiên họp khác của Nội các Canada, và ngày 31, ngay trước khi lên đường đi Washington, tôi đã phát biểu trước nhân dân Canada và các nước Đồng minh. Để nhắc lại chuyện này có lẽ tôi nên trích dẫn bài phát biểu ra thì hơn:

        "Sự đóng góp của Canada vào nỗ lực của Khối Thịnh Vượng Chung và Hợp Chủng Quốc vào thời buổi khủng khiếp này đã làm rung dộng trái tim của Mẫu quốc chúng tôi và của tất cá các thành viên khác trong đại gia đình các quốc gia và chủng tộc.

        Ngay từ những ngày đen tối nhất, Quân đội đang lớn mạnh dần lên qua năm tháng của Canada, đã dóng một vai trò không thể thay thế được trong việc canh giữ Tố quốc Anh không bị xâm lược. Nó đang chiến dấu một cách xuất sắc trên những chiến trường ngày một rộng lớn hơn. Tổ chức Huấn luyện Không quân của Đại Anh quốc, cho đến giờ vẫn là một thành công tuyệt vời, đã tìm thấy chỗ đứng của mình ở Canada, và đón những chàng trai ưu tú nhất của Liên hiệp Anh, Úc, và New-Zealand đến các trường bay lớn và trở thành chiến hữu của những người con anh dũng của mình.

        Trong tiến trình của cuộc chiến tranh, Canada đã trở thành một quốc gia sống trên biển, đã đóng nhiều liên đội tàu chiến và tàu hàng, mà một phần trong số đó được dóng trong đất liền cách biển hàng ngàn dặm, đưa chúng ra biển với những thủy thú dày dạn sóng nước để canh phòng cho những chuyến tàu tiếp tế chạy trên Đại Tây Dương, và bảo vệ cho huyết mạch giao thông đường biển quan trọng của chúng ta. Ngành chế tạo đạn dược của Canada đã góp phần hết sức quan trọng vào nền công nghiệp chiến tranh của chúng ta. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là, nếu như không có sự hỗ trợ của Canada, Liên hiệp Anh lẽ ra đã nợ một khối lượng đạn dược mà giá trị không nhỏ hơn hai tỷ đô la.

        Tất nhiên toàn bộ việc này chẳng có luật nào quy định cả. Nó không xuất phát từ một hiệp ước hay một nghĩa vụ chính thức nào, mà hoàn toàn thoải mái từ tình cảm, truyền thống và một quyết định cao thượng phục vụ cho tương lai của loài người. Thay mặt cho nhân dân Liên hiệp Anh tôi rất vui mừng được bày tỏ lòng biết ơn đối với nước Cộng hòa Tự trị vĩ đại này, và tôi nói lời cám ơn này ngay trên đất Canada. Tôi chỉ có một ước muốn thực sự, nếu nhiệm vụ đòi hỏi, tôi có dịp đi ra chiến trường và nói với các binh sĩ Úc, New-Zealand và Nam Phi những gì chúng tôi cảm nhận về họ qua những gì họ đã làm và đang định làm...


        Ngày hôm sau tôi đã có mặt ở Nhà Trắng. Sau bữa tối Ngài Tổng thống và tôi ngồi nói chuyện trong phòng làm việc, và Đô đốc Pound đến gặp chúng tôi vì một việc liên quan đến hải quân. Ngài Tổng thống đã hỏi ông ta rất nhiều về những nét chung của cuộc chiến tranh, và tôi cảm thấy rất phiền lòng khi mà người chiến hữu tin cẩn của tôi đã đánh mất cái khả năng trình bày vấn đề một cách chính xác và mạch lạc đặc trung của mình, cả Ngài Tổng thống và tôi đều tin chắc rằng ông ta đang ốm nặng. Sáng hôm sau, Pound đến gặp tôi tại gian phòng vừa để ngủ vừa để tiếp khách, và đột ngột nói, "Thưa Ngài Thủ tướng, tôi đến đây để xin từ chức. Tôi bị quỵ rồi, và nửa người bên phải của tôi gần như bị tê liệt. Tôi cứ nghĩ rồi nó sẽ qua, nhưng nó cứ mỗi ngày một nặng thêm, và tôi không còn đủ sức đảm đương công việc nữa". Tôi đã ngay lập tức chấp nhận việc Bộ trưởng Hải quân xin từ chức, và bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc với sự suy sụp về sức khỏe của ông ta. Tôi bảo ông ta được giải phóng khỏi mọi trách nhiệm ngay từ thời điểm đó, và khuyên ông ta nên đi an dưỡng ít ngày rồi sau đó trở về cùng tôi trên con tàu Renown. Ông ta hoàn toàn làm chủ được bản thân mình, và toàn bộ tính cách của ông ta là sự ý thức được phẩm giá của mình. Ngay sau khi ông ta ra khỏi phòng tôi gọi điện cho Bộ Hải quân yêu cầu đưa Phó Đô đốc Syfret lên làm quyền Bộ trưởng từ thời điểm đó cho tới khi một Bộ trưởng mới được bổ nhiệm.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM