Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 09:13:11 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20230 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #220 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:44:57 PM »


*

        Ngày đêm tôi mải suy nghĩ về vấn đề đáng sợ này. Lúc này niềm hy vọng chiến thắng duy nhất chắn chắc của tôi tùy thuộc vào khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài không hạn định cho đến khi giành được sự hơn hẳn áp đảo về không quân và cho đến khi có khả năng xảy ra là nhiều cường quốc vĩ đại khác đứng về phía chúng tôi. Nhưng mối hiểm nguy ghê gớm đối với những con đường huyết mạch của chúng tôi day dứt lòng tôi. Đầu tháng ba, đô đốc Pound báo cáo với Nội các Chiến tranh những vụ đánh chìm tàu đặc biệt nặng nề. Tôi đã xem những con số và sau cuộc họp tại phòng Thủ tướng tại Hạ nghị viện, tôi nói với Pound: Chúng ta đã bắt đầu nâng công việc này lên đến mức cao nhất, trên tất cả mọi việc khác. Tôi sắp sửa công bố "Trận đánh Đại Tây Dương" giống như nét đặc biệt của trận đánh trên đất Anh chín tháng trước, việc này là một tín hiệu nhằm tập hợp tất cả những người tài trí và tất cả các bộ có liên quan đến chiến tranh tàu ngầm của Đức.

        Để theo dõi đích thân việc này một cách chu đáo kỹ lưỡng nhất và kịp thời ra những chỉ thị giải quyết khó khăn trở ngại, và thúc đẩy một số lớn bộ và ngành có liên quan hành động, tôi thành lập Úy ban Chiến đấu Đại Tây Dương, ủy ban họp hàng tuần, tất cả các Bộ trưởng và các quan chúc cao cấp có liên quan của các quân chủng chiến đấu lẫn phái dân sự đều tham dự. Những cuộc họp này thường diễn ra không ít hơn hai tiếng rưỡi. Toàn bộ trận đánh được xem xét kỹ lưỡng, mọi việc được tranh luận triệt để và đi đến kết luận, không có việc gì đưa ra mà không giải quyết. Khắp các nhóm rộng lớn của bộ máy chiến tranh của chúng tôi gồm hàng nghìn con người có tài năng, tận tụy, một bộ phận mới được sắp xếp lại, và từ một trăm khía cạnh, cái nhìn chằm chằm của những con mắt sâu sắc được tập trung.

        Lúc này tàu ngầm Đức bắt đầu sử dụng những phương pháp mới gọi là chiến thuật "bầy chó sói". Chiến thuật này gồm những trận tấn công từ nhiều hướng khác nhau do nhiều tàu ngầm hoạt động cùng một lúc. Lúc này những cuộc tấn công thường tiến hành ban đêm, trên mặt biển, với hết tốc lực. Chỉ những tàu khu trục mới có thể nhanh chóng đuổi kịp tàu ngầm, con Asdic thì gần như bất lực1. Cách giải quyết không chỉ nằm trong việc nhân lên các đội hộ tống chạy nhanh mà nhiều hơn vẫn là trong việc phát triển rađa có hiệu lực, có thể báo trước cho chúng tôi khi tàu ngầm   đến gần. Các nhà khoa học, thủy thủ, và phi công, cố gắng hết sức nhưng kết quả đến một cách chậm chạp. Chúng tôi cũng cần vũ khí từ trên không để diệt tàu ngầm Đức nổi lên mặt nước và cũng cần thời gian để huấn luyện lực lượng vũ trang của chúng tôi sử dụng vũ khí này. Khi cuối cùng cả hai vấn đề nay   được giải quyết thì tàu ngầm Đức một lần nữa bị đẩy lùi vào cuộc tấn công dưới mặt biển, trong cuộc tấn công này, nó có thể phải đối phó với những phương pháp cũ kỹ hơn đã được thử thách. Trong hai năm nữa, việc này không đạt được.

        Trong lúc đó, chiến thuật "đàn chó sói" do người đứng đầu quân chủng tàu ngầm, đô đốc Doenitz nghĩ ra, bản thân ông này cũng là một chỉ huy tàu ngầm trong chiến tranh trước đây, được đại tá hải quân Prien đáng gồm và các chỉ huy tàu ngầm hạng nhất khác áp dụng một cách sôi nổi. Nhưng rồi sự trừng phạt xảy đến. Ngày 8 tháng 3 tàu ngầm U-47 của Prien bị tàu khu trục Wolverine đánh chìm cùng với bản thân y và tất cả thủy thủ, và chín ngày sau, U-99 và U-100 cũng bị đánh chìm trong lúc đang giao chiến trong một cuộc tấn công phối hợp vào một đoàn tàu. Cả hai tàu đều do các sĩ quan nổi tiếng chỉ huy và việc loại ba con người tài năng này đã tác động rõ rệt đến sự tiến triển của cuộc chiến đấu. Vài người chỉ huy tàu ngầm kế tục họ là những kẻ ngang tài ngang sức với họ về khả năng tàn nhẫn và về mặt táo bạo. Trong tháng Ba, 5 tàu ngầm Đức bị đánh chìm trên các ngã đường phía Tây, và tuy chúng tôi cũng chịu những tổn thất nặng nề, lên đến 243.000 tấn, do tàu ngầm Đức và thêm nữa 113.000 tấn do máy bay tiến công, thì hiệp thứ nhất của trận Đại Tây Dương có thể nói là đã kết thúc với tỷ số hòa.

        Nhận thấy các ngả đường phía Tây quá khó khăn, tàu ngầm Đức di chuyển xa hơn về phía Tây, đi vào vùng biển mà ở đây, từ khi các cảng phía Nam Ireland khước từ chúng tôi thì chỉ có một vài đội hộ tống tàu nhỏ của chúng tôi có thể đi đến đó, và không thể có lực lượng không quân yểm hộ. Các đội hộ tống của Vương quốc Anh chỉ có thể bảo vệ các đoàn tàu của chúng tôi hơn khoảng một phần tư đường đi đến Halifax. Đầu tháng tư một "đàn chó sói" tấn công một đoàn tàu ở kinh tuyến 28o về phía Tây trước khi đội hộ tống đến với nó. Mười trong số hai mươi hai tàu bị đánh chìm, phía địch chỉ mất có một tàu ngầm. Bằng cách này cách khác, chúng tôi phải trù tính nới rộng tầm tay, hoặc đòi chúng tôi sẽ phải tính từng ngày.

        Giữa Canada và Anh là các đảo New Foundland, Greenland và Băng đảo. Tất cả những đảo nay nằm gần sườn con đường ngắn nhất, hay là vòng tròn hình cầu, giữa Halifax và Scotland. Những lực lượng vũ trang đóng trên các bàn đạp nay có thể làm chủ toàn bộ tuyến đường theo khu vực. Greenland hoàn toàn không có tài nguyên, nhưng hai đảo khác thì có thể nhanh chóng được sử dụng tốt có hiệu quả. Người ta từng nói: "Ai chiếm Băng đảo thì người ấy cầm súng vững chắc chĩa vào Anh, Mỹ và Canada". Chính là dựa vào ý kiến này mà với sự tán thành của nhân dân trên đảo chúng tôi đã chiếm giữ Băng đảo khi quân địch tràn vào Đan Mạch năm 1940 và tháng 4 năm 1941 chúng tôi thiết lập các căn cứ ở đây cho các tập đoàn hộ tống và không quân. Từ đó chúng tôi mở rộng phạm vi hoạt động của các đội hộ tống trên mặt biển đến 35o về hướng Tây. Tuy thế vẫn còn lại một kẽ hở đáng ngại về hướng Tây không thể khắc phục được trong thời gian này. Tháng Năm một đoàn tàu từ Halifax bị tấn công dữ dội ở 41o về hướng Tây, tổn thất chín tàu trước khi được tiếp viện.

        Rõ ràng không gì khác hơn đội hộ tống nối đầu vào nhau từ Canada đi Anh là đủ, và ngày 23 tháng 3 Bộ Hải quân đề nghị các chính quyền Canada và New Founland sử dụng căn cứ John Newfounland làm căn cứ tiền phương cho các lực lượng hộ tống  chung của chúng tôi. Lời đề nghị được hưởng ứng lập tức, và vào cuối tháng việc hộ tống liên tục trên toàn tuyến đường rốt cuộc được thực hiện. Sau đó Hải quân Hoàng gia Canada đảm nhận trách nhiệm bảo vệ các đoàn tàu trên khu vực phía tây của tuyến đương biển này bằng tài xoay sở của chính mình. Từ Anh và từ Băng đảo, chúng ta có thể bảo vệ phần còn lại của hành lang này. Mặc dù vậy số quân hiện có sẵn sàng để sử dụng của chúng tôi vẫn còn là ít một cách nguy hiểm, con tổn thất thì cứ tăng lên một cách quá quắt. Trong ba tháng kết thúc vào tháng 5, một mình tàu ngầm Đức đánh đắm 142 tàu trọng tải 818.000 tấn trong đó có 99 chiếc là của Anh.

-----------------
        1. Asdic: Anti submarine detection investigation committee - Ủy ban điều tra nghiên cứu phát hiện chống tàu ngầm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #221 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:45:45 PM »


*

        Trong tình hình căng thẳng ngày càng tăng, hành động với tất cả quyền hạn dành cho mình với tư cách là Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang, và được qui định trong Hiến pháp Mỹ, Tổng thống bắt đầu chuyển viện trợ quân sự cho chúng tôi. Ông kiên quyết không cho phép tàu ngầm Đức và chiến tranh bằng máy bay oanh tạc đến gần bờ biển nước Mỹ và đảm bảo cho đạn dược gửi sang Anh ít nhất cũng đi được gần nửa đường từ bên này sang bên kia. Xuất phát từ các kế hoạch đã chuẩn bị từ lâu, xuất hiện bản thiết kế rõ ràng về công cuộc phòng thủ chung Đại Tây Dương của hai cường quốc nói tiếng Anh. Vì chúng tôi thấy cần phải mở mang căn cứ ở Băng đảo nên ông Roosevelt áp dụng các biện pháp để thiết lập một căn cứ không quân của riêng ông ở Greenland. Được biết bọn Đức đã lắp đặt những đài báo thời tiết trên bờ biển phía đông trước mặt Băng đảo, nên hành động của ông ta là đúng lúc. Bằng nhiều cách giải quyết khác, không chỉ tàu buôn của chúng tôi mà tàu chiến của chúng tôi bị hư hại trong các trận đánh dữ dội ở Địa Trung Hải và nơi khác nữa, bây giờ có thể được đem sửa chữa tại các xưởng đóng tàu của Mỹ, được trợ giúp ngay tức khắc, rất cần thiết đôi với tài nguyên căng thẳng trong nước của chúng tôi.

        Đầu tháng tư có nhiều tin tức quan trọng. Ngày 11 tháng 4 Tổng thống đánh điện cho tôi rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ mở rộng cái gọi là vùng an ninh và khu vực tuần tra đã có hiệu lục từ rất sớm trong chiến tranh, đến một tuyến bao gồm tất cả vùng biển Bắc Đại Tây Dương về phía tây ở khoảng Tây kinh tuyến 26°. Nhằm mục đích này, ông đề nghị dùng máy bay và tầu của hải quân hoạt động tích cực từ Greenland, đến New Foundland, Nova Scotia, Mỹ, Bermuda và West Indies, có thể sau này mở rộng tới Brazil. Ông đề nghị chúng tôi cho ông biết một cách tối mật sự di chuyển của các đoàn tàu của chúng tôi "để cho các đơn vị tuần tra chúng tôi có thể tìm thấy bất kỳ tàu thủy hay máy bay của các nước xâm lược đang hoạt động phía tây đường tuyến mới của các vùng an toàn", về phần mình, người Mỹ sẽ công bố ngay vị trí của tàu hay máy bay có thể của nước xâm lược, khi vị trí đó được xác định trong vùng tuần tra của Mỹ. Tôi chuyển bức điện này cho Bộ Hải quân với một cảm giác nhẹ nhõm sâu sắc.

        Ngày 18 Chính phủ Mỹ công bố giới tuyến giữa Đông và Tây bán cầu mà Tổng thống nói đến trong bức thông điệp ngày 11 tháng 4. Tuyến này sau đó trở thành biên giới biển thực sự của Hiệp Chủng Quốc. Hiệp Chủng Quốc sẽ tuần tra vùng biển Tây bán cầu và nhân thể sẽ cho chúng tôi biết bất cứ hoạt động nào của địch tại đây. Tuy vậy Hiệp Chủng Quốc vẫn không tham chiến và trong phạm vi hoạt động này, không thể lo việc bảo vệ các đoàn tàu của chúng tôi. Việc này chỉ một mình Anh chịu trách nhiệm trên toàn bộ tuyến đường.

        Ảnh hưởng của chính sách này của Tổng thống là sâu rộng, còn chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đấu, mặc dù hải quân Hoàng gia Canada và Hiệp Chủng Quốc đã đảm nhận những phần việc quan trọng trong trách nhiệm nặng nề của chúng tôi. Hơn bao giờ  Hiệp Chủng Quốc đang tiến gần tới chiến tranh, chiều hướng này trên thế giới thậm chí còn được đẩy mạnh hơn nữa do tàu Bismarck xông vào Đại Tây Dương hồi cuối tháng 5. Trong buổi phát thanh ngày 27 tháng 5, ngày thực sự tàu Bismarck bị đánh chìm, Tổng thống tuyên bố "cho đến khi địch ở trong sân trước của chúng ta thì đó là hành động tự sát của họ được chờ đợi. Vì vậy chúng ta đã mở rộng việc tuần tra trong vùng biển Bắc và Nam Đại Tây Dương". Kết thúc bài diễn văn này, Tổng thống tuyên bố : "Tình trạng khẩn cấp toàn quốc không giới hạn".

        Rất rõ ràng là bọn Đức hết súc bối rối trước tất cả những chuyện này, và các đô đôc Raeder và Doeninz van nài Hitler ban cho tàu ngầm Đức quyền hoạt động rộng rãi hơn, cho phép chúng hướng về bờ biển nước Mỹ cũng nhu chống lại tàu biển Mỹ nếu các tàu này được hộ tống hoặc chạy mà không có đèn đuốc. Tuy nhiên Hitler vẫn kiên quyết. Bao giờ y cũng khiếp sợ hậu quả của chiến tranh với Hiệp Chủng Quốc, và nhấn mạnh rằng lực lượng vũ trang Đức phải tránh hành động khiêu khích.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #222 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:46:40 PM »


        Việc mở rộng những nỗ lực của quân địch cũng đưa lại những vấn đề cho chính bản thân họ. Vào khoảng tháng 7, ngoài những tàu đang luyện tập, họ có khoảng 35 tàu ngầm ngoai khơi những tàu mới bây giờ trở thành tiên tiến nhưng nó đã vượt quá khả năng về mặt đào tạo thủy thủ ở mức cao và nhất là về mặt thuyền trưởng có kinh nghiệm. Nhũng đoàn thủy thủ "không lành nghề" của các tàu ngầm mới của Đức trên quy mô lớn, gồm những người trẻ không có kinh nghiệm, để lộ sự sa sút về tính ngoan cường, về kỹ năng và việc dàn rộng trận đánh vào trong vùng biển hẻo lánh hơn của đại dương đã phá vỡ sự phối hợp nguy hiểm của tàu ngầm Đức và máy bay. Số lớn máy bay Đức không được trang bị hoặc huấn luyện để hoạt động trên biển. Tuy thế mà trong ba tháng 3, 4 và 5 như nhau, 179 tàu trọng tải 545.000 tấn bị không quân đánh đắm, chủ yếu ở những vùng ven biển. Trong tổng số này thì 40.000 tấn bị phá hủy trong hai trận tấn công ác liệt vào bến cảng Liverpool đầu tháng năm. Tôi biết bọn Đức không kiên trì tấn công mục tiêu nay. Suốt thời gian đó, mối đe dọa âm thầm của mìn từ tính vẫn tồn tại gần các bờ biển chúng tôi, có thu được thắng lợi khác nhau nhưng thắng lợi đó cũng bị giảm bớt. Chúng tôi phát triển và mở rộng các căn cứ ở Canada và Băng đảo với mọi tốc độ có thể và do đó đặt kế hoạch cho các đoàn tàu trong tương lai. Chúng tôi tăng thêm sức chứa nhiên liệu của các tàu khu trục cũ hơn và tiếp theo là tăng thêm tầm hoạt động của chúng, sở chỉ huy hỗn hợp ở Liverpool mới thành lập, nhiệt tình lao vào cuộc chiến đấu. Vì có thêm nhiều đội hộ tống phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên đều có kinh nghiệm nên Đô đốc Noble tổ chức họ lại thành những tốp thường trực dưới sự chỉ huy của các tư lệnh tập đoàn. Tinh thần đồng đội được cổ vũ và mọi người quen làm việc nhất trí, hiểu rõ những phương pháp của các viên chỉ huy. Các tốp hộ tống này có năng lực hơn bao giờ, và do sức mạnh của họ gia tăng thì sức mạnh của tàu ngầm Đức lại suy sụp.

        Vào quãng tháng sáu, một lần nữa chúng tôi lại bắt đầu chiếm ưu thế. Những nỗ lục cuối cùng đã được thực hiện nhằm cải tiến việc tổ chức các đội hộ tống tàu bè của chúng tôi phát triển vũ khí và thiết bị mới. Những nhu cầu chủ yếu là cho các đội hộ tống nhiều hơn, cho máy bay tầm xa hơn và trước hết cho khá nhiều rađa. Chỉ có máy bay có căn cứ ở bờ biển thì không đủ, mọi đoàn tàu đều cần những máy bay được chở trên tàu để phát hiện bất cứ tàu ngầm Đức nào trong tầm tay đánh được ban ngày, và do bắt buộc nó phải lặn xuống nên ngăn chặn được nó đi lại hoặc gây tiếng nổ có thể kéo các tàu ngầm khác đến nhập cuộc. Máy bay khu trục phóng đi từ các máy phóng máy bay trên các thương thuyền thông thường cũng như trên các tàu đã được cải tạo do hải quân Hoàng gia cung cấp thủy thủ, chẳng mấy chốc đương đầu với cuộc tấn công của máy bay Focke-Wulf. Phi công lái máy bay chiến đấu được tung lên như con chim ưng trực diện với con mồi, muốn khỏi chết phải trông mong vào sự cứu thoát từ mặt biển của một đội hộ tống. Dần dần máy bay Focke-Wulf trở thanh kẻ bị săn đuổi hơn la kẻ đi săn đuổi. Việc xâm lược nước Nga buộc Hitler phải bố trí lại bộ máy đông đảo, và tổn thất của chúng tôi từ đỉnh cao nhất trong tháng 4 là gần ba trăm nghìn tấn thì đến giữa mùa hè đã thu hẹp lại còn khoảng một phần năm.

        Lúc này Tổng thống đi một nước cờ quan trọng khác. Ông quyết định thiết lập một căn cứ ở Băng đảo. Đã thỏa thuận là lực lượng vũ trang Hiệp Chủng Quốc nên thay thế đơn vị đồn trú của Anh. Ngày 7 tháng 7 họ đến Băng đảo và hòn đảo này nằm trong hệ thống phòng thủ của Tây bán cầu. Sau đó, các đoàn tàu của Mỹ do các tàu chiến Mỹ hộ tống, thường xuyên chạy đến Reykjavik, và tuy Hiệp Chủng Quốc vẫn không trong tình trạng chiến tranh, họ nhận cho các tàu ngoại quốc có được sự bảo vệ của các lực lượng hộ tống của họ.

        Vào lúc cuộc chiến đấu lên tới cục điểm, tôi đã thực hiện một trong những vụ bổ nhiệm quan trọng nhất và thuận lợi nhất của chính quyền chiến tranh của tôi. Năm 1930 khi rời khỏi chúc vụ, lần đầu và là lần duy nhất trong đời, tôi nhận chúc giám đốc tại một trong những Công ty chi nhánh của cơ quan viễn dương tuyến đường hàng hải Peninsular và Oriental của Lord Inchcape. Trong tám năm, tôi hoàn thanh nhiệm vụ của mình một cách chu đáo và thường dự các cuộc họp hàng tháng của ban lãnh đạo. Tại các cuộc họp nay, tôi dần dần nhận thấy một người rất đáng lưu ý. ông ta đứng đầu ba mươi hoặc bốn mươi Công ty, một trong số này tôi có quan hệ là một đơn vị nhỏ. Tôi sớm nhận ra Frederick Leathers là bộ não quan trọng nhất và là người có quyền thế điều khiển tập đoàn này. Ông ta hiểu biết mọi việc và có sẵn sự tin cậy tuyệt đối. Năm này qua năm khác, từ vị trí tầm thường của tôi, tôi theo dõi ông ngay kề bên. Tôi tự nhủ: "Nếu có khi nào xảy ra một cuộc chiến tranh nữa, thì đây là con người cũng sẽ giữ vai trò như vậy, như những nhà lãnh đạo công tác thạo giỏi đã phục vụ dưới quyền tôi ở Bộ Quân giới năm 1917 và 1918".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #223 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:47:29 PM »


        Leathers tình nguyện phục vụ tại Bộ Hàng hải khi chiến tranh bùng nổ năm 1939. Chúng tôi không gặp nhau nhiều khi tôi ở Bộ Hải quân, bởi vì nhiệm vụ của ông ta được chuyên môn hóa và mang tính phụ thuộc. Nhưng năm 1941, trong tình hình căng thẳng của trận Đại Tây Dương và với nhu cầu kết hợp  việc quản lý tàu bè của chúng tôi với tất cả những việc vận chuyển hàng cung cấp bằng đường sắt và đường bộ từ các cảng bị tàn phá thì càng ngày, tôi càng chú ý tới ông. Ngày 8 tháng 5, tôi tìm đến ông. Sau nhiều cuộc thảo luận bàn cãi, tôi tổ chức hai bộ Hàng hải và Giao thông lại thành một bộ máy hoàn chỉnh. Tôi cử Leathers đứng dầu bộ máy này. Nhằm đem lại quyền hành cần thiết cho ông, tôi phong chức Bộ trưởng Vận tải Chiến tranh. Bao giờ tôi cũng ngại đưa người vào những vị trí cao ở cương vị Bộ trưởng ở Hạ viện, nếu họ không được giáo dục trong khá nhiều năm ở đó. Những thành viên có kinh nghiệm của cơ quan có thể làm phiền người mới đến và ông luôn luôn sẽ bị quấy rầy quá đáng do phải chuẩn bị và đọc những bài diễn văn. Bởi vậy tôi đệ trình lên Nhà vua là nên ban Huân tước cho Bộ trưởng mới.

        Từ đó về sau, cho đến kết thúc chiến tranh, Huân tước Leathers vẫn lam chủ Bộ Vận tải Chiến tranh và danh tiếng ông ta mỗi năm mỗi tăng trong bốn năm qua. Ông ta thu phục được lòng tin của các Tham mưu trưởng và của tất cả các bộ trọng nước, củng cố các mối quan hệ mật thiết rất tốt đẹp với các nhà lãnh đạo Mỹ trong lĩnh vục quan trọng này. Ông ta không hòa hợp mật thiết với ai hơn là với ông Lewis Douglas của Bộ Hàng hải Hoa kỳ, sau này là đại sứ ở Luân Đôn. Leathers là người giúp tôi rất cừ trong việc lãnh đạo chiến tranh. Rất hiếm trường hợp ông không thể hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn mà tôi giao phó. Nhiều lần khi tất cả những phương pháp của toàn thể nhân viên và của bộ không giải quyết được những vấn đề vận chuyển thêm một sư đoàn hoặc chuyển nó từ tàu Anh qua tàu Mỹ hoặc đáp ứng một nhu cầu khác nào đó, thì tôi có lời thỉnh cầu riêng tới ông, thế là mọi khó khăn dường như biến mất giống như một trò ảo thuật.

        Suốt những tháng nguy kịch này, hai tuần dương hạm chiến đấu của Đức vẫn trong tư thế sẵn sàng ở Brest. Dường như vào bất cứ lúc nào, chúng cũng có thể bất thình lình tiến vào Đại Tây Dương một lần nữa. Chính do không quân Hoàng gia mà chúng vẫn đúng yên không hoạt động. Những trận không kích liên tục nhằm vào chúng trên cảng có kết quả hoàn toàn như vậy đã vô hiệu hóa chúng suốt cả năm. Chăng mấy chốc mà quân địch phải lo đem chúng trở về, nhưng cả đến việc này họ cũng không thể thực hiện được trước năm 1942. Người ta sẽ chứng kiến đúng lúc phân đội phụ trách ven biển của Hải quân và Không quân Hoàng gia nhận trách nhiệm: chúng tôi trở thành người chủ các cửa sông như thế nào, máy bay khu trục của chúng tôi bắn rơi máy bay khu trục Heinkel 111 như thế nào, còn tàu ngầm Đức thì bị chết ngạt trong chính vùng biển mà chúng cố bóp nghẹt chúng tôi, cho đến lúc lại một lần nữa, với vũ khí chiếu sáng, chúng tôi quét tất cả các đường đi vào đảo.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #224 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:48:40 PM »


18

NAM TƯ VÀ HY LẠP

        Lúc này cơ hội đã đến, khi phải thi hành quyết định không thể thay đổi, dù có phái hay không đạo quân sông Nil đến Hy Lạp. cần phải có bước quan trọng này, không chỉ để giúp Hy Lạp đang trong hiểm họa và đau khổ, mà còn để hình thành một mặt trận Balkan gồm Nam Tu, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ chống cuộc tấn công của Đức sắp xảy ra, bất chấp những tác động đến nước Nga Xô Viết mà chúng tôi không thể đánh giá được. Những việc này có thể hết súc quan trọng nếu các lãnh tụ Xô Viết thực hiện điều gì đang chợt nảy ra trong óc họ. Không phải điều gì chính chúng tôi có thể đưa ra thì điều đó có thể quyết định lối thoát cho các nước vùng Balkan. Hy vọng có giới hạn của chúng tôi là kêu gọi và tổ chức các hành động một cách thống nhất. Nếu vào lúc chúng tôi vẫy chiếc đũa thần mà Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ tất cả cùng hành động một lúc, thì dường như đôi với chúng tôi, hoặc Hitler có thể tha cho các nước vùng Balkan trong thời gian này, hoặc đánh nhau dữ dội với các nước có lực lượng hỗn hợp của chúng tôi đến mức tạo thành một mặt trận chủ yếu ở đây. Lúc đó chúng tôi không biết rằng y đã sắp đặt một cách sâu sắc từ trước cuộc xâm lược đại quy mô vào nước Nga. Nếu biết được thì lẽ ra chúng tôi đã cảm thây tin tưởng hơn vào thành công của chính sách của chúng tôi. Chúng tôi lẽ ra đã thấy rằng y có cơ lưỡng lự giữa hai con đường và có thể dễ dàng làm suy yếu nhiệm vụ tối cao của mình vì lợi ích của một biện pháp sơ bộ cho vùng Balkan. Đây là điều thực sự đã xảy ra, nhưng lúc đó chúng tôi không thể biết được. Một vài người nghĩ rằng chúng tôi trưởng thành một cách thích đáng, ít nhất chúng tôi cũng trưởng thành tốt hơn chúng tôi biết được. Mục đích của chúng tôi là cổ vũ và liên kết các nước Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ lại với nhau. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải giúp đỡ người Hy Lạp trong chừng mực có thể được. Bốn sư đoàn của chúng tôi được đặt ỏ một vị trí rất tốt trong vùng châu thổ để thực hiện các mục đích này.

*

        Ngày 1 tháng 3, Đức bắt đầu tiến quân vào Bulgaria. Quân đội Bulgaria được động viên và đảm nhiệm các vị trí dọc biên giới Hy Lạp. Quân Đức tiến hành một cuộc tổng nam tiến được người Bulgaria giúp đỡ bằng mọi cách. Hôm sau, ông Eden và tướng Dill lại tiếp tục các cuộc hội đàm quân sự ỏ Athens. Như là kết quả của các cuộc hội đàm này, ông Eden gửi đi một bức điện rất quan trọng, thế là xảy ra một sự thay đổi rõ rệt liên quan đến quan điểm của chúng tôi ở Luân Đôn. Không còn nghi ngờ  gì nữa về những rủi ro nguy hiểm và to lớn của hải quân ở Địa Trung Hải đang thu hút tâm trí mọi người, mặc dù vũng tin vào chính sách của chúng tôi là đúng đắn, đô đốc Cunningham đã bỏ mặc chúng tôi. Các tham mưu trưởng đưa ra những nhân tố khác nhau đang phát triển một cách bất lại trái với chính sách đối với vùng Balkan của chúng tôi và đặc biệt trái với việc đưa quân sang Hy Lạp. Họ tuyên bố rằng "những rủi ro nguy hiểm của việc làm táo bạo này đã tăng lên nhiều". Tuy nhiên cho đến bây giờ, họ không cảm thấy rằng họ có thể nghi ngờ lời khuyên của những người tại chỗ đã mô tả tình thế không phải là không hy vọng chút nào.

        Tối chủ nhật, sau khi suy nghĩ một mình bên bàn cờ về chiều hướng cuộc thảo luận tại Nội các Chiến tranh buổi sáng ấy, tôi gửi bức điện sau đây cho ông Eden, lúc này đã rồi Athens đi Cairo. Điều này dứt khoát thể hiện một quan điểm khác của tôi. Nhưng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định cuối cùng này, bởi vì chắc chắn tôi có thể giữ nó lại hoàn toàn nếu tôi đã bị thuyết phục. Dùng lại thì dễ dàng hơn nhiều, hơn là cứ tiến hành.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #225 vào lúc: 18 Tháng Một, 2019, 11:01:50 PM »


        "... Chúng ta cố gắng hết sức để xúc tiến việc liên kết các nước vùng Balkan chống Đức, chúng ta phải cẩn thận không cố gắng thuyết phục Hy Lạp chống lại ý kiến đúng đắn của họ dẫn đến một cuộc kháng chiến đơn độc vô vọng, khi mà chúng tôi chỉ có rất ít quân đội có thể kịp thời tới nơi xung dột. Nhiều vấn đề nghiêm trọng của Vương quốc Anh nổi lên do đưa quân Úc và Tân Tây Lan vào một công việc khó khăn, thậm chí đã trở nên nguy hiểm."

        "... Chúng ta phải để người Hy Lạp tự do không bị bắt buộc phải bác bỏ tối hậu thư của Đức. Nếu tự họ quyết chiến đấu thì chúng ta phải chia sẻ sự thử thách của họ đến một chừng mực nào dó. Nhưng bước tiến nhanh của quân Đức hầu như chắc chắn sẽ ngăn quân đội đáng kể của Vương quốc Anh ứng chiến."

        "Mất Hy Lạp và các nước vùng Balkan không phái là một thám họa lớn đối với chúng ta miễn là Thổ Nhĩ Kỳ vẫn thực sự trung lập. Chúng ta có thể chiếm giữ Rhodes và suy nghĩ kế hoạch dột kích vào Sicily hay Tripoli. Chúng ta được nhiều nơi báo cho biết rằng việc rút khỏi Hy Lạp một cách nhục nhã sẽ gây tổn hại cho chúng ta nhiều ở Tày Ban Nha và Vichy hơn là việc đầu hàng của các nước vùng Balkan mà với lực lượng ít ỏi đơn độc của chúng ta, chúng ta không bao giờ hy vọng ngăn ngừa được..."


        Gắn liền với việc này là lời bình luận nghiêm trọng của các Tham mưu trưởng.

        Ngay khi đọc bức điện cảnh cáo của tôi, đại sứ của chúng tôi ở Athens tỏ ra lo lắng đến thất điên bát đảo. Ông đánh điện cho Bộ trưởng Ngoại giao "Làm sao mà chúng ta có thể bò rơi nhà vua Hy Lạp sau khi Tổng tư lệnh và Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia bảo đảm với Nhà vua về những cơ may thắng lợi phải chăng? Dường như đối với tôi điều này hoan toàn không thể tưởng tượng được. Người Hy Lạp và thế giới nói chung sẽ bêu riếu chúng ta là nuốt 1ời. Không có vấn đề "để cho người Hy Lạp tự do, không buộc họ phải bác bỏ tối hậu thư". Họ đã quyết định nếu cần, thì một mình chiến đấu chống lại nước Đức. Vấn đề là chúng ta ủng hộ hay bỏ rơi họ".

        Do   đó, nội các chiến tranh quyết nghị là chưa quyết định cho đến    khi nhận được phúc đáp của Eden   về toàn bộ vấn đề này. Ngày hôm sau ông ta trả lời- Phần quan trọng được viết như sau:

        "...   Sự sụp đổ của Hy Lạp mà không có sự cố gắng hơn nữa    của    chúng    ta can thiệp trên bộ để cứu họ, cả thế giới đều biết, sau chiến tranh ở Ly bi, quân dội đã sẵn sàng, thì sẽ là tai họa lớn nhất. Rồi Nam Tư chắc cũng sẽ mất mà chúng ta cũng không thể tin chắc rằng ngay cả Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có được sức mạnh để vẫn cứ là không dao dộng, nếu quân Đức và Ý đã củng cố được lực lượng ỏ Hy Lạp mà không gặp phái cố gắng nào của chúng ta chống lại họ. Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ mất uy tín, nếu chúng ta bị tống khứ một cách nhục nhã, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, chiến đấu và chịu tổn thất ỏ Hy Lạp thì ít nguy hại cho chúng ta hơn là bỏ mặc Hy Lạp cho số phận- họ..."

        Trong tình hình này, chúng tôi hoàn toàn tán thành phải theo cách giải quyết được ủng hộ ấy và phải giúp đỡ Hy Lạp.

        Với sự tháp tùng của các Tham mưu trưởng, tôi đưa vấn đề này ra trước nội các chiến tranh đã biết đầy đủ mọi việc như đã xảy ra, để đi đến quyết định cuối cùng. Bất chấp sự thật là chúng ta không thể gửi đi máy bay nhiều hơn số đã đặt mua và đang trên đương tới, giữa chúng tôi không có chuyện do dự hay chia rẽ. Không còn nghi ngờ gì nữa, sức ép chính trị trong nước không áp đặt đối với họ về bất cứ mặt nào. Với tất cả sự tùng trải của mình, Smuts đã nhất trí1. Mà cũng không ai có thể đưa ra giả thuyết là chúng ta đã bắt buộc Hy Lạp phải chống lại nguyện vọng của họ. Không có một ai bị thuyết phục, về phần chúng ta, chắc chắn chúng tôi có quyền lợi về mặt chuyên môn cao nhất, hành động hoàn toàn tự do và bằng tất cả sự hiểu biết con người và hoàn cảnh. Các bạn đồng sự của tôi quen chịu đựng nhiều rủi ro mà chúng tôi đã vượt qua một cách thắng lợi, cũng đã độc lập đi đến những kết luận như nhau. Ông Menzies2 với trách nhiệm đặc biệt nặng nề trên vai, cũng tràn đầy dũng khí. Một cuộc chiến đấu sôi nổi kiên quyết đã diễn ra. Nội các thảo luận ngắn gọn, quyết định dứt khoát, trả lời ngắn gọn:

        - Xét thấy ý kiến phát biểu trước sau như một của các Tổng tư lệnh tại chỗ, của Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia, và các Tư lệnh các lực lượng sắp được sử dụng, các Tham mưu trưởng khuyên rằng ông cần phải tiếp tục. Nội các quyết định ủy quyền cho ông tiếp tục hoạt động, như vậy Nội các tự mình gánh vác trách nhiệm. Chúng tôi nhất định sẽ trao đổi ý kiến với các chính phủ Úc và Tân Tây Lan sao cho phù họp.

---------------
        1. Smuts: 1870-1950, chính khách - thống chế Nam Phi

        2. Menzies: 1894-1978, chính khách Úc
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #226 vào lúc: 18 Tháng Một, 2019, 11:03:00 PM »


*

        Số phận của Nam Tư lúc này phải được vạch ra. Toàn bộ sự phòng thủ của Salonika tùy thuộc vào sự bắt đầu của họ, và quan trọng là biết được họ phải làm gì. Ngày 2 tháng 3, ông Campbell, đại sứ của chúng tôi ở Belgrade gặp ông Eden ở Athens. Ông nói rằng Nam Tư lấy làm lo sợ Đức, trong nước thì rối loạn do những khó khăn chính trị. Tuy nhiên cũng có cơ may là nếu họ biết chúng tôi có kế hoạch viện trợ Hy Lạp thì họ có thể sẵn sàng giúp đỡ. Ngày 5, Bộ trưởng ngoại giao phái ông Campbell trở lại Belgrade đem theo bức thư mật gửi cho Hoàng thân Nhiếp chính Paul. Trong thư ông miêu tả số phận Nam Tư nếu ở trong tay bọn Đức và nói rằng Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ sẽ chiến đấu nếu bị tấn công. Trong trường hợp như vậy Nam Tư cần phải đứng về phía chúng tôi. Hoang thân Nhiếp chính còn được khẳng định bằng miệng rằng Anh đã quyết định giúp đỡ Hy Lạp bằng lục quân và không quân càng nhanh chóng càng tốt, và rằng nếu Nam Tư có thể phái một sĩ quan tham mưu đến Athens thì chúng tôi sẽ đưa thêm người này vào tham gia các cuộc thảo luận của chúng tôi.

        Trong bầu không khí này, phần lớn sự việc tùy thuộc vào thái độ của Hoàng thân. Hoàng thân còn là con người hòa nhã có năng khiếu nghệ thuật, nhưng uy tín của chế độ quân chủ đã tàn tạ từ lâu và lúc này ông ta thi hành chính sách trung lập đến tận giới hạn của nó. Đặc biệt ông sợ rằng bất cứ một biện pháp nào của Nam Tư hoặc của các nước láng giềng đều có thể khích động quân Đức tiến về phía nam vào các nước vùng Balkan. Ông từ chối cuộc viếng thăm do ông Eden đề nghị. Nỗi lo sợ bao trùm. Các Bộ trưởng và các nhà chính trị quan trọng nhất không dám phát biểu ý kiến của mình. Thế mà có một ngoại lệ. Một viên tướng không quân tên là Simovic đại diện cho các phần tử dân tộc chủ nghĩa trong đoàn sĩ quan của lực lượng vũ trang, từ tháng 12, cơ quan của anh ta đã biến thành một trung tâm bí mật chống lại sự trì trệ của chính phủ Nam Tư.

        Ngày 4 tháng 3, Hoàng thân Paul rồi Belgrade bí mật đi thăm Berchtesgaden, và dưới sức ép nặng nề đã cam kết bằng miệng rằng Nam Tư sẽ đi theo gương của Bulgaria. Khi trở về, tại một cuộc họp của Hội đồng Hoàng gia, và trong khi thảo luận riêng rẽ với các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị, ông nhận thấy có nhiều ý kiến chống đối. Khi được triệu tập tới cung điện Trắng, dinh thự của Hoàng thân Paul ở vùng đồi núi phía trên Belgrade, tướng Simovic kiên quyết chống đầu hàng. Serbia nhất định không chấp nhận một quyết định như vậy, và triều đại này nhất định bị lâm nguy. Nhưng Hoàng thân Paul thực tế đã làm hại Tổ quốc của ông. Trong đêm 20 tháng 3 tại một cuộc họp nội các, chính phủ Huân tước quyết định gia nhập Hiệp ước tay ba. Tuy vậy có ba Bộ trưởng từ chức chống lại việc này. Ngày 24 tháng 3, Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao lén lút rồi Belgrade từ một nhà ga xe lửa ở ngoại ô, trên một chuyến tàu đi Viên. Ngày hôm sau tại Viên họ ký hiệp ước với Hitler, và lễ ký kết được truyền đi trên đài phát thanh Belgrade. Tin đồn về tai họa sắp xảy ra lan khắp qua các quán ăn, cũng như các cuộc họp riêng ở thủ đô Nam Tư.

        Việc sử dụng bạo lực đã được bàn cãi mấy tháng trong nhóm nhỏ sĩ quan xung quanh Simovic, trong trường hợp chính phủ đầu hàng Đức. Trong ngày 26 tháng 3, khi tin túc về chuyến trở về từ Viên của các Bộ trưởng Nam Tư bắt đầu lưu hành ở Belgrade thì những người âm mưu quyết định hành động. Một vài cuộc cách mạng xảy ra rất êm thấm. Không có đổ máu. Một vài sĩ quan cao cấp nào đó bị bắt giữ. Thủ tướng bị cảnh sát đưa đến sở chỉ huy của Simovic và buộc phải ký giấy từ chức. Hoàng thân Paul được báo cho biết là Simovic đã nhân danh Nha vua tiếp quản chính quyền và Hội đồng Nhiếp chính đã bị giải tán. Ông được đưa đến cơ quan của tướng Simovic. Sau đó ông cùng với hai vị nhiếp chính khác ký giấy thoái vị. Ông được phép thu thập tài sản cá nhân trong mấy giờ và cùng với gia đình rơi xứ sở trong đêm ấy để đi đến Hy Lạp.

        Kế hoạch này do một nhóm bí mật gồm các sĩ quan dân tộc chủ nghĩa người Serbie chuẩn bị và thực hiện, họ gắn bó với tâm trạng đúng đắn của quần chúng. Hành động của họ đã thể hiện sự bùng nổ lòng nhiệt tình của nhân dân. Chẳng mấy chốc các đường phố Belgrade chật ních những người dân Serbie, họ hô vang: "Thà chiến tranh hơn là ký hiệp ước; thà chết hơn là nô lệ". Họ nhảy múa ở các quảng trường, cờ Anh và cờ Pháp xuất hiện khắp nơi, dân chúng không được bảo vệ, dũng cảm hát quốc ca Serbie một cách thách thức điên cuồng. Ngày 28 tháng 3, vua Peter nhờ chui xuống cống thoát nước để trốn thoát khỏi sự giám hộ của chế độ nhiếp chính, đã đến dự buổi thánh lễ tại nhà thờ lớn của Belgrade, giữa tiếng reo hoan hô nồng nhiệt. Đám đông công khai sỉ nhục viên công sứ Đức và khạc nhổ vào xe y. Kỳ công của quân đội đã khuấy động lan sóng mạnh mẽ đầy sức sống của dân tộc. Một dân tộc tê liệt trong chiến đấu, được cai trị bởi những lãnh đạo tồi, từ lâu cho là mình bị mắc bẫy, đã quả cảm táo bạo thách thức những tên bạo ngược, những tên xâm lược, vào lúc mà quyền lục của hắn đã lên tới tột đỉnh.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #227 vào lúc: 18 Tháng Một, 2019, 11:03:24 PM »


        Hitler bị chạm nọc, cay cú. Ý đùng đùng nổi giận ngay lập tức, không còn biết suy nghĩ, và con giận dữ đó thỉnh thoảng lại thúc đẩy y vào những việc mạo hiểm kinh khủng nhất. Trong con thịnh nộ, y triệu tập Bộ Chỉ huy tối cao Đức. Goering, Keitel và Jodi có mặt, còn Ribbentrop đến sau. Ý nói rằng Nam Tư là một nhân tố không đáng tin cậy trong trận đánh Hy Lạp sắp tới và thậm chí không đáng tin cậy hơn nữa trong nhiệm vụ chiến dịch Barbarossa chống Nga sau này. Ý thấy rằng nếu những người Nam Tư biểu lộ sự tức giận của họ trước khi mở chiến dịch Barbarossa thì thật là thuận lợi. Nam Tư phải bị tiêu diệt về mặt quân sự và bị xóa sổ là một đơn vị quốc gia. Phải giáng một đòn khắc nghiệt tàn nhẫn. Đêm hôm đó, các tướng phác thảo các mệnh lệnh hành quân. Keitel xác nhận quan điểm của chúng tôi là mối nguy hiểm lớn nhất đối với Đức là "một cuộc tấn công vào phía sau lưng quân đội Ý", "quyết định tấn công Nam Tư có nghĩa là hoàn toàn đảo lộn tất cả mọi cuộc di chuyển quân đội và mọi việc chuẩn bị về mặt quân sự, đã được sắp xếp cho thời điểm này. Việc xâm lược Hy Lạp phải được điều chỉnh lại hết. Các lực lượng mới thành lập phải được đưa tới, đi xuyên qua Hungari từ hướng Bắc. Phải tùy cơ ứng biến mọi việc".

        Hungari bị ảnh hưởng trực tiếp ngay lập tức. Mặc dù cuộc tấn công dữ dội chủ yếu của Đức vào Nam Tư rõ ràng phải đi qua Rumania, tất cả mọi đường liên lạc đều xuyên suốt qua lãnh thổ Hungari. Gần như phản ứng đầu tiên của chính phủ Đức đối với các sự kiện quan trọng ở Belgrade là phải phái viên công sứ Hungari ở Berlin bay về Budapest mang theo bức điện khẩn cấp gửi cho vị Nhiếp chính Hungari là đô đốc Horthy:

        "Nam Tư sẽ bị tiêu diệt vì họ vừa từ bỏ công khai chính sách thỏa thuận sơ bộ với phe trục. Phần lớn lực lượng vũ trang Đức phải đi qua Hungari. Nhưng cuộc tấn công chủ yếu sẽ không nhằm vào khu vực Hungari. Ở đây quân đội Hungari tất phải xen vào, và để đền đáp lại sự hợp tác của họ, Hungari sẽ có thể tái chiếm tất cả các vùng lãnh thổ mà ngày xưa bị buộc phải nhượng cho Nam Tư. Đây là vấn đề cấp bách. Yêu cầu phúc đáp ngay lập tức."

        Hungari bị ràng buộc bởi hiệp ước hữu nghị với Nam Tư mới ký hồi tháng chạp năm 1940. Nhưng công khai chống lại yêu sách của Đức chỉ dẫn tới việc Đức chiếm đóng Hungari trong quá trình các cuộc hành quân sắp xảy ra đến nơi. Thật ra cũng muốn lấy lại những vùng lãnh thổ trên biên giới phía Nam mà Hungari đã để mất vào tay Nam Tư sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bá tước Teleki, thủ tướng Hungari trước sau như một hoạt động nhằm duy trì sự tự do hành động nào đó cho Tổ quốc ông. Ông ta không tin tý nào rằng Đức sẽ thắng. Vào lúc ký hiệp ước tay ba, ông có tin một ít vào nền độc lập của Ý như là một đối tác của phe trục. Tối hậu thư của Hitler đòi phải phá bỏ chính hiệp định của Hungari với Nam Tư. Tuy vậy Bộ tổng tham mưu Hungari do tướng Werth, một người gốc Đức, cầm đầu, lại giành lấy thế chủ động, y đã thỏa thuận riêng với Bộ chỉ huy tối cao Đức sau lưng Chính phủ Hungari.

        Lập tức Teleki lên án hành động của Werth là phản nghịch. Tối ngay 2 tháng 4 năm 1941, ông ta nhận được điện của công sứ Hungari tại Luân Đôn nói rằng Bộ ngoại giao Anh đã chính thức tuyên bố với ông là nếu Hungari tham gia vào bất kỳ một cuộc chuyển quân nào của Đức chống lại Nam Tư, thì Hungari phải tin rằng Anh sẽ tuyên chiến với Hungari. Như vậy Hungari phải lựa chọn hoặc chống lại một cách vô ích quân Đức hành quân qua lãnh thổ, hoặc công khai đứng về phía chống Đồng Minh và phản bội Nam Tư. Trong thế hiểm nghèo nay, Bá tước Teleki thấy chỉ còn một cách cứu vãn danh dự cá nhân ông. Chẳng mấy chốc sau chín giờ, ông rời Bộ Ngoại giao Hungari trở về nhà trong cung điện Sandor. Ở đây ông nhận được một cú điện thoại. Người ta tin rằng đây là tin báo quân Đức đã vượt biên giới Hungari. Ngày sau đó, ông dùng súng tự sát. Sự tự sát của ông là sự hy sinh nhằm tha thứ cho chính ông và dân tộc ông khỏi tội lỗi trong lúc quân Đức tấn công Nam Tư. Điều này làm rạng danh ông trước lịch sử, nhưng nó không thể ngăn ngăn được cuộc hành quân của Đức và cũng không thể ngăn chặn được hậu quả.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #228 vào lúc: 18 Tháng Một, 2019, 11:03:42 PM »


        Trong lúc đó, các đạo quân viễn chinh của chúng tôi đã bắt đầu chuyển đến Hy Lạp. Theo thứ tự lên tàu, thì nó gồm có Lữ đoàn thiết giáp thứ nhất của Anh, sư đoàn Tân Tây Lan và sư đoàn Úc thứ 6. Các đội hình khác ở Trung Đông phải chịu thiệt để trang bị đầy đủ cho các đạo quân này. Tiếp theo là lữ đoàn Ba Lan và sư đoàn Úc thứ 7. Kê hoạch là phải giữ vững phòng tuyến Aliakhmon chạy dài từ của con sông cùng tên xuyên qua Veria và Edhessa cho đến biên giới Nam Tư. Quân chúng tôi phải hội ý với quân Hy Lạp đã triển khai trên mặt trận này, trên danh nghĩa, số quân này tương đương bảy sư đoàn và phải chịu sự chỉ huy của tướng Wilson.

        Quân Hy Lạp ít hơn nhiều so với số mà tướng Papagos đã hứa ban đầu. Đại đa số quân Hy Lạp khoảng mười lăm sư đoàn đều ở Albania. Số còn lại thì ở Macedonia, do Papagos từ chối rút họ về, nên sau bốn ngay đánh nhau, ở đâu và lúc nào quân Đức tấn công thì họ không còn là quân đội nữa. Lực lượng không quân chúng tôi chỉ gồm có tám mươi máy bay sẵn sàng hoạt động chống lại không quân Đức nhiều hơn mười lần. Điểm yếu của vị trí Aliakhmon là ở sườn trái có thể bị quân tiền vệ Đức xuyên qua phía nam Nam Tư đi vòng lại để đánh thọc vào. Vì ít tiếp xúc với Bộ tổng tham mưu Nam Tư nên phía Hy Lạp hoặc chúng tôi đều không biết được kế hoạch phòng thủ và mức độ sẵn sàng chiến đấu của họ. Tuy nhiên người ta cũng hy vọng rằng trong cái xứ sở khó tính này mà quân địch sẽ phải giáp mặt, ít nhất người Nam Tư sẽ có thể bắt họ phải chịu đựng những trở ngại đáng kể. Nhưng hy vọng này tỏ ra không có căn cứ vững chắc. Tướng Papagos không cho rằng việc rút khỏi Albania để đáp ứng một cuộc di chuyển đi vòng như vậy là một cuộc hành quân có thể thực hiện được. Không chỉ việc này tác động nghiêm trọng đến tinh thần, ngoài ra quân đội Hy Lạp trang bị tồi về xe cộ, còn các phương tiện liên lạc thì xấu, đến nỗi một cuộc tổng rút lui trước quân thù là không thể thực hiện được. Có lẽ phải đến lúc quá muộn ông mới quyết định. Chính là trong những tình huống này mà ngày 27 tháng 3, Lữ đoàn thiết giáp số 1 của chúng tôi mới tới khu tiền phương và mấy ngày sau thì hợp nhất với sư đoàn Tân Tây Lan ở đây.

        Dĩ nhiên chúng tôi rất thỏa mãn về tin tức cuộc cách mạng ở Belgrade. ít nhất đây là một kết quả không thể nghi ngờ của những nỗ lực ghê gớm của chúng tôi nhằm hình thành một mặt trận liên minh trong vùng Balkan và nhằm ngăn chặn mọi sự phát triển dần dần thành chính quyền của Hitler. Đã thu xếp xong là Eden phải ở lại Athens để giao thiệp với Thổ Nhĩ Kỳ, còn tướng Dill phải đi Belgrade. Bất cứ ai cũng có thể thấy rằng vị trí của Nam Tư bị bỏ rơi, trừ phi tất cả các cường quốc có liên quan cho ra mắt ngay lập tức một mặt trận chung. Tuy nhiên cũng đã để ngỏ cho Nam Tư một cơ may đã nói đến là đánh một đòn cực kỳ có hiệu quả vào hậu phương trơ trụi của các đạo quân Ý kém tổ chức ở Albania. Nếu hành động mau lẹ, họ có thể gây ra một sự kiện quân sự lớn và trong lúc xứ sở họ đang bị tàn phá, họ có thể có được từ phía bắc những khối đạn dược và thiết bị có thể đem lại cho họ khả năng chỉ đạo du kích trong rừng là hy vọng duy nhất của họ lúc này. Có thế đây là một trận đánh lớn, có thể tác động ngay trở lại đối với toàn bộ tình hình Balkan. Trong nhóm chúng tôi ở Luân Đôn, tất cả chúng tôi đều nhất trí nhận rõ điều này.

        Nhưng những sai lầm trong nhiều năm không thể sửa chữa trong thời gian ngắn. Khi cuộc đại náo động lắng xuống thì mọi người ở Belgrade hiểu rõ rằng tai họa và cái chết đã đến gần và ít ai có thể tránh được số phận. Lúc này rốt cuộc Bộ Chỉ huy tối cao cũng có thể huy động quân đội. Song lại không có kế hoạch chiến lược. Dill chỉ thấy có sự hỗn loạn và tế liệt. Chính phủ Nam Tư chủ yếu sợ tác động đến tình hình trong nước, đã quyết định không thi hành biện pháp nào có thể xem là khiêu khích quân Đức. Vào lúc này tất cả sức mạnh của Đức trong tầm tay bất ngờ tấn công họ dồn dập như một trận tuyết lở. Từ tâm trạng và quan điểm của các bộ trưởng Nam Tư, người ta có thể nghĩ rằng họ cần có nhiều tháng để quyết định hòa hay chiến với Đức. Thực tế họ chỉ có bảy mươi hai giờ trước khi cuộc tiến công dữ dội diễn ra.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21730


« Trả lời #229 vào lúc: 18 Tháng Một, 2019, 11:04:18 PM »


        Sáng ngày 6 tháng 4 máy bay oanh tạc Đức xuất hiện trên bầu trời Belgrade. Bay theo ca kíp từ các sân bay chiếm lược ở Rumani, họ mở một cuộc tấn công có phương pháp kéo dài ba ngày vào thủ đô Nam Tư. Từ trên cao, không sợ bị đánh trả, chúng phá hủy thành phố, không thương xót. Cuộc bắn phá này được gọi là "Chiến dịch trừng phạt". Cuối cùng ngày 8 tháng 4, khi im tiếng bom thì có trên bảy nghìn dân Belgrade chết trên các đường phố hoặc dưới các đống đổ nát. Do khói lửa hãi hùng, thú vật phát điên thoát khỏi những chuồng bị gãy vỡ trong các vườn bách thú. Một con cò mắc nạn đi khập khiễng qua một khách sạn quan trọng nhất lúc bấy giờ là một khối lửa. Một con gấu sửng sốt ngơ ngác lê bước qua cảnh rùng rợn với dáng đi vụng về chậm chạp xuống sông Danube. Nó không phải là con gấu duy nhất không biết gì hết.

        Đồng thời với việc oanh tạc tàn bạo Belgrade, quân Đức cũng đổ về phía biên giới trong tư thế sẵn sàng và từ nhiều hướng tỏa khắp Nam Tư. Bộ tổng tham mưu Nam Tư không có ý định cố gắng đánh một đòn trí mạng vào hậu phương Ý. Họ cho rằng không được bỏ rơi Croatia và Slovenia nên họ buộc phải làm hại đến việc phòng thủ toàn tuyến biên giới. Bốn quân đoàn Nam Tư ở phía bắc nhanh chóng bị các đơn vị thiết giáp Đức dồn vào phía trong, các đơn vị này của Đức được quân Hungari vượt sông Danube và các cánh quân Đức và Ý đang tiến về phía Zagreb hỗ trợ. Như vậy các lực lượng chủ yếu của Nam Tư bị dồn đuổi về phía nam một cách hỗn loạn, và ngày 13 tháng 4 quân Đức tiến vào Belgrade. Trong lúc ấy, tập đoàn quân thứ 12 của Đức tập kết ở Bulgaria quay ngoặt vào Serbia và Macedonia. Ngay 10 họ tiến vào Monastir và Yannina và như vậy họ ngăn chặn bất cứ cuộc tiếp xúc nào giữa quân Nam Tư và quân Hy Lạp và đập tan quân Nam Tư ở phía nam.

        Bảy ngày sau Nam Tư đầu hàng.

        Sự sụp đổ đột ngột này đã phá hoại niềm hy vọng chủ yếu của người Hy Lạp. Đây là một ví dụ khác về "mỗi lúc chỉ làm một việc". Chúng tôi đã cố gắng tối đa để có hành động phối hợp, nhưng chúng tôi đã thất bại mặc dù chúng tôi không phạm phải sai lầm. Lúc này tất cả chúng tôi đứng trước một triển vọng ác liệt. Năm sư đoàn Đức kể cả ba sư đoàn thiết giáp, tham gia cuộc tấn công quyết liệt về hướng nam vào Athens. Ngày 8 tháng 4 rõ ràng cuộc kháng chiến của Nam Tư ở miền Nam bị đập tan, và chẳng mấy chốc sườn trái của vị trí Aliakhmon có thể bị uy hiếp. Ngày 10 tháng 4, quân Đức bắt đầu tấn công vào ngang hông chúng tôi. Sau hai ngày chiến đấu vất vả trong thời tiết khắc nghiệt, cuộc tấn công này mới bị chặn lại.

        Xa hơn về hướng tây, chỉ có một sư đoàn ky binh Hy Lạp còn liên lạc với các lực lượng ở Albania và tướng Wilson quyết định là sườn trái bị sức ép nặng nề phải rút lui. Cuộc chuyển quân hoàn thành ngày 13 tháng tư, nhưng trong quá trình này các sư đoàn Hy Lạp bắt đầu tan rã. Từ nay trở đi, lực lượng viễn chinh của chúng tôi trơ trọi một mình, vẫn bị uy hiếp ở sườn trái, Wilson quyết định rút lui tới Thermopylae. Ông nói điều này với Papagos, Papagos tán thành, và đề nghị Anh cũng rút khỏi Hy Lạp. Mấy ngày tiếp theo là những ngày quyết định. Ngày 6, Wavell đánh điện nói rằng tướng Wilson đã có một cuộc đàm thoại với Papagos, ông này mô tả quân đội Hy Lạp đang bị sức ép dữ dội và đang lâm vào những khó khăn về quản lý nhà nước vì hoạt động của không quân. Wavell lệnh cho Wilson phải tiếp tục chiến đấu trong sự hợp tác với quân Hy Lạp chừng nào họ có thể kháng cự được, nhưng cũng cho phép bất cứ một cuộc rút lui nào nữa nếu xét ra cần thiết. Ông cũng ra lệnh cho các tàu bè đang trên đường đi Hy Lạp phải quay về, không tàu nào được bốc hàng nữa, tàu nào đang bốc hoặc đã bốc hàng xong thì phải dỡ hàng xuống để tàu không.

        Đối với tin tức nghiêm trọng nhưng không phải là bất ngơ này, tôi trả lời ngay rằng chúng tôi không thể bỏ Hy Lạp trái với mong muốn, của Tổng tư lệnh Hy Lạp, như thế là để mặc xứ sở này bị tàn phá, và rằng nếu chính phủ Hy Lạp đồng ý thì phải tiến hành việc rút lui.

        Và tôi thêm "Phải giữ vũng đảo Crete bằng vũ lực"

        Ngày 17, tướng Wilson đi xe hơi từ Thebes đến cung điện ở Tatoi, gặp nhà vua, tướng Papagos và đại sứ của chúng tôi. Việc rút lui đến phòng tuyến Thermopylae, kế hoạch duy nhất có thể thực hiện được, đã được chấp thuận. Tướng Wilson tin tưởng rằng ông có thể giữ phòng tuyến này trong một thời gian. Cuộc thảo luận tập trung chủ yếu vào vấn đề cách thức và thứ tự rút lui. Chính phủ Hy Lạp sẽ không rời khỏi trong ít nhất một tuần nữa.

        Thủ tướng Hy Lạp, ông Korysis, như đã nói tới, được lụa chọn để bổ khuyết chỗ trông khi ông Metaxas từ trần. Ông không đòi hỏi chức vụ công khai chỉ cần một đời sống không lỗi lầm và lòng tin trong sáng dứt khoát. Do dường như không thể sống qua sự đổ nát của Tổ quốc hoặc không thể đảm nhận trách nhiệm lâu hơn nữa, cũng như bá tước Teleki ở Hungari, ông quyết định quyên sinh để tạ tội. Ngày 18 ông tự sát, loài người kính trọng tưởng nhớ ông.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM