Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Sáu, 2024, 05:16:07 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 3067 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:44:08 pm »

Kế hoạch dự kiến các binh đoàn chủ lực đánh vào từ năm hướng đó là căn cứ vào các mục tiêu trọng yếu nhất trong nội thành cần phải chiếm lĩnh nhanh hầu như cùng một lúc. Căn cứ vào tính chất và cách phân bố các mục tiêu ấy nằm trong thành và liên hệ với ngoại thành. Căn cứ vào địa hình địa vật xung quanh các mục tiêu, xung quanh thành phố. Căn cứ vào cách bố trí phòng thủ của địch và khả năng các bàn đạp xuất phát tấn công của ta… Trong năm hướng ấy thì hướng Tây bắc và hướng Bắc là thuận lợi hơn cả. Vì địa hình ở cả hai hướng ấy tốt, khô ráo, bằng phẳng, rộng rãi, tiện lợi cho triển khai các binh khí kỹ thuật, cho cơ giới, cho lực lượng lớn của chủ lực. Trong tấn công phải vượt qua đồng bưng Cầu An Hạ; sông Rạch Tra, Lái Thiêu, nhưng các đồng bưng này hẹp, dễ khắc phục. tuyến xuất phát tấn công tuy phải chiến đấu tạo ra trước cho hoàn chỉnh hơn, nhưng nó nằm ngay ven vùng căn cứ hậu phương rộng rãi của ta, thuận lợi cho cơ động và bố trí lực lượng, cho tiếp tế từ phía sau lên và liên lạc với hậu phương, với chỉ huy sở chiến dịch. Quân địch phòng thủ có chú ý nhiều đến 2 hướng này, vì tiếp giáp với căn cứ ta và chủ lực ta thường xuyên đứng ở đây. Chúng bố trí hai sư đoàn tương đối mạnh, nhưng bị phân tán ra cả chiều rộng và chiều sâu, không thành tuyến có công sự và nối liền bằng đồn bốt kiến cố vì đã bị ta phá thủng từ trước rồi. Các mục tiêu trọng yếu mà hai cánh quân này phải chiếm lĩnh không nằm sâu trong nội thành, đường tấn công không phức tạp.

Hướng đông thì địa lợi, nhưng nhân không hòa. Quần chúng có Tổ chức của ta còn yếu. Tung thâm tấn công hướng này sâu hơn các hướng khác vì phải đánh chiếm các mục tiêu lớn và cứng như sân bay Biên Hòa, thị xã Biên Hòa và đặc biệt là chỉ huy sở Quân đoàn 3 Ngụy là quân đoàn có nhiệm vụ chỉ huy các lực lượng phòng thủ chủ yếu Sàigòn. Lại còn phải vượt qua hai con sông lớn là sông Đồng Nai và sông Sàigòn, tuy đường sá thuận lợi nhưng nếu địch phá các cầu thì rất khó mà tiến vào đến mục tiêu đúng thời gian. Các tuyến xuất phát tấn công ở đây xa với hậu phương căn cứ, việc tải lương thực, đạn dược gặp nhiều trở ngại. Hậu phương trực tiếp của cánh thì phải chiến đấu mở ra sớm mới tạo đường tải, xây dựng dự trữ hậu cần được. Vì hiện các vùng này địch còn kiểm soát.

Hai hướng Tây và Nam là khó khăn phức tạp nhất. Địa hình ở cả hai hướng này trước khi đến và ngay cả ở tuyến xuất phát tấn công cho vào tới mục tiêu phải chiếm, đều thấp và lầy, bị nhiều sông rạch chia cắt. Đặc biệt là hướng Nam, quân đi bộ cũng không thoát ra khỏi đường lộ được, nói gì đến cơ giới, xe pháo. Nước ngọt cũng phải mang theo mới có uống. Xe pháo muốn đến triển khai ở tuyến xuất phát tấn công thì phải vừa đánh địch mở đường, vừa tổ chức các phà vượt hệ thống sông Vàm Cỏ. Tiếp tế từ hậu phương ra vừa xa, vừa trở ngại vì không có đường sá. Nếu không phải là những cán bộ và đơn vị hoạt động nhiều năm ở đây thông thạo địa hình, địa phương và địch thì không thể nào có thể khắc phục được những khó khăn nhiều mặt để thành những hướng tấn công có giá trị. Và khi đã khắc phục được những trở ngại để tấn ông thì trở thành những mũi tấn công rất bất ngời với địch và rất lợi hại,  đảm bảo cho thành công nhịp nhàng của toàn chiến dịch.

Hướng Tây và hướng Đông còn một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng cho thắng lợi chiến dịch là phải bao vây cô lập hoàn toàn Sàigòn trước khi nổ súng tấn công vào trung tâm thủ đô Ngụy. Đó là cắt đứt quốc lộ số 4 nối Sàigòn và đồng bằng sông Cửu Long, cắt đứt đường số 1, và đường xe lửa ra Miền Trung, đường 15 và sông Lòng Tàu ra biển.

Để  đảm bảo cho cả năm hương tấn công đúng cùng thời gian vào Sàigòn, chiếm lĩnh các mục tiêu quan trọng nhứt cùng mọt lúc trong một kế hoạch chiến dịch hợp đồng chặt chẽ, trong khi mỗi hướng có điều kiện và các đặc điểm khác nhau xa như vậy, đòi hỏi một sự chuẩn bị công phu từ trước, phải tiến hành trước hàng nhiều tháng trời một số công việc hết sức quan trọng.

Đó là việc chuẩn bị lực lượng cho hướng Tây và Nam. Như trên đã nói, hai hướng này cần lực lượng quen thạo địa hình, quen hoạt động ở các vùng bưng lầy sông rạch… Đặc biệt là mang vác. Phải là những đơn vị quen chiến đấu ở địa hình phức tạp, điều kiện khó khăn, mang vác theo mình súng đạn lương thực, và chỉ được yểm trợ bằng pháo nhẹ. Chỉ có thể dùng ở đây các đơn vị được tổ chức nhẹ, gọn, từng trung đoàn, biết phân tán, tập trung linh hoạt, biết vượt sông bằng mọi phương tiện tại chỗ thậm chí không có phương tiện… Phải là những đơn vị quen sống với dân địa phương, biết kết hợp chặt chẽ với du kích và bộ đội địa phương, biết vận động nhân dân cùng chiến đấu và giúp đỡ bộ đội chiến đấu. Hướng Tây có thể dùng xe, pháo, thậm chí cả xe, pháo nặng nhưng phải quen thạo điều động xe pháo trên địa hình phức tạp, bí mật vượt sông ban đêm và ngụy trang khéo léo… Cả hai hướng này đòi hỏi phải chuẩn bị công phu các đường hành quân xa đến nơi trú quân, chuẩn bị nơi tập kết và tuyến triển khai xuất phát tấn công rất khó khăn, có khi xen kẽ với địch. Vấn đề dự trữ hậu cần cho hai hướng này cũng rất gian khổ cả trong công tác vận tải cũng như xây dựng kho tàng trạm xã quân y và tải thương…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:48:51 pm »

Căn cứ vào kế hoạch dự kiến Tổng tấn công và Nổi dậy trên chiến trường B2 như vậy mà Bộ Tham mưu vạch kế hoạch mùa khô 1974-75 của B2 mở đầu từ tháng 12-1974, chia làm hai đợt:

- Đợt 1 từ đầu tháng 12-1974 đến đầu tháng 2-1975

- Đợt 2 từ đầu tháng 3 đến hết tháng 5-1975.

Nội dung chủ yếu của kế hoạch mùa khô là tiếp tục phá kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng sông Cửu Long, mở rộng vùng giải phóng dành nhiều dân về với cách mạng, mở rộng và hoàn chỉnh vùng căn cứ hậu phương và hành lang nối liền các chiến trường, đặc biệt là căn cứ chính Miền Đông và hai cánh đông tây Sàigòn, tiêu diệt từng tiểu đoàn, chiến đoàn quân ngụy, giải phóng quận lỵ, tiến lên có điều kiện thì giải phóng tỉnh lỵ, tiếp tục tạo thế tạo lực mạnh cho ta; thúc đẩy nhân sự suy sụp của ngụy và sẵn sàng tạo ra và nắm vững thời cơ giành thắng lợi. Các hướng và mục tiêu tấn công tiêu diệt địch mở rộng vùng giải phóng… đều phải phù hợp với kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy toàn B2 đã dự kiến như trên. Làm được như vậy, đạt được những chỉ tiêu đề ra cũng tức là tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho thắng lợi quyết định.

Đồng bằng sông Cửu Long chọn trọng điểm số một tấn công địch là ở các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre. Hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh là vùng đất nắm giữa hai sông Tiền và sông Hậu, ở trung tâm đồng bằng Cửu Long; có đường số 4 và sông Măng Thít là hai đường chiến lược bộ thủy chạy qua. Mở rộng vùng giải phóng và nắm dân ở đây đã tạo điều kiện cắt đứt lộ 4, làm chủ sông Măng Thít, khóa chặt hai bên phà Cần Thơ và Mỹ Thuận tức là cắt toàn bộ vùng đồng bằng cửu long ra làm ba mảnh, chặt vùng 4 chiến thuật địch ra làm nhiều đoạn cô lập nhau. Đây là đòn chiến lược đập tan ảo tưởng của Mỹ ngụy ngay từ sớm là co cụm chiến lược về đây để phả kích lại, khi bị thua nặng các nơi khác. Bến Tre là một tỉnh có địa hình tốt nằm sát với Gò Công, Cần Đước, Cần Giuộc. Thắng lợi của ta ở một bàn đạp tốt cho mũi tấn công vào Sàigòn từ hướng Nam. Để bảo đảm cho hướng tấn công phía Nam Sàigòn, Bộ tư lệnh Miền dự kiến tạo cho được hai hướng tiến quân một là từ vùng Long Định, Mỹ Tho qua Chợ Gạo, Tân Trụ, Tân An, rồi Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè. Hai là từ Bến Tre qua Gò Công và Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè đánh vào Quận 7 và 8… Cả 2 đường tiến quân này đều phải qua những vùng yếu của ta, địch đóng dày đồn bót, địa hình khó khăn, lại xa vùng căn cứ giải phóng. Vì vậy nếu không hoạt động tạo điều kiện sớm từ nhiều tháng và phải có những đơn vị thạo thì khó mà thực hiện được kế hoạch.

Ngoài ra khu 9 còn trọng điểm 2 là phải mở rộng vùng căn cứ giải phóng U Minh lên hướng Cần Thơ để chuẩn bị việc khống chế sân bay Lộ Tẻ và đánh vào “Tây đô” chỉ huy sở Quân đoàn 4 của địch. Khu 8 lấy trọng điểm 2 là mở rộng vùng giải phóng Đồng Tháp Mười sát ra lộ 4 để sẵn sàng cắt lộ 4 ra vùng đất Mỹ Tho và đánh diệt các sư đoàn 7 và 9 của Ngụy không cho chúng chi viện cho Sàigòn. Bộ tư lệnh Miền còn giao cho Quân khu 8 chuẩn bị các trung đoàn tham gia chiến dịch giải phóng Sàigòn từ phía nam vì chỉ lực lượng của khu 8 với sự tích cực chuẩn bị của Quân khu mới có điều kiện tiến hành mũi tấn công bất ngờ và lợi hại này. Miền cũng có dự kiến có thể điều hai trung đoàn của Quân khu 9 từ Trà Vinh lên tham gia tấn công phía Nam Sàigòn.

Chủ lực của Miền, của Quân khu 7 và 6 phải đánh mở rộng hoàn chỉnh các vùng căn cứ, chuẩn bị cho các hướng bắc, Tây bắc, Đông và tây Sàigòn, bao vây cô lập và ép sát Sàigòn ngày càng chặt. Ngay từ đầu mùa khô phải giải phóng đường 14 từ Đòng Xoài lên giáp Quảng Đức là để mở rộng căn cứ của Miền về phía sau giáp Tây Nguyên và nối liền căn cứ Miền về phía đông Sàigòn tạo điều kiện mở đường và dự trữ vật chát kỹ thuật sẵn trước cho hướng này. Muốn giải phóng đường 14 thực hiện ý định nói trên thì phải diệt cho được mục tiêu chủ chốt là Đồng Xoài và khi đã đạt được thì tỉnh lỵ Phước Long hoàn toàn bị cô lập, ta chỉ cần bao vây địch tại đó, chúng không còn tác dụng gì nữa. Nhưng nếu có điều kiện thì ta giải phóng luôn toàn tỉnh Phước Long làm cho căn cứ hậu phương ta hoàn chỉnh mà còn đạt được một tác động về tâm lý và chính trị rất có lợi cho ta. Lực lượng quân khu 6 và 7 có nhiệm vụ giải phóng các huyện Hoài Đức và Tánh Linh để tạo được một khu vực tập kết cho bộ đội và dự trữ lương thực đạn dược cho hướng tấn công phía đông Sàigòn vào chỉ huy sở quân đoàn 3 rồi vào Sàigòn. Sau đó hiệp đồng với lực lượng của trên cắt đường số 1, đường 20, 15.

Lực lượng chủ lực của Miền còn phải mở rộng hành lang tây tỉnh Tây Ninh, giải phóng vùng Bến Cầu, Quéo Ba thuộc quận Đức Huệ và phía bắc quận Đức Hòa là nhằm tạo bàn đạp phong tỏa Sàigòn từ phía tây tạo khu vực và tuyến xuất phát tấn công từ cho hướng Tây. Phải diệt điểm núi Bà Đen là cao điểm khống chế toàn bộ phía Bắc, Tây bắc Sàigòn, là nơi quan sát các hành động trong vùng căn cứ của ta, là trung tâm thông tin chuyển tiếp của Quân đoàn 3 địch cho tất cả các lực lượng của chúng ở các hướng này. Phải mở rộng và hoàn chỉnh căn cứ của tra về phía trước, bằng cách diệt Bình Long, Chơn Thành, Dầu Tiếng, làm chủ đường số 26 Tây Ninh là để tạo vùng tập kết lực lượng và bàn đạp xuất phát tấn công cho hướng Tây Bắc và cả hướng bắc nữa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:52:32 pm »

Kế hoạch mùa khô 1974-75 của toàn B2 như vậy thực chất là tiếp tục đánh sụp địch, thay đổi so sánh lực lượng có lợi hơn nữa cho ta, tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định, là thiết thực chuẩn bị hoặc cũng có thể nói là bắt đầu vào những công việc cho Tổng tấn công và nổi dậy của chiến trường, tạo điều kiện cho trận tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch.

Quân và dân B2 bước vào hoạt động mùa khô là với sự nhận thức rất rõ về giai đoạn chiến lược quan trọng này, với lòng tin tưởng ở thắng lợi với quyết tân cao và tinh thần phấn khởi. bộ tư Lệnh Miền đã trực tiếp làm việc với từng quân khu, từng đơn vị, đã lần lượt duyệt kết hoạch của các nơi và kiểm tra sự chuẩn bị mọi mặt. Chưa bao giờ có một chiến cuộc được chuẩn bị chu đáo và công phu như vậy cả về mặt quân sự, cả về mặt chính trị, cả về lực lượng tấn công, cả về lực lượng nổi dậy, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương cục. Những công việc sôi nổi, bí mật, khẩn trương ấy tiến hành rất tích cực trong suốt mùa mưa 1974, một mùa mưa chưa từng có!

Để động viên bước vào mùa khô mong đợi này, tháng 11-1974 Quân ủy và bộ tư lệnh miền đã gởi thơ cho tất cả cán bộ và chiến sĩ chủ lực địa phương, du kích – thơ động viên có đoạn viết:

“… Quyết tâm lớn của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta là trong năm 1975 quyết giành thắng lợi thật to lớn, toàn diện, tạo bước ngoặt có ý nghĩa quyết định làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, làm cơ sở vững chắc tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”.

“Đối với cả năm 1975, thắng lợi mùa khô 1974-1975 có tính chất quyết định”.

“… Sống trên mảnh đất thiêng liêng Thành đồng Tổ quốc, quê hương đồng khởi Nam Kỳ, tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân, và bao chiến công rực rỡ, các đồng chí hãy tỏ rõ chí khí anh hùng, quyết ghi mùa khô 74-75 vào lịch sử bằng những chiến công thật chói lói.

“Hãy vượt mọi gian khổ khó khăn, đạp lên đầu thủ xốc tới giành thắng lợi!...”(1)


Cuối tháng 10, Trung ương Cục nhận được điện của Bộ chính trị gọi đồng chí Phạm Hùng và tôi ra Hà Nội dự cuộc họp của Bộ chính trị Trung ương Đảng cùng với đại diện các chiến trường toàn Miền Nam để bàn phương hướng kế hoạch sắp tới.

Ngày 13-11, Đoàn lên đường. Cũng chính những ngày này, lực lượng toàn B2 cũng nhộn nhịp lên đường đến nơi tập kết bước vào chiến cuộc mùa khô theo kế hoạch. Tôi dặn dò đồng chí Lê Đức Anh, Phó tư lệnh Miền thay thế tôi trong những ngày tôi vắng mặt, rằng ngoài các điện báo cáo ra bộ như thường lệ, hãy luôn điện cho tôi mọi việc diễn biến của toàn chiến trường. Tôi sẽ rất phấn khởi nhận được những tin thắng trận nhưng tôi sẽ càng chú ý theo dõi những gì khó khăn, trở ngại trong quá trình thực hiện kế hoạch. Đồng chí Đức Anh còn nhắc tôi: “Anh ráng trình bày với Trung ương xin thêm lực lượng cho chiến trường ta, quân đoàn 4 vẫn què quặt, quá yếu, yếu nhứt trong tất cả các quân đoàn. Thế mà nó là chủ lực của chiến trường chủ yếu, không thể nào hiểu nổi”. Tôi hứa sẽ cố hoàn thành nhiệm vụ. Người đi, kẻ ở, ai nấy đều tràn đầy tin tưởng vào chiến thắng.

Chúng tôi lại một lần nữa đi dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ của đất nước, theo đường 559, đường mòn Hồ Chí Minh. Nhưng lần đi này nhanh hơn trước và ít vất vả hơn nhiều vì chúng tôi toàn đi bằng thuyền máy và xe hơi từ Lộc Ninh cho đến Hà Nội. Đường qua Miền đông Kampuchia, vượt Hạ Lào về đường 9 qua Cam Lộ, Đông Hà, ngang Khu 4 cũ rồi về Hà Nội. “Đường mòn Hồ Chí Minh” ngày nay không còn là đường mòn nữa rồi mà là một hệ thống đường xe hơi vận tải với nhiều được dọc đường ngang, chi chít, bổ sung bằng những đường sông Mêkông, sông SêKông… được tô điểm thêm bằng những đường giây trần thông tin sừng sững trước gió và đường ống xăng dầu men suối, lưng đèo. Đó đây, trạm xăng dầu, xưởng cơ khí, bãi đỗ xe, đoàn bộ, tấp nập hoạt động. Từ đồi này qua đồi khác, các trận địa pháo và tên lửa phòng không, ngụy trang khéo léo, nòng hướng lên trời ngạo nghễ uy phong. Khác xa rồi thời kỳ tháng 5 năm 1959, ngày khai sinh con đường mòn cho đến những năm đầu 1960, thời kỳ mà tôi còn phụ trách, giao cho đồng chí Võ Bẩm cùng một số anh em “chí cốt”, mò mẫm mở đường, đi phải lần từng bước, về không để một dấu vết, thế mà các đồng chí trong Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương luôn nhắc nhở dặn dò: “cần thận, bí mật, chắc ăn đấy nhé”.

Đồng chí Thiếu tướng Võ Bẩm, một đảng viên cộng sản từ những năm 1930, quê Quảng Ngãi, ở Mỹ Lai ngay nơi từng ghi tội rác trời không dung đất không tha của Mỹ. Tinh thần giác ngộ cách mạng cùng với lòng yêu quê hương đã làm cho đồng chí có một quyết tâm sắt đá vững vàng như con người vạm vỡ chắc nịch của đồng chí. Trong những ngày đầu xuyên rừng khai phá, có biết bao gian truân vất vả. Lúc ấy không phải đường mòn mà là con đường không được để cho mòn. Mọi cái nặng nề còn nằm gọn trên lưng, trên vai và đôi chân dép cao su của chiến sĩ. Ngày nay ai qua “Đường Mòn Hồ Chí Minh” mà lòng không tràn đầy tin tưởng vào tương lai sáng lạn, không thấy được sự phát triển hùng hậu của con đường sống còn, lớn mạnh thần kỳ kiểu phù đổng thiên vương với cây tre Việt Nam nghìn đời bất diệt. Cây tre Việt Nam vẫn hiên ngang đứng vững dọc suốt con đường đã chiến thắng và sẽ mãi mãi chiến thắng mọi thế lực phản động, mọi bom đạn, chất độc hóa học, khí tài điện tử hay cả gì nữa sau này.


(1) Hồ sơ lưu trữ Phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:21:13 am »

CHƯƠNG NĂM
GIAI ĐOẠN MỚI MỞ ĐẦU NHƯ THẾ ĐẤY

Ra đến Hà Nội, trong lúc chưa họp Bộ chính Trị, tôi báo cáo tình hình B2 cho Bộ Tổng Tham mưu và nghe tình hình chung, tình hình các chiến trường khác. Tôi đã thăm dò về khả năng tăng cường thêm lực lượng và vũ khí phương tiện cho B2, điều mà tôi đang lo lắng nhiều, làm sao để chiến trường có thể đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay. Trong suốt dọc đường và ra đến đây, điều không thể dứt khỏi sự suy nghĩ của tôi là thời cơ hiện nay khá thuận lợi, chỉ cần thêm một số lực lượng thì chắc chắn B2 sẽ dành thắng lợi lớn và qua đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới tiến trình của cuộc chiến tranh trên toàn Miền Nam. Đồng chí Lê Ngọc Hiền lúc ấy phụ trách tác chiến của Bộ tổng Tham mưu cho biết: Vũ khí đạn dược dự trữ của ta còn rất mỏng đặc biệt là vũ khí tấn công cỡ lớn, pháo và cơ giới. Vì vậy các anh cấp trên chỉ thị phải qui định hết sức chặt chẽ việc cấp phát và xử dụng. Phải lấy của địch mà đánh địch. Về lực lượng, đồng chí chỉ có thể cho biết số quân bổ sung sắp tới cho các chiến trường. Riêng B2 phải dành 40% số quân được bổ sung cho vùng đồng bằng sông Cửu Long với ý định là tăng cường mạnh lực lượng của tỉnh và huyện. Đi đôi đó, phải phát triển nhanh chóng dân quân du kích để cho lực lượng tại chỗ đủ sức đánh địch mà chủ lực quân khu có khả năng tập trung và cơ động nhiều hơn.

Về kế hoạch năm 1975, đồng chí cho biết Bộ tổng tham mưu dự kiến lấy đồng bằng sông Cửu Long làm chiến trường chính, tập trung mọi nỗ lực để phá kế hoạch bình định của địch, dành dân, dành của về cho cách mạng, thay đổi một bước có ý nghĩa tương quan lực lượng có lợi cho ta. Miền Đông Nam Bộ chủ yếu mở hành lang liên hoàn đến các chiến trường và vây ép Sàigòn chặt hơn. Đòn chủ lực chỉ sử dụng ở Nam Tây Nguyên nhằm mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt và tiêu diệt sinh lực địch. Ta sẽ dành sức cho năm 1976, tiến hành đòn tiêu diệt chiến lược lớn, tiến lên tổng tấn công và tổng khởi nghĩa dành thắng lợi hoàn toàn.

Năm 1975 sẽ chia làm ba đợt:

- Đợt 1 từ tháng 12-1974 đến tháng 2-1975. Đợt này chỉ B2 hoạt động vì B2 đã có kế hoạch sẵn.

- Đợt 2 là đợt toàn Miền từ tháng 3 đến tháng 6.

- Đợt 3 từ tháng 8 trở đi là đợt hoạt động nhỏ để chuẩn bị cho năm 1976.

Nghe phổ biến kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu như vậy, lòng tôi băn khoăn lo lắng là vì tinh thần và nội dung kế hoạch của B2 không phù hợp với kế hoạch của bộ tổng tham mưu. Quân ủy Miền và Trung ương cục chúng tôi nhận định tình hình chiến trường đã thay đổi rất cơ bản, thế ta đang lên, ta đang giành nhiều thắng lợi, thế và lực của địch đang đi xuống. Ngụy đang suy sụp. Không cho chúng gượng lại, không để cho Mỹ có thời gian vực chúng lên. Vì vậy năm 1975, ngay từ đầu mùa khô, cả Miền Nam phải đánh mạnh và nhất định sẽ thắng to, tạo ra thời cơ mới cho bước quyết định của chiến tranh. Kế hoạch mùa khô của B2 được xây dựng trên tinh thần đó đã báo cáo ra Trung ương và đề nghị với Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương có kế hoạch chỉ đạo phối hợp toàn miền Nam. Nay thì chỉ riêng chiến trường B2 hoạt động trong đợt 1, chắc chắn sẽ hạn chế thắng lợi và địch sẽ đối phó dễ hơn. Kế hoạch của Bộ tổng tham mưu năm 1975, chỉ đánh nhỏ, phá bình định, mở hành lang và ép Sàigòn, chuẩn bị cho năm 1976 mới đánh lớn. Tôi suy nghĩ thời cơ không dừng lại đợi chúng ta, nó sẽ qua đi và tình hình lại chuyển biến theo một chiều hướng khác khi không có tác động mạnh mẽ kịp thời của ta.

Sau đó trong một buổi làm việc riêng với anh Lê Đức Thọ, anh nói với chúng tôi: “Tình hình đã rõ ràng, tương quan lực lượng rõ ràng, chiến trường cũng rõ ràng, không lật ngược được. Cần có quyết tâm chiến lược hai năm 1975-1976. Thời cơ năm 1976 là rất quan trọng. Cần hết sức đề phòng địch co cụm chiến lược lớn năm 1976.

Dự trữ vật chất của ta còn rất kém nhất là vũ khí đạn dược. Tình hình trong nước và ngoài nước cũng rất phức tạp, ta khó mà tăng lượng dự trữ chiến lược lên được nhiều. Vì vậy ta cần phải hạn chế đánh trong năm 1975 để dành sức cho năm 1976 đánh lớn đạt thắng lợi quyết định. Phải có quyết tâm chiến lược năm 1976 rõ thì mới có hướng chỉ đạo kết hoạch và hoạt động trong năm 1975. Ta không nên và không thể kéo dài mãi cuộc chiến tranh”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:22:56 am »

Vì chưa phải thảo luận nên tôi chỉ trình bày ngắn ý kiến của tôi. Tôi rất đồng ý là địch sẽ cố co cụm chiến lược khi bị thua nặng, nhưng đề phòng việc này phải bằng nhiều biện pháp, tiến hành từ sớm mới được. Và không nên đặt vấn đề hạn chế đánh năm 1975 để dành sức cho năm 1976, mà ngược lại là phải đánh mạnh năm 1975 mới kết thúc thắng lợi chiến tranh năm 1976 được. Thời cơ đang đến cần nắm thời cơ để tạo thời cơ, ta không thể bỏ lỡ. Trung ương cục chúng tôi đã thảo luận và nhất trí như vậy, chúng tôi sẽ báo cáo kỹ với Quân ủy Trung ương và Bộ chính trị.

Tôi đã nghiên cứu các bức điện của chiến trường gởi cho chúng tôi. Qua điện báo cáo anh Lê Đức Anh tôi mới biết rằng chấp hành điện của anh Văn Tiến Dũng và của anh Ba(1) B2 đã điều chỉnh kế hoạch của chủ lực tức là không đánh Đồng Xoài, không dùng chủ lực lớn, pháo lớn và xe tăng mà chỉ đánh nhỏ thôi. Như vậy là cá quân khu 6, 7, 8, 9 và Sàigòn – Gia Định thuộc B2 vẫn hoạt động theo kế hoạch đã vạch ra lúc tôi còn ở nhà, có điều chỉnh một ít, chỉ riêng chủ lực của Miền vì không đánh lớn, không đánh Đồng Xoài nên chuyển lên đánh khu vực Bù Dăng hay Bù Na trên đường 14 quá về phía Bắc. Ngoài ra Bộ tổng tham mưu quyết định điều sư đoàn 7 và trung đoàn đặc công 429 của B2 lên chuẩn bị đánh vào Gia Nghĩa trong đợt 2 mùa khô (tháng 3/1975) để phối hợp với hướng chính của chiến dịch do Bộ tổ chức và chỉ huy là Đức Lập (nam Tây Nguyên). Tôi càng không yên tâm. Vì toàn bộ kế hoạch đợt một mùa khô của B2 là nằm trong ý định thống nhất toàn chiến trường không những liên quan chặt chẽ với nhau giữa các hướng đồng bằng và rừng núi, địa phương và chủ lực mà còn là chuẩn bị tích cực cho đợt 2 mùa khô và cả năm 1975. Điều chỉnh lại kế hoạch và điều động lực lượng như vậy sẽ làm cho kế hoạch của B2 khập khiễng và địch sẽ có điều kiện phản ứng mạnh, nhất là đối với vùng đồng bằng. Vì sao như vậy? Xây dựng kế hoạch chiến cuộc mùa khô 1974-1975 của B2, chúng tôi dựa trên sự nhận định đánh giá tình hình chung giữa ta và địch, thực hiện một bước quan trọng ý định của một giai đoạn chiến lược như phần trước đã nói rõ. Muốn giành thắng lợi ở các hướng chiến trường B2 như ta dự định, kế hoạch phải có những biện pháp kèm chân địch chặt chẽ, không cho chúng tự do cơ động lực lượng đối phó nơi chúng muốn, phải đánh lạc hướng địch, phân tán địch. B2 chúng tôi có hai sư đoàn mạnh là sư đoàn 9 và sư đoàn 7 đã từng lập nhiều chiến công đánh ngụy đánh Mỹ ở Miền đông Nam Bộ. Đặc biệt là sư đoàn 9 là sư đoàn chủ lực đầu tiên của Miền Nam đã trải qua một đoạn đường dài từ Bình Giã, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Tết Mậu Thân, Lộc Ninh cho đến nay. Địch luôn theo dõi hành động của hai sư đoàn này và qua đó mà phán đoán ý đồ và kế hoạch hoạt động của ta. Trong đợt đầu mùa khô, chúng tôi chỉ xử dụng một bộ phận sư đoàn 7 và các trung đoàn chủ lực lẽ khác, bộ phận còn lại của sư đoàn đứng yên phía Tân Uyên, Phú Giáo thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Sư đoàn 9 thì đứng ở Long Nguyên Bến Cát chưa hoạt động nhưng có những hành động nghi binh nhằm kèm lực lượng quân đoàn 3 ở vùng truyng tuyến và vùng ven Sàigòn không cho chúng điều động đi nơi khác, nhất là phản ứng xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long. Dựa vào sự phán đoán của địch là mùa khô này ta sẽ đánh giải phóng tỉnh Tây Ninh để lấy thị xã Tây Ninh làm thủ đô của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi dùng biện pháp nghi binh nhằm làm cho địch tưởng dự đoán của chúng là đúng để chúng kẹt lực lượng lo phòng thủ ở đây. Trong lúc đó, chúng tôi sử dụng một trung đoàn của sư đoàn 7 được tăng cường một đại đội xe tăng, hai đại đội pháo lớn, bất ngờ diệt điểm Đồng Xoài và các trung đoàn 271 và 201 cùng địa phương giải phóng đường 14 thuộc phạm vi của quân đoàn 3 địch. Chúng tôi đã cho một trung đoàn khác của sư đoàn 7 bố trí ngăn chặn trên đường bộ độc nhất từ Phước Vĩnh lên Đồng Xoài và dự kiến kế hoạch sẵn sàng diệt địch phản ứng cả bằng đường không. Điểm Đồng Xoài là then chốt của toàn bộ tỉnh Phước Long cũng như của đoạn đường 14 này vì nó là yết hầu, là cửa ngõ, là con đường sống, nối toàn tỉnh với các vùng của Quân đoàn 3 Ngụy. Mất Đồng Xoài thì bộ phận còn lại của tỉnh Phước Long và đường 14 bị cô lập, khốn đốn về tiếp tế từ mọi mặt cho một tỉnh miền núi nghèo lương thực thực phẩm. Mục đích giải phóng đường 14 của ta là để mở đường hành lang về phía đông vận tải vũ khí đạn dược, lương thực dự trữ ở căn cứ Khu A và đông đường 20. Hành lang này phải qua Đồng Xoài hay sát đấy về phía Bắc. Không giải phóng được Đồng Xoài thì hành lang vẫn bị hạn chế như từ trước, nghĩa là mục đích của kế hoạch không đạt. Ta chiếm được điểm Đồng Xoài thì quân địch bị khốn quẫn ở Phước Long, tạo điều kiện để ta giải phóng toàn tỉnh nếu cần. Như vậy Đồng Xoài chỉ là một điểm, một quận lỵ, một chi khu tương đối kiên cố, nhưng điểm đó lại là một khâu trong toàn bộ kế hoạch thống nhất của B2 vào mùa khô, một trận mở đầu bất ngờ đối với địch và gây phấn khởi cho lực lượng vũ trang của ta. Nay nếu không đánh Đồng Xoài, không mở được đường hành lang về phía đông, lại điều sư đoàn 7 đi khỏi chiến trường thì rõ ràng kế hoạch của B2 bị ảnh hưởng không nhỏ. Chính vì vậy mà tôi lo lắng nhiều. Tôi vội vàng báo cáo rõ mọi suy nghĩ với anh Phạm Hùng và anh Hai Văn(2). Anh Hai Văn đang có mặt ở Hà Nội nên đã nhập vào đoàn B2 thành ra đoàn chúng tôi gồm có 3 người. Chúng tôi đề nghị họp với Quân ủy Trung ương và Bộ tổng tham mưu để trình bày rõ ý kiến chúng tôi, xin giữ kế hoạch cũ và không điều sư đoàn 7 lên Tây Nguyên. Cuộc hộp được tiến hành ngày 3 tháng 12. Tôi đã cố gắng trình bày kế hoạch mùa khô của B2 với mọi lý lẽ, cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, có lẽ không được hùng biện nhưng rõ ràng và tha thiết vì lợi ích riêng của chiến trường cũng như lợi ích chung toàn cục. Có đồng chí chất vấn: Đánh Đồng Xoài, nếu địch đưa lên một sư đoàn để phản ứng lại thì sao? Có thể buộc ta lại phải dùng toàn bộ cả hai sư đoàn 7 và 9 để diệt viện và như thế là kẹt cả chủ lực ta vào ngay đầu mùa khô. Tôi đã trình bày kỹ về trạng thái ta và địch trên toàn chiến trường, mọi phán đoán về địch khi làm kế hoạch, mọi biện pháp đảm bảo thắng lợi, đảm bảo tính chủ động của ta, và khẳng định rằng địch, nếu cố gắng phản ứng cũng chỉ có thể đưa tối đa lên Đồng Xoài không quá 1 trung đoàn. (Sự thực về sau này khi ta đánh Đồng Xoài, địch không đưa lên được một đơn vị nào để cứu nguy, ngay khi đánh tỉnh lỵ Phước Long địch cũng chỉ đưa lên được khoảng trên 200 lính biệt kích dù của lữ 81). Sở dĩ tôi dám khẳng định như vậy và không sai với thực tế vì chúng tôi ở B2 đã nắm chắc địch và hiểu rõ địa hình, biệt địch phải lên Đồng Xoài, Phước Long bằng đường nào, khả năng lực lượng và khả năng không vận của chúng, khả năng và phương páp ngăn chặn và đánh diệt của ta. Tôi tin ở sự thành công của kế hoạch kèm giữ địch ở Sàigòn của chúng tôi. Mỗi người chỉ huy quân sự ở một chiến trường khi trình bày và báo cáo với cấp trên đòi hỏi phải có tinh thần trách nhiệm cao, phải chính xác, rõ ràng và dứt khoát.


(1) Tức là đồng chí Lê Duẩn, Tổng bí thư.
(2) Tức anh Phan Văn Đáng, thường vụ Trung ương cục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:23:32 am »

Tôi đã yêu cầu không điều sư đoàn 7 lên Tây Nguyên vì trong giai đoạn chiến lược hiện nay, chúng tôi cho rằng cần phải điều thêm lực lượng từ các chiến trường khác về Miền Đông Nam Bộ, áp sát Sàigòn chớ không phải điều lực lượng ngược lại, đi xa Sàigòn. Vấn đề này hoàn toàn không phải là cục bộ địa phương mà là vì lợi ích của giai đoạn chiến lược của năm 1975. Nếu vì cần quá cho kế hoạch của Bộ Tổng tham mưu thì tôi đồng ý điều trung đoàn đặc công 429 lên Gia Nghĩa cũng đủ. Trong hội nghị này các anh đã đồng ý không điều sư đoàn 7 mà chỉ điều trung đoàn 429. Tôi rất vui mừng và thầm cảm ơn sự chú ý đến ý kiến cấp dưới. Còn đánh Đồng Xoài thì chưa giải quyết ngã ngũ. Nhiều anh đã đưa ra nhiều lý lẽ nhưng chưa kết luận:

- Dùng chủ lực ta phải chủ động, đừng để địch kéo ta, tiêu hao và làm kẹt lực lương ta.

- Ta đánh cốt tiêu diệt sinh lực địch mà chưa cần giữ đất trong giai đoạn này nên không cần đánh Đồng Xoài.

- Tình hình năm 1975 chưa có gì khẩn trương, hãy chững chạc, không đánh Đồng Xoài làm gì.

- Quyết tâm chiến lược chung năm 1975 là đồng bằng, Gia Nghĩa, hành lang, Trị Thiên – Đà Nẵng.

- Phải có đòn tiêu diệt lớn lực lượng của địch thì mới có thay đổi tương quan có lợi cho ta, mới có chuyển biến tình hình.

Anh Phạm Hùng đã tỏ ra không đồng ý với các lỹ lẽ trên. Anh phát biểu:

“- Đây không phải chỉ là vấn đề Đồng Xoài mà là cả kế hoạch của B2. Nếu thay đổi sợ ảnh hưởng đến đồng bằng, ảnh hưởng đến phương hướng chung. Ta cần nắm vững rằng trong cuộc chiến tranh này ta đánh địch bằng cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, ta tấn công và nổi dậy, nổi dậy và tấn công, tiến lên Tổng tấn công và Tổng nổi dậy. Do đó phải căn cứ nhiều điều kiện, phải có nhiều phương thức làm chuyển biến tình hình, không nhất thiết phải có tiêu diệt sinh lực lớn của địch mới có chuyển biến. Ví như khi ta nắm được mấy triệu dân và làm chủ trên chiến trường cỡ nào cũng là một yếu tố quyết định. Lực lượng quân sự địch còn đông không phải là một dấu hiệu của sự vững mạnh. Chúng ta cần trước tiên thống nhất với nhau về nhận định và đánh giá tình hình hiện nay trên chiến trường, ta đang ở vào giai đoạn nào, rồi mới nói được là nên hoạt động ra sao…”

Sau cuộc họp này, anh Phạm Hùng, anh Hai Văn và tôi đã trao đổi nhiều lần về đánh giá tình hình, đánh giá giai đoạn chiến lược hiện nay, về kế hoạch chung và riêng của B2, dựa trên cơ sở những thảo luận của Trung ương cục trước khi đi, để chuẩn bị cho cuộc họp của Bộ chính trị sắp tới.

Tôi suy nghĩ trong chiến tranh, thực hiện được đòn tiêu diệt sinh lự lớn quân địch trong một vài trận đánh hay một vài chiến dịch là một yêu cầu thực sự để làm chuyển biến tình hình. Điều ấy hoàn toàn đúng nếu không nói là điều kiện duy nhất trong một chiến tranh thông thường. Nhưng trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống Mỹ xâm lược này nay, đường lối của ta không phải là cho một cuộc chiến tranh qui ước thông thường. Tin tưởng ở sức mạnh của nhân dân tự đứng lên quyết định vận mệnh của mình, đảng ta đã chủ trương một cuộc chiến tranh cách mạng kết hợp với khởi nghĩa vũ trang của quần chúng. Ta phải dùng lực lượng quân sự kết hợp với lực lượng quần chúng nhân dân. Ta đánh địch bằng cả vũ trang và bằng cả chính trị, binh vận. Ta phải tiến hành song song tấn công và nổi dậy đi đến Tổng tấn công và Tổng khởi nghĩa. Tính chất của cuộc chiến tranh của ta vừa là chống quân xâm lược từ ngoài vừa là nội chiến chống bọn quân phiệt, mại bản trong nước. Chính vì vậy mà lực lượng nhân dân giác ngộ cách mạng là một sức mạnh đáng kể, một đòn cân chiến lược có giá trị. Cương lĩnh cách mạng của Mặt trận dân tộc giải phóng của ta đã là một hiệu triệu, một ngọn cờ, một tập hợp quần chúng xông lên xây dựng cuộc đời mới: tự do độc lập và ấm no hạnh phúc. Đó là sức mạnh, là một yếu tố thắng lợi không chỉ có tác dụng chuyển biến tình hình. Về chiến lược đã vậy về chiến dịch, chiến thuật cũng không phải như trong chiến tranh thông thường. Hàng chục năm đánh Mỹ và đánh Ngụy ta đã luôn luôn tìm tòi suy nghĩ, thực nhiệm bằng xương máu và thay đổi cho thích hợp cách đánh thế nào cho có hiệu lực nhất mà đỡ tốn xương máu, gạo đạn… hầu ta có thể đánh dài ngày nếu cần và tạo ra thắng lợi quyết định trong từng thời gian tương đối ngắn. Ta không đánh theo cách đánh của địch mà buộc địch đánh theo lối đánh của ta. Ta không thi đua với địch về vật chất kỹ thuật, đơn thuần về sức mạnh quân sự mà là về ý chí quyết tâm, về trí thông mình và lòng dũng cảm, về sự khéo léo và đức tính kiên trì, về lực mà cả về thế. Lòng yêu nước và ham muốn tự do, hạnh phúc của nhân dân ta phải thắng dã tâm nô dịch và bóc lột của Mỹ, Ngụy. Vì vậy mà nếu cứ suy nghĩ theo lối cũ, chỉ hiểu theo cách đã hiểu trước đây, bước theo đường mòn từng quen thuộc, thì không phù hợp tí nào với những hiện tượng mới, với một cuộc chiến tranh mới, nó không lặp lại nguyên xi cuộc chiến tranh trước đây. Nếu Trung ương Cục và Bộ tư Lệnh Miền (B2) chúng tôi nhận định rằng ngụy sau mùa khô 1974, trên toàn bộ chiến trường Miền Nam đã có một sự chuyển biến rõ rệt rồi, ta thắng và đi lên, địch bại và đi xuống, để rồi chủ trương phải liên tục tấn công, và làm mọi công tác trung mùa nưa chưa từng có, và cũng để rồi, vạch ra một kế hoạch toàn diện cho mùa khô 1974-75 và cả năm 1975, giành thắng lợi quyết định, thì do hoàn toàn không quan niệm rằng chỉ khi nào có đòn tiêu diệt sinh lực địch lớn mới có chuyển biến tình hình. Sự chuyển biến tình hình ở đây rõ ràng do rất nhiều yếu tố, vũ trang và chính trị, lực lượng quân sự và lực lượng nhân dân, vật chất và tinh thần, trong nước và ngoài nước, cả phía địch và phía ta, thế và lực. Đến một cái gút nào đó thì lượng sẽ biến thành chất. Chỉ đạo phải nhạy bén thấy được cái gút ấy hiểu ra cái chất đã hình thành, không phải cứ đợi hay cố tạo cho được đòn tiêu diệt lớn rồi lúc đó mới có chuyển biến.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:25:40 am »

Rồi một hôm, sau bữa ăn chiều, tôi đang đi bách bộ ngoài hành lang vừa suy nghĩ miên man thì chuông điện thoại reo. Anh Phạm Hùng rủ tôi, tối nay đến thăm anh Ba ở nhà riêng anh ấy. Tôi vui mừng, đồng ý ngay và hẹn giờ đến nhà anh để cùng đi. Từ hôm ra đến nay, công việc bận rộn, nhiều lo nghĩ, tôi chưa có dịp gặp anh Ba. Đúng mười chín giờ rưỡi, anh Hùng và tôi tới. Anh Ba đã ra cửa, tươi cười đón chúng tôi và kéo vào phòng khách. Anh có vẻ khỏe mạnh, lanh lẹ và rất vui. Không đợi chúng tôi hỏi thăm sức khỏe của anh, anh đã hỏi chúng tôi ra đây, thay đổi thời tiết, có ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Rồi anh hỏi thăm luôn về các anh trong Trung ương cục, trong quân ủy Miền và một số anh ở khu, tỉnh mà anh biết. Nhưng đó cũng chỉ là mở đầu câu chuyện, sau đó anh nói ngay vào những công việc, đang làm bận rộn đầu óc của mọi người – Đây cũng là đặc tính của anh, khi gặp gỡ cán bộ - Anh nói, nói liên tục, nói nhiều như muốn giải thách căn kẽ cho cán bộ hiểu rõ, hiểu sâu, nhớ kỹ. Có khi trong hội nghị, cán bộ nào đó mới đứng lên phát biểu được một câu gợi ra một ý mà anh chú tâm, thì anh nói luôn nhiều lúc tới 5-7 phút mới dứt, để cho cán bộ kia lại tiếp. Anh nói: “Tình hình tốt lắm, ta thắng nhiều. Ta thắng là vì ta mạnh. Mạnh từ chính trị, từ quân sự, từ nông thôn, từ thành thị, từ người dân, từ cách đánh, đánh kiểu chủ lực, kiểu du kích, kiều đặc công, kiểu đội quân phụ nữ tóc dài vân vân… Phải tổng hợp như vậy mới thắng được. Tổng hợp về chiến lược, về lực lượng, về phương pháp cách mạng. Mỹ đánh ta là chúng sử dụng chiến lược toàn cầu, nó đánh ta và cả phe xã hội chủ nghĩa. Ta cũng phải sử dụng chiến lược toàn cầu. Độc Lập dân chủ và chủ nghĩa xã hội không thể tách rời nhau. Ta phải sử dụng lực lượng tổng hợp chung toàn Việt Nam và cả thế giới. Ta phải dùng phương pháp cách mạng tổng hợp cao nhất, tấn công và nổi dậy; nổi dậy và tấn công, lực lượng chính trị và lực lương quân sự, chủ lực, địa phương, du kích, đánh cả ở ba vùng ba mũi giáp công. Đó là khoa học. Có đường lối đúng phải có phương pháp đúng là như vậy.

“Về quân sự trong giai đoạn này phải suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ mãi, suy nghĩ cho sáng vấn đề. Năm 1975, ta thắng thế nào? Trong năm 1975 có diễn biến gì về chính trị, về quân sự? Trong đó các anh đã tiêu diệt chi khu được chưa? Có giữ được Rạch Bắp không? Miền đông bố trí ra sao? Trong giai đoạn này khác với hai năm trước về bao vây Sàigòn thế nào? Bố trí đúng thì thắng 60-70% rồi. Trong giai đoạn này đánh thế nào? Tiêu diệt và làm chủ, làm chủ và tiêu diệt ra sao? Ta đánh tiêu diệt toàn bộ hay đánh cho tan rã toàn bộ?”.

Anh nói có tính chất giải thích và đặt một loạt những câu hỏi mà không cần phải trả lời, có lẽ anh cố nêu lên, khêu gợi và hướng dẫn để cán bộ phải suy nghĩ, cố tự giải đáp cho đúng. Nhưng qua đó tôi chú ý là anh quan tấn vấn đề giữ Rạch Bắp, phá co cụm phòng ngự cứng của địch ở Sàigòn. Anh lo về việc bố trí lực lượng ta ngay ở Sàigòn và vây Sàigòn, hình thành một thế trận tấn công vững vàng. Bố trí đúng thì thắng 60-70% rồi, phải, tôi rất thấm thía về câu nói ấy. Tri túc, mưu lược, dũng cảm, công phu là ngay từ việc tổ chức và bố trí lực lượng hình thành thế trận chiến lược vững chắc rồi mới nói đến đánh thắng giặc. Binh pháp Tôn Binh thời chiến quốc của nước Trung Hoa xưa cũng rất chú trọng về bố trí đội hình, sắp xếp lực lượng. Binh pháp ấy đã ghi: “Người làm tướng chỉ đạp lên đỉnh cao của nghệ thuật quân sự khi biết sắp xếp đội hình thế nào để phát huy được sức mạnh lớn nhất của lực lượng sẵn có trong tay mình: biết thay đổi cho phù hợp với những tình huống diễn biến khác nhau và biết lợi dụng thời cơ làm cho quân địch bị chia cắt, phân tán, mạnh trở thành yếu và nhiều hóa ra ít”(1). Người làm tướng thời nay, một thời đại cách mạng và khoa học, có sự lãnh đạo của Đảng Macxit Lêninít không những phải biết sắp xếp đội hình hợp lý nhất lực lượng có trong tay mà còn phải biết tạo ra lực lượng tổ chức ra nhiều kiểu lực lượng với nhiều kiểu cách đánh, phải biết kết hợp mọi thứ lực lượng quân sự với cả lực lượng chính trị của quần chúng, lực lượng trong nước và lực lượng ngoài nước, không phải chỉ biết sắp xếp đội hình đánh địch ở phía tước mà cả ở phía sau địch, ngay trong lòng địch. Khoa học quân sự cách mạng ngày nay đã phát triển cao hơn nhiều.

Nhân lúc anh Hùng nói về triển vọng ta thắng lợi nhiều trong mùa khô này vừa dừng lại, tôi hỏi anh Ba: “Vừa rồi anh điện vào không cho đánh Đồng Xoài vì nguyên do thế nào?”. Anh trả lời: “Bộ Tổng tham mưu báo cáo với tôi là các anh tung cả chủ lực ra đánh ngay từ đầu mùa khô. Đánh Đồng Xoài và tiếp theo một loạt các trận đánh lớn khác, như vậy là không phù hợp. Cần phải đánh thế nào để giữ cho giai sức, trong tình hình hiện nay phải luôn nắm trong tay một lực lượng sung sức để khi có thời cơ, anh mới có điều kiện giành thắng lợi”. Tôi lại trình bày với anh về ý định của chúng tôi và về cách xử dụng lực lượng. Tôi nói: trong đợt đầu mùa khô chúng tôi vẫn nắm vững một lực lượng dự bị mạnh là sư đoàn 9 và một số trong đoàn khác. Anh Hùng nói thêm vào: “Đánh Đồng Xoài không cần lực lượng lớn đâu và chúng tôi chắc thắng, chúng tôi cũng đã cân nhắc kỹ”. Anh Ba nói: “Nếu đúng như vậy thì cứ đánh chớ có vấn đề gì đâu”. Tôi tưởng tai mình nghe không rõ, liền hỏi lại cho chắc: “Như vậy anh cho chúng tôi giải quyết Đồng Xoài để có hành lang về phía Đông như kế hoạch chúng tôi đã dự định?” Anh nói: “Nhưng phải chắc thắng và không xử dụng lực lượng lớn”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi sung sướng quá, chỉ mong về ngay để viết điện chỉ đạo chiến trường cho kịp. Ngay tối hôm ấy tôi đã thảo điện về để anh Hùng, anh Hai Văn duyệt, ký gởi cho Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền bảo cứ thực hiện đúng như kế hoạch đã định, tức mở đầu mùa khô của chủ lực bằng trận đánh Đồng Xoài. Nhưng không kịp nữa rồi. Thực hiện chỉ đạo của Trung ương, Bộ tư lệnh B2 đã điều chỉnh kế hoạch không đánh Đồng Xoài mà chỉ dùng lực lượng nhỏ đánh một số điểm nhỏ trên đường 14 vùng Bù Đăng hay Bù Na thôi. Bây giờ không trở lại kế hoạch cũ được nữa. Điện anh Lê Đức Anh ngày 6-12 báo cáo: “Hôm nhận điện anh Ba, chúng tôi họp quân ủy, điều chỉnh kế hoạch, sắp xếp lại đội hình chiến đấu, điều động xe tăng và pháo 130 ly trở về căn cứ, giải quyết tư tưởng cho bộ đội v.v…. Vì vậy đến ngày 12 hướng đường 14 mới nổ súng được. Trong khi đó thì toàn bộ B2 nổ súng vào đêm 6 rạng ngày 7-12. Nay nếu trở lại kế hoạch cũ thì cũng phải sắp xếp đội hình, điều động xe tăng và giải thích cho bộ đội, v.v… Được chỉ đạo của Thường vụ trung ương Cục là cứ nên thực hiện kế hoạch điều chỉnh và không lùi ngày tấn công lại. Chúng tôi thực hiện như điện ngày 5-12 đã báo cáo về Bộ, Anh Bảy(2), Anh Tư(3)(4).


(1) Tạp chí “Air University Review” 1980, tháng 7, 8.
(2) Tức Anh Phạm Hùng.
(3) Tức Trần Văn Trà
(4) Hồ sơ lưu trữ Ban tổng kết B2 thuộc Bộ Quốc Phòng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:30:22 am »

Trước đó, khi tôi đã đi khỏi chiến trường, ngày 16-11, thay mặt Bộ tư lệnh B2, anh Sáu Nam tức Lê Đức Anh đã điện báo cáo ra Bộ:

“Nhận điện ngày 24-10 của anh Dũng, xin báo cáo trước một số điều mà Bộ cần biết gấp.

“…… giành thắng lợi tốt trong đợt đầu của mùa khô sẽ tạo thêm điều kiện giành thắng lợi to lớn suốt mùa khô, cả năm 1975, nếu để qua đợt 2 mới tấn công mạnh thì thắng lợi cho cả năm 1975 sẽ bị hạn chế. Vì vậy đề nghị Bộ chấp thuận kế hoạch mà chúng tôi đã dự định…

“Mọi việc sẽ có người (chỉ anh Phạm Hùng và tôi)(1) trực tiếp báo cáo cho kỹ với Bô”
(2).

Ngày 18-11 anh Sáu Nam lại điện báo cáo:

“… tiếp nhận được điện 484, của anh Dũng có ý kiến của anh Văn(3) nay nhận được điện 491 của anh Ba. Chúng tôi trao đổi thấy rõ là vì chưa nắm được ý định và kế hoạch lớn của Trung ương và Trung ương Quân ủy đối với chiến trường B2 liên quan tới cả chiến trường Miền Nam. Trước mắt chúng tôi chấp hành chỉ thị của trên, điều chỉnh kế hoạch như sau:

“1/ - Đối với khối chủ lực Miền:

- Trong đợt 1, chủ lực tác chiến nhằm tiêu hao tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút, kềm căng địch để chúng không thể tập trung về đồng bằng và vùng ven, hỗ trợ địa phương giữ lúa, bung dân ra, đồng thời tiếp tục củng cố huấn luyện giữ sức để về đợt 2 có thể hoạt động mạnh theo yêu câu phối hợp chiến trường chung như Trung ương chỉ đạo…… Trong khi đó tiếp tục chuẩn bị cho đợt 2 cao điểm nhất, như chuẩn bị chiến trường, huấn luyện bộ đội đánh điểm theo phương hướng sử dụng pháo mang vác, cao nhất là pháo 85 bắn thẳng, không xử dụng xe tăng, pháo 130 ly.

“Xin báo cáo một số điều chính trong kế hoạch đợt 1, đợt sau khi anh Hai Nhã(4) về và anh Tư(5) ra báo cáo, Bộ chỉ đạo thêm chúng tôi sẽ bổ sung.

“Nhưng đề phòng trường hợp anh Tư có thể ra chậm hơn và anh Hai Nhã về chưa kịp, đề nghị Bộ có chỉ đạo gì thêm để chúng tôi triển khai cho kịp”
(6).

Có vấn đề đợi anh Hai Nhã về nêu trong điện là như sau:

Anh Hai Nhã kể lại:

“- Vào tháng 11 năm 1974, sua khi ra khỏi bệnh viện 108 ở Hà Nội, tôi chuẩn bị đi an dưỡng ở bờ biển Sầm Sơn. Anh Lê Ngọc Hiền đến gặp tôi, hỏi thăm sức khỏe và nói Bộ đang cần người có trình độ và tin cẩn để mang mệnh lệnh về B2 và báo cáo một số tình hình về kế hoạch năm 1975. Liệu anh có đủ sức khỏe để về không? Tôi rất vui mừng được về ngay chiến trường tham gia chiến đấu nên báo là đảm bảo đủ sức để nhận nhiệm vụ quan trọng này. Anh Hiền nhận lời và bảo tôi, tối mai đến gặp anh Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng. Y hẹn tôi đến thì anh Tấn nói: “Cần anh về B2 ngay, mang chỉ thị về kế hoạch năm 1975 và ý định của Quân ủy Trung ương. Trong khi các anh Phạm Hùng và Trần Văn Trà sắp ra. Nhưng có điện cho các anh không ra nữa. Vì đã có anh về báo cáo quyết tâm của ngoài này. Kế hoạch năm 1975 không chủ trương đánh lớn mà giữ vũ khí đạn dược, giữ lực lượng, lo huấn luyện để chờ thời cơ 1976…”. Anh Tấn và anh Hiền nói cụ thể các ý kiến để tôi ghi nhớ để báo cáo lại. Và bảo tôi, sáng mai đên gặp anh Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng để nhận nhiệm vụ và chỉ thị.


(1) Tác giả ghi chú.
(2) Hồ sơ lưu trữ của Ban Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng.
(3) Đồng chí Võ Nguyên Giáp.
(4) Đ/c Thiếu tướng Lương Văn Nho.
(5) Trần Văn Trà
(6) Hồ sơ lưu trữ tại an Tổng kết chiến tranh B2 – Bộ Quốc Phòng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:36:56 am »

Sáng ngày sau tôi đến gặp anh Dũng tại “Nhà Con rồng” tức là nơi làm việc lúc ấy của Quân ủy Trung ương và Bộ quốc Phòng trong nội thành Hà Nội. Sau khi hỏi về sức khỏe của tôi, anh hỏi tôi đã nắm rõ nhiệm vụ chưa? Tôi báo cáo rằng anh Tấn và anh Hiền đã phổ biến cụ thể rồi. Tôi đã nắm được. Anh bảo tôi nói lại toàn bộ xem ó hiểu rõ không. Tôi lại báo cáo lại từ đầu chí cuối, mấy nội dung chủ yếu là:

“Tôi về ngay mang chỉ thị của Bộ về cho B2, anh Hùng và anh Trà khỏi ra nữa.

“Năm 1975 không đánh lớn chỉ lo phá bình định ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở Miền Đông, chủ lực không đánh lớn. B2 định đánh Đồng Xoài, Phước Long, nhưng Bộ không đồng ý mà chỉ đánh nhỏ, giải quyết một số điểm nhỏ trên đường 14 thôi. Năm nay đánh nhỏ là để tích lũy lực lượng chờ đời thời cơ. Không sử dụng xe tăng, pháo lớn nếu không được Bộ tổng tham mưu duyệt từng trường hợp.”

Anh Dũng nói: “Anh hiểu như vậy là đúng rồi! Phải giữ lực lượng chờ cơ. Năm nay chỉ đánh ở đồng bằng, phá bình định. Đạn dược nhất là pháo lớn ta còn kém lắm. Không nên đánh lớn rồi khi có thời cơ không có lực lượng mà đánh. Anh phải hiểu rằng cán bộ tham mưu như các anh phải có trách nhiệm đề đạt ý kiến với Tư lệnh, chứ không phải chỉ có Tư lệnh chịu trách nhiệm đâu. Như vậy là anh đã quán triệt được ý kiến cấp trên rồi. nhưng tôi sẽ viết điện y như nội dung này để anh Ba ký gởi về trước trong ấy”.

Tôi đã mang cả bức điện ấy của anh Ba (tức điện số 491 nói trong điện của anh Sáu Nam gởi ra Bộ đoạn trên đây) về và giao lại cho anh Sáu Nam và Hai Lê(1)”.

Sự việc xảy ra là anh Phạm Hùng và tôi chưa nhận được điện báo, nên đã lên đường đúng ngày đã định và trên đường đi, may thay! Lại không gặp anh Hai Nhã. Vì nếu gặp có lẽ chúng tôi phải phân vân đôi chút giữa đi tiếp và trở lại rồi. Tuy vậy ngay từ tháng 10, chúng tôi đã đề nghị được họp với Bộ chính trị và toàn bộ chiến trường Miền Nam thì bây giờ dù có gặp anh Hai Nhã, truyền đạt lại ý kiến quân ủy Trung ương như vậy và báo đừng ra, chắc chúng tôi cũng sẽ xin ra, để trực tiếp báo cáo về nhận thức đanh giá tình hình từ thực tế chiến trường của Trung ương cục và Quân ủy Miền, cũng như đề đạt chủ trương hoạt động năm 1975, nhằm thực hiện kế hoạch hai năm 1975 – 1975. Việc cấp dưới báo cáo chính xác trung thực và kịp thời tình hình việc đề đạt ý kiến một cách dũng cảm và có trách nhiệm lên cấp trên là vô cùng quan trọng, cũng như cấp trên cần có mọi biện pháp để thu thập ý kiến của cấp dưới, lắng nghe dư luận từ mọi phía, nghiêm chỉnh và khách quan phân tách xem xét để có kết luận đúng, là đảm bảo cho mọi thành công. Đó là cách làm việc thực sự dân chủ và tập trung của Bộ chính trị Trung ương Đảng từ trước đến nay. Chúng tôi thấy có trách nhiệm phải ra và phải phản ánh đúng tình hình.

Để các anh ở nhà yên tâm chỉ đạo đợt hoạt động, chúng tôi gởi một điện về Trung ương Cục và Thường vụ Quân ủy Miền do cả anh Phạm Hùng và tôi cùng ký có đoạn:

“Sau khi sơ bộ trao đổi ý kiến với một số anh trong Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, thì về nhận định đánh giá tình hình chung về phương hướng chủ trương sắp tới rất nhất trí. Nhưng đi vào cụ thể còn nhiều vấn đề phải tiếp tục bàn, nhất là về kế hoạch mùa khô của ta…

Chúng tôi sẽ đề nghị giữ nguyên kế hoạch của ta về chủ lực Miền…”(2).

Và sau khi biết B2 đã hoạt động theo kế hoạch điều chỉnh, tôi điện về hướng dẫn (điện sô 567/ZK):

“… Sau Bù Đăng, Bù Na, cố gắng diệt Đồng Xoài, nó có tác dụng cả về chiến dịch, chiến lược, tuy là điểm không lớn. Có thể dùng sư đoàn 7 đánh Đồng Xoài…”(3).

Ngày 20-12-74, Anh Sáu Nam điện báo cáo:

“… Trên đường 14, ta giải phóng hoàn toàn đoạn từ cầu 11 gần Đồng Xoài, đến khỏi Bù Đăng giáp ranh chi khu Kiến Đức… Ở Bù Đăng, Vĩnh Thiện, Bù Na, ta thu được 4 pháo và 7000 đạn pháo, trên 3000 súng các loại, bắt trên 300 tù binh, sẽ tiếp tục truy tìm thêm…”.(4)..

Và điện ngày 27-12-74:

“… để khỏi lỡ thời cơ chiến dịch giành thắng lợi lớn khi có đủ điều kiện, chúng tôi đã cho sẵn sàng một đại đội xe tăng làm lực lượng dự bị. Ngày 26, tiêu diệt cụm cứ điểm Đồng Xoài không dùng xe tăng”(5).

Ngay sau đó chúng tôi nhận được điện của anh Hoàng Cầm chỉ huy trưởng mặt trận Phước Long như sau:

“Đoàn 301(6) gởi R(7) đồng điện Bộ Tổng tham mưu.

Tấn công chi khu Đồng Xoài là 3 giờ 35’ ngày 26-123. Đến 8 giờ 30’ ta làm chủ hoàn toàn chi khu Đồng Xoài.”

- Năm Thạch -(8).


(1) Sáu Nam là anh Lê Đức Anh, phó tư lệnh BTL Miền.
Hai Lê – là Anh Lê Văn Tưởng Phó chính ủy BTL Miền.
(2) và (3) Hồ sơ lưu trữ Bản Tổng kết chiến tranh B2 thuộc Bộ Quốc Phòng.
(4) và (5) Hồ sơ lưu trữ của Ban tổng kết CT/B2 thuộc BQP.
(6) Tiền phương Bộ tư lệnh Miền.
(7) Mật danh Bộ tư lệnh Miền.
(8) Tức Hoàng Cầm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2018, 10:38:09 am »

Như vậy là đường 14 thuộc phạm vi B2 phụ trách đã hoàn toàn được giải phóng. Căn cứ phía sau và hành lang của ta đã mở rộng. Mặc dù kế hoạch tấn công của ta thay đi đổi lại, từ nhỏ đến lớn một cách chậm chạp ngoài ý muốn nhưng quân địch vẫn không có khả năng phản ứng, không điều động được một lực lượng bộ binh nào chi viện, phải để mất cả ba chi khu: Bù Dăng, Đồng Xoài, và trước đó chi khu Bù Đốp do tiểu đoàn địa phương tỉnh đội Phước Long của ta tiêu diệt. Chúng chỉ dùng được không quân bắn phá và ném bom không có hiệu quả gì. Quân địch còn lại ở Phước Long hoang mang giao động mạnh. Trước tình hình thuận lợi như vậy, chúng tôi đã tranh thủ xin ý kiến anh Ba và các anh trong Quân ủy trung ương cho phép chúng tôi giải phóng luôn tỉnh Phước Long theo như kế hoạch cũ của chúng tôi dự kiến phát triển khi có thuận lợi. Tôi đã trình bày khả năng của bộ đội ta có thể hoàn thành nhiệm vụ này và chắc chắn địch không có khả năng tăng cường lực lượng mạnh cho Phước Long nếu bị đánh. Tôi đã trình bày giá trị có tính chất chiến dịch và chiến lược của việc giải phóng được tỉnh Phước Long. Sau khi cân nhắc, các anh đồng ý. Tôi mừng quá, nhưng để đảm bảo chắc thắng, tôi đã xin anh Ba cho phép được xử dụng 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo 130 ly. Tôi hứa sẽ chỉ đạo ở nhà đảm bảo thành công. Anh đồng ý. Tỉnh Phước Long là một tỉnh Miền núi, địa thế hiểm trở. Về phía bắc và phía dông tỉnh lỵ có nhiều núi cao, lại bao bọc bởi con sông Bé sâu và chảy xiết. Phía tây và nam, đất đai bằng phẳng hơn nhưng ngay sát cửa ngõ phía nam lại có núi Bà Rá cao nhất ở vùng đó, 735 thước so với mặt biển, và có nhiều hang hốc, đá to và cây xanh. Từ lâu địch đã thiết lập trên đỉnh núi này một trạm chuyển tiếp truyền tin vô tuyến và 1 đài quan sát với khí tài quang học hiện đại có thể kiểm soát một vùng rộng. Khi cần thiết, địch có thể dùng cả trung đoàn dựa vào địa hình phức tạp và khống chế của núi này mà phòng ngự vững chắc cho tỉnh lỵ Phước Long. Vì địa thế hiểm trở của Bà Rá và của tỉnh Phước Long, nên thời Pháp thuộc trước kia, bọn thực dân Pháp đã dùng khu vực núi Bà Rá này làm nơi tập trung quản chế các nhà hoạt động chính trị yêu nước. Nhiều cán bộ, đảng viên của ta đã từng bị giữ nhiều năm tại đây, sống tách biệt với xã hội, cực khổ và ốm đau vì bệnh sốt rét hoành hành, trong số đó có cả phụ nữ như các chị Hai Sóc Bà Điểm, Nguyễn Thị Lưu, Nguyễn Thị Định(1), chi Hai Bé An Giang, Hai Ninh Hậu Giang và nhiều chị khác. Quá về phía tây núi Bà Rá, cách năm kilômét là thị trấn, huyện lỵ Phước Bình tương đối sầm uất. Đây là một ngã tư đường xe hơi đi Bù Đốp, tới Đồng Xoài, vào tỉnh lỵ và xuống đường 14 tại ngã ba Liễu Đức. Ở đây còn có một sân bay cấp 2 tương đối tốt, căn cứ không quân của tỉnh, vừa dùng cho tỉnh Phước Long vừa là chỗ dựa cho không quân hoạt động cả vùng núi rừng này.

Với địa hình thiên nhiên của một tỉnh Miền núi như vậy, với cách bố phòng tổ chức của địch như vậy, muốn tấn công giải phóng tỉnh Phước Long bằng lực lượng có hạn của ta, không thể có quyết tâm nào hay hơn là trước nhất phải chiếm Đồng Xoài để cô lập toàn bộ quân địch còn lại trong tỉnh. Phải triệt hạ cho được trạm truyền tin, đài quan sát tại điểm tựa Bà Rá cũng như ngã tư đường và sân bay Phước Bình. Được như vậy rồi mới có thể thọc vào tỉnh lỵ diệt quân địch bố trí phòng ngự dựa vào núi, sông, hồ, ao, hiểm trở và kiến trúc phức tạp ở đây.

Chúng tôi đã điện về Bộ Tư Lệnh B2 chỉ đạo việc phát triển thắng lợi của Đồng Xoài, nhanh chóng chiếm cho được núi Bà Rá và sân bay Phước Bình và giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Tôi không quên điện cho biết được dùng 1 đại đội xe tăng và 1 đại đội pháo 130 ly. Điện tôi tự viết và ký tên nhờ Bộ tổng tham mưu cho chuyển. Nhưng chiều hôm đó đương lúc tôi đang ngồi trước bản đồ, nghiên cứu cách bố trí địch trong tỉnh Phước Long, hình dung xem địch có thể phản ứng lại sự tấn công của ta thế nào thì đồng chí Lê Ngọc Hiền đến. Đồng chí đưa ra bức điện tôi viết và nói chưa cho điện di vì trong điện tôi đã cho được xử dụng xe tăng và pháo lớn, điều mà các anh trên đã dặn là không được sử dụng. Tôi hơi bực mình vì sợ trễ như điện hôm trước (bảo thực hiện kế hoạch cũ mùa khô như dự định). Để tỏ sự không hài lòng, tôi nói với đồng chí Hiền rằng là tư lệnh chiến trường không lẽ tôi không có quyền điện chỉ huy các lực lượng của tôi sao? Không lẽ điện của tôi lại bị kiểm duyệt và bắt buộc phải sửa đổi ngoài ý muốn của tôi. Việc sử dụng vũ khí lớn tôi đã xin phép rồi, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Yêu cầu đồng chí cho điện đi và đồng chí sẽ chịu trách nhiệm nếu điện của tôi bị chậm trễ, lỡ thời cơ.

Thế là mọi việc để giải phóng tỉnh Phước Long đã được giải quyết ổn thỏa. Trên dưới đều nhất trí. Sau này trong lúc bàn bạc tổng kết chiến tranh, một số anh em không hiểu tình hình cho rằng giải phóng tỉnh Phước Long theo cách đánh bóc vỏ từ ngoài vào trong lần lượt từ Bù Đăng, Bù Na, Đồng Xoài, Phước Bình, Bà Rá rồi tỉnh lị, đánh từ nhỏ trước rồi đến đánh lớn sau. Khác với một cách đánh khác là dùng lực lượng mạnh thọc ngay vào trung tâm vào tim địch rồi từ đó đánh bung ra như một bông hoa nở. Diễn tả cũng hay. Nhưng đó là suy luận mà không phải đúng như thực tế. Từ đó mà rút ra bài học thì bài học không có giá trị. Quân sự là một khoa học. Không thể hiểu theo lối suy diễn viển vông xa rời thực tế. Nêu nói tấn công vào một tỉnh lỵ thì có hàng trăm cách đánh cho hàng trăm tỉnh lỵ, mỗi tỉnh lỵ, có cách đánh khác nhau, không phải chỉ có 2 cách như vậy. Chọn một cách đánh nào đó hoàn toàn không do suy nghĩ chủ quan của người nay ngươi nọ, mà phải dựa vào một loạt yếu tố cụ thể. Tỉnh lỵ đó nằm ở đâu, trong hệ thống phòng thủ của địch, có vị trí chiến dịch chiến lược thế nào? Muốn giải phóng tỉnh lỵ ấy thì phải đánh những mục tiêu chủ chốt nào? Các mục tiêu ấy được phân bố ra sao? trên thực địa? được phòng ngự bằng công sự, lực lượng thế nào? Địa hình địa vật của tỉnh lỵ? Quân địch sẽ cố thủ ở đâu, tiếp viện từ đâu bằng phương tiện gì, và qui mô, khả năng lực lượng ta về mọi mặt, bàn đạp triển khai, đường tiếp vận, vân vân và vân vân – Chỉ nói gọn như vậy thôi cũng thấy rằng muốn chọn một cách đánh phải căn cứ vào thực tế không gian và thời gian, vào ta và vào địch, không thể ngồi suy nghĩ một cách đánh có sẵn nào đó, rồi đem úp vào mỗi tỉnh lỵ, sửa đổi cho vuông, tròn khía cạnh là được. Cái giỏi của người chỉ huy là nắm sát thực tế, phân tích chính xác định ta, địa hình, các mục tiêu quan trọng, thời cơ tạo ra hay đã có sẵn, mà hạ quyết tâm hoàn toàn phù hợp, sáng tạo, đưa đến thắng lợi. Đó là chưa nói đến vấn đề diễn biến, có những yếu tố bất ngờ xảy ra từng phút, từng giây cần phải xử trí. Nhiều khi vào trận đánh thực tế đi đến kết thúc không giống gì với kế hoạch quyết tâm ban đầu. Có khi kế hoạch rất hay đấy nhưng người chỉ huy trực tiếp đơn vị tấn công xử trí sai một tình huống diễn biến phức tạp nào đó, hay xử trí đúng một trường hợp bất lợi nào đó thì kết thúc trận đánh cũng rất khác nhau. Tổng kết phải tìm cho ra sự thật lịch sử khách quan, phân tích chính xác mối rút ra được những bài học có giá trị.


(1) Tức thiếu tướng Nguyễn thị Định, nguyên Phó tư lệnh Bộ tư lệnh Miền mà cán bộ và chiến sĩ Quân giải phóng thường gọi là “Chị ba” một cách trìu mến. Thời kỳ đồng khởi năm 1960, đồng chí là bí thư tỉnh ủy Bến Tre. Hiện nay là chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM