Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Sáu, 2024, 11:11:47 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 3146 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:09:09 pm »

Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ của nhân dân ta đã mang tính chất rất phức tạp cả về nội dung lẫn hình thức ngay từ đầu và qua các quá trình diễn biến của nó cho đến ngày nay. Nó không chỉ là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chống xâm lược, cũng không chỉ là một cuộc chiến tranh có tính chất giai cấp giữa cách mạng và phản cách mạng trong nước, mà còn giữa hai thế lực tiến bộ và phản động trên toàn thế giới hội tụ vào chiến trường điểm: Việt Nam! Ngay từ khi Pháp phải ký hiệp định Genève, Mỹ đã chống lại và quyết tâm can thiệp vào Đông Dương, hất cẳng Pháp để tự đảm nhận vai trò sen đầm quốc tế. Âm mưu của Mỹ là chiếm Miền Nam Việt Nam làm tuyến đầu chống phe xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội lan rộng, để làm chủ toàn bộ thế giới còn lại (ngoài các nước xã hội chủ nghĩa). Mỹ cho rằng Việt Nam là một nước nhỏ, nhưng ở vào vị trí chiến lược quan trọng của thế giới. Mỹ giàu đô la và vũ khí hiện đại, có khả năng và cần phải thắng phe xã hội chủ nghĩa tại đây, mà tránh được đụng độ lớn với Liên Xô, Trung Quốc (Trung Quốc lúc ấy còn là một nước trong phe xã hội chủ nghĩa). Những nhà lãnh đạo nhà nước Mỹ tưởng nước cờ chiến lược ấy là cao, dương dương tự đắc, không nghiên cứu sâu về đất nước và con người Việt Nam, coi thường kinh nghiệm của ông bạn Pháp của họ, bất chấp tiếng nói chính nghĩa của nhân dân Mỹ phản đối chiến tranh cũng như nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Rốt cục càng bị sa lầy thì lại càng phải leo thang chiến tranh, càng leo thang thì càng hao người tốn của và như một con bạc khát nước, cay cú, cứ lao vô chịu hết thất bại này đến thất bại khác. Leo thang đến nấc cao cùng rồi thì tất phải xuống thang, nhưng leo thang hay xuống thang cũng đều là những biện pháp để thực hiện chiến lược toàn cầu của Đế quốc Mỹ, thực hiện âm mưu làm bá chủ hoàn cầu, chống phe xã hội chủ nghĩa. Khi chiến lược “giáng trả ồ ạt” dựa vào độc quyền vũ khí hạt nhân bị phá sản, mà trên thế giới ba dòng thác cách mạng đang tấn công thắng lợi, Mỹ phải chuyển qua chiến lược “phản ứng linh hoạt” với ba loại chiến tranh đặc biệt, cục bộ và tổng lực để chủ động dành phần thắng bất cứ trong trường hợp nào – đặc biệt là để chống lại các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Khi bảo bối này tung ra chiến trường Việt Nam vào năm 1961 thì chiến tranh đặc biệt bị đánh bại vào cuối năm 1964 đầu năm 1965, chiến tranh cục bộ bị phá sản vào năm 1968, nhưng so sánh lực lượng trên thế giới và điều kiện lúc ấy không cho phép Mỹ mở ra chiến tranh tổng lực dùng vũ khí hạt nhân, nên chiến lược phản ứng linh hoạt liền bị tắc tị. Hoang mang lúng túng, Johnson vội vàng đề ra chiến lược “phi Mỹ hóa” hòng rút chân ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Nhưng những nhà lãnh đạo và chiến lược gia đế quốc Mỹ không cam tâm chịu nhục hất bại, còn tin rằng nước Mỹ vẫn có thiên chứ cầm đầu thế giới, và rất sợ mất Việt Nam thì sẽ mất hàng loạt các nước khác theo thuyết con bài Donino. Do đó Nixon lên và đề ra cái chiến lược mới gọi là “liên minh tự phòng thủ khu vực” thực chất là âm mưu huy động lôi kéo lực lượng cả thế giới chống lại phe xã hội chủ nghĩa mà không phải trơ trọi một mình Mỹ. Ở việt Nam chúng chữa lại thành Việt Nam hóa chớ không phải phi Mỹ hóa chiến tranh. Người ta có lý một phần mà nói rằng Johnson muốn ra khỏi Việt Nam với “phi Mỹ hóa” còn Nixon muốn ở lại Việt Nam với “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thực ra Nixon chưa bị đo ván mất tinh thần như Johnson nên còn cố nắm vững mục tiêu không thay đổi của đế quốc Mỹ. Trước và sau hiệp định Paris, Mỹ vẫn tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh với nội dung là bằng mọi cách làm cho ngụy quân ngụy quyền mạnh, mạnh cả về quân sự, kinh tế và chính trị để đánh bại lực lượng vũ trang giải phóng, tiêu diệt chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam, giữ Miền Nam Việt Nam thành một quốc gia phụ thuộc Mỹ, chia cắt lâu dài nước Việt Nam chúng ta. Mục đích ấy từ trước đến nay không thay đỏi mà chỉ thay đổi biện pháp là dùng xương máu người Việt Nam để thay cho xương máu người Mỹ. Hiệp định Paris mà Mỹ buộc phải ký với nội dung và lời văn đều không có lợi cho Mỹ - Ngụy, nhưng chúng vẫn ký và tin tưởng là có thể lật ngược được tình hình bằng những thủ đoạn gian ngoan, lật lọng, bằng sức mạnh kinh tế của Mỹ, bằng lối ngoại giao lắt léo thâm độc trên thế gới. Chúng coi hiệp định Paris chỉ là biện pháp, là chiến thuật trong một giai đoạn chiến lược nhất định thôi. Ký để thi hành những gì có lợi cho Mỹ ngụy và xuyên tạc phá bỏ những gì không có lợi. Mục đích vẫn làm phục vụ cho chiến thắng của chúng. Sức mạnh của vũ khí và đô la mới là thứ pháp lý thực sự của đế quốc Mỹ trên thế giới ngày nay. Chính từ miệng chúng nó đã nói lên sự thật rõ ràng về mưu đồ thâm độc của chúng. Trần Văn Đôn, Trung tướng Ngụy Sàigòn trong quyển : “Cuộc chiến tranh không chấm dứt ở Việt Nam” do nhà xuất bản Persidfo Press phát hành năm 1978 tại California (Mỹ) và Luân Đôn (Anh) đã kể: “Ông ta (tức Charles Whitehouse, Phó Đại sứ Mỹ cùng đi trong đoàn của Kissinger qua Sàigòn vào trung tuần tháng 10-1972 đã giải thích về hiệp định Paris và thuyết phục Thiệu ký vào Hiệp định) nói với tôi: “Hiệp định này có mặt tốt, hiệp định phải được ký kết. Nó chỉ là một mảnh giấy và sẽ không thay đổi được cái gì cả, rồi ngài sẽ thấy”.

Đầu tháng 1 năm 1973, Trần Văn Đỗ và Bùi Diễm cầm đầu phái đoàn đặc biệt của Thiệu qua Oa-sinh-tơn để tìm hiểu ý đồ của Mỹ, đã trường trình về cho Thiểu rằng A. Lếch-dít Giôn-sơn, thứ trưởng ngoại giao Mỹ đã nói riêng với tôi (tức Diễm): “Tôi với anh là bạn lâu năm, tôi nói với anh lời nói của một người bạn. Thực tế Hoa Kỳ chưa bao giừ thay đổi mục tiêu ở Việt Nam” còn trong một bức điện tối mật gởi cho Thiệu cũng thời kỳ đó, Nixon đã viết: “… Nền tự do và độc lập của Việt Nam cộng hòa vẫn là mục đích tối cao của đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ…”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:10:38 pm »

Như vậy đã rõ. Mưu sâu của Nixon – Kissinger là bằng cách ký hiệp định Paris, Mỹ rút được quân đội về nước, lấy lại được tù binh Mỹ, làm dịu dư luận Mỹ và thế giới, ổn định phần nào nước Mỹ đã bị chia rẽ, yếu kém, mất lòng tin và để củng cố lực lượng quân sự Mỹ đã bị mất thế cân bằng thực hiện chiến lược toàn cầu của Mỹ, đồng thời có được một thời kỳ hòa hoãn ở Việt Nam một vài năm để thi hành các thủ đoạn thâm độc:

1- Tăng cường trang bị vũ khí và trang bị kỹ thuật hiện đại để xây dựng quân đội Ngụy thành một lực lượng mạnh và có hiệu lực đủ sức tiêu diệt lực lượng vũ trang giải phóng. Tăng viện trợ, đầu tư phát triển kinh tế cho Ngụy Thiệu, làm cho chính quyền Thiệu mà Mỹ công nhận là chính quyền hợp pháp duy nhất ở Miền Nam Việt Nam thành một chính quyền mạnh cả về quân sự, chính trị, kinh tế ở Đông Nam Á.

2- Viện trợ tái thiết Miền Bắc Việt Nam, dùng mồi vật chất kỹ thuật để nhử Miền Bắc, xâm nhập lũng đoạn và qua đó hạn chế Miền Bắc chi viện cho Mặt trận giải phóng Miền Nam, dùng Miền Bắc kiềm chế hoạt động ở Miền Nam và mưu tính có thể chuyển biến hòa bình ngay cả chế độ Miền Bắc.

3- Dùng chính sách hòa hoãn trên thế giới theo kiểu Mỹ để gây áp lực và hạn chế sự chi viện của phe xã hội chủ nghĩa cho cả Miền Bắc và Miền Nam hòng bóp chết cuộc chiến đấu của ta. Thực tế là sau thỏa thuận Thượng Hải: giữ Thiệu, giữ Miền Nam Việt Nam trong quĩ đạo của Mỹ, Trung Quốc đã hạn chế sự chi viện cho Việt Nam đặc biệt là các loại vũ khí lớn và phương tiện vận tải. Trong quyển hồi ký: “Những năm ở Nhà trắng”, Chương “chuyến đi Trung Quốc của Nixon”, Kissingger đã thuật lại về những buổi làm việc của Chu Ân Lai và Nixon: “Cách trình bày của Chu về Việt Nam là một kỳ công về sự nhập nhằng quanh co; Ông phản đối ý kiến của Nixon vì buồn phiền nhiều hơn là tức giận. Ông nêu “một cảm tình” đối với người Bắc Việt Nam, nhưng không nói gì về lợi ích chung nào. Ông rút cái nghĩa vụ ủng hộ Hà Nội không phải từ tình đoàn kết về lý tưởng càng không phải từ những quyền lợi dân tộc phù hợp, nhưng từ những món nợ lịch sử đối với Việt Nam do quá khứ của Đế chế Trung Quốc để lại”.

“Lập luận chính của Ông về việc cần sớm chấm dứt cuộc chiến tranh là ở chỗ nó làm Mỹ sa lầy và làm cho chúng ta tiêu phí nhiều năng lực mà đáng lẽ phải để vào những phần quan trọng hơn của thế giới. Chu chỉ trích lập trường thương lượng của chúng ta theo một cách rất chiếu lệ. Ông đòi hỏi chúng ta phải rút quân khỏi Việt Nam. Ông không hề hỗ trợ cho chương trình chính trị của Hà Nội – và của những người chỉ trích chúng ta – về chính phủ liên hiệp mà về việc lật đổ Thiệu”.

Rồi Kissinger kết luận:

“Công tác ngoại giao của chúng ta sắp sửa hoàn thành việc cô lập Hà Nội”.

Mỹ thật sự tin tưởng là thủ đoạn chia rẽ các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và chính sách hòa hoãn Mỹ trên thế giới sẽ có hiệu quả.

4- Thêm vào các thủ đoạn trên còn phải phô trương sức mạnh nữa là để một lực lượng quân sự Mỹ mạnh ở Đông Nam Á làm lực lượng răn đe, hù dọa những người yếu bóng vía và hỗ trợ cho bọn Ngụy.

Bằng những thủ đoạn ấy, dần dần chế độ Thiệu sẽ mạnh, chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam việt Nam ngày càng suy yếu, Thiệu có khả năng thanh toán đối thủ để độc chiếm Miền Nam, biến Miền Nam Việt Nam thành một nước phụ thuộc đế quốc Mỹ ở vị trí chiến lược trên bờ tây Thái Bình Dương này.

Với mưu đồ như vậy, Mỹ tiếp tục tiến hành chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam trong điều kiện có hiệp định Paris. Từ Tổng thống đến các nhân vật trọng yếu trong chính quyền Mỹ lúc ấy đều nhấn mạnh để khuyến khích Thiệu là Hoa kỳ luôn bên cạnh Thiệu, sẽ viện trợ mọi mặt cho Thiệu và sẵn sàng lại can thiệp vào Miền Nam Việt Nam nếu cần. thậm chí Kissinger còn hứa với Thiệu trong chuyến qua Sàigòn tháng 10 năm 1972 là sẽ dùng lực lượng quân sự đánh chiếm Miền Bắc việt Nam qua vĩ tuyến 17 khi có yêu cầu, khi Thiệu bị tấn công. Thiệu quá hí hửng góp bàn nên đổ bộ vào bở biển gần hơn là đánh từ vĩ tuyến 17 lên. Thiệu và bè lũ tuy có lo lắng về số phận tôi đòi, bị chủ Mỹ sai khiến và không coi ra gì, thế cô, lực yếu, nhưng vẫn tin tưởng bám vào quan thầy cho rằng nếu chúng co bề gì thì ắt quan thầy không nuốt lời hứa, sẽ che chở, vực dậy. Chuẩn tướng ngụy Lê Trung trực, trước đây là phụ tá cho tướng ngụy Cao Hảo Hớn được Thiệu giao chức vụ chủ tịch Ủy ban liên bộ điều hợp việc ngừng bắn đã thú nhận: … ”Mỹ luôn rêu rao rằng sức mạnh của Mỹ là vô địch… Thiệu tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh quân sự của Mỹ, và cho rằng Mỹ đã dính lúi vào Việt Nam rồi sắt sẽ dính líu đến cùng”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:11:33 pm »

Vì tin như vậy nên bè lũ Thiệu mù quáng trước thực tế tình hình, tiếp tục chiến tranh để đạt cho được mong muốn chủ quan của chúng và ý định của chủ. Âm mưu Mỹ và hành động Thiệu là như vậy, không cho ta có chút gì ảo tưởng là tớ thầy chúng sẽ thi hành nghiêm chỉnh hiệp định. Không những Mỹ chỉ muốn chiếm Miền Nam mà còn ngông cuồng hơn là mong xâm nhập và nắm Miền Bắc, chia rẽ và lũng đoạn phe xã hội chủ nghĩa. Ảo tưởng này là có sự  đảm bảo rất đáng khích lệ của người bạn đồng minh mới là Trung Quốc và đã được thử thách qua thời gian và các sự kiện. Nếu những nhà lãnh đạo Trung Quốc trong những năm 60 không liên tiếp đưa ra những tín hiệu bằng nhiều cách cho Mỹ hiểu rằng anh có thể tự do hành động ở Việt Nam miễn là không đụng chạm đến Trung Quốc: “Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi”, thì năm 1965, Mỹ không dám ngang nhiên đưa quân vào Miền Nam và tiếp sau đó gây chiến tranh phá hoại và phong tỏa Miền Bắc. Nếu năm 1972, ở Thượng Hải họ không hứa với Mỹ là giữ Thiệu và giữ Miền Nam Việt Nam cho Mỹ như Lu-i-gi Xom-ma-rơ-ga đã viết trong báo ý “Người đưa tin” ngày 3-4-1979 “… Trung Quốc đã chấp nhận đề nghị của Mỹ giữ chế độ Thiệu ở Miền Nam Việt Nam. Hậu quả sẽ là; Việt Nam vĩnh viễn bị chia cắt như Triều Tiên. Đánh đổi lại, Nixon hứa để Trung Quốc gia nhập liên hợp quốc và dành cho Trung Quốc một ghế trong Hội Đồng bảo an, đồng thời Mỹ hứa sẽ từ bỏ chính sách ủng hộ Đài Loan…”, thì Mỹ cũng không thể mạnh dạn rút quân khỏi Việt Nam thay đổi chiến lược mà vẫn tin là có thể vĩnh viễn ở lại Miền Nam Việt Nam.

Tóm lại chuyện này nghĩa là Mỹ vào Việt Nam hay ra khỏi Việt Nam đều có sự đảm bảo, mỉa mai thay, của ông bạn khổng lồ phương bắc, núi liền núi sông liền sông, của chúng ta.

Từ khi ký hiệp định Paris đến nay đã qua một năm rưỡi. Sự việc diễn biến thực tế ở Việt Nam không theo sự sắp đặt công phu của Mỹ, không giống như kế hoạch mà Nixon – Kissinger đã vạch. Sở dĩ như vậy vì còn một vế vô cùng quan trọng của kế hoạch mà Nixon – Kissinger không tính ra hay không thể hiểu nổi. Đó là trí thông minh và dũng cảm trong suy nghĩ và hành động của đối phương tác động vào. Nếu như từ năm 1973, chúng ta tin rằng bằng cách này hay cách khác, hiệp định Paris sẽ được thi hành giống như đã tin hai năm sẽ tổng tuyển cử như hồi hiệp định Genève, nếu như ta đánh giá sai sức ta và sức địch, mà có những tả hữu khuynh và sai lầm trong suy nghĩ và hành động thì tình hình không như bây giờ được. Tất nhiên không thể tránh khỏi những bước chập choạng ban đầu. Nhưng thời gian chập choạng ba, bốn tháng đầu ấy của một giai đoạn chiến lược mới trong một cuộc chiến tranh lâu dài là ngắn ngủi. Nó cảnh chưa dủ cho địch lướt lên giành phần thắng. Ngược lại, ta đã cảnh giác, sự chỉ đạo của Đảng ta đã sắc sảo và kịp thời, nhân dân và lực lượng vũ trang ta đã dày dạn trong chiến đấu và đấu tranh cách mạng nên tình thế ngày nay đã dẫn đến chỗ là ta vươn lên cao và địch thì thất thế không gượng lại được. Thủ đoạn gian xảo ác độc của địch chưa kịp và không thể thi thố. Lực lượng quân sự ngụy không mạnh lên được mà đang mất tinh thần và rệu rã. Muốn tăng phòng vệ dân sự đông đảo, xây dựng bảo an mạnh và cơ động để địa phương đủ sức chiếm và giữ mọi nơi, thì nay hai lực lượng này giảm về số lượng, đào rã ngũ nhiều, rút đồn bót, bỏ cơ sở mà chạy. Muốn tập trung quân chính qui thành lực lượng hoàn toàn cơ động, trang bị vũ khí hiện đại, tính năng cao để có thể rút bớt quân số, dành ngân sách cho phát triển kinh tế mà quân sự vẫn mạnh, nhưng nay thì buộc phải gấp rút tăng quân số, tăng đơn vị vẫn không đủ để bố trí giữ các địa phương mà lực lượng cơ động cũng không có. Muốn vùng chúng được mở rộng và ổn định để kêu gọi ngoại quốc đầu tư xây dựng kinh tế nhưng nay thì bị bóp chẹt, không ổn định, không ma nào dám đầu tư vào. Ngân sách thiếu hụt trầm trọng, viện trợ Mỹ phải dồn vào chi tiêu quân sự. Muốn xây dựng một đảng cầm quyền mạnh, “Đảng dân chủ”, nhưng lại buộc người ta phải vào “Đảng ông Thiệu”, gồm toàn bọn cơ hội, bọn đầu cơ buôn bán chính trị đua nhau vào để mong địa vị, leo cao, tha hồ ăn cắp và hối lộ, ức hiếp nhân dân thì làm sao có được một đảng cầm quyền mạnh? Như thế là Ngụy quyền Thiệu không mạnh lên về mọi mặt như mưu toan của Mỹ, mà đang yếu toàn diện, quân sự, chính trị, kinh tế… mọi mặt đang thất thế và xuống dốc.

Khi mà đế quốc Mỹ đã thất bại, phải rút lui về quân sự, và chuyển qua dùng mọi mưu ma chước quỉ tô đắp lên một “bù nhìn có cỡ”, để thay thế, để nắm chức Miền Nam, mà bù nhìn đó đã không đứng vững, bắt đầu quị, thì lúc này rất cần một lực đẩy – đủ để nó lao nhanh xuống vực thẳm tức là làm cho cả tớ thầy không có cách nào cứu vãn – đó chính là thời cơ!

Đánh giá chính xác tình hình này và nhận thức đúng thời điểm là vô cùng quan trọng về chỉ đạo chiến lược mở một chiến trượng trọng điểm có tính đại diện cho cả Miền Nam.

Lê-nin đã nói: “Cách mạng là khoa học đồng thời là một nghệ thuật, nó đòi hỏi sự nhạy cảm đối với tình hình và sự ứng phó kịp thời và chủ động đối với những biến đổi của tình hình. Cách mạng luôn luôn là sáng tạo”. Trung ương cục và Quân ủy Miền đã đánh giá và nhận thức tình hình đã biến đổi ấy để chỉ đạo mọi kế hoạch và hoạt động mùa mưa, đồng thời dự kiến kế hoạch 1975 đặc biệt là mùa khô 1974-1975 và báo cáo ra Trung ương.

Trong cuộc hội nghị tháng 7-1974 của Trung ương Cục đồng chí Bí thư đã nhấn mạnh: “Ta đặt vấn đề dành thắng lợi quyết định trong năm 1975-1976, nhất là phải nỗ lực trong mùa khô 1974-1975 là nằm trong dự kiến của Nghị quyết 21 Trung ương và Nghị quyết 12 Trung ương cục, quyết tâm giành thắng lợi quyết định trong vài ba năm tới (74-75-76). Ta phải hoàn thành nhiệm vụ mùa mưa và tích cực chuẩn bị để hoàn thành nhiệm vụ năm 1975. Cần có nỗ lực lớn của toàn Đảng. Ta đặt như vậy là có cơ sở thực tiễn trong tình hình vừa qua, tốc độ diễn biến vừa qua, đặc biệt là trong 4 tháng vừa qua của năm 1974. Sẽ có chỉ thị để các khu, các tỉnh, kiểm điểm công tác thực hiện nghị quyết 12, cố gắng mùa mưa và chuẩn bị thật tốt cho mùa khô 1975 với tinh thần hết sức kiên quyết. Sẽ báo cáo đầy đủ ra Trung ương và đề nghị Trung ương có chỉ đạo kết hợp về đấu tranh ngoại giao, về hiệp đồng trên chiến trường toàn Miền Nam”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:16:24 pm »

Nội dung mọi mặt hoạt động mùa mưa 1974, theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Quân ủy Miền bao gồm:

- Tiếp tục phá kế hoạch bình định của địch bằng phản công và tấn công, mở rộng vùng kiểm soát của ta, phát triển phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đứng lên làm cho các vùng, trọng tâm là đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven đô thị. Mở hội nghị tổng kết công tác chống phá bình định toàn B2 vào tháng 9-1974.

- Tăng cường lực lượng của ta cả về quân sự và chính trị tạo thế và tạo lực đủ sức làm tròn nhiệm vụ năm 1975. Ta phải mạnh ở từng xã, từng huyện, từng tỉnh để có thể tự lực mở mảng mở vùng. Lấy cái mốc, riêng về nắm dân là năm 1960, dân vùng giải phóng và tranh chấp của ta là gần 5 triệu mà ta đã thành công rực rỡ trong cuộc đồng khởi. Năm 1968, số dân ta nắm là gần 4 triệu thì ta đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết mậu Thân. Vậy chỉ tiêu về số dân cho đến hết mùa mưa này ta phải đạt cho được ít nhất là mức của năm 1968 để bước vào mùa khô 1975.

- Tập trung sức đẩy công tác đô thị lên nhanh. Ngày nay mâu thuẫn giữa tập đoàn thống trị, tư sản mại bản quan liêu quân phiệt với các từng lớp nhân dân đang dâng lên gay gắt nhất là ở đô thị. Ta có điều kiện làm cho quả đấm đô thị mạnh.

- Nắm vững các lực lượng vũ trang, chăm lo xây dựng huấn luyện và chiến đấu. Đã tới lúc cả ba thứ quân phải phát triển nhanh, mạnh để hoàn thành nhiệm vụ trọng đại của mình là lực lượng quyết định trực tiếp.

- Xây dựng tốt vùng giải phóng và căn cứ địa, đảm bảo tốt các hành lang vận tải. mặc dù mùa mưa có trở ngại và địch cố ngăn cản, phải bằng mọi biện pháp tăng cường vật chất, hậu cần cho các lực lượng các hướng, các quân khu để sẵn sàng cho một mùa khô dành thắng lợi lớn.

- Về công tác lãnh đạo của Đảng phải làm sao phát động được tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và quần chúng. Làm cho toàn Đảng toàn quân và toàn dân thấy rõ được âm mưu thâm độc của Mỹ, Ngụy, thấy rõ thắng lợi mới của ta, nhân tố mới của tình hình và phấn khởi sự nỗ lực vươn lên. Trước mưu thâm của địch phải thấy không có con đường nào khác là dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, phải tấn công mạnh dành quyền sống về ta. Mỗi người phải phát huy hết khả năng và trách nhiệm của mình để thắng lợi lớn. Chống hữu khuynh mơ hồ về địch.

- Các cấp, các ngành phải chấn chỉnh biên chế tổ chức lề lối làm việc cho thích hợp với tình hình mới, gọn nhẹ, sát thực tế, sát cơ sở, có hiệu lực cao nhất.

Một trong những công tác hết sức khẩn trương trong mùa mưa là công tác chuẩn bị lực lượng quân sự cho mùa khô. Trong lúc cá lực lượng đều phải tham gia đánh địch ở cả 3 vùng, thực hiện chỉ tiêu các mặt của trên đề ra cho mùa mưa, thì cả 3 thứ quân và các cơ quan quân sự đều phải lo chấn chỉnh tổ chức, phát triển đơn vị, huấn luyện nâng cao hiệu lực tác chiến theo nhiệm vụ và hoàn chỉnh thế bố trí trên toàn chiến trường. Kế hoạch xây dựng lực lượng này của Bộ tư lệnh Miền đã được Trung ương cục thông qua vào cuối tháng 6 và ngay sau đó phổ biến cho các quân khu, các cấp, đến cơ sở. Dự kiến của kế hoạch là động viên các địa phương, tùy khả năng cho phép, mở rộng không hạn chế lực lượng du kích xã, ấp và bộ đội địa phương huyện, có thể huyện có điều kiện và xã có đại đội để tự mình mở mảng mở vùng giải phóng mà không cần có sự chi viện của lực lượng tỉnh. Đây là căn cứ vào kinh nghiệm thực tế của huyện Mỹ Xuyên thuộc tỉnh Sóc Trăng và một số nơi thuộc tỉnh Kiến Phong. Những nơi này, trong mùa khô vừa qua, chỉ với lực lượng bản thân, đã đánh trả địch lấn chiếm có kết quả và qua đó mở rộng vùng giải phóng bao gồm nhiều ấp liên hoàn nhau. Ở những nơi đó, khí thế quần chúng và nhân dân nổi dậy sôi nổi tham gia cùng du kích và bộ đội địa phương tấn công địch, tiêu diệt, bức rút và bức hàng nhiều đồn bót do bọn dân vệ và bảo an đóng trong xã.

Các tỉnh đều phải mở rộng việc vận động thanh niên tòng quân và kết hợp với số tân binh của trên phân phối, bổ sung và tổ chức thành các tiểu đoàn mạnh của tỉnh. Tùy điều kiện, tỉnh có từ một đến bốn tiểu đoàn. Riêng những tỉnh có khả năng và do yêu cầu của nhiệm vụ có thể tổ chức một trung đoàn nhẹ cùng với một vài tiểu đoàn lẻ. Trong thời gian này, trừ Quân khu 6 và Sàigòn, các Quân khu 7, 8, 9 mỗi quân khu đều có một số trung đoàn độc lập trực thuộc. Để chuẩn bị cho Bộ tư lệnh quân khu nắm chắc được toàn bộ lực lượng quân sự và chính trị, chỉ huy cuộc tấn công và nổi dậy trong toàn Quân khu, Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập một sư đoàn nhẹ cho mỗi quân khu bằng cách ghép các Trung đoàn lẻ lại, tăng cường binh chủng và tổ chức cơ quan chỉ huy sư đoàn do một đồng chí chỉ Phó tư lệnh quân khu kiêm sư đoàn trưởng. Quân khu 9 tổ chức sư đoàn 4 gồm các trung đoàn 10, 20 và 30 do đồng chí Nguyễn Đình Chức làm Sư trưởng. Quân khu 8 có sư đoàn 8 do đồng chí sư trưởng Sáu Phú(1) chỉ huy gồm các Trung đoàn 18, 24 và 320. Quân khu 7 tổ chức 2 trung đoàn lẻ là Trung đoàn 33 và trung đoàn 4 tổ chức thành sư đoàn 6 hiếu do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ (Hai Phong) chỉ huy. Về Quân khu 6 do điều kiện thiếu nhân lực, kém về vật chất, vận tải khó khăn, để thích hợp với nhiệm vụ và phương châm phương thức hoạt động ở đây, nên từ trước ta chỉ tổ chức từng tiểu đoàn bộ binh lẻ, các đơn vị đặc công cùng với du kích và các đội vũ trang công tác. Trước tình hình mới và nhiệm vụ giao cho Quân khu sắp tới, từ tháng 5, 6-1974, Bộ Tư lệnh Miền đã ra lệnh ghép các tiểu đoàn bộ binh 186, 840, 15 và các đại đội pháo, thông tin… thành lập ra trung đoàn tập trung 812, gấp rút huấn luyện và lấy các tỉnh Bình Tuy, Bình Thuận làm chiến trường hoạt động chuyên. Do chưa rõ ý định của Miền, nên quân khu chưa thông suốt việc thành lập trung đoàn này. Bộ tư lệnh Miền một mặt giải thích, một mặt ra lệnh xây dựng ngay trung đoàn để kịp với nhiệm vụ, khỏi lỡ thời cơ. Chính trung đoàn này, năm 1975 đã cùng với lực lượng địa phương tại chỗ kết hợp với lực lượng bản giải phóng phần lớn tỉnh Bình Tuy, Lâm Đồng, toàn bộ tỉnh Tuyên Đức và một phần tỉnh Ninh Thuận, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân khu. Khu Sàigòn, ngoài các lực lượng của Miền bố trí và hoạt động ở nội ngoại thành do điều kiện đặc biệt cũng chỉ tổ chức các tiểu đoàn lẻ như tiểu đoàn quyết thắng 1, 2, 3, 4… cùng với các bộ đội địa phương huyện, du kích, an ninh vũ trang, thanh niên võ trang (Sau này mới thành lập trung đoàn Gia Định). Bộ Tư Lệnh Miền đến lúc ấy trực tiếp nắm các sư đoàn 5, 7, 9, các trung đoàn lẻ 201, 205, 16, 271 và Đoàn 27 đặc công, đoàn 316 biệt động thành, một số binh chủng rất hạn chế. Toàn B2 có tiểu đoàn pháo xe kéo, các loại dùng cho cả chiến dịch và chiến đấu trong đó có 2 tiểu đoàn là pháo 105, 155 lấy của địch, đạn rất thiếu, 3 tiểu đoàn xe tăng và xe thiết giáp không dủ xe và cũng gồm cả xe M41 và M113 lấy của địch, công binh, thông tin thì càng yếu hơn nữa, vỏn vẹn chỉ có một tiểu đoàn công binh vượt sông, không đủ khí tài, một tiểu đoàn công trình, hai tiểu đoàn công binh chiến đấu, ba tiểu đoàn cầu đường, hai tiểu đoàn vô tuyến, một tiểu đoàn hữu tuyến điện… Từ lâu chúng tôi vẫn thường than phiền với các đồng chí ở Bộ Tổng tham mưu cũng như với các Bộ tư lệnh binh chủng của Bộ Tổng tư lệnh rằng lực lượng của chúng tôi ít quá trong lúc phải đảm nhận một chiến trường rộng, trọng điểm như B2, và tất nhiên đã nhiều phen đòi thêm lực lượng, thêm phương tiện khí tài, vũ khí đạn dược. Người chỉ huy nào lại không muốn trong tay mình có lực lượng chiến đấu đủ và có dự bị để hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất. Có lẽ vì thế mà một số anh em công tác ở Bộ tổng Tham mưu phê phán rằng B2 có tư tưởng địa phương, cục bộ, đòi cho mình nhiều lực lượng hơn B1, B3, B4. Chúng tôi đã nghe nhiều. Không phải trực tiếp mà là nghe kể lại những nhận xét thiên lệch đó đến nỗi mỗi lần bàn về lực lượng quân sự chúng tôi thường cười nói với nhau: Hãy nghe nhà triết học Hy lạp Pythagore nói: “Bạn chịu bất công, bạn hãy tự an ủi, khốn nạn thật chính là gây ra bất công”. Và chúng tôi còn thêm: Người tướng giỏi không nhất thiết lúc nào cũng phải có lực lượng dồi dào mới thắng.


(1) Tức thượng tá Huỳnh Văn Nhiên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:17:47 pm »

Tuy thế, lúc cần thiết, chúng tôi vẫn đề nghị với trên, vẫn đòi tăng thêm lực lượng. Chúng tôi đã quyết tâm thành lập quân đoàn cho B2, bằng cách ghép các sư đoàn 9 và 7 lại cùng một số binh chủng sẵn có và đề nghị với Bộ tổng tư lệnh cho thêm chúng tôi một sư đoàn mới và các đơn vị xe tăng và pháo… có mặt ở chiến trường đầu mùa khô để kiện toàn thành một quân đoàn mạnh ở chiến trường quan trọng này. Được Bộ chấp thuận, trong cuộc hội nghị quân sự tháng 7-1974, Bộ tư lệnh Miền đã chính thức công bố thành lập Quân đoàn, sau này thành quân đoàn 4, do đồng chí Hoàng Cầm làm tư lệnh và đồng chí Hoàng Thế Thiện làm chính ủy. Ngoài ra các trung đoàn lẻ 271, 205 cũng được lập thành sư đoàn 3 thiếu để tiện việc chỉ huy và do đồng chí Đỗ Quang Hưng làm sư trưởng. Sư đoàn 3 cũng như sư đoàn 5, trung đoàn 16, 201, đoàn đặc công 27 và đoàn biệt động 316, đều trực thuộc Bộ tư lệnh Miền để sử dụng ở các hướng cần thiết.

Việc thành lập Quân đoàn ở B2 và các sư đoàn chủ lực quân khu là một sự chuẩn bị tích cực về lực lượng chủ lực của chiến trường để đáp ứng đòi hỏi của tình hình và chủ trương hoạt động sắp tới của Trung ương Cục và Quân ủy Miền. Nó đã được nhân dân và các ngành các cấp nhiệt liệt hoan nghinh, chăm sóc và giúp đỡ xây dựng. Nó đã cổ vũ quân và dân B2 phấn khởi vươn lên giành thắng lợi lớn. Nó cũng chứng tỏ một thời kỳ phát triển lực lượng lớn chưa bao giờ có của toàn chiến trường B2 không phải chỉ chủ lực mà cả bộ đội địa phương tỉnh, huyện, du kích xã ấp. Cũng không phải chỉ có lực lượng vũ trang được phát triển nhanh trong thời kỳ này mà cả lực lượng Đảng ở cơ sở và lực lượng chính trị quần chúng cũng lớn mạnh vượt bực, ngay ở những vùng mà từ lâu nay ta còn rất yếu. Ví dụ như huyện Chợ Mới thuộc tỉnh Long Xuyên, là một huyện xung yếu, một rẻo đất hẹp nằm giữa hai sông lớn: Sông Tiền, và sông Hậu, nơi đó trước ngày 28-1-73, trong toàn huyện, ta chỉ có hai chi bộ Đảng và quần chúng có tổ chức còn rất ít, tuy rằng nhân dân ở đây tốt, có truyền thống cách mạng từ lâu. Vậy mà đến hết mùa khô 1974, ta có được 8 chi bộ nằm trong 11 xã trong tổng số 13 xã. Ta đã xây dựng được hàng trăm du kích mật và đặc biệt là có 79 cơ sở nằm trong 15 toán và liên toán phòng vệ dân sự của địch. Cán bộ ta có thể đi lại hoạt động và huy động quần chúng đấu tranh khắp các nơi trong huyện. Hay huyện Chợ Gạo thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm ngay phía đông đường quốc lộ số 4 kẹp giữa sông Tiền Giang kinh Chợ Gạo và hệ sông Vàm Cỏ. Địa thế gây trở ngại nhiều cho cán bộ ta hoạt động ở đây. Huyện có 20 xã. Đã có chi bộ và cơ sở quần chúng trong 18 xã. Tính chung lúc ấy lực lượng quân sự và chính trị của ta có 4.366 người trong lúc địch có 3.318 bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự. ta đã đạt ưu thế riêng trong một huyện mà đây là một huyện yếu của ta. Không những thế, một số tề xã và gia đình binh sĩ ngụy đã quyên góp hàng vạn đồng vào quĩ kháng chiến của huyện… Theo số liệu tổng hợp vào cuối tháng 8 năm 1974, trong toàn B2 có 3 triệu 400.000 dân ở vùng giải phóng và vùng tranh chấp, trong các tổ chức cách mạng từ thấp đến cao, so với mức năm 1968 đã không thấp hơn nhiều, trong mùa mưa, ta có thể nỗ lực phát triển lên được. Sở dĩ được như vậy vì Trung ương Cục luôn theo dõi và chỉ đạo các khu, tỉnh qua việc trực tiếp với các địa phương và qua các chỉ thị từ số 01 đến 08 mà nội dung chủ yếu của từng chỉ thị vẫn là phải gấp rút tạo thế, tạo lực, thay đổi so sánh lực lượng ta địch. Các chỉ tiêu về phát triển thực lực quân sự chính trị tại địa phương về hoạt động chống địch mở rộng vùng giải phóng mà Trung ương Cục và Quân ủy Miền đề ra cho các khu, tỉnh trong mùa khô vừa qua đều đạt và vượt. Trung Ương Cục cũng tin chắc rằng chỉ tiêu đã đặt ra cho mùa mưa trong toàn B2 cũng sẽ vượt xa hơn nữa. tất cả cán bộ dự hội nghị quân sự tháng 7 đều đã hạ quyết tâm vượt mọi chỉ tiêu cấp trên đã đề ra. Các đồng chí đã nêu ra một tình hình rất tốt là quần chúng nhân dân khắp nơi đều có nhận thức về sự suy sụp của địch và thế thắng của ta không khác gì trong nghị quyết của Đảng chứng tỏ quần chúng đã tiến kịp với sự chỉ đao của Đảng hay nói một cách khác, Đảng và quần chúng đã hòa cùng một nhịp. Những thời kỳ nào như vậy, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, thì cách mạng sẽ có một sức mạnh có thể làm nên tất cả, giải quyết được nhiều khó khăn tưởng chừng không vượt nổi.

Trong hội nghị quân sự tháng 7 này, chúng tôi đã phổ biến và quán triệt nghị quyết tháng 4-1974 của Quân ủy trung ương nghị quyết này đã được Bộ chính trị thông qua nhằm căn cứ vào tình hình diễn biến mới nhất vừa qua, bổ sung cho nghị quyết 21 của Trung ương. Nghị quyết đã đánh giá về âm mưu Mỹ rất rõ là: “… Âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ vẫn là thực hiện “Học thuyết Nixon” áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở Miền Nam, biến Miền Nam thành một quốc gia riêng biệt thân Mỹ, nhưng chuyển từ chỗ dùng lực lượng quân sự của Mỹ trực tiếp tham chiến là chính, đến chỗ dùng ngụy quân ngụy quyền có sự việc trợ đắc lực của Mỹ về cố vấn quân sự, kinh tế và tài chính”.

“Để thực hiện ý đồ nói trên, Mỹ đã có chủ trương nhất quán từ đầu vừa ký hiệp định lập lại hòa bình, vừa giúp đỡ ngụy quyền Sàigòn tiếp tục chiến tranh”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:21:14 pm »

Nghị quyết nhận xét: “Nói nào ta kiên quyết phản công và tấn công thì chúng lúng túng bị động, gắp khó khăn. Chúng đã bị đẩy lùi ở khu 9, bị chặn lại ở Khu 8, tuy có lấn được một số ít ở khu 5, những cũng đã bị chựng lại...” Ta đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực khá lớn của địch, giữ vững các lõm giải phóng ở đồng bằng sông Cửu Long, xung quanh Sài Gòn, giữ vững vùng giải phóng và căn cứ địa rộng lớn, duy trì được thế uy hiếp địch về mặt chiến lược”.

Nghị quyết đã chỉ đạo cụ thể cho các chiến trường: “hết sức tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng, tăng cường vật chất tập trung chỉ đạo bảo đảm cho đồng bằng nhất là đồng bằng sông Cửu Long giành được một chuyển biến rõ rệt có lợi cho ta.

“Khu 5 cần đánh giá đúng tình hình, giải quyết tốt tư tưởng cán bộ, phương thức hoạt động, phối hợp chặt chẽ giữa Tây Nguyên và đồng bằng, đưa phong trào hồi phục lại căn bản như hồi năm 1972 và mở rộng thêm, bảo vệ, hoàn chỉnh từng bước vùng giải phóng căn cứ địa Tây Nguyên và Miền Tây các tỉnh đồng bằng”.

Miền đóng giữ vững các lõm giải phóng xung quanh Sàigòn, củng cố thành những bàn đạp vững chắc bao vây uy hiếp Sàigòn ngày càng chặt hơn, củng cố mở rộng hành lang nối liền vùng ven Sàigòn với vùng giải phóng căn cứ địa rộng lớn.

“Trị Thiên củng cố thế đứng vững chắc ở giáp ranh, luồn sâu xuống đồng bằng xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở du kích, làm lỏng kềm, nêu lên phối hợp ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận, đưa phong trào lên, tạo lại thế 5 vùng, phá thế phân tuyến của địch, thường xuyên uy hiếp địch để giữ chân hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác ở Miền Nam. Đồng thời phải giữ vững và ra sức xây dựng vùng giải phóng vững mạnh”.

Hội nghị còn được phổ biến cận kề sự đánh giá và nhận định tình hình của Trung ương cục, về kế hoạch mùa mưa và dự kiến hoạt động giành thắng lớn mùa khô 1974-1975 của Trung ương cục và Quân ủy Miền. Là Những cán bộ lặn lội ở chiến trường, thường xuyên tiếp xúc với cơ sở với hiểm nguy qua các thời kỳ diễn biến, anh em hoàn toàn nhất trí với nhận thức tình hình của Trung ương Cục và sự nhất trí đó đã chuyển thành sức mạnh tập thể chấp hành nghị quyết Đảng, sức mạnh chuyển tới từng đảng viên, từng quân chúng.

Ngay sau cuộc hội nghị quân sự, đồng chí Phạm Hùng với danh nghĩa là bí thư Trung ương Cục, bí thư Quân ủy Miền và là chính ủy bộ tư Lệnh Miền đã cùng chúng tôi làm việc cụ thể với từng đoàn cán bộ của từng quân khu. Đặc biệt là với đoàn cán bộ của Thành đội Sàigòn, bàn về việc xây dựng và bố trí các loại lực lượng quân sự và chính trị, bí mật và công khai cũng như các hình thức hoạt động, nhất là hình thức hoạt động vũ trang ở vùng ven và trong nội thành. Đồng chí đã trực tiếp giải quyết những vướng mắc trong nhận thức của cán bộ thành về việc bố trí các đoàn đặc công sâu vào vùng ven và việc hoạt động quân sự ở các vùng ấy. Nhiều cán bộ đã quan niệm sai là ở vùng ven hiện nay tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng còn yếu, không nên bố trí đặc công và bộ đội địa phương vào vì sợ lộ, sợ hôi, sợ địch sẽ càn quét đánh phá làm cho không ổn định, để xây dựng cơ sở. Nhất là sợ nếu đặc công hay bộ đội địa phương lại đánh địch ở đây thì sẽ bị bể hết cơ sở. Không lẽ có lực lượng vũ trang ở đây mà địch đến đây lại không cho đánh? Vì thế mà nêu rằng: “Đánh thế nào để không bể cơ sở” làm anh em rất lúng túng. Một số nơi đã rút lực lượng vũ trang ra khỏi hay đã thủ tiêu chiến đấu. Đồng chí nhấn mạnh: “Đường lối của Đảng ta là tấn công địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng và đô thị. Tấn công cả bằng lực lượng vũ trang và cả bằng lực lượng chính trị. Muốn vậy phải tổ chức và bố trí lực lượng quân sự kết hợp lực lượng quần chúng. Chỉ khác nhau giữa các vùng là cách tổ chức lực lượng ra sao, bố trí loại lực lượng gì. Ta phải đánh địch bằng ba mũi giáp công. Vậy cần nghiên cứu phương thức ba mũi thế nào? Ở đâu? Để giành thắng lợi từ nhỏ đến lớn. Dứt khoát ta không phải trường kỳ mai phục, càng không thủ tiêu chiến đấu. Trong chiến tranh không thể mong có sự yên ổn để tổ chức lực lượng, mà lực lượng được tổ chức trong hoàn cảnh ổn định giả tạo đó sẽ không có chất lượng. Trong giai đoạn chiến lược hiện nay, ta phải vây ép chặt Sàigòn hơn nữa, phải sẵn sàng phối hợp giữa các vùng để giành thắng lợi mùa khô tới, không được chậm trễ. Khi cán bộ thông suốt tư tưởng quan niệm đúng vấn đề, dũng cảm đấu tranh, kết hợp chặt chẽ giữa cấp ủy địa phương với chỉ huy quân sự của cấp trên xuống và tại chỗ, thì sẽ có phương thức đúng. Phải mạnh dạn, dám nghĩ và dám làm…”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:31:10 pm »

 Một khâu dám nghĩ và dám làm rất quan trọng không thể nào quên là công tác vận tải, bố trí, tích trữ lương thực đạn dược cho B2 trong mùa mưa, của những chiến sĩ thực sự là “đi trước về sau”, như truyền thống của Nam bộ kháng chiến, những chiến sĩ vất vả, gian lao nhưng thầm lặng, vui cái chiến thắng của anh em mà hầu như quên mất cái chiến thắng của mình – Đó là chiến sĩ Hậu cần! Trong suốt mùa mưa tầm tã, lầy lội, hàng vạn chiến sĩ hậu cần cùng hàng chục vạn lượt nhân dân đã làm việc cả ngày lẫn đêm trên mọi tuyến đường từ phía sau ra phía trước, trên đồng lầy, biển cả và sông nước Đồng Tháp Mười, rừng U Minh, khắp đồng bằng sông Cửu Long đến núi rừng khu 7, khu 6, đến vùng ven và vào đến tận nội đô Sàigòn. Có lẽ ngành hậu cần B2 đã nói lên rõ nhất mọi thứ kết hợp một cách tài tình trong chiến tranh chống Mỹ của ta: Kết hợp làm cả hậu cần quân đội và hậu phương quốc gia, kết hợp việc tập trung cung cấp của trên với việc mua sắm sản xuất tại chỗ, kết hợp hậu cần chuyên môn và hậu cần nhân dân, kết hợp lực lượng quân đội và lực lượng quần chúng, chiến sĩ và dân công, chính qui và du kích, quy mô lớn và nhỏ, công khai và bí mật, bí mật mang vác len lỏi qua các vùng địch ban đêm, bí mật dùng xe cơ giới, tàu thuyền công khai chạy trên các đường và sông, vào cả các đô thị, kết hợp hiện đại và thô sơ (xe bò, xe đạp thồ, xuồng chèo, mang vác…) kết hợp công tác và chiến đấu diệt địch tự bảo vệ mình. Ngay trong cấu tạo thành phần chỉ huy của Cục Hậu cần Miền đã phải có sự kết hợp rất cần thiết để đảm bảo công tác có hiêu quả cao. Đồng chí Lư Khanh(1) chính ủy Cục, trước đây là một công nhân xưởng Ba son, Sàigòn, quê tỉnh Gia Định, đã sớm tham gia phong trào cách mạng và vào Đảng cộng sản Đông dương từ những năm 1930. Trong chiến tranh chống Pháp, đồng chí là chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Định. Trong chiến tranh chống Mỹ, trước khi sang ngành hậu cần đồng chí là Tư lệnh pháo binh của Miền. Vì vậy đồng chí hiểu biết về quân sự, rành cả địa phương và người dân Sài gòn cũng như Miền Đông Nam Bộ. Tính trung thực và chân thành, đồng chí thương yêu, và lo lắng tận tình cho cán bộ và chiến sĩ, biết phải nuôi dưỡng và  đảm bảo thế nào cho bộ đội đánh thắng. Đồng chí Cục Trưởng Bùi Phùng, quê ngoại thành Hà Nội, đã từng làm tham mưu ở Tổng Cục hậu cần, có nghiệp vụ công tác thành thạo. Đồng chí Tư Võ(2) Cục phó, trước kia, thời chống Pháp, là bí thư Tỉnh ủy Long Châu Tiền, đã hoạt động cách mạng nhiều năm vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như ở đất nước Kampuchia, là người có nhiều công lao tạo nguồn vật chất tại chỗ cho ngành. Cán bộ bên dưới cũng có sự bố trí tương tự để kết hợp được tài năng và đạo đức, quen việc và thạo chiến trường, biết tìm của và rõ lòng người. Đề ra công việc to lớn phải đi đôi với tổ chức và chọn người tương xứng mới đảm bảo thành công. Không thể kể hết được mọi thứ kết hợp từ đó tạo ra một sức mạnh tổng hợp làm cho ngành hậu cần B2 đã đảm bảo được mọi cuộc chiến đấu và chiến dịch, bất cử mở ra ở đâu và lúc nào, suốt từ đầu đến cuối chiến tranh. Ngay trong thời kỳ khó khăn thiếu thốn nhứt về lương thực đạn dược của B2, đặc biệt là ở chiến khu A, bắc Biên Hòa, năm 1966, Miền vẫn cắm và giữ ở đó đoàn hậu cần 81 do đồng chí Mười Thiện(3) phụ trách. Nhờ vậy mà sư đoàn 9 lúc ấy khi ần tác chiến khu vực này, vẫn có gạo và đạn để đánh mà không cần phải mang theo nặng nề chậm chạp. Nhân một chuyến đi công tác mùa thu năm 1966, tôi ghé thăm đoàn 81, đồng chí Mười Thiện và anh em vẫn bảo đảm với tôi kiên quyết “bám trụ” bất kể tình hình thế nào. Anh chị em công tác ở đây, ngoài bom đạn và chất độc hóa học tấn công, còn có bệnh sốt rét vàng da cũng là một kẻ thù đáng sợ. Vì vậy mà “hồi chín năm”(4) anh em đã có câu: “Mã đà, Sông bé, anh hùng tận” (Sông Mã đã chảy ra và sông Bé nơi nổi tiếng là nước độc đã làm chết bao nhiêu chiến sĩ ta vì bệnh sốt rét trong những năm chống Pháp).

Thần tốc ở đây phải hiểu là lo trước ém dẵn, ở đâu ần ở đó có, lúc nào cần là có ngay. Muốn vậy phải có một suy nghĩ chiến lược dự kiến sớm chính xác kịp thời, một tổ chức giỏi triển khai trước, có phương pháp, có hiệu năng gồm những con người dũng cảm mưu trí. Không có thứ thần tốc để “Nước tới chân mới nhảy” công việc xảy ra rồi mới chạy nhốn chạy nháo, mà chạy thế nào kịp? Mỹ ngụy có máy bay vận tải hạng nhẹ, trực thăng nhiều mà chạy chết còn không kịp, huống hồ gì tải người, tải hàng đáp ứng với yêu cầu khi thời cơ cấp bách? Hậu cần B2 có thuật “Lót ổ sẵn”. Lót ổ hàng trăm, hàng ngàn tấn lương thực, vũ khí đạn dược từ trước ở các lõm du kích, các địa bàn mà bộ đội chủ lực, địa phương sẽ đến đó hoạt động, khi cần, lót ổ thuốc nổ, súng đạn ở vùng ven đô thị, sát các sân bay, bến cảng, kho tàng của địch, trong nội thành, gần các mục tiêu quan trọng như ở ngay trung tâm Sàigòn cho lực lượng đặc công biệt động ta sử dụng theo kế hoạch của trên qui định. Không có lực lượng có tổ chức khéo léo tinh vi, không có cán bộ phù hợp có năng lực phụ trách, không có quần chúng cách mạng thì không thể nào làm nổi những việc như vậy. Để chuẩn bị cho mùa khô 1974-1975, trong mùa mưa, hậu cần đã chuyển đến cho các quân khu kể cả Sàigòn trên 3000 tấn vũ khí đạn dược, đã cấp phát đủ cho các đơn vị các cơ số đạn và lương thực cần thiết cho chiến đấu và dự trữ thường xuyên, để tích trữ tại các khu vực sẽ diễn ra chiến đấu mùa khô chủ yếu ở Miền Đông Nam Bộ gần 30.000 tấn vật chất trong đó có gần 8000 tấn đạn dược và 1.500 tấn xăng dầu. Cái đáng nói của hậu cần B2 còn là việc cố tạo ra vật chất tại chỗ, cái gì có thể tạo được và chỉ yêu cầu trên cung cấp những gì không thể tạo ra được tại chỗ. Nếu tính trong suốt năm 1973 và cả mùa mưa năm 1974, thì số lượng vật chất hậu cần B2 tự tạo ra được đạt tỷ lệ 73% số nhu cầu của chiến trường. Như vậy chỉ còn 27% là xin Trung ương cung cấp. Thực hiện đúng mệnh lệnh của Bộ tư lệnh Miền, hậu cần đã đảm bảo lượng dự trữ thường xuyên từ bốn đến sáu tháng lương thực, thuốc và dụng cụ quân y; ba đến sáu tháng xăng dầu và bắt buộc phải có một năm vũ khí đạn dược. Làm được như vậy ở một chiến trường xa xôi, trọng điểm, vô cùng ác liệt là một chiến công có ý nghĩa biết đường nào. Tôi đã gặp họ, những chiến sĩ hậu cần tận tụy trên khắp các ngả đường chiến dịch, họ hồn nhiên vui vẻ như bất chấp nặng nhọc hiểm nguy, làm mà không nói. Đầu năm 1975, tôi qua bến Tà Lài, trên sông Đồng Nai, tại Chiến khu A, bắc Biên Hòa hỏi chuyện một chiến sĩ lái xe chất đầy đạn, người vạm vỡ, lanh lẹn. Đồng chí đang cúi xuống rờ vào bánh xe đã mòn, vội đứng thẳng: “Báo cáo thủ trưởng, em ngươi Hà Bắc, vào chiến trường từ năm 1973 tên là Phạm Văn Miêng”, và đồng chí lái canô đẩy phà sang sông đã đứng tuổi, người gầy nhưng chắc: “Em ở Cà Mau, tòng quân năm đồng khởi, tên là Út Đen. Lên trên này mới học thêm, ở nhà chỉ biết lái đuôi tôm đưa vợ đi chợ” – “À đồng chí đã có vợ. Vậy đã có con chưa?” – “Dạ có một trai được ba tuổi thì bọn dân vệ đi càn bắn chết. Sau đó em tòng quân luôn, quyết trả nợ nước thù nhà”. Tôi ngậm ngùi lòng quặn đau. Tôi hỏi tiếp: “Còn đồng chi Miêng thế nào?” – “Em chưa có gia đình, thành công rồi, em tình nguyện ở luôn trong này đấy ạ” – À ra thế, vậy đã có chú ý đến cô nào chưa?” – “Thưa chưa ạ - bây giờ thì suốt ngày suốt đêm phải dành cho xe đã”… Nhớ năm 1968, khi qua sông Sàigòn ban đêm, ở một bến đò trong rừng tre xơ xác bom đạn nhưng còn đủ để ngụy trang cho ta từng đoạn… ở đây tôi đã gặp các cô gái trẻ mang đang vác từng hòm đạn nặng từ thuyền lên chất vào các hầm trên bờ. Tôi đã quen một hai cô, cô Thắm và cô Liên, các cô là những chiến sĩ thi đua đã từng về họp mừng công ở căn cứ Miền, tại Cục hậu cần. Phần lớn các cô này đều là ở vùng ven Sàigòn; trong quân vào công tác ở hậu cần khu Sàigòn – Gia Định. Các cô nhận ra thủ trưởng mừng quá, xúm quanh hỏi chuyện ríu rít – Bao giờ thì giải phóng Sàigòn, làng Tân Thới Nhất, Bà Điểm đây chú? Cô khác chen vào – Cả làng Tân Hiệp Hóc Môn nữa, mày chỉ nghĩ đến xã của mày thôi hả - Liệu chúng cháu có được về quê sau Tết không chú? – Không biết giờ đây thì các cô Thắm, cô Liên ấy, các cậu Miêng, cậu Út, ai còn ai mất! Biết bao người trong đó có chiến sĩ hậu cần, đã ngã xuống, trên mảnh đất này. Đồng chí chủ nhiệm hâu cần đầu tiên của B2, đồng chí Nguyễn Văn Dung, một công nhân Sàigòn, đầu tóc hoa râm qua hai mùa kháng chiến, cũng đã hy sinh trong lúc đang đi công tác. Không làm gì có phân chia hậu phương, tiền tuyến trong cuộc chiến tranh này. Hậu cần luôn phải xung phong lên tuyến trước, hăng hái đi trước để chuẩn bị và thu dọn chến trường nên vui vẻ về sau!


(1) Tức thiếu tướng Đào Sơn Tây
(2) Đồng chí Võ Phát
(3) Đồng chí đại tá Võ Văn Lạn, hiện là Cục trưởng Cục Hậu cần Quân khu 7.
(4) Anh em gọi “Hồi chín năm” là chỉ thời kỳ chống Pháp.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:33:42 pm »

Trong tháng 8 và tháng 9 năm 1974, Bộ Tham mưu Miền theo xu hướng của Trung ương Cục vạch ra, và dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Miền, làm kế hoạch hoạt động mùa khô 1974-75 trong dự kiến giành thắng lợi quyết định trong vài năm tới. Đầu tháng 10, Trung ương cục đã thảo luận và thông qua kế hoạch này. Trong cuộc họp, tình đồng chí trong Trung ương cục cũng đã phân tích rõ ràng, cụ thể tình hình chiến trường và cả tình hình chung và đã nhất trí quyết tâm giành thắng lợi quyết định, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong hai năm 1975-1976. Năm 1975 là năm bản lề và năm 1976 kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh. Cũng không phải là dễ dàng mà đi đến nhất trí như vậy. Bao nhiêu là đắn đo suy nghĩ, bao nhiêu phân tích lật đi lật lại vấn đề. Mọi người đều nêu rõ về sự suy sụp của cả ngụy quân và ngụy quyền ở các vùng. Ở đô thị cũng đã xuất hiện phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng chống Ngụy quyền Thiệu tham nhũng, bất lực, và tình hình đó tác động lại tinh thần quân lính địch không ít. Mọi người đều phân tích thế và lực ta lên mạnh, phát triển đều trên các chiến trường. Du kích xã ấp của ta cũng đã diệt, gỡ được đồn bót địch. Nhưng vẫn lo lắng về một số mặt còn yếu: Lực lượng du kích và địa phương tuy gần đây có phát triển nhanh, nhưng số lượng còn thấp so với yêu cầu, chủ lực ta chưa có đòn tiêu diệt lớn, phong trào quần chúng có lên mạnh nhưng chưa đủ mạnh cho một cuộc nổi dậy lật đổ ngụy quyền. Ba đòn chiến lược của ta: chủ lực, nông thôn, đô thị vẫn chưa đều. Đòn đô thị còn yếu... Tụi Mỹ thua cuộc phải rút quân khỏi Việt Nam, tình hình nước Mỹ đang rối ren về chính trị, kém sút về kinh tế, tài chính, nhưng cần thiết phải có những biện pháp khôn khéo để hạn chế sự can thiệp của Mỹ đảm bảo ta thắng lợi nhanh và gọn. Tất cả những lo lắng đó rất đúng. Đó là sự thật và ai nấy đều thấy ta phải nỗ lực lớn, nỗ lực liên tục mới đảm bảo thành công trong thời gian như vậy.

Điều làm cho mọi người nhất trí cao là xác định xem ta đang ở giai đoạn nào trong cuộc cách mạng, của cuộc chiến tranh, và đều đồng ý như phát biểu của anh Mười Cúc(1): “Chế độ Thiệu đang suy yếu nghiêm trọng, một mặt do mâu thuẫn bản thân của nó đến lúc phát triển, một mặt do ta tấn công ngày càng mạnh. Ta cần tấn công mạnh và liên tục hơn nữa, không cho chúng dừng lại lấy sức. Ngày nay ta có điều kiện đẩy lùi địch từng bước, giành thắng lợi từng phần đi đến giành thắng lợi hoàn toàn. Chế độ Ngụy không thể chịu nổi qua mùa khô 1975-1976”. Và anh Bảy Cường đã kết luận! “Địch đang khủng hoảng toàn diện - cả ngụy quyền Trung ương chớ không phải chỉ một phần nào, một vùng nào. Ngụy sẽ suy sụp với tốc độ ngày càng nhanh như một chiếc xe lao xuống dốc, không loại trừ đi đến khả năng đột biến. Khuyết nhược điểm ta vẫn còn, Nhưng có khả năng và đang trên đà khắc phục. Ta đang giành thắng lợi lớn ngay trong mùa mưa này. Ta có điều kiện chuẩn bị tốt cho mùa khô tới. Ta nhận định rằng ta có thể hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ vào năm 1976. Năm 1976 là một thời cơ hết sức quan trọng. Những năm 1975 phải thực sự là năm bản lề, nỗ lực giành thắng lợi lớn thì mới tạo điều kiện cho năm 1976 quyết định. Nói năm 1975 nhưng thực chất quyết định là mùa khô 1974-1975. Cần phải nắm vững tinh thần kế hoạch mùa khô mà Trung ương Cục và Quân ủy đã bàn, phải quán triệt ý nghĩa và nội dung mùa khô cho xuống tới dưới, phải quan niệm mùa khô này như một kế hoạch chiến dịch chặt chẽ từ quân khu 6 đến quân khu 9, từ chủ lực đến địa phương, từ nông thôn đến rừng núi, đô thị, phải phối hợp rất nhịp nhàng. Lần này hơn hẳn các lần trước, ta có kế hoạch phối hợp và bàn chuẩn bị kỹ từ trên xuống dưới, cả trong quân sự và các cấp Đảng bộ. Ta quyết định giành thắng lợi lớn. Do vậy việc lãnh đạo chỉ đạo của Trung Ương cục và Quân ủy phải chặt chẽ trong mùa khô này, các khu và tỉnh cũng vậy. Phải chặt chẽ giữa cấp ủy và cấp quân sự tương đương trong việc chỉ đạo và chỉ huy.

Ta vừa thực hiện thật tốt kế hoạch mùa khô, đồng thời chuẩn bị hướng phát triển mạnh nếu tình hình diễn biến tốt cho ta, ta phải rán lên đạt thắng lợi cao nhất, kịp thời ngay trong năm 1975 này”.

Cũng trong cuộc họp này của Trung ương Cục, chúng tôi đã thảo luận đến trường hợp tình hình diễn biến nhanh, ngụy quân, ngụy quyền có thể suy sụp sớm hơn ta dự kiến, đặc biệt là nếu có xảy ra đột biến về quân sự chính trị ngay ở Sàigòn. Trong trường hợp đó có thể chiến trường B2 phải tự mình tiến hành tấn công cuối cùng vào sào huyệt đầu não của địch, kết thúc chiến tranh, mà không được để lỡ thời cơ. Tôi đã trình bày với Trung ương Cục rằng chúng tôi sẽ cố gắng đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng võ trang địa phương và du kích, cũng như các địa phương tăng cường phát triển lực lượng quần chúng cách mạng cho thời cơ ấy. Nhưng về chủ lực thì B2 còn rất yếu, thiếu cả về bộ binh và binh chủng kỹ thuật cho một nhiệm vụ nặng nề như vậy. Tôi đề nghị xin trung ương cho ngay B2 từ ba đến bốn sư đoàn nữa thì tự mình chúng tôi đảm bảo trận chiến đâu cuối cùng ấy nhanh chóng. Xét về khả năng điều kiện có thể của tình hình, về đường lối chiến lược, cách tổ chức bố trí và xử dụng lực lượng của ta, về vị tri và vai trò của chiến trườn B2, việc tăng thêm vào giai đoạn này ba, bốn sư đoàn cho chúng ta là hoàn toàn hợp lý. Tôi đã trình bày phác họa các hướng tấn công vào Sàigòn, nói lên sự cân thiết phải có số lực lượng chủ lực như vậy. Sau khi thảo luận, các đồng chí Trung ương Cục đều nhất trí và quyết định xin Trung ương điều theo lối cuốn chiếu, nghĩa là điều những sư đoàn ở Tây Nguyên vào B2, rồi điều lực lượng Trị Thiên vào thay ở Tây Nguyên, và cứ như thế cho đủ số bố trí ở các chiến trường, làm như vậy chúng ta sẽ rút ngắn được thời gian hành quân của các đơn vị.


(1) Đồng chí Nguyễn-Văn-Linh, phó bí thư Trung ương Cục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:37:01 pm »

Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã báo cáo kế hoạch ra Trung ương và Quân ủy Trung ương và đã đề nghị Bộ chính trị triệu tập một cuộc họp với đại diện của tất cả các chiến trường để bàn kế hoạch thống nhất toàn Miền Nam trong giai đoạn quan trọng này.

Kế hoạch mùa khô 1974-75 của B2 mà Trung ương Cục đã thông qua thực sự là một kế hoạch chuẩn bị tiến lên Tổng tấn công và nổi dậy của B2, kế hoạch tạo điều kiện đi lên dành thắng lợi kết thúc cuộc chiến tranh ở chiến trường trọng điểm này. Vì vậy mà phải dựa trên cơ sở dự kiến trước một kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy của toàn B2. Thật ra thì kế hoạch dự kiến này chúng tôi đã ôm ấp rất lâu, bắt đầu từ khi chuẩn bị và tiến hành Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân cho đến ngày nay. Hàng chục năm chiến đấu trên chiến trường này, đánh Pháp rồi đánh Mỹ, cán bộ quân sự chúng tôi đã hầu như thuộc lòng mọi địa hình địa vật, từng làng mạc, sông rạch. Chúng tôi cũng đã nắm rất rõ kẻ địch của mình, cách tổ chức và khả năng tiến hành phòng ngự, phản ứng của chúng trong từng thời kỳ. Nhưng quan trọng hơn là chúng tôi nắm chắc đường lối lãnh đạo của Đảng ta trong cuộc chiến tranh này: Chúng ta đánh địch bằng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị. Quân sự và chính trị song song tất yếu dẫn đến Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn. Nhất trí và tin tưởng vào đường lối lãnh đạo đó, chúng tôi luôn tâm niệm là đến một thời cơ nào đó, dứt khoát phải tiến hành Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa. Vì vậy mà sau khi có Nghị quyết 9 của Trung ương năm 1963, một nghị quyết vạch rất rõ đường lối đó, chúng tôi ở chiến trường có thành phố Sàigòn – Gia Định, thủ đô của Ngụy quyền, luôn suy nghĩ cách thức tiến hành Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa như thế nào? Từ năm 1964, B2 đã vạch ra 5 hướng tân công vào Sàigòn, rồi tổ chức khu Sàigòn thành năm phân khu 1, 2, 3, 4, 5 để tổ chức bố trí lực lượng và chỉ đạo cuộc Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân – Từ lúc ấy đã xác định các mục tiêu ở nội ngoại thành trong đánh bung ra kết hợp với ngoài đánh vào. Tết Mậu Thân đã là một kinh nghiệm thực tế vô cùng quí báu. Nhưng mỗi ngày, cuộc chiến tranh tiến triển bởi nhiều hình thức và qui mô khác nhau cũng là mỗi ngày làm phong phú thêm sự suy nghĩ, làm già dặn thêm những kinh nghiệm cho đến ngày nay, chúng tôi lại đứng trước ngưỡng cửa của lần thứ hai, Tổng tấn công và nổi dậy ở Sàigòn cũng như ở toàn B2. Chín muồi qua ngẫm nghĩ nhiều năm, chúng tôi không khó khăn lắm phác họa ra một kế hoạch dứt điểm Sàigòn và toàn B2 để làm nền cho kế hoạch mùa khô 1975 này.

Đó không phải là một kế hoạch Tổng phản công quân địch từ một tuyến nào đó như trong một chiến tranh qui ước thông thường. Không phải dùng lực lượng quân sự thuần túy, những quân đoàn chủ lực hùng mạnh, tiêu diệt và đuổi địch từ Tây Nguyên, hay Quảng Trị vào Thừa Thiên, Quảng Nam, Đà Nẵng, vào Sàigòn và truy kích đến tận Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc… Thực ra muốn làm thế cũng không làm được, mà có làm được đi nữa thì cũng có nguy cơ địch co dãn quấy rối cụm lại ở một vùng nào đó, dựa vào không, hải quân ưu thế của Mỹ để rồi phản công trở lại. “Phương án Gavin” đã từng dự kiến co cụm chiến lược về đồng bằng sông Cửu Long như vậy đó. Gavin là một tướng lĩnh có hạng của Mỹ, qua Sàigòn năm 1972 là năm mà Mỹ Ngụy bị đập tơi bời, bị thua nặng từ Quảng Trị đến Miền Đông Nam Bộ. Trong bối cảnh ấy, y đã nghĩ ra một phương án chiến lược co dần, rút dần nếu bị thất bại mà khu vực cuối cùng phải bám giữ là Mỹ Tho – Vĩnh Long – Cần Thơ. Y tính toán: Đồng bằng sông Cửu Long là kho nhân lực, là cuộc sống tính từng giờ, là nhịp đập của “trái tim thủ đô”. Đồng bằng sông Cửu Long là nơi củng cố lực lượng chi viện cho Sàigòn. Từ đó phát triển tăng cường lực lượng phòng thủ, tạo sức phản kích lại đối phương trong điều kiện xấu nhất”. Hẳn y đã nhớ lại bài học quân ngụy từ Mỹ Tho về cứu Ngô Đình Diệm ở Sàigòn năm nào. Y còn nghĩ rằng đồng bằng sông Cửu Long còn dựa lưng ra biển, ra đảo Côn Sơn, Thổ Chu, Phú Quốc… là thế mạnh, tiện lợi cho Mỹ lại từ đại dương tiến vào. Cái nhìn của những tên thực dân thật không khác nhau. Năm 1946, trong một chỉ thị gởi cho cao ủy Pháp ở Đông Dương, D’Argenlieu, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại Moutet đã nhấn mạnh: “… Nam kỳ là cái trục thực sự của toàn bộ chính sách của chúng ta ở Đông Dương. Chúng ta phải thành công và thành công nhanh ở Nam kỳ và rằng tương lại của sự có mặt của nước Pháp hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào thắng lợi hay thất bại của chúng ta ở đây”. D’Argenlieu cũng có quan điểm: “…Nam kỳ là chìa khóa của toàn bộ liên bang Đông Dương trong khối liên hiệp Pháp. Nếu quyền lực Pháp củng cố được ở đây thì liên bang Đông Dương trong khối liên hợp Pháp sẽ trở thành hiện thực…” “… Không bao giờ được quên tầm quan rọng của bộ phận Nam kỳ. Bộ phận này là hòn đá tảng trong lâu đài liên bang Đông Dương và là nền tảng của ảnh hưởng của chúng ta”(1). Vào thời kỳ đó Nguyễn Văn Thiệu đã kịch liệt chống lại phương án này, cho đó là một ngu xuẩn, một sự đầu hàng “Việt cộng”. Nhưng đó là lúc mà Thiệu tưởng vẫn đứng vững, dựa vào cái cọc chống đỡ mạnh mẽ của Mỹ. Còn lúc mà cơ hồ không còn manh giáp thì phương án Gavin là tối ưu rồi còn gì? Báo chí phương tây đã từng bình luận: “Với số dân xấp xỉ mười triệu ở đồng bằng Nam bộ, Nguyễn Văn Thiệu chẳng có thể là một vị Tổng thống đường hoàng của một quốc gia trong Đông Nam Á có diện tích ngót nghét ba mươi sáu nghìn cây số vuông hay sao?”.


(1) Theo tư liệu của Phân viện lịch sử Cục Khoa học Quân sự - BQP.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:38:41 pm »

Nhưng về phần chúng ta, chúng ta đã suy nghĩ tất cả những việc ấy trước hơn Gavin, cả phương án Gavin chưa nghĩ đến, để chọn một chiến lược thích hợp nhất cho cuộc chiến tranh này.

Ngay từ đầu, Đảng ta đã chủ trương một kế hoạch chiến lược Tổng công kích – Tổng khởi nghĩa thần kỳ của một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển đến cao độ. Chúng ta tấn công địch bằng lực lượng quân sự tổ chức theo rất nhiều kiểu cách thích hợp, kết hợp với nổi dậy của quần chúng từ nhỏ chí lớn, ở khắp các vùng, vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng đô thị. Trước một kẻ địch hoàn toàn chiếm ưu thế trên không, dưới biển, ở sông ngòi, ưu thế về vũ khí và phương tiện hiện đại, cơ động nhanh chóng bằng trực thăng bất cứ ở địa hình nào, hỏa lực hủy diệt dồi dào, thì lực lượng của ta chủ yếu quyết định là lực lượng nằm ngay tại chỗ, ở đâu cũng có lực lượng cách mạng, quân địch đến đâu, ở đâu, cũng đều bị đánh, bị đánh bằng lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng, bằng lực lượng lớn cũng như lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, bằng lực lượng thấy được và lực lượng không thấy được. Ngay chủ lực của ta cũng là chủ lực hoàn toàn cơ động tác chiến, nhưng cơ động trong từng khu vực nhất định, kết hợp chặt chẽ với địa phương, không có thứ chủ lực cơ động toàn chiến trường, tách rời địa phương. Ưu việt của ta là địa phương có tính chất quyết định, nhưng tất cả địa phương được lãnh đạo thống nhất rất chặt chẽ từ trung ương. Tết Mậu Thân 1968 đã chẳng chứng tỏ điều đó sao? Trong cùng một ngày đêm, dưới một hiệu lệnh phát ra từ Trung ương, hàng trăm thành phố, hàng nghìn làng mạc, mục tiêu, của địch cùng bị tấn công dữ dội đến nỗi quân địch không còn biết đâu mà lần, không co vào đâu, không rút đi đâu được, choáng váng ngay tại chỗ, choáng váng cả nước Mỹ. Thần tốc của ta là như vậy, thần tốc, bao trùm một không gian rộng, một thời gian ngắn, thần tốc trong hành động chiến đấu, trong chiến dịch và quan trọng hơn là trong một giai đoạn chiến lược, trong cách kết thúc một cuộc chiến tranh. Đừng suy nghĩ đơn giản theo kiểu thần tốc tấn công từ xa bằng những binh đoàn chủ lực cơ động thần kỳ mà rồi không thể nào hiểu nổi thực tế.

Nắm vững quan điểm chiến lược này, trong suốt mùa mưa 1974, Trung ương cục và Quân ủy Miền hết sức theo dõi đôn đốc các địa phương phát triển nhanh thực lực quân sự chính trị của bản thân, tạo thế tạo lực, để từng nơi tự mở mảng vùng giải phóng. Và tới tháng 10-1974, Trung ương cục đã chỉ đạo nhấn mạnh “xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh, trong toàn chiến trường B2”. Khẩu hiệu hành động bất hủ đó xuất phất từ quan điểm chiến lược kết hợp tấn công và nổi dậy và từ thực tế đã diễn ra trên chiến trường từ trước, đưa ra đúng vào lúc ấy, đã tạo thành một sức mạnh ghê gớm. B2 đã làm kế hoạch mùa khô 1974-75 là dựa trên dự kiến, tự B2 phải tiến hành Tổng tấn công và nổi dậy ở Sàigòn, tự từng quân khu, từng tỉnh phải giải quyết chiến trường của mình, mà không đợi lực lượng của trên, nhưng có hợp đồng trong một kế hoạch chung chặt chẽ từ mục tiêu về thời gian, và dưới sự lãnh đạo chỉ huy thống nhất của Trung ương. Kế hoạch Tổng tấn công và nổi dậy dự kiến của toàn B2, được xác lập trên những yếu tố quan trọng sau đây:

Trước nhất phải đảm bảo không đánh đuổi địch từng huyện, không để cho địch co cụm chiến lược ở bất cứ vùng nào, ngay ở Sàigòn, hay ở đồng bằng sông Cửu Long, kể cả ở các đảo ngoài biển đông ngoài Vịnh Thái Lan như Gavin đã tính toán. Co cụm ở Sàigòn thì chúng tôi đã lo ngăn chặn dần từ trước không để địch xây dựng được những tuyến phòng thủ vững chắc và lần lượt phá dần thế có thể co cụm được quanh Sàigòn. Co cụm ở đồng bằng sông Cửu Long hay ở hải đảo thì biện pháp có hiệu quả hất là phải tấn công và nổi dậy kịp thời và mạnh mẽ của lực lượng quân sự, chính trị tại chỗ, và chia cắt chiến lược vùng đồng bằng ra nhiều mảnh, tiêu diệt địch từng khu vực một mà không cho chúng dồn về một nơi nào để cố thủ.

Yếu tố thứ 2 là phải chia cắt, bao vây, cô lập quân địch cả về mặt chiến dịch và chiến đấu để tiêu diệt chúng không cho chúng tập trung lại, dựa vào nhau, chi viện cho nhau; đầu đuôi không cứu nhau được. Quân địch ở B2 tương đối đông bao gồm lực lượng của hơn hai vùng chiến thuật cộng với lực lượng của biệt khu thủ đô của chúng và lực lượng tổng trù bị. Phải đảm bảo quân địch nào ở đâu, cũng đều bị đánh cùng một lúc, nắm vững phương châm hai chân ba mũi, đánh bất ngờ, kịp thời và liên tục, dồn dập khắp mọi nơi cùng trong một thời gian nhất định.

Thứ 3 là phải triệt hạ chỗ mạnh của địch, khoét sâu chỗ yếu của chúng. Trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, Mỹ ngụy dựa chủ yếu vào lực lượng không quân mạnh, khống chế bầu trời, chi viện hỏa lực mạnh từ trên không, cơ động bằng máy bay vận tải và trực thăng. Sau đó đến hải quân, các giang đoàn, cơ giới và pháo binh. Không có không quân chi viện mạnh thì quân ngụy sẽ mất tinh thần chiến đấu nhanh, dễ đi đến tan rã và đầu hàng. Ở B2 có ba sân bay lớn là chỗ dựa của chúng, là sức mạnh của chúng, đó là sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Lộ Tẻ ở Cần Thơ. Ngoài ra chúng phải dựa vào các tàu sân bay của hạm đội 7 Mỹ ngoài khơi. Phải có kế hoạch và có lực lượng đặc biệt bố trí sẵn từ trước, khống chế cho được ở mức tối đa ba sân bay này đi đôi với lực lượng phòng không bảo vệ bầu trời của ta.

Yếu tố thứ 4 nằm trong trận tấn công và đầu não của địch, giải phóng Sàigòn, nơi được phòng thủ cứng nhất, mạnh nhát. Là một trung tâm chính trị, văn hóa, thương mại có nhiều đường bộ nối thông với khắp mọi miền đất nước. Quan trọng nhất là đường số 1 và đường xe lửa nối với Miền Trung, đường số 4 nối với đồng bằng vựa lúa và kho người và cũng là vùng 4 chiến thuật mà lực lượng quân sự còn tương đối mạnh. Lại có đường 15 và sông Lòng Tàu nối với Đại dương qua cảng Vũng Tàu, là hướng quân Mỹ vào cứu nguy hay hướng rút chạy của Ngụy về mẫu quốc. Là đầu não chỉ huy chiến tranh nên có đủ mọi đường giây liên lạc với các vùng, các đơn vị, cả với hạm đội 7 Hêu Kỳ. Muốn giải phóng Sàigòn, trước hết phải cô lập nó với xung quanh, không có đường co, đường chạy, không dựa vào đâu nhờ chi viện, bị bao vây không có lối thoát, chỉ hỗn loạn và tan vỡ.

Yếu tố thứ 5 là đánh Sàigòn phải mạnh, nhanh, gọn, các mục tiêu trọng yếu phải bị chiếm hầu như cùng một lúc mới bảo đảm thắng lợi thần tốc làm cho địch không còn thì giờ sắp xếp lại việc phòng thủ, củng cố lại lực lượng, dựa được vào các cấu trúc phức tạp bên trọng, phá hoại, gây đổ nát cho thành phố, gây khó khăn cho bên tấn công. Lại còn vấn đề nữa là không để cho những tay phù thủy chính trị có thời gian, cấu trúc sân khấu, vá víu các con rối để làm phép ngăn chặn sự thắng lợi của cách mạng. Muốn vậy phải kết hợp chặt chẽ cuộc tấn công như vũ bão từ bên ngoài bằng nhiều hướng với sự đánh phá và nổi dậy từ khắp bên trong. Không thể để ta phải đánh từng đường phố, chiếm từng gian nhà, diệt từng mục tiêu. Bộ đội chủ lực mạnh từ nhiều hướng bên ngoài đánh vào, bộ đội đặc biệt và tinh nhuệ đánh các mục tiêu bên trong, quần chúng nổi dậy chiếm các đường phố, làm chủ các công sở, bảo vệ các nhà máy… Phải làm cho quân địch không còn một chút tinh thần nào, rã toàn bộ. Chúng ta đang làm một cuộc chiến tranh cách mạng ngay trong lòng đồng bào của ta: Đảng đã chỉ cho ta phải nắm vững chiến lược Tổng tấn công và nổi dậy. Có tấn công, có nổi dậy, có đánh ngoài vào, có đánh trong ra, đồng loạt. Đó là thần tốc. Để làm được như vậy, Trung ương cục, Thành ủy Sàigòn – Gia Định đã nghiên cứu bố trí từng chi bộ từng Đảng viên, đoàn viên, từng nòng cốt lãnh đạo, từng tổ quần chúng có tổ chức, thanh niên, phụ nữ, học sinh, sinh viên khắp phố phường quan trọng, cơ sở quan trọng. Lực lượng võ trang được giao từng mục tiêu trong nội thành ra đến vùng ven, đã được rèn luyện và có truyền thống. Còn các binh đoàn chủ lực từ ngoài đánh vào thì thế nào? Nó rất quyết định cho thành công, cho nên phải mạnh và phải được tính toán thật chi li, ngay trong một trận đánh hợp đồng binh chủng trong chủ lực cũng phải có sự hợp đồng tất cả các chủ lực vũ trang và càng phải có sự hợp đồng giữa lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng có tổ chức và chưa có tổ chức.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM