Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Sáu, 2024, 08:50:30 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 3112 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #30 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:22:30 pm »

Địch tính toán trong một kế hoạch dài hạn của chúng:

“- Từ tháng 2 đến tháng 8 năm 1973, ra sức lấn chiếm và kiểm soát tuyệt đại bộ phận lãnh thổ Nam phần Việt Nam.

“- Từ tháng 9-73 đến 2-74 ra sức củng cố những cái đã giành được, phòng thủ vững chắc.

“- Sau đó vào năm 1974 hay quá lắm là năm 1975 sẽ có giải pháp chính trị, tổng tuyển cử để hợp pháp hóa, chỉ còn một chính quyền (tức chính quyền của Thiệu), một quân đội mạnh (tức quân đội Việt Nam cộng hòa) – Chiến tranh tàn lụi – Việt cộng chỉ còn như một Đảng đối lập đấu tranh chính trị đơn thuần không hơn không kém.

Nếu không, như vậy thì sẽ dùng chiến tranh lớn thanh toán hoàn toàn Việt cộng vào năm 1976 và 1977”.

Về kinh tế, tương xứng với kế hoạch chính trị quân sự đó, chúng vạch ra kế hoạch dài hạn 8 năm 1973-1980 đã ban hành ngày 20-5-193 kế hoạch chia làm 3 thời kỳ:

“1973-1974, phục hồi tái thiết,

1975-1976, phát triển củng cố,

1977-1980, Tự lực, giảm viện trợ.”

Tham vọng, kế hoạch và hành động của kẻ địch nhất quán từ đầu là như vậy.

Trên cơ sở tình hình thực tế diễn biến trên chiến trường cho đến lúc ấy vào giữa mùa mưa, biết được mưu đồ và hành động của địch như vậy, chúng tôi nghiên cứu chấp hành nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, cụ thể hóa thành nghị quyết 12 Trung ương cục mà làm kế hoạch hoạt động mùa khô 73-74 của chiến trường B2. Sau khi trình bầy và được sự chấp thuận của Trung ương cục, tôi đã duyệt lại kế hoạch mấy lần cuối cùng và hạn quyết tâm vào tháng 9 năm 1973 để kịp cho Tham mưu và các chiến trường triển khai thực hiện chu đáo và báo cáo ra Quân ủy Trung ương.

Chiến trường chính được xác định lúc ấy là Đồng bằng Cửu Long - Ở đây địch chọn làm trọng tâm bình định, lấn đất, giành dân, vét người vét của. ta phải chặn bàn tay độc ác của địch lại, kiên quyết trừng trị chúng. Phải lấy lại và giữ vững vùng giải phóng của ta đã có từ trước 28-1-73. Muốn đạt mục tiêu ấy ta phải hoạt động phối hợp các chiến trường chặt chẽ, không cho phép địch hòa hoãn nơi chúng yếu, thất thế, để tập trung quân đánh nơi chúng có ưu thế, nơi có ý nghĩa chiến lược cho chúng. Chúng tôi quyết định tăng cường lực lượng, cả người và vũ khí cho quân khu 8, 9, chiến trường đồng bằng, để hai quân khu làm tròn được nhiệm vụ của chiến trường chính trong giai đoạn này – Lúc này có một vấn đề đặt ra, trong hàng ngũ cán bộ quân sự, cũng như cán bộ dân, Đảng là tăng cường lực lượng cho đồng bằng cách gì?

- Đã xác định đồng bằng là chiến trường chính thì ta phải tập trung ba thứ quân của ta mạnh ở đây để đánh bại địch – Như vậy chủ lực cũng tập trung nhiều ở đây.

- Đối với trước mắt cũng như về lâu dài, có nêu cứ dàn quân của cả hai bên đánh nhau ở Miền Đông này như từ trước đến giờ theo kiểu chọi trâu không? Hay ta chọn một hướng bất ngờ khác, ý nói hướng đồng bằng Cửu Long để tập trung quân ở đây mà đánh?

Những ý kiến này là muốn bố trí lại lực lượng đưa chủ lực Miền về tăng cường cho nông thôn đồng bằng. Cho rằng giải phóng được đồng bằng đông dân nhiều của là giải quyết được chiến tranh. Thực ra đây không phải là quan điểm mới mà nó đã có từ lâu và dai dẳng, mãi cho đến ngày nay, cho rằng phải giải phóng nông thôn rồi mới giải phóng thành thị được. Nó trái ngược với đường lối chiến lược của cuộc chiến tranh chống Mỹ của Đảng ta. Đó là chiến lược tấn công, tấn công trên cả 3 vùng chiến lược: Nông thôn, đồng bằng, rừng núi và đô thị. Tấn công cả bằng lực lượng quân sự, cả bằng lực lượng chính trị quần chúng, luôn kết hợp tấn công và nổi dậy. vì vậy mà vị trí của đô thị rất quan trọng. Trong chiến lược tấn công này, đòn chủ lực rất quyết định mà chủ lực với binh khí kỹ thuật ngày càng tăng của ta không thể tập trung đánh lớn ở đồng bằng trống trải, đầy dẫy sông rạch, sình lầy. Ở đó, kẻ địch lại kèm giữ chặt các đường giao thông được bảo vệ bằng hệ thống đồn bót có công sự vững chắc, địch lại có các hạm đội trên sông và làm chủ hoàn toàn bầu trời – Đưa chủ lực lớn về đồng bằng trong tình thế như vậy là ta tự làm tê liệt mình, sa ngay vào thế yếu, thế bị động, sai về chiến lược, bất lợi về chiến dịch và chiến thuật, còn địch sẽ phát huy được thế mạnh của chúng gấp bội. Qua nhiều kinh nghiệm chúng tôi đã nhất trí với nhau là trong điều kiện đối đầu với Mỹ ngụy, chủ lực ta ở đồng bằng sông Cửu Long rồi nhất là tập trung đến trung đoàn với binh khí kỹ thuật nhẹ. Nếu tổ chức sư đoàn thì là sư đoàn nhẹ, việc chỉ huy và chiến thuật không thể giống như ở chiến trường rừng núi. Trong lúc đó, ta phải ra sức phát triển lực lượng du kích rộng rãi, lực lượng đặc công tinh nhuệ nhiều, bộ đội địa phương mạnh, để tiến hành một cuộc chiến tranh du kích thần kỳ, liên tục, sôi nổi, một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng kết hợp ba thứ quân một cách linh hoạt trên mọi địa hình, mọi vùng, mọi thời tiết bằng ba mũi giáp công, bằng những chiến dịch tổng hợp, bằng cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của quần chúng. Ta hoàn toàn có điều kiện làm như vậy, và có nhân dân cách mạng đông đảo, ta có ưu thế, có kinh nghiệm. Mỗi chiến trường khác nhau về điều kiện cá mặt, về nhiệm vụ mục tiêu, về khả năng, phải có cách tổ chức và bố trí lực lượng phù hợp, không thể rập khuôn, càng không thể theo ý muốn chủ quan của mình được.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #31 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:24:11 pm »

Bộ chỉ huy Miền luôn xác định rằng chiến trường Miền Đông Nam bộ bao gồm Sài Gòn là chiến trường chủ yếu của B2, là chiến trường quyết chiến chiến chiến lược, quyết định cuộc chiến tranh. Ở đó, ta có khả năng phát huy vai trò to lớn của chủ lực. Địa hình thuận lợi cho tập trung và triển khai chủ lực lớn, triển khai mọi binh khí, kỹ thuật, là nơi ta có khả năng tổ chức bố trí và dự trữ hậu cần, cơ sở đảm bảo vật chất kỹ thuật cho một đội quân lớn, cho những chiến dịch lớn. Chiến trường này có vị trí chiến lược quan trọng, ta có thể uy hiếp địch, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự, diệt sinh lực lớn địch kết hợp đòn tấn công sấm sét với đòn nổi dậy vũ bão đập tan đầu não chiến tranh Mỹ ngụy và cuối cùng quật ngã địch ở đây.

Chiến trường đồng bằng giữ một vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình cuộc chiến tranh, vì cả ta và địch đều dựa vào kho người kho của ở đây để xây dựng và phát triển lực lượng cả quân sự, chính trị và kinh tế, thay đổi tương quan đôi bên. Có lúc nào đó ta đưa lên thành chiến trường chính là với ý nghĩa đó, nhưng chỉ là từng thời gian trong quá trình cuộc chiến, như mùa khô này và mùa mưa 1974, hay trước đây nữa vào những năm 1962, 1963, tuy nhiên nó không phải là chiến trường quyết định cuộc chiến tranh. Vì vậy, mà từ lâu B2 bố trí thế chiến lược, bố trí lực lượng là căn cứ vào vai trò và vị trí của chiến trường, trong một kế hoạch chiến lược tấn công của một cuộc chiến tranh cách mạng thực sự. Nhất thiết không thể làm yếu khối chủ lực Miền Đông mà ngược lại, ngày càng phải tăng cường mạnh lên. Tôi còn nhớ vào năm 1965-1966 khi Mỹ ngụy đưa quân ồ ạt vào Miền Nam, một số đồng chí phụ trách thành phố Sài Gòn đã hỏi trực tiếp tôi: Mỹ đưa quân lớn và các loại vũ khí mạnh vào, chuyển thành chiến tranh cục bộ, vậy ta có nên thay đổi đường lối chiến lược không? Có nên phân tán chủ lực để tiến hành chiến tranh du kích trường kỳ để thắng địch không? Tôi đã trả lời dứt khoát rằng không. Tôi đã tình bày thế bị động chữa cháy của Mỹ, quân nhiều nhưng không mạnh và ta vẫn tấn công, chủ lực ta không những không phân tán đánh du kích mà sẽ còn tổ chức thêm nhiều sư đoàn – lúc ấy mới chỉ tổ chức một sư đoàn ở B2 – rồi lên quân đoàn nữa. Hoàn toàn không có vấn đề thay đổi đường lối chiến lược, không có vấn đề trường kỳ du kích mà thắng địch được. Thế nhưng, tư tưởng này vẫn không dứt hẳn mà còn đấu tranh kéo dài. Đến ngày nay đã qua một chặng đường dài, Mỹ đã phải cút, Ngụy đang hung hăng nhưng là cái hung hăng dãy chết thì vai trò chủ lực Miền Đông càng vô cùng quan trọng. Chúng tôi đã ra sức củng cố mạnh chủ lực Miền Đông và quyết định tăng cường lực lượng cho đồng bằng với nhiều cách khác nhau: Tích cực bổ sung nhiều và nhanh quân số vũ khí đạn dược phương tiện để đẩy mạnh và phát triển cả ba thứ quân tại chỗ; giao nhiệm vụ cho các sư đoàn chủ lực miền gấp rút tổ chức và huấn luyện một số đại đội, tiểu đoàn, binh chủng kỹ thuật để đưa xuống cho quân khu; giao hẳn cho quân khu 9 trung đoàn 1 thuộc sư đoàn chủ lực số 1 của Miền đang hoạt động vùng Bảy Núi – Hà Tiên; tăng cường chỉ đạo sát về kế hoạch, phương thức; chỉ đạo kế hoạch phối hợp hoạt động chặt chẽ giữa các chiến trường, của cả chủ lực, để không cho địch tập trung đánh phá đồng bằng theo ý chúng.

Mùa khô này, B2 cũng đã triển khai công tác bảo vệ, củng cố và mở rộng các hành lang giao thông vận tải nối liền từ căn cứ của Miền ở Miền Đông với căn cứ Đồng Tháp Mười và xuống tận rừng U Minh bằng ba hướng:

- Hướng dọc biên giới với Kampuchia qua Bảy Núi, Hà Tiên, Rạch Giá, Rừng U Minh.

- Hướng Mỹ Tho qua Bến Tre, Vĩnh Trà, Cà Mau.

- Hướng đường thủy theo sông Tiền và sông Hậu.

Đồng thời củng cố nối liền Miền Đông với hậu phương lớn qua đường Trường Sơn 559. Được tổng cục hậu cần đồng ý và giúp dỡ tích cực, Cục hậu cần Miền đã cùng hậu cần của các quân khu khẩn trương xây dựng lực lượng dự trữ vật chất cho Miền và cho các quân khu ngay từ đầu mùa khô này để luôn chủ động với tình thế đang phát triển mạnh.

Số lượng vũ khí khí tài Bộ Tổng tham mưu cấp cho B2 trong năm 1973 đang được tiếp thu và vận chuyển tốt. Nhưng muốn tranh thủ vận tải và dự trữ sẵn cho năm 1974 sớm, chủ động, thì chưa có kế hoạch phân phối của trên; chờ có quyết định thì lỡ thời cơ vận chuyển và chậm, có khi gặp trở ngại bất ngờ, kế hoạch dự trữ có thể bị phá. Tôi đã suy nghĩ vấn đề này từ lúc còn đang dự cuộc họp Bộ chính trị mở rộng trong tháng 5 ở Hà Nội, nhưng không tìm được cách giải quyết. Tôi đến gặp riêng đồng chí Đinh Đức Thiện, chủ nhiệm tổng cục Hậu cần lúc ấy để trao đổi. Đồng chí Thiện là một người thẳng thắn và nhiệt tình, nhiệt tình với bạn bè đồng chí, nhiệt tình với công việc chung. Vóc dáng cao lớn, anh là một con người dám nghĩ dám làm, có tấm lòng cởi mở, tốt bụng để cho người ta gần gũi và đặc biệt là vui tính. Cái vui tính kèm theo một ít “cái tục” dân gian mà cán bộ quân sự Miền Bắc cũng như Miền Nam, cán bộ cách mạng cũ cùng hoạt động trước nay, nam cũng như nữ, đến chiến sĩ ai cũng biết tiếng và có cảm tình. Sau khi tôi trình bày vấn đè, thú thật sự lo lắng của mình chưa có cách nào giải quyết, anh cười xòa nói:

- Có khó khăn gì đâu, một chuyện dễ như vậy mà một người tướng ở chiến trường không nghĩ ra sao?
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #32 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:25:40 pm »

Tôi ngạc nhiên im lặng nhìn anh dò hỏi. Chầm chờ một lúc, với vẻ mặt rất thân thiện anh mới chậm rãi:

- Cứ để tôi làm Tổng tham mưu trưởng một tiếng đồng hồ thôi, tôi sẽ ký ngay cho B2 thêm vài nghìn tấn vũ khí và ký luôn cho các Quân khu khác nữa.

Tôi bật cười biết anh lại đùa. Tôi đùa lại:

- Nếu tôi có quyền lực vô biên, tôi sẽ cho anh làm “Thiên tử” trong 24 tiếng đồng hồ để anh thực hiện mọi ý nguyện mà anh có và cưới một nàng cung nữ đẹp tuyệt trần làm vợ, y như chàng Hat-sân vậy. Nhưng tôi không chịu trách nhiệm nếu anh lại cũng giống như Hat-sân bị bắt vào nhà thương điên và nhận mỗi ngày 50 roi gân bò đây đấy!”(1).

Chúng tôi lại cười với nhau vui vẻ.

Nhưng rồi anh hiến kế:

- “Nếu anh đồng ý, tôi sẽ lịnh xuất kho cho anh mượn trước 2000 tấn vũ khí các loại nằm trong tổng số sẽ phân phối cho B2 năm 1974.”

Tôi rất đỗi vui mừng. Thế là chúng tôi thỏa thuận với nhau vấn đề vay mượn. và anh không quên nhấn mạnh:

- “Sau tôi sẽ trừ vào số được cấp đấy, anh liệu bảo anh em giữ gìn cẩn thận kẻo thiếu rồi đòi nữa thì vào tù cả đám đấy!”

Sau đó còn vấn đề tải. Tôi tin chắc trước rằng anh em có trách nhiệm vận chuyển sẽ sẵn sàng nhận làm những công việc cực nhọc này. Và sự thật đã đúng như vậy.

Đây còn là một mùa khô mà đôi bên đều ra sức giành đất, giành dân – Địch nêu mục tiêu giành kiểm soát các vùng như trước 29-3-1972 – Chúng xem hiệp định Paris như không có – Còn mục tiêu của ta thì giành lại tất cả các vùng như trước 28-1-1973 - Hoàn toàn phù hợp với pháp lý Hiệp định Paris. – Trọng tâm kế hoạch quân khu 9 là trừng trị quân địch lấn chiếm vùng căn cứ U Minh của ta và giành lại các vùng đông dân ở Gò Quao, Giồng Riềng thuộc Rạch Giá, ở Vĩnh Long Trà Vinh, một vùng có tầm chiến lược quan trọng nằm giã hai sông Tiền và sông Hậu. Trọng tâm quân khu 8 là trừng trị bọn lấn chiếm trung tâm căn cứ Đồng Tháp Mười của ta và giành lại vùng đông dân Cái Bè, Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho nằm hai bên đường số 4 chiến lược, xương sống của đồng bằng cũng như các vùng thuộc tỉnh Bến Tre liên hoàn với Vĩnh Long, Trà Vinh của quân khu 9. Còn một nội dung nữa của hoạt động mùa khô này của cả đôi bên là giành của – Ngày 24-8-1973 Thiệu đã triệu tập ở Cần Thơ cái gọi là Hội nghị lúa gạo – Chỉ tiêu của chúng đề ra trong mùa khô này phải cướp cho được một triệu tấn lúa. Ngày 29-9-1973 tướng ngụy Vĩnh Nghi, Tư lệnh vùng 4 chiến thuật chỉ thị cho 16 tỉnh trưởng đồng bằng là đến cuối năm 1973, phải cướp và nộp lên trên 40 vạn tấn gạo (tương dương 1 triệu tấn lúa) – Ta phải kết hợp trừng trị địch với phá cho được kế hoạch cướp lúa này, bảo vệ tài sản cho dân và giành dự trữ cho ta. Không phải chỉ quân khu 8 và 9 làm nhiệm vụ này mà cả quân khu 7 (Miền đông) và quân khu 6 (cực Nam Trung Bộ) cũng phải kết hợp đánh trả và giành vụ mùa để có sự trữ lúa gạo tại chỗ.

Chủ lực Miền trong mùa khô này cũng có nhiệm vụ khá nặng nề. Ngoài việc tranh thủ thời gian ra sức xây dựng, củng cố tổ chức, đặc biệt là binh chủng, tăng cường huấn luyện chiến thuật kỹ thuật, nâng trình độ tác chiến tập trung của binh chủng hợp thành còn phải phân ra tác chiến, hỗ trợ các địa phương. Hai sư đoàn 9 và 7 được bố trí đứng vững ở tuyến trung gian phòng thủ Sài Gòn của địch thuộc hai tỉnh Tây Ninh và Bình Dương phối hợp tác chiến giúp hai tỉnh này trong các nhiệm vụ mùa khô của tỉnh. Nhiệm vụ chủ yếu của hai sư đoàn là uy hiếp tuyến trung gian và tuyến trong cùng (vùng ven Sài Gòn) của địch phòng thủ Sài Gòn, kềm chân các sư đoàn 5, 25, 18, các liên đoàn biệt động của quân đoàn 3 ngụy, không cho rút đi chi viện cho đồng bằng, hay tấn công nơi khác, không cho chúng hoàn chỉnh thế phòng ngự vững chắc thủ đô của chúng.


(1) Chuyện anh chàng say ngủ trong sách “Một nghìn lẻ một đêm”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #33 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:27:02 pm »

Cần nói thêm về âm mưu và hành đông của địch ở khu vực Sài Gòn trong ý đồ chiến lược chung của chúng từ sau khi có hiệp định. Trước năm 1972, Sài Gòn của địch phòng thủ bằng 3 tuyến vững chắc: Tuyến ven đô, tuyến giữa và tuyến ngoài cùng. Với chiến dịch “Nguyễn Huệ” của ta và đợt hoạt động quân sự mùa khô 1972 trong toàn Miền, ta đã đập tan tuyến phòng thủ ngoài cùng, chọc thủng từng đoạn tuyến phòng thủ giữa, chỉ còn lại tuyến ven đô là nguyên vẹn. Như vậy là thế trận phòng ngự Sài Gòn khá mỏng manh, không đáng tin cậy. Sau khi hiệp định Paris đã ký kết, ngụy quyền Sài Gòn, một mặt ra sức càn quét lấn chiếm các vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta, mặt khác củng cố và hoàn chỉnh các vùng kiểm soát của chúng đặc biệt là hết sức chú ý việc củng cố phòng ngự vững chắc thủ đô Sài Gòn, trung tâm đầu não của chúng. Chúng đã mở liên tục các cuộc hành quân lớn nhỏ nhằm diệt cơ sở chính trị, du kích của ta ở ven đô. Đi theo các cuộc càn quét đánh phá đó, chúng dùng xe ủi đấy san bằng vườn tược nhà cửa của nhân dân như vùng Củ Chi, Hóc Môn, vùng Thủ Dầu Một… Dùng lao công đào binh của chúng chặt phá cây cối vùng Lái Thiêu, Thủ Đức, các rừng dừa nước ở Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc. Chúng đóng thêm đồn bót dặt thêm chướng ngại, gài mìn, đào hào chống tăng riêng hướng nội đô. Nơi nào không kiểm soát được, như các căn cứ du kích của ta đã có từ lâu, xung quanh Sài Gòn, gồm Bưng sáu xã ở Thủ Đức, Khu rừng sát Duyên Hải, An Sơn, Lái Thiêu, Tân Mỹ, Bình Lý, Hóc Môn, ba xã Nam Bến Cát mà chúng đã phải gọi là “tam giác sắt” Vườn Thơm, Bà Vụ, Tam Tân, Bình Chánh, vùng Cần Đước, Cần Giuộc, Nhà Bè… thì chúng liên tục dùng phi cơ ném bom và pháo bắn ngày đêm, hủy diệt, tạo thành vùng trắng, cố xóa các khu căn cứ ấy của ta. Kế hoạch trong mùa khô 73-74 của Ngụy là chiếm cho được 60 lõm căn cứ giải phóng của ta ở Miền Đông Nam Bộ đặc biệt là quanh Sài Gòn. Chúng mưu mô hàn lại tuyến phòng thủ giữa bằng cách chiếm lại đường 2 ở Bà Rịa, Vùng Đất Cuốc bắc Tân Uyên, vùng Dầu Tiếng, Long Nguyên, Thủ Dầu Một và vùng Bời Lời Tây Ninh, Hố Bò An Nhơn Tây, Củ Chi. Chúng đã mở cuộc hành quân lớn cỡ sư đoàn đánh vào vùng Long Nguyên, Dầu Tiếng, vùng giải phóng của ta đang làm gián đoạn tuyến phòng thủ giữa của chúng về phía bắc, nhưng bị ta đánh bại, tiêu diệt hàng tiểu đoàn quân ngụy, khiến chúng không thực hiện được ý đồ. Nhưng củng cố thế phòng ngự Sài Gòn là vấn đề sống còn nên chũng vẫn không bỏ kế hoạch lấn chiếm các vùng ta để xây dựng các tuyến phòng thủ của chúng.

Kế hoạch của ta không những là giữ vững các vùng giải phóng, chặn đứng bọn lấn chiếm, tiêu diệt bọn càn quét mà còn phá không cho chúng hoàn thành thế phòng ngự vững chắc Sài Gòn theo kế hoạch dự kiến co cụm chiến lược, buộc lực lượng quân đoàn 3 ngụy phải luôn bị động phòng ngự ở một thế trận không vững chắc và lúc nào cũng lo ngại tuyến phòng thủ Sài Gòn bị chọc thủng. Không những thế mà lực lượng dự bị chiến lược rất ít của chúng cũng không thể rút đi khỏi Sài Gòn để chi viện cho các chiến trường khác. Điều này tạo thêm mâu thuẫn gay gắt cho quân ngụy trong việc thực hiện đường lối chiến lược ngu xuẩn của Thiệu là phải dàn quân giữ tất cả, không để mất một xã ấp nào, buộc chúng luôn bị động về chiến lược, chiến dịch, không có cách nào thoát ra khỏi tình thế hoàn toàn bất lợi đó.

Sư đoàn chủ lực số 5 của Miền trực tiếp hỗ trợ cho đồng bằng bằng cách phản công quân địch lấn chiếm vùng Kiến Tường giáp biên giới Kampuchia và củng cố mở rộng hành lang nối liền Miền Đông và đồng bằng qua hướng Tây tỉnh Tây Ninh – Trong lúc đó một bộ phận nhỏ chủ lực cùng đặc công trừng trị địch ở khu vực Bù Bông, Tuy Đức thuộc tỉnh Quảng Đức kết hợp đảm bảo hành lang nối tiếp với đường Trường Sơn 559 đồng thời cũng là hỗ trợ cho quân dân Quân khu 6 đang bị địch lấn chiếm ở vùng Bình Thuận, Bình Tuy.

Bù Bông là một cứ điểm của địch giáp với biên giới Kampuchia. Quân địch đóng ở đây thường xuyên càn quét bắn phá các làng xã xung quanh, đột kích vào hành lang vận tải của ta và dùng pháo khống chế suốt ngày đêm gây trở ngại không ít cho việc tiếp thu hàng hóa của ta. Để thực hiện việc trừng trị ngay từ điểm xuất phát vi phạm của địch và cũng là mở màn mùa khô 73-73, ta đã dùng trung đoàn 429, một trung đoàn đặc công mạnh được tăng cường bộ phận bộ binh, tiêu diệt cứ điểm này ngày 4-11-1973. Tiếp theo đó ta mở rộng giải phóng vùng xung quanh ngã ba Tuy Đức,  đảm bảo hành lang vận tải của ta thông suốt và an toàn. Đúng như ý định của ta, ngụy phải điều sư đoàn 22 thuộc quân đoàn 2 của chúng cùng với ba chiến đoàn bảo an, một trung đoàn thiết giáp đang lấn chiếm ở vùng ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận lên đối phó, hòng cắt đứt hành lang vận tải của ta. Ta đánh trả lại quyết liệt, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giữ vững các vùng giải phóng và tạo điều kiện cho lực lượng quân khu 6 của ta chống lại địch có kết quả ở tây Phan Thiết. Cũng để thực hiện lời cảnh cáo trừng trị địch ngay từ điểm xuất phát, ta đã dùng pháo thuộc đoàn đặc công 113, ngày 5-6 tháng 11, bắn vào sân bay Biên Hòa, diệt một số phi cơ và cơ sở địch ở sân bay. Từ lâu nay phi cơ địch đã từ đây đi thả bom và bắn phá các vùng giải phóng của ta như Lộc Ninh, Bù Đốp, Lò Gò, Kà Tum và dùng sân bay Rang Rang nằm giữa khu căn cứ của ta (chiến khu A) làm nơi tập ném bom. Ở những nơi đó ta cũng đã bắn hạ tại chỗ 50 máy bay địch từ tháng 10 cho đến tháng 12-73. Bắt đầu từ tháng 11-73 mỗi lần địch dùng phi cơ oanh tạc bắn phá vùng giải phóng của ta là ta bắn pháo hoặc dùng đặc công đánh vào các sân bay của địch. Không những thế ta còn đánh trả đau hơn bằng cách hủy diệt các kho nhiên liệu của địch bất cứ chúng đặt ở đâu. Ngày 2-12-1973 kho xăng Nhà Bè, nơi dự trữ chiến lược lớn nhất của địch ở Miền Nam đã bị đặc công ta thuộc trung đoàn 10 đột nhập cho nổ hàng loạt kho chứa, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu, khói lửa bốc cao hàng trăm mét làm rực sáng cả một góc trời thành phố Sài Gòn. Đây là một chiến công vang dội của đoàn 10 đặc công để chứng tỏ cho địch biết rằng ta nói được và làm được, chúng bây liệu hồn. Thật ra trận đánh này không dễ dàng. Khu kho này nằm ven Sài Gòn, được bao bọc bằng một hệ thống chằng chịt sông rạch sình lầy, từ trước đã bị đánh nhiều lần nên địch đề phòng rất cẩn thận. Chúng đã tăng cường lực lượng, thay đổi cách bố phòng, căng dây chướng ngại, mìn, sử dụng hàng chục chó berger, cả Radar phát hiện… Trước trận đánh tôi đã trực tiếp kiểm tra kế hoạch, mọi chi tiết đã chuẩn bị. Bảy Ước(1) chính ủy Đoàn 10, đã báo cáo: “Đội được phân công đánh có hơn mười anh em cán bộ và chiến sĩ, đã vào nghiên cứu tận bên trong khu kho, đã đi đến từng bồn nhiên liệu. Chúng tôi đảm bảo trận này chắc thắng”.

Truyền thống đặc công là mò đến tận nơi, đánh là phải được. Anh em Đoàn 10 đã thực hiện đúng cam kết quyết tâm.


(1) Thượng tá Lê Bá Ước.
« Sửa lần cuối: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:33:19 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #34 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:33:49 pm »

Bước vào mùa khô này như vậy là ta và địch đều hoạt động sôi nổi trên toàn chiến trường B2. Ta đã hợp đồng khá chặt chẽ giữa các quân khu, giữa địa phương và chủ lực, căng kéo và kềm địch khắp nơi, thu nhiều thắng lợi. Ở vùng đồng bằng Cửu Long, địch đã phải thay đổi vùng trọng tâm hoạt động của chúng. Từ sau hiệp định đến hết mùa mưa 1973, địch lấy vùng Hậu Giang quân khu 9 của ta, tập trung cả sư đoàn 21 và sư đoàn 9, một số biệt động quân và Bảo an, giang thuyền để tiến hành lấn chiếm. Bị đánh trả quyết liệt, địch không thực hiện nổi mục tiêu đã định mà còn bị thiệt hại nặng. Nhưng chúng có đóng thêm một số đồn bót ở một số nơi như Bảy Núi, Hà Tiên, Sông Trẹm ở rừng U Minh, nhưng nhiều nơi khác ta lại giải phóng rộng, kế hoạch lấn chiếm vùng giữa bốn tỉnh bị thất bại hoàn toàn. Bước mà mùa khô, chúng đành phải rút bớt giang thuyền từ Cần Thơ về Cái Lái Miền Đông, điều sư đoàn 9 lên Kiến Tường, một số tiểu đoàn biệt động về quân đoàn 3, chỉ để lại vùng Hậu Giang sư đoàn 21 đã bị suy yếu cùng một số tiểu đoàn biệt động và lực lượng bảo an. an. Chúng tập trung quân hoạt động vùng Tiền Giang thuộc quân khu 8 của ta chủ yếu là lấn chiếm Đồng Tháp Mười và vùng giáp biên giới Kampuchia, đánh chặn hành lang vận tải của ta cho đồng bằng sông Cửu Long và đối phó với sư đoàn 5 của ta. Tập trung quân về đây, chúng cũng có ý định giữ vững vùng Tây Nam Sài Gòn, vùng tiếp giáp rất quan trọng của Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long, làm cho Sài Gòn không bị cô lập, cho ngụy quyền có một cơ sở vững cả về xã hội, chính trị, quân sự, kinh tế. Như vậy là thể hiện rõ ý đồ của Mỹ Thiệu gắn chặt vùng 3 và vùng 4 Chiến Thuật (Nam bộ cũ) trong một thế chiến lược tồn vong của cả Miền Nam Việt Nam của chúng. Củng cố mạnh mọi mặt vùng 3, 4 chiến thuật để từ đó tiến tới có thể tấn công đánh quỵ đối phương, khi cần thì về co cụm phòng ngự ở đó mà tồn tại. Nhưng tính toán thì như vậy mà thực hiện thì nửa vời, thiếu dũng khí, bằng một chiến lược tham lam và mù quáng ;”Bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ cho được tất cả không để mất một xã, ấp nào vào tay “Việt cộng”. Thông thường là như vậy, những kẻ thiếu kinh nghiệm thực tế, thiếu dũng cảm táo bạo, hay nghĩ một đàng mà làm một nẻo, vừa làm vừa run đi đến mụ mẫm ngay trong suy nghĩ của mình.

Bắt đầu từ mùa khô 73-74, toàn bộ ý định chiến lược của Bộ chỉ huy B2 có thể tóm tắt gọn là: Áp chặt Sài Gòn, kẹp cổ kẻ địch, bắt chúng phải bị động phòng ngự thủ đô – trung tâm đầu não – để ta chủ động trừng trị chúng vi phạm hiệp định có hiệu quả. Mở rộng phía sau và các vùng đông dân, mở hành lang thông suốt dự trữ vật chất kỹ thuật. Tạo thế tạo lực, thay đổi tương quan lực lượng mọi mặt có lợi cho ta. Ta bố trí các sư đoàn 9 và 7, các lực lượng đặc công, biệt động (tôi sẽ nói ở dưới) quanh và sát Sài Gòn ngay trong nọi đô cùng với lực lượng địa phương, du kích, lực lượng quần chúng nhân dân đấu tranh và trừng trị địch là để vây hãm Sài Gòn không cho địch tự do cựa quậy. ta bố trí sư đoàn 5 cùng đặc công ở Kiến Tường là để thu hút địch về phía này không cho chúng tập trung đánh phá vùng Hậu Giang đông dân nhiều của. ta mở hành lang Bù Bông, Tuy Đức, nối thông với đường 559, hành lang phía tây Tây Ninh nối thông Miền Đông và đồng bằng sông Cửu Long và cá đường khác nữa để vận tải tích trữ hậu cần cho các chiến trường ở thời điểm chiến lược quan trọng này.

Ta mở rộng các vùng phía sau để các căn cứ và vùng giải phóng ta liên hoàn hỗ trợ lẫn nhau, thành thế vững chắc, trong lúc đó ở phía trước, ta tích cực phát triển lực lượng du kích, bộ đội địa phương và quần chúng có tổ chức.

Rút kinh nghiệm về cách đánh của ta vào Sài Gòn và cách đối phó của địch hồi tết Mậu Thân, chúng tôi nghiên cứu sẵn sàng một kế hoạch tổng tấn công và nổi dậy nếu nó xảy ra. Bởi vì như trên tôi đã nói, Mỹ ngụy ngoan cố phá hiệp định Paris, không chịu ngừng bắn và hành quân đánh ta với quy mô ngày càng lớn thì tất nhiên chiến tranh vẫn tiếp tục và phát triển, và chỉ có thể chấm dứt bằng một bên thắng. Trong thương lượng bằng con đường ngoại giao, căn cứ vào sức lực của nhau, hai bên cần có sự nhân nhượng hiểu biết. Nhưng trong chiến tranh do dự không sẵn sàng là chết. Địch cũng đã dự kiến tiêu diệt ta hoàn toàn vào năm 1976 và 1977. Ta phải chuẩn bị sẵn cho một cuộc tổng tấn công và nổi dậy giành toàn thắng về ta. Năm 1968, ta đã căn cứ vào tình hình và địa hình, các mục tiêu chủ chốt trong nội đô địch mà vạch ra 5 mũi tấn công và bố trí lực lượng mọi mặt của ta theo 5 mũi ấy. Ta đã dùng cách hợp đồng tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng trong ngoài cùng đánh, với bên trong là lực lượng quần chúng cách mạng cộng với biệt động và đặc công, tiếp theo đó là lực lượng mũi nhọn và địa phương, rồi ngoài cùng là lực lượng chủ lực. Một cuộc tập dượt thực tế và quy mô Tết Mậu Thân đã thu được thắng lợi lớn. nhưng chưa đứt điểm vì tình thế và tương quan chưa cho phép thôi. Ngày nay các mục tiêu của địch khôngthay đổi nhiều, cái thay đổi cơ bản là tình thế và tương quan lực lượng đôi bên. Dự đoán tình hình, dự kiến về chiến lược bao giờ cũng phải sớm, có sớm thì mới kịp thời triển khai trước một số việc cụ thể của kế hoạch chiến lược có thể, mà những sự việc triển khai đó đòi hỏi thời gian, không thể đợi đến lúc quá rõ, sinh ra hấp tấp, không kịp chuẩn bị thậm chí để lỡ mất thời cơ. Năm 1972 vì thiếu dự kiến không chuẩn bị trước nên ta thắng ở Quảng Trị, địch hầu như bỏ ngỏ Huế mà ta không tận dụng được thời cơ thuận lợi ấy. Tất nhiên ngoài thiếu dự kiến, thiếu chuẩn bị trước còn có thiếu nhạy bén linh hoạt và táo bạo lợi dụng thời cơ lúc ấy. Người chỉ đạo chỉ huy về chiến lược đòi hỏi phải suy rộng nghĩ sâu, phải lo xa, biết dự đoán tình hình trước và dự kiến bước đi sớm; bằng công việc của mình mà tạo điều kiện chắc thắng cho người dưới; bằng năng động tính của mình mà thúc đẩy và dẫn dắt tình hình theo chiều hướng giành thắng lợi về ta; bằng quả cảm, kịp thời hành động khi có thời cơ xuất hiện.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #35 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:35:08 pm »

Ngay từ tháng 9-1973, bộ tham mưu Miền đã cùng lực lượng tình báo chiến lược của B2 bố trí từ trước ngay trong các cơ quan đầu não của Ngụy cũng như của Mỹ, kiểm tra lại các mục tiêu địch mà ta phải xử trí và luôn luôn nắm tình hình hàng ngày, nắm các kế hoạch và mệnh lệnh của địch. Cần nói rõ là trong chiến tranh, chiến trường bao gồm các vùng rừng núi, đồng bằng và đô thị rộng rãi trong đó có Thủ đô Sài Gòn của địch là một chiến trường hoàn chỉnh, cũng là một chiến trường bao gồm lực lượng địch đông nhất có nhiều mục tiêu chiến lược và chiến dịch quan trọng, mọi diễn biến ở đây đểu ảnh hưởng đến toàn bộ nên cấp trên cho phép bộ chỉ huy Miền (B2) được tổ chức và chỉ đạo bộ phận tình báo chiến lược quan trọng thiết thân nhất cho mình đồng thời phục vụ cho trên. Bộ phận tình báo này đã giúp chúng tôi nắm được nhiều kế hoạch; âm mưu của Mỹ ngụy, đã lấy được của địch một số nguyên bản có giá trị nên chúng tôi đã kịp thời phán đoán tình hình và đối phó có kết quả. Các tình báo viên của ta – trừ một số bị hư hỏng không tránh khỏi – với bản chất cách mạng trung kiên, có nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng và nhiều đồng chí lập được công trạng, nhiều người đã trở thành anh hùng lực lượng vũ trang. Căn cứ vào kế hoạch dự kiến tổ chức và bố trí lực lượng của bộ tham mưu Miền đã được duyệt, tôi đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí Ba Trần, rút đoàn 367 – đoàn đặc công và biệt động của ta đặc biệt phụ trách ở chiến trường Phnom Pênh Kampuchia để giúp bạn từ trước mà nay không cần giữ nhiều – để kiện toàn cho Sài Gòn. Ta đã tổ chức bố trí hoàn chỉnh theo mục tiêu và theo hướng các đoàn biệt động và đặc công ta từ nội đô ra vùng ven. Ở B2 lúc đó chấn chỉnh tổ chức thành một Bộ chỉ huy binh chủng đặc công gọi là đoàn 27 do đồng chí Đặng Ngọc Sĩ, tự Phong là tư lệnh, trực thuộc bộ chỉ huy Miền – Sĩ là một cán bộ có sức khỏe lực lưỡng trực tính, sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chân lý mà không sợ nguy hại cho riêng mình, một đức tính đáng quí, nhất là lúc xã hội có những hiện tượng không lành mạnh. Bản thân Sĩ là một cán bộ đặc công trưởng thành trong chiến đấu, bình tĩnh, kiên quyết, nói ít làm nhiều, đã làm là quyết làm cho được. Đến ngày 30-11-9173, tôi kiểm tra đoàn 27 thì đoàn đã có trên 6000 cán bộ và chiến sĩ đã được rèn luyện và chiến đấu. Trừ cơ quan và các cơ sở ra, đoàn gồm các lực lượng trực tiếp chiến đấu đã được bố trí ở các địa bàn vùng ven, Bắc Sài Gòn có đoàn đặc công 115 và 119; đông Sài Gòn có đoàn 116 ở Long Thành, đoàn 10 ở Rừng sát; tây Sài gòn có đoàn 117, phụ trách Biên Hòa có đoàn 113. Đang thành lập thêm đoàn phía nam Sài Gòn. Đoàn 27 còn trực tiếp nắm trung đoàn đặc công tập trung đã từng lập nhiều chiến công, đó là trung đoàn 429. Về biệt động nội thành thì tổ chức thành Đoàn 316 do đồng chí Nguyễn Thanh Tùng (tức Mười Cơ) chỉ huy, tổ chức thành nhiều Z, mỗi Z phụ trách một số mục tiêu quan trọng. Đặc công và biệt động được bố trí theo hướng và mục tiêu nhất định, cón hiệm vụ liên tục củng cố tổ chức, huấn luyện kỹ năng chiến đấu và điều tra nắm chắc các mục tiêu được phân công tiêu diệt, hoàn chỉnh phương án tác chiến và rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trên thực tế địa hình và mục tiêu của mình phụ trách. Anh em còn phải gây dựng cơ sở chính trị làm chỗ dựa cho mình. Ngày 15-12-1973 đồng chí Đạo, chính ủy BTL binh chủng đặc công của Bộ Tổng tư lệnh vào kiểm tra tình hình đặc công B2 đã phát biểu; “Đặc công B2 được phát triển và trưởng thành đã tham gia chiến đấu và chiến dịch có kết quả tốt và hiện nay đã được xác định nhiệm vụ và xây dựng bố trí theo thế chiến lược mới. Là vì một mặt nhờ sự chỉ đạo của Bộ Tư Lệnh Miền rõ, có ý đồ chiến lược sớm, có phương châm phương thức cụ thể. Về mặt khác anh em có truyền thống và kinh nghiệm chiến đấu từ lâu”. Đồng chí cũng đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho việc tổ chức và huấn luyện đặc công B2.

Trong mùa khô 1973-1974 này còn một vấn đề không kém phần gay cấn cho chúng tôi, đó là vấn đề giữ vững vùng giải phóng Lộc Ninh, căn cứ của Miền. Lâu này địch thường xuyên uy hiếp đánh phá vùng này bằng không quân, quyết không để cho vùng căn cứ của ta được ổn định, bất chấp cái giá nhiều phi cơ bị lực lượng phòng không của ta hạ tại chỗ. Quân đoàn 3 Ngụy đã có kế hoạch dùng lực lượng mạnh đánh chiếm Lộc Ninh chỉ còn chờ thời cơ và lệnh của chỉ huy tối cao của chúng và của quan thầy Mỹ. Biết thế, ta cũng phải sẵn sàng kế hoạch ngăn chặn, đánh bại chúng để giữ vững vùng căn cứ của ta. Vấn đề đặt ra là ta dùng lực lượng nào, bao nhiêu và đánh cách nào: phòng ngự, phản công, tấn công, đánh nhỏ hay đánh lớn. Lúc nào thì địch có thể đánh? Ta bố trí sẵn lực lượng chờ giáng cho chúng một đòn sấm xét chăng? Thế thì, đợt trong bao lâu? Ta có kẹt lực lượng có hạn của ta trong thế bị động không? Một loạt vấn đề cần phải suy nghĩ kỹ để có quyết tâm đúng trong tình hình mà chiến trường đang sôi động.

Quân ủy Trung ương đã điện cho chúng tôi nêu rõ Lộc Ninh có tầm quan trọng không những về quân sự mà còn có ý nghĩa lớn về chính trị trong tình hình hiện nay. Vì vậy địch luôn có âm mưu đánh chiếm. Bằng bất cứ giá nào ta phải giữ cho được, không được để mất, cần điều ngay một sư đoàn chủ lực về, có kế hoạch sẵn sàng phản công, tiêu diệt quân lấn chiếm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #36 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:36:49 pm »

Chấp hành lệnh của Quân ủy Trung ương chúng tôi lập tức triệu tập cán bộ Tham mưu, chính trị, Hậu cần nghiên cứu kế hoạch giữ Lộc Ninh. Cuộc thảo luận khá sôi nổi. Mọi người đều nhận thức được tầm quan trọng phải giữ vững căn cứ này như Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ, nó còn là danh dự và uy tín của Quân giải phóng chúng ta.

Chúng tôi đã nhận định tình hình tổng quát của B2, của toàn Miền, kiểm điểm lực lượng của địch và phán đoán cách đánh của chúng. Địch có thể dùng lực lượng nào? Quy mô cuộc tấn công, các điểm xuất phát và mọi khả năng khác của chúng? Chúng tôi biết rằng muốn đánh chiếm Lộc Ninh địch sẽ dùng chủ yếu là lực lượng quân đoàn 3 trong đó nòng cốt là sư đoàn 5 ngụy được tăng cường một bộ phận của sư đàon 25, sư đoàn 18, một số biệt động quân, liên đoàn 84 dù, lực lượng tổng dự bị của chúng lúc đó. Chắc chắn chúng sẽ dùng Lai Khê, căn cứ của sư đoàn 5 Ngụy làm điểm xuất phát và hướng chính là đường 13, qua Bình Long, một thị xã đã bị tàn phá nặng nề. Nhưng các sư đoàn 5, 25, 18 còn phải lo phòng thủ Sài Gòn, lo hoàn chỉnh các tuyến phòng ngự mà hiện nay đang bị rách nát. Đặc biệt là sư đoàn 5 Ngụy phụ trách phòng thủ phía Bắc Sài Gòn là hướng rất quan trọng, đối diện với lực lượng lớn, với vùng giải phóng của ta, càng khó mà tự do hành động. Chúng cũng thừa biết rằng đánh chiếm Lộc Ninh không phải là chuyện dễ dàng cho chúng, và không thể chỉ dùng 1, 2 sư đoàn mà dủ. Kinh nghiệm đụng độ từ nhiều năm nay ở chiến trường Miền Đông Nam Bộ này, ngay khi còn quân Mỹ ở đây, nào sư đoàn bộ binh số 1 “anh cả đỏ” sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” sư đoàn hiện đại nhất là sư đoàn kỵ binh bay số 1… mà quân ngụy đã từng đi theo điếu đóm, vậy mà cũng không tránh khỏi bị nếm mùi thất bại. Điều thêm lực lượng ở các vùng chiến thuật 1, 2, 4 về ư? Rất khó và không nhiều, vì để thực hiện cái kiểu chiến lược “không để mất một ấp xã nào”, vì còn phải lấn chiếm và làm chủ hoàn toàn Miền Nam Việt Nam như tham vọng của chúng thì còn lấy đâu ra quân mà tập trung và một điểm. Như vậy muốn đánh Lộc Ninh, chúng phải có kế hoạch chu đáo, tính toán rất kỹ, dùng nhiều lực lượng và chỉ huy phải giỏi – một điều mà bản thân chúng còn hoài nghi. Thế thì về phần ta nên như thế nào? Chúng tôi đã đi đến quyết tâm là bằng kế hoạch hoàn toàn chủ động buộc địch phải lo phòng giữ Sài Gòn, trói chân buộc tay chúng lại, không cho chúng tự do rút lực lượng đi xa Sài Gòn lên tấn công Lộc Ninh. Như vậy ta sẽ không rút bất cứ sư đoàn nào về giữ Lộc Ninh mà ngược lại ép sát Sài Gòn, sẵn sàng thọc vào tìm chúng nếu chúng phiêu lưu đi đánh người. Còn ở Lộc Ninh chúng tôi tổ chức một mặt trận bao gồm du kích địa phương, du kích cơ quan, kết hợp với các lực lượng phòng không cơ giới của Miền đang đứng tại đây và một trung đoàn chủ lực vừa mới kiện toàn, trung đoàn 201, để làm nòng cốt. Lực lượng này sẽ là “Thiên la địa võng” tiêu hao, ngăn chặn chúng khắp nơi nào chúng đến, ngay từ rìa căn cứ. Trong lúc đó các sư đoàn chủ lực của ta, nếu cần, sẽ ung dung tập trung về nơi tập kết đã định sẵn và giáng đòn sấm sét tiêu diệt tập đoàn quân ngụy nào mà ta chọn. Đó là kinh nghiệm quý báu của chiến dịch phản công lại chiến dịch Junction City của Mỹ ở Bắc Tây Ninh năm 1967 – Westmoreland đã bị đòn đau trong chiến dịch này và tiếp theo đòn Mậu Thân choáng váng, đành phải ôm hận tiêu tan quân nghiệp của mình mà đã có thời được mệnh danh là “vị tướng tài giỏi nhất nước Mỹ”. Như vậy là chúng tôi đã chấp hành mệnh lệnh của Trung ương một cách sáng tạo, hoàn toàn phù hợp với tình hình B2 lúc đó. Chúng tôi đã ép địch, buộc chúng phải phòng ngự Sài Gòn và đã giáng cho địch một đòn chí tử, chấm dứt cuối cùng mọi âm mưu củng cố hoàn chỉnh vững chắc tuyến phòng ngự Sài Gòn và âm mưu tập trung lực lượng đánh chiếm Lộc Ninh.

Đó là vào tháng 5-74, khi mà quân đoàn 3 ngụy lăm le đánh chiếm An Nhơn Tây để nối liền qua Bến Cát theo đường 7 ngang từ Thái Mỹ - Gò Nổi (Trảng Bàng) – tỉnh lộ 15 An Nhơn Tây qua Rạch Bắp – Bến Cát. Dự kiến kế hoạch của chúng là lấy đồn Rạch Bắp làm thành một đầu cầu kiên cố trên bờ phía đông sông Đồng Nai nối với một đồn sẽ đóng trên tỉnh lộ 15 An Nhơn Tây làm đầu cầu bên bờ Tây sông Sài Gòn nối ra đường 7, Gò Nổi, Trảng Bàng. Như vậy chúng sẽ tạo được một tuyến giữa, có lùi một ít so với cũ, nhưng hoàn chỉnh thành một tuyến phòng ngự liên tiếp Bắc Sài Gòn một cách vững chắc. Hoàn chỉnh kế hoạch này, lực lượng quân đoàn 3 sẽ tương đối rảnh, có điều kiện tập trung đánh chiếm Lộc Ninh hay một nơi nào khác. Để thực hiện kế hoạch, trong tháng 3, 4, chúng đã tăng cường một số tiểu đoàn biệt động quân, các chi đoàn thiết giáp cho sư đoàn 25 từ Đồng Dù đánh lên Trung lập theo đường số 2 Củ Chi, Trảng Bàng và Gò Nổi trên đường số 7, đóng đồn bót lấn dần ra vùng giải phóng của ta, đi đôi với phát quang địa hình. Chúng dùng lực lượng đồn trú ở Jinet và Rạch Bắp đánh lên phía Bắc về hướng Bưng Công để phối hợp hỗ trợ cho nhau. Nắm được kế hoạch của địch, ta kiên quyết đánh trả chống lại lấn chiếm và phá âm mưu hoàn chỉnh tuyến phòng ngự theo đường 7 ngang đông tây sông Sài Gòn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #37 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:40:23 pm »

Ở Tây sông, trung đoàn chủ lực độc lập 16 trực thuộc bộ chỉ huy Miền cùng với tiểu đoàn quyết thắng của quân khu Sài Gòn, lực lượng địa phương và du kích Củ Chi đánh trả quyết liệt sư đoàn 25 Ngụy, giữ vững vùng giải phóng An Nhơn tây đông sông. Vào giữa tháng 5 sư đoàn 9 của ta đang đứng ở Long Nguyên Bến Cát, đã trừng trị đích đáng lực lượng địch ở Jinet, tiêu diệt đồn này, làm cho đồn Rạch Bắp bị cô lập hoảng hốt rút chạy. Ta giải phóng đoạn đường số 7, đông sông, từ Rạch Bắp đến Kiến Điền và uy hiếp trực tiếp Bến Cát. Trong lúc đó, sư đoàn 7 phối hợp với sư đoàn 9, đã đánh thiệt hại nặng căn cứ Phước Hòa trên đường 16 đi Tân Uyên, diệt một số sinh lực và thiết giáp địch, bức rút một số đồn bót lấn chiếm trái phép. Như vậy là địch không thực hiện được kế hoạch của chúng, không lấn chiếm nổi An Nhơn Tây để thông ra sát sông Sài Gòn về phía Tây. Còn bên đông sông, ta lại mở ra một đoạn dài 10km đẩy lùi địch xa sông thêm và nối liền căn cứ Long Nguyên của ta từ bắc lộ 7 với căn cứ An Thành, tức 3 xã phía nam đường 7 của Huyện Bến Cát, khu tam giác sắt nổi tiếng. Cửa ngõ phía bắc Sài Gòn không khép kín được mà lại bị mở rộng ra, tuyến phòng ngự không liên hoàn, lại tiếp tục bị chọc thủng. Địch đã lồng lộn phản ứng lại sự kiện này. Chúng đã tập trung về đây phần lớn lực lượng toàn quân đoàn 3, tất cả lữ 3 thiết giáp, số lớn phi cơ và pháo binh chi viện, thực hiện liên tụ kế hoạch tấn công phản kích hàng tháng trời nhưng đều bị đánh bại. Địch tập trung được như vậy một phần cũng do sự hoạt động kém của sư đoàn 7 của ta từ hướng Phước Hòa Tân Uyên, không đủ sức thu hút phân tán địch, để đỡ nhẹ cho sư đoàn 9. Nhưng vùng ta đã giải phóng ở đây vẫn được giữ vững. Thế là từ tháng 5 đến tháng 6, chỉ một sư đoàn 9 của ta đã đối đầu có hiệu lực với lực lượng gần như toàn bộ quân đoàn 3 địch một cách vô cùng quyết liệt và anh dũng, mưu trí, đã đứng vững ở đây, giữ vững vùng giải phóng, gây thiệt hại nặng nề cho địch, không cho phép địch xây dựng tuyến phòng thủ vững chắc Sài Gòn, tạo cho ta một lợi thế chiến lược lớn. Khu vực này đến mùa Xuân 1975, chỉ 9 tháng sau đó, được mở rộng thêm về phía sau, đã trở thành tuyến xuất phát tấn công của một mũi quan trọng của ta trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Sư đoàn 9 của ta có bị tiêu hao vì phải tác chiến dai đẳng gần hai tháng với lực lượng địch đông gấp 3 lần, nhưng giá trị chiến dịch chiến lược đạt được của những trận đánh này cũng như ý nghĩa chính trị của nó tác động vào tinh thần quân ngụy và tâm lý nhân dân Sài Gòn là rất lớn. Frank Snepp một chuyên gia của CIA thường trú ở Việt Nam giữ trách nhiệm nghiên cứu, phân tích về chiến lược và thảo các bản “đánh giá tại trận” của ngành CIA nhằm phục vụ việc vạch ra đường lối của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và của cả Oa-sinh-tơn, đã viết về chiến cuộc mùa hè năm 1974 có liên quan đến trận đánh này như sau: “Tuy quân Bắc Việt Nam mới đánh thăm dò vào hướng Bắc và Đông Bắc của Sài Gòn và vừa rồi cũng bị trừng trị lại, nhưng sư đoàn 5 và 18 quân Nam Việt Nam cũng bị thương vọng nặng, nhất là ở vùng “Tam giác sắt” và hiện nay thì kiệt sức và không thể chiến đấu được nữa”(1). Lúc đó có một số ý kiến chỉ trích chiến trận này, cho rằng không cần thiết chịu sự tiêu hao như vậy, rằng chọn hướng này mà đánh là sai. Thực sự đó là vì không hiểu hết ý nghĩa phá thể phòng thủ co cụm Sài Gòn của địch trong một giai đoạn chiến lược cuối cùng, ý nghĩa bắt địch bị động phòng ngự, cột chặt tay chân địch, để ta tự do hành động trên chiến trường chủ chốt ở thời kỳ quyết định này. Trong chiến tranh, làm được như vậy là cả một cuộc đấu tranh kiên cường, đòi hỏi nghị lực mưu trí vầ dũng cảm. Nhất là lúc mà tương quan lực lượng đôi bên chưa phải là đã chênh lệch nhiều; tuy ta phải mạnh mới làm được. Còn khi sức mạnh ta đã áp đảo đối phương trong một tình hình đã rõ như ban ngày thì nói làm gì. Và đây là một sự bắt mạch quan trọng để hiểu địch hơn nữa về nhiều mặt thực tế tại chiến trường có tầm chiến lược này, sức lực và khả năng địch đến đâu, hành động chúng thế nào.

Sự đánh giá về trận đánh khác nhau biểu lộ sự đánh giá về thời kỳ chiến lược, cũng như về tác dụng từ khu vực chiến trường khác nhau mà thôi. Nhưng người tư lệnh chiến trường buộc phải hiểu một cách cụ thể thực tế thế và lực của ta và địch, phải biết tìm mọi cách đẩy địch vào thế bất lợi và dành cho ta thế có lợi, phải sớm đánh giá từng thời kỳ chiến lược một cách đúng đắn và biết phải làm gì để sớm chuẩn bị cho trận quyết chiến thành công của chiến trường mình, nhất là chiến trường ấy có vai trò kết thúc cuộc chiến tranh. Về chiến lược không giống như chiến thuật, chờ đến giờ chót để mở đột phá khẩu.

Tháng 6-1974 Bộ chỉ huy Miền đã kiểm điểm tình hình mọi mặt của B2 qua một mùa khô thử thách, thử thách về sức mạnh của đôi bên ta, địch thực tế chiến chiến trường, thử thách về ý chí và hiệu quả hành động thực hiện kế hoạch mà cả hai bên đều đã vạch ra sớm từ mùa mưa 1973 và đều cùng nỗ lực giành thắng lợi về mình. Từng cơn mưa đầu mùa đổ xuống như trút nước, báo hiệu một mùa mưa tầm tã như bình thường mọi năm ở B2. Cái nóng bức của trưa hè mệt mỏi đã nhường chỗ cho không khí mát mẻ dễ chịu. Rừng xanh đó đây đã điểm vàng bởi những chùm gùi chín rộ. Chiến sĩ Miền Đông còn lạ gì với những trái gùi ngon lành chua chua ngọt ngọt này. Trong lúc thiếu thốn mọi về, thịt cá hiếm hoi, nó là thực phẩm quí của bộ đội chủ lực đấy. Ngon sao những nồi canh rau rừng nấu với những trái gùi chín mộng thành một loại canh chua ngọt mát dạ mát lòng. Trong những cuộc hành quân vào trưa hè nóng bức, mang vác nặng nhọc, anh hãy uống một ly nhỏ nước gùi trong lúc dừng chân 10 phút, anh sẽ có sức đi tiếp tới đích một cách khoan khoái lạ lùng. Vào cuộc họp kiểm điểm tình hình này, mọi người cùng được nếm nước gùi khoan khoái, nhưng cái khoan khoái nhất là kết quả rực rỡ của hoạt động mùa khô của ta trên toàn chiến trường, trong lúc kẻ địch đang bước vào ngưỡng cửa của một thời kỳ thất bại cơ bản. Địch đã hoàn toàn phá sản kế hoạch điên rồ của chúng là lấn chiếm lại các vùng từ trước 29-3-72, một kế hoạch tham vọng quá đáng, không coi đối phương ra gì, lại biểu lộ rõ nét nhất sự chà đạp lên hiệp định Paris. Chúng đã thất bại trong kế hoạch bình định các vùng đông dân, vùng chúng kiểm soát không những không ổn định mà còn bị co hẹp lại. Chúng không cướp được của dân số lúa dự định và cũng không mảy may phong tỏa được kinh tế của đối phương. Trừ căn cứ Đồng Tháp Mười của Quân khu 8 chúng đã lấn chiếm và đóng được 9 đồn bót lớn nhỏ, tất cả các căn cứ khác của đối phương, chúng không đánh được mà cũng không phá được thế ổn định. 60 lõm căn cứ của “Việt cộng” ở Miền đông và bao quanh Sài Gòn vẫn còn nguyên vẹn tuy chúng có gây khó khăn từng lúc. Ngược lại các tuyến phòng ngự thủ đô của chúng đã không được hàn gắn lại mà còn bị chọc thủng thêm cả về phía Bắc (đường 7 Rạch Bắp Bến Cát) cả về phía đông (đường 2 Bà Rịa) khiến cho thế phòng ngự càng sơ hở bấp bênh. Chúng không hề giành được chủ động trên chiến trường, mặc dù là chiến trường mà Thiệu đã đánh giá với các Tư lệnh Vùng của y là thế “mất còn của cả Miền Nam” tức là vùng 3 và vùng 4 chiến thuật của chúng. Không những vậy chúng còn sa vào thế bị động phòng ngự, lực lượng bị co kéo khắp nơi. Muốn lấn chiếm bình định vùng Bình Thuận, Ninh Thuận đông dân ven biển thì bị thu hút và thiệt hại trên rừng núi Quảng Đức. Muốn mở rộng kiểm soát và cướp lúa vùng giàu có Hậu Giang thì bị đối phương điều lên và kèm chân ở Kiến Tường biên giới với Kampuchia. Quân đoàn 3 sợ bị hở sườn phía tây, phải điều lực lượng đến 6 chiến đoàn đặc nhiệm đánh phá vùng Quéo Ba, Đức Huệ nên đành phải để mất trở lại đường 2 Bà Rịa làm tuyến phòng thủ giữa của Sài Gòn ở đây bị bể, mà hai vùng căn cứ bắc nam đường 2 của đối phương được nối liền. Đã không tập trung được lực lượng đánh chiếm căn cứ Lộc Ninh nổi tiếng của đối phương mà còn bị lủng củng và phòng giữ trung tâm đầu não(!). Tất cả các quân đoàn của địch, từ lúc ấy chỉ còn có thể có khả năng tập trung lực lượng ở một hướng nào đó nếu các hướng khác không bị đánh. Lực lượng dự bị chiến lược của chúng quá ít, lúc đó chỉ có lữ 81 biệt kích dù. Các sư đoàn dù và thủy quân lục chiến đã chôn chân ở Trị Thiên xem như không có gì để Bộ Tổng tham mưu (địch), đúng hơn là để cho Nguyễn Văn Thiệu chuyên quyền tác động đến tình hình của cả một vùng chiến thuật nào đó khi cần thiết, còn thì quyền hành của cả Bộ tổng tham mưu chỉ để mà nhìn sự thất bại lần lượt kéo đến một cách thảm hại. Đây là kết quả của một chủ trương chiến lược ngu xuẩn không đánh giá đúng được mạnh yếu của đôi bên, tham lam muốn giữ từng xã, ấp, từng đồn bót, không để cho “Việt cộng” một tấc đất nào, rải quân mỏng ra khắp chốn, đến nỗi không còn lực lượng dự bị cơ động.



Mùa gùi chín (Ảnh tác giả)


(1) Trích sách “khoảng cách thời gian vừa đủ” (Decent Interval) của Frank Snepp do nhà xuất bản Random House-New york – Toronto xuất bản 11-1977.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #38 vào lúc: 29 Tháng Mười Một, 2018, 10:41:27 pm »

Tình trạng này của địch, kéo dài cho đến ngày kết thúc chiến tranh, làm cho lực lượng địch đông gấp 3, 4 lần lực lượng ta, mà đành bị tiêu diệt từng bộ phận, đi đến bị tiêu diệt hoàn toàn.

Từ tháng 5, địch cũng đã thấy phần nào thiếu lực lượng dự bị chiến lược, chúng đã quyết định rút sư đoàn dù ở quân đoàn 1 về làm tổng trù bị, nhưng khi thực hiện, chúng cũng chỉ có thể lần lượt rút từng lữ đoàn về Sài Gòn một cách chậm chạp kéo dài. Ngay trong mùa khô này, không phải chưa xuất hiện những sự kiện để cho địch đánh giá được khả năng của chúng đến đâu và đường lối chiến lược của chúng sai lầm đến mức nào. Suốt cả mùa khô, đặc biệt là vào những tháng cuối, lực lượng vùng 4 chiến thuật của chúng, vùng đồng bằng Cửu Long bị thu hút đại bộ phận lên Mỹ Tho và biên giới Kiến Tường – Kampuchia, thì ở Hậu Giang, sư đoàn 21 phải phân tán từng tiểu đoàn vẫn không giữ được tinh thần bọn bảo an và dân vệ. Nhiều đồn bót phải rút chạy, nhiều xã, ấp bị mất. Tư lệnh vùng 4 buộc phải chủ động rút bỏ một số đồn bót nhỏ cỡ tiểu đội và trung đội để tăng cường cho các đồn bót quan trọng hơn, cỡ đại đội trở lên và để đôn quân bù số tiêu hao thiệt hại. Đấy, chỉ khi nào không làm sao được, có nguy cơ cấp bách bị diệt chúng mới chịu bỏ từng đồn bót, từng xã ấp, và bắt đầu “công việc ấy” từ mùa khô 1974 này ở Đồng bằng Sông Cửu Long… đến phải bỏ cả vùng Tây Nguyên và mùa 1975 là như vậy đó.

Chiều hướng sự thất bại của Mỹ ngụy, và thắng lợi của chúng ta trong cuộc chiến tranh đã xuất hiện từ mùa khô 1973 – 1974 cho đến lúc thất bại hoàn toàn là bắt nguồn từ một chiến lược chung sai lầm từ đầu của Mỹ, ngụy, tức là chiến lược phòng ngự trên toàn bộ đất nước, dàn mỏng quân ra giữ không để cho “Việt cộng” một tấc đất nào theo đường lối “bốn không” của Thiệu.

Còn về cái quân đội rường cột của chế độ bán nước thì thế nào? Mặc dù Mỹ đã ra sức tăng cường xây dựng và trang bị hòng để thay thế được cho quân Mỹ, chất lượng chiến đấu và số lượng của quân đội ngụy vẫn tiếp tục giảm sút. Nếu sau hiệp định Paris chúng ồ ạt bắt lính, tăng nhanh được quân số cả cho chủ lực và bảo an thì bắt đầu từ tháng 6, 7 trở đi quân số ngày càng tut. Chúng đã thừa nhận từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1974 số quân bị mất trong chiến đấu và đào rã ngũ lên đến trên 10 vạn, đổ đồng mỗi tháng mất trên 2 vạn. trong lúc đó số thanh niên chúng bắt được để bổ sung chỉ trên một vạn mỗi tháng. Quân đoàn 4 của chúng là nơi thiếu hụt quân số cao nhất, mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 200 quân, có đơn vị chỉ còn 150-180 tên mà không thể nào bổ sung nổi. Tỷ lệ hư hỏng về trang bị lên cao. Trong số trên 1.800 phi cơ các loại, chúng chỉ sử dụng được khoảng 1.000. Số trên 100 máy bay F5 chúng sử dụng được dưới 1/2. Chúng đã buộc phải đề ra những biện pháp gắt gao như kiểm tra quân số, chống nạn lính ma, lính kiểng. Chỉnh biên cơ quan tổng tham mưu, giảm 20% quân số, giải tán các đơn vị không cần thiết, các đơn vị tạp dịch khác. Đôn quân từ dân vệ lên bảo an, từ bảo an lên chủ lực. Tăng cường hành quân vây ráp bắt lính, trắng trợn, xông vào chùa chiền bắt cả sư sãi đi lính. Mặc dù vậy tình thế của chúng vẫn không sáng lên tí mào mà tiếp tục xuống dốc.

Còn về ta thì hết mùa khô ta đã giành lại tất cả các vùng giải phóng như trước 28-1-1973 kể cả vùng Nam Bắc Lộ 4 ở Mỹ Tho là nơi mà địch đã lấn chiếm ồ ạt sau hiệp định. Không những thế ta còn giải phóng rộng thêm trên 20 xã với khoảng 30 vạn dân, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long. Đó là kết quả những đòn trừng trị của ta, ta đánh tiêu diệt một đòn mới lấn chiếm trái phép thì quân địch hoảng hốt rút chạy 4, 5 đồn khác. Ta diệt một tiểu đoàn địch càn quét lấn chiếm vi phạm hiệp định thì địch bỏ chạy trong phạm vi 3-4 ấp gần đó. Rõ ràng quân ngụy hung hăng khi ta lùi bước, nhưng khi ta kiên quyết đánh trả thì chúng mất hết tinh thần chạy thoát chết. Cả ở ba vùng lực lượng quần chúng có tổ chức và lực lượng du kích, bộ đội địa phương của ta được phát triển. Vùng tranh chấp đã lấn vào vùng địch kiểm soát ở tất cả các quân khu thuộc B2. Lực lượng chủ lực các Quân khu cũng như của Bộ tư lệnh miền được tăng cường, được rèn luyện và được bố trí hợp lý tạo thành một thế trận tấn công lợi hại, đặc biệt là ở Miền Đông Nam Bộ và quanh Sài Gòn. Trong lúc ta vẫn giữ vững các khu căn cứ, các lõm du kích ở Miền Đông và quanh Sài Gòn thì vùng căn cứ phía sau của ta lại được mở rộng và củng cố vững vàng hơn bao giờ hết. Đó là một vùng giải phóng liên hoàn từ tỉnh Quảng Đức đến Phước Long, Bình Long, Tây Ninh dọc theo biên giới với Kampuchia. Căn cứ Lộc Ninh ta được nối liền về phía trước với vùng giải phóng Long Nguyên, Bến Cát rộng rãi, do ta trừng trị diệt đồn Nha Bích trên bờ sông Bề và đồn Tống Lê Chân của Ngụy trên bờ sông Sài Gòn bí mật rút chạy trong đêm. Hai căn cứ biệt kích này của ngụy nằm sâu biệt lập trong vùng giải phóng của ta. Chúng cố duy trì là để làm bàn đạp có giá trị tung gián điệp sâu vào vùng ta, thu thập tin tức tình báo, tung biệt kích đánh phá hành lang kho tàng, cơ quan ta, nếu có sơ hở. Nó còn là đầu cầu chiến thuật cho cuộc hành quân lớn đánh chiếm căn cứ của ta sau này. Sau hiệp định, vấn đề khó khăn cho địch là tiếp tế, thay quân cho 2 vị trí này, vì xung quanh đều là vùng giải phóng của ta. Trên bàn Hội nghị của Ban liên hợp quân sự 4 bên, rồi sau đó của Ban liên hợp quân sự 2 bên, ta dựa vào điều 3 (b) nghị định thư về ngừng bắn ở Miền Nam Việt Nam, liên tiếp đòi Mỹ - Ngụy phải bàn để quy định các hành lang vận tải quân sự, cho bên này có thể đi qua vùng do bên kia kiểm soát khi cần thiết. Nhưng Mỹ - Ngụy đều ngoan cố làm ngơ. Có lần vì nhân đạo, mặc dù chưa có quy định, ta đã cho phép trực thăng ngụy đến tải thương ở đồn Tống Lê Chân. Nhưng ta kiên quyết không cho xe quân sự, tàu thuyền quân sự, máy bay vận tải quân sự của địch tiếp tế lương thực, đạn dược cũng như thay quân, đi qua vùng ta khi chưa có thỏa thuận theo như hiệp định đã quy định. Vào tháng 4-75, quân địch ở Nha Bích đã liều mạng hành quân mở đường về Chơn Thành nhận tiếp tế, đi qua vùng giải phóng của ta, liền bị sư đoàn 7 của ta trừng trị và diệt gọn cả bọn hành quân, lẫn bọn trong đồn. Địch biết lỗi đã im thin thít, cắn răng chịu đựng trong sự kiến này. Rút kinh nghiệm, quân địch ở Tống Lê Chân đã thừa một đêm tối trời bỏ trốn len lỏi theo đường rừng lén lút rút chạy an toàn về vùng chúng. Sau đó địch dở trò vu oan giá họa tuyên truyền rằng ta diệt đồn Tống Lê Chân, vi phạm hiệp định Paris. Sự việc không di đến đâu vì không có một bằng chứng nào cả. Nhưng vùng giải phóng phía sau của ta đã mở rộng hoàn chình, căn cứ Lộc Ninh nói đến khu “Tam giác sắt” chỉ cách Sài Gòn trên 30km. Cũng trong mùa khô này các đường hành lang vận tải của ta từ phía sau ra phía trước từ đường Trường Sơn về căn cứ Miền Đông, rồi từ đó đi các quân khu đều thông suốt. Những nơi xa và khó khăn nhất như ven biển Miền Trung thuộc quân khu 6 và rừng U Minh thuộc quân khu 9, tân binh bổ sung và hàng hóa vật tư hậu cần đã được đưa đến, có bổ sung, có dự trữ.

Như vậy là qua hết mùa khô 1973-1974 tình thế trên chiến trường B2 của ta và địch đã rõ nét. Thế và lực của ta lớn mạnh. Thế và lực của ngụy đang suy sụp tương đối nhanh. Địch bị hãm vào một thế bị động không thể nào xoay ngược lại được vì sức ngày càng xuống mà biện pháp thì cũ kỹ và lúng túng trong một đường lối chính trị và chiến lược hết sức ngoan cố và đầy ảo vọng, tiếp tục phá hoại hiệp định Paris, tìm cách tiêu diệt hoàn toàn đối phương. Ta bước vào mùa mưa năm 1974 là như vậy đó.

Không phải chỉ có chúng ta mới đánh giá được tình hình đã chuyển biến từ cuối mùa khô 1974 như nói ở trên mà phía Mỹ cũng đã có người cảm thấy tuy chưa thật rõ rệt. có lẽ như vậy. Weldon A. Brown đã viết trong phần kết quyển “Chiếc trực thăng cuối cùng” như sau:

“David Shipler, Phóng viên tờ “Thời báo Nữu Ước”, một nhà quan sát có kinh nghiệm ở Nam Việt Nam trong những tháng cuối cùng trước khi Nam Việt Nam sụp đổ tuyên bố rằng Thiệu đã bị ảo tưởng về sức mạnh của Mỹ làm cho mù quáng – Shipler nhận xét rằng trong mùa hè năm 1974, Hà Nội đã bắt đầu tăng cường áp lực trên toàn lãnh thổ Nam Việt nam. Shipler viết rằng trong lúc nguy kích này, một nhà ngoại giao Mỹ đã dự đoán rằng nếu Oa-sinh-tơn cứ tiếp tục trang bị vũ khí cho Sài Gòn mà không thúc ép Sài Gòn hòa giải về chính trị với những người Cộng sản, thì nhất định Oa-sinh-tơn và Sài Gòn sẽ thất bại trong cuộc chiến tranh này”.

Đáng khen thay nhà ngoại giao Mỹ nào đó, đã thấy được nguyên do và thời kỳ bắt đầu của sự thất bại hoàn toàn không thể tránh khỏi của Mỹ, Ngụy.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:02:11 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #39 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:07:41 pm »

CHƯƠNG BỐN
MỘT MÙA MƯA CHƯA TỪNG CÓ

Thời tiết ở B2 nói chung chia thành 2 mùa, mưa nắng gần như đều nhau, mỗi mùa 6 tháng. Ở rừng núi, mưa sớm và nhiều, ở đồng bằng mưa muộn và ít hơn. Đặc biệt về mùa mưa, nước từ các nguồn sông trên cao đổ về với khối lượng lớn và tốc độ chảy xiết, đọng lại tràn đầy các lưu vực sông ngòi vốn bằng phẳng và thấp, đặc biệt là lưu vực sông Cửu Long, trước khi chậm chạp rút ra biển đông. Đồng Tháp Mười, cái túi sâu của đồng bằng, vào mùa khô có thể đi bộ dọc ngang khắp chốn, nhưng mùa mưa, nước về ngập mênh mông như biển, có nơi sâu đến 4-5 thước. Phương tiện đi lại chủ yếu là bằng xuồng ghe. Ở Miền Đông nam bộ vùng rừng núi tuy đất cao, nhưng nước mưa cũng ngập đầy các trảng, ngập cả đường đi, đất đỏ, sình lầy. Điều kiện thời tiết đất đai như vậy đã ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động của các binh đoàn tập trung, các binh chủng kỹ thuật. Vì thế, đến mùa mưa, các đơn vị lớn của cả ta và địch điều buộc phải giảm cường độ hoạt động và lợi dụng thời gian đó để chuẩn bị cho mùa khô tới, tung lực lượng sung sức ra tấn công nhau. Trong bao nhiêu năm chiến tranh, việc ấy đã trở thành qui luật. Nhưng mùa mưa năm 1974 là một mùa mưa khác thường ở B2, chúng ta quyết phá qui luật đó, quyết nỗ lực khẩn trương hành động để tạo ra một thời cơ mới, biến mùa mưa âm u thành một bình mình cho một thời kỳ rạng rỡ. Trong hội nghị tháng 6, Thường vụ Trung ương cục, kiểm điểm tình hình mùa khô 1974 và bàn phương hướng sắp tới, đồng chí Phạm Hùng bí thư, đã kết luận gọn:

“Qua mùa khô này, nhân tố mới đã xuất hiện rõ: ta đang thắng lợi và phát triển đi lên, địch đang suy sụp đi xuống. Ta không được dừng lại, phải tiếp giành thắng lợi lớn hơn, đẩy địch suy sụp nhanh hơn. Mùa mưa này ta có rất nhiều thuận lợi và khả năng thắng lớn hơn bất kỳ mùa mưa nào trước đây, hơn cả mùa khô vừa rồi. Bất chấp thời tiết khó khăn, phải đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tạo thế mới và lực mới, vật chất và tinh thần cho các quân khu, các tỉnh, cho địa phương cho chủ lực để bước vào mùa khô 1974-75 với khí thế mạnh, sung sức. năm 1975, nhất là mùa khô 1975 ta có khả năng giành thắng lớn, làm chuyển biến tình hình tạo ra bước ngoặt mới bước ngoặt có tính chất quyết định”.

Sự tiên tri của Trung ương Cục như vậy không có gì là thần bí cả. Đó là xuất phát từ thực tế của tình hình ta địch trên chiến trường, là sự phản ánh của kết quả hoạt động của hàng triệu đồng chí và đồng bao ở từng thôn ấp, hàng vạn chiến sĩ du kích, địa phương và chủ lực, giành giật với địch từng người dân, từng tấc đất, hàng ngày hàng giờ trên khắp chiến trường. Đó là rút ra từ sự hiểu biết sâu sắc về ta, về địch. Đó là kết quả của sự nắm vững mục đích cách mạng của ta, nắm vững phương pháp cách mạng, hiểu rõ ta phải làm gì và đi đến đâu, trong lúc cũng phải hiểu sâu âm mưu và hành động, ý muốn và khả năng của địch.

Lúc ấy có câu hỏi nêu lên làm cho ta phải suy nghĩ nhiều:

- Vì sao trước tình hình thua thiệt như vậy mà ngụy quyền Thiệu vẫn một mực ngoan cố giữ đường lối chính trị phản động, phủ nhận thực trạng ở Miền Nam có hai vùng, hai chính quyền, hai quân đội, ba lực lượng chính trị. Chúng không chấp nhận có lực lượng thứ ba, không chịu liên hiệp với “Việt cộng”, quyết phả bỏ hiệp định Paris, tiếp tục chiến tranh?

- Vì sao chúng vẫn khư khư một chiến lược quân sự ngu xuẩn, giữ tất cả, lấn chiếm mọi nơi, cố diệt lực lượng vũ trang giải phóng, thanh toán chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam?

Từ lâu chúng ta đã biết rằng Ngụy quyền Thiệu chẳng qua chỉ là tay sai, là công cụ của đế quốc Mỹ - Mọi suy nghĩ của chúng là theo sự hướng dẫn và mọi hành động là theo gậy chỉ huy của quan thầy. Như vậy phải tìm cái gốc là từ âm mưu và chủ trương của Mỹ.

Trong hồi ký của Westmoreland: “Một quân nhân tường trình” Y đã thú nhận: “Ông (P. Harkines) và các quan chức khác của Mỹ đến Việt Nam để thực hiện chính sách quân gia đã được định ra ở Oa-sinh-tơn…” Còn những lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo quân sự và dân sự Nam Việt Nam kể lại trong các Bản báo cáo soạn thảo cho Ban quân sự, văn phòng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ - nhan đề: “Sự sụp đổ của Nam Việt Nam” rằng: “Theo Trần Văn Đôn, Đại tướng Viên đã thừa nhận vai trò lệ thuộc của người Nam Việt Nam. Một tướng khác đồng ý rằng các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam đã bị dồn vào việc thi hành các kế hoạch của người Mỹ…” không còn gì rõ hơn những lời thốt ra từ miệng của những nhân vật Mỹ, Ngụy có chức quyền cao ấy, sau khi đã thất bại hoàn toàn.
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười Một, 2018, 10:23:57 pm gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM