Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Năm, 2024, 03:31:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 2263 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:49:54 am »

Sau đó nhiều ngày, vào ngày 16-2-1973, Mỹ gởi công hàm cho ta chính thức chịu để cho tổ liên hợp quân sự 4 bên đến các địa điểm quan sát việc rút quân Mỹ và Nam Triều Tiên và được chụp ảnh. Thế là họ phải nhượng bộ. Qua các cuộc giám sát đó, rõ ràng quân Mỹ cũng như Nam Triều Tiên, khi bước chân vào Việt Nam họ đã được vũ trang đến tận răng, nhưng khi rút ra thì không mang súng ống gì cả mà toàn những chăn màn đồ dùng và lú khú những vật kỷ niệm như voi sành, voi sứ, đồ đá Ngũ hành sơn... Anh em ta chất vấn thì họ trả lời: “vũ khí trang bị đã chở bằng tàu thủy”. Đấy, lý lẽ bịp bợm như vậy đó.

Việc này đến khi thất bại hoàn toàn năm 1975, Mỹ mới bàng hoàng bực bội là sao đã tìm mọi cách gian lận để trang bị nhiều cho quân ngụy mà thua vẫn hoàn thua, nên trong cơn tức giận mới nói toạc ra sự thật: “Với khối lượng khổng lồ các trang bị và vật liệu để lại thì các lực lượng chúng ta rút về cộng với số lương tiếp tế thêm về sau nhẽ ra quân lực Việt Nam cộng hòa phải có đủ khả năng đương đầu với đối phương mới phải”. (Chương 10 phần kết quyển sách “chiếc trực thăng cuối cùng” của Weldon A. Brown).

Còn việc phá hủy các căn cứ quân sự?

Út-uốt, thiếu tướng Hoa Kỳ nghiêm trang bảo: “Chúng tôi được phép trả lời quý vị rằng ở Miền Nam Việt Nam hiện nay không còn một căn cứ nào của chúng tôi cả. Tất cả đã chuyển cho Việt Nam cộng hòa từ trước khi ký hiệp định. Hiện nay quân Mỹ ở trong những căn cứ mượn tạm của Việt Nam cộng hòa”.

Thật là một sự lừa bịp trắng trợn hết chỗ nói.

Một khi đế quốc đã có kế hoạch rồi, có mục tiêu rồi thì chúng hành động theo cách của kẻ xâm lược, nói láo trơ trẽn bất kể người nghe là ai.

Đáng lý thì Ủy ban quốc tế có đủ khả năng phát hiện ra, nhưng vấn đề gian lận này, có quyền có những kết luận xác đáng lên án sự vi phạm hiệp định của Mỹ, ngụy nhằm ngăn chặn việc phá hoại hiệp định, tiếp tục chiến tranh. Ủy ban quốc tế có 4 nước tham gia: Hung, Ba Lan, Inđônêxia, Canađa. Về sau khi Canađa rút lui thì Iran thay tế và làm việc theo nguyên tắc hiệp thương nhất trí.

Cần nói thẳng ra rằng Canađa hầu như là của Mỹ, che chở cho Mỹ trong Ủy ban quốc tế, cãi bừa, lấp liếm và cần thì phủ quyết. Trưởng đoàn Canađa là đại sứ Gô-vin, bề ngoài có vẻ lịch thiệp, nhưng nghe nói là một con người có tính độc đoán, trịch thượng lấn lướt, coi thường người khác. Một hôm Gô-vin ngỏ ý muốn đến thăm xã giao phái đoàn chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Chúng tôi rất sẵn sàng, xem đây là một dịp khá tốt để nói chuyện thẳng thắng với vị đại biểu Ủy ban quốc tế này. Tôi đã tiếp y ở phòng khách được chuẩn bị khá tươm tất theo điều kiện cho phép trong trại David. Tôi đã ra tận xe để đón đại sứ vào và mời ngồi cùng tôi trên chiếc divan, vị trí trang trọng nhất trong phòng khách. Cùng đi với y có phụ tá về chính trị của đoàn Canađa và một phiên dịch. Phía ta có anh Võ Đông Giang, thành viên của đoàn và một số anh em khác. Ta dùng phiên dịch chính trong cuộc tiếp khách này là phiên dịch của ta, đồng chí Dũng, người đã dịch cho ta trong tất cả các phiên hịp trưởng đoàn 4 bên. Dũng là một thanh niên cừ khôi, nói tiếng Anh lưu loát, giọng khỏe, biết nhấn mạnh những đoạn cần thiết.

Sau những thăm hỏi, chuyện trò có tính chất xã giao, Gô-Vin nói về vai trò, thành tích của Ủy ban quốc tế nhất là giai đoạn Gô-Vin làm chủ tịch, về vấn đề ngừng bắn: trao trả người các bên, về quân Mỹ và chư hầu rút khỏi Miền Nam Việt Nam... Tất cả đều có ý nói lên sự đắc lực của Ủy ban quốc tế, sự khách quan công bằng và đặc biệt hàm ý trách ta vi phạm ở chiến trường nhiều nên đến nay vẫn chưa ngừng tiếng súng có giọng đổ lỗi và hăm dọa. Tôi đã rất bình tĩnh và lễ độ ngồi nghe, vừa kiên trì nghe vừa cố hiểu hết ý nghĩa của từng lời nói. Ý hẳn đại sứ thấy nói đã dài và đủ nên dừng lại, nhìn tôi dò hỏi. Tôi thong thả mời khách ăn một vài món trái cây, mời hút thuốc. Rồi tôi bắt đầu nói:

- Thưa ngài, đại sứ Gô-Vin, ngài nói rất đúng về vai trò rất quan trọng và tính khách quan rất cần thiết của Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát việc thi hành hiệp định. Tôi thú thật với ngài rằng chúng tôi rất đau xót khi thấy tiếng súng vẫn còn nổ khắp nơi khi đã có hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên đất nước mà chiến tranh tàn phá hàng mấy chục năm nay liên tục. Trên thế giới này tôi tin rằng không có dân tộc nào thấm thía mong đợi hòa bình như dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã biết chiến đấu và biết chịu đựng để tìm cho ra chân lý. Nhưng thưa ngài đại sứ, mọi việc đều có nguyên nhân của nó. Tôi xin phép ngài dở lại một vài trang lịch sử đã qua. Dân tộc chúng tôi đã giành độc lập năm 1945. Thực dân Pháp lại xâm lược trở lại. Chúng tôi phải chiến đấu 9 năm trời mà thắng lợi nổi bật là trận Điện Bên Phủ, mới ký kết được hiệp định Genève. Thời kỳ ấy cũng có Ủy ban quốc tế kiểm soát, trong đó có đại biểu Canađa, chắc ngài biết rõ? – Gô-Vin gật đầu đồng tình. Tôi nói tiếp: “Nhưng Nixơn lúc đó là phó tổng thống Mỹ tuyên bố với báo chí rằng: “Dù cho Pháp ký kết đình chiến ở Đông Dương, Hoa kỳ cũng sẽ hành động một mình nếu điều ấy là cần thiết và sẽ gởi quân đội của mình sang vùng đó của thế giới”. Đó là lời thuật của Thời báo Nữu Ước, và Hoa Kỳ đã làm như vậy thật”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:52:31 am »

Gô-Vin làm một động tác khoát tay ngăn phiên dịch lại và nói một câu dài. Tôi nói với Dũng: Đồng chí hãy tiếp dịch những lời tôi nói, bao giờ tôi nói hết, ngừng lại thì mới được nghe và dịch lời của ông ta. Dũng lại dõng dạc dịch tiếp lời tôi:

- “Tôi xin cung cấp một số liệu để ngài Đại sứ biết: từ năm 1955 đến năm 1960 có trên 800 chuyến tàu biển của Mỹ chở vũ khí và phương tiện chiến tranh các loại vào các cảng của Việt Nam đặc biệt là cảng Đà Nẵng và cũng trong thời gian ấy số tiền viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm là một tỷ 600 triệu đô la. Cả thế giới đều biết việc ấy. Đó là sự vi phạm trắng trợn hiệp định Genève. Nhưng Ủy ban quốc tế lúc đó, hoặc làm ngơ, hoặc che dấu hoặc bị áp lực nào đó nên không ngăn chặn hành vi phi pháp ấy. Vì vậy mà tiếng súng vẫn nổ ra và chiến tranh lại tiếp tục trên đất nước Việt Nam chúng tôi. Canađa là thành viên quan trọng trong Ủy ban quốc tế lúc ấy tất nhiên không thể chối cãi về trách nhiệm lớn lao của mình”.

GôVin lại cố cắt ngang, nói mãi một câu dài và định nói mãi nếu như tôi không bảo Dũng cứ dịch lời của tôi và dịch to hơn tiếng của GôVin.

Quả Dũng là một thanh niên cừ khôi, Dũng đã nói át cả tiếng của GôVin, buộc GôVin phải ngừng nói chịu ngồi nghe, vừa tỏ vẻ ngạc nhiên. Có lẽ GôVin chưa hề gặp trường hợp không lấn lướt được và bị khép vào khuôn phép như thế này. Tôi tiếp: - Đến ngày nay, sự việc lại diễn lại: trước và sau khi ký hiệp định Paris, Mỹ đã chở cả bằng tàu biển, cả bằng máy bay, vũ khí, và trang bị qua cho Quân đội Việt Nam cộng hòa để phá hiệp định, tiến hành lấn chiếm và bình định. Không những thế, quân Mỹ và quân các nước khác rút về nước nhưng lại chuyển vũ khí, phương tiện, kho tàng, căn cứ lại cho quân đội chính quyền Thiệu, một sự vi phạm hiệp định Paris quá trắng trợn”.

Đến đây, GôVin như không còn chịu đựng được nữa, y dãy nảy lên, khoát tay lia lịa, ấp úng một vài lời... Tôi phải trấn tĩnh y: “Xin đại sứ hãy bình tĩnh, Tôi chỉ xin nói vài lời nữa thôi, rồi sẽ nhường lời cho đại sứ”. Rồi tôi tiếp.

- “Lần này nữa, nếu chúng ta, Ủy ban quốc tế và Ban liên hợp quân sự 4 bên không hợp tác chặt chẽ với nhau, nỗ lực cùng nhau hành động một cách khách quan, đắc lực; ngăn chặn mọi vi phạm như vậy thì tôi nghĩ rằng tiếng súng vẫn nổ là điều không lấy gì làm ngạc nhiên và nguyên nhân từ đâu cũng đã rõ. Và trách nhiệm chúng ta trước lịch sử quá nặng nề, chúng ta đã không đáp ứng được nguyện vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam, của cả nhân dân Canađa và nhân dân yêu chuồng hòa bình trên toàn thế giới. Và chính phủ Canađa hai lần tham gia Ủy ban quốc tế về hai hiệp định sẽ nghĩ thế nào về vai trò của mình? Tôi xin nhường lời cho Đại sứ”.

Lần này thì GôVin không còn có sự hăm hở muốn nói như trước, thái độ hòa nhã nhỏ nhẹ:

- “Thưa Ngài, Trung tướng Trần Văn Trà, thú thật với ngài là tôi không hiểu gì về hiệp định Genève... và hồi ấy... tôi không được biết... những việc ấy... tôi không theo dõi...” rồi đại sứ chuyển qua nói chuyện về thời tiết khí hậu ở Sàigòn, về các loại trái cây ở Việt Nam.

Tôi vui vẻ mời khách uống bia và nước ngọt.

Mọi người có thái độ thân thiện hiểu biết.

GôVin lại nói, nhắc lại bữa tiệc lớn y tổ chức chiêu đãi ở Sàigòn nhân dịp Bộ trưởng Bộ ngoại giao Canađa – Sácpơ đi công cán qua đây. Hôm ấy có đủ nhân vật “tai to, mặt lớn” của ngụy quyền Sàigòn, có cả đại sứ Mỹ Bunker và mời các bên trong Ủy ban quốc tế cũng như trong Ban liên hợp quân sự 4 bên, chúng tôi đều có đến dự.

- Ngài Trung tướng Trần Văn Trà, quả thật ngài là một ngôi sao sáng trong bữa tiệc hôm ấy, và ngôi sao sáng trên bầu trời Sàigòn hôm ấy”.

- Thưa đại sứ, đó là ngôi sao sáng, ngôi sao chính nghĩa của chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam mà tôi được hân hạnh là người đại diện đến đây!

- Không, không, tôi muốn nói tới vai trò cá nhân nổi bật của Trung tướng cơ.

Y lại cố tránh né đề cao chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam của ta mặc dù đó là uy tín thật sự không thể chối cãi đã có từ lâu. Không phải chỉ ở Sàigòn này mà còn cả ở Paris và trên thế giới. Để chống lại, cả Mỹ và ngụy quyền Thiệu đã đề ra thành nguyên tắc: ở Miền Nam Việt Nam chỉ có một chính phủ duy nhất mãi mãi về sau này đó là chính phủ Việt Nam cộng hòa của Thiệu. Điều này Mỹ và Trung Quốc cũng đã thỏa thuận nhất trí với nhau trong cuộc gặp gỡ mua bán chính trị “Nixơn – Mao Trạch Đông – Chu Ân Lai” khi có thông cáo Thượng Hải.

Y lại nói tiếp:

- Trung tướng là một chiến sĩ vĩ đại.

Lần này thì tôi lúng túng thực. Vì, dù tôi đã hiểu rõ thâm ý của y rồi, nhưng tôi không ngờ y lại tâng bốc tôi đến thế. May thay, tôi sực nhớ lại sự đánh giá người chiến sĩ của chúng ta của UPI năm 1964:

“Du kích Việt cộng là nhân vật thần thoại. Họ là một kẻ thù đáng sợ, một kẻ địch mà người ta phải kính nể”.

Và báo “Tin tức Mỹ thế giới” năm 1965:

“Du kích Việt cộng là tài tình nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại”.

Tôi mỉm cười thong thả:

- Xin đa tạ lời ngợi khen của Đại sứ. Quả thật, vì lòng yêu nước, yêu nhân dân, và “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà người chiến sĩ giải phóng chúng tôi đã xả thân chiến đấu và chiến thắng, được báo chí và các hãng thông tấn Mỹ cũng như quốc tế đánh giá là những nhân vật thần thoại... là tài tình nhất, vĩ đại nhất... Tôi thực sự hãnh diện được là đại diện của họ ở ngay Sài Gòn này để đấu tranh thi hành đúng đắn Hiệp định mà họ phải đổ bao nhiêu máu mới giành được.

Thế rồi đại sứ GôVin cáo từ ra về. Trước sân, GôVin đã đề nghị chúng tôi cùng chụp một tấm ảnh kỷ niệm cuộc gặp gỡ này. GôVin đã đưa máy ảnh riêng của y mang theo cho nhiếp ảnh viên chúng tôi chụp giùm vào đấy vài kiểu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:54:33 am »

*
*   *

- 60 ngày ở Sàigòn trong Ban liên hợp quân sự 4 bên là những ngày nặng nề và căng thẳng. Hai phái đoàn quân sự chúng ta đã làm hết sức mình để đấu tranh thi hành hiệp định nhưng kết quả có mức độ. Các đồng chí trong Đoàn Hung và Ba Lan trong Ủy ban quốc tế, với tinh thần quốc tế và lòng nhiệt tình anh em đã hợp đồng chặt chẽ với chúng tôi, cùng đấu tranh, bảo vệ nhau, giúp đỡ nhau.

- Đồng chí Thiếu tướng “Xuyết” phó trưởng Đoàn Hung trong Ủy ban quốc tế, người to lớn, chắc nịch trong bộ quân phục Hung gọn và đẹp ngay trong buổi đầu gắp gỡ làm việc đã nói với tôi giọng chân thành: “Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân Hung gởi chúng tôi đến Việt Nam vì nền hòa bình và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam và hòa bình của thế giới, chúng tôi xem sự thành công của Cách mạng Việt Nam là của chính bản thân mình và vì vậy sẵn sàng hy sinh vì nó. Đó à nguyên tắc chỉ dẫn mọi hành động của chúng tôi – Chúng tôi không sợ chết và tất nhiên không sợ cực nhọc”.

Cảm ơn biết mấy những lời nói chí tình của một sứ giả của giai cấp công nhân từ một đất nước xa xôi đến với chúng ta trong những ngày còn gian khổ, trên tinh thần quốc tế vô sản cao cả!

Qua thời gian 60 ngày ấy thử kiểm lại những gì đã thực hiện và không thực hiện được. Do Mỹ ngụy đã có mục tiêu, có kế hoạch sẵn nên vấn đề chủ chốt nhất là việc ngừng bắn không thực hiện được. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Hay nghe Thiệu nói chuyện với sĩ quan ngụy ở Thủ Đức:

“Việt Nam cộng hòa sẽ thi hành điều khoản ngừng bắn khi:

1. Quân đôi Việt Nam cộng hòa không còn ủng hộ tôi.

2. Khi Quân viện Hoa Kỳ chỉ đủ để lo việc phòng thủ.

3. Khi quân lực Việt Nam cộng hòa không còn đủ sức bảo vệ các khu quan trọng tại Miền Nam Việt Nam”.

Rõ ràng tên tay sai trung thành của Mỹ tưởng nó chiến thắng, ngoan cố phá hoại ngừng bắn, tiếp tục chiến tranh dù có hay không có hiệp định (!).

Mỹ và chư hầu đã rút quân, các quân đội tay sai Mỹ, bán mình cho đế quốc tham gia giết hại nhân dân ta như quân đội Úc và Tân Tây Lan, quân đội Thái Lan và Nam Triều Tiên đã cút sạch khỏi đất nước ta. Sáng 15-3-1973 USARV, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã làm lễ cuốn cờ, chuồn. Chiều, MACVI Bộ chỉ huy yểm trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam, thực tế là Bộ tư lệnh tối cao của Mỹ chỉ huy toàn bộ quân đội Mỹ, quân các nước chư hầu và quân đội Thiệu, bộ máy chiến tranh xâm lược đồ sô của Mỹ ở Việt Nam có trụ sở ở Tân Sơn Nhất mà báo chí gọi là “Lầu năm góc phương Đông” cũng hạ cờ, cuốn gói.

Tình cờ hay có sự gợi ý khéo léo nào đó mà ngay hôm sau, hai phái đoàn quân sự Việt Nam Dân chủ cộng hòa và chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chúng ta đã phóng xe thọc thẳng vào sân của “Lầu năm góc phương Đông” này. Hai phái đoàn xuống xe tiến thẳng vào phòng khách giữa hai hàng quân cảnh Mỹ đứng nghiêm chào, để dự bữa tiệc của thiếu tướng trưởng phái đoàn Hoa Kỳ chiêu đãi. Chúng tôi đã cười vui, nâng rượu Mỹ, nói chuyện thời tiết thanh bình Việt Nam ngay ở “Lầu năm góc phương Đông”.

Thế là quân Mỹ cũng đã cút. Nhưng chúng đã để lại như nói ở trên đủ thứ vũ khí, căn cứ quân sự và cả sĩ quan đội lốt dân sự để chống đỡ cho chế độ tay sai Thiệu.



Họp báo ở trại David
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:57:32 am »

Về phần trao đổi theo Hiệp định, chúng ta đã đòi lại được những người của ta bị chúng bắt giữ trong chiến tranh. Đồng chí thiếu tá Nguyễn Thị Dung, thành viên phái đoàn quân sự của chúng ta, đặc biệt phụ trách vấn đề trao trả tù binh. Đồng chí rất tích cực xông xáo, đã đi khắp các nhà tù của Ngụy từ Biên Hòa đến Côn Đảo, Phú Quốc. Là thành viên nữ độc nhất trong 4 phái đoàn quân sự, nói thạo cả tiếng Pháp và tiếng Anh, xinh đẹp, lịch thiệp, đấu tranh kiên quyết đã làm cho Mỹ ngụy phải kính nể, và chúng tôi cũng hãnh diện. Đồng chí đã tranh thủ phổ biến các điều khoản của hiệp định nói về trao trả tù binh cho anh em ta còn bị giam, đấu tranh đòi Cải thiện chế độ nhà tù, đòi trả toàn bộ những người còn bị bắt giữ... Chúng không trả đủ, không thành thật nhưng ta cũng đã giải thoát được một số không ít những cán bộ và chiến sĩ ta, những người đã chiến đấu anh dũng và sa cơ lọt vào tay chúng, chịu đựng sự hành hạ dã man của chúng.



Chị Dung trong phái đoàn quân sự Chính phủ CMLTCMHNVN cùng các nữ chiến sĩ QGP.

Chúng ta cũng đã trả tất cả tù binh Mỹ ngụy mà ta giữ.

Nhưng điều quan trọng nữa là qua 60 ngày, mặt đối mặt với kẻ địch ta đã hiểu chúng thêm. Mỹ chỉ cốt lấy lại được tù binh để làm quà cho nhân dân Mỹ, đưa quân Mỹ về nước vì nhân dân Mỹ đòi, còn thì vẫn thi hành chính sách Việt Nam hóa chiến tranh để Mỹ tiếp tục ở lại Việt Nam. Ngụy thì giữ đúng phương châm “4 không” của Thiệu: không nhường đất cho “Cộng sản”, không trung lập, không liên hiệp với “cộng sản”, không nói chuyện với “cộng sản” – Tuy rằng Ngụy buộc lòng phải ngồi vào bàn với ta trong hội nghị 2 bên ở Paris, trong Ban liên hợp quân sự 4 bên rồi 2 bên ở Tân Sơn Nhất, nhưng thực sự chũng vẫn giữ nguyên tắc 4 không của chúng, không nói chuyện nghiêm túc mà cãi chày, cãi cối, nói bừa, nói ẩu, đồng ý hôm nay để xóa sạch ngày mai. Ngay vấn đề nhỏ nhất và đầu tiên là màu cờ và dấu hiệu của Ban liên hợp quân sự 4 bên mà chúng cũng lật lọng không thi hành điều đã thỏa thuận trong phiên họp cấp phó trưởng đoàn ngày 31-1-1973. Đó là quy định cờ, băng tay, dấu hiệu trên xe tàu, máy bay của Ban liên hợp Quân sự đều là màu da cam. Trong một phiên họp cấp trưởng đoàn chúng đề nghị ta bàn lại, lấy màu khác. Ta gạt đi. Vì việc gì đã thỏa thuận rồi thì làm, không cù nhầy. Giữa chừng phiên họp, giờ giải lao, Phan Hòa Hiệp, chuẩn tướng phó đoàn ngụy đến ngồi bên tôi tỉ tê: “Trung tướng không biết tôi chứ tôi biết trung tướng nhiều”. Tôi hỏi lại: “Biết lúc nào”. Hiệp nói: “Tôi là lính của đệ tam sự đoàn đây (Hồi Cách mạng tháng 8 năm 1945) tiếc rằng các anh lớn hồi ấy xích mích với nhau, nếu không thì có lẽ bây giờ tôi cũng vẫn còn đi kháng chiến, dưới quyền của Trung tướng”. Y cười hề hề để chấm dứt cho câu nói của mình. Thì ra thế. Cách “Anh lớn” mà Hiệp nói đây tức gồm có tôi, lúc đầu kháng chiến chống Pháp, tôi là chỉ huy đơn vị gọi tên là Giải phóng quân liên quận Hóc-Môn – Bà Điểm, Đức Hòa hoạt động quanh Sàigòn; Nguyễn Hòa Hiệp, tư lệnh đệ tam sư đoàn, Lý Huê Vinh, tư lệnh đệ tứ sư đoàn... Đệ tứ sư đoàn tan rã ngay từ khi Pháp đánh trở lại năm 1945. Đệ tam sư đoàn tan rã và đầu hàng Pháp sau một thời gian. Tôi đã tiến hành tước vũ khí của một số đơn vị cướp bóc, phá hại nhân dân của 2 sư đoàn này tại Nhuận Đức, An Nhơn Tây Hóc Môn – Gia Định và tại Mỹ Tho, Đức Hòa (Long An). Người ta nói Phan-Hòa-Hiệp thực tế không phải là họ Phan mà là Phiên âm “Francois” thành “Phan Hòa” vì y tên là Francois Hiệp lai Pháp, cha người Pháp, mẹ người Việt. Nói lại câu chuyện này y cốt xuống nước với tôi, tự coi là em út và nhân đó năn nỉ “anh lớn” đồng ý sửa lại màu cờ:

- “Thưa Trung tướng, màu da cam gần với màu đỏ, trông nó dữ quá”.

Y đã xuống nước làm em út thì tôi cũng lên giọng “anh lớn”.

- “Sao lại dữ, màu dỏ là màu huy hoàng sáng lạn của tương lai, có gì phải sợ. Chuẩn tướng nên biết rằng màu da cam thông dụng trên quốc tế rồi, rất dễ nhìn thấy, dù rất xa. Màu đó thích hợp nhất mà đẹp nữa. Vả lại cái gì đã nhất trí rồi thì thi hành đừng trở tới, trở lui nữa, mất thì giờ. Ta còn nhiều việc phải làm”. – Y còn lẽo đẽo theo năn nỉ nhiều lần nhưng tôi kiên quyết gạt đi. Tuy vậy, ngụy vẫn không thi hành. Đấy, còn khối chuyện như chuyện màu da cam vậy.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:00:42 am »

*
*   *

Căn cứ vào Hiệp định, Ban liên họp quân sự 4 bên sẽ chấm dứt hoạt động trong thời gian 60 ngày. Nhưng gần đến những ngày kết thúc thì có dư luận của Mỹ, của báo chí Sàigòn lúc ấy rằng Ban liên hợp quân sự 4 bên sẽ kéo dài thêm thời gian hoạt động. Chưa hiểu đây là âm mưu gì. Phải chăng để kéo dài thêm sự có mặt công khai của Phái đoàn Mỹ? Để ngụy cố bám vào chủ Mỹ nhờ sự che chở? Để giữ phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa lại hòng giải quyết thêm một số việc có lợi cho Mỹ như vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích? Hay là để hạ thấp vai trò chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam? Nhưng ta kiên quyết chuẩn bị cho đoàn quân sự Mỹ trở về Hoa Kỳ, đoàn anh Hòa trở về Hà Nội. Còn đoàn của tôi, trong khi chuyển thành Ban liên hợp quân sự 2 bên làm việc thì Trung ương đã quyết định anh Hoàng Anh Tuấn, thiếu tướng, sẽ là trưởng đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Tất nhiên tôi sẽ rút, nhưng chuyện rút đi của tôi trở thành vấn đề khó. Tôi đi Hà Nội? Không có lý do gì. Tôi đi Lộc Ninh? Mỹ, Ngụy sẽ làm khó dễ, không cung cấp phương tiện hoặc có âm mưu đen tối nào đó... Ý đồ của Mỹ Ngụy lúc ấy chúng tôi biết rõ là ít nhất cũng giữ tôi lại Tân Sơn Nhất. Để cho một cán bộ có cỡ - theo ý chúng – của Mặt trận giải phóng như tôi trở về chiến trường là “thả hổ về rừng”. Giữ một người thế này trong tay chúng làm con tin ắt sẽ có ích đây.

Từ lâu chúng ta thừa biết là mọi việc do chủ Mỹ định đoạt, ngụy chỉ là những tên tôi tớ thi hành. 60 ngày qua càng cho phép tôi khẳng định như vậy. Trong việc này cũng như bao nhiêu việc đã qua nếu Mỹ ưng thuận thì mọi việc sẽ êm xuôi. Phải làm cho Mỹ ưng thuận đưa tôi đi Hà Nội.

Tối 29-3 tôi mời Út-Uốt trưởng phái đoàn Hoa Kỳ đến gặp tôi tại trụ sở của phái đoàn ta trong trại David. Đúng giờ, cả Út-Uốt, cả Uých-Khâm, chuẩn tướng, phó trưởng đoàn Hoa Kỳ và tên phiên dịch Xô-va-đô, thiếu tá mũ nồi xanh, đã từng là cố vấn cho trường đào tạo cán bộ bình định của ngụy quyền ở Vũng Tàu, đều đến.

Tôi báo cho Út-Uốt biết rằng do liên lạc của chúng tôi có khó khăn nên tôi vừa nhận được tin chậm là còn một tù binh Mỹ mà lực lượng của chúng tôi còn đang giữ ở tỉnh Trà Vinh. Để thể hiện thiện chí của chúng tôi thi hành đúng đắn Hiệp định Paris, chúng tôi xin trao trả cho các ngài. Ngay từ ngày mai hai bên sẽ cử cán bộ lo việc giao và nhận ngay người tù binh cuối cùng này. Về cá nhân, tôi nghĩ rằng đây là món quà thân thiện của tôi đối với thiếu tướng để ghi nhớ 60 ngày cùng làm việc với nhau trong Ban liên hợp quân sự 4 bên (ý tôi muốn nói là nhân việc này Út-Uốt thế nào cũng được khen thưởng, thăng cấp).

Út-Uốt mừng rỡ ra mặt, cảm ơn tôi rối rít và để tỏ lòng biết ơn, y tỏ vẻ thân mật hỏi thăm tôi về sức khỏe, hỏi tôi có dự kiến riêng gì sắp tới không?

Thật là một câu hỏi đúng chỗ và đúng lúc, tôi chỉ mong có thế. Tôi liền nói dự kiến riêng của tôi là đi Hà Nội một chuyến và nhân tiện thăm luôn Lào.

Hẳn Út-Uốt và Uých-Khăm tưởng tôi có ý định giúp giải quyết vấn đề tù binh của Mỹ và Thiệu ở Lào, nhưng không tiện và không dám hỏi. Út-Uốt tỏ vẻ rất sốt sắng hỏi luôn “Trung tướng định bao giờ thì đi”.

- Tôi định sáng mai đi nếu thiếu tướng sẵn lòng lo giúp phương tiện.

- Trung tướng sẽ có ngay phương tiện. Tôi sẽ sắp xếp một chuyến C130 đi Hà Nội sáng mai vì trung tướng.

Tôi nói lời cảm ơn và nhắc lại là sáng mai một sĩ quan ta sẽ gặp sĩ quan Hoa Kỳ, sắp xếp việc trả và nhận tù binh ở Trà Vinh.

Y lại cảm ơn và hỏi tôi C130 sáng mai đi có phải chở tôi trở về không? Nếu không thì tôi sẽ trở về thế nào? (vì lẽ phái đoàn Hao Kỳ chấm dứt hoạt động và trở về Mỹ ngày 31-3. Nếu sau ngày đó thì phải nhờ phương tiện của Ngụy).

Tôi mỉm cười lấp lửng, có thể tôi vòng qua Paris để trở vè Sàigòn, luôn tiện được biết thêm một thủ đô nổi tiếng của Châu Âu (Út-Uốt lại tưởng tôi cần gặp phái đoàn ta ở Paris đây).

Út-Uốt rất vui, khen là một dự kiến hay của tôi và từ giã ra về. Không quên khẳng định lại là sáng mai sẽ có máy bay.



Nói chuyện với trưởng phái đoàn Mỹ
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:01:30 am »

Buổi sáng này 30-3-1973 sĩ quan ngụy đã đưa đoàn xe du lịch đen đến đón tôi tận nhà và đưa tôi ra tận cầu thang máy bay một cách hết sức cung kính. Đưa tôi ra sân bay đi Hà Nội có thiếu tướng Lê Quang Hòa, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn cùng một số anh em trong hai phái đoàn ta. Có các đồng chí trong hai phái đoàn Hung và Ba Lan trong ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến. Lại còn có cả vợ chồng thiếu tướng Út-Uốt, trưởng phái đoàn Mỹ. Tôi bắt tay từ giã mọi người một cách thân mật, những cái siết tay rung cảm và quyến luyến, hết sức cảm động, ngầm biểu dương một thắng lợi và những cái siết tay thông cảm biết ơn lẫn nhau. Út-Uốt chúc tôi đi bình yên, gặp nhiều may mắn và nói rằng sẽ cho máy bay ra Hà Nội đón tôi trở về, điều mà tôi không yêu cầu. Tôi chúc vợ chồng Ú-Uốt sống hạnh phúc và bước lên máy bay vẫy chào mọi người. Thế là trên chiếc C130 mà Mỹ có nhã ý dành cho tôi ngồi ở buồng lái, tôi cùng đồng chí trung tá Nguyễn Quang Minh cán bộ nghiên cứu tổng hợp tình hình của Ban liên hợp, Bác sĩ Lê Hoài Liễm, Dũng phiên dịch, Hoa cán bộ bảo vệ và một số đồng chí khác từ Sàigòn ra Hà nội, chấm dứt 60 ngày hoạt động rất sôi nổi và cẳng thẳng trong lòng quân thù.

Ngồi trên máy bay, lần đầu tiên bay dọc theo chiều dài đất nước, nối liền Sàigòn và Hà Nội, lòng tôi bồi hồi xúc động. Đây rồi, non sông mổi dải 4.000 năm, tạo lập bằng xương máu, mồ hôi của bao thế hệ, xưa, nay. Làng mạc xanh tươi, núi rừng trùng điệp, bờ biển dài với những bãi cát trắng phau, thềm lục địa bao la xanh biếc, thật là muôn hình muôn vẻ. Ánh nắng chan hòa của Mặt trời tháng ba rực rỡ đã tô thêm lên cảnh vật những màu sắc lung linh kỳ diệu. Đẹp vô cùng. Tổ quốc của ta. Đẹp vô cùng lòng dũng cảm, trí thông minh sáng tạo và sức lao động bền bỉ, đời nay qua đời khác của triệu triệu con người Việt Nam để có được giang sơn gấm vóc ngày nay. Tôi thầm cảm ơn vô hạn đối với tổ tiên Hồng lạc và bất giác tôi nhớ đến Bác Hồ, nhớ lời Bác nói với bộ đội năm nào dưới mái đền Hùng trên sườn núi Nghĩa:

“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”.

Lời nói của Bác đã khắc sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Không một kẻ thù nào, dù là bọn đế quốc đầu sỏ từ Đại tây Dương hay bọn bành trướng vô liêm sỉ ở lục địa phương Bắc cũng sẽ bị đánh tan tành, sẽ bị đuổi sạch ra khỏi bờ cõi nước ta. Bọn Lê Chiêu Thống xưa, bè lũ Nguyễn Văn Thiệu nay, sẽ là bia xấu muôn đời trong sử sách. Tổ quốc ta nhất định độc lập, tự do và thống nhất bất cứ bằng phương pháp nào.

Máy bay đã bay vào đồng bằng sông Hồng. Kia rồi! Hà Nội, thủ đô yêu dấu, trái tim của Tổ quốc. Tôi đã sống nhiều ngày ở Hà Nội, đã làm việc ở đây, đã đôi ba lần đi xa rồi lại trở về. Nhưng lần trở về này sao khác xa các lần trước, nó hồi hộp, xúc động lạ thường giống như đứa con lâu ngày đi xa vật lộn với bao khó khăn nguy hiểm của đời, nay bỗng được trở về gian nhà ấm cúng gặp người mẹ hiền da diết yêu thương. Con đây rồi, con đã về đây mẹ dịu hiền, để rồi lại chuẩn bị lên đường cho một chuyến đi xa khác chắc là khác nhiều với chuyến đi vừa qua.

Sau ba ngày, một máy bay C130 từ Sàigòn ra hạ cánh ở sân bay Gia Lâm để đón tôi – đúng như Út-Uốt đã hứa hôm nọ. Tôi phái đồng chí trung tá Nguyễn Quang Minh ra báo cho sĩ quan Mỹ chỉ huy máy bay biết chúng tôi chưa về được. Đồng chí Minh đã viết một thông báo nói rõ rằng Trung tướng Trần Văn Trà còn bận việc, chưa về và cho phép máy bay trở lại Tân Sơn Nhất mà cũng không cần trở ra đóng. Và đồng chí cũng không quên thay tôi tỏ lời cảm ơn.

Trong niềm vui dạt dào được trở về thủ đô yêu mến, với không khí tự do thoải mái giữa bạn bè, đồng chí, đồng bào ruột thị, tôi càng nhớ thương các đồng chí còn đang ở Tân Sơn Nhất. Vì nhiệm vụ không thể thiếu trong giai đoạn đấu tranh hiện nay, các đồng chí buộc phải sống làm việc căng thẳng giữa vòng vây kẻ thù mà thời gian chưa biết đến bao giờ. Rồi đây những gì sẽ đến với các đồng chí trong lúc kẻ thù của ta vô cùng ngoan cố và nham độc? Tôi tự nhỏ lòng, anh em vùng giải phóng phải làm hết sức mình, phối hợp chặt chẽ với các đồng chí trong ấy giành thắng lợi cho cách mạng. Nhất định các đồng chí không bị cô lập, đã có chúng tôi, đã có nhân dân ta, ngay tại Sàigòn. Một ngày nào đó chúng ta lại sẽ gặp nhau đón mừng chiến thắng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:07:34 am »

CHƯƠNG HAI
CHỈ CÓ CON ĐƯỜNG BẠO LỰC CÁCH MẠNG

Ngay sau khi ra tới Hà Nội, tôi đã được gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính phủ và Bộ Quốc Phòng, Bộ ngoại giao, báo cáo về công việc của Ban liên hợp quân sự 4 bên; những vấn đề đã đạt và những vấn đề chưa đạt được; những gì tôi đã rút ra kết luận sau 60 ngày mặt giáp mặt với Mỹ Ngụy; những nhận định của tôi về tình hình v.v.... Tôi đã nghe các đồng chí nhận xét, đánh giá tốt về công tác của Ban liên hợp quân sự bốn bên, về âm mưu địch và những gì ta sẽ làm tiếp. Sau đó tôi được phép nghỉ vài hôm rồi tiến hành chuẩn bị và tham gia hội nghị Bộ chính trị Trung Ương Đảng mở rộng bàn về tình hình nhiệm vụ cách mạng Miền Nam Việt Nam.

Các anh trong Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền, anh Phạm Hùng, Mười Cúc(1), Hai Hậu(2), Mười Khang, Sáu Dân(3), đi theo đường Trường sơn cũng lần lượt ra tới Hà Nội. Chúng tôi họp riêng phần chiến trường B2 để thống nhất đánh giá tình hình, nhận định sự diễn biến thực tế vừa qua và dự kiến sắp tới. Cũng đã trao đổi kinh nghiệm với các anh Năm Công(4), Chu Huy Mân ở chiến trường khu 5 và anh Hoàng Minh Thảo ở B3 ra dự hội nghị.

Hạ tuần tháng 4-73 họp Bộ chính trị Trung ương Đảng có đủ đại biểu các chiến trường ở Miền Nam tham gia. Đây là một cuộc hội nghị vô cùng quan trọng. Sau khi các bên đã ký kết hiệp định Paris, tức là ta đã giành được một thắng lợi quyết định trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, buộc Mỹ chất dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc, buộc quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam, và đặc biệt là sau 60 ngày thi hành hiệp định ta đã có thêm một số thực tế diễn biến ở chiến trường, cuộc hội nghị này nhằm đánh giá lại tình hình, đánh giá tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng vạch ra đường đi nước bước của cách mạng Miền Nam trong giai đoạn chiến lược mới. Đó là điều mong mỏi của tất cả mọi người, cán bộ cũng như chiến sĩ, nhân dân.

Cục diện ấy, thực ra là trong hàng ngũ cán bộ các cấp, ở các chiến trường cũng như ở Trung ương, chưa phải đã nhất trí với nhau về giá trị của Hiệp định Paris, về tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, và đặc biệt là về cách thi hành hiệp định như thế nào, về cách đối phó với kẻ địch đang ngày càng vi phạm các điều khoản của hiệp định. Ngay đến diễn biến ở mỗi chiến trường cũng khác nhau vì ở mỗi chiến trường điều kiện về ta và địch hoàn toàn không giống nhau, giá trị chiến lược của mỗi chiến trường đối với toàn bộ cuộc chiến tranh không giống nhau, cấp lãnh đạo ở chiến trường đó suy nghĩ nhận thức vấn đề và hành động cũng khác nhau. Và đó cũng là một thực tế không thể khác được. Cho nên căn cứ thực tế diễn ra ở một chiến trường nào đó để đánh giá và chủ trương cho chung sẽ không tránh khỏi sai lầm nguy hiểm nếu không phải là một chiến trường có nhiều cái chung, có tính tiêu biểu cho toàn cục, có giá trị chiến lược quan trọng đối với toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong lúc đang diễn biến chiến tranh, không đánh giá đúng vai trò của từng chiến trường sẽ dẫn đến sai lầm trong tổ chức bố trí lực lượng các mặt, trong chủ trương về chiến lược, chiến dịch, chiến đấu, và tất nhiên ảnh hưởng đến thắng lợi hay thất bại của chiến tranh. Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược giải phóng đất nước của ta không phải không có trường hợp sai lầm. Nhưng nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt, dân chủ và tập trung của Đảng ta mà ta kịp thời sửa chữa sai lầm và giành thắng lợi. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Mỗi thành bại của cách mạng trong từng giai đoạn đều là thành bại của ý chí và hành động của hàng triệu con người mà trước tiên là của tập thể lãnh đạo. Chớ có bao giờ, bại là do anh mà thành là do tôi. Ở mỗi giai đoạn của cách mạng, mỗi khúc quanh của lịch sử, chủ trương và hành động đúng cũng đều là kết quả của tư duy, của nhận thức tập thể, của bao nhiêu đầu óc cộng lại, từ đầu óc của người lãnh đạo cao nhất tới đầu óc của người chiến sĩ, người dân bình thường trong khi vì yêu nước yêu dân mà xông phá vào thực tế cụ thể sinh động ở chiến trường. Không một người nào luôn là đúng, cũng không một người nào luôn là sai, vì tất cả đều là con người. Cái cao quý nhất, sáng suốt nhất là nhận ra được cái sai và kiên quyết kịp thời sửa chữa. Ngay cả tập thể nữa không phải lúc nào cũng đúng hết. Nhưng chắc chắn là tập thể ít sai lầm nhiều hơn là cá nhân chuyên quyền. Hồ Chủ Tịch, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta, của dân tộc bằng một câu rất ngắn gọn nhưng rất thâm thúy:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.

Đoàn kết đây không phải chỉ là đoàn kết trong hành động mà trong mọi lĩnh vực tư tưởng suy nghĩ, nhận thức, tư tưởng, ý chí. Và cũng chính vì thấm nhuần truyền thống ấy mà Người thành con người hết sức giản dị, hết sức khiêm tốn. Người là tập trung trí tuệ của mọi người. Đạo đức Hồ Chí Minh tỏa sáng non sông, chiếu rọi từng tấm lòng Việt Nam. Người không chỉ thấy rõ mình mà thấy rõ mọi người, công minh, chính trực, lòng tương mênh mông.

Dân tộc ta cũng đã đúc kết truyền thống của mình trong quá trình dựng nước và giữ nước bằng câu châm ngôn

“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.

Dân tộc Việt Nam là như vậy, Hồ Chí Minh là như vậy!


(1) Tức đ/c Nguyễn Văn Linh, phó bí thư TWC.
(2) Tức Trần Nam Trung.
(3) Tức Võ Văn Kiệt.
(4) Tức Võ Chí Công.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:10:02 am »

Trong thời kỳ này tôi còn nhớ nhiều câu hỏi của nhiều đồng chí cán bộ ở các chiến trường nêu lên.

“Vì sao Hiệp định đã ký rồi mà ngụy quân, ngụy quyền không rã nhiều”?

Hay nhận định:

“Hiện nay Mỹ cút nhưng ngụy không nhào mà lại mạnh hơn lên”, hoặc:

“Vừa qua là quá trình Mỹ thua nhưng cũng là quá trình ngụy quyền tồn tại và mạnh lên, cả về chính quyền, về quân đội và về kinh tế…”.

Có một số triệu chừng bề ngoài cộng với những âm mưu đen tối và ngoan cố, những kế hoạch chủ quan cao độ của Mỹ ngụy, đã làm cho các đồng chí ấy không hiểu được thực chất của tình hình.

Ngay khi Hiệp định Paris có hiệu lực, ngụy đã xua quân lấn chiếm một số vùng quan trọng của ta như Cửa Việt (Trị Thiên), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), đường 4 (Mỹ Tho), đường 2 (Bà Rịa), vùng Bảy Núi (Long Xuyên)… Không những chúng đã lấn chiếm nhiều vùng ta mới mở ra trước ngày 28/1 mà còn chiếm thêm một số vùng ta đã làm chủ từ trước. Trong lúc do chúng tiến hành ào ạt nhiều cuộc hành quân càn quét và cảnh sát trong các vùng trước nay đang tranh chấp giữa ta và địch, các vùng mà chúng đang kềm kẹp, tiến hành bình định, lập các lõm căn cứ du kích của ta, phá cho được thế xen kẽ, da beo, hoàn chỉnh vùng của chúng. Hầu hết ở các chiến trường chúng đều đóng them đồn bót ở nơi mới lấn chiếm và ken dày thêm nơi chúng kềm kẹp, dọc đường giao thông chiến lược, quanh độ thị lớn. Riêng ở bốn tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Kiến Tường, Bến Tre, từ tháng 1 đến tháng 4-73 chúng đóng thêm 297 đồn trong 129 ấp thuộc 24 xã. Cũng trong thời gian đó, Mỹ đã ra sức chở vũ khí phương tiện chiến tranh từ Mỹ, Nhật, Phi Luật Tân qua củng cố và phát triển quân đội ngụy. Chúng trang bị thêm các loại vũ khí hiện đại cho quân ngụy như xe tăng M48, pháo 175 ly “vua chiến trường” của Mỹ, phi cơ F5E... Ngụy đã dùng mọi biện pháp bắt lính đại quy mô. Đổ đồng mỗi tháng chúng bắt 15.000 thanh niên, nhờ đó mà bổ sung được đủ và nhanh cho quân chủ lực của chúng và số còn lại, số dự trữ để bổ sung khá lớn, được huấn luyện tại các trung tâm huấn luyện tân binh mà lúc ấy không nơi nào còn đủ chỗ chứa. Quân bảo an và phòng vệ dân sự cũng tăng lên nhiều. Lập các liên đoàn bảo an để cơ động chiến đấu tại địa phương thay cho chủ lực. Chỉ trong sáu tháng đầu năm 1973 số tiểu đoàn bảo an toàn Miền của chúng đã từ 189 lên 337. Ở các đô thị thì phát triển mạnh cảnh sát. Thành lập nhiều tiểu đoàn cảnh sát dã chiến, đặc biệt là ở Sàigòn. Kế hoạch của Mỹ ngụy là tiếp tục phát triển quân đội ngụy thành một đội quân mạnh 1.100.000 tên, hiện đại hóa, trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa… nhất là tăng cường các binh chủng kỹ thuật. Không quân sẽ lên đến 1.500 – 1.800 phi cơ các loại. Cơ giới sẽ có 31 – 35 thiết đoàn…

Đi đôi củng cố phát triển ngụy quân, chúng tận lực củng cố ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, Tung ccán bộ bình định về xã ấp, đưa sĩ quan quân đội về lập các phân chi khu ở xã – công cụ đàn áp phát xít chủ yếu – Ra sức kềm kẹp nhân dân chặt chẽ hơn như: củng cố hộ liên gia, phát triển “đoàn ngũ hóa quần chúng”… Chúng phát triển do thám gián điệp khắp thôn ấp, tung ra vùng tranh chấp và vùng giải phóng của ta. Để hậu thuẫn cho ngụy quyền Thiện để sẵn sàng yểm trợ quân đội tay sai ở Đông dương – chủ yếu là ở Miền Nam Việt Nam – Mỹ đã để ở Đông Nam Á một lực lượng quân sự cơ động gồm bốn hàng không mẫu hạm, 735 máy bay chiến thuật, 173 máy bay chiến lược B52.

Tất cả những việc nêu trên đây, Mỹ Ngụy đã tiến hành một cách mạnh mẽ ngay từ khi có hiệp định. Có thể nói có hiệp định rồi, chúng lại tích cực đánh phá nhiều hơn, kèm dân chặt hơn, gây cho ta khó khăn không in ở tất cả các địa phương.

Trong lúc đó về phía ta, do qua một thời gian dài hoạt động liên tục từ tháng 4-72 đến nay, nên cán bộ chiến sĩ mỏi mệt, quân số tiêu hao chưa kịp bổ sung, đơn vị nào cũng xốc xếch, thiếu người cầm súng, lương thực đạn dược kém sút, vì vậy mà rất khó đối phó với các cuộc tấn công của địch. Một số nơi buộc phải lùi để địch chiếm mất đất, mất dân. Thêm vào đó, một số cán bộ, một số địa phương, với tinh thần chấp hành chỉ thị của trên là đấu tranh thi hành triệt để hiệp định Paris, công tác binh địch vận vô hiệu hóa quân ngụy một cách hữu khuynh, nguy hiểm, cụ thể hóa ta thành 5 cấm: cấm tấn công địch, cấm đánh quân địch càn quét lấn chiếm, cấm bao vây đồn, cấm pháo kích đồn ngụy và cấm xây dựng xã chiến đấu. Tưởng như vậy để ổn định tình hình, tránh gây căng thẳng để đi vào hòa giải hòa hợp dân tộc. Một số nơi rút các đơn vị ở phía trước về phía sau để chấn chỉnh, củng cố. Cho rằng không rút về sau thì đơn vị sẽ bị tiêu diệt. thực tế là khi rút đơn vị vũ trang ta về, thì địch lại lấn lướt phá cơ sở quần chúng, diệt cơ sở Đảng ta, xóa trạng thái da beo ở đây.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:11:33 am »

Giữa bối cảnh như vậy, nhìn vào hiện tượng rối bời lúc đầu ấy, một số cán bộ từ Trung ương đến địa phương nghĩ rằng sau hiệp định, ta yếu đi nhiều, còn địch thì mạnh lên. Địch thu nhiều thắng lợi mới còn ta thì bị thiệt hại mất mát thêm. Từ đó kết luận rằng hiện nay địch mạnh hơn ta, tương quan lực lượng trên chiến trường có lợi cho địch, bất lợi cho ta, nguy hiểm cho cách mạng. Trên cơ sở nhận định đó mà có một số chủ trương, hành động sai lầm. Tôi sẽ có dịp trở lại những vấn đề cụ thể này.

Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng lần này đã giải đáp một cách đầy đủ tất cả băn khoăn của cán bộ, của các chiến trường. Hội nghị đã phân tích một cách khoa học đúng đắn tương quan lực lượng ta địch, đánh giá một cách sâu sắc tình hình đề ra chủ trương sáng suốt đưa cuộc cách mạng Miền Nam đi lên giành thắng lợi. Kết quả của hội nghị này đã được Trung ương Đảng thảo luận nhất trí và thành nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng để đi đến kết quả nhất trí đó, hội nghị Bộ chính trị đã trải qua một cuộc thảo luận khá sôi nổi, có lúc rất gang. Một sự cọ xát giữa nhiều ý kiến khác nhau, giữa nhiều nhận thức về thực tế biểu hiện trên các chiến trường… Được dự hội nghị này, tôi thấm thía biết bao về tinh thần trách nhiệm cao của từng đồng chí dự họp, tinh thần dũng cảm phản ánh thực tế tình hình chiến trường, tinh thần đấu tranh mạnh mẽ vì chân lý và tinh thần yêu nước, đoàn kết, khách qua. Đó là cách làm việc dân chủ và tập trung của Đảng ta, bí quyết của mọi chủ trương đúng đắn, của mọi thành công.

Vấn đề thảo luận sôi nổi nhất, ngay từ đầu là vấn đề ta mạnh hay địch mạnh. Nhận xét về mạnh yếu không phải là chuyện dễ dàng. Nói chung chung mà không đi vào cụ thể thì không thể xác minh đó là mạnh yếu. Đi vào cụ thể mà không phải là cái cụ thể chung nhất thì nói yếu mạnh không hẳn là đúng mà có khi ngược lại. Lại còn cái mạnh, cái yếu ở nơi nào, thời điểm nào, là nhất thời hay cơ bản và khả năng vận động chuyển hóa của sự vật, của cái yếu và cái mạnh ấy. Và cũng phải hiểu thế nào là sức mạnh. Ví dụ sau Hiệp định một iểu đoàn chủ lực ngụy được bổ sung nhanh lên đến 400 – 500 tên, lương thực, đạn dược đầy dủ, trong lúc đó tiểu đoàn chủ lực của ta chưa được bổ sung, cao lắm là được 200 quân, đạn dược thiếu, lương thực kém. Tổng quân số ngụy sau khi quân Mỹ và chư hầu rút, cỡ từ 70 vạn đến một triệu mốt, còn ta tại chiến trường đạt tỷ lệ 1/3 so với địch là cao rồi. Nếu lấy cái cụ thể đó mà kết luận rằng ngụy mạnh ta yếu thì không thể đúng được. Ngoài số lượng vật chất ấy còn phải tính đến rất nhiều yếu tố cộng lại. Như sức mạnh tinh thần của người chiến sĩ, chất chiến đấu về kỹ thuật, chiến thuật của đơn vị, nghệ thuật chỉ huy của cán bộ, thế bố trí của đơn vị, nhiệm vụ của nó, trong kế hoạch chiến dịch và chiến lược, trong tấn công hay trong phòng ngự ngày hôm nay hay ngày mai… Đó là chưa nói đến vấn đề rộng lớn hơn nhiều là yếu tố chính trị, mục đích cuộc chiến đấu, yếu tố nhân dân… mà không một quân đội nào thoát ra ngoài được. Cuộc chiến tranh giải phóng chính nghĩa của ta mà bao nhiêu nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ là tiến hành bằng cả hai lực lượng quân sự và chính trị. Ta tấn công địch bằng cả lực lượng quân sự và cả lực lượng chính trị quần chúng. Nói mạnh yếu không thể chỉ nhìn khía cạnh quân sự thôi mà phải nhìn mọi mặt, cả khía cạnh chính trị đôi bên nữa.

Hàng chục năm trong chiến tranh, có biết bao lần ta phải đánh giá tương quan lực lượng ta địch. Năm 1959 là thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng Miền Nam, ngụy quyền Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp nơi đàn áp phát xít đẫm máu. Chỉ có một quân đội của Diệm tung hoành trên chiến trường như một võ sĩ diễu võ dương oai trên võ đài, không có đối thủ. Thế mà Nghị quyết 15 của Trng ương Đảng đã tạo ra một phong trào đồng khởi với sức mạnh vũ bão, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, làm cho Mỹ hoảng hốt phải mở cuộc chiến trnh đặc biệt để cứu bẻ lũ Diệm khỏi sụp đổ. Lúc này, nếu không có cái nhìn cách mạng, biện chứng thì không thể nào thấy sức mạnh của ta đang còn tiềm tàng trong dân, mà chỉ thấy sức mạnh của thể của địch. Năm 1965; số dân đi với cách mạng trong các vùng đã khá đông, nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng cũng không thể nhiều hơn dân bị địch kềm kẹp (nhưng đừng ai tưởng rằng số dân địch kềm kẹp là của địch). Lực lượng vũ trang ta thì du kích tương đối mạnh, nhưng chủ lực mới xây dựng một số ít trung đoàn. B2 lúc ấy mới có 2 trung đoàn.chiến đấu được. Còn địch ngoài bảo an, dân vệ chúng có hàn chục sư đoàn trang bị kỹ thuật mạnh và hàng vạn cố vấn Mỹ, lại có các đơn vị trực thăng, phi cơ chiến đấu, tàu hải quân Mỹ yểm trợ và tham gia trực tiếp chiến đấu. Thế mà chúng ta đã mở chiến dịch Bình Giã, tiêu diệt gọn nhiều tiểu đoàn mạnh của địch và các chi đoàn thiết giáp, hạ nhiều máy bay, mở ra một thời kỳ mới trong chiến tranh. Sau các trận đánh sân bay Biên Hòa, chiến dịch Bình Giã rồi các trận thắng Ba Gia, Pleiku, Mỹ ngụy đã thấy rõ nguy cơ ngụy quân bị tiêu diệt, ngụy quyền sụp đổ. Vì vậy mà Mỹ phải ào ạt đưa quân Mỹ vào để cứu nguy, chữa cháy, chuyển chiến tranh đặc biệt thành chiến tranh cục bộ, theo đúng chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của Mỹ để làm tròn vai trò xen đầm quốc tế. Trước khi quân Mỹ vào, so sánh tương quan lực lượng ta địch, căn cứ nhìn số lượng cụ thể, vật chất kỹ thuật đơn thuần, thì đảm bảo rằng ta mạnh, có khả năng tiêu diệt ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền? Rồi khi quân Mỹ ào ạt vào một lúc khoảng 20 vạn quân, trang bị hiện đại, dựa vào sức mạnh của hỏa lực áp đảo và cơ động nhanh, tiến hành phản công chiến lược mùa khô 1965 – 1966, ta nhận định rằng Mỹ Ngụy không mạnh và bị động, và ta vẫn nắm vững chiến lược tấn công, ta mở chiến dịch tấn công Bàu Bàng – Dầu Tiếng và giành chủ động chiến trường, thu nhiều thắng lợi. Năm 1968 khi quân Mỹ lên tới gần nửa triệu quân với các vũ khí hiện đại đủ loại, trừ bom nguyên tử, lại mua được xương máu của một số quân chư hầu tay sai ngoài quân đội Thiệu, thế mà ta thấy rõ được chỗ yếu của địch, thấy được sức mạnh của ta, phát huy sức mạnh ấy cao độ tiến hành cuộc tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân, có một không hai trong lịch sử chiến tranh xưa nay. Đòn Mậu Thân không những đánh địch cùng một lúc vào mọi trung tâm đô thị, cả cơ quan đầu não chiến tranh xâm lược Mỹ ở Sàigòn, thủ đô ngụy, mà còn tiêu diệt được nhiều sinh lực quan trọng của Mỹ ngụy. Đòn chiến lược này đã thắng chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đi vào hòa đảm Paris, chuyển qua chiến lược “phi Mỹ hóa chiến tranh” rồi “Việt Nam hóa chiến tranh”. Như vậy ta đã đập tan từ đó chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ. Tên sen đầm quốc tế đã phải run sợ với vai trò tự đặt ra cho nó, tiêu tan mộng ảo “sức mạnh quân sự tuyệt đối Hoa Kỳ”. Nhưng mặt khác trong Tết Mậu Thân, ta không đánh giá đúng về tương quan lực lượng ta địch cụ thể lúc ấy không thấy hết khả năng còn lớn của địch và điều kiện còn hạn chế của ta, đề ra yêu cầu cao quá sức thực tế ta có. Nghĩa là ta không dựa vào sự tính toán khoa học, cân nhắc sâu sắc mọi yêu tố mà có phần ảo tưởng dựa vào sự mong muốn chủ quan. Chính vì vậy mà mặc dầu là một chủ trương tài tình, độc đáo, đúng thời cơ, việc tổ chức thực hành giỏi, táo bạo, hợp đồng tuyệt diệu trên toàn chiến trường, mọi người hành động vô cùng dũng cảm, xả thân, giành thắng lợi hết sức to lớn, tạo ra một bước ngoặt chiến lược có ý nghĩa ở Việt Nam, Đông Dương, chúng ta đã phải chịu một hy sinh thiệt hại lớn lao về sức người, sức của, đặc biệt là cán bộ các cấp, làm cho sức ta yếu xuống rõ rệt. Sau đó không những ta không giữ được tất cả các thành tựu đã đạt được mà còn chịu muôn vàn khó khăn tiếp theo trong những năm 1969 – 1970 để cho cách mạng đứng vững trước cơn sóng gió. Đành rằng con đường cách mạng không bao giờ là con đường suông sẻ đi lên mãi mãi, thắng lợi nào mà không chịu sự hy sinh, nhưng trong trường họp Tết Mậu thân nếu ta cân nhắc, chu đáo, phù hợp với tương quan lực lượng đội bên, đề ra yêu cầu xác đúng thì thắng lợi ta còn to lớn hơn nhiều, tiết kiệm được nhiều xương máu của cán bộ, chiến sĩ, của nhân dân và sự tiến triển sau đó của cách mạng chắc chắn là khác nhiều. Năm 1972, sau một thời gian nỗ lực vượt bao khó khăn hàn gắn những tổn thất to lớn vừa qua, phát triển thế và lực mới của một tinh thần cách mạng tuyệt vời của chiến sĩ và nhân dân, bộ đội ta đã tham gia giành những thắng lợi ở Kampuchia, Lào – tuy vậy chủ lực ta vẫn chưa về hoàn toàn được đất Miền Nam. Trong tình hình như vậy, ta đã xác định đúng thế và lực của đôi bên, mở các chiến dịch tấn công, giành nhiều thắng lợi, phá tan nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của của địch, ở Quảng Trị, Tây Nguyên, Miền Đông Nam Bộ, mở ra nhiều vùng giải phóng liên hoàn ở Đông Hà, Đắc Tô, Tân Cảnh, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bắc Tây Ninh, rồi phối hợp với chiến thắng lớn “Điện Biên Phủ trên không” ở Miền Bắc thực hiện được quyết tâm của ta là đánh tan ý đồ ảo tưởng thương lượng trên thế mạnh của Mỹ, buộc Mỹ phải ký hiệp định Paris có lợi cho ta.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 10:13:12 am »

Rõ ràng qua mỗi giai đoạn của cách mạng, của chiến tranh cách mạng, việc đánh giá đúng đắn sức mạnh của ta và địch, thấy rõ cái yếu của địch và cả cái yếu của ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên là điều kiện cơ bản nhất cho những chủ trương đúng tiếp theo, đưa cuộc cách mạng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến toàn thắng cũng xuất phát từ sự đánh giá tương quan giữa cách mạng và phản cách mạng, không những trong nước mà cả trên thế giới, nói chung là chính xác, mặc dầu có lúc có nơi, có cái cụ thể, đã phạm sai lầm, nhưng cái đúng là bao trùm nên nó quyết định thắng lợi. Có cái gì trên thực tế là hoàn toàn đúng hết đâu. Đứng sợ khi nói đến cái sai, chỉ sợ có sai mà không thấy và không sửa. Nhưng mỗi lần đánh giá sai tương quan lực lượng ta địch thì thế nào cũng đi tới hữu khuynh sợ địch hoặc tả khuynh chủ quan, vấp váp trong chủ trương và hành động. Chính vì vậy mà việc đánh giá tình hình đánh giá tương quan lực lượng, xuất phát điểm của chủ trương đường lối, phải là tập trung trí tuệ tập thể, căn cứ vào thực tế diễn biến mà suy luận và đánh giá.

Hiệp định Paris được ký kết là thể hiện rõ nhất tương quan lực lượng trên chiến trường lúc ấy, Mỹ ngụy cũng đánh giá kỹ tương quan lực lượng đôi bên, sau khi đã cố gắng giằng co ở Miền Nam, không để mất thêm đất, và đã dở tới thủ đoạn dã man độc ác nhất là dùng B52 oanh tạc tập trung vào Hà Nội, Hải Phòng và phong tỏa Miền Bắc. Chúng đã đánh giá khả năng ý chí của chúng cũng như nắn nót khả năng ý chí của đối phương rồi mới chịu cầm bút ký vào hiệp định, chịu một số điều kiện không có lợi cho nó. Ta cũng đã cân nhắc kỹ sức mạnh của địch đến đâu, mưu đồ của nó là gì và sức lực có thể của ta để ký vào một hiệp định có nhiều điểm lợi cho ta. Như vậy là hiệp định Paris được ký kết trên cơ sở cả ta và địch đều cân nhắc mạnh yếu của nhau và cân nhắc cả tương quan lực lượng trên thế giới nữa. Ký kết hiệp định Paris là Mỹ đã chịu thua một bước nhưng chỉ chịu thua tới đó thôi, ta đã dành thắng lợi nhưng thắng lợi đến đó thôi. Nhưng bước thua đó của Mỹ và mức thắng ấy của ta đã chứng tỏ rằng cách mạng mạnh hơn phản cách mạng rồi. Sao lại cho là ta yếu địch mạnh?

Điều kiện quan trọng nhất ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc chiến tranh mà hiệp định đạt được là quân Mỹ và chư hầu phải rút hết khỏi Miền Nam Việt Nam và Mỹ phải chấm dứt chiến tranh phá hoại Miền Bắc nước ta. Cái hay là chỗ điều kiện này giống như phù hợp với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, phù hợp với chủ thuyết Nixon “Liên minh khu vực, tự phòng thủ” mà không phải là thua phải bỏ chạy. Cái hay ở chỗ là giúp cho Mỹ rút quân đội về nước, thỏa mãn yêu cầu của nhân dân Mỹ, gỡ thế bí là không thể tiếp tục duy trì một đội quân Mỹ ở hải ngoại như vậy lâu hơn nữa mà càng ngày càng bị thua thiệt dẫn đến nguy cơ bị thua hoàn toàn. Việc rút khỏi Miền Nam Việt Nam ấy theo sự quy định của hiệp định tức có sự thỏa thuận đôi bên làm cho Mỹ đỡ mất mặt một phần. Còn về ta thì điều kiện ấy vô cùng quan trọng cho sự tiến triển của cách mạng của ta và của cả Đông Dương. Trước hiệp định ta phải đánh cả quân ngụy và hàng chục vạn quân Mỹ và chư hầu, với sự yểm trợ mạnh mẽ của hải quân và không quân Mỹ bao gồm cả máy bay chiến lược B52. Khi hiệp định đã có hiệu lực, quân Mỹ và chư hầu rút hết khỏi chiến trường. quân Ngụy không còn chỗ dựa là quân Mỹ, không còn được sự yểm trợ mạnh mẽ như trước của không quân, hải quân Mỹ. Hỏa lực của Ngụy kém sút hơn Mỹ nhiều. Mặc dù quân Ngụy có tăng thêm lực lượng, được chủ Mỹ cho thêm phương tiện, vũ khí có cả vũ khí hiện đại hơn trước, nhưng muốn phát huy được hiệu lực của các binh chủng mới, của lực lượng mới, phải qua một thời gian hoàn thiện và rèn luyện trên thực tế. Đã vậy việc đảm bảo kỹ thuật cho từng ấy quân ngụy, hiện đại hóa, không phải là chuyện dễ dàng và càng không thể khắc phục trong một vài năm. Đó là chưa nói đến trạng thái tinh thần của quân ngụy đã bị hoang mang do sự tác động của quần chúng nhân dân sau khi hiệp định Paris được ký kết. Thực tế trên chiến trường qua báo cáo của tất cả các đơn vị, địa phương thì sau hiệp định, hỏa lực pháo và không quân của ngụy trong tác chiến đã giảm sút đáng kể và càng ngày càng có chiều hướng giảm sút. Sự chi viện của pháo và không quân ngụy cho bộ binh rất tồi vì bắn không chí xác và số đạn hạn chế. Quân ngụy trước nay quen dựa vào quân Mỹ, nay phải đơn độc tác chiến, thiếu sự chi viện và yểm trợ có hiệu lực của Mỹ, nên tinh thần sa sút rất rõ. Như vậy sau hiệp định, tương quan lực lượng trên chiến trường đã thay đổi một cách rất quan trọng, có lợi cho ta sức chiến đấu của quân ngụy tụt xuống rõ ràng, thế và lực ta phát huy mạnh mẽ. thế mà lại cho rằng Mỹ rút mà ngụy mạnh lên, mạnh hơn ta thì thật là một sự suy luận không có căn cứ, không khác nào tưởng tượng ra ma để tự nhát mình.

Hiệp định đã quy định chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Hoa Kỳ chống lãnh thổ nước việt Nam dân chủ cộng hòa bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển bất cứ từ đâu tới… Như vậy Miền Bắc xã hội chủ nghĩa sẽ có điều kiện rất tốt, phá huy hiệu quả to lớn của căn cứ địa của cả nước, có điều kiện làm tròn tốt nhất hậu phương lớn của cách mạng Miền Nam. Thế và lực của Miền Nam ta mạnh, của cả nước ta mạnh thì sẽ hoàn thành thắng lợi sự nghiệp cách mạng vẻ vang là điều chắc chắn, tuy còn phải trải qua nhiều khó khăn. Song ta cũng phải thấy hết cái yếu còn tồn tại của ta để không chủ quan, để nỗ lực khắc phục. lực lượng vũ trang của ta đã xốc xếch, cần phải gấp rút bổ sung, củng cố. lực lượng quân địa phương và du kích còn quá ít, công tác dân vận ta còn nhiều kém cỏi… Nhưng ta khắc phục những cái yếu và khó khăn ấy trong thế thắng, thế mạnh với một tinh thần phấn khởi tự tin.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM