Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Sáu, 2024, 01:36:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm - Thượng tướng Trần Văn Trà  (Đọc 2994 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:16:57 am »

Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm
Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm xuất bản: 1982
Số hóa: macbupda


LỜI NÓI ĐẦU

Năm 1978, Tổng Cục Chính Trị Quân Đội nhân dân Việt Nam chủ trương cán bộ đã công tác và chiến đấu ở các chiến trường ghi hồi ký của mình về cuộc chiến tranh chống Mỹ oanh liệt của dân tộc ta và đề nghị tôi viết về B2 trong mùa Xuân thắng lợi năm 1975: “B2 đã chấp hành nhiệm vụ của Trung ương giao thế nào? Đã đóng góp gì vào mùa Xuân vẻ vang ấy?”.

Vâng, cũng như các chiến trường trên toàn quốc, để làm tròn nhiệm vụ vinh quang của mình, B2 đã đóng góp không nhỏ vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Vùng đất B2, con người B2, đã tự hào xứng đáng là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhớ lại và ghi về những sự việc xảy ra ở đây là một vinh dự và cũng là trách nhiệm của mọi cán bộ chiến sĩ, mọi người của B2. Tôi đã nhận lời.

Nhưng tôi nghĩ lại sự đóng góp của B2, một chiến trường chủ yếu, không những chỉ là riêng lẻ những trận đánh, những cân gạo, những con đường, những con người đã ngã xuống, mà còn là những cái gì lớn hơn nhiều, có giá trị về chiến lược, nghệ thuật tổ chức, bằng thực tế thúc đẩy quá trình thắng lợi của cuộc chiến tranh, có tính chất góp phần vào chủ trương, đường lối của Trung ương nữa. Cũng không phải chỉ toàn là những chiến thắng hào hùng, mà còn cả những thất bại chua cay tạm thời, từng nơi, từng lúc, vì tất cả đó là sự thật, và là những kinh nghiệm quý báu. Nó là những nốt nhạc không thể thiếu để dựng thành bản giao hưởng anh hùng của thời đại. Vậy thì chỉ ghi lại một số sự việc của những ngày thắng lợi cuối cùng, dù là thắng lợi rất vĩ đại, cũng sẽ là một thiếu sót lớn. Muốn tạo được mùa xuân bừng sáng, không thể không trải qua một mùa đông âm u; muốn có được mùa khô thắng lợi, không thể không trên cơ sở của mùa mưa năm trước. chỉ nói về ngọn mà không nói về gốc thì thật là khó nói, và nói sẽ không đúng.

Vì vây, tôi quyết định ghi lại những gì tôi biết và nhớ về B2 trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Mỹ lâu dài. Đây là một việc không đơn giản, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ, tìm tòi tư liệu, gặp lại cán bộ, về lại chiến trường xưa, tìm lại sự thật diễn biến hết sức trung thực... Phải nhờ nhiều anh em góp sức, cộng tác, phải cộng trí nhớ của nhiều đồng chí trên nhiều cương vị, nhiều khu vực chiến trường. nhưng tôi quyết tâm làm vì xem đó là trách nhiệm cuối cùng của mình về cuộc chiến tranh giải phóng, và cũng không thể trút cho ai, đối với B2, vùng đất mà tôi rất yêu quý vì hầu như suốt cuộc đời mình, sống và phục vụ ở đó từ những ngày hoạt động chính trị bí mật trước cách mạng tháng Tám cho tới thắng lợi hoàn toàn, thống nhất Tổ quốc và có lẽ tôi cũng sẽ chôn nằm xuống mãi mãi ở đây.

Tôi chia tập sách của mình thành năm đoạn:

Đoạn 1: Từ hiệp định Genève năm 1954 tới phong trào đồng khởi năm 1960.

Đoạn 2: Từ năm 1961 tới 1965, thời kỳ chống chiến tranh đặc biệt có kết quả.

Đoạn 3: Từ năm 1965 đến năm 1968 – Đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ.

Đoạn 4: Từ 1969 đến 1973 – chống Việt Nam hóa chiến tranh và đuổi quân Mỹ khỏi Việt Nam.

Đoạn 5: Từ Hiệp định Paris 1973 đến ngày toàn thắng (1973-1975).

Tôi bắt đầu viết về giai đoạn chiến lược cuối cùng, giai đoạn còn đang nóng hổi (đoạn 5) vì nó phù hợp với yêu cầu của nhiều người, đặc biệt là anh em B2.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #1 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:18:38 am »

Nhưng B2 là gì? Cho đến nay có thể nhiều người cũng chưa rõ lắm. Để tiện bạn đọc dễ hiểu hơn những sự việc ghi lại, thiết tưởng tôi cần nói một vài nét về chiến trường B2.

“B2” là ký hiệu để gọi của một vùng đất và những con người ở phần phía nam tận cùng của Tổ quốc trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ. Cả Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 chạy về phía Nam, lúc ấy ta chia làm 4 chiến trường – B1 hay thường gọi là Khu 5 gồm những tỉnh ven biển Miền Trung từ Quảng Nam – Đà Nẵng vào đến Phú Khánh ngày nay. B3 là vùng Tây Nguyên bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kontum và Đắc Lắc. B4 là Quảng Trị và Thừa Thiên cũ. Và B2 là phần còn lại của Miền Nam từ Tỉnh Gia Nghĩa cũ (một phần của tỉnh Đắc Lắc ngày nay), Lâm Đồng, Thuận Hải chạy vào tới mũi Cà Mau, Côn Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc. Nó bao gồm vùng rừng núi bao la, cái đuôi của dãy Trường sơn hùng vĩ. Từ những ngọn núi cao 1.500 – 2.000 mét ở bắc Đà Lạt, Lâm Đồng, hạ thấp dần xuống Miền Đông Nam Bộ. Tiếp ngay theo đó là vùng đồng bằng rộng rãi phì nhiêu, đông dân, vùng lưu vực sông Cửu Long với những căn cứ kháng chiến nổi tiếng của ta từ xưa như Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười... Đây là một vùng địa hình bằng phẳng, trống trải, ẩm thấp, ruộng lúa xen kẽ vườn tược, xóm làng bị chia cắt bằng những hệ thống sông lớn như: Đồng Nai, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Cửu Long và rất nhiều sông con, kinh rạch. Có khu vực hầu như quanh năm ngập nước, hoặc sáu tháng nước, sáu tháng khô. Có nơi bón mùa đều thiếu nước ngọt. Một bờ biển dài hàng ngàn Kilômét và một thềm lục địa rộng, giàu tài nguyên thiên nhiên, với các cảng biển và cảng sông lớn như Vũng Tàu, Sàigòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá... có lợi thế cho bọn giặc xâm lược từ đại dương vào. Hệ thống đường sá ở Nam bộ phát triển cao nhất trong toàn Miền Nam được Mỹ củng cố xây dựng để đảm bảo và thích hợp với những cuộc hành quân cơ giới của chúng. Thủ đô Sàigòn của ngụy quyền tay sai là thành phố lớn nhất, có lúc lên đến 4 triệu dân; là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của cả Miền Nam Việt Nam, nằm ngay giữa B2, liên kết với nhiều thành phố lớn khác như Đà Lạt, Phan Thiết, Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá thành một hệ thống căn cứ xuất phát hành quân của Mỹ - Ngụy đánh phá khắp nơi. Đó cũng là trung tâm áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, nơi lan truyền cách sống Mỹ sa đọa, nơi tiêu dùng hàng hóa Mỹ và phục vụ cho các đội quân viễn chinh đông đảo và cho lực lượng tay sai. Mỹ ngụy tổ chức Miền Nam thành bốn vùng chiến thuật. Kể từ sông Bến Hải trở vào tính là vùng 1 cho đến vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu Long. Thành phố Sàigòn nằm giữa vùng 3 chiến thuật, tổ chức thành biệt khu Thủ đô, nơi đầu não chỉ huy, là trung tâm bộ máy chiến tranh xâm lược của Mỹ - ngụy.

Chiến trường B2 của ta chiếm khoảng 1/2 đất đai và khoảng 2/3 dân số của toàn Miền Nam, tương ứng với một phần vùng 2 và cả vùng 3 và vùng 4 của địch gộp lại.

Để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, ta chia B2 thành: Khu 6 (Phần cuối đất Trung bộ), Khu 7 (Miền Đông Nam Bộ), Khu 8 (Miền Trung Nam Bộ), Khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) và thành phố Sàigòn – Gia Định(1).

Cũng cần nói thêm là khoảng 3/4 biên giới giữa nước ta và Kampuchia là nằm trên phạm vi B2. Nơi đó có các đường bộ, đường sông nối liền hai nước như các quốc lộ số 1, 22, 13, sông Cửu Long, Sở Thượng, Kinh Vĩnh Tế và các đường, các sông nhỏ khác. Nhân dân hai nước từ xưa quan hệ tốt với nhau trong công tác làm ăn, buôn bán, quen biết, bà con... thường qua lại thuận lợi trên các đường sá sông rạch dọc biên giới. Và cũng từ xưa đến nay số phận hai dân tộc hai bên bờ biên giới khi nào cũng gắn bó nhau, cùng đấu lưng chiến đấu cho hạnh phúc chung của nhau, có vui cùng hưởng, có buồn cùng chia.

Vì vậy mà khiến cho lũ giặc căm tức lồng lộn để rồi mở rộng xâm lược, vươn nanh vuốt vào cả hai đất nước.

Con người B2 ngay thẳng, trung thực, tính tình phóng khoáng, vốn có nguồn gốc ông cha ta xa xưa từ Miền Bắc, Miền Trung thân thiết, có lòng yêu nước nồng nàn; luôn luôn hướng về Bác Hồ muôn vàn kính yêu; hướng về thủ đô Hà Nội, Thăng Long với niềm tin bất diệt:

      “Từ thuở mang gươm đi mở nước,
      “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

(Thơ Huỳnh Văn Nghệ một chỉ huy quân sự ở Nam bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp).

Con người B2 có niềm tự hào với những tuyền thống quật cường cứu nước, cách mạng từ xưa như các phong trào chống Pháp của Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều, Thủ Khoa Huân, Trương Định, có tâm hồn yêu nước cương trực của Nguyễn Đình Chiểu... với “đám lá tối trời”, Cần Giuộc, Gò Công, với “Mười Tám Thôn Vườn trầu” Hóc Môn, Bà Điểm... B2 còn ôm ấp chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong “tiếng sóng Rạch Gầm”, còn lưu luyến thiết tha dấu vết người đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân vị lãnh tụ Hồ Chí Minh anh minh - ở thị xã Phan Thiết, ở Bến nhà Rồng... Rồi bao nhiêu máu của những người đi trước đã đổ trong các phong trào Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1940, cách mạng tháng 8 năm 1945... Tất cả những cái ấy luôn luôn nhắc nhở, thôi thúc người dân B2, sẵn sàng đứng lên một khi đã thức tỉnh, hy sinh tất cả vì độc lập, tự do...

*
*   *

Viết những dòng suy, nhớ nay tôi chỉ mong làm tròn nghĩa vụ của một chiến sĩ được may mắn sống và hoạt động ở một thời đại vinh quang của Tổ quốc, của dân tộc, trước hết là nghĩa vụ đối với B2, đúng ra là với những con người của B2 mà tôi hàng yêu mến; những con người từ thành thị đến nông thôn, sống rải rác ở rừng núi, bưng biền hay tập trung ở các khóm phường, làng mạc. Đặc biệt là đối với những bạn bè; người thân; đồng chí; đồng đội, những người đã quen biết cũng như chưa hề quen biết, có quê hương khắp đất nước từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, dù ngã xuống trên đất B2, đã đem máu của mình nhuộm thấm từng tấc đất B2 để đổi lấy độc lập, tự do, đã hy sinh tất cả cho Bắc Nam một nhà, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là những con người có công to đối với thắng lợi vĩ đại vừa qua của dân tộc, của Tổ quốc. Đúng, chỉ có họ, những con người không chút tính toán, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của mình là những người xứng đáng nhất cho con cháu nghìn đời sau mãi mãi ghi nhớ công ơn. Nghĩa vụ rất đỗi thiêng liêng ấy, mà cũng là mệnh lệnh của lịch sử, của nhân dân là ghi nhớ lại một cách trung thực, suy nghĩ một cách đúng đắn về những diễn biến, những sự kiện; những chịu đựng và hy sinh cao cả của mảnh đất và con người B2 mà tôi đã chứng kiến, được biết và còn nhớ.

Tất nhiên do sự hiểu biết cũng như trình độ ghi chép có hạn, do phạm vi mỗi bài viết, mỗi tập sách chỉ có thể tập trung nói về một số vấn đề nào thôi, nên tiếc thay tôi không thể nói hết ở đây những sự tích thần kỳ của những con người Việt Nam trên đất B2 đã thực hiện kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt, đã đóng góp sức lực, tài trí của mình vào cuộc chiến thắng lịch sử. Tôi chỉ mong ghi lại chút ít sự tích ấy trong phạm vi hiểu biết của mình, để đóng góp phần tuy nhỏ của mình với những người còn sống của ngày nay và của cả mai sau. Đó cũng là trả nợ được phần nhỏ nào cho những người đã bỏ mình vì dân tộc, vì giai cấp trên đất B2.

Chính vì trách nhiệm nặng nề như vậy mà tôi đã tự đề ra cho mình một quy định: Viết đúng sự thật hoàn toàn những sự thật có người đã biết cũng có người chưa hề biết, có người thích cũng như có người không. Vì lịch sử khi nào cũng công minh sẽ loai trừ không thương tiếc những gì sai sự thật, không hôm nay thì cũng ngày mai. Tôi mong rằng bạn đọc khắp nơi, nhứt là anh em đã từng hoạt động ở chiến trường B2 góp ý kiến và bổ sung những thiếu sót, những gì chưa đạt. Tôi sẽ rất hãnh diện và hàm ân.

Tôi cũng xin tỏ ở đây lòng cảm động và biết ơn đông đảo các đồng chí, bạn bè đã khuyến khích, đã giúp đỡ; góp ý kiến, cộng tác trên mọi phương diện vô cùng quý báu.

Xin cảm ơn các đồng chí ở các Ban Tổng kết chiến tranh các bộ phận tư liệu của Bộ Quốc phòng, của Quân Khu 7, Quân khu 9, của thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí ở các Ban Chỉ huy Tỉnh đội thuộc B2 cũ. Đặc biệt hai đồng chí thượng tá Nguyễn Viết Tá, đại úy Võ Trần Nhã đã để nhiều công sức sưu tầm tài liệu, liên hệ các địa phương, góp phần xứng đáng vào nội dung tập sách này.

MÙA XUÂN 1980


(1) Những tỉnh trong các khu:
- Khu 6: Quảng Đức (Gia Nghĩa), Tuyên Đức (Đàlạt), Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Bình Tuy.
- Khu 7: Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy (Bà Rịa), Bình Long, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Biên Hòa, Tây Ninh, Hậu Nghĩa.
- Khu 8: Long An (Tân An), Kiến Tường (Mộc Hóa), Kiến Phong (Sa Đéc), Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre).
- Khu 9: Châu Đốc, An Giang (Long Xuyên), Vĩnh Long, Vĩnh Bình (Trà Vinh), Phong Dinh (Cần Thơ), Ba Xuyên (Sóc Trăng), Kiên Giang (Hà Tiên Rạch Giá), Chương Thiện (Bạc Liêu), An Xuyên (Cà Mau).
- Đặc khu Sài Gòn – Gia Định.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #2 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:21:38 am »

CHƯƠNG MỘT
MẶT TRẬN MỚI

Hàng loạt bom B.52 nổ dữ dội và liên hồi làm rung chuyển các hầm trong Sở chỉ huy Bộ Tư Lệnh Miền. Ngay sau đó, loa phóng thanh treo trên các cành cây vang lên tiếng báo cáo của trực ban canh gác khu vực:

“Chín chiến B.52 chia làm ba tốp thả ba loạt bom ngang qua khu A, giữa B1(1) và B2(2). Tất cả đều an toàn”.

Chúng tôi tiếp tục buổi giao ban. Một cán bộ Tham mưu lại vào báo cáo: “Điện Bộ Tổng Tư lệnh cho biết Hiệp Định Paris đã được ký kết!.”

Bất giác tôi mỉm cười nghĩ về cái phút giao thừa kỳ quặc giữa chiến tranh và hòa bình này – nếu quả thật có hòa bình. Thì ra Mỹ đã tận dụng từng giây cuối cùng của cuộc chiến tranh dài hàng chục năm, với những con quạ sắt B.52 gở bản “thông điệp hòa giải” đầy ý nghĩa (!)

Dầu sao thì tin Hiệp định hòa bình Paris được ký kết cũng làm cho mọi người thở phào nhẹ nhõm. Nét hân hoan lộ rõ trên từng khuôn mặt của người chỉ huy. Những khuôn mặt dày dạn rám nắng, trông ai cũng gày mà khỏe. Đây phải chăng là phần thưởng quý giá cho gần mười tháng nỗ lực chiến đấu liên tục trên toàn chiến trường nhằm mục đích buộc địch phải ký cho được một hiệp định đình chiến, kết thúc một giai đoạn chiến lược.

Chưa bao giờ có đợt hoạt động quân sự kéo dài và ngày càng gắng sức đến oải cả gân cốt như thời gian vừa rồi. Các quân khu đơn vị đều báo cáo về Bộ chỉ huy Miền những thắng lợi đã đạt được, những vị trí mà quân ta đang giành giật từng giờ với địch, nhưng đồng thời cũng không ngớt báo cáo những khó khăn, thiếu quân số, lương thực, đạn dược và đặc biệt là nói lên sự thấm mệt của cán bộ và chiến sĩ. Tư Lệnh Quân khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) đã điện đề nghị thẳng thừng với Bộ Tư Lệnh Miền cho lịnh kết thúc ngay chiến cuộc để chấn chỉnh lực lượng. Bộ đội không còn sức để đánh nữa! Nhưng, kẻ địch của ta vô cùng ngoan cố. Chúng đã bị thua đau trên chiến trường, đã bị đuối lý trên bàn hội nghị, đã buộc phải chấp nhận ký kết vào tháng 10, rồi lại tráo trở lật lọng. Thế thì ta phải làm gì? Kết thúc hoạt động, nghỉ, mục tiêu chưa hoàn thành ư? Không! Phải tiếp tục đánh. Ta phải đánh cho chúng phải hiểu ra ý chí của con người cách mạng là thế nào.

Cái khó quyết định là ở những giờ phút như thế này. Ngừng lại, sự việc sẽ đi theo một hướng. Ráng lên chút nữa, giành thêm ít thắng lợi nữa, sẽ tạo ra được một chất lượng mới, sự việc tất yếu sẽ theo một hướng khác. Ta đã làm như vậy. Đã ráng lên một chút, đã giành thêm một ít thắng lợi ở Miền Nam trong tình trạng tưởng như kiệt sức, tưởng như không còn gạo, đạn để tiếp tục đánh. Ta đã vững vàng, thông minh và hiên ngang đánh trả, tiêu diệt hàng loạt B.52 và các loại máy bay khác, mười hai ngày đêm ròng rã ở Hà Nội, Hải Phòng, tưởng như sự việc diễn ra trong truyện thần thoại của con Rồng cháu Lạc xa xưa. Và rõ ràng, ta đã tạo được chất lượng mới: Kẻ địch, tên đế quốc đầu sỏ, nham hiểm và tàn bạo nhất của thời đại đã phải cúi đầu khuất phục. Chúng đã phải ký kết một hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết rút hoàn toàn quân Mỹ và chư hầu ra khỏi Miền Nam Việt Nam, công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam.

“... Đánh cho Mỹ chút, đánh cho Ngụy nhào
“Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào
“Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn”.


Thưa Bác, chỉ thị ấy của Bác năm nào, thể hiện chủ trương tài tình của Đảng, nay chúng con đã hoàn thành được một phần quyết định. Mỹ cút ắt Ngụy sẽ phải nhào và Bắc Nam nhất định sẽ sum họp. Chúng con nguyện làm hết sức mình để hoàn thành nhanh nhất ước mong của Bác.

Đó là ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi khi biết chắc Hiệp định Paris đã ký kết.

Bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh đã tạo ra rồi. Một chặng đường dài gay go đã vượt. Xốc lại hành trang, gom thêm sức lực, để bước nốt quãng đường còn lại, có lẽ không kém phần phức tạp khó khăn. Nhưng ta đã nhìn thấy rõ ánh sáng hồng ở chân trời.


(1) Bộ tư lệnh Miền.
(2) Bộ Tham Mưu Miền.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:27:11 am »

*
*   *

Một ngày đầu tuần tháng giêng 1973, trong Sở chỉ huy Miền, tại gian nhà hầm giữa khu rừng căn cứ, không khí nhộn nhịp sôi nổi. Chúng tôi đang theo dõi tình hình chiến trường, đơn vị, nhưng trọng tâm là khẩn trương bàn kế hoạch và biện pháp thi hành hiệp định Paris một cách nghiêm túc, có hiệu quả. Còn bao nhiêu việc phải làm: nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng; cảnh giác với kẻ địch mà chúng tôi đã hiểu biết tường tận từ lâu... Bỗng một cán bộ tham mưu vào trao cho đồng chí Năm Ngà(1) – tham mưu trưởng Miền lúc ấy, một bức điện hòa tốc. Đồng chí Năm Ngà nhẩm đọc lướt nhanh qua bức điện, với vẻ mặt nghiêm nghị, không phân tích được là vui mừng hay lo lắng, trao cho tôi. Nội dung bức điện: Trung ương chỉ định tôi làm Trưởng phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong ban Liên hiệp quân sự 4 bên ở Sàigòn. Ồ! Thật là đột ngột. Trung ương Cục, Quân ủy Miền đã xếp đặt từ trước thành phần của Đoàn và đã được Trung ương đồng ý rồi cơ mà, nay bỗng nhiên có sự thay đổi Trưởng đoàn vào giờ chót. Và chỉ còn vài ba hôm nữa tôi phải có mặt ở Sàigòn!

Trong đời chiến sĩ suốt mấy chục ăn, tôi đã thường gặp biết bao sự việc bất ngờ, trên chiến trường, trong công việc, ở từng con người, của bạn cũng như của thù, nhưng lần này, bất ngờ đến với tôi đầy thú vị và cũng đầy lo lắng. Lo lắng vì công việc quá mới đối với tôi, và gấp quá, phải khăn gói lên đường ngay trong lúc tôi chưa kịp có thời giờ hình dung được công việc, nói gì đến chuẩn bị mọi thứ cho mặt trận đấu tranh mới, hoàn toàn không giống như trên chiến trường. Tuy vậy, trường hợp đột ngột trong công tác mà cấp trên giao cho tôi như vậy không là lần thứ nhất. Tôi đã quen rồi. Tin ở lãnh đạo của trên, tin ở các đồng chí cộng sự, tin ở mình, tôi vẫn bình tĩnh nhận lãnh trách nhiệm. Thực ra trong trường hợp này phần thú vị giành cho tôi nhiều hơn. Sàigòn thân yêu của tôi! Đã lâu lắm rồi từ hồi mồ ma thực dân Pháp, tôi đã sống, hoạt động cách mạng sôi nổi, đã thắng lợi và cũng đã từng nếm mùi thất bại ở đây, đã chiến đấu và phải xa thành phố mấy chục năm nay, giờ đây trở về trong sự theo dõi của đồng bào, đồng chí và trong vòng vây dày đặc của kẻ địch. Những đường phố, chợ búa, nhà máy, những xóm lao động nghèo, quen thân xưa kia giờ đây, chắc chắn đã thay đổi, nhưng có còn giữ chăng những kỷ niệm của những người con Sàigòn, như tôi, quyết tâm ra đi để rồi quyết tâm trở về trong một ngày nắng ấm. Đã một lần rồi, tôi đã cố trở về nhưng chưa đạt và lần này nữa, chưa phải là lần trở về hoàn tất, nhưng vẫn đầy thú vị như trong một giấc mơ đẹp. Trong một phút bao nhiêu ảnh tưởng tượng Sài gòn, xưa có, nay có, diễn qua đầu tôi như một cuộn phim. Thấy tôi ngồi im, đồng chí Mười Khang(2) nhắc:

- Thế nào? Nhận nhiệm vụ đấy chứ: Chúc mừng nhé!

Thế là đồng chí đến bắt tay và ôm hôn tôi, căn phòng tức thì vang lên mỗi người một câu chúc mừng, gởi gắm, rộn rã tiếng cười vui, không còn là không khí của buổi họp công tác nữa.

Tôi trao đổi vào câu với anh Mười Khang rồi xin phép đi chuẩn bị cho cuộc hành trình vào Sàigòn. Mọi việc ở nhà anh Mười Khang đảm trách.

Về đến nhà riêng của mình, nhìn xung quanh cảnh vật quen thuộc từ bao năm, tôi bỗng chốc xúc động với sự tạm biệt. Một cơn gió nhẹ lướt vào, phảng phất hương vị ngọt ngào của muôn loài hoa lá rừng xanh. Trên cánh đồng ruộng hẹp trải dài trước nhà, dọc theo thung lũng, từng đàn chim nhỏ vội vã lượm nốt những hạt lúa còn rơi rớt của vụ mùa sản xuất tự túc vừa qua. Dòng suối róc rách men theo đồng ruộng, len lỏi dưới những rặng cây xơ xác vì bom đạn, mới nhút một ít mần non mơn mởn. Mọi cảnh vật hôm nay dường như cũng đang có một tâm hồn dào dạt, tươi vui, quyến luyến. Không biết tôi còn ngồi trầm ngâm như vậy mấy phút nữa nếu như không có các anh Chín Vinh(3) và Hai Lê(4) phó chính ủy và chủ nhiệm chính trị Bộ Tư Lệnh Miền bước vào, kéo tôi về thực tại.

- “... Anh cần gì nữa, anh đã bằng lòng với tổ chức và thành phần Ban liên hợp của anh chưa? – Anh Chín Vinh hỏi.

Tôi đồng ý giữ nguyên tất cả những gì đã được sắp xếp và chỉ yêu cầu cho thêm tôi đồng chí Tư Bốn(5) Đồng chí là một cán bộ tình báo, anh hùng quân đội, đã ở trong Sàigòn hơn ba năm và mới ra căn cứ mấy tháng nay sau khi đã có triệu chứng bị lộ. Đồng chí rất thạo Sàigòn, rành từng đường phố, biết nhiều nhân vật thuộc vài giới đô thành. Ngoài việc giúp tôi một số việc đồng chí là người lái xe của tôi nếu địch đồng ý để ta tự lo người lái.


(1) Tức Thiếu tướng: Nguyễn Minh Châu.
(2) Tức Đại Tướng Hoàng Văn Thái – lúc ấy là Trung tướng.
(3) Tức Thiếu tướng Trần-Độ.
(4) Thiếu tướng Lê-Văn-Tưởng.
(5) Thượng Tá Nguyễn-Hữu-Trí.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #4 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:30:31 am »

Anh Hai Lê lại nhắc:

- Trung ương còn hỏi anh lấy tên gì điện ngay ra để kịp báo qua Paris, phái đoàn ta cần chuyển cho Mỹ Ngụy.

Từ lâu tôi cũng như mọi người, có dùng tên thật bao giờ đâu mà thường dùng bí danh và thỉnh thoảng lại thay đổi nhằm gây khó khăn phần nào cho sự theo dõi của địch, giữ bí mật cho hoạt động của ta. Mỗi giai đoạn dùng một cái tên cho một công tác nào đó là chuyện thông thường của chúng tôi trong chiến tranh. Giờ đây, trước một nhiệm vụ mới, tôi xuất hiện mặt đối mặt với đối phương, tất nhiên phải lấy một cái tên nào đó. Hầu như không suy nghĩ, tôi lấy ngay tên “Nguyễn Việt Châu” – tên của người em ruột vô cùng thân thiết đã hy sinh năm 1969 trong lúc đang chủ trì cuộc họp Đảng ủy thị xã Cần Thơ. Hai anh em chúng tôi đã cùng sống ở Sàigòn, cùng tham gia hoạt động cách mạng bí mật thời thuộc Pháp ở đây, cùng ra khỏi nhà tù Khám lớn của Pháp, cùng tham gia khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, cùng đi kháng chiến từ Sàigòn thân yêu, nay tôi trở về thành phố này tự nhiên nhớ đến người em yêu quý, người đồng chí chết sống có nhau, được mang cái tên không lúc nào quên này thì sung sướng biết mấy. Nhưng rồi một hôm trong bữa ăn bình thường của Bộ Tư Lệnh Miền có mặt cả anh Bảy Cường(1) tôi mới sự nhớ ra rằng tôi về Sàigòn, không như một người xa lạ mà lại mang một cái tên khác thì thực là bất tiện. Vì nhân dân Sàigòn hẳn nhiều người chưa thể quên những đứa con đã ra đi kháng chiến từ những năm nào và từ ấy đã gởi gắm vào đó niềm tin và hy vọng. Và kẻ địch không ít người đã từng biết tôi ví như Trần Thiện Khiêm thủ tướng Ngụy quyền, Lâm Văn Phát, thiếu tướng Ngụy và một số tướng khác. Sau khi tốt nghiệp trường quân sự Đà Lạt của Pháp, họ đã ra Đồng Tháp xin đi kháng chiến năm 1947. Là tư lệnh Quân khu 8 lúc ấy, tôi đã thu nhận, cho họ đi học và tập sự ở trường quân chính quân khu. Nhưng rồi không chịu được gian khổ, không có tinh thần yêu nước, yêu dân tộc, nên họ lại trốn về đầu hàng Pháp trở lại, tiếp tục phục vụ chủ Pháp rồi chủ Mỹ cho đến nay. Ngay bọn Mỹ có lẽ cũng đã có hàng chục tấm ảnh của tôi. Như vậy tốt nhất dùng tên từ trước mà bạn, thù ai cũng đã biết. Các anh trong Trung ương Cục và Quân ủy Miền đều đồng ý. Thế là lại đề nghị Trung ương chấp thuận và điện qua Paris để thông báo cho đối phương: Trưởng Đoàn đại diện chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam là Trung tướng Trần-Văn-Trà.

Chỉ còn một ít thời gian, tôi vội phác qua kế hoạch chuẩn bị mọi mặt cho công tác mới, kiểm tra lại tổ chức của Đoàn, bàn kỹ với anh Ba Trần(2) về nhiệm vụ, về người, về tài liệu phương tiện, đặc biệt về thông tin liên lạc, dự kiến các tình huống, quyết định các biện pháp và giao cho anh Ba Trần, phó đoàn, thay tôi điều khiển mọi công việc thực hiện.

Anh Ba Trần quê Hóc Môn sông từ nhỏ ở Sàigòn, đã đi kháng chiến từ những ngày đầu chống Pháp năm 1945, là Tham mưu phó Miền, đặc biệt phụ trách tổ chức và điều khiển đoàn tình báo chiến lược. Anh thạo Sàigòn, hiểu biết nhiều về địch, tôi tin ở khả năng của anh và nghĩ có lẽ địch cũng sẽ nể nang anh do dáng người khỏe, trắng mập, có bề thế và chững chạc.

Còn tôi thì họp với Bộ Tư Lệnh Miền có các cơ quan Tham ưu, chính trị, hậu cần... dự, bàn sâu cụ thể về mọi biện pháp phối hợp đấu tranh giữa bàn hội nghị và trên chiến trường. Tôi nhấn mạnh trên bàn hội nghị 4 bên ở Sàigòn, kẻ địch phải kiêng nể chúng tôi, chúng tôi có giành được thắng lợi nào trong việc triển khai thực hiện Hiệp định, thì đó chủ yếu là do sức mạnh của bộ đội ta trên chiến trường, do uy thế của các anh bên ngoài này là chính. Chúng tôi hứa sẽ xứng đáng là những người đại diện của các lực lượng võ trang nhân dân giải phóng Miền Nam anh hùng ngay giữa thủ đô của địch và cũng là giữa lòng đồng bào thân yêu của ta.


(1) Tức đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị bí thư Trung ương Cục.
(2) Thiếu tướng Trần-Văn-Danh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #5 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:31:49 am »

28-1-73 là ngày mà chúng tôi phải có mặt tại Sàigòn. Đã hẹn giờ cho Mỹ đưa trực thăng đến đón chúng tôi ở Thiện Ngôn, một địa điểm nằm về phía Bắc Tây Ninh, ngay trên quốc lộ 22. Thiện Ngôn trước kìa có một lõm dân cư nhỏ sống nghề rừng. Trong chiến tranh, Mỹ đã đuổi hết dân và xây dựng ở đây thành một cứ điểm cho một chiến đoàn Mỹ đóng quân chung quanh. Đầu năm 1972 - lúc này quân ngụy đã thay thế cho Mỹ - Thiện Ngôn là hướng thứ yếu của chiến dịch “Nguyễn Huệ”(1). Trong chiến dịch ta đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm này. Cho nên Thiện Ngôn lúc ấy chỉ là một bãi chiến trường cũ, hoang vắng, cây cối cháy trụi, mặt đất, mặt đường loang lổ hố bom đạn, xác tăng, thiết giáp, pháo, xe vận tải Mỹ ngổn ngang đây đó. Chỉ còn lại đường băng sân bay là tạm xử dụng được chờ trực thăng. Sau khi báo cho địch ngày giờ đón, chúng tôi phái một tổ trinh sát đến tại Thiện Ngôn, dựa vào hầm hố cũ sửa sang lại thành công sự vững chắc, ở đây chờ địch, trước, trong và sau giờ hẹn. Anh em tổ nay thường xuyên cứ 15 phút điện cho chúng tôi biết mọi tình hình diễn biến tại đây. Trong lúc đó một đoàn cán bộ, với đủ phương tiện, thực sự chuẩn bị điểm xuất phát của Đoàn ở sân bay Lộc Ninh. Và toàn Đoàn chúng tôi ung dung tổ chức ăn tết Quý Sửu trước. Chúng tôi biết rằng đến Sàigòn là phải khẩn trương bắt tay vào việc nên mặc dầu còn 4, 5 ngày mơi tới Tết âm lịch, chúng tôi tranh thủ lúc còn “ở nhà”, vùng tự do giải phóng của ta, cùng nhau hưởng một cái tết dân tộc đậm đà tình nghĩa người đi kẻ ở. Ăn trết trước! Âu cũng chỉ là lặp lại một sự việc đã diễn ra đôi lần trong lịch sử chiến đấu của dân tộc ta. Quảng Trung – Nguyễn Huệ đã khao quân ăn tết trước, Tết Kỷ Dậu (1789), tại điểm điểm tập kết quân ở Tam Điệp để rồi tiến về Thăng Long, đại phá quân Mãn Thanh làm nên chiến công hiển hách Đống Đa và chấm dứt vĩnh viễn ngay từ đó sự đô hộ của kẻ thù phương Bắc trên đất nước ta. Mùa Xuân năm 1968 toàn Miền Nam cũng đã ăn Tết trước, Tết Mậu Thân, để rồi xông lên tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, đập tan ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm kinh hoàng Nhà Trắng, làm mất vía Lầu Năm góc và buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào đàm phán với ta ở Paris, và rồi kết thúc hội nghị dài dằng dặc vào mùa Xuân này. Mùa Xuân này, Xuân Quý Sửu, chúng tôi lại ăn tết trước để vào tận giữa sào huyệt của quân thù đòi chúng thi hành đúng đắn Hiệp định và xem chúng còn dở trò gì, chúng thực sự muốn gì.

Giữa căn nhà hầm của Bộ Tư Lệnh Miền, bữa cơm Tết đậm đà hương vị. Không có gì thịnh soạn lắm nhưng cũng có bánh tét và cả bánh chưng, có thịt heo tự túc lại có thịt heo rừng, có dưa hấu và có rượu mùi, có sản phẩm tại địa phương lại có cả quà từ Hà Nội. Các anh bên Trung ương Cục, Mặt trận, Chính phủ, các đồng chí trong Bộ tư Lệnh Miền, đại diện các cơ quan đoàn thể và cả phóng viên Báo quân giải phóng... đã đến dự cùng các thành viên trong đoàn chúng tôi. Thật là thân tình và ấm cúng. Niềm vui tỏa lên nét mặt mọi người. Niềm vui tràn lên từng ly rượu. Chúng tôi chúc nhau thắng lợi, hẹn ngày gặp lại rực rỡ hơn hôm nay, chúc thành công cả trên bàn hội nghị, cả trên bãi chiến trường. Vào giữa bữa cơm tết, câu chuyện đang râm ran thì chúng tôi nhận được bức điện từ Thiện Ngôn: “Đúng giờ hẹn, không có trực thăng Mỹ đến đón Đoàn mà có 2 phi cơ địch bay lượn vài vòng, thả một số loạt bom quanh sân bay. Mảnh bom cùng mảnh xác tăng thiết giáp bay tung tóe ngay quanh hầm chúng tôi. Sau đó yên tịnh”. Mọi người lại rót rượu và cùng nâng cốc chúc sức khỏe của chúng tôi trong Đoàn, chúc mừng sự khôn ngoan và cảnh giác của chúng ta, chúc mừng sốt dẻo một trận thắng đầu tiên của Đoàn trước sự phản trắc đê hèn của Mỹ Ngụy. Câu chuyện trong bữa cơm càng thêm giòn giã, qua bàn luận về sự kiện Thiện Ngôn vừa rồi, về khả năng lật lọng của Mỹ, ngụy đối với Hiệp định Paris, sự phức tạp trong nhiệm vụ của chúng tôi, cũng như trong công tác ở chiến trường. Mặc dù vậy ở mọi người hôm ấy đều nung nấu một niềm tin mãnh liệt, niềm tin tất thắng, bất cứ trong tình huống nào. Ở mỗi cặp mắt ánh lên sức sống rực rỡ của mùa Xuân. Ngoài trời, không khí khô ráo, mắt mẻ dễ chịu. Khắp nơi, dọc mọi nẻo đường, men dài các trảng màu trắng phơ phới của hoa ngành ngạnh, xen lẫn màu vàng óng ả của mai rừng. Vùng căn cứ năm này Xuân về cũng sớm, cảnh vật như cùng đua nhau hưởng ứng niềm vui thắng lợi.

Lộc Ninh, một thị trấn đông dân và sung túc trong vùng giải phóng Miền Đông Nam Bộ, nằm cách Sàigòn 100km ngay trên quốc lộ 13, chạy lên Kampuchia, rồi Lào. Quá về về mạn Bắc là quốc lộ 14 cũ đi lên Ban Mê Thuột – Tây Nguyên và về mạn Nam là đường 17, nối với vùng căn cứ Bắc Tây Ninh của ta. Từ khi được giải phóng, tháng 4 năm 1972, Lộc Ninh trở thành một vị trí quân sự quan trọng làm lo lắng cho quân địch phòng thủ Sàigòn và là một trung tâm chính trị của vùng giải phóng B2. Đất Lộc Ninh vùng đất đỏ phì nhiêu thích hợp với cỏ cây miền nhiệt đới, với rừng cao su bạt ngàn từ thời thực dân Pháp để lại, sum suê những vườn cây ăn trái nào sầu riêng, chôm chôm, xoài, vú sữa… với hàng trăm mẫu tiêu và cà phê có giá trị. Lộc Ninh trước đây vốn là một huyện lỵ thuộc bỉnh Bình Long, một cứ điểm kiên cố nằm trong hệ thống phòng thủ ngoài cùng của Sàigòn do quân đoàn 3 ngụy phụ trách. Trong chiến dịch “Nguyễn Huệ” của ta, đây là hướng chính, là điểm then chốt nhất cần phải thanh toán trên vòng đai phòng ngự tuyến ngoài của địch. Nơi đây không những ta đã tiêu diệt cứ điểm kiên cố cấp chiến đoàn của địch mà còn diệt nhiều trung đoàn xe tăng, thiết giáp nhiều chiến đoàn sừng sỏ của quân đoàn 3 ngụy, bắt sống nhiều tù binh, nhiều sĩ quan trong đó có tên đại tá Vĩnh mà sau này vì nhân đạo, vì thiện chí ta đã trả lại cho Mỹ Ngụy. Chính vì vậy mà Lộc Ninh trở thành biểu tượng chiến thắng của ta, mối nhục thất bại của địch. Ta muốn đối phương đưa trực thăng ra tận đây đón phái đoàn ta để chúng luôn nhớ đến đòn khủng khiếp ấy và từ địa điểm vinh quang này, Đoàn ta hiên ngang đi vào Thủ Đô Ngụy.


(1) Chiến dịch tiến công của ta năm 1972 miền Đông Nam Bộ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #6 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:33:56 am »

Ngay sau khi chúng đã phản trắc bằng cách ném bom vào điểm hẹn Thiện Ngô, ta liền kịch liệt phản đối chúng và hẹn lại ngày đón ta ở Lộc Ninh này. Một lần đánh hụt nhục nhã, hẳn một lần chúng phải tỉnh ngộ với ngón cao tay của đối phương. Ta mong chúng không còn dám dở trò dơ bẩn nào nữa, tuy ta vẫn có đủ biện pháp đề đề phòng bởi ta đã có bản chất kẻ địch không bao giờ thay đổi. Sau khi ném bom Thiện Ngôn nhằm diệt Đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hiệp quân sự Trung ương, đã bị phản đối, chúng lại cho quân càn quét đánh phá ném bom các điểm hẹn đón các đoàn đại biểu ta ở các Ban liên hiệp quân sự khu vực Pleiku, Mỹ Tho, ở các tổ liên hiệp quân sự địa phương Phú Bài, Đà Lạt, Kontum, Tân An. Chúng luôn luôn lợi dụng từng trường hợp nhỏ, bất chấp lẽ phải, bất chấp các điểu khoản của hiệp định, dở mọi mưu mô thủ đoạn hòng tiêu diệt chúng ta, từng người, từng thôn xóm, nếu có thể. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại kích liệt phản đối chúng ngay trong các kỳ họp 4 bên ở Sàigòn và chúng lại xin lỗi, đổ cho bọn bảo an địa phương, hứa sẽ sửa trị. Chúng tôi thừa biết là chúng hứa suông cho qua chuyện. Những sự việc ban đầu đó buộc chúng tôi phải suy nghĩ rằng Mỹ Ngụy đã có kế hoạch phá hoại hiệp định Paris từ việc nhỏ đến việc lớn.

Phải chăng lịch sử lại diễn lại: Pháp đã bị thua nặng phải ký hiệp định Genève 1954 để rồi cùng với Mỹ ra sức phá bỏ không thi hành hiệp định; ngày nay Mỹ, Ngụy bị đòn nặng phải ký hiệp định Paris rồi lại dở trò phá bỏ hiệp định lần này nữa? Dầu sao thì chúng ta là những người đã có kinh nghiệm. Chúng ta đánh, và thương vong, để có được một hiệp định có lợi cho cách mạng. Chúng ta sẽ ra sức đấu tranh để thi hành mọi điều khoản của hiệp định. Vì độc lập tự do của dân tộc, chúng ta sẵn sàng hy sinh chiến đấu đến cùng, đồng thời chúng ta cũng đưa ra bàn tay hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu vớt những người đã lầm đường lạc lối. Nhưng, với kinh nghiệm xương máu đã qua, chúng ta không khờ khạo để tin rằng kẻ địch của ta sẽ thành thật thi hành hiệp định, do đó chúng ta không hề ngạc nhiên về những lật lọng này. Và chúng ta đã có sẵn hai kế hoạch cho hai tình huống, có thể diễn biến: một là do ta đấu tranh có kết quả, do áp lực của nhân dân ta và nhân dân thế giới, kẻ địch buộc phải thi hành đúng hiệp định Paris; hai là chúng lại phá bỏ hiệp định. Tùy ở kẻ địch. Ta nỗ lực cho tình huống một. Nhưng ta cũng sẵn sàng đối phó với tình huống hai.

Ngày 1-2-1973 đúng giờ hẹn, một đoàn trực thăng Mỹ, do một trung tá Mỹ chỉ huy, có sĩ quan ngụy đi theo, bay đúng theo đường bay và tầm cao do ta quy định, lượn một vòng trên vùng trời Lộc Ninh rồi lần lượt hạ cánh theo đội hình hàng dọc thứ tự từ đầu Bắc sân bay. Trong khi bay trên trời hẳn chúng đã nhìn rõ sân bay, phố xá, nhưng quan trọng hơn, chúng còn nhìn rõ hàng loạt các trận địa phòng không và xe tăng, bố trí nhiều vòng xa xa quanh thị trấn, sẵn sàng tư thế đối phó với những trò phản trắc, nếu có. Hôm ấy thị trấn Lộc Ninh quả như một ngày hội lớn. Cờ cách mạng tung bay khắp nơi. Đặc biệt, tại sân bay tỏa ra một không khí trang nghiêm và trật tự. Đông đảo đồng bào các giới, cán bộ, bộ đội ăn mặc chỉnh tề, vẻ mặt hân hoan từ mọi nẻo trẩy về, sắp thành đội ngũ. Một rừng cờ đỏ sao vàng xen lẫn với cờ nửa xanh nửa đỏ và bao nhiêu là biểu ngữ, khẩu hiệu hoan nghênh thắng lợi của hiệp định Paris về Việt nam, đòi nghiêm chỉnh và triệt để thi hành hiệp định, hoan hô phái bộ quân sự chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam… Một cuộc meeting chớp nhoáng diễn ra sôi nổi, khí thế, ngay bên cạnh đoàn trực thăng Mỹ im lìm nằm đợi. Nhiều đại biểu thay mặt các giới, các đoàn thể đứng lên phát biểu ngắn gọn nhưng đều có nội dung hoan nghênh hiệp định, đòi thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hòa bình và hòa hợp dân tộc, chúc mừng Phái đoàn ta và gởi gắm lòng tin tất thắng vào sự đấu tranh của phái đoàn. Tôi đã thay mặt Đoàn tỏ lời cảm ơn cán bộ, chiến sĩ đồng bào đã tiễn đưa thân tình trọng thể, ghi nhớ điều dặn dò gởi gắm vào Đoàn, hứa xứng đáng với niềm tin ấy. Các sĩ quan và tổ lái người Mỹ, cố tỏ ra văn minh, đứng lặng lẽ nhìn, nhưng các sĩ quan ngụy thì bối rối tức bực ngồi lì trong trực thăng mà không dám ra ngoài.

Cuộc meeting kết thúc, theo lịnh của Tư lệnh căn cứ sân bay Lộc Ninh, đoàn trực thăng Mỹ nổ máy khởi động. Tôi quay nhìn khắp lượt đồng chí, đồng bào, trùm lên cảnh vật Lộc Ninh cái nhìn trìu mến rồi lần lượt bắt tay mọi người. Tôi ôm hôn các đồng chí Văn Phác, cục phó chính trị miền đã cùng tôi tham gia chiến dịch “Nguyễn Huệ” cũng ngay tại Lộc Ninh nầy năm trước, đồng chí Lê Thế Thường, phụ trách tuyên huấn của miền, người đã có lần cùng tôi đi suốt dọc Trường Sơn. Đồng chí Thường hẹn: “Tôi sẽ gởi tặng anh cái ảnh tự tay tôi chụp về quang cảnh nhân dân tin yêu tiễn anh và phái đoàn ta vào Sàigòn hôm nay”. Đoàn chúng tôi vẫy chào đồng bào, đồng chí rồi hăng hái nghiêm trang lần lượt lên trực thăng trước sự quyến luyến của mọi người, trước rừng cờ hoa rung chào tiễn biên. Viên thiếu tá Mỹ chỉ huy chiếc trặc thăng của tôi tỏ ra rất lễ phép, cân thận kiểm tra chiếc ghế ngồi của tôi rồi bước xuống đứng nghiêm chào, mời tôi lên, đỡ tôi ngồi vào chỗ thoải mái, gài nịt an toàn cho tôi, xong lui về ngồi vào vị trí của y. đoàn trực thăng bốc lên thứ tự theo đội hình, quanh một vòng trên bầu trời sân bay, nghiêng nghiêng chào rồi thẳng về Sàigòn dọc theo quốc lộ 13. Không phải chỉ đoàn người đông đảo ở sân bay vẫy chào đoàn trực thăng chúng tôi mà hầu như tất cả mọi người, những người đang đi trên đường, đứng ở sân nhà, phố xá, đang làm trong ruộng lúa, rẫy khoai quanh Lộc Ninh đều ngừng việc đứng lên vẫy chào vui vẻ. Một cảnh tượng hết sức cảm động, hết sức hòa bình ngay ở khu vực còn đầy dẫy vết tích của chiến tranh tàn phá. Những người Mỹ ngồi trên trực thăng này, cả bọn ngụy nữa, họ nghĩ gì trước cảnh tượng đó, trái ngược với cảnh mới đây mấy ngày thôi, cũng những chiếc trực thăng này, vốn đã gây ra biết bao chết chóc chia ly cho bao gia đình, bay đến đâu, dưới cánh nó cũng đều vắng vẻ, mặt đất không một bóng người? Bất giác viên thiếu tá Mỹ, quay lại nhìn tôi, vừa tươi cười, vừa kính cẩn nói: “Các ông đã thắng cuộc”.


Máy bay Mỹ cất cánh chở đoàn đại biểu quân sự ta trong Ban liên hợp quân sự bón bên đi Sàigòn
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #7 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:35:18 am »

Đàn trực thăng bay dọc theo đường 13, qua Bình Long, Tầu Ô, Chơn Thành, Bầu Bàng, Lai Khê, Bến Cát… tất cả những nơi này đều từng là chiến trường của rất nhiều trận đánh ác liệt giữa và quân Mỹ, quân ngụy, trong nhiều năm, là nơi còn ghi dấu của bao chiến công oanh liệt của những chiến sĩ miền Đông gian lao anh dũng. Nhìn xuống rừng cây – trước kia um tùm cây to, cây nhỏ chằng chịt chen nhau – mà nay xơ xác hoang tàn. Mặt đất chi chít những hố bom. Nhiều vệt dài tàn phá của bom B52 rải thảm, nằm liền nhau, vắt chéo lên nhau, rừng tan nát. Hèn chi mà từ trên nhìn xuống bọn Mỹ tưởng chừng như nơi nào B52 chúng đi qua là trên mặt đất ở đó không còn sinh vật nào sống sót, rồi huênh hoang rằng B52 là thần chiến tranh khủng khiếp. Đây rồi, ta đang bay qua sông Sàigòn, kia cầu Bình Lợi nằm giữa hai hàng lưới thép dày, sâu tận đáy sông. Và, An Phú Đông, rồi Tân Sơn Nhất. Đàn trực thăng hạ cánh xuống phần sân bay quân sự. Đoàn chúng tôi nói lời cảm ơn với tổ lái và bắt tay tạm biệt. Mọi người gọn gàng trong bộ quân phục chỉnh tề, không có quân hàm của quân giải phóng, đứng thành hàng một cách trật tự trên sân bay. Các sĩ quan xách cặp, đeo súng ngắn. Các chiến sĩ đầu đội mũ tai bèo, vai đeo ba lô và khoác súng AK. Nhưng mọi người đều thống nhất mang dưới chân mình đôi dép cao su nổi tiếng. Không biết Mỹ Ngụy có hiểu được cái dụng ý của chúng tôi không, nhưng các nhà báo trong nước và nước ngoài đông đảo có mặt ở sân bay hôm ấy thì rất tinh. Họ quay phim, chụp ảnh lia lịa. Tôi mỉm cười thú vị khi thấy họ chú ý quay nhiều, chụp nhiều những đôi dép cao su. Họ đã nói: “… và những đôi dép cao su giản dị, hiên ngang, họ đặt chân xuống Tân Sơn Nhất. Họ đi vào thủ đô Sàigòn của Việt Nam cộng hòa lần này cũng vẫn bằng những đôi dép cao su từ Mậu Thân 1968…” (UPI 1-2-73). Đúng, các nhà báo nói đúng sự thật. Những đôi dép cao su đã từng in dấu vết hiên ngang trên đường phố Sàigòn, ở nhiều mục tiêu quan trọng và cả sân bay Tân Sơn Nhất này nữa, cũng như trên khắp các thị trấn, thị xã, thành phố toàn Miền Nam hồi tết Mậu Thân để có được khung cảnh ngày nay – những đôi dép cao su vào Sàigòn lần này bằng bước đi đầy thiện chí – để rồi một ngày nào đó chắc chắn cũng những đôi dép cao su sẽ trở về Sàigòn một lần nữa – trong ngày giải phóng Sàigòn. Tôi nhìn từ đầu hàng đến cuối hàng các cán bộ và chiến sĩ của tôi trong đoàn mà nghe lòng vui sướng và tự hào. Những ánh mắt sáng, những nụ cười tươi, họ đứng với dáng đứng thẳng và chững chạc uy nghi, tất cả đều biểu lộ một lòng tin của kẻ chiến thắng. Họ là những cán bộ và chiến sĩ từ khắp chiến trường với nhiều cương vị khác nhau, bộ phận khác nhau và lứa tuổi cũng khác nhau. Có người có mặt từ cuộc kháng chiến chống Pháp, có người bắt đầu từ chiếc mõ tre trong đêm Đồng Khởi. Có người đứng lên cầm súng từ Tết Mậu Thân ngay tại đất Sàigòn này, cũng có người mới vừa tròn tuổi quân, nhưng đã từng góp phần vào chiến thắng Lộc Ninh, đường 13 bất diệt. họ đứng đó giản dị bình thường, thản nhiên trước ống kính của các nhà báo cũng như trước ánh mắt soi mói có, tò mò có, ngạc nhiên có, của quân cảnh Mỹ Ngụy lăng xăng đông đảo rảo quanh. Từ những đám đông người, xuất hiện những bộ quân phục, quân hàm của quân đội Hung và Ba Lan đến gần chúng tôi. Thì rra các đồng chí Hung và Ba Lan trong Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát cũng ra sân bay đón chúng tôi với nhã ý là sẵn sàng giúp đỡ khi Đoàn cần thiết. Tôi đã thân mật chào các đồng chí, tỏ lòng cảm ơn nồng nhiệt. Sau khi làm vài thủ tục đơn giản xong, chúng tôi lên xe, một đoàn xe du lịch đen của Mỹ hiệu Ford có, hiệu Chevrolet có, đi về trụ sở của Đoàn mà Mỹ ngụy đã tự sắp xếp: “Trại David” – ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất.

Trại David, một trại của lính Mỹ trước đây nay đã được sửa sang lại, bao gồm nhiều nhà trệt tạm thời bằng gỗ và lợp tôn, xây dựng thành từng hàng thẳng, giữa có những đường đi rộng, thỉnh thoảng mới được một vài cây có bóng mát. Nắng chói chang, nóng dữ đội, đặc biệt là vào buổi trưa. Ban ngày oi bức như vậy lại thêm tiếng gầm rú của đủ loại máy bay và trực thăng, tiếng ồn ào tạp nham từ mọi hướng làm cho ai nấy đâm ra bực bội, khó chịu còn đâu trí óc thảnh thơi suy nghĩ làm việc và nghỉ ngơi. May mà khí hậu tự nhiên ở đây từ mặt trời lặn và đêm là mát dịu trở lại, nhưng vẫn không dứt được tiếng ồn chát chúa liên tục. Thật rõ là một trại lính. Hoàn toàn phù hợp với người lính đang trong cuộc chiến tranh, hày còn quá xa với các tiêu chuẩn tối thiểu cho những phái đoàn ngoại giao. Đúng là bọn chúng chơi khăm chúng ta đây. Có lẽ chúng cũng mất nhiều công phu để tìm ra một trụ sở khá “thích hợp” cho cả hai phái đoàn ở chung: phái đoàn quân sự của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và phái đoàn chúng tôi.


Trong trại Davít

Xe vừa vào khỏi cổng trại thì anh Lê Quang Hòa, anh Lưu Văn Lợi, anh Hồ Quang Hóa, anh Bùi Thành Tín và đông quá, toàn là quen biết, hầu như tất cả phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa ùa ra vây chặt đoàn xe. Chúng tôi vừa xuống xe, anh Hòa tặng tôi một bó hoa Lây-Dơn còn tươi mát của thủ đô Hà Nội rồi mọi người chạy đến hôm hôn nhau, tiếng cười tiếng vỗ vai đôm đốp. Thật là cảm động, thật là thân tình ruột thịt của những đứa con cùng một mẹ - bà mẹ Tổ quốc đã quằn quại đau thương trong bao năm khói lửa của chiến tranh. Thật là gần gũi, thật là vui mừng khi những người bạn chiến đấu cùng sống chết với nhau ở chiến trường trước một kẻ thù tàn ác nay lại gặp nhau ngay trong lòng địch, chung quanh dày đặc quân thù vì một mục đích cao cả: đấu tranh cho hòa bình, hòa hợp dân tộc.


Phái đoàn VNDCCH và phái đoàn CPCMLTCHMNVN
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:48:33 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #8 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:36:36 am »

Tôi quay qua ôm hôn anh Đoàn Huyên, phó trưởng phái đoàn quân sự, chính phủ cách mạng lam thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, đã vào Sàigòn trước để họp các phiên họp cấp phó trưởng đoàn, bàn các thủ tục làm việc. Anh Dương Đình Thảo, đoàn viên của phái đoàn chúng tôi cũng vào kịp đến Sàigòn qua đường Paris đã sốt dẻo chuyển cho tôi thở và những lời thăm hỏi chúc mừng nồng nhiệt của chị Nguyễn Thị Bình và phái đoàn ta ở Paris.

Trại chia làm hai: một bên giành cho phái đoàn anh Hòa, một bên giành cho chúng tôi. Nhưng Mỹ Ngụy đã có nhã ý chuẩn bị cho hai trưởng đoàn một cái nhà tương đối tươm tất, làm theo kiểu nhà sinh đôi, mỗi bên một người ở, có đủ phòng khách, phòng làm việc, phòng ăn, phòng ngủ, phòng tắm rửa và vệ sinh. Các phòng cửa nẻo kín đáo, có đủ máy điều hòa không khí, đèn sáng, máy điện thoại và các tiện nghi khá tốt. Chúng tôi hiểu rõ “lòng tốt” của họ. Vì vậy mỗi người chúng tôi đã dọn một căn phòng khác để ở và làm việc trong dãy nhà chung của anh em. Còn nhà ấy đóng cửa lại và giao cho một số chuyên viên kiểm tra. Sau một thời gian lục lọi, tôi không biết mất bao nhiêu ngày, anh em cho chúng tôi xem một vài máy nhỏ tìm được, một số micro rất bé gắn dấu trong nẹp bàn của phòng làm việc và phòng khách. Chúng tôi cười với nhau, không hiểu đây là công trình của Mỹ hay ngụy hay là trò chơi tinh nghịch của những tay thợ mộc kiêm chuyên viên điện tử. Còn nhiều những chuyện thư thế này nữa, nào phá rối các làn sống điện, thông tin của ta liên lạc với vùng căn cứ, nào ghi trộm các điện của ta đánh đi... Nhưng thôi, nói làm gì, âu cũng là chuyện thông thường của Mỹ ở thời đại điện tử này, những chuyện ấy thấm gì với chuyện Watergatt sau này ở Oa Sinh Tơn. Quan trọng là ta đã biết, đã đề phòng từ những chuyện nhỏ nhặt nhất. Đó chẳng qua là sự tiếp tục của một cuộc chiến tranh chưa chấm hết mà kẻ địch đã dùng mọi thứ có thể dùng từ những vũ khí hiện đại giết được nhiều người cùng một lúc đến những máy móc điện tử tinh vi nhất, những ra đa, tia la de trong các máy nhìn trộm, nghe trộm, từ hàng rào MacNamara đến trại David này. Báo “Sao và vạch” của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương ra ngày 15-3-73 đã công nhận “Mỹ vừa kết thúc ba cuộc chiến tranh lớn nhất trong thế kỷ này. Đây (chỉ chiến tranh xâm lược Việt Nam) là cuộc chiến tranh lớn nhất về tổng số bom đạn sử dụng, lớn nhất về sự tàn phá và cũng lớn nhất về sử dụng khoa học, kỹ thuật trong chiến tranh!”.

Đây là việc lạm dụng kỹ thuật hiện đại của Mỹ vào mục đích xâm lược, giết người, lừa đảo. Còn bọn ngụy thì kỹ thuật không có mà trí thông minh cũng không, nên đã được chủ Mỹ phân công, và chúng có sáng tạo thêm, chuyên dở những trò hèn mọn nhỏ nhặt hàng ngày, gây khó dễ cho các phái đoàn ta, như hạn chế việc cung cấp thức ăn đồ dùng của chủ thầu vào trại David, cấm các nhà báo, đặc biệt là cấm nhân dân tiếp xúc chuyện trò với các phái đoàn ta, tìm cách cản trở việc đi lại của ta nhất là ngang qua phố xá Sàigòn, gây trễ nải, làm hư xe, quân cảnh hộ tống đến chậm... rồi dùng trực thăng, xe tăng uy hiếp, mưu dùng tiền gái mua chuộc. Đối với các đoàn địa biểu ta ở các khu vực, các tổ địa phương thì chúng đối xử càng tệ hại hơn nhiều. Bố trí chỗ ở tòi tệ, kém vệ sinh, chật chội, nóng nực, thiếu mọi phương tiện, ví dụ như đoàn khu vực Mỹ Tho, chúng bố trí vào một nhà nhốt gà vừa mới chuyển trong căn cứ Đồng Tâm, mùi hôi thối còn đang nồng nặc. Chúng cung cấp thực phẩm mất phẩm chất, có trường hợp như ở Huế, những đồ hộp quá hạn lâu đã hóa dòi. Trên bàn hội nghị 4 bên ở Sàigòn chúng tôi luôn kịch liệt phản đối cách đối xử của chúng, đòi chúng cử tổ điều tra và giải quyết thì Mỹ đổ thừa cho Mỹ. Út-uốt, thiếu tướng trưởng đoàn Hoa Kỳ, giả bộ: “Thật đáng tiếc, phía Hoa Kỳ không hay biết gì những sơ xuất này. Phía Việt Nam cộng hào đảm nhận những công việc ấy, họ báo cho chúng tôi rằng mọi việc đã hoàn tất”. Những lần như vậy, phía Ngụy cúi gằm mặt im thin thít hoặc đổ cho dưới, bọn địa phương, bọn thực hành không được tốt, rồi cũng đồng ý cử tổ đi kiểm tra, họ hứa sẽ sửa sang lại nhà cửa, thêm thiết bị nhưng rồi đâu vẫn hoàn đó.

Không những thế chúng còn tổ chức những bọn lưu manh, côn đồ phối hợp với Quân cảnh và cảnh sát của chúng, hành hung các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam ta trong các Ban, Tổ liên hợp quân sự đi làm nhiệm vụ như ném đá, ném đồ bẩn, thậm chí còn dùng gậy sắt, dao, búa đánh anh em ta bị thương như đồng chí thiếu tá Lê Thành Nhơn và 2 đồng chí đại úy khác ở tổ Ban Mê Thuột, 6 đồng chí ta ở Huế. Đồng chí Trần Hớn Ngọ bị đánh vào đầu bất tỉnh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi khi đang cùng tổ điều tra của Ban liên hiệp làm việc. Tất cả các sĩ quan và chiến sĩ của ta trong các Ban và Tổ liên hợp đều là những người đã lập nhiều thành tích trong chiến tranh, trên nhiều chiến trường vừa qua, đã chiến đấu rất dũng cảm, như những mãnh hổ trong các trận đánh giờ đây trên mặt trận đấu tranh mới này trong vùng địch kiểm soát, luôn tin tưởng ở chính nghĩa, ở tất thắng của cách mạng, đã rất bình tĩnh, vững vàng, không nao núng trước mọi hành vi xấu xa, uy hiếp hay mua chuộc nào. Chúng ta tự hào biết bao về họ, biết ơn biết bao đối với những anh bộ đội cụ Hồ rất bình thường, nhưng uy vũ không khuất phục tiền tài không lóa mắt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #9 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2018, 09:37:44 am »

Mỹ Ngụy dở những trò đê tiện ấy với mục đích gì? Hẳn không phải để tạo ra một không khí tốt lành để cùng cộng tác thi hành đúng đắn hiệp định, hẳn không phải tạo ra một không khí hòa hợp và hòa giải dân tộc sau bao năm hận thù vì chiến tranh tan nhà, nát cửa. Làm sao mà con người có lý trí đứng trước những hành vi ấy của Mỹ ngụy mà vẫn tin rằng chúng thực tình muốn chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình. Rõ ràng chúng trắng trợn không che dấu bộ mặt nham hiểm, rắp tâm phá bỏ hiệp định.

Vấn đề quan trọng của hiệp định và cũng là vấn đề đầu tiên phải thi hành là ngừng bắn. Điều 2, 3 của Hiệp định và Nghị định thư về ngừng bắn quy định rất rõ ràng cụ thể về chấm dứt hoàn toàn chiến sự, các lực lượng ở nguyên vị trí v.v.... và v.v... Nhưng từ 28-1-1973 là ngày ngừng bắn có hiệu lực đến nay (mãi đến ngày 30-4-1975) mỉa mai thay, chưa hề có ngày nào ngừng tiếng súng trên bất cứ chiến trường nào ở toàn Miền Nam Việt Nam.

Ngay đúng giờ ngừng bắn có hiệu lực, ngụy quyền Thiệu đã cho cả chiến đoàn có xe tăng dẫn đầu, hành quân lấn chiếm Cửa Việt của ta. Ở đây ta đã kiên quyết đánh trả, tiêu diệt quân địch lấn chiếm, giữ vững vùng giải phóng. Và như vậy là ở bàn hội nghị 4 bên ta có mạnh thế tố cáo chúng vi phạm hiệp định. Ngô Du, Trung tướng trưởng đoàn Ngụy cãi liều: Chúng tôi hoàn toàn chiếm Cửa Việt hồi 07 giờ 58 phút sáng 28-1 (chẳng là đúng 8 giờ sáng 28-1 là ngừng bắn có hiệu lực mà). Tôi đập lại: “Cửa Việt đã được chúng tôi giải phóng từ tháng 5-1972 cơ mà. Chúng tôi có mọi chứng cớ hiển nhiên về vụ lấn chiếm trái phép này của quân đội các ngài sau giờ ngừng bắn. Nhưng tôi xin thông báo với Trung tướng tin sốt dẻo rằng nhờ cảnh giác cao, quân giải phóng chúng tôi đã tiêu diệt quân lấn chiếm và làm thất bại cuộc phiêu lưu này, sau khi cố dùng loa kêu gọi họ hãy lùi lại, chớ có vi phạm hiệp định, nhưng không có kết quả. Đây là bài học cho những ai không muốn tôn trọng hiệp định, không tôn trọng chữ ký của mình”. Chúng sạm mặt lại, cay đắng.

Để chặn đứng việc các máy bay địch bay ngang qua vùng ta kiểm soát, ta đòi bàn ngay điều 3 Nghị định thư về các hành lang, các tuyến đường và các quy định khác cho việc di chuyển và của các máy bay vận tải quân sự, các loại xe vận tải quân sự và tàu thuyền vận tải quân sự của bên này phải đi qua vùng do các bên kia kiểm soát. Nhưng rồi trong phiên họp ngày 26-2 phía Mỹ dở trò báo tin khẩn cấp: một C47 bị bắn rơi ở Nam An Lộc, 2 nhân viên phi hành Mỹ bị thương nặng. Tiếp các phiên tới, Mỹ đều phản đối ta và đòi cử tổ điều tra. Ta đồng ý điều tra, nhưng nhấn mạnh rằng trong khi Ban liên hiệp quân sự 4 bên chưa có thỏa thuận về hành lang, độ cao v.v... của máy bay khi bay qua vùng quân giải phóng kiểm soát thì không ai chịu trách nhiệm về sự an toàn của nó cả. Rốt cuộc Mỹ cũng phải im đi cho xong chuyện. Rõ ràng vừa dựa vào pháp lý là hiệp định vừa kiên quyết đối phó với các vụ vi phạm ta buộc Mỹ ngụy phải kiêng nể. Nhưng nơi nào ta yếu và sơ xuất trên chiến trường thì dù địch vi phạm mười mươi đấy, chúng vẫn cãi cù nhầy và bất cần sự phản đối của ta. Ví như vụ ngụy lấn chiếm Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi. Vùng Sa Huỳnh ta đã giải phóng năm 1972 trong đó có một đoạn quốc lộ số 1 tương đối dài. Sau khi ngừng bắn có hiệu lực, ngụy mở hành quân hàng sư đoàn lấn chiếm rồi nối lại giao thông của chúng trên đường số 1. Ta kịch liệt vạch trần âm mưu đòi cử tổ đi điều tra. Nhưng rồi Mỹ ngụy ì ra, xem như việc đã rồi. Cả những làng ấp dọc đường số 4 Mỹ Tho trước 28-1 do ta kiểm soát nhưng sau 28-1 địch liên tiếp hành quân và đóng đồn bót sâu vào vùng ta. Ở đây vì lực lượng ta còn sơ hở ngỡ ngàng, sợ nổ súng đanh trả thì vi phạm hiệp định, nên địch mới lấn chiếm được và nói ngược nói ngạo trên bàn hội nghị là vùng của chúng. Vấn đề ngừng bắn là vấn đề cốt tử của Hiệp định thế mà ngụy quyền Thiệu không cần đếm xỉa đến, ngang nhiên phá hoại Hiệp định từ gốc. Kế hoạch “Lý Thường Kiệt” năm 1975 của chúng đề ra 5 biện pháp chến lược lớn là:

- Lấn chiếm và bình định làm biện pháp trung tâm.

- Xây dựng quân đội mạnh, chánh quyền mạnh làm trụ cột, 5 năm trẻ trung hóa, hữu hiệu hóa và hiện đại hóa Quân lực Việt Nam cộng hòa.

- Phá hiệp định Paris về Việt Nam những điểm nào không có lợi cho Việt Nam cộng hòa (ngụy).

- Phục hồi kinh tế 73-74 – trong kế hoạch dài hạn 73 – 78 như là công nghiệp, đi đôi với bao vây phong tỏa kinh tế đối phương.

- Duy trì lực lượng răn đe cái gọi là chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”, “chiến dịch cắm cờ”. Chúng đã chuẩn bị 1,6 triệu cờ ba que ngụy cho việc này.

Thông cáo của Ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh Việt Nam ra ngày 6-4-73 sơ kết rằng: “Trong thời gian 2 tháng từ 28-1 đến 28-3-1973 chính quyền Sàigòn đã vi phạm hiệp định Paris hơn 7 vạn lần, bao gồm 19.770 cuộc hành quân lấn chiếm, 23 vụ bắn đại bác, 3.375 vụ ném bom, bắn phá bằng máy bay vùng giải phóng và 21.075 cuộc hành quân cảnh sát trong vùng do họ kiểm soát”.

Theo tài liệu địch thu cho đến tháng 10-75 chúng đã đóng thêm được 1.180 đồn bót trên toàn Miền Nam, kiểm soát thêm được 7.253 ấp so với trước 28-1-1973(1).


(1) Tài liệu thu được của địch sau ngày giải phóng hiện giữ tại Ban Tổng Kết chiến tranh B2 thuộc Bộ quốc Phòng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM