Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Mười Hai, 2021, 10:56:38 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tranphu341 - Đoàn bb Sông Lam - Trên chiến trường A - Phần 6  (Đọc 29358 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2390


« Trả lời #100 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2021, 09:44:59 am »


                      Tuýt…tuýt.. tuýt tuýt... tuýt tuýt. Dậy đi, dậy đi, gọi anh em dậy tập thể dục đi đồng chí Thỉnh ơi. Tuýt…tuýt tuýt. Tôi ngơ ngác không biết chuyện gì. Định thần một chút thấy anh Thỉnh bật dậy rồi lay gọi Thắng: Đến giờ báo thức tập thể dục rồi, dậy Thắng ơi. Nhanh, nhanh không lại muộn như hôm qua bị phê bình đấy. Tiếng Thắng ú ớ: Ề… Em đang ngủ, rồi quay trở mình vào phía tôi. Anh Thỉnh cầm tay Thắng kéo dậy giọng dứt khoát hơn: Dậy đi, nào dậy ngay cho quen đi, mai kia vào chiến trường phải thức cả đêm mà vẫn còn phải chiến đấu nữa ấy chứ. Dậy đi, dậy đi. Thắng ề à rồi cũng dậy theo tay kéo của anh Thỉnh. À, đã tới giờ báo thức. Tôi hé mắt nhìn mà sao trời vẫn chưa sáng lắm, tôi hỏi anh Thỉnh mấy giờ rồi mà sao dậy sớm thế. Anh Thỉnh nói: Báo thức lúc 5 giờ, trực ban trung đội đi thổi còi báo thức đấy, mọi người phải tập trung ra sân kho tập thể dục. Nhưng hôm nay Phú còn được nghỉ không phải dậy tập thể dục đâu, Phú cứ ngủ tiếp đi. Anh Thỉnh và Thắng đã dậy và chạy ra chỗ tập trung, tiếng bước chạy xa dần. Trời! Bộ đội phải dậy sớm thế, tôi là chúa ghét việc dậy sớm. Dậy sớm thế này thì khổ lắm, đây là một trong những điều mà tôi ngại nhất, sợ nhất.
          Nhớ lại khi ở nhà, những ngày về nghỉ lễ, tối thứ bẩy và chủ nhật, sáng thứ hai bố con tôi mới xuống xí nghiệp. Những ngày đó là phải dậy từ lúc bốn giờ sáng, bố tôi gọi mãi tôi mới dậy được. Tuổi trẻ về nghỉ lễ, đi chơi với bạn, thức khuya ít ngủ nên rất ngại dậy sớm. Trái ngược với bố tôi vẫn tác phong quân đội nên việc ông dậy sớm hay dậy muộn rất chủ động. Mặc dù tôi đang rất thèm ngủ nhưng giọng của ông gọi dậy rất đanh, rất dứt khoát làm cho tôi không thể nào nằm thêm được lúc nữa. Hôm nay mình được nghỉ không phải dậy sớm nhưng ngày mai lại cũng phải dậy như anh em chắc khổ lắm đây. Vẩn vơ nghĩ ngợi, tiếng hô chạy một hai, một hai xa xa vọng lại, tôi lại chìm vào giấc ngủ.
          Anh Phú ơi, dậy ăn cơm. Nghe tiếng Thắng gọi tôi choàng tỉnh dậy. Trời đã sáng hẳn định thần giây lát tôi hỏi anh em đi tập thể dục về rồi à? Thắng nói: Anh em em đã đánh răng rửa mặt và ăn sáng rồi. Em lấy cơm về cho anh đây này. Anh dậy làm vệ sinh rồi ăn sáng, em với anh Thỉnh lại chuẩn bị đi tập bây giờ. Tôi nói: Muộn thế rồi cơ à? Mấy giờ rồi Thắng? Anh ngủ say quá. Anh Thỉnh nói: Gần bẩy giờ rồi Phú dậy ăn sáng rồi nghỉ ở nhà, anh em tôi đi tập, khi nào có lệnh thì lên đại đội nhận tư trang súng đạn. Tôi choàng dậy, đúng là sau khi anh em đi tập thể dục, mình ngủ say quá. Tôi đi làm vệ sinh cá nhân rồi ra giếng nước kéo nước đánh răng rửa mặt. Giấc ngủ sâu và nước mát rửa mặt đã làm cho tôi lấy lại được sức khỏe và sự tỉnh táo. Nhưng chân tay còn mỏi nhừ do trận đi bộ ngày hôm qua. Anh chị chủ nhà cũng đã dậy từ khi nào. Chị Thu nói: Hôm qua đi bộ dài chắc mệt, thấy chú ngủ ngon quá, tôi cho cháu đi nhà trẻ, anh đi ra đồng rồi. Chú cứ ở nhà, có khoai luộc để phần đấy chú ăn thêm kẻo đói. Tôi nói: Em cảm ơn anh chị, em có cơm rồi, nhìn bát cơm đầy ắp tôi nói: Có mình anh mà sao nhiều cơm thế Thắng? Thắng nói: Sợ anh đói mệt nên em lấy nhiều cho anh đấy. Tôi nói: Anh cảm ơn, nhưng anh ăn sao hết Thắng ăn nữa đi. Tôi sẻ bát cơm làm đôi nhìn bát nước mắm trong veo tôi hỏi: Nước mắm đây à? Thắng nói: Đúng rồi, nước mắm nhưng là nước gạo rang cho muối vào chứ không có nước mắm như ở nhà mình đâu anh. Tôi thở dài ngao ngán, lấy thìa múc tí nước cho lên miệng nếm thử độ mặn nhạt của nó. Đúng là nước muối mặn mặn chứ chẳng có hương vị gì. Tôi chan loại “nước mắm” đặc biệt này vào cơm rồi uể oải xúc cơm ăn. Cố mãi, tôi cũng ăn hết bát cơm đặc biệt đầu tiên đó. Mọi người đã đi tập, anh chị chủ nhà đã đi làm, còn mình tôi ở nhà tự nhiên thấy trống trải buồn buồn.
            Tiếng gà kêu quang quác tranh ăn, ngôi nhà của anh chị chủ nhỏ bé có ba gian lợp rạ, mái lợp đã cũ. Trên trần nhà mạng nhện giăng đầy, đồ đạc chẳng có gì gọi là giá trị, sân vẫn chưa được lát gạch. Những đống giun đất đùn lên từng đám, từng đám. Hôm qua mưa to trên mặt sân có những con giun thật to đang bò lên khỏi tổ làm mồi cho lũ gà tranh ăn. Hai con gà nhép đang tranh nhau mỗi con ngậm một đầu con giun kéo qua, kéo lại như thợ xẻ cưa trông thật buồn cười. Mới mưa nên trời trong veo quang đãng. Trước nhà không có cây cối to mà trồng lạc, trồng đỗ, chắc gia chủ mới lập thổ ở đây. Đặc biệt sao ở quê mà lại không có chó, đúng là từ hôm qua đến giờ tôi không nghe tiếng chó sủa. Hình như vừa rồi toàn tỉnh đang có chủ trương diệt chó vì năm qua trời nóng, chó phát điên, phát dại cắn người nhiều. Thuốc phòng chó dại chưa có đã có nhiều trường hợp chết vì chó dại cắn. Nghe kể người bị chó dại cắn khi lên cơn điên chết rất thương tâm.
        Tôi vòng quanh nhà một lúc rồi lên giường nằm hút thuốc lá. Nằm ngửa trên giường, đã quen hơi nên không cảm thấy kinh kinh như hôm qua nữa. Tôi rít thuốc thật sâu, ngon quá, tôi nhả khói ra từ từ tận hưởng những khoái cảm của điếu thuốc. Thỉnh thoảng lại có những vòng tròn tạo ra từ khói bay lên cao to dần rồi tan biến. Thảnh thơi, đời lính ngày đầu tiên thế này thật thảnh thơi không biết cuộc sống những tháng ngày tới sẽ ra sao. Bỗng chốc tôi thấy nhớ nhà, nhớ tiếng máy, nhớ tiếng búa, nhớ tiếng gõ rỉ tầu như bản hòa ca của tổ sơn tổ gõ rỉ toàn công nhân nữ. Tôi nhớ công việc của mình, công việc của người thợ hàn cắt hơi ô-xy của tôi không phải là nhàn nhã như thợ tiện, thợ máy. Nhưng mọi người nói nếu so với đời bộ đội, thì đời công nhân vất vả mấy cũng còn sướng chán. Bây giờ tôi mới nếm trải đời bộ đội nên chưa biết cái khổ như thế nào nữa. Thôi thì kệ, muốn đến đâu thì đến, thời đó tuổi trẻ chúng tôi và mọi người không có nhiều sự lựa chọn. Hầu như tất cả mọi người đều làm việc theo sự phân công của tổ chức, của đoàn thể. Vào bộ đội thì sẽ nhất nhất theo mệnh lệnh của chỉ huy. Đang miên man với suy nghĩ vẩn vơ thì anh Thỉnh về báo tôi lên đại đội nhận vũ khí và quân tư trang.
           Tôi cùng anh Thỉnh trở lại con đường băng qua cánh đồng mà tối hôm qua đã đến để sang nhà Ban chỉ huy đại đội. Tôi đến sau cùng, bốn đồng chí kia đã đang nhận tư trang. Mọi người đang ướm, đang thử cỡ và đổi chọn bộ quần áo cho vừa ý. Không đông lắm mà nghe cũng rất ồn ào. Tiếng đại đội phó oang oang: Bộ nào cũng được, đổi làm gì, tập đấy mà, mai kia huấn luyện xong, phát quân tư trang đi B toàn đồ mới cứng thôi. Các đồng chí nhận khẩn trương để còn nhận vũ khí, trang thiết bị xẻng cuốc về lau chùi. Tiếng cô Nhì quản lý thì từ tốn: Chỉ có mấy bộ cho mấy anh, không anh này lấy thì anh kia nhận, các anh cứ đổi thoải mái. Đến lượt tôi, cô Nhì nhìn tôi hơi lâu mỉm cười nói: Cao như đồng chí này thì mặc bộ nào cũng đẹp. Mời anh nhận từng thứ, nhận ba lô trước để cho các thứ vào cho gọn. Như vậy là rất nhiều thứ, riêng quần áo dài thì được phát hai bộ loại vải mỏng, nhưng chỉ có một bộ mới còn lại một bộ cũ.
           Cụ thể các loại được nhận theo danh mục sau: Ba lô: 1 cái, loại ba lô vuông (đã qua sử dụng); quần áo dài loại vải phin mỏng màu xanh 2 bộ (một bộ đã qua sử dụng); áo lót ngắn tay màu xanh cổ vuông 2 cái; quần đùi màu xanh có chun 2 bên hông 2 cái; chăn đơn mỏng 1 cái (đã qua sử dụng); màn vải thường màu xanh 1 cái (đã qua sử dụng); chiếu cá nhân 1 cái; bát sắt ăn cơm màu xanh tráng men 1 cái (loại to mọi người hay gọi là bát B52); dép cao su đúc 1 đôi (đã qua sử dụng); xanh-tuya lưng màu đỏ 1 cái (đã qua sử dụng); giầy vải thấp cổ màu xanh 1 đôi; bít tất màu xanh 2 đôi; xà phòng bánh Liên xô 1 bánh loại 72%; khăn mặt màu xanh 2 cái; mũ cối gia công 1 cái (đã qua sử dụng); bông băng cá nhân 1 túi; đường vàng 1 gói 0,5 ki-lô-gam.
         Như vậy quân tư trang cá nhân là 17 thứ, có một số thứ đã qua sử dụng. Chắc quân nhu khi phát quân tư trang đi B đã thu lại đồ cũ để cho bộ đội tân binh tập luyện. Sau màn nhận quân tư trang, quản lý Nhì kỹ càng bắt mọi người ký nhận, tiếp đến cô phát tiền cho mỗi người 5 đồng, toàn tờ 1 đồng mới tinh, cô nói là tiền tháng đầu tiên cấp binh nhì của các anh và cũng bắt mọi người ký nhận. Cầm 5 đồng trong tay tôi tần ngần, mình đang là công nhân 51 đồng lương chính, nếu tính cả thâm niên, cả phụ cấp độc hại là gần 60 đồng, mà bây giờ vào môi trường khổ hơn, ác liệt hơn, nguy hiểm hơn, mà lương hay gọi là phụ cấp không bằng một phần mười lương công nhân. Có gì đó trào lên trong tôi sự mâu thuẫn bất công, không hợp lý tí nào. Thật buồn, nhưng cũng chẳng ai phản đối vì thời đó ai dám phản đối, tất cả là theo sự phân công của tổ chức.
           Sau khi nhận xong quân tư trang, phụ cấp, đồng chí Sung vẫn cái giọng oang oang: Nào, xong chưa? Các đồng chí sang đây nhận vũ khí trang thiết bị về lau chùi chứ không thì muộn rồi! Ngoài đầu hiên nhà xếp một số trang thiết bị, tôi được nhận một khẩu súng AK báng gấp còn mới nguyên trong túi ni-lon màu xanh. Toàn thể vũ khí trang bị tôi được nhận như sau: Súng AK báng gấp 1 khẩu cùng túi đeo 3 băng đạn (súng còn trong túi nilon); xẻng bộ binh 1 cái (có người được phát cuốc bộ binh); xanh- tuya rông to bản 1 cái (đã qua sử dụng); bi đông đựng nước (đã qua sử dụng), túi vải đeo lựu đạn 1 cái và một túi phụ tùng thông nòng súng, vịt dầu, vải phin trắng làm giẻ lau. Như vậy trang bị vũ khí gồm 5 thứ.
             Quản lý Nhì cũng sang xem chúng tôi nhận trang bị. Hai tay cô vuốt vuốt nghịch lọn tóc dài đen óng vắt vòng qua vai về phía trước ngực, nhìn tôi thân thiện cô nói: Đại đội phó Sung ưu tiên cho anh Phú là dân thị xã nên được phát súng AK báng gấp mới rất gọn nhẹ đấy nhé, anh phải cảm ơn đại đội phó đi. Đúng là như vậy, tôi để ý kỹ thì bốn đồng đội kia được nhận súng AK báng gỗ đã cũ. Có một người còn phải nhận khẩu súng trường K63 rất dài, trên đầu có gắn cái lưỡi lê 4 cạnh trắng toát, trông gầm ghì ghê ghê. Như vậy thì đúng là tôi may thật, tôi cảm ơn cô Nhì và cảm ơn đại đội phó Sung. Ông bắt tay tôi nói: Cô Nhì nói đúng đấy, cao kều như ông lẽ ra phải được trang bị súng trường K63 dài kia nhưng đây là ưu tiên cho ông đấy, về tháo ra, đun nước sôi lau chùi, rửa hết mỡ rồi bảo quản, tập luyện cho tốt nhé. Nói anh em cũ giúp tháo lắp lau chùi. Thôi bây giờ nhận các thứ xong rồi, các ông về đi.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2390


« Trả lời #101 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2021, 09:47:04 am »


          Tôi khoác ba lô, cầm xẻng cùng một số thứ linh tinh, còn anh Thỉnh mang cho tôi bọc súng. Anh em tôi lại băng qua cánh đồng về nơi đóng quân. Về tới nhà chủ, đã thấy trung đội trưởng Đởn, Thắng cùng vài anh em nữa vừa đi tập về, đang chuyện trò như có ý đợi anh em tôi. Thấy tôi Thắng chạy ra đón, vừa chạy vừa nói: Mọi người đang đợi các anh, có cả trung đội trưởng nữa. Chúng tôi vào nhà, vừa nhìn thấy anh em tôi, trung đội trưởng Đởn nói ngay: Các ông nhận được những gì mà sao về muộn thế? Anh Thỉnh trả lời giọng hồ hởi: Báo cáo trung đội trưởng, đồng chí Phú đã nhận được đủ quân tư trang, thiết bị. Riêng vũ khí thì được nhận khẩu AK báng gấp mới cứng còn nguyên trong bọc đây. Trung đội trưởng Đởn nói: Ủa, AK báng gấp cơ à? Sao ông Phú may thế. Súng này với tân binh là hiếm lắm đấy nhé. Bây giờ ông Thỉnh cho anh em đi lấy cơm về ăn, rồi tổ chức lau chùi vũ khí cho tốt, phải mượn xoong nhà chủ đun một nồi nước sôi mới rửa sạch được mỡ bảo quản đấy. Tôi sẽ cử một tiểu đội trưởng sang hướng dẫn các ông tháo lắp. À, tôi hỏi đại đội có cấp đạn không? Anh Thỉnh nói: Báo cáo là không có đạn mà chỉ có súng thôi. Trung đội trưởng nói: Vậy à, phải giữ gìn bảo quản trang bị cho tốt đấy ông Phú nhé, chiều nay ông Thỉnh với ông Phú ở nhà lau chùi, tập tháo lắp súng. Hướng dẫn ông Phú làm dây đeo xẻng, xin tre về làm vòng ngụy trang rồi còn đẽo lựu đạn nữa, để mai đi tập có trang bị như anh em. Chỉ sang bên anh Đởn anh nói: Đây là đồng chí Văn, tăng cường cho tiểu đội đồng chí. Phân công cho ông Phú, ông Thắng, ông Văn là một tổ ba người để ông Phú lớn tuổi làm tổ trưởng. Anh Thỉnh nói: Rõ! Trung đội trưởng cùng mấy người đi về.
           Còn lại anh em chúng tôi, anh Thỉnh phân công hai người đi lấy cơm cho tiểu đội. Cùng lúc anh chị chủ nhà cũng đi làm đồng về, chị chủ nhà vồn vã: Tưởng chú Phú đã có quần áo bộ đội mới mà chưa thấy mặc à? Tôi nói: Em mới đi nhận về. Chị nói: Quần áo mới và chăn màn để trong kho lâu rồi hay bị ẩm mốc lắm, chú bỏ cả ra đây chị giặt cho, phơi ngay cho khô rồi hãy mặc. Tôi nói: Vâng, em cũng định thế. Tôi bỏ những thứ cần giặt ra ngâm vào chậu nước, chiếu thì không giặt, phơi ngay. Riêng gói đường bọc giấy đã thấm ướt ra gói, tôi đưa cho chị chủ và nói: Em biếu chị cho cháu, em không dùng đâu. Chị chủ nói: Chú cất đi để dùng, chứ mấy hôm nữa tập mệt lắm đấy để pha nước uống cho đỡ mệt. Tôi nói: Chị cứ cất đi để khi nào nấu cháo, nấu chè ăn. Chị chủ sôi nổi hẳn lên nói: À, vậy ít ngày nữa là mùng năm tháng năm Tết giết sâu bọ, để nấu chè đỗ mới cũng được. Tôi tần ngần nói: Vậy hả chị? Chúng em chẳng nhớ gì đến ngày Tết giết sâu bọ nữa. Tôi lấy bánh xà phòng mới được cấp ra để giặt quần áo. Anh chủ nói: Chú cứ để đấy chị nấu cơm xong giặt cho chú, ngâm chút nữa cho dễ giặt. Anh vừa nói vừa đi xuống bếp. Lúc này tôi mới để ý kỹ dáng đi của anh, anh có dị tật gì đó nên bước đi không bình thường như là chân cao, chân thấp. Tôi thoáng nghĩ à như vậy cho nên anh được ở nhà không phải đi bộ đội. Thời đó chiến tranh ai mà bị những dị tật bẩm sinh như thế này, hoặc sức khỏe không đảm bảo được ở nhà là may, là hiếm lắm. Những người đó gọi là: “đắt như tôm tươi”, hay thuộc loại “mỳ chính cánh” trong việc lấy vợ. Nhất là những ai lại có ngành nghề như thợ mộc, máy khâu, sửa xe đạp hay cắt tóc, chụp ảnh vv.. thì càng có giá cao hơn. Thời đó trong dân gian còn có câu ca: “mặt rỗ, chân khèo, bố có máy khâu, lấy đâu chẳng được vợ đẹp”. Vì trai tráng đi bộ đội ra trận gần hết, phụ nữ ở nông thôn phải làm những công việc nặng nhọc của đàn ông, con trai như đi cầy, đi bừa, vác đất đào mương, làm đường. Ngoài ra còn phải cầm súng, tham gia dân quân tự vệ bảo vệ an ninh xóm làng, trực chiến bắn máy bay Mỹ nữa. Hoặc rất nhiều chị em cũng đi Thanh niên xung phong, đi dân công hỏa tuyến vào “tuyến lửa” làm đường, cũng phải chịu vất vả, khổ cực, thiếu thốn như bộ đội. Địa phương nào cũng có phong trào phụ nữ ba đảm đang, còn có hẳn cả một bài hát về dân quân tự vệ nữ bắn máy bay Mỹ. Hay bài hát rất nổi tiếng “Đường cày đảm đang” nói về phụ nữ làm thay công việc của đàn ông ra trận.
            Những hình ảnh người phụ nữ vai khoác súng trường vừa đi bừa, đi cầy, đi cấy đã trở thành hình ảnh quen thuộc ở khắp các vùng quê. Các đấng “mày râu” mà được ở nhà không phải vào bộ đội, không phải ra trận thì tha hồ mà chọn vợ. Rất nhiều người có dị tật bẩm sinh mà lấy được những cô gái rất xinh đẹp nhất làng làm vợ, trông khập khiễng chẳng xứng đôi tý nào. Nhiều cô dâu khi được manh mối lấy chồng, ngày cưới khóc thút tha thút thít. Họ khóc, không phải khóc đơn thuần như việc con gái lấy chồng phải xa mẹ mà khóc cho số phận thời cuộc đen bạc phải lấy người chồng bị dị tật, xấu trai không ưng ý. Hoặc khóc vì thương nhớ người mình yêu đang ở chiến trường, người yêu lý tưởng của mình không được tận hưởng những ái ân hạnh phúc mà đáng lẽ ra họ phải được tận hưởng trong ngày cưới này, trong đêm tân hôn này.
          Thắng và Văn đã đi lấy cơm về cùng mấy anh em trong tiểu đội. Như vậy là đủ mâm sáu người, một nửa tiểu đội ăn ở nhà khác. Căn nhà bỗng chốc sôi động hẳn lên, mọi người chào hỏi làm quen tôi. Bữa cơm đầu tiên đời bộ đội có cá đồng loại nhỏ kho cùng với chuối xanh. Có cả thịt lợn kho, mỗi người được một miếng thái mỏng, trông toàn bì với mỡ trắng ởn. Có rau muống luộc chấm với loại nước chấm đặc biệt như buổi sáng. Tất cả được đựng vào cái vung xoong nhôm màu xanh xỉn, có ba đường gân chia cái vung làm ba phần thay đĩa đựng thức ăn. Canh thì có nước rau muống, bộ đội có mì chính nên nước rau cũng ngọt. Cơm thì không thiếu, không phải ăn độn. Nhưng gạo cũ để lâu năm đã có mùi mục, cùng những con mọt gạo đãi không hết. Thời đó khẩu phần ăn của bộ đội, của mọi người được như thế là cao cấp lắm rồi. Tôi sực nhớ ra cái gói thuốc mà ông Đảng đưa cho, lấy 5 viên cho vào nồi canh. Nước rau muống đang xanh đục trở lên trong veo, phớt hồng. Tạo lên vị chua chua, chan cơm ai ăn cũng thích. Tôi vốn kén ăn, lại ăn rất yếu. Nhưng các anh em khác, nhất là anh em ở vùng quê thì cứ gọi là ăn theo kiểu “thủng nồi, trôi rế”. Anh em nhập ngũ trước tôi hơn chục ngày nên nếp ăn, nếp ở đã quen, lại đi tập về đói mệt nên mọi người ăn rất nhanh. Thấy tôi cầm đũa gắp thức ăn vẫn bằng một đầu như ở nhà. Anh Thỉnh nói: Phú phải tập ăn đũa hai đầu như mọi người đi. Bộ đội quy định là phải ăn đũa hai đầu tức là tay cầm ở giữa, và cơm một đầu, khi muốn gắp vào thức ăn thì phải tráo đầu đũa mới gắp cho hợp vệ sinh. À! Lại còn thế nữa, tôi tập ăn như vậy thấy gượng gạo. Theo quan sát của tôi thì có thể lại không hợp vệ sinh theo thẩm mỹ nữa. Vì khi gắp thức ăn thế nào thức ăn cũng còn dính lên đầu đũa. Khi mình đổi đầu đũa và cơm thì như vậy đầu trên vẫn có thức ăn dính trông chẳng văn minh tý nào. Nhưng bộ đội là thế, quy định mọi người ăn thế. Vì tránh nhiều người ăn chung, rồi có người mút đũa rồi lại gắp vào thức ăn, gây phản cảm mất vệ sinh. Đũa của tôi ngắn, nên ăn kiểu đó hơi khó. Thắng thấy thế đứng dậy lấy tặng tôi đôi đũa mới vót bằng tre, dài hơn đôi đũa tôi đang dùng khoảng 5 cm. Đúng là đũa dài ăn theo kiểu ăn đũa hai đầu dễ hơn. Bữa cơm đầu tiên ầm ào rối rít rồi cũng xong. Anh em bàn tán sôi nổi em nọ em kia, chị nọ, chị kia, đẹp đẹp, xinh xinh, toàn chị em quê vùng mỏ Quảng Ninh rất bạo dạn. À, anh em đang bàn tán về các chị em nuôi quân. Như vậy ngoài bộ đội tập luyện ra còn lại là nuôi quân, tiếp phẩm, quản lý toàn là nữ, tôi chưa tiếp xúc với bộ đội nữ bao giờ trừ cô Nhì quản lý. Nhưng qua sự bàn tán của anh em tôi cũng cảm thấy vui vui, để khi nào phải đi lấy cơm xem mặt chị em thế nào.
         Mọi người vội vã về nghỉ trưa, anh Thỉnh cũng giục tôi và Thắng đi ngủ. Anh chị chủ nhà ăn cơm ngay tại bếp, chị chủ nhà rất nhanh nhẹn. Trong lúc chúng tôi đang ăn cơm thì chị nấu cơm xong. Trong khi đợi cơm chín, chị đã tranh thủ giặt cho tôi toàn bộ số quần áo tư trang, phơi giăng đầy trước sân. Tôi cảm ơn chị chủ rồi cũng lên giường nằm nghỉ. Trời nóng quá, trằn trọc mãi mà chẳng ngủ được. Đúng là chỉ có hai ngày mà cuộc sống đã thay đổi hẳn so với nếp sống của công nhân. Tôi dậy đi xuống bếp nói chuyện với anh chị chủ nhà. Anh chị còn trẻ, nhìn cuộc sống đạm bạc của anh chị chủ, cơm độn khoai, thức ăn thì có mấy con tép, rau thì hái ở vườn nhà. Bát đĩa thì toàn loại cũ mèm sứt sẹo. Vợ chồng chị chủ có vẻ tâm đầu ý hợp, vừa ăn vừa nói chuyện đồng áng, lúa má thật rôm rả. Thấy tôi xuống, cả anh chị đều tranh nhau hỏi thăm tôi về gia đình bố mẹ anh chị em. Anh chị nói: Biết tôi là dân thị xã lại là công nhân nên nếp sống tác phong khác hẳn những anh em khác. Các thầy giáo thì đạo mạo, anh em ở quê thì ngây thơ quê mùa, anh chị có vẻ rất quý và nể trọng tôi.
           Bỗng chốc tôi có cảm giác trào lên bâng khuâng thèm khát có được cuộc sống vợ chồng như anh chị chủ. Một cuộc sống lứa đôi thật mộc mạc mà thời ấy mọi người hay ca ngợi “một túp lều tranh, hai trái tim vàng”. Thấy tôi nói là làm nghề thợ hàn hơi, chị chủ vồ vập hỏi: Thế chú làm thợ hàn, có hàn được nồi nhôm không? Anh chị có mấy cái nồi bị thủng. Có cái nồi nấu cám lợn to cũng thủng, bây giờ không biết lấy nồi nào nấu cám, mãi mà chưa thấy mấy ông hàn nồi đi qua. Tôi phì cười nghĩ chắc chị nghĩ tôi cũng giống như mấy ông thợ hàn nồi già gánh hai cái sọt lớn, toòng teng mấy cái nồi, cái ấm hỏng đi đổi, hàn, vá những xoong nhôm, nồi đồng bị thủng. Tôi nói: Em không phải thợ hàn nồi như các ông thợ đi rong mà là thợ hàn những con tàu, cano hay xà-lan rất lớn đi sông đi biển. Phải có điện, có khí, có máy hàn hiện đại mới làm được. Nghĩ một chút hình ảnh mấy ông hàn nồi mà tôi cũng đã có dịp xem ông làm, tôi nói: Nhưng em cũng đã xem người ta hàn vá nồi rồi, chị cứ bỏ xoong nồi thủng ra, để chiều lau chùi vũ khí xong, em xem có làm được không. Chị chủ nhà vui hẳn lên, nói chú giúp được chị thì tốt quá, còn lựu đạn gỗ thì chú không phải đẽo. Ở nhà anh chị còn cất đi mấy quả lựu đạn của mấy chú trước khi đi B được lĩnh lựu đạn thật, các chú cho anh chị làm củi nhưng chị không đun mà vẫn giữ cất đi. Có cả vòng ngụy trang nữa. Tôi nói: Ồ, thế thì tốt quá anh chị cho em, em đỡ phải đẽo. Cùng lúc còi báo thức vang lên. Đã nghe vẳng tiếng anh Thỉnh giục Thắng dậy chuẩn bị đi tập. Anh Thỉnh chắc không thấy tôi đâu, chạy ngay xuống bếp. Thấy tôi ngồi chuyện trò với anh chị chủ, anh Thỉnh hỏi: Ơ, thế Phú không ngủ trưa à? Tôi chưa kịp trả lời thì chị chủ đã nói vui: Chắc nhận được súng mới nên chú Phú thao thức không ngủ được. Cùng lúc liên lạc trung đội dẫn một anh bộ đội sang giới thiệu: Báo cáo anh Thỉnh đây là anh Loan tiểu đội trưởng, sang hướng dẫn các anh tháo lắp, lau chùi súng.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2390


« Trả lời #102 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2021, 09:48:35 am »


                 Chúng tôi mượn của anh chị chủ cái mẹt, trải lên một lớp giấy xi măng rồi xé bọc súng ra. Trời! Bọc súng đắp rất nhiều mỡ bảo quản, loại mỡ bò công nghiệp vàng ươm. Chúng tôi gạt gom ngay bên ngoài đã được rất nhiều mỡ. Nòng súng cũng được nhét đặc mỡ. Tôi gom tất cả số mỡ bảo quản lại đưa cho anh chủ nói anh gói cất đi để dùng, cho vào các ổ bi xe đạp vào cả xích nữa cũng rất tốt, mỡ này là quý lắm, nhưng là mỡ công nghiệp không ăn được đâu. Chị chủ lấy thêm cho chúng tôi mấy cái áo rách để lau sơ qua. Lau đi lau lại mà súng vẫn nhớp mỡ, lúc này nồi nước sôi mới có tác dụng, anh Loan tháo từng bộ phận súng rồi lấy giẻ đã được nhúng nước sôi lau súng. Một hai lần như vậy khẩu súng mới cầm được, không bị dính nhớp mỡ nữa. Khẩu súng thật đẹp, màu gỗ ốp cánh gián vàng đanh, những phần kim loại được nhuộm đen kít, ai cũng trầm trồ khen đẹp. Bắt đầu anh Loan hướng dẫn chúng tôi cách tháo lắp súng, anh nói: Trước khi tháo súng, phải tháo băng tiếp đạn ra trước, ở đây súng mới chưa lắp băng tiếp đạn thì mình vẫn phải lên quy lát. Nếu súng có đạn thì đạn văng ra, sau đó chĩa lên trời bóp có súng. Vừa nói anh vừa làm lên quy lát xoạch roóp rồi chĩa súng lên trời bóp cò, búa đập “chát” đanh gọn.
           Anh nói tiếp: Khi tháo súng theo nguyên tắc: Bộ phận nào tháo ra trước thì để xuống trước như xếp hàng lần lượt thứ tự từ phải sang trái. Khi lắp súng thì ngược lại, bộ phận nào tháo ra sau thì lắp trước, không được để lẫn lộn lung tung. Anh Loan nói: Các ông tập tháo lắp cho thật quen, thật nhanh, quen đến mức độ bịt mắt vào vẫn có thể tháo lắp súng được. Đấy là tình huống trong chiến đấu ban đêm súng bị hóc đạn, phải nhanh chóng xử lý tháo súng lấy đạn hóc ra. Các ông cứ bình tĩnh từ từ rồi quen. Với tôi thì những việc này quá đơn giản, anh Loan chỉ hướng dẫn qua một lần là tôi làm tốt được ngay. Vì thực ra thời học cơ khí tháo lắp động cơ ô-tô có nhiều chi tiết phức tạp hơn tôi đã làm qua, cũng đã học tháo lắp ban đêm nữa. Nên khẩu súng hơn chục bộ phận này không có gì đáng ngại.
          Sau khi mọi người đã tháo lắp súng thành thạo, tôi mới sực nhớ ra chuyện cái nồi cám lợn của anh chị chủ, tôi nói chị cầm ra cho tôi xem. Đây là cái nồi nhôm gò quá cũ, đáy nồi lỗ thủng lớn bị cháy do nấu cám khê. Việc này không thật khó, chỉ sợ không có những vật liệu mình cần. Tôi đi quanh nhà ngó nghiêng tìm vật liệu, anh chủ hỏi tôi tìm gì? Tôi nói: Em có thể vá được cái nồi này nhưng anh xem nhà ta hay hàng xóm có mảnh nhôm hay mảnh đồng mỏng nào không. Nghĩ một lúc anh chủ chạy sang hàng xóm mang về một đoạn chắn bùn xe đạp bằng nhôm. Tôi xem và nói, miếng nhôm này hơi mỏng vá dùng tạm được. Nhưng anh chị kiếm cho em cái búa nhỏ và cái kéo, cái kìm. Vừa nói nhưng tôi vừa nghĩ, nhớ lại cái cách mà ông thợ hàn nồi đã vá nồi mà tôi được xem. Anh chủ vào nhà lấy kéo, búa, kìm ra cho tôi. Tôi nói chị chủ đánh rửa thật sạch cho tôi cái nồi. Rồi tôi lấy cái kéo gọt cho chỗ bị cháy thủng tròn to ra để mép cháy không bị nham nhở. Gọt xong chỗ thủng to bằng miệng chén, tôi tán cho miếng nhôm chắn bùn phẳng ra rồi ốp vào khoanh lấy dấu kích thước. Rồi tiếp tục cắt miếng nhôm to hẳn ra, dùng kéo cắt mép hình gập vào cho chờm khỏi lỗ thủng, ấp vào lỗ thủng rồi bẻ ngược các chân rết ra. Mọi người xem chăm chú tôi làm như một người thợ hàn nồi thực thụ. Tôi dùng búa tán nhẹ các chân rết ép chặt xuống. Như vậy cơ bản là nồi đã được hàn vá kín, anh chị chủ thì cứ trầm trồ khen tôi khéo tay. Chị chủ nói: Chú làm giỏi quá, cho chị xin để nấu cám lợn ngay. Tôi nói: Thế này mới tạm được chứ chưa kín nước đâu. Chị chủ cầm cái nồi giơ lên trời xem còn lỗ thủng không rồi nói: Hết thủng, tốt rồi, kín rồi chú à. Tôi nói chưa kín đâu, muốn kín không bị rò nước, anh đi kiếm cho em một ít vôi ăn trầu. Anh chủ lại chạy đi xin vôi, tôi thì ra sau vườn hái tàu lá khoai ngứa, vo viên cùng vôi cho vào cái bát giã nhuyễn. Rồi lấy thứ vôi lá khoai tổng hợp đó chà miết vào toàn bộ khe kẽ của chỗ vá cả trong lẫn ngoài. Xong! Tôi nói đây là bí mật nhà nghề, bây giờ thì nồi thật kín nước rồi. Anh chị dùng tạm, khi nào về nhà em lấy miếng nhôm dầy thay lại cho anh chị. Biết tin tôi vá được xoong nồi thủng, mấy người hàng xóm cũng mang nồi thủng sang nhờ tôi vá. Tiếp đến những ngày sau cũng vậy, cả xóm ai có xoong thủng, nồi thủng, ấm thủng là lại đến nhờ tôi. Từ đó tôi có biệt danh là: “Phú vá nồi”.
           Sau khi ăn xong cơm chiều. Mọi người nghỉ ngơi khoảng 15 phút thì các tổ ba người họp kiểm điểm những ưu khuyết điểm trong ngày. Tôi là tổ trưởng nhưng chưa biết cách họp tổ, nên anh Thỉnh trực tiếp duy trì cuộc họp. Đầu tiên anh Thỉnh cho từng người tự phát biểu những ưu khuyết điểm, những mạnh yếu của mình, rồi người này nhận xét về người kia. Sau đó anh Thỉnh nhận xét: Ngày hôm nay nói chung trong tổ có nhiều tiến bộ, Thắng, Văn đều rất nhanh nhẹn. Không bị chậm trễ khi dậy buổi sáng và tập ở thao trường, nói chung là tích cực. Riêng tôi thì được biểu dương đã lau chùi vũ khí tốt, lại làm tốt công tác dân vận. Cuộc họp tổ ba người kéo dài khoảng 20 phút. Anh Thỉnh đi nắm tình hình hai tổ khác và lên trung đội báo cáo kết quả họp tổ trong tiểu đội.
          Trời xẩm tối, mọi người đợi đến 7 giờ đi họp trung đội. Những lúc thư giãn như thế này với đời lính là quý lắm, tôi lấy thuốc lá mời anh chủ và mọi người cùng hút. Thắng thì đùa nghịch với con anh chị chủ. Chị chủ nhà rất vui, chị bê lên một nồi sắn hấp nghi ngút khói thơm lừng đon đả mời, nói là chiêu đãi chú Phú và mọi người. Chị quyết định nhổ cây sắn ở góc vườn, bóc vỏ, cắt thành khúc, đồ hấp cho anh em tôi ăn.
           Thái Bình khoai lang ba tháng, sáu tháng thì nhiều, nhưng sắn thì dân trồng không nhiều vì hiếm đất. Vì lẽ nữa là trồng sắn phải kéo dài một năm mới được thu hoạch, không hợp với việc cung cấp lương thực. Nên thời đó dân Thái Bình hay được ăn độn sắn là loại sắn dẻo từ mạn ngược đem về. Vì vậy sắn vẫn là loại lương thực khoái khẩu quý hơn khoai. Chị chủ sẻ gói đường ra cho chúng tôi chấm. Sắn nóng rất bở, chấm với đường ngon tuyệt. Tôi thích ăn sắn hơn ăn khoai, vừa ăn hết hai khoanh sắn, anh Thỉnh về cũng ăn vội vàng một khúc rồi báo mọi người đi họp trung đội. Địa điểm họp là tại sân kho hợp tác xã cách đó không xa. Trung đội huấn luyện lúc này đủ ba tiểu đội với quân số gần 40 người. Đồng chí Đởn là trung đội trưởng, chưa có trung đội phó. Tiểu đội trưởng thiếu một người, nên anh Thỉnh phụ trách tiểu đội tôi.
             Các tiểu đội đã đến đủ, trung đội trưởng nói: Đồng chí Loan bắt điệu cho anh em hát! Đầu tiên là bài: “Vì nhân dân quên mình”. Những giai điệu của bài hát cách mạng vang lên thật hào hùng, hấp dẫn và cuốn hút. “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh, anh em ơi vì nhân dân quên mình”... Tiếp đến là bài: "Giải phóng miền Nam”. Bài hát cũng hào hùng không kém, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, cùng lực lượng vũ trang chiến đấu để giải phóng Miền Nam. Cây đèn bão vặn cỡ to nhất cũng chỉ phát ra ánh sáng tù mù trên cái bàn để giữa sân nên không nhìn rõ mặt mọi người. Có nhiều em nhỏ đứng xem bộ đội họp cùng hát theo. Những bài ca cách mạng thời đó là động lực rất mạnh, rất lớn động viên thanh niên cùng toàn dân thi đua thực hiện các phong trào như đi bộ đội, phục vụ quốc phòng, tích tực tăng gia sản xuất. Nơi nào, chỗ nào cũng có câu khẩu hiệu: “Mỗi người làm việc bằng hai, tất cả vì miền Nam ruột thịt”
           Tôi chưa thuộc lời của những bài hát trên nên nhẩm nhẩm hát theo. Hết màn hát tập thể đến màn hát cá nhân, những đồng chí có khiếu hát dân ca, hát tân nhạc hay ngâm thơ đều được khuyến khích hát phục vụ mọi người. Tiếng hát, điệu chèo không đàn, không trống phách, nhưng lời các bài ca thì đều là “nhạc đỏ” cách mạng, động viên mọi người vì đất nước, vì nhiệm vụ. Sau những màn “văn nghệ nghiệp dư” nhưng không kém phần sôi động thì đến mục đọc báo. Một đồng chí lên điểm báo và đọc mấy bài báo Quân đội, báo Nhân dân. Xong màn văn nghệ, mục đọc báo, đồng chí trung đội trưởng Đởn nhận xét về tình hình của trung đội trong ngày. Những sai sót của từng cá nhân, của từng tiểu đội như là chậm trong giờ tập thể dục sáng, hoặc có đồng chí còn ngại nắng, chỉ mau chóng chạy vào chỗ râm chỗ mát vv… Hoặc có đồng chí còn để súng han, xẻng rỉ, ăn cơm còn nói chuyện riêng, không ăn đũa hai đầu, đêm đi ngủ không đúng giờ. Bao nhiêu là vấn đề, cuối cuộc họp trung đội trưởng tuyên dương mỗi tiểu đội hai người theo đề nghị của từng tiểu đội. Tôi cũng được biểu dương về làm công tác dân vận. Cuộc họp như vậy là đúng đến 9 giờ tối thì giải tán mọi người về nghỉ. Đây là buổi họp tổ ba người và họp trung đội đầu tiên đời lính của tôi.
            Anh em tôi đi về nhà, quần áo giặt đã khô, anh Thỉnh nói tôi mặc thử quần áo lính, rồi đeo xẻng, đeo túi lựu đạn, vòng ngụy trang đủ các thứ trang bị. Ngoài xanh-tuya quần phải thắt thêm cả xanh-tuya rông to bản để đeo túi băng đạn, túi lựu đạn, bi đông nước. Đeo các thứ vào thật ngượng nghịu và vướng víu, nhưng đây là trang bị tối thiểu của người lính bộ binh trong huấn luyện. Mọi người nhất là anh chị chủ nhà nói tôi mặc đồ bộ đội đẹp vì tôi gầy nhưng dáng cao. Ở đây chẳng có gương to để soi nên cũng chẳng biết dung nhan thực sự của mình trong sắc lính thế nào. Nhưng tôi biết là chị chủ khen động viên, chứ quần áo bộ đội theo số thì tôi mặc số một chiều cao thì được, nhưng độ rộng thì dúm dó như dúm mắm nhìn không thấy mông. Thôi thì cứ thắt dây lưng cho chặt vào chứ làm sao mà mang đi đâu sửa được. Đây là lần mặc quần áo lính chính thức đầu tiên. Tôi không ngờ màu xanh của lính, khẩu súng AK, trang thiết bị của người lính bộ binh gắn bó với tôi suốt hơn chục năm trời trên khắp các vùng miền chiến trận.
          Anh em tôi cùng gia đình chủ nhà ngồi chuyện trò một lúc. Anh Thỉnh nhắc: Đến giờ ngủ rồi đấy, anh em mình đi ngủ thôi, không trực ban trung đội lại ghi sổ khuyết điểm, hôm nay Thắng gác ca đầu từ 22 giờ đến 23 giờ. Tiếp đến là Văn tới 24 giờ, thì gọi anh Thịnh nhóm bên kia, chú ý súng đạn cho cẩn thận đấy. Nhắc lại là đạn không được lắp vào súng đâu, hôm nay Phú cứ đi ngủ chưa phải gác. Vừa nói, anh Thỉnh vừa tháo cái đồng hồ hiệu Poldot của Liên-Xô mạ vàng đeo ở tay đưa cho Thắng nói: Đồng hồ đây, giữ cho tốt nhé, cấm không được vặn chỉnh đấy bố ạ. Thắng nói: Hôm trước chắc chúng nó vặn chứ em không bao giờ vặn đồng hồ cả. Mà em có biết vặn thế nào đâu mà chỉnh. Tôi nghĩ: Chuyện gác sách của lính có nhiều phức tạp đây, chắc có bạn nào gian dối vặn chỉnh đồng hồ cho nhanh lên. Vấn đề này thật khó, vì ngoài anh Thỉnh ra thì có ai có đồng hồ đâu? Thời đó đồng hồ là hiếm lắm, ngay tôi đi làm đã mấy năm, ý định góp tiền để mua đồng hồ đeo tay mà cũng chưa mua được. Những người đi xe đạp, tay đeo đồng hồ, áo cài bút máy, vai đeo đài bán dẫn là thuộc tầng lớp cán bộ huyện trở lên, hoặc giầu có hơn người mới có những thứ cao sang đó. Hôm nay tôi vẫn chưa phải gác, nhưng ngày mai, mọi sinh hoạt cũng sẽ như mọi người. Nghĩ ngợi mông lung một lúc rồi tôi chìm vào giấc ngủ thật say, thậm chí Thắng, Văn đổi gác cho nhau thế nào tôi cũng không biết.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2390


« Trả lời #103 vào lúc: 28 Tháng Mười Một, 2021, 09:52:16 am »


                 Chúng tôi mượn của anh chị chủ cái mẹt, trải lên một lớp giấy xi măng rồi xé bọc súng ra. Trời! Bọc súng đắp rất nhiều mỡ bảo quản, loại mỡ bò công nghiệp vàng ươm. Chúng tôi gạt gom ngay bên ngoài đã được rất nhiều mỡ. Nòng súng cũng được nhét đặc mỡ. Tôi gom tất cả số mỡ bảo quản lại đưa cho anh chủ nói anh gói cất đi để dùng, cho vào các ổ bi xe đạp vào cả xích nữa cũng rất tốt, mỡ này là quý lắm, nhưng là mỡ công nghiệp không ăn được đâu. Chị chủ lấy thêm cho chúng tôi mấy cái áo rách để lau sơ qua. Lau đi lau lại mà súng vẫn nhớp mỡ, lúc này nồi nước sôi mới có tác dụng, anh Loan tháo từng bộ phận súng rồi lấy giẻ đã được nhúng nước sôi lau súng. Một hai lần như vậy khẩu súng mới cầm được, không bị dính nhớp mỡ nữa. Khẩu súng thật đẹp, màu gỗ ốp cánh gián vàng đanh, những phần kim loại được nhuộm đen kít, ai cũng trầm trồ khen đẹp. Bắt đầu anh Loan hướng dẫn chúng tôi cách tháo lắp súng, anh nói: Trước khi tháo súng, phải tháo băng tiếp đạn ra trước, ở đây súng mới chưa lắp băng tiếp đạn thì mình vẫn phải lên quy lát. Nếu súng có đạn thì đạn văng ra, sau đó chĩa lên trời bóp có súng. Vừa nói anh vừa làm lên quy lát xoạch roóp rồi chĩa súng lên trời bóp cò, búa đập “chát” đanh gọn.
           Anh nói tiếp: Khi tháo súng theo nguyên tắc: Bộ phận nào tháo ra trước thì để xuống trước như xếp hàng lần lượt thứ tự từ phải sang trái. Khi lắp súng thì ngược lại, bộ phận nào tháo ra sau thì lắp trước, không được để lẫn lộn lung tung. Anh Loan nói: Các ông tập tháo lắp cho thật quen, thật nhanh, quen đến mức độ bịt mắt vào vẫn có thể tháo lắp súng được. Đấy là tình huống trong chiến đấu ban đêm súng bị hóc đạn, phải nhanh chóng xử lý tháo súng lấy đạn hóc ra. Các ông cứ bình tĩnh từ từ rồi quen. Với tôi thì những việc này quá đơn giản, anh Loan chỉ hướng dẫn qua một lần là tôi làm tốt được ngay. Vì thực ra thời học cơ khí tháo lắp động cơ ô-tô có nhiều chi tiết phức tạp hơn tôi đã làm qua, cũng đã học tháo lắp ban đêm nữa. Nên khẩu súng hơn chục bộ phận này không có gì đáng ngại.
          Sau khi mọi người đã tháo lắp súng thành thạo, tôi mới sực nhớ ra chuyện cái nồi cám lợn của anh chị chủ, tôi nói chị cầm ra cho tôi xem. Đây là cái nồi nhôm gò quá cũ, đáy nồi lỗ thủng lớn bị cháy do nấu cám khê. Việc này không thật khó, chỉ sợ không có những vật liệu mình cần. Tôi đi quanh nhà ngó nghiêng tìm vật liệu, anh chủ hỏi tôi tìm gì? Tôi nói: Em có thể vá được cái nồi này nhưng anh xem nhà ta hay hàng xóm có mảnh nhôm hay mảnh đồng mỏng nào không. Nghĩ một lúc anh chủ chạy sang hàng xóm mang về một đoạn chắn bùn xe đạp bằng nhôm. Tôi xem và nói, miếng nhôm này hơi mỏng vá dùng tạm được. Nhưng anh chị kiếm cho em cái búa nhỏ và cái kéo, cái kìm. Vừa nói nhưng tôi vừa nghĩ, nhớ lại cái cách mà ông thợ hàn nồi đã vá nồi mà tôi được xem. Anh chủ vào nhà lấy kéo, búa, kìm ra cho tôi. Tôi nói chị chủ đánh rửa thật sạch cho tôi cái nồi. Rồi tôi lấy cái kéo gọt cho chỗ bị cháy thủng tròn to ra để mép cháy không bị nham nhở. Gọt xong chỗ thủng to bằng miệng chén, tôi tán cho miếng nhôm chắn bùn phẳng ra rồi ốp vào khoanh lấy dấu kích thước. Rồi tiếp tục cắt miếng nhôm to hẳn ra, dùng kéo cắt mép hình gập vào cho chờm khỏi lỗ thủng, ấp vào lỗ thủng rồi bẻ ngược các chân rết ra. Mọi người xem chăm chú tôi làm như một người thợ hàn nồi thực thụ. Tôi dùng búa tán nhẹ các chân rết ép chặt xuống. Như vậy cơ bản là nồi đã được hàn vá kín, anh chị chủ thì cứ trầm trồ khen tôi khéo tay. Chị chủ nói: Chú làm giỏi quá, cho chị xin để nấu cám lợn ngay. Tôi nói: Thế này mới tạm được chứ chưa kín nước đâu. Chị chủ cầm cái nồi giơ lên trời xem còn lỗ thủng không rồi nói: Hết thủng, tốt rồi, kín rồi chú à. Tôi nói chưa kín đâu, muốn kín không bị rò nước, anh đi kiếm cho em một ít vôi ăn trầu. Anh chủ lại chạy đi xin vôi, tôi thì ra sau vườn hái tàu lá khoai ngứa, vo viên cùng vôi cho vào cái bát giã nhuyễn. Rồi lấy thứ vôi lá khoai tổng hợp đó chà miết vào toàn bộ khe kẽ của chỗ vá cả trong lẫn ngoài. Xong! Tôi nói đây là bí mật nhà nghề, bây giờ thì nồi thật kín nước rồi. Anh chị dùng tạm, khi nào về nhà em lấy miếng nhôm dầy thay lại cho anh chị. Biết tin tôi vá được xoong nồi thủng, mấy người hàng xóm cũng mang nồi thủng sang nhờ tôi vá. Tiếp đến những ngày sau cũng vậy, cả xóm ai có xoong thủng, nồi thủng, ấm thủng là lại đến nhờ tôi. Từ đó tôi có biệt danh là: “Phú vá nồi”.
           Sau khi ăn xong cơm chiều. Mọi người nghỉ ngơi khoảng 15 phút thì các tổ ba người họp kiểm điểm những ưu khuyết điểm trong ngày. Tôi là tổ trưởng nhưng chưa biết cách họp tổ, nên anh Thỉnh trực tiếp duy trì cuộc họp. Đầu tiên anh Thỉnh cho từng người tự phát biểu những ưu khuyết điểm, những mạnh yếu của mình, rồi người này nhận xét về người kia. Sau đó anh Thỉnh nhận xét: Ngày hôm nay nói chung trong tổ có nhiều tiến bộ, Thắng, Văn đều rất nhanh nhẹn. Không bị chậm trễ khi dậy buổi sáng và tập ở thao trường, nói chung là tích cực. Riêng tôi thì được biểu dương đã lau chùi vũ khí tốt, lại làm tốt công tác dân vận. Cuộc họp tổ ba người kéo dài khoảng 20 phút. Anh Thỉnh đi nắm tình hình hai tổ khác và lên trung đội báo cáo kết quả họp tổ trong tiểu đội.
          Trời xẩm tối, mọi người đợi đến 7 giờ đi họp trung đội. Những lúc thư giãn như thế này với đời lính là quý lắm, tôi lấy thuốc lá mời anh chủ và mọi người cùng hút. Thắng thì đùa nghịch với con anh chị chủ. Chị chủ nhà rất vui, chị bê lên một nồi sắn hấp nghi ngút khói thơm lừng đon đả mời, nói là chiêu đãi chú Phú và mọi người. Chị quyết định nhổ cây sắn ở góc vườn, bóc vỏ, cắt thành khúc, đồ hấp cho anh em tôi ăn.
           Thái Bình khoai lang ba tháng, sáu tháng thì nhiều, nhưng sắn thì dân trồng không nhiều vì hiếm đất. Vì lẽ nữa là trồng sắn phải kéo dài một năm mới được thu hoạch, không hợp với việc cung cấp lương thực. Nên thời đó dân Thái Bình hay được ăn độn sắn là loại sắn dẻo từ mạn ngược đem về. Vì vậy sắn vẫn là loại lương thực khoái khẩu quý hơn khoai. Chị chủ sẻ gói đường ra cho chúng tôi chấm. Sắn nóng rất bở, chấm với đường ngon tuyệt. Tôi thích ăn sắn hơn ăn khoai, vừa ăn hết hai khoanh sắn, anh Thỉnh về cũng ăn vội vàng một khúc rồi báo mọi người đi họp trung đội. Địa điểm họp là tại sân kho hợp tác xã cách đó không xa. Trung đội huấn luyện lúc này đủ ba tiểu đội với quân số gần 40 người. Đồng chí Đởn là trung đội trưởng, chưa có trung đội phó. Tiểu đội trưởng thiếu một người, nên anh Thỉnh phụ trách tiểu đội tôi.
             Các tiểu đội đã đến đủ, trung đội trưởng nói: Đồng chí Loan bắt điệu cho anh em hát! Đầu tiên là bài: “Vì nhân dân quên mình”. Những giai điệu của bài hát cách mạng vang lên thật hào hùng, hấp dẫn và cuốn hút. “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh, anh em ơi vì nhân dân quên mình”... Tiếp đến là bài: "Giải phóng miền Nam”. Bài hát cũng hào hùng không kém, kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, cùng lực lượng vũ trang chiến đấu để giải phóng Miền Nam. Cây đèn bão vặn cỡ to nhất cũng chỉ phát ra ánh sáng tù mù trên cái bàn để giữa sân nên không nhìn rõ mặt mọi người. Có nhiều em nhỏ đứng xem bộ đội họp cùng hát theo. Những bài ca cách mạng thời đó là động lực rất mạnh, rất lớn động viên thanh niên cùng toàn dân thi đua thực hiện các phong trào như đi bộ đội, phục vụ quốc phòng, tích tực tăng gia sản xuất. Nơi nào, chỗ nào cũng có câu khẩu hiệu: “Mỗi người làm việc bằng hai, tất cả vì miền Nam ruột thịt”
           Tôi chưa thuộc lời của những bài hát trên nên nhẩm nhẩm hát theo. Hết màn hát tập thể đến màn hát cá nhân, những đồng chí có khiếu hát dân ca, hát tân nhạc hay ngâm thơ đều được khuyến khích hát phục vụ mọi người. Tiếng hát, điệu chèo không đàn, không trống phách, nhưng lời các bài ca thì đều là “nhạc đỏ” cách mạng, động viên mọi người vì đất nước, vì nhiệm vụ. Sau những màn “văn nghệ nghiệp dư” nhưng không kém phần sôi động thì đến mục đọc báo. Một đồng chí lên điểm báo và đọc mấy bài báo Quân đội, báo Nhân dân. Xong màn văn nghệ, mục đọc báo, đồng chí trung đội trưởng Đởn nhận xét về tình hình của trung đội trong ngày. Những sai sót của từng cá nhân, của từng tiểu đội như là chậm trong giờ tập thể dục sáng, hoặc có đồng chí còn ngại nắng, chỉ mau chóng chạy vào chỗ râm chỗ mát vv… Hoặc có đồng chí còn để súng han, xẻng rỉ, ăn cơm còn nói chuyện riêng, không ăn đũa hai đầu, đêm đi ngủ không đúng giờ. Bao nhiêu là vấn đề, cuối cuộc họp trung đội trưởng tuyên dương mỗi tiểu đội hai người theo đề nghị của từng tiểu đội. Tôi cũng được biểu dương về làm công tác dân vận. Cuộc họp như vậy là đúng đến 9 giờ tối thì giải tán mọi người về nghỉ. Đây là buổi họp tổ ba người và họp trung đội đầu tiên đời lính của tôi.
            Anh em tôi đi về nhà, quần áo giặt đã khô, anh Thỉnh nói tôi mặc thử quần áo lính, rồi đeo xẻng, đeo túi lựu đạn, vòng ngụy trang đủ các thứ trang bị. Ngoài xanh-tuya quần phải thắt thêm cả xanh-tuya rông to bản để đeo túi băng đạn, túi lựu đạn, bi đông nước. Đeo các thứ vào thật ngượng nghịu và vướng víu, nhưng đây là trang bị tối thiểu của người lính bộ binh trong huấn luyện. Mọi người nhất là anh chị chủ nhà nói tôi mặc đồ bộ đội đẹp vì tôi gầy nhưng dáng cao. Ở đây chẳng có gương to để soi nên cũng chẳng biết dung nhan thực sự của mình trong sắc lính thế nào. Nhưng tôi biết là chị chủ khen động viên, chứ quần áo bộ đội theo số thì tôi mặc số một chiều cao thì được, nhưng độ rộng thì dúm dó như dúm mắm nhìn không thấy mông. Thôi thì cứ thắt dây lưng cho chặt vào chứ làm sao mà mang đi đâu sửa được. Đây là lần mặc quần áo lính chính thức đầu tiên. Tôi không ngờ màu xanh của lính, khẩu súng AK, trang thiết bị của người lính bộ binh gắn bó với tôi suốt hơn chục năm trời trên khắp các vùng miền chiến trận.
          Anh em tôi cùng gia đình chủ nhà ngồi chuyện trò một lúc. Anh Thỉnh nhắc: Đến giờ ngủ rồi đấy, anh em mình đi ngủ thôi, không trực ban trung đội lại ghi sổ khuyết điểm, hôm nay Thắng gác ca đầu từ 22 giờ đến 23 giờ. Tiếp đến là Văn tới 24 giờ, thì gọi anh Thịnh nhóm bên kia, chú ý súng đạn cho cẩn thận đấy. Nhắc lại là đạn không được lắp vào súng đâu, hôm nay Phú cứ đi ngủ chưa phải gác. Vừa nói, anh Thỉnh vừa tháo cái đồng hồ hiệu Poldot của Liên-Xô mạ vàng đeo ở tay đưa cho Thắng nói: Đồng hồ đây, giữ cho tốt nhé, cấm không được vặn chỉnh đấy bố ạ. Thắng nói: Hôm trước chắc chúng nó vặn chứ em không bao giờ vặn đồng hồ cả. Mà em có biết vặn thế nào đâu mà chỉnh. Tôi nghĩ: Chuyện gác sách của lính có nhiều phức tạp đây, chắc có bạn nào gian dối vặn chỉnh đồng hồ cho nhanh lên. Vấn đề này thật khó, vì ngoài anh Thỉnh ra thì có ai có đồng hồ đâu? Thời đó đồng hồ là hiếm lắm, ngay tôi đi làm đã mấy năm, ý định góp tiền để mua đồng hồ đeo tay mà cũng chưa mua được. Những người đi xe đạp, tay đeo đồng hồ, áo cài bút máy, vai đeo đài bán dẫn là thuộc tầng lớp cán bộ huyện trở lên, hoặc giầu có hơn người mới có những thứ cao sang đó. Hôm nay tôi vẫn chưa phải gác, nhưng ngày mai, mọi sinh hoạt cũng sẽ như mọi người. Nghĩ ngợi mông lung một lúc rồi tôi chìm vào giấc ngủ thật say, thậm chí Thắng, Văn đổi gác cho nhau thế nào tôi cũng không biết.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM