Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tám, 2019, 01:09:31 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân  (Đọc 12575 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2018, 10:28:41 PM »

Ngày 8 tháng 4, địch tăng viện cho Điện Biên Phủ tiểu đoàn dù thứ tư. Ngày 9 tháng 4, chúng tổ chức phản kích hòng chiếm lại C1. Lực lượng phòng ngự của Trung đoàn 98 chiến đấu dũng cảm bẻ gẫy nhiều đợt xung phong của địch, nhưng do địch đông và được các cứ điểm lân cận hỗ trợ nên đến trưa ngày 10, chúng chiếm được một nửa đồi phía tây, ta chỉ giữ được nửa đồi phía đông. Từ đây đồi C1 chia đôi, ta và địch mỗi bên một nửa, cách nhau 15-20m. Cuộc chiến chuyển sang giằng co, ta và địch giành giật từng giờ từng phút. Trong ba ngày chiến đấu hết sức dũng cảm trên đồi C1, quân ta đã tiêu diệt 3 đại đội thuộc tiểu đoàn lê-dương số 1 và số 8.

Sau khi tạm ngừng đợt tiến công, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức rút kinh nghiệm, kết hợp tự phê bình, phê bình chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực; đồng thời hạ quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đề ra cho đợt 2.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 10 tháng 4, Bộ chỉ huy giao nhiệm vụ cho các đon vị như sau:

Đại đoàn 316 làm trận địa tiến công ở đông Mường Thanh, bên trái tiếp giáp Đại đoàn 312, bên phải tiếp giáp Đại đoàn 308, xây dựng trận địa tiến công cứ điểm A1, C2, củng cố trận địa phòng ngự ở đồi C1, A1.

Đại đoàn 308 bố trí trận địa phía tây, từ sông Nậm Rốm đến Bản Kéo, có nhiệm vụ làm các trận địa tiến công các cứ điểm 206, 311A, 311B, 310, bố trí chặn viện giữa các cứ điểm 105, 206, 208, phối hợp với Đại đoàn 312 đào giao thông hào cắt ngang sân bay ở đoạn nam cứ điểm 206.

Đại đoàn 312 bố trí ở phía bắc từ Bản Kéo đến đoạn đông sân bay Mường Thanh, có nhiệm vụ củng cố trận địa phòng ngự ở các cứ điểm 201, 202, xây dựng trận địa tiến công các cứ điểm 105, 203, phối hợp với Đại đoàn 308 đào giao thông hào cắt ngang sân bay.

Đại đoàn 351 xây dựng trận địa pháo ở tây bắc Mường Thanh, đưa pháo vào sát vùng lòng chảo, tổ chức phòng không, hiệp đồng chặt chẽ các loại pháo chi viện cho bộ binh và kiềm chế pháo địch.

Là một trong những lực lượng tiến công chủ yếu trong đợt hai, cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 316 đã hết sức cố gắng chiến đấu ngoan cường, góp phần vào thắng lợi chung. Trận đánh chiếm đồi C1 đêm 30 tháng 3 cũng như những trận tiến công, phản công, phòng ngự trên đồi A1, C2 những ngày qua thể hiện tinh thần kiên cường, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ ta. Mặc dù đạt được một số thành tích như vậy, song so với yêu cầu của chiến dịch thì Đại đoàn 316 chưa làm tròn nhiệm vụ trên giao, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch chung và bị tổn thất nhiều. Trước tình hình đó, tư tưởng tiêu cực xuất hiện. Có cán bộ không tin chiến sĩ mới, không tin đơn vị mình có khả năng tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ, thắc mắc với trên, đổ lỗi cho dưới… Trong chiến sĩ, một số sợ máy bay, pháo địch, không đi nằm trận địa, không dám lên trận địa phòng ngự…

Đảng ủy Đại đoàn chủ trương mở đợt giáo dục tư tưởng trong cán bộ, đảng viên, chiến sĩ để nâng cao quyết tâm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, kiên quyết chống tư tưởng tiêu cực. Đảng ủy Đại đoàn chủ trương lấy tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp, đấu tranh đến cùng với kẻ thù giai cấp và lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi hành động của mình.

Các đồng chí ủy viên Đảng ủy Đại đoàn gương mẫu tự phê bình và phê bình thắng thắn, chỉ ra những thiếu sót trong công tác lãnh đạo và chỉ huy của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh. Các đơn vị cũng tiến hành đấu tranh nghiêm túc trên tình đồng chí, giúp đỡ nhau. Mọi người nhìn rõ chỗ mạnh của đơn vị và bản thân; đồng thời cũng thấy chỗ hạn chế và khuyết điểm của mình, nhận rõ những khó khăn trước mắt trên đường đi tới thắng lợi của ta, thấy chỗ mạnh tạm thời của và thất bại không thể tránh khỏi của chúng. Mọi công tác chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới của đại đoàn được tiến hành khẩn trương, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ xây dựng trận địa, đánh lấn, bắn tỉa, đánh phá hậu phương, kho tàng địch. Công tác chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới được tiến hành tích cực.

Trung đoàn 98 đào 3 con hào từ hướng đông, đông bắc và đông nam vào. Tiểu đoàn 439 xây dựng trận địa hỏa lực của trung đoàn trên mỏm Thia Lia kề với C2, cách hàng rào cuối cùng 60m. Ở A1, ngoài các con hào từ phía đông và đông bắc vào, Trung đoàn 174 đào thêm hào ở phía tây nam lượn theo chân đồi E (cách đông nam A1 khoảng 200m), lợi dụng khe suối cạn thọc ra đường 41, rồi quặt lên phía tây nam A1. Khi đào con hào này, bộ đội gặp phải sự khống chế quyết liệt của pháo binh và lưới lửa của bộ binh địch ở A1, A3 và Mường Thanh. Nhưng chính đường hào này sẽ tạo điều kiện cho bộ binh ta áp sát A, hình thành vòng vây từ ba phía đông, đông nam và tây nam. Lực lượng ta thọc sâu vào A3 ở phía tây nam A1, sẽ cắt hoàn toàn con đường tiếp tế của địch từ Mường Thanh lên A3, A1; đồng thời sẽ là đòn hiểm đánh vào sau lưng A1, bịt hẳn đường rút chạy của địch. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 đã không ngại gian khổ, ác liệt nhiều lần trinh sát, tìm mọi cách bảo đảm an toàn cho bộ đội.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2018, 10:29:34 PM »

Khi phát hiện ta đào các đường hào, địch điên cuồng dùng bom đạn ngăn chặn. Mỗi mét hào đều thấm máu cán bộ, chiến sĩ ta. Anh em đã sáng tạo nhiều biện pháp giảm thương vong và thúc đẩy công việc tiến triển nhanh, như: mài xẻng thật sắc để gọt đất cho êm, kéo rơm thật chặt làm lá chắn đỡ đạn, bện rơm làm “áo giáp” che lưng, đào dúi kết hợp với đào ngầm, khoét từng đoạn đường hào ngầm rồi đánh sụp, hất đất và ngụy trang xong lại đào tiếp…

Lúc này một vấn đề quan trọng trong kế hoạch tiến công A1 thu hút tâm trí các đồng chí chỉ huy đại đoàn là tìm cách đào hầm ngầm. Nhiều phương án được đưa ra bàn bạc. Cuối cùng kế hoạch đào một đường hầm từ trận địa ta đến chân hầm địch, rồi dùng một lượng thuốc nổ 1.000 kg đánh sập hầm được Bộ chỉ huy Đại đoàn báo cáo lên Bộ chỉ huy chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch phê chuẩn và tăng cường cho đại đoàn một tổ công binh có kỹ thuật và kinh nghiệm cùng với công binh đại đoàn thực hiện nhiệm vụ đào hầm ngầm.

Tối ngày 20 tháng 4, anh Lê Quảng Ba – Đại đoàn trưởng trực tiếp chỉ đạo đào đường hầm, nghe báo cáo kết quả từng ngày. Chiến sĩ công binh khẩn trưởng bắt tay vào nhiệm vụ nghiên cứu định hướng, bộ binh thay phiên nhau nằm đào. Đào được vài đêm thì địch phát hiện tiếng động trong lòng đất, chúng nghi ngờ cho máy bay, pháo binh bắn phá liên tục xuống trận địa ba. Ban đêm bộ binh địch ném lựu đạn, xả súng bắn xuống đường hầm ta đang đào.

Đường hào đào vào càng sâu công binh càng gặp khó khăn về kỹ thuật như thiếu ánh sáng và không khí, cách đào để giữ cho hướng và độ chênh của đường hầm vào đúng vị trí hầm ngầm, cách đưa đất ra ngoài sao cho vừa nhanh vừa không lộ… đều là những vấn đề nan giải. Bộ Tư lệnh Đại đoàn đã gửi cho anh em công binh bộ đèn sô-lếch vẫn dùng ở sở chỉ huy, lực lượng dân công tập trung khâu gấp hàng nghìn túi vải dù để đựng đất kéo ra và làm bờ công sự. Việc giữ sáng đúng hướng và động chênh của đường hầm được thực hiện bằng cách tính toán của pháo binh với cách hiệu chỉnh đơn giản, dùng cây hương cháy đỏ làm vật chuẩn và ống tiêm đựng nước làm ống thăng bằng. Để không khí trong hầm bớt ngột ngạt, anh em dùng quạt nan quạt không khí từ ngoài vào. Với sự cố gắng và nỗ lực cao, con đường hầm đã được hoàn thành đúng kế hoạch.

Ngày 16 tháng 4 năm 1954, chiến hào của Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 nối liền với nhau cắt đôi sân bay Mường Thanh. Đêm 18 tháng 4, sau nhiều ngày vây lấn, Trung đoàn 165 tiến công dứt điểm cứ điểm 105. Sáng ngày 19 tháng 4, địch cho quân ra phản kích bị Đại đoàn 308 chặn đánh phải quay lại cứ điểm 105. Cứ điểm bảo vệ phía bắc sân bay bị xóa sổ. Đêm 22 tháng 4, Trung đoàn 36 sau ba ngày vây lấn cũng đã tiến công chiếm gọn cứ điểm 206. Ngày 24 tháng 4, địch tung tiểu đoàn lê-dương số 12 cùng 5 xe tăng có pháo binh, không quân yểm trợ mở đợt phản kích quyết liệt, hòng đánh ta ra khỏi 206 và khu vực sân bay. Được pháo binh chi viện đắc lực, bộ đội ta đã đánh bại nhiều đợt xung phong của địch, thực hiện trọn vẹn nhiệm vụ cắt đôi sân bay Mường Thanh, thu hẹp phạm vị chiếm đóng của địch.

Từ trung tuần tháng 4, kết hợp với vây hãm, đánh lấn, các đơn vị còn tích cực tham gia bắn tỉa, tổ chức các đội dũng sĩ luồn sâu, các tổ đoàn dù gây cho địch nhiều tổn thất về sinh lực, phương tiện, căng thẳng về tinh thần.

Cùng với hoạt động vây ép của bộ binh, pháo cao xạ và súng máy phòng không của các đại đoàn tiến sâu vào thung lũng, tạo một lưới lửa phòng không không cho địch dùng máy bay tiếp tế cho quân địch bị vây trong lòng chảo Điện Biên Phủ. Đến giữa tháng 4, ta đã hạ 50 máy bay địch, buộc chúng phải thả dù ở độ cao trên 3km, do đó trên một phần ba số dù tiếp tế rơi vào trận địa của ta.

Đến cuối tháng 4, mọi công tác chuẩn bị cho đợt tiến công mới đã hoàn tất. Bộ chỉ huy chiến dịch đề ra nhiệm vụ trong những ngày đầu tháng 5 là phải đánh chiếm xong khu ngoại vi, diệt thêm một số sinh lực địch, đánh chiếm toàn bộ các điểm cao phía đông và một số cứ điểm phía tây, hoàn thành triệt tiêu đường tiếp tế của địch.

Để tạo khí thế sôi nổi, Bộ chỉ huy chiến dịch phát động đợt thi đua từ ngày 1 đến ngày 19 tháng 5 để chào mừng ngày Quốc tế lao động và ngày sinh Bác Hồ. Đối với Đại đoàn 316, đây còn là đợt thi đua lập thành tích chào mừng 3 năm ngày thành lập Đại đoàn (1-5-1951 - 1-5-1954). Theo phương án của Bộ chỉ huy chiến dịch, mở đợt 3, Đại đoàn 316 có nhiệm vụ đánh chiếm khu bộ đồi C1; đồng thời dùng một bộ phận nhỏ phối hợp đánh ở phía A1, nhằm phân tán sự đối phó của địch, tranh thủ mở rộng bàn đạp tiến công.

Cho đến cuối tháng 4 năm 1954, vòng vây của quân ta đã siết chặt, phạm vi chiếm đóng của định mỗi bề chỉ còn lại từ 1,3 đến 1,7km, lực lượng của chúng cũng không vượt quá 37 đại đội. việc thả dù tiếp tế cho Điện Biên Phủ cũng hết sức khó khăn, lương thực, phẩm khan hiếm, binh lính địch thực sự lâm vào tình trạng khốn quẫn. trong lúc bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp và can thiệp Mỹ đang lúng túng chưa tìm được lối thoát cho Điện Biên Phủ, thì ta quyết định tiến hành đợt tiến công thứ ba vào đầu tháng 5 năm 1954.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2018, 10:30:21 PM »

Đại đoàn 316 có nhiệm vụ tiêu diệt C1 và giữ vững trận địa ở đó; đồng thời đánh lấn sang C2 để phù hợp với trận địa ở A1. Nếu điều kiện thuận lợi thì phát triển đánh chiếm C2 tổ chức chiếm những lô cốt quan trọng ở A1.

Đại đoàn 312 tiêu diệt các cứ điểm 505 và 505A, dùng một bộ phận lực lượng bộ binh và hỏa lực chặn viện khi đại đoàn tiến công C1.

 Đại đoàn 308 có nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm 310, 311A, 311B.

Trung đoàn 57 Đại đoàn 304 có nhiệm vụ kiềm chế pháo binh địch và đánh lấn vào phân khu Hồng Cúm.

 12 ngày 1 tháng 5 năm 1954, đợt tiến công thứ ba bắt đầu. Pháo chiến dịch của ta trút đạn vào các trận địa pháo địch trong suốt gần 1 giờ đồng hồ. Hỏa tiễn 122 của ta lần đầu tiên xuất hiện làm cho binh lính địch càng thêm hoảng sợ. Cụm pháo địch ở khu Mường Thanh, Hồng Cúm chìm trong khói đạn bị tê liệt hoàn toàn. Một kho đạn pháo với trên ba nghìn quả đạn bị nổ tung. Theo kế hoạch, 17 giờ, lực lượng phòng ngự trên đồi C1 bí mật lùi xuống mở cửa để hỏa lực của Trung đoàn 98 bắn áp chế trận địa trên C1. Đạn pháo ta bắn chính xác, địch hết sức bất ngờ, lúng túng. Tiểu đoàn 439 thực hiện xung phong. bên cánh trái, đại đội 811 chiếm lô cốt số 8, cắt đứt đường địch rút chạy về C2. Ở cánh phải, đại đội 148b chiếm lô cốt số 4, sau đó đánh tiếp lô cốt số 5, số 6, chặn đường của địch chạy về đồi Mâm Xôi. Sau 1 giờ chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ đồi C1, diệt 114 tên, bắt 40 tên, 44 tên, thu toàn bộ vũ khí trang bị.

Ở A1, Trung đoàn 174 đánh chiếm được 2 ụ súng số 7 và số 8 ở gần cửa hầm của ta. Ngay đêm đầu tiên chiến đấu của đợt ba, Đại đoàn 316 đã hoàn thành mục tiêu đề ra.

Trên hướng Đại đoàn 312, tại hướng đông sông Nậm Rốm, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 tiến công các cứ điểm 505 và 505A. Đến 4 giờ sáng ngày 2 tháng 5, Trung đoàn hoàn toàn làm chủ hai cứ điểm này. Trong khi đó, ở hướng tây, Trung đoàn 88 sư đoàn 308 cũng diệt gọn cứ điểm 311A chỉ trong vòng 30 phút. Ở phân khu Hồng Cúm, Trung đoàn 57 tăng cường vây ép, chiến công diệt nhiều sinh lực địch.

Thấy nguy cơ Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, ngày 3 tháng 5, Cô-nhi - Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ ra lệnh cho Đờ Cát-xtơ-ri tìm đường rút chạy sang Thượng Lào. Nhưng kế hoạch rút chạy của định chưa việc triển khai thì Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ thị cho các đơn vị “sẵn sàng nắm thời cơ, khi có điều kiện chuyển sang tổng công kích ngay và phải bao vây chặt không cho địch rút chạy”.

Đại đoàn 316 lúc này được tăng cường Trung đoàn 9 (Đại đoàn 304) làm lực lượng dự bị, trong khi đó tiểu đoàn 888 (Trung đoàn 98 Đại đoàn 316) phối thuộc cho Đại đoàn 304 làm nhiệm vụ bao vây và chuẩn bị tiến công Hồng Cúm.

Trung đoàn 174 tiếp tục được giao nhiệm vụ đánh A1. Khi đánh xong A1, Nếu Trung đoàn 98 gặp khó khăn thì Trung đoàn 174 tổ chức một bộ phận đánh sang, kiên quyết chặn địch từ Mường Thanh phản kích ra; đồng thời chuẩn bị tiêu diệt A3. Toàn Đại đoàn bước vào chiến đấu với một quyết tâm rất cao.

 Ở hướng A1, tiểu đoàn 255 (Trung đoàn 174) được lệnh chuyển sang đồi Cháy. trận địa được bàn giao cho Tiểu đoàn 249. Ở phía tây nam, Tiểu đoàn 251 có nhiệm vụ đánh chiếm lô cốt số 7. Đây là một đòn hiểm nhằm đánh vào lưng A1, bịt đường chạy của địch; đồng thời cắt rời A1 với khu trung tâm Mường Thanh. 1.000kg thuốc nổ được chia làm 50 gói xếp gọn trong hầm sâu. các phương pháp gây nổ đã được tính toán kỹ lưỡng. Tuy vậy, để bảo đảm chắc chắn, Đại đội 317 từ hai đảng viên tình nguyện trong trường hợp trục trặc thì mỗi người ôm khối thuốc nổ 20kg giặt nụ xùy lao vào.

Đúng 20 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, lệnh nổ bộc phá được ban ra. Khác với sự mong đợi của mọi người, không có tiếng nổ lớn mà chỉ có ánh lửa chớp và một tiếng ục nặng nề. Đài quan sát thấy trên đồi A1 có nhiều cột khói bốc lên. Chúng tôi lại cho anh Nguyễn Hữu An cho bộ đội tiến công. Khối thuốc nổ của ta đã phá hủy một mảng hầm ngầm, tiêu diệt một số địch; đồng thời làm choáng váng số còn lại. Địch chưa hoàn hồn thì bộ đội ta tràn lên chiến hào. Tiểu đoàn 249 (Trung đoàn 174) chiếm được một phần phía nam. Ở phía tây nam, các chiến sĩ bộc phá ta nhiều lần đánh lên lô cốt 17 đều bỉ hỏa lực chặn lại. Phát hiện thấy một ụ súng địch bố trí bí mật ở ngoài lô cốt, ta kịp thời tiêu diệt, tạo điều kiện để phát triển chiến đấu và sẵn sàng đánh địch tiếp viện; đồng thời tổ chức một lực lượng nhỏ đánh xuống A3, buộc địch phải đối phó, không đánh được vào phía sau quân ta trên A1.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2018, 10:32:32 PM »

Địch ở A1 chống cự quyết liệt, chúng hy vọng chờ quân từ Mường Thanh lên. Các mũi của ta chưa đánh được vào mục tiêu quy định. Thấy tình hình khó khăn, Đại đoàn ra lệnh cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An lệnh cho Tiểu đoàn 249 đưa lực lượng dự bị vào chiến đấu. Ta đánh chiếm được Khu B, phát triển vào hầm ngầm, nhưng khi đánh tới trận địa súng cối của địch, thì quân địch ở đây chống cự quyết liệt. Các đơn vị vừa chiến đấu vừa chấn chỉnh lực lượng, chia làm nhiều hướng tiếp tục xung phong, đến 2 giờ 30 sáng ngày 7 tháng 5, ta làm chủ được khu vực trận địa cối, bắt 120 tù binh, trong đó có tên Pu-giê - chỉ huy cứ điểm A1.

4 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5, Trung đoàn 174 đã làm chủ A1. Ngay sau đó, trung đoàn hỏa lực bắn mạnh sang C2 chi viện cho Trung đoàn 98. Trung đoàn trưởng Vũ Lăng lệnh cho Tiểu đoàn 439 là mũi vu hồi từ C1 qua đồi Mâm Xôi vòng sang đánh vào phía tây bắc C2. Trong khi đó, tại hướng chủ yếu, 2 giờ sáng ngày 7 tháng 5, một tiểu đội xung kích của Đại đội 38 do chính trị viên đại đội chỉ huy dũng cảm mưu trí vượt qua làn đạn vào tiếp sức cho lực lượng trung đoàn. Từ đây, quân ta chia làm hai mũi đánh khu mỏm B. Trung đoàn 98 một mặt lệnh cho hỏa lực tích cực chi viện, một mặt lệnh cho Tiểu đoàn 215 sử dụng lực lượng dự bị vào chiến đấu. Lúc này Trung đoàn 174 đã chiếm được A1, Bộ Tư lệnh Đại đoàn chúng tôi nhận định: dù quân địch ở C2 còn đông và ngoan cố nhưng chắc chắn không thể chống cự nổi nếu ta tiến công liên tục. Bản thân Trung đoàn 98 còn khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, chúng tôi lệnh cho Trung đoàn 98 nhanh chóng của Tiểu đoàn 215 và Tiểu đoàn dự bị 375 vào chiến đấu.

Để tạo điều kiện cho bộ binh xung phong, Bộ Tư lệnh Đại đoàn đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch dùng lựu pháo bắn vào C2. 200 quả lựu pháo của ta đã nã đạn chính xác xuống C2.

7 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5, ta bắt đầu xung phong lên C2 bằng 3 mũi, lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu. Tướng Đờ Cát cố vét 8 trung đội tung ra phản kích, nhưng những đơn vị này vừa tiến được vài trăm mét thì bị các chiến sĩ Tiểu đoàn 439 cùng hỏa lực Trung đoàn 174 chặn đứng lại, phải chạy về Mường Thanh.

9 giờ 30 phút, quân ta làm chủ C2, sáu đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê-dương số 2 và tiểu đoàn dù ngụy 5 gồm hơn 600 tên gì diệt và bị bắt làm tù binh. Đến giờ phút này, các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và sẵn sàng chuyển sang tổng công kích.

Khoảng 10 giờ ngày 7 tháng 5, trong khi các đại đoàn đang xúc tiến việc chuẩn bị bảo đảm cho tổng công kích thì cơ quan quân báo phát hiện địch có dấu hiệu rối loạn và có khả năng đầu hàng. 13 giờ ngày 7 tháng 5, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích trước giờ quy định: Phải đánh thẳng vào sở chỉ huy, phải đánh mạnh, bao vây chặt không cho Đờ Cát hoặc bất cứ tên địch nào chạy thoát.

Chấp hành mệnh lệnh, từ hướng đông Trung đoàn 109 đánh thẳng vào Mường Thanh. Tiếp sau là các trung đoàn 98 và 174. Bên phía tây, Trung đoàn 36 tiến thẳng vào cứ điểm cuối cùng che chở sở chỉ huy của Đờ Cát. Trung đoàn 98 cũng mở đường qua sân bay tiến vào sào huyệt cuối cùng của địch. Bộ đội ta tiến tới đầu quân địch đầu hàng tới đó. 17 giờ 15 phút, một cánh quân của Đại đoàn 312 tiến sát sở chỉ huy địch, tại cửa hầm của Đờ Cát xuất hiện cờ trắng xin hàng. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ tiến vào hầm bắt sống tướng Đờ Cát cùng toàn bộ ban tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu liên tục, các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, bắn rơi tại mặt trận 57 máy bay; ta thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, trong đó có 28 pháo lớn, 64 xe, 5.915 súng các loại.

Ngay tối hôm đó, Đại đoàn 304 nhận lệnh tiến công Hồng Cúm, khu cứ điểm cuối cùng của địch. Biết không thể giữ nổi, địch đã bí mật rút chạy. Ta truy kích, đến nửa đêm thì toàn bộ 2.000 tên địch bị bắt gọn.

Ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ một ngày, toàn mặt trận vô cùng phấn khởi được thư khen ngợi của Bác, Người viết:

“Quân ta đã giải phóng Điện Biên Phủ, Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bước đầu, chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lấy độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ gian khổ mơi đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Bác và Chính phủ sẽ khen thưởng những cán bộ, chiến sĩ, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào địa phương có công trạng đặc biệt.


                                                                                                                                                                             
Ngày 8 tháng 5 năm 1954
Chào thân ái và quyết thắng
HỒ CHÍ MINH”

Ngay sau chiến dịch, Đại đoàn 316, một bộ phận được giao nhiệm vụ áp giải hàng nghìn tù binh từ Điện Biên Phủ về Sầm Sơn (Thanh Hóa), một bộ phận tiếp tục ở lại Điện Biên Phủ làm nhiệm vụ tổ chức trao trả thương binh địch, thu dọn chiến trường, giúp nhân dân địa phương ổn định một bước đời sống và sản xuất.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2018, 10:33:04 PM »

*
*   *

Tạm biệt Điện Biên Phủ, trên đường về đông bằng ven biển đến Hoằng Hóa, Thanh Hóa được hai ngày, Đảng ủy Đại đoàn họp mở rộng đến cán bộ trung đoàn và cơ quan trao đổi kinh nghiệm có kết luận sơ bộ và tóm tắt để đi dự hội nghị tổng kết do Bộ Tổng tư lệnh triệu tập. Sau chín năm chiến đấu, chiến thắng, học tập, rèn luyện nếu tính cả trường đời thật phong phú. Nhưng ở đây chỉ tóm tắt: Cán bộ Đại đoàn 316 đã học được những gì.

Sau chiến thắng của quân và dân Việt Bắc, bước đầu đánh bại âm mưu chính trị thâm độc cũng là đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của quân viễn chinh Pháp. Sau chiến thắng Việt Bắc, Trung ương Đảng, Bác Hồ, Quân ủy Trung ương đã sớm thấy cần có khối chủ lực cơ động, quả đấm chiếm lược để thực hiện nhiệm vụ cơ bản là tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giải phóng đất đai, phát huy cao độ sức mạnh của chiến tranh nhân dân, đánh từ những đòn quyết định để đi đến toàn thắng. Trung đoàn 174 và cả Đại đoàn 316 được tham gia từ chiến dịch giải phóng Trung Du – Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình (phối hợp đánh vào vùng sau lưng địch), Tây Bắc, Thượng Lào, Điện Biên Phủ lịch sử. Từ những thuận lợi và cả những khó khăn, cán bộ đại đoàn đã hiểu được:

Đường lối toàn dân đánh giặc của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, là sức mạnh to lớn bền bỉ. Tổ chức và xác định rõ nhiệm vụ của ba thứ quân trên chiến trường chính Bắc Bộ và các chiến trường có những đặc điểm và vị trí chính trị, chiến lược khác nhau. Để đập lại âm mưu của quân xâm lược – lấy Đông Dương làm một chiến trường để bao vây chia cắt, chủ yếu nhằm thắng trên chiến trường chính – Việt Nam thì nhân dân các dân tộc ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia cũng có quyền liên minh chiến đấu nhằm mục đích chính nghĩa của mình.

Đảng và Bác Hồ đã xác định: Bắc Bộ Việt Nam là chiến trường chính. Do đó trong hoạt động thường xuyên cũng như trong chiến dịch tiến công lớn trên chiến trường chính Bắc Bộ có sự phối hợp đắc lực các chiến trường trên bán đảo Đông Dương.

Trên chiến trường chính Bắc Bộ, khối chủ lực cơ động tập trung mở chiến dịch vào hướng chính có các địa bàn, các hướng chiến đấu phối hợp đắc lực. Trên chiến trường ta có các địa bàn chiến lược quan trọng: miền núi, trung du, đồng bằng, đô thị và ven biển. Hậu phương kháng chiến có hậu phương chiến lược, hậu phương của từng chiến trường, từng quân khu, từng tỉnh có khả năng hỗ trợ lẫn nhau và tập trung cho hướng chính.

Xây dựng và rèn luyện các lực lượng vũ trang theo phương châm: vừa học, vừa làm, vừa chiến đấu và rèn luyện tập trung là bồi dưỡng đội ngũ cán bộ. Đảng ủy Đại đoàn 316 hết sức chăm lo xây dựng Đảng bộ về tư tưởng và tổ chức. Trong chiến đấu dễ dàng phát hiện những chiến sĩ tốt qua giáo dục để kết nạp vào Đảng. Đảng viên cơ sở là nguồn lực dồi dào để bồi dưỡng cán bộ cơ sở. Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về chính trị, tư tưởng, đạo đức phẩm chất qua hoạt động chiến đấu có đủ khả năng cho sự phát triển và tiêu hao, xem thực hiện việc bồi dưỡng con người là then chốt. Cán bộ trưởng thành về chính trị là cơ sở để học tập nắm vững và không ngừng sáng tạo nghệ thuật quân sự.

Nhất trí đoàn kết trong nội bộ là cơ sở để đoàn kết và xây dựng niềm tin trong nhân dân các dân tộc, trước hết là ở những nơi đại đoàn đóng quân và hoạt động. Trong các chiến dịch tiến công, Đại đoàn 316 thường đi rước về sau, phù hợp với chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc để chiến thắng.

Thắng lợi Điện Biên Phủ vang vọng khắp địa cầu, là bước trưởng thành nhảy vọt của lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước, là cơ sở vững chắc đi đi tới hoàn thành mục đích cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tiếp tục phương châm vừa làm, vừa học, vừa chiến đấu và rèn luyện để đi tiếp là quán triệt lời Bác Hồ căn dặn trong thư Người gửi cho cán bộ, chiến sĩ Điện Biên: “thắng lợi là to lớn nhưng mới là bước đầu”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2018, 10:38:22 PM »



Bị bắt lên nhà lao Vinh (Nghệ An), ngày 8 tháng 3 năm 1935.



Sổ danh bạ căn cước mang ký hiệu A.19, tại nhà lao Kon Tum



Bác Hồ chỉ đạo chiến dịch Biên Giới năm 1950, bên trái Người là Đại tướng Võ Nguyên Giáp,
bên phải Người là Chu Huy Mân - Chính ủy Trung đoàn 174.




Chính ủy Đại đoàn 316 - Trước khi lên đường đi chiến dịch Tây Bắc (năm 1952).



Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ chiến đấu cho các đơn vị tại sở chỉ huy Mặt trận Điện Biên Phủ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2018, 10:09:16 AM »

Chương III
GIÚP BẠN LÀ TỰ GIÚP MÌNH

Trước khi viết cụ thể về hai lần chủ yếu được Đảng và Bác Hồ giao nhiệm vụ sang Lào giúp bạn, tôi muốn dành mấy trang nói đôi nét về lịch sử bang giao và sự hình thành liên minh chiến đấu giữa ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù xâm lược, vì độc lập, tự do, thống nhất, vì sự phát triển phồn vinh của ba dân tộc.

Khi loài người phát triển đến xã hội phong kiến thì mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ với giai cấp nông dân ngày càng tăng. Các quốc gia dân tộc lớn nhỏ khác nhau, do địa lý tự nhiên sống gần nhau, giai cấp cầm quyền các nước lớn thường tìm cách lấn chiếm đất đai, rừng biển và “đồng hóa” các dân tộc nhỏ. Nhân dân lao động các nước trước hết là ở sát biên giới với nhau có mối quan hệ láng giềng, dòng tộc, thân thiện và hỗ trợ nhau chống thiên tai hỏa hoạn, tối lửa tắt đèn có nhau, hợp tác với nhau trên những lĩnh vực có chung lợi ích. Cũng có những tình huống, bọn cầm quyền nước lớn lôi kéo nước nhỏ đi xâm lược nước thứ ba, thúc đẩy một số nước khác liên minh với nhau chống trả. Rõ ràng dưới thời phong kiến đã xuất hiện tình hình cá lớn nuốt cá bé, nhưng trong phạm vi hẹp, chưa bao giờ vượt khỏi một châu lục.

Đầu thế kỷ XIX, giai cấp tư sản phương Tây ra đời và lớn mạnh. Chúng công nghiệp hóa nền kinh tế, đồng thời cũng là chế độ người bóc lột người. Mâu thuẫn và đấu tranh giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản bắt đầu. Không bao lâu công nghiệp tư bản phương Tây tự nó chuyển thành chủ nghĩa đế quốc. Chúng bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân trong nước tận xương tủy vẫn chưa đầy túi tham. Vì thế, các nước đế quốc đua nhau đi xâm lược thuộc địa. Nhân dân các châu lục hầu hết phải sống dưới chế độ thực dân nô lệ. Chính quyền thực dân và tay sai ra sức khai thác tài nguyên, bóc lột công nhân rẻ mạt, công nghiệp hóa có mức độ các nước thuộc địa để phục vụ nền kinh tế chính quốc. Từ đó đẻ ra giai cấp công nhân ở thuộc địa.

Đến đây mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước thuộc địa vì quyền lợi kinh tế, chính trị có mối liên hệ kiểu mới với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mối liên hệ mật thiết này có chung một kẻ thù. Cuộc đấu tranh đầu tiên mang tính tự phát, cho đến khi có chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành tự giác, liên minh chính nghĩa đi vào tổ chức.

Thị trường thuộc địa chia xong một thời gian, vì quyền lợi không đều, phát triển không đều giữa các nước đế quốc phương Tây, chúng lại chia thành hai phe đế quốc để chia lại phạm vi thống trị. Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) bùng nổ chưa phân thắng bại thì Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 thành công. Nhà nước công nông đầu tiên ở một nước lớn ra đời. Bước ngoặt vĩ đại này làm thay đổi cục diện chính trị thế giới, là bước tiến vĩ đại của loài người tiến bộ. Từ đó liên minh chính nghĩa và phi chính nghĩa cũng rõ ràng và chuyển sang giai đoạn mới.

Vào giữa thế kỷ XIX, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần lượt bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân các dân tộc trên bán đảo Đông Dương chỉ cảnh mất nước, nô lệ lầm than. Cuộc đấu tranh của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia cũng bắt đầu vì độc lập tự do và con đường phát triển dân tộc.

Vì đặc điểm địa lý sẵn có từ xa xưa, ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương đời này qua đời khác sống trong tình làng nghĩa xóm, sát biên giới còn có quan hệ dòng tộc giúp đỡ nhau trong những lúc thiên tai hạn hán để lao động kiếm sống.

Khi thực dân Pháp xâm lược thì tư tình nghĩa láng giềng thân thiện đến chung kẻ thù xâm lược thống trị, chung cảnh ngộ nước mất nhà tan, chung mục đích đấu tranh, đánh đuổi xâm lăng vì độc lập, tự do, thống nhất, là cơ sở vững chắc phát triển dân tộc đến phồn vinh.

Thực dân Pháp vừa đặt chân đến bán đảo Đông Dương thì ngay lập tức dưới ngọn cờ của những chí sĩ yêu nước, quần chúng đoàn kết đứng lên chống ngoại xâm.

Ở Việt Nam phong trào nổi lên liên tiếp, có Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng... nhưng tất cả đều không thành công mà chỉ thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân trong phạm vi khác nhau. Sau những phong trào nói trên ở Việt Nam còn có phong trào thanh niên xuất dương tìm đường cứu nước. Nhưng mọi con đường được tìm kiếm công phu vẫn không phù hợp với tiến trình lịch sử khách quan của thời đại…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2018, 10:09:50 AM »

Cho đến khi Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sau nhiều năm bôn ba đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và mang tư tưởng chính nghĩa đó về nước; qua thời gian chuẩn bị, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đó đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương; từ đây liên minh chiến đấu ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù chung vì mục đích chính nghĩa chuyển sang giai đoạn mới, mang bản chất mới. Sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, một số Đảng viên Cộng sản người Việt đã sang Lào bắt nhân mối và xây dựng cơ sở. Năm 1930 phong trào cách mạng ở Việt Nam rầm rộ trong cả nước mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh, ảnh hưởng lớn đến nhân dân Lào và Cam-pu-chia. Khi chuyển thành Đảng Cộng sản Đông Dương thì những người cộng sản Việt Nam tự nguyện sang hoạt động ở Lào và Cam-pu-chia. Qua 15 năm đấu tranh cách mạng, ở cả ba nước đều có cơ sở nhưng ở Việt Nam mạnh hơn. Kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và đồng minh toàn thắng chủ nghĩa phát xít và quân phiệt Nhật là điều kiện khách quan thuận lợi lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Hầu hết các dân tộc thuộc địa đều khao khát được giải phóng nhưng đa số họ chờ đợi, chỉ có Việt Nam và Lào đứng lên “đem sức ta giải phóng cho ta”. Trên 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ba nước đánh thắng hai đế quốc to. Mùa xuân năm 1975 các nước trên bán đảo Đông Dương lần lượt giải phóng. Đó là sức mạnh của liên minh chính nghĩa. Nhân dân Việt Nam được Đảng và Bác Hồ giáo dục đã thực hiện được nhiệm vụ dân tộc và quốc tế trọn vẹn, dám hi sinh và biết hi sinh vì nhân dân hai nước anh em. Thực tế lịch sử đã chứng minh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương, cách mạng Việt Nam là trụ cột.

Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (sau đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, với đường lối quan điểm và phương pháp cách mạng đúng đắn, phù hợp, thì mới có sự nhận thức đầy đủ về tính tất yếu của sự đoàn kết liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, đánh dấu bước phát triển từ tự phát sang tự giác của liên minh đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương. sau khi thành lập Đảng, một đảng viên cộng sản người Việt đã sang Lào tìm nhân mối và xây dựng cơ sở.

Sự chuyển biến về chất của liên minh ba nước Đông Dương trong giai đoạn lịch sử này không chỉ đóng khung trong tình đoàn kết giữa các dân tộc láng giềng, mà đã mang nội dung của tình đoàn kết trên đầu rất lớn giữa giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức. nhờ sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lê-nin nên phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của ba nước đã gắn chặt được với trào lưu chung của cách mạng thế giới, giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước thuộc địa với giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nước đế quốc. Đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Đông Dương trở thành nơi đụng đầu gay gắt giữa thế lực cách mạng và mặt của thời đại. Do tính nhất quán trong âm mưu chiến lược toàn cầu phản cách mạng, chủ nghĩa đế quốc coi Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia là “một thực thể Đông Dương” và là “một chiến trường chung”.

Trên thực tế, chính thực dân Pháp đã tổ chức ra liên bang Đông Dương có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên để bóc lột nhân dân ba nước. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần thứ hai, chúng đã lập lại Đông Dương thuộc Pháp. Sau bị thất bại nặng nề trong âm mưu xâm lược, từ năm 1950 Pháp buộc phải xóa bỏ Đông Dương thuộc Pháp và bày trò trao quyền tự trị cho ba nhà nước liên kết với Pháp.

Về phía ta, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương trước đây và các chính đảng ở mỗi nước sau này đều không tách rời với việc xây dựng khối đoàn kết liên minh chiến đấu của ba dân tộc và việc không ngừng chống lại sự chia rẽ phá hoại dưới mọi hình thức của mọi kẻ thù.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia được xây dựng trên cơ sở đoàn kết hữu nghị truyền thống lâu đời giữa ba dân tộc, là thành quả vĩ đại của nhân dân ba nước được vun đắp bằng công sức, xương máu của bao thế hệ của ba dân tộc anh em phát triển từ không đến có, từ thấp đến cao và trở thành một nhân tố cơ bản bảo đảm thắng lợi của cách mạng ba nước Đông Dương.

Yếu tố cơ bản nhất tạo nên mối quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào là do hai nước tuy có những điểm khác nhau về sự cấu thành chủng tộc văn hóa, ngôn ngữ, tâm lý xã hội... nhưng đó là những quốc gia cùng chung sống lâu đời trên bán đảo Đông Dương, nhân dân hai nước có chung một kẻ thù, một cảnh ngộ mất nước, bị áp bức bóc lột, nô lệ lầm than. Trong những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của chế độ thuộc địa ở Đông Dương trước đây, lợi ích của mọi người dân mất nước ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia là lợi ích toàn Đông Dương, nó nằm trong lợi ích chung của cả ba dân tộc nhằm xóa bỏ toàn bộ chế độ thuộc địa, giành lại độc lập chủ quyền cho cả bán nước và phát triển dân tộc phồn vinh.

Thực dân Pháp được đế quốc Mỹ giúp sức đã không chịu sự phán quyết của lịch sử, đã ngoan cố quay lại xâm lược Việt Nam và các nước Đông Dương một lần nữa. Lần xâm lược này thực dân Pháp sử dụng chiến lược “đánh nhanh giải quyết nhanh”. Họ tập trung lực lượng mở cuộc hành binh lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt bộ tham mưu của cách mạng nước ta. song trực tuyến trên chiến trường đã không theo ý muốn chủ quan của họ. Thất bại nặng nề ở Việt Bắc Thu - Đông năm 1947 những người cầm đầu chính quyền ở Pa-ri phải chấp nhận đánh lâu dài theo cách đánh của ta. Họ đã biến Đông Dương thành một chiến trường để bao vây chia cắt, hỏng thắng ta ở chiến trường chính Việt Nam và quyết thắng trong cuộc chiến này. Những người chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã dồn phần lớn đinh lực vào chiến trường chính ở Bắc Bộ Việt Nam. Không còn con đường nào khác, cả ba dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia lại đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung, cùng lấy Đông Dương là một chiến trường để phối hợp tiến công quân xâm lược. Theo đề nghị của chính phủ kháng chiến và mặt trận yêu nước Lào cũng như lực lượng kháng chiến Cam-pu-chia, quân tình nguyện Việt Nam đã có mặt trên các chiến trường Bắc, Trung, Hạ Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2018, 10:10:24 AM »

Qua 9 năm chiến đấu gian khổ của quân và dân ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, với chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, ta đã buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán. Từ ngày 8 tháng 5 năm 1954, hội nghị Giơ-ne-vơ - hội nghị quốc tế giải quyết vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương có các đoàn đại biểu Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam dân chủ cộng hòa, Anh, Pháp, Mỹ và đại diện ba chính phủ theo Pháp ở Việt Nam, Lào, Campuchia tham gia.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, các bên đã thỏa thuận được nhiều vấn đề và các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia lần lần được ký.

Hiệp định về đình chỉ chiến sự Việt Nam gồm 47 điểm, trong đó Điều 1 quy định về giới tuyến quân sự tạm thời để định lượng hai bên Việt Nam và Pháp sẽ tập kết ở bên này và bên kia giới tuyến, lấy sông Bến Hải, cầu Hiền Lương làm chuẩn. Lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía bắc giới tuyến, lực lượng quân đội Liên hiệp Pháp ở phía nam giới tuyến.

Bản tuyên bố cuối cùng gồm 13 điều trong đó Điều 6 quy định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam; Điều 7 khẳng định các bên tham gia hội nghị người nhận về nguyên tắc sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, việc hiệp thương tổng tuyển cử diễn hành vào tháng 7 năm 1956; điều 11, Pháp cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.

Hòa bình lẽ ra đã được lập lại trên bán đảo Đông Dương. Song, ỷ vào sức mạnh kinh tế và tiềm lực quân sự mạnh nhất và đế quốc, Mỹ đã sớm lộ rõ dã tâm xâm lược các nước Đông Dương. Là một nước lớn, lẽ ra Mỹ phải có trách nhiệm ký vào bản Hiệp định Giơ-ne-vơ, nhưng họ đã khước từ không chịu ký, kể cả bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. trưởng đoàn đại biểu Mỹ Xmít nói một cách lập lờ rằng: Mỹ không tham gia vào bản tuyên bố chung, nhưng chính phủ Mỹ sẽ không phá hoại bằng vũ lực bản tuyên bố và những hiệp định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, Lào và Miên. Tuy vậy, chỉ một ngày sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết (21 tháng 7 năm 1954), Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao đã công khai tuyên bố: chính phủ Mỹ không bị ràng buộc bởi các Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương. Lời tuyên bố đó có thể coi là sự mở màn cho cuộc viễn chinh xâm lược tàn bạo, đẫm máu và lâu dài của Mỹ đối với nhân dân ba nước Đông Dương.

Tiếp đó, ngày 8 tháng 9 năm 1954, chính quyền Ai-xen-hao đã lôi kéo một số nước ở Đông Nam Á và phương Tây lập nên khối liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO), ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia dưới cái ô bảo hộ của khối này.

Trong kế hoạch chiến lược của Mỹ, Việt Nam được coi là trọng điểm. Lợi dụng tình hình nguyên khốn về quân sự và kinh tế tài chính của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhanh chóng hất cẳng Pháp, nhảy vào miền Nam nước ta, Dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm và lập nên một đội quân tay sai trang bị vũ khí Mỹ và do cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ huy. Đồng thời chúng thẳng tay đàn áp những người kháng chiến cũ, thanh trừng luôn cả lực lượng thân Pháp.

Theo điều khoản của hiệp định Giơ-ne-vơ quy định, sau thời gian tập kết 300 ngày, quân Pháp phải rút vào miền Nam Việt Nam, miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng. Các lực lượng chính trị và vũ trang của ta ở miền Nam tạm thời tập kết ra Bắc. Sông Bến Hải chỉ là giới tuyến quân sự tạm thời. Sau hai năm đại diện hai miền Nam - Bắc tiến hành hiệp thương tổng tuyển cử tự do, thống nhất đất nước. Song, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai với âm mưu chính trị không thay đổi là chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam, biến miền Nam thành căn cứ quân sự và thực hiện chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ ở Đông Dương. Họ lớn tiếng hô hào: “Bắc tiến!” và “Lấp sông Bến Hải!”.

Đối với nước Lào, do vị trí nằm ở phía tây nước ta và tiếp giáp với Thái Lan - nơi đặt cơ quan chỉ huy của khối SEATO, tự nó đã nói lên tầm quan trọng của nước này đối với Mỹ. Mục tiêu của Mỹ là biến Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ ở Đông Dương.

Cũng theo hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng Pa-thét Lào được quyền kiểm soát hai tỉnh Sầm Nưa và Phông-xa-lỳ và một dãy hành lang nối liền hai tỉnh xuyên qua phía đông tỉnh Luông Pha-băng. Đây là một vùng rừng núi hiểm trở diện tích khoảng 32.700 km2 với 32 vạn dân. Hai tỉnh này có đường biên giới chung với Tây Bắc và Khu 4 của Việt Nam. Hiệp định ký chưa ráo mực, lợi dụng lúc quân tình nguyện Việt Nam vừa rút về nước, các lực lượng Pa-thét Lào mới tập kết về hai tỉnh chưa kịp cũng có, ngày 20 tháng 11 năm 1954, Mỹ đưa Cà Tày lên nắm quyền. Cà Tày trắng trợn tuyên bố thừa nhận “sự bảo hộ” của khối SEATO. Chính quyền tay sai đã huy động hai phần ba số quân chủ lực (khoảng 10 tiểu đoàn) ồ ạt tấn công vào khu tập kết hàng tiêu diệt lực lượng cách mạng Lào. Đồng thời mở các cuộc hành quân càn quét liên tục dài ngày vào các vùng kháng chiến cũ ở 10 tỉnh do chính quyền Viêng Chăn kiểm soát. Chúng thẳng tay khủng bố đàn áp dã man đối với các cán bộ Pa-thét Lào và những người kháng chiến cũ, gây tình hình căng thẳng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân do Pa-thét Lào quản lý.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8613


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2018, 10:11:47 AM »

Trong khi đó, ở Cam-pu-chia nhờ sự tranh thủ được những điều kiện chính trị và quân sự có lợi, chính quyền Vương quốc Cam-pu-chia đã mặc nhiên đứng ra tiếp nhận những thành quả cuộc kháng chiến của nhân dân Khơ-me mang lại. Sau khi lên nắm quyền, những người cầm quyền trong Vương quốc Cam-pu-chia thi hành một chính sách cai trị ngày càng phản động, họ thẳng tay đàn áp của những người kháng chiến cũ trong đó có những đảng viên cộng sản. Trên nhiều vùng ở Cam-pu-chia nhất là ở khu đông nam và tây nam như: Kam-pốt, Tà Keo, Kăng Đan... đã nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của quần chúng. Họ chất vấn người đại diện của phía Vương quốc trong các tổ liên hiệp đình chiến, đòi họ không được báo thù người kháng chiến cũ, đòi quyền tự do dân chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thực sự của đất nước Cam-pu-chia. Các cuộc đấu tranh đó đã nâng cao khí thế của nhân dân ngay từ những ngày đầu tiếp xúc với chính quyền Vương quốc, buộc họ nhiều lần phải hứa hẹn chấp hành đúng đắn những điều khoản quy định của hiệp định Giơ-ne-vơ. Nhưng về mặt đối ngoại, chính quyền Vương quốc theo đuổi chính sách hòa bình trung lập, cố giữ một thế cân bằng nào đó giữa các nước đế quốc và các nước xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ. Song với Mỹ, Cam-pu-chia là một đối tượng của chính sách thực dân mới của họ. Do vậy, Mỹ coi chính sách trung lập của Cam-pu-chia là một mối nguy cơ đe dọa lợi ích của Mỹ, nên đã tìm mọi cách mua chuộc, phá hoại, buộc Cam-pu-chia từ bỏ con đường trung lập và tham gia vào khối quân sự SEATO. Những âm mưu của Mỹ đã bị chính quyền Cam-pu-chia nhiều lần chống lại.

Rõ ràng đối với Mỹ, Hiệp định Giơ-ne-vơ chỉ là mớ giấy lộn. mục tiêu của Mĩ từ trước cũng như vào thời điểm lúc ấy không có gì khác là đàn áp phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ của nhân dân Lào và Cam-pu-chia, chia cắt lâu dài nước Việt Nam, phòng xóa bỏ thành quả cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương, “biển Đông Dương mà trọng điểm là Việt Nam nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược Mỹ” (Tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ Đa-lét ngày 23 tháng 9 năm 1954).

Sau 100 ngày thực hiện hiệp định đình chiến ở Cam-pu-chia, được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân, quân tình nguyện Việt Nam đã hoàn thành thắng lợi việc rút quân về nước. hệ thống tổ chức lãnh đạo của Đảng Cam-pu-chia từ trung ương xuống cơ sở được củng cố, Hầu hết các tỉnh thành và gần một nửa số huyện trong cả nước đã thành lập các cơ quan tỉnh ủy, huyện ủy để lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương.

Ở Việt Nam, kết thúc thời hạn 300 ngày quân Pháp rút khỏi miền Bắc, đồng thời các lực lượng kháng chiến ở miền Nam ra Bắc tập kết. Quân và dân ba nước Đông Dương đã giành được thắng lợi bước đầu, buộc đối phương phải chấp thuận thực hiện một số điều khoản về quân sự của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tuy nhiên, khi chuyển sang đấu tranh thực hiện những vấn đề cơ bản về chính trị như: tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất đất nước, thực hiện các quyền tự do dân chủ nhân dân, chống khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ thì các thế lực phản cách mạng lại lật lọng, không chịu thi hành.

Trên đất nước Cam-pu-chia do sự can thiệp của một số nước lớn, nên ở nước này không có khu tập kết như ở nước Lào. Vì vậy, theo tinh thần hiệp định Giơ-ne-vơ đã ký kết, các lực lượng vũ trang Khơ-me, Ít-xa-rắc sẽ phục viên tại chỗ. các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng phần lớn hiện vào hoạt động bí mật. Một bộ phận ra hoạt động công khai với danh nghĩa “nhóm nhân dân”, còn một bộ phận cán bộ đảng viên được đưa sang Việt Nam học tập, chuẩn bị cho công cuộc chiến đấu và xây dựng sau này.

Nhân đây tôi xin nói về cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng của nhân dân Lào.

Nước Lào nằm trên bán đảo Đông Dương, rộng khoảng 236 nghìn ki-lô-mét vuông với khoảng 85% diện tích là rừng núi. Tài nguyên lâm sản, khoáng sản khá phong phú nhưng chưa được khai thác, nền kinh tế cơ bản là tiểu nông tự cấp, tự túc. Dân số Lào trên ba triệu, gồm hơn 60 dân tộc, bộ tộc sống xen kẽ với nhau suốt từ bắc đến nam.

Lịch sử của nhân dân các bộ tộc Lào trong vòng một trăm năm trở lại đây là lịch sử đấu tranh chống đế quốc xâm lược. Cuối thế kỷ XIX (1893) thực dân Pháp đem quân xâm lược nước Lào, đặt ách thống trị thực dân lên nhân dân các bộ tộc Lào hơn 60 năm ròng rã. Và cũng từ đó phong trào đấu tranh của các bộ tộc Lào bằng mọi biện pháp tuy bị thất bại nhưng đã nhen lên trong lòng nhân dân các bộ tộc Lào ngọn lửa yêu nước, không bao giờ tắt và xây dựng nên truyền thống đấu tranh bất khuất chống đế quốc xâm lược của dân tộc Lào. Năm 1944, một số tổ chức yêu nước, chống phát xít ở Lào được thành lập để tập hợp quần chúng tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp. Ngay sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh và Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam thành công, cơ quan lãnh đạo ở Lào đã nắm thời cơ, tập trung các lực lượng thanh niên, học sinh, công chức và binh sĩ yêu nước, có cả bà con Việt kiều tham gia tiến hành khởi nghĩa thắng lợi, thành lập chính phủ lâm thời và ngày 12 tháng 10 năm 1945 đã tuyên bố nền độc lập của nước Lào trước thế giới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM