Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười, 2019, 04:39:51 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân  (Đọc 14279 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #150 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:14:03 AM »

Ở miền Đông Nam Bộ, quân và dân ta đã giải phóng huyện Lộc Ninh và đang tiến công vào thị xã An Lộc, cửa ngõ tây bắc Sài Gòn. Chương trình “bình định” của chúng bị quét sạch khỏi nhiều vùng rộng lớn và phá sản ngay trên những khu vực chúng đã chà đi xát lại nhiều lần trong suốt mấy năm trời. Địch đã nhận ra hướng tiến công chủ yếu của chủ lực ta không phải là Tây Nguyên, sở chỉ huy nhẹ sư đoàn dù và lữ đoàn dù số 2 vội vã về tăng cường cho đồng bọn ở Đông Nam Bộ.

Qua bước một của chiến dịch, địch đã bị tiêu diệt và tiêu hao một lực lượng. Quân dù lại bị rút đi một nửa. Lực lượng còn lại bị phân tán, dàn mỏng. Khả năng phản kích của địch hầu như không còn nữa. Thời cơ chiến dịch đã xuất hiện, điều kiện đột phá đã đến lúc chín muồi, ta nhanh chóng thực hiện tiến công giải phóng vùng Đắc Tô – Tân Cảnh.

Trung đoàn 66 do anh Phùng Bá Thường – Trung đoàn trưởng, anh Lưu Quý Ngữ - Chính ủy chỉ huy nhanh chóng áp sát hàng rào chuẩn bị mở cửa. Đại đội 7 xe tăng từ vị trí tạm dừng tiến ra đường 14, lướt qua thị trấn Tân Cảnh lao về phía đông căn cứ 42. Quân địch bất ngờ vì sự xuất hiện một lực lượng lớn bộ binh ở hướng đông càng thêm hoảng loạn khi xe tăng ta xuất hiện. Chúng cố sức chống cự. Từng tốp xe tăng địch liều chết lao ra phản kích. Chiến sĩ B40 của ta bắn trúng ngay một chiếc xe tăng đầu tiên của địch vừa tiến đến cửa mở. Các chiến sĩ lái xe tăng của ta lao lên phối hợp chiến đấu.

Đúng 11 giờ ngày 24 tháng 4 năm 1972, Trung đoàn 66 làm chủ hoàn toàn căn cứ 42. Tên Lê Đức Đạt – sư đoàn trưởng sư đoàn 22 bị bán chết. Tên sư đoàn phó Vi Văn Bình chạy trốn cũng bị bắt sống cùng với số sĩ quan tham mưu và hơn 400 binh lính của hắn.

Cùng lúc, ở Đắc Tô 2, Tiểu đoàn đặc công 10 và Tiểu đoàn 60 Trung đoàn Ba Gia (Sư đoàn 2) được lệnh đánh thẳng vào sào huyệt của trung đoàn 47 ngụy.

Bốn xe tăng T54 và 1 pháo cao xạ tự hành 57 ly từ căn cứ 42 được lệnh ra phối hợp chiến đấu. Sức chống cự của địch nhanh chóng bị đè bẹp. Quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Đắc Tô 2. Ngay trong ngày 24 tháng 4, ta tập kích căn cứ Diên Bình, diệt 2 liên đội bảo an, thu nguyên vẹn 6 khẩu pháo lớn, 7 ô tô và 2 máy bay lên thẳng.

Hai căn cứ trụ cột (căn cứ 42 và căn cứ 47) bị diệt gọn, cụm phòng ngự phía bắc tỉnh Kon Tum của địch bị sụp đổ rất nhanh. Bọn địch ở hai căn cứ Ngọc Bờ Biêng và Ngọc Rinh Rua bị cô lập phải rút về Plây Cần. Bọn địch ở Trí Lễ, quận lỵ Đắc Tô và trên dãy điểm cao ở bờ tây sông Pô Kô bị uy hiếp phải chạy hết về khu vực thị xã Kon Tum. Toàn bộ hệ thống kìm kẹp của địch dọc hai bên đường 14 và đường 18 hoàn toàn tan rã.

Như vậy, trong vòng 10 tiếng đồng hồ quân ta đánh quỵ toàn bộ lực lượng tương đương 1 sư đoàn của địch, phá vỡ toàn bộ một trung tâm phòng ngự mạnh, giải phóng một vùng tương đối rộng. Chiến thắng Đắc Tô – Tân Cảnh đã mở ra cho các lực lượng vũ trang nhân dân niềm tin vào khả năng đánh tiêu diệt lớn. Việc giải phóng Tây Nguyên đã trở thành một khả năng thực tế.

Trên chiến trường đồng bằng Khu 5, để phối hợp với cuộc tiến công của chủ lực Mặt trận tây Nguyên, Sư đoàn 3 cùng với đặc công quân khu, lực lượng địa phương và nhân dân đã mở chiến dịch tiến công tổng hợp, phá vỡ tuyến phòng ngự cơ bản của địch ở bắc Bình Định, giải phóng hai huyện Hoài Ân và Hoài Nhơn.

Đêm 8 tháng 4, Tiểu đoàn đặc công 40 tiến công cứ điểm Gò Loi. Trong vòng 20 phút, Tiểu đoàn 40 đã tiêu diệt và làm chủ căn cứ Gò Loi. Cũng trong đêm đó ta còn quét sạch một loạt 7 cứ điểm khác, mở rộng bàn đạp chuẩn bị cho trận đánh then chốt của chiến dịch.

Ngày 12 tháng 4, địch điều chiến đoàn đặc nhiệm 40 và một chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn 22 ngụy từ nam Bình Định ra giải tỏa. Trưa ngày 13 tháng 4, toàn bộ đội hình của địch đã nằm gọn trong thé trận bày sẵn của ta. Tối 14 tháng 4, bộ đội áp sát quanh các vị trí đóng quân của địch, nhất là dãy cao điểm Hòn Bồ.

Mờ sáng ngày 15 tháng 4, ta nổ súng tiến công. Đạn cối, đạn ĐK2 của ta trùm lên trận địa địch. Bộ đội xung phong, quân ta vừa nổ súng vừa truy kích, nhiều tên vứt súng chạy tháo thân. Thời cơ tiêu diệt toàn bộ quân địch đã đến. Từ các hướng, chiến sĩ ta đồng loạt xung phong. Cả chiến đoàn 40 địch bị cắt rời từng mảnh và nhanh chóng bị tiêu diệt.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #151 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:15:12 AM »

Đêm 15 tháng 4, hai tiểu đoàn đặc công 403 và 406 tiến công đánh thiệt hại nặng chi khu Tam Quan và sở chỉ huy trung đoàn 40 sư đoàn 2 ngụy ở căn cứ Đệ Đức. Ở sau lưng địch, các tiểu đoàn 50, 52, và tiểu đoàn 8 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước… tiêu diệt hàng loạt chốt bảo an, dân vệ, hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy giải phóng toàn bộ hoàn toàn 5 xã ở huyện Bình Khê, 30 thôn ở huyện Tuy Phước.

Trước tình hình phát triển thuận lợi, Bộ tư lệnh Quân khu lệnh cho Sư đoàn 3 tiến công giải phóng quận lỵ Hoài Ân. Tỉnh ủy Bình Định chỉ thị cho huyện Hoài Ân phát động nhân dân hợp đồng với chủ lực nổi dậy giải phóng toàn huyện.

Ngày 18 tháng 4, quân ta đồng loạt nổ súng vào hệ thống phòng ngự vòng ngoài của địch. Bị đánh mạnh, lại không có quân cứu viện, tên quận trưởng Hoài Ân liền cho hủy kho tàng rồi mở đường máu tháo chạy. Gần 1.000 tên địch và 11 xe bọc thép M113 bị ùn lại trên một đoạn đường độc đạo, rồi chạy tung tóe ra khắp cánh đồng nước. Quân địch hoàn toàn bị tan rã.

11 giờ ngày 19 tháng 4, quận lỵ Hoài Ân sách bóng quân thù. Hơn 3 vạn nhân dân bị địch kìm kẹp suốt 18 năm được giải phóng.

Lúc đầu hầu hết lực lượng cơ động của quân đoàn 2 ngụy đang bị quân và dân Tây Nguyên vây hãm. Ở Bình Định, địch chỉ còn trung đoàn 41 đang ở Phù Mỹ. Đây là thời cơ thuận lợi để ta phát triển tiến công giành thắng lợi lớn hơn nữa.

Sau khi phân tích tình hình địch, ta ở Bình Định, chúng tôi quyết định:

Trước hết, bao vây Bồng Sơn, tiêu diệt cụm quân địch ở Bình Dương, làm suy yếu trung đoàn 41 ngụy, hình thành thế chia cắt chiến dịch giữa Bồng Sơn và Phù Mỹ.

Tiếp theo, tập trung lực lượng tiêu diệt lần lượt các cụm quân địch ở Bồng Sơn, Tam Quan, Đệ Đức giải phóng toàn bộ bắc Bình Định.

5 giờ ngày 25 tháng 4, quân ta đồng loạt nổ súng tiến công tiểu đoàn 2 trung đoàn 41 nguỵ ở cứ điểm Bình Dương và 20 vị trí khác trên một tuyến dài từ bắc đèo Nhông đến phía nam Bồng Sơn. Chỉ sau hai ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 2 (trung đoàn 41 ngụy). Ngụy quân, ngụy quyền ở bắc Phù Mỹ tan vỡ. Nửa phía bắc huyện Phù Mỹ được hoàn toàn giải phóng. Trung đoàn 41 – lực lượng cơ động duy nhất của địch ở Bình Định đã mất sức chiến đấu. Thời cơ giải phóng hoàn toàn huyện Hoài Nhơn đã đến.

Ngày 28 tháng 4, bộ đội ta bắt đầu đánh chiếm thị trấn Bồng Sơn. Thị trấn Bồng Sơn được giải phóng. Quân địch ở thị trấn Tam Quan vội vàng tháo chạy. Căn cứ Đệ Đức – nơi đặt sở chỉ huy trung đoàn 40 ngụy trở nên trơ trọi giữa vùng giải phóng của ta. Lực lượng địch ở đây còn khoảng 1.200 tên, phần lớn là tàn quân ở Bồng Sơn, Tam Quan chạy về.

5 giờ 30 phút ngày 2 tháng 5, ta nổ súng tiến công Đệ Đức. Trận đánh kéo dài đến 17 giờ 40 phút, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

Toàn bộ nửa phía bắc Bình Định gồm ba huyện Hoài Nhơn, Hoài Ân, An Lão và nửa phía bắc huyện Phù Mỹ rộng hơn 1.500km2 với 20 vạn dân hoàn toàn được giải phóng.

Tại mặt trận Quảng Nam, đêm 8 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 711 (thiếu) cùng với Tiểu đoàn đặc công 409 và lực lượng địa phương cùng một lúc nổ súng tiến công hai cứ điểm Liệt Kiểm và Chia Gan. Ở cả hai cứ điểm trận đánh diễn ra trong vòng 40 phút, quân ta làm chủ toàn bộ chiến trường, thu nguyên vẹn 4 pháo 105 ly. Chiếm xong cứ điểm ta liền quay nòng 4 pháo bắn phá các vị trí địch ở Hiệp Đức.

Để đẩy mạnh cuộc tiến công, từ giữa tháng 4 Bộ tư lệnh Quân khu chỉ thị cho Sư đoàn 711 sử dụng trung đoàn 38 vây ép Hiệp Đức và cho Trung đoàn 31 phát triển tấn công về hướng đường số 1. Cuộc tiến công này càng làm cho quân địch hoảng loạn, nhân dân nổi dậy giải phóng hai xã Bình Lâm, Bình Trị.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #152 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:16:38 AM »

Ở Hiệp Đức, sau nửa tháng vây ép và tiến công, ta đã tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi. Ngày 28 tháng 4, Trung đoàn 88 bắt đầu đánh vào trung tâm quận lỵ. Thấy không thể cố thủ được nữa, đêm 29 tháng 4, tên quận trưởng Hiệp Đức cùng binh lính bỏ đồn tháo chạy. Nhưng lực lượng này bị bộ đội địa phương và du kích vây đánh, diệt và bắt gần hết.

Sau 20 ngày đêm liên tục vây ép và tiến công, ta đã giải phóng huyện Hiệp Đức và nhiều xã dọc theo đường 16 của hai huyện Thăng Bình và Quế Sơn.

Ở Quảng Đà, đêm 13 tháng 4 ta bắn ĐKB vào sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn và các trận địa pháo, cối của địch. Bộ đội địa phương tỉnh tiến công tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn 17 ở Đầm Xé, công binh và du kích đánh sập các cầu Thủy Tú, Câu Lâu. Đêm 14 tháng 5 ta đánh quận lỵ Duy Xuyên, làm chủ thị trấn Nam Phước.

Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy khắp các địa phương trong tỉnh. Ngày 13 tháng 4, Tiểu đoàn 48 của ta tiêu diệt cứ điểm An Sen. Tiếp theo, tiểu đoàn lại cùng bộ đội địa phương huyện và du kích tiêu diệt một cụm ba chốt ở Đá Mú, Phú Quý, đồi Ông Hậu hỗ trợ cho nhân dân nổi dậy phá ta 6 khu dồn. Toàn bộ hệ thống kìm kẹp ở khu vực Ba Làng An đã bị phá tan.

Ở Phú Yên, sau khi tiến công tiêu diệt 2 liên đội bảo an ở Núi Sầm và Xuân Phước, lực lượng địa phương và nhân dân tiếp tục tiến công và bao vây bức rút một loạt 20 cứ điểm địch ở ba huyện Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân. Du kích và công binh phá giao thông, đánh sập cầu Ngân Sơn làm tê liệt vận chuyển của địch trên đường số 6 đoạn La Hai đi Chí Thạnh và đường số 1 đoạn Ngân Sơn đi Sông Cầu.

Ở Khánh Hòa, Tiểu đoàn đặc công 407 mở màn đợt hoạt động Xuân – Hè đêm 8 tháng 4 bằng trận tập kích phá hủy 35 nghìn tấn bom ở khu kho dự trữ chiến lược Cam Ranh. Để phối hợp với Tây Nguyên, ngày 13 tháng 4, ta chặn đánh một đoàn xe 200 chiếc  ki-lô-mét 34-36. Tiếp theo, ta tiến công tiêu diệt gần hết tiểu đoàn quân biệt động “Cọp đen” ở ngã ba Đồng Xuân – Dục Mỹ, quân địch ở Ninh Thân, Ninh Thương hoang mang bỏ chạy. Du kích và nhân dân các xã Ninh Thọ, Ninh Ích, Ninh Diêm, Ninh Hà, Ninh Hương, Ninh Quang... nổi dậy diệt địch.

Cuộc tiến công và nổi dậy Xuân – Hè 1972 của quân va dân miền Nam đã giáng một đòn nặng vào chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ. Ta đã tiêu diệt được 2 sư đoàn, 9 trung đoàn và 38 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn, 10 trung đoàn, 31 tiểu đoàn bộ binh, tiêu diệt 12 trung đoàn thiết giáp, 17 tiểu đoàn pháo bin, phá vỡ ba tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở Quảng Trị, bắc Kon Tum, đường 13 Đông Nam Bộ. toàn bộ khối chủ lực của ta không những đứng vững trên những địa bàn chiến lược ở rừng núi mà nhiều trung đoàn, sư đoàn đã thọc sâu dược vào đồng bằng Khu 5, đồng bằng sông Cửu Long tạo nên so sánh lực lượng mới có lợi cho ta, tạo nên thế tiến công mới và khả năng mới để đánh bại âm mưu “bình định nông thôn” – biện pháp chiến lược chủ yếu của “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta đã giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị, phần lớn tỉnh Kon Tum, nửa phân phía bắc tỉnh Bình Định và một khu vực rộng lớn ở miền Đông Nam Bộ thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Ta cũng giành được quyền làm chủ trong nhiều vùng quan trọng ở Quảng Đà, Quảng Ngãi (ven biển Khu 5) và Đồng Tháp Mười, nam-bắc đường quốc lộ số 4, U Minh, Cà Mau...

Lúc này ở Khu 5, sau khi đưa sư đoàn dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ ra tăng cường cho Trị - Thiên, quân đoàn 1 ngụy đưa trung đoàn 4 sư đoàn 2 và liên đoàn quân biệt động 1 về lại Quảng Nam, Quảng Ngãi và đưa sư đoàn 3 bị tiêu diệt ở Quảng Trị vừa mới khôi phục lại vào Quảng Đà. Ở phía nam, quân đoàn 2 ngụy lợi dụng mùa mưa ở Tây Nguyên đưa sư đoàn 22 vừa mới khôi phục và 2 liên đoàn quân biệt động số 2 và số 6 từ Kon Tum xuống đồng bằng để phản kích chiếm lại bắc Bình Định.

Bắc Bình Định được giải phóng. Để phối hợp có hiệu quả trên hướng tây Quảng Nam và nam Quảng Đà, bộ đội ta đã đánh địch giải phóng huyện lỵ Hiệp Đức và khu đồi Liệt Kiểm. Sau một thời gian không phát triển, tôi xin phép Thường vụ Khu ủy ra sở chỉ huy tiền phương khu vực nói trên thay cho anh Nguyễn Chánh – Phó tư lệnh quân khu và Tham mưu trưởng quân khu về sở chỉ huy cơ bản. Trước khi đi tôi đã đề xuất quyết tâm và phương án đánh quân cơ động của ngụy ra phản kích, giữ vững vùng giải phóng bắc Bình Định, tạo thời cơ trực tiếp, giải phóng huyện lỵ Phù Mỹ có thể phát triển xa hơn. Chúng tôi dự đoán sư đoàn 22 ngụy sẽ được khôi phục, sớm muộn chúng cũng từ phía nam ra phản kích, chiếm lại hai huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn ta vừa giải phóng. Để thực hiện quyết tâm và phương án trên, Sư đoàn 3 dùng công binh và một bộ phận bộ binh nhanh chóng xây dựng các cụm chốt trên dãy đồi sát đường A1, bắc huyện Phù Mỹ, đồng thời chuẩn bị kế hoạch tiến công địch giải phóng Phù Mỹ, trong khi làm những công việc trên phải thay phiên cho bộ đội nghỉ mấy ngày khôi phục sức khỏe. Khi sư đoàn 22 ngụy phản kích ra phía bắc, bộ đội ta dùng chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt” kiên quyết tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã lực lượng cơ động ngụy khi chúng rút chạy là thời cơ trực tiếp giải phóng huyện lỵ Phù Mỹ, tiếp đến là thị trấn Đập Đá, xa hơn nữa về phía nam Bình Định
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #153 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:18:51 AM »

Tôi ra sở chỉ huy tiền phương được mấy ngày, các đồng chí phụ trách chỉ huy sở cơ bản cho rằng: Lúc này chỉ có tiến công và tiến công mới khuếch trương được thắng lợi. Phòng ngự là bị động. Với tinh thần đó đồng chí phụ trách chỉ huy sở cơ bản đã ra lệnh điều Sư đoàn 3 từ bắc Bình Định ra đánh địch và giải phóng nam Quảng Ngãi, nối liền vùng giải phóng bắc Bình Định. Nhận lệnh hành quân cấp tốc, Sư đoàn 3 ra đến tây Đức Phổ (Quảng Ngãi) chuẩn bị chiến đấu, vừa lúc sư đoàn 22 ngụy từ nam Bình Định phản kích ra đã chiếm lại huyện Hoài Nhơn. Sư đoàn 3 lại được lệnh quay trở về, chỉ còn giữ được huyện Hoài Ân với 3 vạn dân. Tôi nhận được báo cáo của chỉ huy sở cơ bản gửi cho thì sự việc đã rồi.

Nhân sự việc này tôi muốn nói đôi nét về kinh nghiệm: Một cán bộ chỉ huy chiến đấu táo bạo và dũng cảm là vốn quý. Nhưng đi vào thực tế một sự việc nào đó không nên chỉ vì ý muốn cá nhân mà quyết định.

Về phía ta, sau Xuân – Hè cũng có sự điều chỉnh lại lực lượng. Sư đoàn 2 trở về đồng bằng. Sư đoàn 320 thọc sâu vào khu vực tây nam thị xã Plây Cu cùng với một số đơn vị độc lập đang đứng chân ở đây mở một mặt trận mới trên đường 19 kéo dài về phía tây và vùng nông thôn thuộc huyện 4 và huyện 5 Gia Lai.

Cũng thời gian này, Bộ tăng cường cho Khu 5 hai tiểu đoàn pháo 130 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ. Quân khu thành lập thêm 2 trung đoàn đặc công 459 và 493(1).

Mùa Hè năm 1972, yêu cầu phối hợp giữa chiến trường với bàn Hội nghị ở Pa-ri trở nên khẩn trương, bức thiết. Mâu thuẫn giữa yêu cầu về chính trị, ngoại giao và khả năng thực tế của lực lượng vũ trang trên chiến trường Khu 5 trở nên gay gắt. Do đó, quyết tâm cao phải đi đôi với sự tính toán bảo đảm thắng lợi. ta quyết định chọn chi khu Quế Sơn làm điểm tấn công.

Sau khi rút chạy khỏi quận lỵ Hiệp Đức, quân địch lui về củng cố tuyến phòng thủ cơ bản ở thung lũng Quế sơn. Tháng 6 năm 1972, địch có thêm lực lượng từ Trị - Thiên về tăng cường cho tuyến phòng thủ này gồm trung đoàn bộ binh 6 và trung đoàn thiết giáp 4 (thiếu), tiểu đoàn biệt động biên phòng 71, 3 liên đội và hàng chục đại đội bảo an, trung đội dân vệ. Có thêm lực lượng, địch từng bước mở rộng hệ thống cứ điểm, tăng cường củng cố công sự phòng ngự ở các điểm cao. Hòn Chiêng, Bản Thông, Đồng Đá Hàm và xây dựng Cấm Dơi – một căn cứ lớn của quân Mỹ trước đây thành cứ điểm then chốt của tuyến phòng ngự.

Nếu vị trí Hòn Chiêng bị ta diệt và chiếm thì quân cơ động chủ lực ngụy nhất định phải lao vào ứng cứu để bảo vệ Quế Sơn. Quả đúng như vậy. Sau khi ta dùng đặc công diệt 1 đại đội bộ binh địch trên Hòn Chiêng và cho 1 đại đội bộ binh của ta chiếm đóng, quân ngụy thay nhau đánh chiếm lại. Trong 10 ngày đầu tháng 8, hai trung đoàn 31 và 38 Sư đoàn 711 của ta liên tiếp tập kích, phục kích, vận động tiến công tiêu diệt tiểu đoàn 1 trung đoàn 5 và gần 10 đại đội của sư đoàn 2 ngụy, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn biên phòng số 77. Trong lúc đánh địch phản kích chiếm lại Hòn Chiêng, thì đại bộ phận Sư đoàn 711 khẩn trương chuẩn bị mọi mặt giải phóng chi khu quận lỵ Quế Sơn. Lúc này anh Nguyễn Chơn từ Sư đoàn 2 về thay anh Lê Kích làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 711.

Tôi bàn với anh Nguyễn Chơn dùng 2 khẩu 130 ly, 1 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp tạo điều kiện bất ngờ tiêu diệt địch giải phóng chi khu Quế Sơn. Trước khi tiến công vào Quế sơn xảy ra hai việc mà tôi cho là quan trọng:

Một là, Bộ Tổng tham mưu điện cho tôi (tiền phương quân khu) không nên đánh Quế Sơn vì lực lượng ta quá ít không đảm bảo.

Bức điện đến trong lúc các đơn vị đánh Quế Sơn đã bắt đầu xuất phát. Tôi hỏi anh Cao Phát – Tham mưu trưởng tiền phương:

- Địch đánh giá ta thế nào?

Anh Cao Phát trả lời:

- Mới đây Ngô Quang Trưởng (tư lệnh quân khu 1) có nhận định: Việt cộng đã mệt mỏi, các đơn vị chủ lực của chúng sẽ lui về nghỉ ngơi.


(1) Trung đoàn 459 gồm các tiểu đoàn đặc công 403, 406 và tiểu đoàn bộ binh 5; Trung đoàn 493 gồm các tiểu đoàn đặc công 404, 409 và tiểu đoàn bộ binh 80.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #154 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:21:54 AM »

Thế là đã rõ. Chúng tôi thống nhất với nhau giấu kín bức điện của Bộ Tổng tham mưu, tiếp tục cho bộ đội tiến công giải phóng chi khu, quận lỵ Quế Sơn. Mấy tháng sau tôi ra Hà Nội, Cục trưởng Cục Tác chiến đến xin lỗi. Tôi cười và trả lời: Trong chiến tranh có trường hợp trên chiến trường tự quyết định và chịu trách nhiệm là việc bình thường.

Sự việc thứ hai, trước khi đánh Quế Sơn ba ngày, chỉ huy sở cơ bản quân khu điện cho tôi không được sử dụng pháo 130 ly và xe tăng.

Mặc dù xảy ra hai sự việc trên, tôi, anh Nguyễn Chơn và anh Cao Phát vẫn kiên quyết đánh không cần có pháo 130 ly và xe tăng. Anh Nguyễn Chơn, một cán bộ chỉ huy rất dũng cảm, sát địch, sát địa hình và các đơn vị cơ sở, có nhiều sáng tạo, nghệ thuật trong cách đánh, trong trường hợp này dễ dàng thống nhất.

Đêm 17 rạng ngày 18 tháng 8 năm 1972, bộ đội với vũ khí đi cùng đã ém sát, bắt đầu nổ súng vào đồi Cấm Dơi (có hang đá) binh lính địch đã mất tinh thần. Trong đêm ta làm chủ Cấm Dơi, Trung đoàn 31 nhanh chóng phát triển đánh chiếm quận lỵ Quế Sơn, bao vây tiêu diệt các tiểu đoàn 2 và 3, trung đoàn 5, tiêu diệt tiểu đoàn 5, trung đoàn 4 thiết giáp ngụy. Hai trung đoàn 9 và 38 bao vây tiến công trung đoàn 6 và các tiểu đoàn bảo an. Bộ đội địa phương Quảng Nam và dân quân du kích hai huyện Quế Sơn, Thăng Bình tiêu diệt cụm chốt ngã ba Vinh Huy.

Trận Quế Sơn thắng lợi tương đối lớn, có lẽ trận cuối mùa của năm tấn công địch. Chỉ huy sở cơ bản quân khu với ý định sẵn có: dùng pháo 130 ly, xe tăng và toàn bộ lực lượng hiện có do anh Nguyễn Chơn chỉ huy hình thành ba mũi nhanh chóng tiến công giải phóng Đà Nẵng. Anh Nguyễn Chơn cho bộ đội tiến xuống đường số 1A ngã ba Phước Chỉ. Sau mấy ngày chiến đấu chưa tới đường 1A, Sư đoàn 711 của ta đã bị thương vong gần 100, cao hơn số thương vong trong trận đánh Quế Sơn. Do đó, lực lượng ta không đủ khả năng nên quay vào đánh địch giải phóng huyện lỵ Tiên Phước.

Lúc này, trên cho tôi biết: Anh Lê Đức Thọ và anh Xuân Thủy từ Pa-ri điện về, yêu cầu chiến trường miền Nam và Khu 5 đánh mạnh để thúc đẩy tiến triển trên bàn thương lượng. Thật đúng là giữa ngoại giao và chiến trường, trách nhiệm của người cầm súng trên chiến trường rất lớn, riêng chiến trường Khu 5 đã chiến đấu từ mùa Xuân, thắng lợi lớn nhưng bị tiêu hao mệt mỏi. Sau trận Quế Sơn, các đại đội bộ binh chiến đấu của ta chỉ còn 15-20 tay súng, hầu hết là cán bộ. Quân ngụy sau thất bại lớn đã cố gương lại, các chiến trường khác có lẽ cũng như thế. Thời cơ sôi động có lợi cho ta đã nguội dần. Tiêu diệt bộ phận lớn quân địch giải phóng Đà Nẵng trong hành tiến vào lúc này không đảm bảo chắc thắng. Một quyết tâm có tầm chiến lược thiếu cơ sở thực tế sẽ trở thành phiêu lưu trong chiến tranh, diễn biến tên chiến trường cũng có lúc cần táo bạo, phiêu lưu đẻ vượt lên, nhưng đó là phiêu lưu trong động tác chiến đấu của phân đội.

Suốt 10 tháng lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu liên tục tôi bị sốt rét. Nắm thời cơ và dùng ý chí để bỏ hút thuốc là là một kỷ niệm đáng quý của riêng tôi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #155 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:23:15 AM »

Trong lúc cuộc tiến công vào Quế Sơn đang bắt đầu, thì tôi nhận được bức thư của anh Ba Duẩn. Toàn văn bức thư như sau:

Gửi anh Bảy Cường, đồng gửi Năm Công, anh Hai Mạnh(1)...

Ngày 13 tháng 8 năm 1972

Các anh thân mến,

Phương hướng chiến lược của ta là tiến công và nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy. Hơn bốn tháng hoạt động vừa qua, mặc dù ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy, nhưng lực lượng dân vệ, bảo an, “nhân dân tự vệ” vẫn chưa tan rã lớn. Ta tiến công quân sự khá mạnh, nhưng quần chúng vẫn chưa nổi dậy, phã vỡ từng mảng lớn hệ thống kìm kẹp của địch ở nong thôn. Địch tuy bị thiệt hại nặng, nhưng đã bắt lính, đôn quân trên 10 vạn tên, khôi phục nhanh những đơn vị đã bị tiêu diệt, tiêu hao nặng.

Tình hình nông thôn miền Nam hiên nay khác nhều so với lúc “đồng khởi” hoặc trong dịp Tết Mậu Thân. Trong hơn ba năm ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định”, địch đã kìm kẹp quần chúng tương đối chặt; đã cưỡng ép phần lớn các tầng lớp nhân dân tham gia các tổ chức chính trị hoặc vũ trang, nửa vũ trang của chúng từ “nhân dân tự vệ”, dân vệ, bảo an đến quân chủ lực. Có địa phương 70-80% gia đình có người nhà bị cưỡng ép tham gia các tổ chức của địch. Bằng những biện pháp phát xít, địch đã lập được một lực lượng quân địa phương khá đông vừa để giữ địa phương, vừa để đưa lên bổ sung cho quân chủ lực. Do đó, về lực lượng so sánh giữa ta và địch, nếu tính riêng quân chủ lực thì ta hơn địch, nhưng về quân địa phương tại chiến trường miền Nam thì địch có ưu thế hơn ta. Trong khi đó các cấp ủy đảng cũng như các lực lượng quân sự, chính trị của ta ở cơ sở chưa nhận rõ tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của việc làm tan rã lực lượng quân sự địa phương của địch, đồng thời chưa đề ra khẩu hiệu, biện pháp thích hợp để thực hiện nhiệm vụ mấu chốt đó...

Nguyện vọng sâu xa nhất, bức thiết nhất hiện nay của các tầng lớp nhân dân ta, đặc biệt là trong vùng tranh chấp, vùng địch tạm thời kiểm soát là đòi vãn hồi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, chống đôn quân, bắt lính. Ta cần thấu hiểu nguyện vọng này nêu lên thành khẩu hiệu hành động để tiến công làm tan rã hàng ngũ địch, nhất là lực lượng quân sự địa phương của chúng. Khẩu hiệu đòi hòa bình, chống bắt lính, đôn quân trong giai đoạn này là một cuộc vận động chính trị lớn, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng như là cuộc vận động cải cách ruộng đất khi gần kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp trước đây. Phải lấy những khẩu hiệu này mở những chiến dịch tuyên truyền, vận động các gia đình có người thân trong các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang của địch, gây thành những đợt đấu tranh công khai, quy mô lớn, chống bắt lính, đôn quân, đòi chồng con bỏ ngũ trở về, đòi trả súng, không đi chiến đấu, v.v.... (Trong từng vùng, từng thời gian, từng đối tượng có thể nêu những khẩu hiệu cụ thể, thích hợp hơn nữa). Tuyên truyền, vận động không chỉ chú trọng bề rộng mà phải đi sâu vào từng thôn xã, từng gia đình, đối tượng khác nhau, như tổ chức cho bố mẹ, vợ con binh lính, cựu chiến binh, thương binh, phế binh, v.v... vận động binh sĩ địch tại ngũ.

Làm tan rã lực lượng quân sự địch là rất quan trọng và cấp bách. Phải có một phong trào quần chúng làm binh vận thật rộng rãi và mạnh mẽ. Các cấp ủy đảng phải phổ biến nhanh chóng chỉ thị này xuống tận cơ sở và làm quán triệt trong tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức quần chúng và lực lượng vũ trang, đồng thời phải có kế hoạch tổ chức thực hiện từng ngành, từng cấp, từng đơn vị và mỗi cấp phải có cán bộ phụ trách, có tổ chức nghiên cứu, theo dõi, giúp cấp ủy chỉ đạo cụ thể và chặt chẽ.

Trong khi chấp hành, có ý kiến gì thì các anh điện ra cho Trung ương biết.


BA

Thời gian này, trên mặt trận ngoại giao chúng ta lại giáng tiếp một đòn tiến công quyết liệt bằng cách đưa ra bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”. Phía Mỹ đã thừa nhận đây là một văn kiện rất quan trọng, mở đường cho Hội nghị Pa-ri về Việt Nam mau đi tới một giải pháp cơ bản. Nhưng ngay sau đó, phía Mỹ lđã trì hoãn việc ký kết rồi lật lọng đòi thay đổi nhiều vấn đề cơ bản mà các bên tham dự hội nghị đã thỏa thuận. Trong lúc đó, ở chiến trường, chúng ồ ạt đưa vũ khí vào cho quan ngụy, ráo riết bắt lính, đôn quân, tăng cường càn quét, “bình định”, khống chế kìm kẹp nhân dân vùng do chúng kiểm soát và tích cực tổ chức các cuộc lấn chiếm quy mô lớn ra các vùng giải phóng. Những việc làm đó đã bộc lộ rõ Mỹ vẫn nuôi tham vọng xâm chiếm miền Nam nước ta.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân va dân ta đang phát triển mạnh mẽ và triển vọng, vô cùng tốt đẹp. Mỹ đang gặp khó khăn chồng chất, càng kéo dài chiến tranh càng khó giành được thắng lợi mà còn có thể bị thất bại to lớn hơn. Tình hình kinh tế, chính trị và nội bộ nước Mỹ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề Việt Nam. Tương quan trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng và lực lượng phản cách mạng cũng như các nước lớn trên thế giới cũng đòi Mỹ phải chấm dứt dính líu về quân sự ở Việt Nam. Vì vậy khả năng kết thúc chiến tranh sớm có thể xảy ra. Ta tập trung mọi cố gắng làm cho khả năng này trở thành hiện thực.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr. 311-314.
Anh Bảy Cường, tức đồng chí Phạm Hùng - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam; anh Năm Công tức Võ Chí Công - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy Khu 5; anh Hai Mạnh tức Chu Huy Mân - Ủy viên Trung ương Đảng, Thiếu tướng, Phó bí thư Khu ủy Khu 5, Tư lệnh Quân khu 5.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2018, 09:32:54 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #156 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:24:07 AM »

Quán triệt tinh thần trong thư của anh Ba, đồng thời theo chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, ngày 15 tháng 9 năm 1972, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 đề ra chủ trương hoạt động trong những tháng cuối năm là: Tranh thủ thời cơ có lợi, tập trung mọi lực lượng mở một chiến dịch tổng hợp quy mô lớn, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, chủ yếu là địa phương quân, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, giành cho được những địa bàn quan trọng.

Thực hiện chủ trương trên, Sư đoàn 2 cùng Trung đoàn đặc công 459 tiến công giải phóng quận lỵ Ba Tơ, mở rộng căn cứ rừng núi phía tây nam Quảng Ngãi và hỗ trợ cho lực lượng địa phương đánh địch, giải phóng đại bộ phận vùng nông thôn hai huyện Mộ Đức và Đức Phổ.

Mỹ - ngụy đã xây dựng quận lỵ Ba Tơ thành một cụm cứ điểm mạnh gồm 10 cứ điểm ngoại vi và hai trung tâm là chi khu quân sự - quận lỵ và trại biệt kích Đá Bàn.

Từ đêm 16 tháng 9 đến 30 tháng 10 năm 1972 quân ta giải phóng toàn huyện Ba Tơ. Ta giành thắng lợi, nhưng hiệu suất chiến đấu thấp. Do đánh giá tình hình địch không sát, tưởng có thể giành dược thắng lợi dễ dàng nên đã phân tán lực lượng, tiến công trên nhiều hướng. Ở mỗi hướng cũng phân tán lực lượng đánh nhiều mục tiêu. Lực lượng dự bị không có nên từ chủ động tiến công ta phải dần chuyển sang bị động đối phó với các cuộc phản kích của địch.

Ở Tây Nguyên, ngày 12 tháng 10, Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn đặc công 37 tiêu diệt cứ điểm Plây Cần. Tiếp đến, ngày 29 tháng 10, ta lại tiến công tiêu diệt cứ điểm Đắc Xiêng, mở thông đường hành lang Bắc – nam dọc theo đường 18. Ngày 1 tháng 11, Sư đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiêu diệt căn cứ Đức Cơ. Tiếp theo, Sư đoàn 320 lại cùng với lực lượng địa phương tiêu diệt ở căn cứ 43.

Đến tháng 11, hầu hết huyện 5 Gia Lai (trừ một số làng nhỏ chung quanh Thanh An) đã hoàn toàn được giải phóng. Ta đã tạo được một bàn đạp vững chắc để phát triển tiến công về hướng thị xã Plây Cu.

Thắng lợi rất to lớn của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, đặc biệt là chiến công xuất sắc của quân và dân ta ở miền Bắc, đã đập tan cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác cuối cùng đã buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pa-ri về Việt Na, rút hết quân Mỹ và chư hầu ra khỏi nước ta. Hiệp định Pa-ri được ký kết là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta. Nhưng đế quốc Mỹ và ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu đã phá hoại hiệp định một cách hệ thống. Chúng vẫn tiếp tục dùng quân ngụy đẩy mạnh kế hoạch “bình định”, lấn chiếm các vùng giải phóng. Âm mưu của chúng là cố thắng ta dần từng bước bằng sức mạnh quân sự nhưng hạn chế về mức độ không gây ra chiến tranh lớn buộc quân Mỹ phải trực tiếp trở lại tham chiến.

Đầu tháng 1 năm 1973, Hội nghị Thường trực Quân ủy Trung ương bàn về tình hình miền Nam Việt Nam khi có giải phóng chính trị đã chỉ rõ: Ý đồ chiến lược của đế quốc Mỹ là chấm dứt mọi sự tham chiến trực tiếp về quân sự ở miền Nam, đồng thời giữ vững và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền, tìm cách làm cho cách mạng nước ta dần dần yếu đi, hòng tiếp tục thực hiện “học thuyết Ních-xơn”, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới lâu dài ở nước ta. Trong tình hình mới, chúng sẽ cố gắng giữ cục diện miền Nam như hiện nay để làm cơ sở tìm cách tiến lên. Chúng sẽ ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền phá hoại hiệp định, phá hoại hòa bình. Từ đó hội nghị đề ra: Chúng ta phải luôn luôn cảnh giác và sẵn sàng đối phó với khả năng xấu nhất, địch gây chiến tranh trở lại.

Đúng như nhận định trên, từ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, ngày Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Nguyễn Văn Thiệu trắng trợn tuyên bố không tôn trọng lệnh ngừng bắn và ra lệnh cho quân ngụy thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” ào ạt lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Tuy quân Mỹ và quân chư hầu đã rút, mật độ hỏa lực của địch nhìn chung giảm, nhưng do địch chỉ tập trung lực lượng đánh phá lấn chiếm từng khu vực mới, nên ở những nơi diễn ra chiến đấu, mật độ hỏa lực còn cao hơn trước khi ký Hiệp định Pa-ri. Trong lúc đó, sau hơn 10 tháng chiến đấu liên tục, lực lượng vũ trang Khu 5 có thể nói là đã đuối sức. Tôi cùng một số cán bộ cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần quân khu đi vào nam Quảng Ngãi, bắc Bình Định xem xét khả năng của Sư đoàn 3 chống “tràn ngập lãnh thổ” của địch. Sư đoàn này mỗi đại đội bộ binh chỉ còn 12 đến 15 tay súng (kể cả cán bộ). Cả sư đoàn chỉ còn 180 viên đạn súng cối. Bộ đội thiếu ăn, sức khỏe giảm sút.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #157 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:24:47 AM »

Chiến tranh có quy luật của nó. Chiến tranh du kích có vai trò hết sức quan trọng trong việc tiêu hao, căng kéo giam chân buộc địch phải sa lầy trong một thế trận “thiên la địa võng”, trực tiếp hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh. Nhưng muốn tiêu diệt lớn sinh lực địch, muốn làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra cục diện mới của chiến trường cần phải có những quả đấm của bộ đội chủ lực, với những chiến dịch tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô ngày càng lớn.

Do chưa nhận thức được yêu cầu chiến lược của giai đoạn chiến tranh mới, lại bị bức xúc do việc địch tập trung sức lấn chiếm vùng giải phóng, nên trong một số cán bộ, có cả cán bộ chủ chốt lãnh dạo muốn phân tán các sư đoàn chủ lực để tăng cường cho các tỉnh.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân – Hè 1972, lực lượng địa phương các tỉnh đã tự lực mở hướng hoạt động, phá vỡ hệ thống kìm kẹp, đánh bại quân đại phương của địch, mở từng mảng, liên mảng từ 8-10 xã. Nhưng khi địch đưa lực lượng cơ động lên phản kích, lực lượng địa phương của ta chưa đủ sức đánh bại. Phần lớn vùng mới mở lại bị địch líp lại. Do đó, muốn đánh bại lấn chiếm của địch, thì phải đánh bại lực lượng cơ động phản kích của chúng.

Quân Mỹ và chư hầu rút khỏi miền Nam Việt Nam đã tạo ra sự thay đổi có lợi cho ta trong so sánh lực lượng giữa ta và quân ngụy. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã bước vào giai đoạn cuối. Tiêu diệt lớn quân ngụy, trước hết là các sư đoàn chủ lực ngụy, đánh bại hoàn toàn quân ngụy để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh đã trở thành nhiệm vụ bức xúc trước mắt của lực lượng vũ trang. Từ nhận định đó, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu đã chủ trương: Vừa tác chiến kết hợp với đấu tranh của quần chúng, giữ vững và cải thiện thế chiến trường vừa nỗ lực xây dựng nhanh chóng nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang, khẩn trương xây dựng mạng đường cơ giới, tổ chức thiết bị chiến trường, dự trữ vật chất cho tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng vừa và lớn.

Năm 1974, các tuyến đường ngang nối từ đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam vào đến đồng bằng Khu 5 đã cơ bản thông xe. Nhờ có năm tuyến đường cơ giới chiến trường ven biển miền Trung đã tiếp nhận một khối lượng trang bị kỹ thuật, lương thực và các cơ sở vật chất khác xấp xỉ với số lượng của 4 năm trước đó. Hệ thống kho dự trữ trải dài theo hai tuyến bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc. Tổng kho Làng Hồi (Quảng Nam) đến Bình Định. Đường thông tin dây trần và thông tin tiếp sức đã nối thông với Hà Nội.

Đầu tháng 5 năm 1973, anh Võ Chí Công và tôi ra Hà Nội dự hội nghị Bộ Chính trị mở rộng. Tham dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, các đồng chí ủy viên Trung ương ở các chiến trường: anh Nguyễn Văn Linh, anh Hoàng Văn Thái, anh Võ Văn Kiệt, anh Trần Văn Trà (từ Nam Bộ), anh Võ Chí Công và tôi (ở Khu 5), anh Trần Hữu Dực (ở Trị - Thiên). Bộ Chính trị đã dự thảo một báo cáo để hội nghị nghiên cứu và thảo luận những vấn đề quan trọng.

Mở đầu cuộc họp, đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu một số vấn đề mà hội nghị vẫn đi sâu nghiên cứu, thảo luận và quyết định những vấn đề đường lối của cách mạng miền Nam hiện nay. Đồng chí nêu rõ: Trải qua 18 năm cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ. Địch tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, ta đã đánh giá đúng tình hình địch, ta đề ra đường lối đúng đắn, do đó từng bước đánh thắng “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - ngụy. Tiếp đến, địch tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” cũng như chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” cũng đều bị thất bại. Đồng chí Lê Duẩn kết luận: Đế quốc Mỹ đã thua, đã rút ra thì không bao giờ trở lại nữa. Hiện nay Mỹ muốn lập thế cân bằng ở Đông Nam Á và ở Việt Nam. Mỹ đang biến chính quyền tay sai thành một chính quyền lệ thuộc.

Đồng chí Lê Duẩn yêu cầu các anh ở chiến trường phát biểu trước. Lần lượt các anh có mặt đều phát biểu, nêu những nét lớn về tình hình địch, ta ở từng chiến trường, đồng thời bổ sung nhiều ý kiến cho dự thảo báo cáo.

Hội nghị nhất trí khẳng định địch còn những chỗ mạnh nhưng chỗ mạnh đó nằm trong thế thất bại, thế đi xuống chứ không phải thế thắng và thế đi lên. Trước đây quân Mỹ vào ta đã đánh thắng, nay Mỹ đã thua, đã rút hết quân chiến đấu của chúng. Trên chiến trường, chỉ còn quân ngụy chắc chắn ta sẽ thắng. Tuy nhiên, ngụy vẫn còn được Mỹ viện trợ. Nhưng ta có nhiều điều kiện thuận lợi rất lớn và nhất định sẽ thắng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #158 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:25:24 AM »

Hội nghị thảo luận dân chủ, sôi nổi, kéo dài hơn một tuần. Với trí tuệ tập thể của hầu hết các đồng chí dự hội nghị, đã phân tích đầy đủ tình hình và nhất trí cao những vấn đề nêu lên.

Những vấn đề quan trọng trong cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng trở thành một nội dung chủ yếu của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và thành Nghị quyết 21 tháng 10 năm 1973.

Sáng thứ ba, sau hai ngày làm việc, tôi chuẩn bị ăn sáng ở nhà nghỉ Quảng Bá thì Văn phòng Trung ương điện báo anh Ba Duẩn lên thăm. Anh Ba đến và bảo tôi: Anh cứ ăn sáng, tôi ngồi đây nói chuyện không sao.

Anh bắt đầu phân tích tình hình Mỹ và các nước lớn sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, tình hình miền Nam và miền Bắc, những thuận lợi khó khăn trong bước giành thắng lợi quyết định. Sau khi phân tích tình hình các mặt, anh nhấn mạnh:

- Chúng ta phải nỗ lực phi thường để giải phóng miền Nam trong hai năm, sớm hơn thì rất tốt, dài hơn thì rất phức tạp. Lấy hai năm làm mốc, nhưng phải nỗ lực chủ quan giành thắng lợi sớm hơn. Chỉ có như vậy mới đập tan được ý đồ của chúng – không cho Việt Nam thắng “trọn”.

Đó là những ý lớn, anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần và nói với tôi:

- Anh vào chiến trường Khu 5, một mặt tích cực chống bình định, nhưng mặt khác rất quan trọng là phải rèn luyện nâng cao sức chiến đấu, trước hết là quả đấm chủ lực; đồng thời chuẩn bị mọi mặt cho đòn quyết định. Ở ngoài này, Trung ương sẽ cố gắng bổ sung tân binh, vũ khí và lương thực, nhưng tại chỗ ở chiến trường phải nỗ lực lớn. Chất lượng và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang là quyết định, nhất là những trường hợp chiến đấu gay go, quyết liệt.

Trên đường quay trở lại chiến trường Khu 5, tôi suy nghĩ về những ý kiến chỉ đạo chiến lược của đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương là hoàn toàn đúng. Hai năm, sớm hơn thì tốt, kéo dài sẽ phức tạp. Với ý định chiến lược dứt khoát ấy, tôi tính toán về yêu cầu tạo lực, tạo thế về việc giải phóng căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng một trọng điểm của chiến trường Khu 5. Phải làm thế nào để vừa chống bình định có kết quả vừa xây dựng được quả đấm của chiến trường, chuẩn bị đường sá, lương thực, đạn dược để bắt đầu tiến công chỉ có thắng lợi. Đối với căn cứ liên hiệp quân sự Đà Nẵng, ta tranh thủ tạo điều kiện để thắng địch trong hành tiến nhưng phải tính đến có trận đột phá gay go và ác liệt. Từ suy nghĩ và sắp xếp sẵn trong đầu, về đến quân khu tôi đưa ra phương án.

Chống bình định giành dân giữ thế chiến trường, ta dùng toàn bộ lực lượng dân quân du kích, hai phần ba lực lượng địa phương tỉnh, huyện; pháo cối, đặc công của quân khu để đánh trả quân địch.

Chuẩn bị để đánh một số quận lỵ chi khu mở màn và nhất là đánh những đòn quyết định cùng các chiến trường miền Nam thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam trong thời gian đã định. Về thực lực, ngoài lực lượng trên bổ sung phải nuôi dưỡng anh em thương binh nhẹ nhanh chóng trở về đơn vị chiến đấu, giảm quân số ở cơ quan và đơn vị trực thuộc, tăng cường cho đơn vị chiến đấu. Mức đặt ra là từ 12 đến 15 tay súng một đại đội hiện nay, phải đạt tới khoảng 50 tay súng khi bắt đầu cuộc tiến công chiến lược.

Kế hoạch làm đường đảm bảo vận chuyển nói chung, nhất là các con đường áp sát mục tiêu chủ yếu trong cuộc tiến công và nổi dậy sắp tới là một phần rất quan trọng trong kế hoạch chuẩn bị. Từ con đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam, Khu 5 mở đường mới xuống giáp ranh đồng bằng vào mục tiêu đã định. Đến đầu năm 1974 thì đường ngang đã xuống đến tây Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Bình Định. con đường dọc từ Trao đi vào Thạch Mỹ, dọc theo vùng giáp ranh Quảng Nam vào sông Re, vượt đỉnh Bà Nhà vào Ba Tơ (Quảng Ngãi) đến An Lão (Bình Định).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8920


Lính của PTL


« Trả lời #159 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:27:22 AM »

Quyết tâm, kế hoạch nói trên được Thường vụ Quân khu và Thường vụ Khu ủy hoàn toàn nhất trí. Về sử dụng lực lượng và cách đánh:

Bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công đánh địch cả phía trước và phía sau.

Bộ đội chủ lực, một bộ phận phòng ngự bảo vệ các địa bàn xung yếu, đại bộ phận tập trung huấn luyện theo phương hướng tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Từng thời gian và theo yêu cầu cụ thể của chiến trường, ta sử dụng từng trung đoàn đánh những trận tiêu diệt gọn ở những hướng trọng điểm để hỗ trợ cho phong trào địa phương.

Mặc dù thu được những thành tích tốt trong 6 tháng cuối năm nhưng do ta có nhiều sơ hở trong 6 tháng đầu năm, nên đến tháng 12 năm 1973 địch vẫn còn lấn chiếm được nhiều vùng giải phóng cũ ở các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Số dân vùng giải phóng từ 918 nghìn cuối tháng 1 năm 1973 chỉ còn lại 564 nghìn vào tháng 12 năm 1973.

Địch dùng toàn bộ lực lượng cơ động ra càn quét bình định. Trong lãnh đạo Quân khu và Khu ủy, một số đồng chí cho rằng địch tung toàn bộ lực lượng để càn quét bình định, ta cũng cần tung toàn bộ lực lượng để chống bình định. Có vài đồng chí lại cho rằng, nếu ta diệt kìm kẹp giành dân, phá 50% “ấp chiến lược” thì miền Nam khắc tự giải phóng; kết thúc chiến tranh chiến trường bị thu hẹp, ngụy quân, ngụy quyền không thể tồn tại. Từ Hà Nội, anh T. điện về nên biến tất cả các tiểu đoàn chủ lực thành đội công tác đi phá ấp giành dân. Nếu làm như thế thì chủ lực quân khu có 3 sư đoàn, 1 lữ đoàn có thể chia ra được 25 đội công tác.

Một đồng chí phó tư lệnh cho rằng: Để mất dân trong lúc hai phần ba chủ lực lo huấn luyện, công binh làm đường để làm gì? Tôi cố gắng thuyết phục trong Thường vụ và Bộ tư lệnh: địch tung hết lực lượng ra lấn chiếm, ta cũng tung hết lực lượng ra chống đỡ là bị động. Nếu cho chủ lực chia ra làm đội công tác, khi cần tập trung về thì đội ngũ chiến đấu sẽ loạc choạc khó thành quả đấm mạnh. Do vậy, nhất thiết không tung hết chủ lực ra chống càn, không biến các tiểu đoàn chủ lực thành đội công tác và không dùng xe tăng, pháo 130 ly vào những trận đánh vụn vặt. Địch lấn chiếm 20 xã, 30 xã hoặc hơn nữa là đáng tiếc, nhưng không kiên trì xây dựng lực lượng có tầm chiến lược thì không thể có những trận đánh quyết định.

Cuối năm 1973, Bộ tư lệnh Quân khu 5 chỉnh huấn cho 300 cán bộ chủ trì các trung đoàn, sư đoàn, tỉnh đội và cơ quan về nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 21, tổng kết kinh nghiệm năm 1972 và nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của nghệ thuật chiến dịch. Ở Tây Nguyên, cũng tổ chức học nghị quyết, tập huấn và nghiên cứu về chiến thuật, chiến dịch.

Địch không thi hành Hiệp định Pa-ri, tiếp tục tiến hành “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta không còn con đường nào khác là phải tiến hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng để giải phóng miền Nam.

Ở Khu 5, quân ngụy đã bị tiêu hao, mệt mỏi trong các cuộc hành quân lấn chiếm liên miên suốt năm 1973. Bước sang năm 1974, chiều hướng chung của địch là co lại để củng cố các tuyến chốt đối diện với các khu phòng giữ của bộ đội chủ lực ta. Trong các vùng địch đang kiểm soát, chúng mở các cuộc hành quân đánh phá dai dẳng với ý đồ tạo ra hình thái phân tuyến hai vùng rõ rệt.

Trên chiến trường đồng bằng ven biển, ta và địch trong thế giằng co. Ở vùng giáp ranh, ta vẫn giữ vững ba khu vực: Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài Ân (Bình Định). Đây là ba bàn đạp quan trọng không cho địch thọc sâu vào vùng căn cứ, đánh phá các tuyến đường cơ giới và kho tàng của ta. Ở đây chủ lực ta và chủ lực địch tiếp xúc với nhau. Cả hai bên đều bố trí phòng ngự vững chắc. Trong khu vực này, có Thượng Đức – một vị trí trọng yếu của tây nam Đà Nẵng, trực tiếp uy hiếp tuyến đường cơ giới phía tây Quảng Đà của ta.

Ở Tây Nguyên, cũng giống như ở đồng bằng, chủ lực ta và địch trực tiếp tiếp xúc nhau ở bắc Kon Tum, Thanh An và Đức Cơ (Gia Lai). Địch đang còn một số cứ điểm ở Đắc Pét, Măng Đen, Măng Bút, Kon Rẫy (bắc Kon Tum), Ia Súp (tây bắc Đắc Lắc).

Tháng 1 năm 1974, Thường vụ - Bộ tư lệnh Quân khu quyết định mở một đợt hoạt động quân sự mạnh nhằm: Đánh bại một bước kế hoạch lấn chiếm của địch, mở rộng vùng giải phóng ở nông thôn, tiêu diệt các cứ điểm địch còn chốt lại trong khu căn cứ. Tạo thế cho quần chúng đẩy mạnh đấu tranh chính trị trong hậu phương địch, nhất là ở các thành thị, đồng thời rèn luyện bộ đội.

Trước hết, trong Xuân – Hè chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực cùng lực lượng địa phương tiến công tiêu diệt một bộ phận sinh lực và phương tiện chiến tranh, đánh bại thủ đoạn “chốt điểm” của địch, hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh mở phong trào vùng địch và vùng tranh chấp, cải thiện thế chiến trường.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM