Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tám, 2019, 02:16:22 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thời sôi động - Đại tướng Chu Huy Mân  (Đọc 12629 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #140 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2018, 10:06:08 AM »

Trong đợt học tập này, bộ đội được quán triệt đầy đủ nội dung, yêu cầu và tính chất lâu dài quyết liệt của cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, thấy rõ đây là một giai đoạn, một quá trình tiến công và phản công sẽ diễn ra liên tục… Cán bộ, chiến sĩ đã nghiêm khắc vạch ra những thiếu sót của mình và cùng nhau bàn biện pháp khắc phục. Tư tưởng mệt mỏi bi quan, ngại lâu dài, nông nóng trông chờ thắng lợi, chỉ chú trọng chiến đấu trước mắt mà buông lỏng xây dựng lâu dài được đưa ra phân tích, phê phán và tự khắc phục. Tình cảm cách mạng và ý thức trách nhiệm đối với lịch sử, đối với nhân dân được nâng lên một bước. Các đơn vị đều có quyết tâm vươn lên lập công, xứng đáng với lời dạy của Bác.

Từ ngày 10 đến 17 tháng 4 năm 1968, Hội nghị Khu ủy Khu 5 đã đánh giá tình hình chiến trường hơn 3 tháng qua và kết luận những vấn đề cơ bản để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tổng tiến công, tổng khởi nghĩa thời gian tới. Mục đích cơ bản của giai đoạn tổng tiến công và nổi dậy là đánh đổ ngụy quân, ngụy quyền, đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân. Quá trình tiến công và nổi dậy phải nắm thật vững vấn đề tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch đi đôi với phát triển thực lực ta. Tổng tiến công và nổi dậy là một giai đoạn tiến công chiến lược rất ác liệt và phức tạp, đánh lâu dài và liên tục. Trong tiến công và nổi dậy là quá trình vừa đánh địch vừa phát triển lực lượng ta, giành, giữ vững và phát triển thắng lợi với tinh thần hết sức khẩn trương.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị Khu ủy Khu 5, Bộ tư lệnh Quân khu lệnh cho các đơn vị toàn quân khu mở chiến dịch Hè 1968, bắt đầu từ ngày 5 tháng 5.

Chủ lực Quân khu đã hình thành bốn khu chiến trên bốn hướng khác nhau. Tại Khâm Đức, từ ngày 9 đến 12 tháng 5 năm 1968, Trung đoàn 21 Sư đoàn 2 được tăng cường 1 tiểu đoàn pháo 85 ly nòng dài và 1 tiểu đoàn cao xạ 23 ly tiến công giải phóng chi khu quân sự - quận lỵ Khâm Đức. Khâm Đức dược hoàn toàn giải phóng, hoàn chỉnh căn cứ địa quân khu ở miền núi Quảng Đà, nhất là đảm bảo và thông đường hành lang từ đường chiến lược vào địa bàn quân khu, tạo điều kiện mở đường vận chuyển cơ giới từ Đoàn 559 vào vùng giáp ranh Quảng Nam. Trận Núi Ngang, Núi Hoắc từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 6 tháng 6 năm 1968, Trung đoàn 31 Sư đoàn 2 lần đầu tiên vận dụng chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt đã chủ động kéo quân viễn chinh Mỹ ra vùng đồi núi đã lựa chọn, kết hợp tác chiến của chủ lực với thế trận rộng khắp của du kích vùng giáp ranh ba huyện Tiên Phước, Thăng Bình, Tam Kỳ. Suốt 40 ngày chiến đấu liên tục, các chiến sĩ ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.865 tên Mỹ, bắn rơi 65 máy bay, phá hủy 30 xe quân sự của địch. Tại Bắc Phù Mỹ, Bình Định từ ngày 5 đến ngày 25 tháng 5, Sư đoàn 3 cùng lực lượng vũ trang địa phương Phù Mỹ, Hoài Ân chủ động kéo lữ đoàn dù 173 Mỹ ra khu bắc Phù Mỹ, nam Hoài Ân. Ngày 5 tháng 5 tại Mỹ Lộc (Phù Mỹ) và Ân Tương (Hoài Ân), quân ta đã diệt 21 xe tăng và xe bọc thép Mỹ, bắt sống 6 chiếc khác. Mờ sáng 6 tháng 5, bộ đội ta tập kích diệt toàn bộ một cụm xe 18 chiếc và 2 đại đội Mỹ. ngày 10 tháng 5 và ngày 25 tháng 5, Sư đoàn 3 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương diện 43 xe tăng và xe bọc thép, loại khỏi vòng chiến đấu 240 tên Mỹ, bắn rơi 6 máy bay.

Trên hướng Tây Nguyên, Sư đoàn 1 sau các trận chiến đấu trên hướng đường 18 – Plây Cần, cơ động lực lượng tây Kon Tum, đánh quân Mỹ nống ra ngăn chặn ở khu vực Chư Tăng Kra, Chư Mo, Chư Tú Bla, Chư Ban, Chư Tang An… Bằng loạt trận liên tiếp phục kích, tập kích, vận động tiến công kết hợp chốt, Sư đoàn đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.160 tên Mỹ, bắn rơi 72 máy bay, phá hủy 42 xe quân sự.

Giữa tháng 6 năm 1968, sau các đợt tiến công và nổi dậy, Bộ tư lệnh Quân khu đã triệu tập hội nghị quân chính toàn quân khu sơ kết rút kinh nghiệm, nêu lên những mặt mạnh và khuyết điểm trong chỉ đạo, tổ chức chỉ huy của quân khu cũng như các đơn vị trong các đợt tiến công và nổi dậy. Qua diễn biến tình hình trên chiến trường, sau nửa năm các lực lượng vũ trang quân khu liên tục chiến đấu giành được thắng lợi to lớn nhưng lại nảy sinh nhiều vấn đề mới trong điều kiện mới, nhất là về chính trị tư tưởng.

Hội nghị đã dành nhiều thời gian để phân tích, đấu tranh đi đến thống nhất một số điểm và nhận thức đối với tình hình nhiệm vụ, giải quyết những hiện tượng hữu khuynh, tiêu cực vừa nảy sinh từ ảo tưởng giành thắng lợi dễ dàng đi đến bi quan tiêu cực, tạo sự nhất trí trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo của toàn quân khu để đẩy mạnh nhiệm vụ chiến đấu của lực lượng vũ trang thời gian tới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #141 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2018, 10:07:15 AM »

Trung tuần tháng 8 năm 1968, Thường vụ Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu quyết định mở chiến dịch tiến công đồng loạt quân địch khắp ba vùng chiến lược cả rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị, tập trung lực lượng vào những trọng điểm then chốt, tiếp tục đẩy mạnh tiến công và khởi nghĩa. Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 8 năm 1968, các lực lượng vũ trang Quân khu đồng loạt nổ súng tiến công địch trên khắp chiến trường. Tại Quảng Đà, lực lượng bộ binh, đặc công biệt động thành và pháo binh đã bất ngờ và đồng loạt tiến công và tuyến phòng thủ ven thành phố, đồng thời thọc sâu đánh chiếm khu vực nam, bắc cầu Đỏ, cầu Cẩm Lệ, quận lỵ Hòa Vang, thị trấn Nam Ô, tiêu diệt tiểu đoàn biệt kích ở sân bay Nước Mặn… Trên hướng Quảng Nam, Quảng Ngãi các tiểu đoàn bộ đội đặc công quân khu tiến công các vị trí của quân Mỹ ở Kỳ Hà, Chu Lai, Liệt Kiểm, điểm cao 230, Dừng Thám, núi Ông Sầm, Núi Xẻ (Quảng Nam), Tuy An, chi khu Nước Mặn, Bình Liên, Chợ Đình (Quảng Ngãi). Trên hướng Tây Nguyên, Sư đoàn 1 cùng lực lượng vũ trang Đắc Lắc đã tiến công quận lỵ Đức Lập và các vị trí đóng quân của địch trên toàn tuyến Đắc Xắc, Sa Pa, Đắc Lao…

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc đã tạo nên thế mạnh mới về quân sự và chính trị. Từ thế mạnh đó, ta đẩy mạnh tiến công ngoại giao, làm cho đế quốc Mỹ thêm bị động, lúng túng.

Ngày 25 tháng 1 năm 1969, Hội nghị bốn bên về Việt Nam khai mạc ở Pa-ri. Cục diện vừa đánh vừa đàm tạo cho ta điều kiện thuận lợi đẩy mạnh thế tiến công, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên những bước phát triển mới. Nhưng với bản chất hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn điên cuồng tiếp tục theo đuổi chiến tranh.

Giữa năm 1965, khi quyết định đưa quân chiến đấu ồ ạt vào miền Nam Việt Nam, chính quyền Giôn-xơn cho rằng phía đối địch của chúng chỉ là “một nước nhược tiểu”, ngoài ra không có sự tham gia trực tiếp của một cường quốc nào khác. Thế nhưng, chỉ sau 4 năm đổ quân, đổ vũ khí, đổ tiền của, dồn hết tướng tài, chúng vẫn không xoay chuyển được tình hình ở trên chiến trường mà còn thất bại. Chiến tranh xâm lược Việt Nam đã trở thành một nơi chôn vùi tên tuổi biết bao tướng lĩnh và chính trị gia tài năng của nước Mỹ.

Sau thất bại Tết Mậu Thân, Giôn-xơn phải đề ra chủ trương “phi Mỹ hóa” cuộc chiến tranh. Từ “tìm diệt” và “bình định” quân Mỹ chuyển sang “quét và giữ”. Âm mưu cơ bản của chúng là cố giữ miền Nam Việt Nam trong quỹ đạo thuộc địa kiểu mới của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta.

“Phi Mỹ hóa” của Giôn-xơn tiến hành chưa được bao lâu thì Ních-xơn lên làm tổng thống, tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng trong điều kiện nước Mỹ đã suy yếu. Ních-xơn đề ra học thuyết mang tên ông ta - “học thuyết Ních-xơn” và chiến lược quân sự “ngăn đe thực tế” với ba nguyên tắc cơ bản: sức mạnh Mỹ; chia sẻ trách nhiệm; thương lượng trên thế mạnh.

Với cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Ních-xơn điều chính chủ trương “phi Mỹ hóa” của Giôn-xơn bằng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đây là thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt” tiến hành theo công thức: “quân ngụy + vũ khí và cố vấn Mỹ”. Một kế hoạch chiến lược qua ba giai đoạn trong vòng ba năm rưỡi được Nhà trắng không qua.

Giai đoạn 1: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu cho quân ngụy, rút dần quân chiến đấu trên bộ của Mỹ, tiếp tục làm suy hiểu được lượng cách mạng bằng “bình định nông thôn”. Đây là giai đoạn mà tổng thống Mỹ cho là quan trọng và có ý nghĩa quyết định.

Giai đoạn 2: Chuyển giao nhiệm vụ chiến đấu trên không cho quân ngụy, làm cho quân ngụy mạnh lên để đủ sức đương đầu với đối phương.

Giai đoạn 3: Củng cố thành quả đã đạt được, tiếp tục làm cho lực lượng ta suy yếu nghiêm trọng, chiến tranh vì thế sẽ lụi tàn dần.

Chúng dự kiến thời gian “Việt Nam hóa chiến tranh” đến giữa năm 1972 sẽ hoàn thành.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #142 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2018, 10:08:18 AM »

“Việt Nam hóa chiến tranh” là một âm mưu thâm độc xảo quyệt, là một nỗ lực rất lớn trong tình thế Mỹ đã suy yếu, nhằm đạt đến mục đích cuối cùng đánh bại cuộc chiến đấu yêu nước của nhân dân ta. Tuy nhiên, “Việt Nam hóa chiến tranh” là sản phẩm của một chuỗi thất bại. Nó ra đời khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” và chiến lược “chiến tranh cục bộ” đã phá sản. Ngay từ lúc mới ra đời, nó đã chứa đựng những mâu thuẫn nội tại mà kẻ địch không sao khắc phục được.

Hội nghị Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng tháng 4 năm 1969 đã chỉ rõ: Vì thất bại và suy yếu nên buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, nhưng lại muốn chủ động xuống thang trên thế mạnh. Xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước mà lại muốn quân ngụy mạnh lên thay thế được quân Mỹ - một việc quân ngụy đã không làm được khi có hơn 50 vạn quân Mỹ đứng bên cạnh và có trong tay lực lượng chủ yếu để tiến hành chiến tranh. Muốn rút quân Mỹ càng sớm càng tốt để bớt thương vong, giảm chi phí chiến tranh, song rút sớm thì quân ngụy không thể đứng vững, nhưng kéo dài việc rút quân Mỹ thì thương vong của quân Mỹ càng lớn. Không rút được quân Mỹ thì mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ, mâu thuẫn giữa nhân dân Mỹ với chính quyền càng gay gắt, nhưng rút quân Mỹ ra, ngụy quân, ngụy quyền sẽ sụp đổ, bọn tay sai thấy chủ bỏ rơi, mâu thuẫn giữa Mỹ và ngụy sẽ phát sinh, mâu thuẫn giữa các phe phái trong ngụy quyền càng gay gắt. Áp dụng chiến lược quân sự “quét và giữ” trong lúc mục đích chiến tranh xâm lược là giành dân, chiếm đất. Phản công, tiến công đã thất bại thì một chiến lược mang nặng tính chất phòng ngự làm sao có thể thực hiện được mục đích xâm lược.

Tháng 4 năm 1969, Hội nghị Khu ủy Khu 5 (mở rộng) họp. Sau khi quán triệt Nghị quyết Bộ Chính trị và từ thực tiễn chiến trường, hội nghị đã khẳng định: Muốn đánh bại “Việt Nam hóa chiến tranh”, trước hết phải đánh bại biện pháp chiến lược chủ yếu của địch “bình định nông thôn”. Đây là một cuộc chiến đấu toàn diện, quyết liệt trên mọi mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, tư tưởng. Riêng về mặt quân sự phải nỗ lực thực hiện cho kỳ được hai nhiệm vụ: Một là, tiêu diệt của cán bộ bình định, ác ôn và các lực lượng kìm kẹp khác của địch ở cơ sở, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh làm thất bại kế hoạch gom dân, lập ấp, lập khu dồn của địch. Hai là, tiến công tiêu diệt lớn sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, nhất là các đơn vị quân Mỹ và cơ động ngụy, gây tổn thất lớn khiến cho đế quốc Mỹ không thể kéo dài sự chịu đựng; đồng thời làm mất chỗ dựa của lực lượng kìm kẹp tạo thế cho bộ đội địa phương, du kích và nhân dân đấu tranh làm thất bại biện pháp chiến lược chủ yếu của địch.

Hai nhiệm vụ này quan hệ khăng khít và hỗ trợ chặt chẽ cho nhau. Có thực hiện tốt hai nhiệm vụ này mới thực hiện được hai mục tiêu cơ bản của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng quân sự của địch, giành và giữ quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, lúc này ta đang gặp khó khăn. Sau ba đợt tiến công lớn trong năm 1968, lực lượng vũ trang toàn khu đã bị tiêu hao. Một số đơn vị bị tiêu hao nặng chưa được bổ sung. Cuối năm 1968, Bộ điều 55% các đơn vị chủ lực của Tây Nguyên vào Nam Bộ. Việc chỉ đạo sản xuất trong năm 1968 không được coi trọng đúng mức nên sản lượng lương thực trong các vùng căn cứ giảm sút. Địch ra sức bao vây đã phá hoại kinh tế. Nguồn gạo lấy từ vùng địch ra lúc có, lúc không. Bộ đội, cơ quan và dân các vùng căn cứ đều thiếu ăn. Một số đơn vị và địa phương đói nghiêm trọng. Về tư tưởng, một số cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo khu, tính chủ quan cho rằng quân Mỹ đã rút, quân ngụy không thể đứng đầu nối với ta, từ đó dẫn đến coi thường các biện pháp và thủ đoạn đánh phá của địch. Điều quan trọng nữa là trong lúc tình hình đã thay đổi, nghị quyết Khu ủy đã xác định: đánh bại kế hoạch “bình định nông thôn” của địch là nhiệm vụ trung tâm nhưng trong chỉ đạo vẫn còn lướng vướng với việc khởi nghĩa giành chính quyền ở đô thị.

Trong lúc nhận thức tư tưởng lẫn tổ chức lực lượng của ta chưa chuyển kịp với sự phát triển của tình hình mới, thì Mỹ - ngụy đang dồn sức phản kích hết sức quyết liệt trên cả hai chiến trường đồng bằng và rừng núi.

Địch chọn Tây Nguyên làm thí điểm “Việt Nam hóa chiến tranh”, đưa quân ngụy ra đương đầu với chủ lực ta. Ngày 10 tháng 1 năm 1969, chúng tập trung 6 tiểu đoàn của liên đoàn biệt động số 2 và trung đoàn 45 sư đoàn 22 ngụy có máy bay và pháo binh Mỹ yểm trợ, bộ binh lính đứng ở tuyến sau đánh vào vùng Chư Pă (Gia Lai). Ngày 13 tháng 1 năm 1969, tám tiểu đoàn quân Mỹ và trung đoàn 5 sư đoàn 2 ngụy được pháo của hạm đội 7 chi viện đánh vào khu căn cứ Ba Làng An (Quảng Ngãi). Tiếp theo, các sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn A-mê-ri-cơn, lữ đoàn 173 quân Mỹ, sư đoàn Mãnh Hổ, sư đoàn Bạch Mã lính đánh thuê Nam Hàn lần lượt đánh vào các khu căn cứ Giang Rẫy (Quảng Đà), An Lão, Kim Sơn, Núi Bà (Bình Định), Cây Vừng, Kỳ Lộ, Sông Hinh (Phú Yên). Máy bay B.52 liên tục ném bom rải thảm dọc các trục hàng lang, các khu căn cứ mà bộ binh của chúng chưa thể đánh vào. Chị cho 10 ngày đầu năm 1969, Mỹ đã sử dụng 180 lần chiếc B.52 ném gần 5.000 tấn bom vào khu vực sở chỉ huy Quân khu 5 dọc nam và bắc sông Tranh (Quảng Nam).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #143 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2018, 10:11:07 AM »

Cùng lúc với các cuộc hành quân đánh ra vòng ngoài, lực lượng còn lại của địch cũng đồng loạt bung ra càng quét, đánh phá để gom dân lập ấp khắp các vùng giải phóng, vùng tranh chấp ở ven biển và vùng đất băng ở Tây Nguyên.

Vừa chống địch càn quét, các lực lượng vũ trang và nhân dân toàn khu vừa chuẩn bị cho cuộc tiến công phối hợp quy mô lớn với các chiến trường toàn miền Nam. Đặc công, pháo cối, biệt động vào bộ binh mũi nhọn của ta đồng loạt đánh vào 9 thị xã và thành phố, 33 chi khu quân sự và quận lỵ, 8 thị trấn, hầu hết các sân bay, bến cảng, các khu kho dự trữ chiến lược lớn An Đồn (Đà Nẵng), Đèo Sơn, Miếu Lở (Quy Nhơn), Cam Ranh (Khánh Hòa), La Sơn (Plây Cu), sở chỉ huy sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn A-mê-ri-cơn của Mỹ, sở chỉ huy quân đoàn 2 ngụy, các trận địa pháo, bãi xe cơ giới của địch.

Với cách đánh bồi, đánh nhồi, tập trung nhiều lực lượng đánh vào một đơn vị, một cụm kho... ta không chỉ sát thương lớn về sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh làm giảm sức chiến đấu của một số đơn vị địch trong một thời gian nhất định mà còn khiến cho địch phải lúng túng bị động đối phó.

Bị đánh mạnh ở trung tâm sào huyệt, Mỹ - ngụy buộc phải chấm dứt các cuộc hành quân đánh phá ra vòng ngoài và phần lớn các cuộc hành quân yểm trợ “bình định nông thôn” để đưa lực lượng quay về tăng cường bảo vệ hậu cứ.

Sau khi đánh bại cuộc hành quân của quân ngụy vào vùng núi Chư Pă, chủ lực Tây Nguyên chuyển sang tiến công vào tuyến phòng thủ của địch ở phía tây thị xã Kon Tum.

Ta mở tiếp đợt tiến công Hè 1969. Trong đợt hoạt động này, các lực lượng vũ trang và nhân dân các tỉnh đồng bằng ven biển đã tiêu diệt 3 tiểu đoàn hỗn hợp của Mỹ, đánh thiệt hại nặng các trung đoàn 5 lính thủy đánh bộ, các lữ đoàn 196, 198 sư đoàn A-mê-ri-cơn của Mỹ, trung đoàn 5 sư đoàn 2 quân ngụy, phá tan 300 khu dồn và “ấp chiến lược”.

Ở Tây Nguyên, ta tập trung lực lượng tiến công vào tuyến phòng thủ cơ bản của định ở Đắc Tô. Địch tiếp tục thí điểm “Việt Nam hóa chiến tranh”, đưa quân cơ động ngụy ra đối phó với chủ lực ta. Tuy được chi viện tối đa về hỏa lực, nhưng quân ngụy vẫn né tránh chủ lực ta. Tránh không được chúng liền chiếm điểm cao co cụm đội hình, tạo khoảng cách để máy bay và pháo binh đánh phá. Địch cố tránh, ta cố diệt. Cuộc đọ trí đọ sức diễn ra gay go và quyết liệt. Sau những trận đánh không thành công, ta đã kịp thời rút kinh nghiệm. Khi phát hiện được địch, bộ đội ta nhanh chóng áp sát đội hình, bao vây chặt không cho chúng tháo chạy hoặc tạo ra khoảng cách, bám thắng lưng địch liên tục tiến công chia cắt để tiêu diệt từng cụm, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Sau một tháng chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt và đánh quỵ 9 trong số 12 tiểu đoàn quân chủ lực ngụy. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ được thí điểm ở chiến trường Tây Nguyên vừa mới bắt đầu đã bị thất bại.

Bình định và chống bình định; lấn đất, kiểm soát dân và giành dân, giữ dân, giữ quyền làm chủ, cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra gay gắt, quyết liệt, dai dẳng hết tháng này sang tháng khác. Địch tập trung lực lượng, tập trung bom đạn cố sức đánh phá để giữ vòng trong và quét vòng ngoài. Ta phải dùng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân tiến công địch ở cả ba vùng chiến lược, cả ở phía trước và phía sau, nhằm tiêu diệt quân cơ động và phá hủy lớn phương tiện chiến tranh của địch, diệt ác phá kìm hỗ trợ cho nhân dân đấu tranh giành quyền làm chủ. Do nhận thức tư tưởng và tổ chức lực lượng chưa chuyển kịp với tình hình nên sức tiến công của ta chưa đều và chưa rộng. Nhiều trận tiến công đồng loạt vào hàng trăm mục tiêu tuy vẫn còn có hiệu lực nhưng dần dần mất đi sức chấn động lớn lúc đầu. Địch phát hiện được quy luật tiến công ào ạt trong một thời gian ngắn của ta, khi ta tiến công mạnh, chúng co lại cố thủ chờ cho ta hết đạn, hết gạo, lui về củng cố, địch liền ra đánh mạnh vào lực lượng cơ sở thôn xã.

Vùng giải phóng và vùng làm chủ của ta mỗi lúc một thu hẹp. Lính Mỹ, lính ngụy, lính Nam Hàn ngày đêm hỗ trợ cho bọn “bình định” ác ôn đánh phá. Thủ đoạn càn quét gom dân của địch vẫn như cũ nhưng tập trung hơn, quyết liệt hơn. Trước những thủ đoạn đánh phá điên cuồng của địch, lực lượng ta mỗi lúc một giảm. Cơ sở chính trị không ít nơi tạm thời tan vỡ. Phần lớn các xã chỉ còn một tiểu đội hoặc một tổ du kích. Tỉnh ủy Quảng Đà phải giải tán một số đơn vị tập trung, lấy chiến sĩ người Bắc bổ sung cho du kích xã.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #144 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2018, 10:11:40 AM »

Quân địch đã thực hiện được một phần biện pháp chiến lược quét và giữ, tăng cường lực lượng, tăng cường bộ máy kìm kẹp ở cơ sở và “bình định” nông thôn. Đến cuối năm 1969, tổng quân số của Mỹ - ngụy và chư hầu ở Khu 5 từ 365 nghìn tên (cuối năm 1968) đã tăng lên 380 nghìn tên. Địch đã tổ chức 15 vạn phòng vệ dân sự có vũ trang. Về phương tiện chiến tranh, máy bay tăng 583 chiếc, pháo binh 115 khẩu, xe tăng, xe bọc thép tăng 454 chiếc. Thêm vào đó, vùng căn cứ rừng núi không ổn định. Căn cứ rừng núi bị uy hiếp, cơ quan khu, tỉnh phải thường xuyên di chuyển để tránh máy bay B.52 và biệt kích. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận trong khu lại bước vào một thời kỳ khó khăn mới. Tuy có khó khăn nhưng đại bộ phận cán bộ, bộ đội, du kích, nhân dân vẫn kiên cường trụ bám. Người này ngã xuống, người khác đứng lên. Nhân dân bị địch dồn đi nơi khác vẫn tìm mọi cách giúp đỡ cho du kích chiến đấu. Nhiều gia đình cả vợ chồng, con cái đều tham gia du kích. Ba, bốn gia đình hợp thành một cụm du kích Mỗi thôn, mỗi xóm vẫn là một trận địa đánh Mỹ.

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân miền Trung đang ở trong thời kỳ khó khăn thử thách, thì một tin đau đớn đã đến: Bác Hồ kính yêu qua đời.

Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta không ai nén nổi tiếng khóc khi được tin đau thương này. Mọi người nước mắt lưng tròng vây quanh ảnh Bác, ai nấy đều xót xa ân hận tự thấy mình chưa làm tròn nhiệm vụ quét sạch quân thù để đón Bác vào thăm Khu 5, Tây Nguyên. Một bầu không khí đau buồn, trầm lặng bao trùm, ngay trong vùng kìm kẹp của Mỹ - ngụy nhân dân vẫn lập bàn thờ để tưởng niệm Bác.

Mặc dù Văn phòng Trung ương thông báo cho anh Năm Công và tôi biết Bác đang đau nặng khó qua, nhưng khi được thông báo chính thức, chúng tôi đau xót nghẹn ngào. Mấy đêm liền tôi thao thức, nghĩ gần rồi lại nghĩ xa, nhưng lại tự mình khẳng định phải biến đau thương thành trách nhiệm chính trị cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân kiên trì chống Mỹ thực hiện toàn vẹn lời Bác căn dặn: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong lễ tang tại Hà Nội, được nghe Điếu văn của đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Lê Duẩn và Di chúc thiêng liêng của Bác, chúng tôi mới thật ổn định tư tưởng và tiếp tục công việc.

Các cấp ủy đảng, chính quyền, các đơn vị quân đội tổ chức trọng thể lễ truy điệu cùng ngày giờ với thủ đô Hà Nội.

Ngày 9 tháng 9 năm 1960, Khu ủy, Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu 5 tổ chức lễ truy điệu trọng thể Bác tại vùng căn cứ Khu 5 (ở sông Tranh, Quảng Nam). Hơn một nghìn con người cố kìm tiếng nấc nghẹn ngào lắng nghe từng chữ, từng câu Di chúc thiêng liêng của Bác và hướng tất cả lòng mình về thủ đô Hà Nội, nơi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang làm lễ truy điệu Người.

Thay mặt Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu và lực lượng vũ trang Quân khu 5, tôi đọc lời hứa trang nghiêm tại buổi lễ. Sau khi ôn lại công ơn trời biển và sự quan tâm săn sóc của Bác đã dành cho đồng bào và chiến sĩ Khu 5, Tây Nguyên qua mỗi chặng đường cách mạng, tôi kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ hãy biến đau thương thành hành động cách mạng, nâng cao quyết tâm chiến đấu, không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên chiến trường, xứng đáng với công ơn trời biển và sự quan tâm dạy dỗ của Bác.

Khu ủy, Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu gửi điện lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương hứa quyết tâm: Ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Bác, kiên quyết thực hiện đầy đủ lời dạy của Người, đạp bằng mọi chông gai, trở ngại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, cùng quân và dân cả nước “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” đưa lá cờ bách chiến bách thắng của Bác đến đích cuối cùng.

Ngay sau đó, Khu ủy và Đảng ủy Quân khu 5, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên, các tỉnh ủy tổ chức học tập Di chúc của Bác. Cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ những người cộng sản, những người lãnh đạo đã diễn ra vô cùng gay go, phức tạp. Dám bộc lộ những sai lầm, thiếu sót, dám công khai tự phê bình tư tưởng ngại gian khổ, hy sinh ngại ác liệt, dao động lòng tin... tự chiến thắng cái “tôi” để nỗ lực vươn lên không phải là điều dễ dàng.

Các lực lượng vũ trang toàn quân khu tiến hành đợt học tập chính trị với các yêu cầu: “Trung thực, thẳng thắn, đúng sai rõ ràng, sửa chữa tích cực”. Chiến thắng trên mặt trận tư tưởng là trận thắng có ý nghĩa quyết định trong việc giải quyết các khó khăn đưa cuộc kháng chiến phát triển lên giành thắng lợi mới.

Trong những ngày tháng đầy gian nan thử thách này, đã có người không chịu nổi, mất tinh thần, rời bỏ đội ngũ, thậm chí phản bội đầu hàng. Nhưng tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vẫn kiên định ý chí chiến đấu. Chính trong những tháng ngày cực kỳ gian khổ này, phẩm chất anh dũng của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và dân tộc ta lại càng thể hiện rõ hơn bao giờ hết.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #145 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:06:17 AM »

*
*   *

Bước sang năm 1969, chiến trường Tây Nguyên gặp khó khăn lớn về đạn dược, thuốc men, quân lương và nhất là lương thực. Số gạo còn lại của năm 1968 chuyển qua năm 1969 chưa bằng một phần ba so với lượng tồn kho của năm 1967. Thực phẩm cung ít hơn 8 lần so với năm trước. Quân trang cũng trong tình trạng thiếu hụt lớn, tính chung toàn chiến trường, trong năm 1969 cứ 2 người lính chiến đấu ở phía trước, hoặc 8 người phục vụ ở phía sau mới được 1 bộ quân phục, nhưng phía sau tận tình nhường nhịn cho anh chị em trực tiếp chiến đấu.

Việc vận chuyển, tiếp tế lương thực từ hậu phương lớn vào chiến trường trong năm 1969 gặp rất nhiều khó khăn do địch đánh phá. Tây Nguyên chỉ tiếp nhận được khoảng 57% so với năm trước. Nguồn thu mua qua các cửa khẩu miền Tây cũng bị hạn chế do tình hình ở đây đang có nhiều phức tạp. Số lương thực, thực phẩm mua được trong cả năm 1969 chưa bằng được một nửa năm 1968 và ít hơn nhiều lần so với các năm trước đây. Trong lúc đó, ngoài việc bảo đảm nhu cầu các mặt cho toàn bộ khối chủ lực hoạt động trên địa bàn, Tây Nguyên còn có nhiệm vụ nuôi dưỡng các đoàn cán bộ, thương bệnh binh và các đơn vị bộ đội hanh quân qua chiến trường(1).

Từ giữa năm 1968 và nhất là trong năm 1969, Mỹ - ngụy mở hàng trăm cuộc hành quân càn quét xúc tát gom dân, phá hoại sản xuất, triệt nguồn sinh sống của đồng bào, tiến hành “bình định cấp tốc” vô cùng khốc liệt. Âm mưu của chúng là lập vành đai trắng để “tát nước bắt cá”, tách lực lượng vũ trang ra khỏi nhân dân.

Tình hình lương thực ở đồng bằng ven biển càng gay go căng thẳng gấp bội, địch phản kích điên cuồng và với việc đối phó chưa có hiệu quả của ta nên vùng giải phóng ngày càng mất ổn định. Số dân vùng làm chủ và vùng tranh chấp lúc này giảm sút. Đến cuối năm 1969, số dân vùng giải phóng và vùng căn cứ của ta chỉ còn 853 nghìn người. Thưa dân, đất trắng, sản xuất giảm sút, hai nguồn bảo đảm chủ yếu về lương thực là huy động của dân và thu mua trong vùng địch đều thấp nhiều so với năm trước. Ở các đơn vị chiến đấu, mỗi người một ngày chỉ còn nửa lon gạo. Cơ quan 8 người chỉ có 1 lon gạo để nấu cháo với rau rừng. Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 có lúc tất cả đơn vị đều ăn rau môn thục, củ móng ngựa. Gạo lấy được chỉ đủ cho thương binh. Trung đoàn Ba Gia phải lùi sâu lên căn cứ để dựa vào các rẫy sắn dự trữ. Nhưng phần lớn các rẫy sắn đều bị chất độc hóa học tiêu hủy. Bộ đội phải đi suốt hai ngày mới tìm được vài rẫy sắn. Mỗi người một ngày cũng chỉ được một ki-lô-gam sắn tươi. Các trung đoàn 38, 141 của Mặt trận 4 (Quảng Đà) cũng buộc phải lui về căn cứ tìm rẫy sắn để cứu đói. Thiếu đói nghiêm trọng ở tất cả các đơn vị. Bệnh sốt rét phát triển mạnh, số quân đau ốm ngày một tăng, ở một số đơn vị đã có anh em chết đói.

Địch lại liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, xúc bắt dân, phá hoại sản xuất, phá các đường hành lang, kho tàng, bãi tiếp nhận. Đói, đau, đạn, địch, là bốn từ anh em khái quát nói lên tình hình cực kỳ khó khăn gian khổ lúc bấy giờ.

Thường vụ Khu ủy, Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu tập trung mọi trí tuệ làm việc ngày đêm, mở nhiều cuộc họp với cán bộ chủ trì các ngành và thủ trưởng các đơn vị nắm lại thực lực của chiến trường, đánh giá tình hình tư tưởng và khả năng khắc phục khó khăn của bộ đội, tìm ra những biện pháp có hiệu lực nhằm ổn định tình hình, tiếp tục đẩy mạnh mọi hoạt động trên chiến trường, đồng thời động viên, kêu gọi toàn thể đảng viên, đoàn viên, cán bộ, chiến sĩ đoàn kết thành một khối thống nhất, phát huy tinh thần cách mạng tiến công và truyền thống cần kiệm, tự lực khắc phục khó khăn, chịu đựng gian khổ, quyết đứng trên địa bàn chiến lược này để tiếp tục chiến đấu.

Sau chiến dịch Xuân – Hè năm 1969, căn cứ vào nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, nhiệm vụ chiến đấu lâu dài và tình hình thực tế khó khăn về vật chất là vấn đề lớn của chiến trường, nhất là lương thực, chẳng những không có dự trữ mà cung cấp hàng ngày cũng quá thiếu, đang có nguy cơ xảy ra đói trong nhân dân, cơ quan và bộ đội. Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu biên chế lại lực lượng vũ trang theo hướng: tinh, gọn, tăng thành phần chiến đấu, giảm thành phần cơ quan, tăng lực lượng địa phương, phát triển lực lượng đặc công, tinh nhuệ hóa các đơn vị chủ lực.


(1) Năm 1969 Tây Nguyên bảo đảm cho 61.500 lượt người qua lại.
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười, 2018, 09:28:52 AM gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #146 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:06:53 AM »

Thường vụ Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu đã tạm thời giải thể Sư đoàn 3. Anh Huỳnh Hữu Anh – Sư đoàn trưởng được cử làm phó tham mưu trưởng quân khu. Anh Nguyễn Nam Khánh  – Chính ủy sư đoàn được điều về làm chủ nhiệm chính trị quân khu. Giải thể Trung đoàn 22 của Sư đoàn 3 để tăng cường cho các tỉnh Quảng Ngãi: 1 tiểu đoàn, Bình Định: 1 tiểu đoàn, Phú Yên: 1 tiểu đoàn. Cơ quan của Sư đoàn 3 được điều về bộ phận tiền phương của Quân khu ở Bình Định. Sư đoàn 2 phải tạm thời rời chiến trường ra bắc đường 9. Sư đoàn được giao nhiệm vụ chiến đấu dưới quyền chỉ huy của Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào.

Qua tổ chức lại, lực lượng 5 tỉnh đồng bằng (trừ Khánh Hòa) mỗi tình đều có 3 tiểu đoàn tập trung. Chủ lực quân khu còn 3 trung đoàn và 1 trung đoàn tăng cường đứng chân ở ba tỉnh: Trung đoàn 3 đứng chân ở Quảng Đà, Trung đoàn 21 đứng chân ở Quảng Ngãi, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 12 đứng chân ở Bình Định.

Ở Tây Nguyên, để giảm bớt một phần khó khăn trước mắt về lương thực, ta đưa một bộ phận nhỏ lực lượng không trực tiếp chiến đấu về hậu phương lớn. Tháng 5 năm 1969, Trường Quân chính và Trường Quân y Mặt trận lên đường ra Bắc tiếp tục học tập, thương binh, bệnh binh mất sức chiến đấu cũng được nhanh chóng chuyển về hậu phương điều trị. Ta khẩn trương củng cố bộ đội, biên chế sắp xếp lại các đơn vị cho phù hợp với nhiệm vụ, hoàn cảnh thực tế của chiến trường, theo phương châm: tăng cường thành phần chiến đấu, tăng cường lực lượng cho địa phương, đảm bảo ít mà tinh gọn nhẹ nhưng có sức đột kích mạnh.

Bộ tư lệnh Quân khu tăng cường các loại vũ khi B40, B41, pháo cối... cho các trung đoàn chủ lực và bộ đội tập trung tỉnh, trang bị hỏa lực bắn máy bay cho các đơn vị đường dây, binh trạm, sản xuất và các địa phương; cử các đoàn cán bộ về giúp tỉnh đội xây dựng một số đơn vị kỹ thuật như đặc công, thông tin, công binh và các trạm sửa chữa vũ khí; tiến hành huấn luyện bộ binh đánh theo kiểu đặc công cho cả ba thứ quân; động viên các đơn vị phục vụ phía sau rút bớt quân số, bổ sung kịp thời cho các trung đoàn chiến đấu.

Kẻ địch dù ngoan cố đến đâu cũng chỉ có thể làm chậm lại chứ không thể xoay chuyển được xu thế phát triển của lịch sử. Những gì kẻ địch tạm thời thực hiện được trong thời gian đầu đã dần dần trở nên mất tác dụng. Những yếu tố cơ bản của một cuộc chiến tranh xâm lược, của một chiến lược chiến tranh đề ra trong thế bị động, chắp vá ngày càng lộ rõ. Những điều Đảng ta dự kiến khi đế quốc Mỹ mới chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” dần dần trở thành hiện thực.

Đấu tranh với những nhận thức, tư tưởng sai trái, kịp thời tổ chức lại lực lượng, để ra cách đánh thích hợp nên từ năm 1970, quân và dân ta từ đồng bằng ven biển đến Tây Nguyên đã chiến đấu ngăn chặn từng bước mọi thủ đoạn của kẻ thù. Khi đế quốc Mỹ phạm sai lầm chiến lược mở rộng chiến tranh ra cả ba nước Đông Dương, đưa quân ngụy sang chiến trường Cam-pu-chia, Lào, mở chiến dịch Lam Sơn 719 (Đường 9 - Nam Lào năm 1971), hòng nâng cao vị thế của quân chủ lực ngụy, cắt đứt đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam của ta; ta đã nhân lúc quân địch rút ra ngoại tuyến, nhanh chóng dồn sức tiến công, khôi phục lại thế chiến trường. Thắng lợi Xuân – Hè 1970 và mùa Xuân 1971 ở cả chiến trường đồng bằng và Tây Nguyên đã đánh bại bước đầu “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ trên phạm vi chiến trường, góp phần vào việc mở rộng và tạo thế trận vững chắc ở Trung Đông Dương. Quân và dân toàn khu đã tạo được cơ sở vững chắc để đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong phạm vi chiến trường tiến lên một bước mới. Thật là, càng gần thắng lợi càng nhiều gian nan. Những chiến sĩ cách mạng chân chính được tôi luyện nhiều càng trở nên gang thép.

Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra vào tháng 5 năm 1971, sau khi phân tích đánh giá tình hình địch, tình hình ta, dự kiến âm mưu của địch trong thời gian tới đã quyết định: Đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao, phát triển thế tiến công chiến lược mới trên toàn Đông Dương, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch xâm lược của chúng ở Cam-pu-chia và Lào, giành thắng lợi quyết định trong năm 1972, buộc đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh bằng thương lượng trong thế thua...
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #147 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:07:54 AM »

Ở chiến trường Khu 5, đến tháng 6 năm 1971, quân Mỹ chỉ còn sư đoàn A-mê-ri-cơn và lữ đoàn dù 173, quân chư hầu còn 2 sư đoàn và 1 lữ đoàn lính Nam Hàn. Tất cả đang co lại chờ ngày trở về nước. Để tăng nhanh quân ngụy, địch ra sức bắt lính, đôn quân, thành lập các tiểu đoàn bảo an làm lực lượng cơ động tại chỗ, thay cho quân cơ động cộng hòa. Về tổ chức phòng thủ, địch tiếp tục tăng cường hệ thống phòng ngự cơ bản để đủ sức đối phó với chủ lực của ta. Chúng củng cố hệ thống kìm kẹp bằng cách kết hợp các khu dồn, “ấp chiến lược” với các cứ điểm của 1 – 2 đại đội hoặc liên đội bảo an, 4 -5 trung đội dân vệ thành từng cụm phòng thủ liên hoàn. Xu hướng chung của địch là ngày càng đi sâu vào thế phòng ngự, lấy hỏa lực và công sự vững chắc làm chủ yếu, có kết hợp với cơ động phản kích.

Sau Xuân – Hè 1971, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy – Bộ tư lệnh Quân khu họp, chuẩn bị cho nhiệm vụ chiến lược năm 1972. Hội nghị quyết định: Gấp rút răng cường lực lượng vũ trang cả về số lượng và chất lượng. Xây dựng các đơn vị chủ lực thành những quả đấm mạnh, đủ sức tiêu diệt từng trung đoàn, đánh quỵ từng sư đoàn quân chủ lực ngụy, phá vỡ từng đoạn hệ thống phòng ngự cơ bản của địch. Xây dựng bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích đủ sức độc lập hay phối hợp được với bộ đội chủ lực đánh bại quân địa phương của địch, tiêu diệt từng cụm cứ điểm lớn, phá vỡ hệ thống kìm kẹp của địch từng khu vực rộng, mở vùng giải phóng liên hoàn 5, 7 xã. Tiếp tục phát động quần chúng xây dựng thực lực chính trị ở cả nông thôn và đội thị, xây dựng các đoàn thể quần chúng, củng cố đội ngũ đấu tranh chính trị và các ban lãnh đạo đấu tranh chính trị. Đẩy mạnh sản xuất, xây dựng căn cứ, đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ; đồng thời ra sức khai thác thu mua vận chuyển nguồn hàng từ vùng địch ra và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn vào, chuẩn bị cho tác chiến quy mô tương đối lớn, dài ngày.

Thực hiện chủ trương trên, các lực lượng vũ trang trong toàn khu được tăng cường. Ở Tây Nguyên đã hình thành một khối chủ lực cơ động tương đối lớn gồm Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), 4 trung đoàn độc lập 24, 28, 66, 95, Trung đoàn đặc công 198 (thiếu), 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn cao xạ, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 trung đoàn công binh. Lần đầu tiên, khối chủ lực Tây Nguyên có bước phát triển nhảy vọt cả về chất lượng và số lượng. Ở đồng bằng, quân số còn ít nhưng chất lượng chiến đấu khá hơn trước. Sư đoàn 3 được khôi phục lại. Tôi và một số cán bộ ba cơ quan quân khu vào Bình Định giúp đỡ Sư đoàn 3 bồi dưỡng cán bộ, huấn luyện bộ đội, chuẩn bị cho đợt tiến công giải phóng bắc Bình Định vào đầu Xuân 1972. Sư đoàn 3 lúc này do anh Huỳnh Hữu Anh làm sư đoàn trưởng, anh Mai Tân làm chính ủy. Sư đoàn 3 gồm các trung đoàn 2, 12, 21. Ở phía bắc quân khu có 2 trung đoàn 31 và 38 (quá trình chiến đấu tăng cường thêm Trung đoàn 9). Thành lập cụm pháo hỗ hợp 572 (có pháo mặt đất, phòng không và xe tăng). Cũng trong thời gian này, quân khu thành lập 2 trung đoàn đặc công 359 và 493. Lực lượng tập trung tỉnh và huyện có 22 tiểu đoàn, 60 đại đội, 62 trung đội bộ binh, 5 tiểu đoàn pháo cối, 5 tiểu đoàn và 6 đại đội đặc công. Các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Đinh, Phú Yên đã xây dựng được một lực lượng tập trung từ 3 đến 6 tiểu đoàn (cả bộ binh và binh chủng). Lực lượng du kích cũng được củng cố và tăng cường trang bị. Toàn quân khu đã tổ chức được 203 đội, tổ du kích, đặc công, 91 đội, tổ du kích công binh.

Đến giữa năm 1971, toàn quân khu bước vào “chiến dịch gạo”. Hậu cần quân khu, mặt trận và các sư đoàn, tỉnh đội cùng cơ quan chi viện tiền phương của Khu ủy và các tỉnh ủy đều dồn sức thu mua và vận chuyển lương thực. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ liên tục mấy tháng liền đêm nào cũng vượt qua vùng địch kiểm soát xuống các vùng sâu ở đông đường số 1 để chuyển gạo cất giấu trong dân về căn cứ. Phụ nữ và thiếu nhi là lực lượng quan trọng chuyển gạo từ vùng địch ra vùng giải phóng. Mặt trận Tây Nguyên tổ chức thu mua và vận chuyển gạo từ đông bắc Cam-pu-chia và Hạ Lào. Đến cuối năm 1971, Tây Nguyên đã dự trữ được 1.920 tấn gạo, đồng bằng 2.300 tấn gạo, ngoài ra còn vận chuyển 20.000 tấn vũ khí thuốc men, lương thực từ miền Bắc gửi vào.

Tháng 9 năm 1971, các tỉnh Bình Định, Gia Lai tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ. Tháng 10 và tháng 11 năm 1971, Đại hội đại biểu Đảng bộ các tỉnh Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hòa. Đại hội các tỉnh đánh giá tình hình sau ba năm đấu tranh chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của địch và động viên đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh nắm lấy thời cơ lớn phát triển thế tiến công trên cả ba vùng, bằng ba mũi giáp công, thực hiện ba cao trào quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Tỉnh ủy Quảng Ngãi, Tỉnh ủy Đắc Lắc họp đề ra những chủ trương biện pháp để chuẩn bị cho cao trào tiến công và nổi dậy ở địa phương.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #148 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:09:57 AM »

*
*   *

Sau mùa Xuân năm 1971, quân ngụy mất khả năng tiến công, buộc phải đi vào phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường. Trong lúc đó, lực lượng ta lớn mạnh về mọi mặt, thế chiến lược phát triển có lợi cho ta. “Ta đang ở thế thắng, thế chủ động, thế thuận lợi, thế đi lên; địch đang ở thế thua, thế bị động, thế khó khăn, thế đi xuống”. So sánh về thế và lực trên chiến trường lúc đó rất thuận lợi cho ta mở cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn vào Xuân – Hè năm 1972, nhăm đánh bại căn bản chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, tạo nên so sánh lực lượng mới, cục diện mới, dẫn đến một bước ngoặt trong chiến tranh, đưa cuộc cách mạng tiến lên những bước phát triển cao hơn, buộc đế quốc Mỹ phải chất nhận những điều kiện có lợi cho ta ở Hội nghị Pa-ri. Đảng ta chủ trương mở một cuộc tiến công chiến lược lớn vào năm 1972. Đến đây, tôi lại nhớ đến nguyên tắc: đấu tranh ngoại giao và quân sự đều quan trọng, nhưng quyết định là người cầm súng ở chiến trường.

Theo kế hoạch chung, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam sẽ tiến hành bằng ba đòn chiến lược. Đòn chiến lược của bộ đội chủ lực trên những phương hướng chiến lược và chiến trường có lợi, tiêu diệt một bộ phận lực lượng quân ngụy miền Nam, phá vỡ từng bộ phận thế bố trí phòng ngự của địch, mở rộng vùng giải phóng. Đòn tiến công và nổi dậy ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng, kết hợp tiến công quân sự, chính trị và binh vận, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh và phong trào nổi dậy của quần chúng. Đòn đấu tranh chính trị của nhân dân các đô thị, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần chúng với khoét sâu và lợi dụng mâu thuẫn nội bộ địch chuẩn bị khi có thời cơ cụ thể đẩy mạnh cuộc đấu tranh thành cao trào cách mạng.

Đòn tiến công của bộ đội chủ lực tập trung trên ba hướng: Hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên, nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch, thay đổi cục diện chiến trường miền Nam, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới. Hướng thứ hai là bắc Tây Nguyên, tiêu diệt địch giải phóng vùng Đắc Tô – Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum, hướng phát triển có thể là hướng Plây Cu. Hướng thứ ba, Đông Nam Bộ, trọng điểm là đường 13.

Khu 5 – một trong ba hướng tiến công của bộ đội chủ lực; đồng thời là một hướng tiến công và nổi dậy quan trọng ở nông thôn. Tiến công tiêu diệt địch ở Tây Nguyên là để hỗ trợ mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng ven biển. Mở rộng vùng giải phóng ở đồng bằng ven biển là đánh một đòn nặng vào kế hoạch “bình định” của địch, tạo nên những khả năng mới để phát triển lực lượng.

Đến đầu năm 1972, lực lượng địch ở chiến trường Khu 5 chỉ còn 307 nghìn tên (80 nghìn quân Mỹ, 40 nghìn quân Nam Hàn, 187 nghìn quân ngụy). Quân Mỹ còn đông, nhưng bộ binh Mỹ đã căn bản chấm dứt vai trò chiến đấu. Quân cơ động ngụy còn khá đông và tập trung ở hai trọng điểm: Ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi thuộc phía nam quân khu 1 của địch, có sư đoàn 2 và liên đoàn quân biệt động số 1. Ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai và Bình Định thuộc phía bắc quân khu 2, địch có sư đoàn 22 (4 trung đoàn), sư đoàn 23 và liên đoàn quân biệt động số 2.

Từ cuối tháng 12 năm 1971, phương án tiến công Xuân – Hè năm 1972 của Khu 5 được chính thức thông qua: Ở Tây Nguyên, tập trung toàn bộ khối chủ lực gồm Sư đoàn 320, Sư đoàn 2 (thiếu), các trung đoàn bộ binh 24, 66, 28, 95, các trung đoàn pháo 40, 675, Trung đoàn công binh 7, 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ tự hành tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn phòng ngự Đắc Tô – Tân Cảnh, tiêu diệt lực lượng dự bị quân khu 2 và tổng dự bị quân ngụy đến cứu viện. Khi có thời cơ, tiến công giải phóng thị xã Kon Tom. Ở bắc Bình Định, Sư đoàn 3 và 2 tiểu đoàn đặc công cơ động 403 và 406 của quân khu tiến công tiêu diệt trung đoàn 40 sư đoàn 22 ngụy, đánh vỡ một bộ phận phòng tuyến cơ bản của địch, giải phóng các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn hỗ trợ cho lực lượng địa phương Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa tiến công và nổi dậy đánh bại “bình định nông thôn” của địch, tạo ra một vùng giải phóng rộng từ nam Quảng Ngãi đến bắc đường 19 và liên hoàn với vùng căn cứ hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum. Ở Quảng Nam, Sư đoàn 711 (thiếu) và tiểu đoàn đặc công cơ động số 409 của quân khu tiến công tiêu diệt một bộ phận quân cơ động của sư đoàn 2 ngụy, kết hợp với lực lượng vũ trang các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy đập tan hệ thống kìm kẹp, đánh bại “bình định nông thôn” của địch, giành dân, giải phóng khu vực Quế Sơn, Tiên Phước, tây Thăng Bình, Nông Sơn, Trung Phước (Quảng Nam) và Đức Phổ, Ba Tơ, Minh Long, Giá Vụt ở nam Quảng Ngãi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #149 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2018, 09:13:17 AM »

Cả Mỹ và ngụy biết ta chuẩn bị tiến công lớn, nhưng chúng không dự đoán được hướng, thời điểm, quy mô, cường độ tiến công của ta. Theo chúng, hướng tiến công chủ yếu của ta có thể là Kon Tum, hướng phối hợp là đường 9 và miền Đông Nam Bộ, cuộc tiến công sẽ vào dịp tết Nhâm Tý. Phán đoán sai thời gian, lại chờ đợi lâu ngày nên mặc dù đã chủ động đề phòng, quân địch vẫn bộc lộ nhiều sơ hở.

11 giờ trưa ngày 30 tháng 3 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược của bộ đội chủ lực ta trên hướng chủ yếu Trị - Thiên bắt đầu. Sau 5 ngày chiến đấu, đến ngày 4 tháng 4, ta đã tiêu diệt một loạt căn cứ cấp trung đoàn địch, bức hàng một trung đoàn, đánh thiệt hại nặng nhiều trung đoàn khác, phá vỡ tuyến phòng thủ mạnh của chúng dọc theo đường số 9, giải phóng hoàn toàn hai huyện Gio Linh và Cam Lộ. Chủ lực ta đã chiếm lĩnh các bàn đạp phía bắc và tây Quảng Tị, áp sát và uy hiếp trực tiếp khu vực Đông Hà – Ái Tử, thị xã Quảng Trị - La Vang và tăng sức ép ở phía tây Huế.

Ở miền Đông Nam Bộ, từ ngày 1 đến ngày 5 tháng 4, ta phá vỡ tuyến phòng ngự biên giới của địch, tiêu diệt 3 chiến đoàn bộ binh (thiếu) và 2 trung đoàn thiết giáp (thiếu), giải phóng ba huyện Lộc Ninh, Bù Đốp và Thiện Ngôn. Ta đã chiếm lĩnh tuyến bàn đạp ở biên giới miền Đông Nam Bộ, chia cắt đường 13, bao vây tiến công thị xã An Lộc.

Ở Tây Nguyên, do phán đoán hướng tiến công chủ yếu là Kon Tum, đầu tháng 2 năm 1972, địch phát hiện Sư đoàn 320 đã có mặt ở chiến trường. Tiếp đến, địch lại phát hiện Sư đoàn 2 của ta từ đường 9 Nam Lào cũng có mặt ở Kon Tum, chúng càng tin chắc hướng tiến công chủ yếu của ta là ở đây. Những người chỉ huy quân Mỹ, ngụy ở Sài Gòn vội vã điều sư đoàn dù (thiếu) và liên đoàn biệt động quân số 6 từ Đông Nam Bộ ra Kon Tum để tổ chức tuyến phòng ngự dự phòng ở tây sông Pô Cô.

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 26 tháng 3 năm 1972, Trung đoàn 95 bắt đầu cắt đường 14 ở đoạn Chư Thoi, phía nam thị xã Kon Tum. Tiếp đến, ngày 1 tháng 4, Trung đoàn 12 (thiếu) Sư đoàn 3 tổ chức chặn đường 19 ở đông An Khê. Bộ đội địa phương và dân quân, du kích hai tỉnh Gia Lai và Bình Định kết hợp bom mìn, vật chướng ngại với các trận phục kích nhỏ, lẻ liên tục quấy rối, tiêu hao, góp phần làm tê liệt hoàn toàn việc vận chuyển tiếp tế của địch trên đường 19.

Quân đoàn 2 ngụy vội vã điều động các trung đoàn 45 và 53 cùng 2 chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn 23 và trung đoàn 24 cùng 2 chi đoàn xe bọc thép của sư đoàn Mãnh Hổ - lính đánh thuê Nam Hàn ra phản kích. Cán bộ, chiến sĩ hai trung đoàn 95 và 12 kiên cường giữ vững trận địa, đánh bại tất cả các đợt phản kích, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng hơn chục đại đội, phá hủy gần 100 xe quân sự của địch.

Giữa lúc quân địch đang tập trung đối phó với các đơn vị đánh chia cắt của ta trên đường 19 và đường 14 thì bộ đội ta bất ngờ nổ súng đánh vào tuyến phòng ngự dự phòng của chúng ở phía tây sông Pô Cô. Đêm 30 tháng 3, Trung đoàn 52 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48 Sư đoàn 320 bắt đầu vây ép tiểu đoàn dù số 2 ở điểm cao 1049.

Đến ngày 2 tháng 4, ta đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn dù 2 ở đây. Bọn địch thấy nếu để mất khu vực này thì từ đây đối phương có thể chọc thẳng sang đường 14, cắt đôi thế trận phòng ngự ở bắc Kon Tum, cô lập cụm phòng ngự Tân Cảnh và uy hiếp trực tiếp thị xã Kon Tum. Chỉ huy quân ngụy điều tiếp lữ dù sô 3 cùng sở chỉ huy nhẹ của sư đoàn dù ra khu vực Kon Tum. Lữ đoàn dù 3 tung lực lượng ra phía tây sông Pô Kô thay thế cho tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 47) và tiểu đoàn 2 (lữ đoàn dù số 2).

Ngày 14 tháng 4, ta tiếp tục tiến công tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 11 ở điểm cao 1015. Địch vội cho tiểu đoàn 3 lên phản kích. Tiểu đoàn vừa mò ra khỏi vị trí Đak Keng Pleng, đã bị ta đánh thiệt hại nặng phải tháo chạy. Sở chỉ huy của lữ đoàn dù số 2 và lữ đoàn dù số 3 đều bị pháo binh ta bắn phá. Thừa thắng, Sư đoàn 320 đưa một trung đoàn vượt sông Pô Kô tiến thắng ra đường 14. Vừa qua sông, trung đoàn phối hợp cùng Trung đoàn 28, tập kích tiêu diệt trận địa pháo địch ở Kông Trang Lang Loi, đánh thiệt hại tiểu đoàn 23 quân biệt động ngụy, diệt 2 chi đội xe bọc thép, cắt đứt đường 14 ở bắc thị xã Kon Tum.

Thời gian này trên chiến trường toàn Miền, quân và dân Trị - Thiên đã đập tan tuyến phòng thủ mạnh nhất của địch ở Quảng Trị, đánh chiếm và làm chủ các căn cứ Ái Tử, La Vang, Đông Hà, thành Quảng Trị buộc địch phải lùi về phía nam sông Mỹ Chánh.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM