Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Ba, 2020, 09:01:58 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nửa thế kỷ hành quân cùng đồng đội – Thiếu tướng Mai Xuân Tần  (Đọc 20352 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #80 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:09:45 PM »

*
*   *

Đầu năm 1933, Quốc tế Cộng sản có thư gửi cho những người cộng sản Đông Dương khẳng định: “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một Đảng cách mạng của gia cấp vô sản, nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng ấy phải là một Đảng duy nhất, và ở Đông Dương chỉ có một Đảng ấy là tổ chức Cộng sản mà thôi”(1).

Từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, ba nước chịu sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã nâng tình đoàn kết ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia lên một tầm cao mới xứng danh “Đông Dương là một chiến trường” có “quan hệ đặc biệt” với nhau đã lãnh đạo ba nước giành được độc lập.

Ở Cam-pu-chia, đầu năm 1930, chi bộ cộng sản đầu tiên đã được thành lập tại trường trung học Sisôvat. Đến năm 1931 đã lập được 5 chi bộ, trong đó có một số đảng viên người Khơ Me hình thành Ban cán sự Đảng bộ Cam-pu-chia.

Từ những năm 40, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, ba nước đoàn kết, liên minh chống ách thống trị của Pháp.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì có đoạn viết: “Pháp – Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả các dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của Pháp – Nhật”(2).

Nghị quyết cũng đề cập việc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi nước và viết: “Đảng ta và Việt Minh phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên – Lào tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh”.

Về xây dựng Đảng, “Hội nghị giao trách nhiệm cho Đảng bộ miền Nam phải giúp đỡ việc xây dựng Đảng ở Cam-pu-chia, Đảng bộ miền Trung phải giúp đỡ Đảng bộ Lào. Toàn bộ công tác xây dựng Đảng đều nhắm theo hướng làm cho Đảng có năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng”(3).

Do âm mưu của thực dân Pháp đối với ba nước Đông Dương nên chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương vạch rõ: “về quân sự, Việt Nam, Cao Miên, Ai Lao là một chiến trường, phải đánh theo một chiến lược chung”.

Pháp bị Nhật lật đổ ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhưng đến ngày 13 tháng 8, Pháp dựa vào quân Anh (đồng minh) lần lượt trở lại Đông Dương âm mưu khôi phục quyền thống trị ba nước.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, được sự giúp đỡ của Anh, Pháp đánh chiếm Sài Gòn rồi lần lượt chiếm các tỉnh Nam Bộ. Nam bộ bắt đầu cuộc kháng chiến.

Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Pháp theo Anh nhảy dù xuống Phnôm Pênh, bắt thủ tướng Sơn Ngọc Thành và lập chính quyền tay sai.

Tháng 4 năm 1946, Pháp dựa vào Anh đã lần lượt chiếm lại nước Lào.

Tháng 12 năm 1946, Pháp gây chiến xâm lược miền Bắc Việt Nam, nhân dân Việt Nam bắt đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp.

Trong hội nghị liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương họp tháng 9 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Việt Nam – Lào – Miên như anh em một nhà. Cả ba dân tộc đoàn kết chặt chẽ thì nhất định đánh bại thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Miên một cách vô điều kiện. Sự thật thì chưa tìm ra chữ gì để thay thế chữ “giúp”, chứ thực ra không phải là giúp, là là làm nghĩa vụ quốc tế”(4). Người còn nói: “Việt Nam kháng chiến thành công thì Lào, Miên mới thắng lợi và Lào, Miên có thắng lợi thì Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi”.



Thời kỳ 1945-1954 là thời kỳ ta tổ chức giúp bạn Lào và Cam-pu-chia với quy mô lớn nhất, toàn diện nhất và thời gian dài nhất. Liên minh ba nước có tổ chức lãnh đạo thống nhất, lúc đầu do Đảng Cộng sản Đông Dương, về sau do các đảng riêng của mỗi nước để phát huy tính độc lập tự chủ và theo điều kiện thực tiễn của mỗi nước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cách mạng chân chính, Lào và Cam-pu-chia được sự giúp đỡ chí tình của quân tình nguyện Việt Nam, được sự ủng hộ mạnh mẽ của phong trào hòa bình, dân tộc, dân chủ của thế giới. Việt Nam được sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của Liên Xô, Trung Quốc, ba nước đã giành được thắng lợi to lớn, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận độc lập chủ quyền lãnh thổ của mỗi nước.

Quân tình nguyện Việt Nam lại rút hết quân về nước, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quốc tế ở Lào và Cam-pu-chia.

*
*   *

Mỹ phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ, hất Pháp, nhảy vào thay Pháp. Ba nước tiếp tục liên minh chống đế quốc Mỹ. Theo yêu cầu của bạn, ta đã tiếp tục cử quân tình nguyện sang giúp. Bạn cũng giúp ta căn cứ đứng chân, mở đường hành lang vận chuyển chiến lược, căn cứ bố trí hậu cần quân y… Nhưng chỉ Lào vẫn giữ tinh thần “Đông Dương là một chiến trường”, quan hệ hai nước là “quan hệ đặc biệt” suốt 20 năm chống đế quốc Mỹ gian khổ ác liệt gấp nhiều lần, cuối cùng ta đã giành thắng lợi huy hoàng ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở Lào, được sự giúp đỡ của Việt Nam, cách mạng Lào ngày càng phát triển. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào tiến công và nổi dậy đánh đổ chế độ quân chủ, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, mở ra một thời kỳ mới để nhân dân Lào xây dựng đất nước tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa chân chính.

Ngược lại, tập đoàn lãnh đạo Pôn Pốt, mặc dù ta đã giúp đỡ chí tình nhưng đến năm 1973, họ yêu cầu ta rút hết về nước. Đến khi Mỹ lật đổ vua Xi-ha-núc đưa bù nhìn Lon Non lên, ta lại đưa quân tình nguyện sang cứu nguy, giúp đánh địch, xây dựng lực lượng rất nhanh rồi ta rút quân về, nhưng vẫn còn tiếp tục vận chuyển vũ khí đạn dược quá cảnh giúp đỡ. Trên đà thắng lợi của nhân dân Việt Nam, quân và dân Cam-pu-chia đã mở trận tiến công đánh sụp đổ chế độ ngụy Lon Non tay sai của Mỹ, giải phóng toàn bộ đất nước ngày 17 tháng 4 năm 1975. Bọn Pôn Pốt trở mặt, phản bội nhân dân Cam-pu-chia, phản bội ba nước Đông Dương. Chúng bắt tay với các lực lượng thù địch với Việt Nam, lập tức quay lại chống nhân dân Cam-pu-chia, chống lại Việt Nam. Chúng thi hành chính sách đối nội, đối ngoại cực kỳ phản động. Trong nước thì thực hiện chế độ diệt chủng vô cùng tàn bạo, đối ngoại thì gây xung đột vũ trang ở biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia, rồi tiến hành chiến tranh biên giới Tây Nam, coi Việt Nam là “kẻ thù truyền kiếp” phá hoại hết sức nghiêm trọng tình đoàn kết quốc tế lâu đời giữa hai nước.

Như vậy ba nước Đông Dương có tình sâu nghĩa nặng, đoàn kết liên minh chiến đấu lâu đời chống mọi kẻ thù xâm lược, nay đang bị bọn cầm quyền Pôn Pốt phá hoại nghiêm trọng. Điều đó đặt ra cho Đảng và nhân dân ta một nhiệm vụ lịch sử rất nặng nề ngay sau khi vừa mới kết thúc cuộc trường chinh 30 năm. Trong hoàn cảnh mới, Cam-pu-chia là một nước có chủ quyền, đã lâu đời là đồng minh chiến lược của ta, trước hết ta phải tìm mọi cách bảo vệ nhân dân, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới của ta và sẵn sàng giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi tai họa diệt chủng, khôi phục tình đoàn kết lâu đời giữa Việt Nam – Cam-pu-chia.


(1) Lịch sử Đảng, tr.89-90.
(2) Lịch sử Đảng, tr.339.
(3) Lịch sử Đảng, tr.342.
(4) Tổng kết kháng chiến chống Pháp, tr.367-371.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #81 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:11:48 PM »

CỤC TÁC CHIẾN ĐỐI VỚI NHIỆM VỤ
BẢO VỆ LÃNH THỔ BIÊN GIỚI TÂY NAM

Qua mấy năm theo dõi tình hình chiến trường phục vụ sự chỉ đạo của bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, tôi tổng hợp diễn biến trên chiến trường được những vẫn đề lớn làm cơ sở để Cục Tác chiến báo cáo Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu đánh giá tình hình và đề xuất ý kiến chỉ đạo chiến tranh.

Sau ngày Cam-pu-chia được giải phóng (17-4-1975), Pôn Pốt thi hành chính chế độ diệt chủng vô cùng tàn bạo.

Vừa chiếm được Phnôm Pênh, chúng đuổi hết dân ra khỏi thành phố. Nhân dân đổ ra đường chưa kịp vui mừng thì họ vô cùng bàng hoàng nghe lệnh tất cả mọi người phải ra khỏi thành phố. Tất cả đàn ông đàn bà con trẻ, sư sãi, nhà giáo, nhà buôn, sinh viên không kịp mang theo thứ gì, con gọi bố mẹ, vợ gọi chồng, bị lùa đi như bầy nô lệ.

Tháng 5 năm 1975, khối thuốc nổ lớn phá sập nhà ngân hàng quốc gia Cam-pu-chia. Chúng gọi đó là tiếng súng đại bác tiến công vào dinh lũy đồng tiền.

Chúng bắt đầu xây dựng xã hội mới của Cam-pu-chia không tiền, không chợ, không trường học, không trí thức, không tôn giáo, không đô thị. Tất cả mọi người dân sống chung trong những “công xã”(1), lao động cực nhọc như những nô lệ dưới sự kiểm soát của những “Ang Ka” luôn sẵn sàng trong tay một cái búa để đập chết người nào muốn phản kháng. Không còn gia đình, không còn tư hữu, không còn quê hương. Cha mẹ và con cái phải sống cách biệt nhau theo giới tính và tuổi tác, hình thành từng đội lao động sản xuất tập thể, làm việc theo định mức, dưới sự kiểm soát của Ang Ka. Người lớn lao động nặng, làm ruộng đào kênh, đẵn gỗ trên ngàn. Thiếu nhi chăn bò, nhặt phân, cuốc đất. Tất cả phải làm đúng, làm đủ số lượng theo Ang Ka quy định, nếu thiếu thì phải phạt, hình phạt khổ nhất là cắt khẩu phần ăn. Cha mẹ không có quyền chăn sóc con vì con đều là của Ang Ka. Thanh niên không có quyền yêu. Lấy vợ lấy chồng đều do Ang Ka quy định. Chúng ghép từng cặp không hề biết nhau, tổ chức đám cưới tập thể chỉ nhằm mục đích “sinh sản” cho có người để lao động, để chiến đấu vì Việt Nam “xâm lược”.

Không ai được có bất cứ một thứ gì là của riêng vì phải xây dựng một xã hội không có tư hữu, dù đó là dụng cụ sinh hoạt hay những sản phẩm, những rau quả mình trồng được. Trẻ nhỏ nhặt một trái cây rụng xuống đất đã bị thối một phần cũng bị kết tội ăn cắp và bị phạt, nhẹ thì cắt khẩu phần ăn. Lúa gạo làm ra phải nộp hầu hết cho Ang Ka, sau những buổi lao động cực nhọc chỉ được ăn cháo loãng.

Chúng thanh trừng nội bộ hết sức khốc liệt đối với những ai không theo chúng. Thường vụ trung ương đảng Pôn Pốt ra chỉ thị tuyệt mật tiến hành một chiến dịch thanh trừng nội bộ: “Dù có phải hao tốn một triệu người, đảng ta (Pôn Pốt) cũng không tiếc. Đảng ta cần phải mạnh. Nếu chỉ còn lại hai triệu người Cam-pu-chia thì chúng ta vẫn xây dựng lại được đất nước”. Chúng giết người quá nhiều, xác người đem vùi lấp dưới những hố chôn tập thể ở các “cánh đồng ma”. Trong 3 năm 8 tháng 20 ngày dưới chế độ Pôn Pốt, như nhân dân Cam-pu-chia thường nói, bọn diệt chung Pôn Pốt đã giết hại hơn hai triệu người. Để thúc đẩy việc thanh trừng nội bộ, chúng ra sức kích động hận thù dân tộc, coi Việt Nam là kẻ thù truyền kiếp, để gây xung đột vũ trang với Việt Nam.

Chúng kết hợp đánh ta bên ngoài với thanh trừng bên trọng nhằm vừa thực hiện chế độ diệt chủng vừa gây chiến tranh xâm lược Việt Nam. Để dễ bề xua quân đánh sang Việt Nam, năm 1976, chúng thanh trừng hết sức khốc liệt trong nội bộ từ ủy viên trung ương đến bộ chỉ huy quân khu xuống cho đến cán bộ sơ cấp kể cả bác sĩ, kỹ sư…, nhằm những cán bộ học ở Việt Nam về, những đảng viên chân chính chúng gọi là “phái 51”, các cán bộ Ít-xa-rắc và những ai chúng nghi vấn không phục tùng chúng. Chúng rêu rao rằng “Việt Nam không dám đánh Cam-pu-chia mà chỉ đánh bằng chính trị vì vậy phải trừ hết nội gián, làm trong sạch nội bộ mới mạnh được”. Chúng thanh trừng đến 60 phần trăm, có đơn vị đến 90 phần trăm.

Sự tàn bạo đó đã làm dấy lên phong trào ly khai rộng khắp, bắt đầu từ Cô Công và đông bắc. Ở Cô Công, lực lượng đồng chí Sại Phuthoong trốn ra biên giới Thái Lan hoạt động bí mật. Ở đông bắc, lực lượng đồng chí Bu Thoong, Soi Keo tránh ra biên giới Lào, Việt Nam hoạt động, liên lạc với ta. Năm 1976, cuộc đấu tranh lan rộng ra các tỉnh Bat-tam-bang, Kan-dal, Prey Viêng, Kom-pông Thom, Stung Treng, Mon-dol-ki-ri. Phong trào đặc biệt mạnh ở khu Đông nơi bọn Pôn Pốt thanh trừng khốc liệt nhất. Sang năm 1977, nhiều cán bộ đảng viên chân chính tìm đường chạy sang ta cầu cứu, trong đó có Hun Xen, Chia Xim, Hêng Xom Rin, Úc Bun Sươn… Nhân dân ở quân khu Đông giáp biên giới ta sang tỵ nạn ở Việt Nam rất đông. Từ các cán bộ lãnh đạo đến người dân bình thường đã thấm đậm tình sâu nghĩa nặng giữa ba nước Đông Dương, đều chung một suy nghĩ: Trong tình thế nguy cấp của đất nước và của bản thân gia đình, chỉ còn con đường cứu nước cứu nhà duy nhất là sang Việt Nam, nhờ giúp đỡ, chỉ tin ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh cái sống cái chết trong gang tấc, ai cũng phải cần trọng, không ai nói với ai, chỉ từng nhóm tự tìm đường cho mình, nhưng cuối cùng đều đã gặp nhau ở Việt Nam.


(1) Sau này theo sách “HÀNH TRÌNH QUA CÁNH ĐỒNG CHẾT” của Chanrithy Him, người đã thoát chết khỏi bàn tay của “Ang Ka” khi Cam-pu-chia được giải phóng tháng 1 năm 1979, cô Him kể: Lúc đó còn bé, gia đình có tám người, cha làm thầy thuốc ở Phnôm Pênh, cả nhà bị lùa ra khỏi nhà, đưa đến một nơi xa lạ, ở các lều tồi tàn, từ đó mọi người mang tên là dân mới. Cha cô bị chúng đưa đi, chúng nói là đi cải tạo, nhưng chúng đã dập chết. Mẹ, chị và hai em cô bị bắt lao động cực nhọc, ăn đói, chỉ có cháo rau, không đủ no, suy dinh dưỡng rồi bị bệnh chết. Mẹ bị kiết lỵ không có thuốc, chúng ném xuống hố sâu cho chết, chị và hai em đều bị phù thũng một thời gian cũng chết. nhà chỉ còn ba người sống sót, nhân khi quân ta vào giải phóng, bọn Ang Ka bỏ chạy, mấy anh em chạy được sang Thái Lan. Chị cô Him bị bọn Ang Ka bắt ép lấy một người xa lạ. Chúng nói vì Việt Nam đánh sang, cần phải đẻ nhiều để có người đánh giặc vì Cam-pu-chia chỉ còn hai triệu dân. Chị cô không chịu ở với người chồng đó, may anh này tốt bụng, không ép nên bọn Ang Ka không biết gì. Cô Him còn kể có một trường hợp cô biết được có hai thanh niên yêu nhau, tự lấy nhau có thai, chúng phát hiện được, bắt đem ra giết cho dân chứng kiến để uy hiếp tinh thần. Khi người mẹ chết, đứa con trong bụng còn quẫy, chúng đập chết luôn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #82 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:12:16 PM »

*
*   *

Trong khi nhân dân ta đang vui mừng vì chiến thắng oanh liệt nhất của thế kỷ: giải phóng miền Nam – điều mà ai cũng mong đợi trong 30 năm qua, thì chỉ ba ngày sau, tức ngày 3 tháng 5 năm 1975, bọn Pôn Pốt đã dùng lực lượng vũ trang đổ bộ lên đảo Phú Quốc. Ngày 8 tháng 5 năm 1975, trên biên giới An Giang, chúng đưa một tiểu đoàn và 18 xe tăng, có pháo binh yểm trợ, đánh vào thôn An Phúc, xã Phú hữu, tây bắc thị xã Châu Đốc 30 ki-lô-mét, giết và làm bị thương 64 dân. Ngày 10 tháng 5 năm 1975, chúng chiếm đảo Thổ Chu của ta, bắt đi thủ tiêu 515 dân thường.

Chỉ trong tháng 5, tháng đầu tiên hòa bình ở Việt Nam, lực lượng của Pôn Pốt đã đánh phá 23 lần trên biên giới và ra hải đảo, làm thương vong hơn 635 người, đốt phá nhiều nhà cửa, cướp đi 900 trâu bò của đồng bào ta.

Trước những hành động trắng trợn xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của tập đoàn Pôn Pốt, ta kiên quyết giáng trả đích đáng buộc chúng phải rút khỏi Phú Quốc, diệt và bắt toàn bộ quân địch xâm phạm đến Thổ Chu, tiêu diệt cụm địch lấn chiếm ở xã Phú Hữu, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội, bắt 14 tên, thu 75 súng, có 1 pháo 105mm…

Trong hai năm 1976-1977, riêng trên biên giới phạm vi Quân khu 7, chúng đánh sang 500 vụ, gây tổn thất rất lớn cho nhân dân ta dọc biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, bằng hành động đốt phá, cướp của, giết người mổ bụng moi gan… vô cùng tàn bạo, hết cả tính người. Toàn tuyến biên giới không yên ổn để sản xuất, nhân dân phải sơ tán ra sau xa, bỏ một vùng đất hoang rất rộng lớn.

Mọi người đều ngỡ ngàng, vì sao lại kỳ lạ vậy? Cam-pu-chia với ta là bạn lâu đời, hai nước xưa nay luôn đoàn kết giúp nhau cùng chiến đấu chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ, cũng vừa mới được giải phóng gần như cùng thời gian (tháng 4 năm 1975) kia mà?

Trước tình hình trên, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng lúc này do Đại tướng Văn Tiến Dũng làm Bộ trưởng, Phó bí thư Quân ủy Trung ương tập trung chỉ đạo xử lý tình hình biên giới. Đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn cũng để nhiều thời gian theo dõi, đã trực tiếp cho nhiều ý kiến chỉ đạo sáng suốt và sắc bén.

Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức thận trọng và tự kiềm chế, cố tìm mọi cách cứu vãn hòa bình mà chúng ta mới giành được sau 30 năm chiến tranh, đồng thời đi sâu nghiên cứu nắm đúng thực chất tình hình, nắm đúng đối tượng, kẻ thù. Ta đã tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc thương lượng để hòa giải nhưng không có kết quả.

Trong hai năm 1975-1976, ta đã chủ động mở bảy cuộc hội đàm, nhưng đều không có kết quả. Phía Cam-pu-chia không thành thật bàn bạc, bên ngoài nói tôn trọng đất Việt Nam, tôn trọng đường biên giới sẵn có, nhưng bên trong vẫn âm mưu liên tiếp vi phạm biên giới có hệ thống. Thực chất là Pôn Pốt muốn kéo dài thời gian để chuẩn bị chiến tranh, thực hiện mưu đồ gây chiến. Chúng đã đưa phần lớn lực lượng vũ trang ra biên giới chuẩn bị sẵn sàng. Mặt khác với sự viện trợ ồ ạt của bên ngoài, chúng gấp rút tăng lực lượng vũ trang từ 5 vạn lên 12 vạn, xây dựng 12 sư đoàn, 12 trung đoàn địa phương và các đơn vị binh chủng. Chúng tiếp tục xâm lược đánh phá biên giới dã man hơn, gây cho nhân dân ta tổn thất rất lớn.

Ngày 30 tháng 4 năm 1977, đúng hai năm sau ngày giải phóng miền Nam, khi toàn dân ta đang vui mừng làm lễ kỷ niệm ngày chiến thắng thì chúng bất ngờ phát động chiến tranh, dùng lực lượng lớn đánh toàn tuyến. Pôn Pốt huy động ra biên giới 12 trong số 17 sư đoàn.

Đợt đầu, chúng tập trung đánh phá ở Quân khu 9 (theo Thủ tướng Hun Xen sau này cho biết, quân khu Đông cũng có lệnh tiến công sang biên giới Việt Nam nhưng không thực hiện được cùng một thời gian). Đêm ngày 30 tháng 4 năm 1977, một sư đoàn chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương Pôn Pốt đánh vào 13 trong số 15 xã và 13 đồn biên phòng của ta từ xã Vĩnh Gia đến xã Vĩnh Dương thuộc tỉnh An Giang. Đánh đến đâu, chúng cũng đến cướp của giết người, đốt phá nhà cửa, sát hại dã man 758 đồng bào ta.

Ngay sau khi sự kiện trên xảy ra, Chính phủ ta đã gửi công hàm phản đối hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam bắn giết dân thường một cách dã man và yêu cầu chấm dứt ngay những hành động xâm phạm biên giới, đề nghị hai bên gặp nhau ngay để bàn bạc giải quyết vấn đề biên giới bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Bọn Pôn Pốt khước từ đề nghị của ta, còn đổ lỗi cho ta gây ra tình hình căng thẳng ở biên giới. Trong khi đó, chúng vẫn liên tiếp mở các cuộc tiến công vào các vị trí của ta, tập kích vào vùng đông dân, phá rào gài mìn, lấn đất, không cho đồng bào ta làm ăn, có nơi chúng tiến sâu vào đất ta 15 đến 20 ki-lô-mét, đi đến đâu chúng cũng cướp của giết người, tàn sát đồng bào ta một cách man rợ. Chúng hô hét đánh Việt Nam, rằng “Việt Nam không dám đánh ta, phải ngăn chặn, tiêu diệt chúng trên đất chúng”.

Ngày 25 tháng 9 năm 1977, địch tập trung 9 trong số 14 sư đoàn và lực lượng địa phương tiến công trên toàn tuyến biên giới, trọng điểm là tỉnh Tây Ninh. Chúng dùng hai sư đoàn đánh vào ba xã Tân Lập, Long Thuận, Long Khánh thuộc hai huyện Bến Cầu và Tân Biên, tàn sát trên 1.000 đồng bào ta. Chúng chủ trương “quét sạch, đốt sạch, phá sạch” triệt hạ làng mạc, chặt đầu, mổ bụng, moi gan từ cụ già, em bé, phụ nữ có thai, gây nên sự khủng khiếp và hận thù dân tộc, gây nhiều tổn thất về người và của đối với đồng bào ta ở biên giới.

Pôn Pốt càng leo thang chiến tranh. Ngày 20 tháng 10 năm 1977, trung ương đảng Pôn Pốt ra chỉ thị đánh sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Ngày 15 tháng 11 năm 1977, chúng dùng năm sư đoàn chủ lực, năm trung đoàn địa phương mở cuộc tiến công vào biên giới Tây Ninh nhằm chiếm tây sông Vàm Cỏ Đông, Bến Sỏi và thị xã Tây Ninh, chúng đã tiến sâu vào đất ta bảy ki-lô-mét.

Từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1978, quân Pôn Pốt đã đánh sang ta giết hại 30.704 người, đốt phá 21.223 trường học, bệnh viện, chùa, nhà thờ, 40 vạn nhà dân, cướp bóc 1.123 trâu bò, phá 3.300 héc-ta ruộng, khiến 43.000 héc-ta ruộng bị bỏ hoang.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #83 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:12:39 PM »

*
*   *

Tội ác của tập đoàn Pôn Pốt với nhân dân ở vùng biên giới thật chồng chất. Ta không còn đường nào khác phải tăng cường chủ lực để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, để đánh thật đau buộc chúng phải ngồi lại bàn đàm phán, để nắm thực chất tình hình trên chiến trường phía bên đất Cam-pu-chia. Từ ngày 5 tháng 12 năm 1977 đến ngày 5 tháng 1 năm 1978, ta mở chiến dịch phản công trên hướng đường số 1, số 2, số 7, đánh thiệt hại năm sư đoàn chủ lực địch, trong đó có ba sư đoàn bị thiệt hại nặng, làm thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của chúng. Địch thừa nhận bị mất thế chủ động và bị tổn thất nặng, buộc phải tháo chạy hết về bên kia biên giới.

Ta đã khắc phục được một số khó khăn nhược điểm, giành lại thế chủ động chiến trường, có thế chủ động tiến công, đẩy địch ra xa biên giới, có điều kiện xây dựng tuyến biên giới, huấn luyện bộ đội, hiệu suất chiến đấu tăng lên rõ rệt. Đồng thời, ta cũng thu được nhiều tài liệu quan trọng, hiểu sâu âm mưu thủ đoạn của địch, thực trạng tình hình Cam-pu-chia, dưới chế độ diệt chủng Pôn Pốt nhân dân bị kìm kẹp, khủng bố rất tàn bạo, nhân dân rất căm thù chúng, mong được Việt Nam giúp đỡ giải phóng. Về chính trị, lực lượng cách mạng chân chính của Cam-pu-chia đã chủ động tập hợp lực lượng, bắt liên lạc với ta để nhờ giúp đỡ. Đó là cơ sở tốt nhất để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng Cam-pu-chia.

Mặc dù vậy, Pôn Pốt vẫn ngoan cố và đơn phương cắt ngoại giao với ta. Chúng tiếp tục đẩy mạnh thanh trừng nội bộ, tập trung vào các đơn vị miền Đông giáp với ta. Ở biên giới, chúng tiếp tục áp sát, đánh phá với cường độ cao hơn, sâu hơn. Mặt khác, chúng càng đẩy nhanh phát triển lực lượng quân đội, thêm nhiều sư đoàn và đủ các quân binh chủng không quân, hải quân, pháo binh, xe tăng thiết giáp…; ra nghị quyết gây chiến tranh lâu dài với ta, ra sức bắt lính tăng quân từ 15 vạn lên 17 vạn, đưa ra biên giới 19 trong số 23 sư đoàn, liên tiếp mở những cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới, chủ yếu tập trung nhằm vào ba trọng điểm tỉnh Tây Ninh, An Giang và Hà Tiên. Ngày 7 tháng 6 năm 1978, chúng tập kích vào thị trấn Kiên Lương và nhà máy xi măng Hà Tiên, sâu vào đất ta từ 15 đến 20 ki-lô-mét, giết 150 dân, đốt 600 nóc nhà; địch dùng pháo 130mm bắn vào thị xã Tây Ninh, Châu Đốc, thị trấn Mộc Hóa, Hồng Ngự làm chết và bị thương trên 100 dân.

Sau hàng trăm năm (nhất là đầu thế kỷ XVIII), ba nước Việt Nam – Cam-pu-chia – Lào đoàn kết chống quân ngoại xâm đã giữ và giành được độc lập cho mỗi nước. Vậy mà đến thời kỳ này, tập đoàn Pôn Pốt nắm quyền lãnh đạo đất nước Cam-pu-chia đã phản bội dân tộc ba nước, gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, đã làm phá vỡ tình đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương.

Qua những sự kiện nói trên, chúng ta thấy rõ bọn Pôn Pốt là một bọn mang tư tưởng dân tộc cực đoan, không tưởng, mang nặng hận hù dân tộc. Chúng dùng một chế độ diệt chủng kỳ quặc, chưa có tiền lệ trong lịch sử để “xây dựng” đất nước Cam-pu-chia, bắt dân làm việc hết sức cực nhọc, trong những điều kiện sống tồi tệ như bầy nô lệ để mạnh hơn Việt Nam. Chúng còn hy vọng hão huyền dựa vào các thế lực thù địch với Việt Nam, cùng chung mục đích làm cho Việt Nam chảy máu, suy yếu không gượng dậy được sau 30 năm chiến tranh. Trong chưa đầy 5 năm mà chúng hy vọng dựa vào vật chất, tiền của của nước ngoài, xây dựng một quân đội mạnh có hơn 24 sư đoàn với đủ các quân binh chủng, cơ sở bảo đảm để xâm lược Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #84 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:13:17 PM »

*
*   *

Thời gian này ta đã thu thập đủ tình hình, đồng chí Nguyễn Khánh – Chánh Văn phòng Trung ương Đảng đã triệu tập Cục Tác chiến và Ban Đối ngoại Trung ương sang họp để chuẩn bị báo cáo Trung ương Đảng.

Tôi là Cục phó lúc này chuyên trách về Cam-pu-chia thay mặt Cục Tác chiến sang báo cáo, đi cùng có đồng chí Trần Hiệu – Trưởng phòng K, đồng chí Phi Long – Trưởng phòng Chiến trường. Bên Ban Đối ngoại Trung ương Đảng do đồng chí Nguyễn Hữu Tài – Trưởng ban sang báo cáo. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo tình hình thật cặn kẽ, đồng chí Khánh đã nhất trí với chúng tôi là đã đủ cơ sở để kết luận bè lũ Pôn Pốt là kẻ thù gây chiến tranh xâm lược Việt Nam, đồng thời chúng đã phản bội nhân dân Cam-pu-chia gây nên một họa diệt chủng chưa từng thấy đối với dân tộc mình.

Từ đầu năm đến giữa năm 1978, trên cơ sở tình hình thực tế trên chiến trường có thêm thông báo tình hình Cam-pu-chia do đồng chí Hun Xen cung cấp, Thường trực Quân ủy Trung ương đã báo cáo lên Bộ Chính trị về tình hình biên giới Tây Nam, xác định Pôn Pốt là kẻ thù gây chiến và đề nghị chủ trương phương hướng giải quyết, đánh đấu một bước mới trong sự lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh biên giới Tây Nam.

Lúc này ta đã có thể kết luận rằng Pôn Pốt đã biến chất, phản bội nhân dân Cam-pu-chia, thi hành chế độ diệt chủng ở trong nước, đồng thời dựa vào các lực lượng thù địch nước ngoài, gây chiến với Việt Nam hòng làm cho ta tiếp tục chảy máu, suy yếu, còn hy vọng chiếm Sài Gòn với lòng hận thù dân tộc nặng nề. Bọn diệt chủng gây chiến Pôn Pốt vừa là kẻ thù của nhân dân Cam-pu-chia vừa là kẻ thù của nhân dân Việt Nam. Nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam của ta có quan hệ hữu cơ với nghĩa vụ giúp bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh dân tộc, làm lại cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đã bị bọn Pôn Pốt phải bội. Chừng nào chưa đánh đổ được bọn diệt chủng Pôn Pốt thì biên giới Tây Nam của ta vẫn chưa có thể ổn định được.

Địch đã dùng quân sự đánh sang lãnh thổ của ta, gây cho quân dân ta tổn thất rất lớn, nhân dân ta không thể chịu đựng được nữa, nhân dân Cam-pu-chia đã đứng trên bờ vực của họa diệt chủng, đang tha thiết kêu cứu, tình thế buộc ta phải giúp bạn, bảo vệ mình, diệt trừ tận gốc bè lũ gây chiến và gây họa diệt chủng.

Để bảo đảm chắc thắng cả quân sự và chính trị, cả trước mắt và lâu dài, Đảng và Chính phủ ta phải chuẩn bị thật khẩn trương về ba mặt chủ yếu nhất: chuẩn bị lực lượng ta, bảo đảm chắc thắng về quân sự; giúp bạn chuẩn bị lực lượng bảo đảm chắc thắng về chính trị; chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đề phòng tình huống bất trắc bảo đảm chắc thắng trước mắt và lâu dài.

Đặc biệt nhất là chuẩn bị lực lượng cho bạn. Năm 1977, nhiều cán bộ đảng viên chân chính ở Cam-pu-chia ly khai. Ở Khu Đông có nhóm đồng chí Hun Xen, ở Đông Bắc có nhóm đồng chí Bu Thoong, Soi Keo. Phía bạn đã có thư đề nghị ta giúp.

Từ tháng 4 năm 1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã quyết định thành lập các tổ chức giúp cho bạn tập hợp cán bộ, đảng viên chân chính để bạn tự tổ chức bộ phận lãnh đạo, xây dựng lực lượng, ngọn cờ và căn cứ đứng chân ban đầu làm công tác chuẩn bị liên minh chiến đấu với ta.

Tháng 5 năm 1978, Quân ủy Trung ương đã giao nhiệm vụ cho Quân khu 7 giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang. Bạn đã tập hợp các cán bộ chân chính cách mạng lập ra một đơn vị đầu tiên 125 người, bạn đặt tên là “Lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Cam-pu-chia”, sau chuyển thành khung huấn luyện cán bộ do đồng chí Hun Xen đứng đầu ban chỉ đạo. Trong số này có nhiều đồng chí tiến bộ rất nhanh. Bạn đến các trại tỵ nạn người Khơ Me chọn các thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, có thù sâu với Pôn Pốt đưa về tổ chức lực lượng vũ trang có chất lượng tốt. Quân khu 7 tổ chức ra một khung cán bộ huấn luyện do đồng chí Ba Cung phụ trách. Đồng chí Ba Cung đã từng giúp bạn ở cơ sở, biết tiếng Khơ Me nên phối hợp ăn ý với bạn. Chủ yếu ta lo phần quân sự. Về chính trị thì hết sức phát huy bạn, có bài đồng chí Hun Xen trực tiếp soạn và lên lớp, cán bộ chiến sĩ bạn trực tiếp thu thanh. Khi lực lượng phát triển đông, quy mô hơn ở Thủ Đức, Long Giao liên tục tổ chức nhiều khóa huấn luyện ở đấy. Đến tháng 12 năm 1978, với sự giúp đỡ tận tình của Quân khu 7, bạn đã xây dựng được 21 tiểu đoàn, 5 đại đội và 69 đội vũ trang tuyên truyền… coi như lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của chính quyền mới khôi phục.

Ít lâu sau nhóm các đồng chí Hêng Xom Rin, Chia Xim, Úc Ban Sươn sang Việt Nam. Lúc này số cán bộ đảng viên chân chính của bạn đã khá động, đã biết được tin tức của nhóm đồng chí Sại Phu Thoong ở Cô Công, Phía bạn có năm nhóm gồm: nhóm ly khai, nhóm Ít-xa-rắc, nhóm đảng viên Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia cũ, nhóm Đông Bắc và nhóm Cô Công, tất cả đã được 60 đảng viên. Các đồng chí họp hội nghị trù bị lập ra Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước và bầu đồng chí Hêng Xom Rin làm chủ tịch, sau đổi thành Mặt trận đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một thời gian sau, bạn họp tất cả đảng viên, chỉ thiếu nhóm Cô Công. Hội nghị hoàn toàn nhất trí khôi phục lại Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia và tổ chức ba chi bộ đầu tiên kể cả nhóm Cô Công, hoạt động theo cương lĩnh đường lối Đảng Nhân dân cách mạng Cam-pu-chia.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #85 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:13:39 PM »

*
*   *

Cuối năm 1978, căn cứ Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 của Đảng ngày 27 tháng 7 năm 1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Đảng ta đã có chủ trương kiên quyết bảo vệ biên giới Tây Nam, giúp nhân dân bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Từ tháng 6 đến tháng 9, ngay trong mùa mưa, Bộ quyết định tổ chức chiến dịch phản công lần thứ hai. Chiến dịch này do Bộ Tổng Tham mưu, trực tiếp là đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến báo cáo lên, được Bộ duyệt.

Tình hình Cam-pu-chia lúc này có sự diễn biến mới. Do chính sách diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt, các lực lượng chân chính và nhân dân Cam-pu-chia đã nổi dậy mạnh mẽ chống lại chúng. Mặc dù bị khủng bố, đàn áp dã man nhưng các cuộc nổi dậy vẫn liên tiếp diễn ra. Đặc biệt từ khi lực lượng Pôn Pốt tập trung chủ yếu xâm lược Việt Nam thì các cuộc nổi dậy phát triển rộng và quy mô ngày càng lớn. Ngày 25 tháng 5 năm 1978, nhiều đơn vị của công nhân cao su, nông dân và một số đơn vị thuộc quân khu 203 (khu Đông) đã nổi dậy chống lại chúng. Pôn Pốt phải đưa bốn sư đoàn, trong đó có hai sư đoàn điều từ biên giới về để đàn áp.

Nắm vững thời cơ đó, ta mở chiến dịch mùa mưa nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực quan trọng của địch, giúp đỡ lực lượng cách mạng Cam-pu-chia phát triển, giúp bạn mở rộng địa bàn làm căn cứ cách mạng, đồng thời làm bàn đạp trong cuộc phản công sắp tới.

Lực lượng chiến dịch gồm Quân đoàn 4, Quân đoàn 2, các sư đoàn của Quân khu 7, Quân khu 5, trên hướng đường số 1, số 7, vùng biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài.

Chỉ huy chiến dịch này do tiền phương của Bộ. Đồng chí Lê Đức Anh – Phó Tổng tham mưu trưởng (ở trong Nam mới ra) làm Chỉ huy trưởng. Bộ Tổng Tham mưu có đồng chí Lê Ngọc Hiền, Tổng cục Chính trị có đồng chí Lê Hai. Tôi phụ trách nhóm cán bộ tham mưu.

Về lực lượng ta, các quân đoàn mới khôi phục chưa đầy đủ biên chế quân số, các sư đoàn của Quân khu 7 chuyển từ đơn vị sản xuất khôi phục biên chế và huấn luyện bổ sung. Khu vực tác chiến có chính diện rộng, địch thường đánh nhỏ lẻ thâm nhập vào nơi cơ hở đánh vào hậu phương làm cho các quân đoàn phải rải quân ra để giữ, bảo vệ dân; còn ta chỉ cần tập trung tiến công không tạo được lực lượng mạnh và tiến sâu để củng cố bàn đạp do đó kết quả diệt địch ít và mở rộng địa bàn rất chậm. Sau khi bàn bạc với tham mưu Quân khu 7 nhanh chóng kiện toàn các sư đoàn để đưa vào chiến đấu, tôi chuẩn bị một kế hoạch điều chỉnh bố trí đưa các sư đoàn mới sức cơ động tiến công yếu hơn vào phòng ngự, chuyển các quân đoàn nhất là Quân đoàn 3 sang thế cơ động tiến công phần lớn đứng luôn bên đất bạn. Tôi báo cáo với đồng chí Lê Đức Anh, đồng chí rất vui và chấp nhận ngay, khen tôi có biện pháp tốt, giải quyết được tốt vấn đề mà đồng chí đang muốn thực hiện sớm. Vì Quân đoàn 4 ở xa sở chỉ huy, tôi phải dùng trực thăng đi liên lạc với Quân đoàn để phổ biến kế hoạch mới.

Chiến dịch tiến triển tốt, ta loại khỏi chiến đấu sáu sư đoàn chủ lực địch, đánh thiệt hại bốn sư đoàn khác. Ngoài ra, chúng thanh trừng nội bộ hai ba vạn tên, làm cho ba sư đoàn khác bị tiêu hao nặng, lực lượng địch bị giảm sút nặng.

Đặc biệt, ta đã chiếm giữ các địa bàn có lợi, vừa đánh địch vừa hỗ trợ kịp thời cho các lực lượng ly khai, nổi dậy của các đơn vị thuộc quân khu 203 và nhân dân các tỉnh thuộc quân khu Đông và Đông Bắc. Ta đã tổ chức các đội công tác tuyên truyền vận động nhân dân, bắt liên lạc, móc nói với các lực lượng ly khai, giúp bạn tập hợp lại, nuôi dưỡng, tổ chức huấn luyện, đào tạo tập hợp lại, nuôi dưỡng, tổ chức huấn luyện, đào tạo cán bộ giúp bạn xây dựng lực lượng, xây dựng bộ máy lãnh đạo, chính quyền đoàn thể và lực lượng vũ trang; đồng thời phối hợp với lực lượng nổi dậy mở đợ tuyên truyền vạch trần bản chất phản động và tội ác của Pôn Pốt làm cho chúng càng bị cô lập. Bạn đã có một vùng giải phóng, làm căn cứ đứng chân bước đầu, sau này ngày 2 tháng 12 năm 1978, bạn đã tổ chức mít tinh ra mắt Ủy ban Trung ương Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, phổ biến bảy chính sách và tổ chức diễu binh, nhân dân rất phấn khởi.

Ta đã tranh thủ củng cố, kiện toàn lực lượng, xây dựng thêm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, phát triển thêm dân quân, ba thứ quân ở biên giới được hình thành. Hậu phương đã được động viên (bộ phận), có các phong trào quần chúng hỗ trợ cho phía trước.

Kết quả đợt tiến công mùa mưa, ta đã phối hợp quân sự, chính trị, binh vận và vận động nhân dân Cam-pu-chia, được các lực lượng chân chính và nhân dân bạn đồng tình ủng hộ, giành được thắng lợi to lớn về quân sự và chính trị. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng chủ lực địch. Điều quan trọng là bước đầu ta đã giúp bạn hình thành và phát triển lực lượng cách mạng Cam-pu-chia đứng lên chống lại Pôn Pốt.

Địch thất bại cả về quân sự, chính trị, ngoại giao. Lực lượng vũ trang bị tổn thất nặng, chúng đã huy động tổng lực 19 trong số 23 sư đoàn nhưng đã bị mất một phần ba tổng số sư đoàn, một phần ba sinh lực chủ yếu. Quân khu 203 bị tan rã hoàn toàn, số còn lại bị giảm sút sức chiến đấu, tinh thần hoang mang, nội bộ mâu thuẫn, khủng bố, đàn áp tràn lan.

Đến cuối tháng 8, chiến dịch đã cơ bản đạt yêu cầu, đồng chí Lê Đức Anh chỉ thị cho tôi giao lại cho anh Mật làm tổng kết, còn tôi về ngay Sài Gòn gặp đồng chí Lê Trọng Tấn – Tổng Tham mưu trưởng để nhận nhiệm vụ mới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #86 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:07 PM »

*
*   *

Tôi được đồng chí Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 đang ở Phú Bài, chuẩn bị cho Quân đoàn về mọi mặt để sẵn sàng cơ động đánh lớn. Tôi bay về Hà Nội và chuẩn bị vào ngay Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ.

Sau này tôi mới được biết thay đổi nhiệm vụ đột ngột này nằm trong ý đồ cấp trên chuẩn bị cho một cuộc tiến công nhằm giải quyết chiến tranh biên giới Tây Nam.

Thực hiện ý định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu do đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến đảm nhiệm đã nhiều lần nghiên cứu phương án tác chiến chiến lược. Đồng chí Hiền đã hỏi ý kiến của bạn, báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn. Trong quá trình thảo luận có xem xét nhiều phương án, cuối cùng đi đến quyết định phương án giúp bạn đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt, giải phóng Cam-pu-chia, kết thúc chiến tranh biên giới Tây Nam, giúp bạn hồi sinh dân tộc, làm lại cuộc cách mạng bị Pôn Pốt phản bội.

Sau khi ta và bạn đã chuẩn bị đầy đủ những yếu tố quan trọng bảo đảm đánh chắc thắng, về ngoại giao, ta đã có phái đoàn đi các nước Đông Nam Á vạch trần tội ác của Pôn Pốt, nói rõ thiện chí của ta, tranh thủ sự đồng tình của một số nước ở Đông Nam Á.

Ngày 7 và 8 tháng 12 năm 1978, Bộ Chính trị thông qua quyết tâm và kế hoạch phản công và tiến công lần cuối. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho các quân khu phía Nam giúp bạn ở các khu vực và xác định, lực lượng quân tình nguyện do bạn yêu cầu bao nhiêu thì để bấy nhiên, đến khi hoàn thành nhiệm vụ thì rút quân về. Chủ tương lên minh ta với bạn, thời gian đầu lực lượng của ta và của bạn đều quyết định, về lâu dài, lực lượng bạn là quyết định cuối cùng. Bộ Chính trị giao cho Bộ Tổng Tư lệnh thực hiện, không quyết định thời gian, để thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho chắc thắng.

Được biết quyết tâm và kế hoạch chiến lược bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biên giới Tây Nam và giúp bạn Cam-pu-chia, cán bộ cơ quan nhất là Cục Tác chiến rất vui mừng phấn khởi, thỏa lòng mong ước bấy lâu này, vì cơ quan chúng tôi bám sát chiến trường đã nung nấu căm thù trước thái độ giả dối, hai mặt và hành động vô nhân đạo mất hết tính người của bọn Pôn Pốt đối với nhân dân ta và cả với nhân dân Cam-pu-chia, với chính đồng bào của chúng. Đã có lúc, để tỏ ró thái độ của cơ quan đối với bọn Pôn Pốt, chúng tôi đã dùng “màu xanh” để vẽ hành động của chúng lên bản đồ báo cáo lên cấp trên, nhưng Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu chưa cho phép vì chưa có kết luận của Trung ương Đảng. Qua đó, chúng tôi thấy rõ trước một sự kiện hết sức phức tạp nhất là về chính trị, ngoại giao, Đảng ta đã hết sức thận trọng, kiên trì tìm mọi biện pháp cứu vãn hòa bình; khi đã phải dùng biện pháp quân sự thì có tầm nhìn chiến lược sâu sắc và toàn diện, đề ra những chủ trương sáng suốt, sắc bén, dựa vào lòng tin vững chắc chính nghĩa sẽ thắng để kiên quyết vượt qua vô vàn khó khăn trong nước và trên thế giới, quyết thực hiện thắng lợi một sự nghiệp cao cả. Các cán bộ trong Cục Tác chiến được phân công đều hăng hái lên đường thực hiện nhiệm vụ theo chức trách của mình, mặc dù chưa được một ngày nghỉ ngơi sau 30 năm chiến tranh liên tục.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #87 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:40 PM »

*
*   *

Tôi về làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Lúc này Bộ Tư lệnh có: Tư lệnh là đồng chí Nguyễn Hữu An; Chính ủy là đồng chí Lê Linh; Phó Chính ủy là đồng chí Đoàn Chương; Tham mưu phó là đồng chí Thái Cán; quyền chủ nhiệm chính trị là đồng chí Lê Văn Dương.

Tôi về tập trung lo: Hoàn chỉnh biên chế tổ chức, huấn luyện cho Sư đoàn 325 mới chuyển từ loại 3 lên loại 1. Tổ chức Sư đoàn 306 mới. Kiện toàn các đơn vị binh chủng. Tổ chức diễn tập thực binh sư đoàn chiến đấu hiệp đồng binh chủng có tăng, pháo để nâng trình độ chiến đấu và để bạn Lào tham quan rút kinh nghiệm theo chỉ thị của Bộ.

Đầu trung tuần tháng 12 năm 1978, Quân đoàn 2 được lệnh cơ động vào chiến đấu ở chiến trường Tây Nam, ngày 30 tháng 12 phải có mặt.

Ngày 16 tháng 12 năm 1978, đoàn đi nhận nhiệm vụ và chuẩn bị chiến trường do đồng chí Nguyễn Hữu An, đồng chí Lê Linh và đồng chí Thái Cán chỉ huy lên đường.

Tôi cùng đồng chí Đoàn Chương, đồng chí Lê Văn Dương chỉ huy hành quân.

Quân đoàn đã có kinh nghiệm cơ động thần tốc từ Đà Nẵng vào tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và hành quân trở ra Phú Bài. Lần này lực lượng xe pháo, xe tăng thiết giáp tăng nhiều, đường xa hơn nhiều, đường xấu, thời gian rất gấp, đi bằng nhiều phương tiện. Chúng tôi phải chia thành từng đoàn có lãnh đạo chỉ huy chặt chẽ bảo đảm bí mật, an toàn, đến nơi chiến đấu được ngay.

Đơn vị cần đến nơi chiến đấu ngay là Sư đoàn 304 với toàn bộ xe pháo, cùng bộ phận nặng của Quân đoàn đi đường bộ thì đã có xe của Bộ tăng cường. Đồng chí Ba – Sư đoàn trưởng Sư đoàn 571 đã đến Quân đoàn nhận kế hoạch bảo đảm.

Bộ phận nhẹ của Quân đoàn cùng Sư đoàn 325 (trừ đơn vị xe pháo, đơn vị hỏa lực) đi máy bay. Tôi đã cùng đi với đồng chí Chính – Sư đoàn phó đến Bộ Tư lệnh Không quân và Hàng không hiệp đồng đủ các loại máy ba TU134, IL18, DC6, DC4, C130, An24 tính ra đến hàng trăm lần chiếc. Khi đi hiệp đồng ở sân bay Đà Nẵng, xe đồng chí Chính đâm vào xe tôi, tôi bị ngất 20 phút, đồng chí Chính bị thương ở trán. Anh em băng bó xong lại tiếp tục đi hiệp đồng với bạn.

Các đơn vị tăng, pháo, cao xạ đi theo đường sắt và đường biển bằng LST, LSM.

Tất cả chia làm 11 khối có chỉ huy lãnh đạo chặt chẽ.

Khó khăn nhất là xe tăng thiết giáp, vì phải chạy bộ vào Đà Nẵng để xuống tàu, có cầu Hói Rui không bảo đảm trọng tải phải bắc cầu công binh, chúng tôi phải trực tiếp kiểm tra, dùng lái giỏi để đưa qua suốt cả đêm, bảo đảm an toàn. Xuống tàu cũng phải cần thận mới bảo đảm.

Xong tôi mới đi máy bay đến trước kiểm tra tiền trạm các khối, đón bộ đội vào vị trí tập kết ở Tri Tôn, Bảy Núi, kiểm tra đường cho xe tăng thiết giáp từ bến đổ bộ đến vị trí tập kết.

Để giữ bí mật hướng hành quân, chúng tôi cho một đài đi ngược ra Bắc hàng ngày điện báo cáo về Bộ. Tàu chở tăng thiết giáp, khi khởi hành từ Đà Nẵng đi ngược ra Bắc một đoạn, ra xa mới vòng trở vào Nam.

Quân đoàn đưa bộ đội đến đủ xe pháo, tăng thiết giáp đúng thời hạn, an toàn, bí mật được Bộ khen.

Đồng thời chúng tôi được thông báo làn gày 23 tháng 12 năm 1978, địch dùng 10 sư đoàn tiến công trên tuyến biên giới Quân khu 7 và Quân khu 9, nơi ta đang tập trung lực lượng của Bộ và Quân khu. Trong đó chúng cho ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi nhằm chiếm Tây Ninh, hai sư đoàn đánh sang Hồng Ngự, Đồng Tháp, hai sư đoàn đánh vào Bảy Núi – An Giang, một sư đoàn đánh vào Trà Phô, Trà Tiên, hai sư đoàn đánh vào Hà Tiên – Kiên Giang.

Thừa cơ địch tập trung lực lượng tiến công, Bộ ra lệnh lập tức phản công chuyển sang tiến công. Tiền phương Bộ Quốc phòng ở phía Nam chỉ huy chung do đồng chí Lê Trọng Tấn – Tổng Tham mưu trưởng làm Chỉ huy trưởng, đồng chí Lê Đức Anh – Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách hướng tây nam; đồng chí Lê Ngọc Hiền – Phó Tổng tham mưu trưởng, đồng chí Lê Hai – tiền phương Tổng cục Chính trị; tiền phương Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật – hai tổng cục này có trách nhiệm bảo đảm cho chiến dịch.

Ngày 23 tháng 12 năm 1978, ta mở đầu cuộc phản công bất ngờ, mãnh liệt, thần tốc trên toàn tuyến biên giới Tây Nam. Lực ượng vũ trang của bạn phân về các quân đoàn, sư đoàn của ta để phối hợp chiến đấu, công tác.

Trên hướng Quân đoàn 4, Sư đoàn 341 bao vây tiêu diệt quân địch ở Bến Sỏi. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 5 phát triển theo đường quốc lộ 1 đánh chiếm thị xã Xoài Riêng.

Ngày 24 tháng 12, các đơn vị Quân khu 7 đánh chiếm trục lộ 13, phát triển hướng Kra-tiê; ngày 30 tháng 12 giải phóng thị xã.

Ngày 24 tháng 12, Quân đoàn 3 đánh chiếm các bàn đạp theo trục đường 7, chiếm Suông, Chúp, phát triển hướng Kom-pông Chàm.

Ngày 25 tháng 12 lực lượng Quân khu 5 đánh chiếm bàn đạp đường 19, phát triển hướng Stung Treng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #88 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:14:58 PM »

*
*   *

Lúc Quân đoàn 2 vào tham chiến thì các hướng khác đã bắt đầu phản công.

Ngày 31 tháng 12, Quân đoàn 2 phối hợp với Quân khu 9 đánh địch lấn chiếm kênh Vĩnh Tế. Chúng chiếm mất khu Núi Tượng là tuyến xuất phát tiến công Quân đoàn. Đến ngày 1 tháng 1 năm 1979, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 đã đánh đuổi hai trung đoàn địch bật khỏi kênh Vĩnh Tế, sau một ngày đêm chiến đấu quyết liệt, Lữ đoàn công binh 219 bám theo, khi còn khói lửa đã dũng cảm triển khai làm cầu qua kênh Vĩnh Tế. Trong khi bộ binh còn tiếp tục chiến đấu, máy bay A37 của ta đánh phá các sở chỉ huy của quân khu Đông Nam của sư đoàn 250 và 210 của địch.

Sáng ngày 2 tháng 1 năm 1979, sau khi Lữ đoàn 219 công binh bắc cầu xong, các đơn vị bộ binh, pháo binh, xe tăng đã vào vị trí xuất phát tiến công ở Núi Tượng nam kênh Vĩnh Tế, Sở chỉ huy vào vị trí ở xã Lương Phi thì Quân đoàn bắt đầu nổ súng. Theo kế hoạch đã định, dưới sự chi viện mạnh mẽ của pháo binh, xe tăng thiết giáp cùng bộ binh ào ạt vượt kênh Vĩnh Tế tiến công mãnh liệt vào các cụm địch, phối hợp cùng Quân khu 9 diệt địch. Tôi ngồi ở Sở chỉ huy trên gò cao nhìn rất rõ các mũi tiến quân phối hợp với pháo binh, xe tăng thiết giáp rất nhịp nhàng, trên trời thỉnh thoảng cường kích của ta gầm rút bay qua, tạo cho tôi một cảm tưởng khó tả, cảm nhận sâu sắc sự lớn mạnh của quân đội ta. Đến 13 giờ ngày 3 tháng 1, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn 250, đánh thiệt hại sư đoàn 210, 230 của địch và một số địch còn lại phảo tháo chạy vào rừng, quân khu Đông Nam rút chạy về thị xã Tà Keo.

Chúng tôi được thông báo, đến ngày 2 tháng 1 năm 1979, sau 11 ngày phản công, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu và đánh thiệt hại nặng các sư đoàn tuyến trước, đánh vỡ tuyến phòng ngự chiến lược của địch, ba cụm địch mỗi cụm năm sư đoàn địch án ngữ các trục đường 1,2 và đường 7 bị ta tiêu diệt và làm tan rã, địch ở Kratiê và đường 19 kéo dài tháo chạy về sau. Ta và bạn phát triển nhanh, đang tiếp cận bờ đông sông Mê Kông.

Trước nguy cơ bị sụp đổ hoàn toàn, ngày 4 tháng 1, Pôn Pốt ra lệnh chuẩn bị di tản khỏi Phnôm Pênh.

Tình hình diễn biến hết sức khẩn trương và phức tạp (về ngoại giao), thể theo nguyện vọng của bạn, trên đã chỉ thị cho tiền phương Bộ Quốc phòng giúp bạn tổng tiến công giải phóng Phnôm Pênh trước ngày 8 tháng 1.

Ngày 4 tháng 1 năm 1979, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh: Ngày 6 tháng 1 bắt đầu tổng công kích.

Tôi được biết sát cạnh Quân đoàn 2, ngày 6 tháng 1, Quân đoàn 4 được Bộ tăng cường phương tiện, tiếp tục tổ chức vượt sông Niếc Lương, phát triển tiến công vào Phnôm Pênh.

Quân đoàn 2 nhận nhiệm vụ tiến công nhanh ra cảng Kom-pông Som (Xi-ha-núc-vin) tiếp sức cho Lữ đoàn 126 lính thủy đánh bộ, chậm nhất ngày 7 tháng 1 phải có mặt.

Riêng Sư đoàn 304 tăng cường pháo binh, xe tăng thiết giáp sẵn sàng cơ động đánh chiếm Phnôm Pênh sau khi Quân khi 9 chiếm được Tà Keo.

Khi nghe đồng chí Mật – Cục phó Cục Tác chiến ở Sở chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh trực tiếp chỉ huy Quân khu 9 và Quân đoàn 2 phổ biến kế hoạch Quân đoàn 2 đi theo đường Dốc Mía – Chhuc, Kăm-pốt, tôi đã đề xuất nên đi đường Kom-pông Trạch và cho thêm thời gian vì sợ không kịp tiếp sức cho bạn. Đồng chí Mật khẳng định đường Dốc Mía tốt, tôi không tin vì trên bản đồ chỉ có đường đất, nhưng đồng chí Nguyễn Hữu An không đặt thành vấn đề, chấp nhận như vậy. Tôi vẫn băn khoăn nên những ngày tiếp sau trong lúc lo hướng tôi đảm nhiệm chỉ huy Sư đoàn 304, tôi thường theo dõi tình hình phát triển chiến đấu của Quân đoàn.

Sau khi Đảng ủy Quân đoàn bàn, Tư lệnh Quân đoàn đã chuyển Trung đoàn 111 Sư đoàn 325 sang Sư đoàn 304 và chuyển Trung đoàn 24 Sư đoàn 304 sang Sư đoàn 325 để điều hòa chất lượng và phân công tôi cùng đồng chí Đoàn Chương đi chỉ huy Sư đoàn 304 tăng cường.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9404


Lính của PTL


« Trả lời #89 vào lúc: 03 Tháng Mười Hai, 2017, 10:15:19 PM »

Tôi nhận thấy lần này có sự lặp lại của lịch sử: Vì trước đây 5 năm cánh quân chúng tôi đảm nhiệm gồm đúng các thành phần đã thọc sâu vào chiếm “dinh Độc lập” đầu tiên ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chúng tôi đã dùng ý tưởng đó, khi xuất quân truyền đạt cho bộ đội: “Chúng ta sẽ lặp lại lịch sử, sẽ vào Phnôm Pênh đầu tiên!”, anh em rất hồ hơi nô nức hẳn lên.

Mất một ngày đêm, chúng tôi mới tập hợp lực lượng nhất là chuyển đội hình xe tăng, pháo nặng qua mấy đoạn đường đất vào vị trí xuất phát ở đường ngang Ta Ni - Kom-pông Chư Rây (nối đường 2 với đường 3), kéo theo điện thoại liên lạc thẳng đến Sở chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh phụ trách hướng Quân khu 9 và Quân đoàn 2). Lúc này, ta cũng đã nhận đủ xe ca chở quân huy động của dân ở An Giang đưa sang. Tại đây chúng tôi tiếp tục làm công tác chuẩn bị, động viên bộ đội phát huy truyền thống của đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Gần trưa ngày 7 tháng 1, tôi thấy đã đến giờ xuất kích, tôi trao đổi thống nhất với đồng chí Đoàn Chương gọi điện thoại trực tiếp với đồng chí Lê Đức Anh:

- Tôi xin xuất kích và cắt liên lạc bằng điện thoại.

Đồng chí Lê Đức Anh đồng ý. Tôi bắt đầu chuyển bộ đội ra hướng đường 2 theo đội hình thọc sâu. Từ đây tôi chỉ còn chiếc máy thu thanh mang theo người để biết tình hình diễn biến trên toàn mặt trận nhanh nhất: ngày nào, giờ nào giải phóng ở đâu đều biết hết, duy chỉ có Kompông Som vẫn chưa có tin. Như vậy đúng là điều tôi đang lo đã xảy ra.

Đến sẩm tối, đường 2 vẫn kẹt, tôi đang suy tính tìm đường tránh để vượt lên thì nghe tin Phnôm Pênh đã giải phóng. Tôi hiểu ngay là lần này mình bị chậm chân hơn Quân đoàn 4 rồi, lịch sử bị đảo ngược cũng phải thôi! (Lần trước Quân đoàn 2 đã giành vinh dự đáng được hưởng của Quân đoàn 4 rồi).

Hôm sau, chúng tôi được lệnh giúp bạn kiểm soát khu mới giải phóng. Trong lúc chưa biết chắc tình hình của Quân đoàn thì hồi 10 giờ sáng có một trực thăng đổ xuống hồi ruộng khô gần nơi đóng quân của đơn vị. Khi biết là máy bay của ta, tôi đã đón, khách đến là các đồng chí Phạm Công Lý và Nguyễn Hoàng Vị - hai trợ lý Cục Tác chiến rất năng nổ, tháo vát hiện đang làm nhiệm vụ ở sở chỉ huy của đồng chí Lê Đức Anh. Gặp cán bộ cùng cơ quan tại chiến trường, tôi rất vui, tay bắt mặt mừng. Như biết lòng mong mỏi của tôi, các đồng chí hỏi ngay:

- Chúng tôi xuống Quân đoàn nắm tình hình, ghé xuống đây cho anh biết tin, hiện Quân đoàn bị chậm ở đoạn đường đất đang còn đánh địch ở Chhuc. Hôm nay đã là ngày 8 tháng 1 năm 1979.

Tình hình đã rõ, Quân đoàn ta chưa hoàn thành nhiệm vụ đến kịp tiếp sức cho bạn ở Kom-pông Som. Tôi lo lắng vì Quân đoàn đến chậm không những bạn đang gặp khó khăn mà hơn nữa chậm chiếm cảng là chưa khóa được đường rút và đường tăng viện dự kiến của địch. Tôi bàn với anh Đoàn Chương để tôi lên Sở chỉ huy xin cho đổi nhiệm vụ, chuyển sang đánh Kom-pông Som theo đường Kom-pông Trạch để hoàn thành nhiệm vụ của Quân đoàn.

Sẩm tối đến Sở chỉ huy, đồng chí Mật cho biết đồng chí Lê Đức Anh ra Phú Quốc huy động lực lượng lên tiếp ứng cho Kom-pông Som, đồng chí Mật không dám thay đổi nhiệm vụ của Sư đoàn 304. Tôi nghĩ rằng Lữ đoàn 126 ở Kom-pông Som đang gặp khó khăn, đồng chí Lê Đức Anh phải trực tiếp đi huy động lực lượng là chuyện khá nghiêm trọng, do đó tôi đề nghị đồng chí Mật điện báo cáo đề nghị đồng chí Mật điện báo cáo đề nghị của tôi lên đồng chí Lê Đức Anh, tôi sẽ chờ. Vì dùng điện mật bằng vô tuyến điện, nên đến sáng hôm sau (ngày 9 tháng 1) mới được điện đồng chí Lê Đức Anh đồng ý.

Tôi vội về ngay. Ở nhà, đơn vị đã chuẩn bị sẵn sàng. Trưa tôi về là lệnh xuất quân ngay, chỉ chỉnh lại đội hình bộ binh với xe M113 đi trước, pháo nặng và tăng đi sau. Tôi đi cùng Trung đoàn 66 đi đầu hàng quân.

Dọc đường không có trở ngại gì lớn. Tối thì đến gần thị xã Kăm-pốt, tôi lên quan sát thì thấy có đốt lửa, cho trinh sát bí mật vào gần thì biết là quân ta, lên hỏi mới biết là Quân đoàn còn nghỉ ở đây. Tôi báo cáo đồng chí Tư lệnh và đề nghị tôi tiếp tục đi. Đồng chí Tư lệnh đồng ý.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM