Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Sáu, 2020, 05:10:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Quảng Ninh – Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)  (Đọc 14146 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2017, 10:17:40 pm »

Về giao thông vận tải, trước đây, nhiều địa phương cách sông nhưng không có bến để xe cơ giới vào như khu Hà Nam (Hưng Yên), huyện Cẩm Phả. Đường bộ ít và chật hẹp, nhiều vùng xe cơ giới và xe cải tiến không đến được. Phương tiện vận tải cũng thiếu, toàn tỉnh chỉ có 4 tàu cũ, 8 phà chủ yếu là kéo tay và một số ô tô chở khách. Tình hình trên đã hạn chế giao lưu kinh tế, văn hóa, kìm hãm sự phát triển nhiều mặt của nhân dân các vùng trong tỉnh.

Trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế, đến 1968 toàn tỉnh đã làm 117 km đường mới, nâng cấp, khôi phục, rải nhựa hàng trăm ki-lô-mét đường khác, làm mới và mở rộng 2.570 cống các loại, 64 đường ngầm và 11 bến phà. Riêng các huyện, thị tự làm được 24km đường mới, 25km đường ngầm, 3 bến phà, 24 cầu các loại. Cuối năm 1968, tỉnh hoàn thành tuyến đường chiến lược Hữu Nghị I và tu sửa lại đường 18B.

Phương tiện vận tải đã có thêm hàng chục ca nô và hàng chục phà các loại, phần lớn là ca nô vỏ sắt, có sức kéo lớn, phục vụ các bến phà. Toàn tỉnh có hàng chục tàu thủy, xà lan, gần một trăm xe ô tô vận tải hàng hóa, 10 tàu thủy với 1.500 ghế phục vụ bốn luồng trong tỉnh và một luồng liên tỉnh, 50 ô tô chở khác với trên 2.000 ghế phục vụ sự đi lại của nhân dân trền nhiều luồng dài trong tỉnh và liên tỉnh. Đã có xe khách phục vụ tất cả 13 huyện, thị trong tỉnh. Nhờ phát triển phương tiện thủy, bộ và mở mang, nâng cấp đường sá, Quảng Ninh đã vận chuyển 4.152.886 tấn hàng, trong đó có 23.300 tấn hàng phục vụ bộ đội hải đảo và 6.000 tấn hàng cho Quân khu 4.

Trên đà thắng lợi của quân và dân Quảng Ninh, để tạo điều kiện thúc đẩy ngành than có bước phát triển mới, ngày 10 tháng 10 năm 1968, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về tận mỏ mở hội nghị dân chủ ngành than, cùng với đại diện công nhân mỏ tìm cách đẩy mạnh sản xuất, sửa chữa khuyết điểm, khắc phục những mặt yếu, điểm yếu.



Năm 1968, thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng các đồng chí lãnh đạo Chính phủ và tỉnh Quảng Ninh thăm và làm việc với cán bộ, công nhân mỏ than Vàng Danh

Đây là sự quan tâm lớn của Chính phủ và của Thủ tướng đối với ngành kinh tế quan trọng của Quảng Ninh và cả nước. Hội nghị đã diễn ra trong không khí thật sự dân chủ, cởi mở.

Ở miền Nam, năm 1968 sau 3 đợt tổng tiến công, ta đã tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực địch, phá hủy nhiều vũ khí, kho tàng, phương tiện chiến tranh, giải phóng và làm chủ nhiều vùng rộng lớn.

Trên miền Bắc, từ ngày 1 tháng 4 năm 1968 đến 31 tháng 10 năm 1968, địch tập trung đánh phá Quân khu 4, nhưng đã bị thiệt hại lớn, hàng trăm máy bay bị bắn rơi.

Bị thất bại liên tiếp trên cả hai miền Nam – Bắc nước ta, trước sức ép của dư luận tiến bộ Mỹ và nhân dân thế giới, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc.

Đêm 31 tháng 10 năm 1968, phát biểu trên vô tuyến truyền hình, tổng thống Mỹ Giôn-xơn thông báo quyết định chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam trước nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới. Đúng 8 giờ ngày 1 tháng 11 năm 1968 (giờ Oa-sinh-tơn), tức 20 giờ (giờ Hà Nội) cùng ngày, quyết định này có hiệu lực.

Tuyên bố của Giôn-xơn đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ, nhưng chúng vẫn còn ngoan cố và xảo quyệt tiếp tục mưu đồ xâm chiếm Việt Nam bằng chiến lược khác...

Ngày 2 tháng 11 năm 1968, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tuyên bố: “Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc… đánh dấu một thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền”.

Ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước. Người chỉ rõ: “Chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc. Song, đó chỉ là thắng lợi bước đầu. Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng nói “hòa bình”, “thương lượng” nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng. Hơn một triệu quân Mỹ, quân ngụy và quân chư hầu còn đang hàng ngày gây ra bao tội ác dã man đối với đồng bào miền Nam ta.

Vì vậy, nhiệm vụ thiêng liêng của toàn quân, toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:04:13 pm »

Chương ba

CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG, ĐẨY MẠNH SẢN XUẤT,
NÂNG CAO SỨC MẠNH CHIẾN ĐẤU, GÓP PHẦN ĐÁNH THẮNG
GIẶC MỸ TRÊN CẢ HAI MIỀN NAM – BẮC
(1969-1972)

Tháng 1 năm 1969, Ních-xơn trúng cử tổng thống nước Mỹ, đã đề ra chiến lược toàn cầu mới gọi là “học thuyết Ních-xơn”, thực chất là điều chỉnh chiến lược “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giôn-xơn thành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Trong thế thua, đế quốc Mỹ buộc phải “xuống thang chiến tranh” rút dần quân Mỹ, đồng thời tập trung lực lượng bằng các biện pháp tổng hợp quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, phản kích lại ta quyết liệt, xác lập dần thế mạnh, duy trì miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của Mỹ.

Nhận rõ bản chất ngoan cố thâm độc của đế quốc Mỹ, ngày 3 tháng 11 năm 1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước, vạch rõ dã tâm tiếp tục duy trì cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Do đó “Nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là phải nâng cao tính chất quyết chiến, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà. Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

Thực hiện lời dạy của bác, quân và dân miền Nam mở đợt tiến công mới, giáng cho Mỹ - ngụy những đòn đích đáng.

Ở miền Bắc, nhân dân và lực lượng vũ trang ta ta đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của cả nước, thu được nhiều kết quả trong nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương, tăng cường chi viện sức người, sức của cho miền Nam tiến tới giành thắng lợi to lớn hơn.

Sau khi cùng các địa phương miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968) của giặc Mỹ, quân dân Quảng Ninh khẩn trương bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Một trong những ưu tiên hàng đầu là phát triển ngành than, do đó dù bề bộn bao công việc phải tập trung giải quyết, nhưng hội nghị ngành than đã khắc phục khó khăn để tổ chức họp tại Hồng Gai, do Thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ trì. Sau hội nghị được ít lâu, ngày 15 tháng 11 năm 1968 tại Phủ Chủ tịch, đại biểu công nhân mỏ đến báo cáo với Bác và Trung ương Đảng về công việc sản xuất than. Khi đồng chí đại diện đoàn đại biểu công nhân mỏ kết thúc báo cáo, bác đã gợi ý nhiều điều quý báu, hướng cho ngành than nhanh chóng khắc phục khuyết điểm để đẩy mạnh sản xuất nhiều than hơn nữa cho Tổ quốc.

Cuối cùng, Bác căn dặn đại biểu ngành than: “Bác mong tất cả công nhân và cán bộ cố gắng hơn nữa, đẩy mạnh ngành than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp”.

Điều Bác mong cũng là nguyện vọng của đảng bộ, của quân và dân các dân tộc Quảng Ninh trong bước phát triển sắp tới.

Qua 4 năm chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ trên địa bàn tỉnh, từ ngày 5 tháng 8 năm 1964 đến khi tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, một thời kỳ không dài những thắng lợi rất vẻ vang. Đảng bộ, quân và dân Quảng Ninh vinh dự được Đảng, Nhà nước và Bác Hồ tặng thưởng huan chương Độc lập hạng nhất.

Có thắng lợi trên, trước hết là kết quả của 10 năm hòa bình (1954-1964) dưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước Quảng Ninh tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng tiềm lực chính trị, an ninh và quốc phòng, kinh tế, tạo thế và lực để tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của giặc Mỹ trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà.

Trong những năm tháng chiến đấu, Tỉnh ủy luôn chủ động tỉnh táo nắm vững và phán đoán đúng âm mưu thủ đoạn của địch, dự kiến các bước đánh phá của Mỹ tương đối sát, chủ động bố trí lực lượng đánh trả có hiệu quả. Trận đầu, đánh phá vào địa bàn Quảng Ninh, địch đánh thẳng vào căn cứ hải quân, trận địa pháo, khu trung tâm của tỉnh, sau đó địch vừa đánh vừa thăm dò và leo thang từ thấp đến cao, đánh một loạt mục tiêu đến cùng đánh các loại mục tiêu, đánh một khu vực hẹp rồi đánh loang rộng dần ra, có thời gian đánh cả đêm...

Từ năm 1964 đến năm 1968, lực lượng phòng không của Quân khu Đông Bắc trên địa bàn tỉnh có gần 3 trung đoàn, 1 đến 2 trung đoàn tên lửa và cao xạ của Bộ bảo vệ mục tiêu trọng yếu, 10 đại đội cao xạ (37mm – 57mm – 88mm), 208 khẩu 12,7mm và 217 đại liên của các khu phòng thủ bộ đội chủ lực, khoảng 1 trung đoàn cao xạ trên các tàu hải quân và bộ đội công trình.

Riêng dân quân tự vệ tỉnh có 4 đại đội cao xạ, 166 khẩu 12,7mm, hàng trăm khẩu trung liên, đại liên với 1.064 người trực chiến do xí nghiệp, nhà máy, hợp tác xã mới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:06:11 pm »

Các đơn vị bộ đội địa phương và các đơn vị cơ động của quân khu, của Bộ làm nhiệm vụ trên địa bàn tỉnh đã phát huy sức mạnh tổng hợp giữa lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ cùng chiến đấu và phục vụ chiến đấu đạt hiệu quả cao.

Toàn tỉnh, nhất là vùng trọng điểm đã bảo đảm chuyển trạng thái từ thời bình sang thời chiến, kịp thời tổ chức phòng không nhân dân và sơ tán phù hợp, duy trì nếp sống sản xuất, chiến đấu từng bước ổn định dần, giao thông vận tải được được bảo đảm tốt, kể cả lúc có tình huống địch phong tỏa ác liệt.



Lớp học sơ tán ở Cẩm Phả năm 1968

Tuy nhiên việc sơ tán cất giấu kho tàng lúc đầu chưa có kinh nghiệm và thiếu ngụy trang, địch đã đánh phá 38 kho lương thực, thực phẩm ở các thị xã, thị trấn và một số xà lan xăng dầu.

Năm 1969, vào ngày mùng một tết Nguyên đán Kỷ Dậu, Thủ tướng Phạm Văn Đồng về vui xuân, vui hội mừng công của quân dân tỉnh Quảng Ninh. Đến dự cuộc mít tinh tại thị xã Hồng Gai, Thủ tướng chuyển lời chúc tết của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đến giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Nhân dịp này Thủ tướng vui mừng chuyển đến công nhân mỏ “cờ thưởng luân lưu đơn vị thi đua khá nhất ngành than năm 1968” của Bác Hồ. Đây là lá cờ thứ hai của Bác trao tặng công nhân mỏ.

Năm 1968, ngành than hoàn thành kế hoạch trước 32 ngày và vượt 78.000 tấn. Bến Hồng Gai đưa năng suất vận chuyển từ 35 tấn lên 600 tấn, có ngày cao nhất đạt 800 tấn. Đó là thành tích của các chiến sĩ tự vệ lái tàu Phúc, Thịnh, Hội, An. Tổ cần trục số 5 của Đặng Bá Hát đưa mức rút than từ 20 xe lên đến 40 xe trong một ca và đổ 11.000 tấn vượt chỉ tiêu xí nghiệp giao.

Ngày 1 tháng 5 năm 1969, đọc báo của nhà máy cơ khí Cẩm Phả (đơn vị được giữ cờ thi đua luân lưu khá nhất ngành than năm 1968), Bác Hồ ghi ngay lời nhận xét bên lề bản báo cáo:

“Bác đã nhận được báo cáo công tác quý 1 của nhà máy. Bác rất vui lòng về những thành tích mà nhà máy và ngành than đã đạt được và mong cán bộ, công nhân cố gắng hơn nữa, phát huy những ưu điểm và sửa chữa những khuyết điểm để giành nhiều thắng lợi hơn nữa”.



Nhà máy cơ khí Cẩm Phả (Quảng Ninh) chuyển vào hang núi đảm bảo sản xuất liên tục

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã về tận nhà máy để trao lại cho công nhân và cán bộ bản báo cáo có ghi lời nhận xét của Bác. Đây là bút tích cuối cùng của Bác Hồ kính yêu để lại cho nhân dân và đồng bào vùng mỏ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:06:39 pm »

Tháng 4 năm 1969, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp và ra nghị quyết về “tình hình nhiệm vụ trước mắt”. Bộ Chính trị nhận định: “Chúng ta đang đứng trước thời cơ lớn để thừa thắng tiến lên, đẩy mạnh tiến công toàn diện và liên tục, tiến lên một bước rất cơ bản, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ”.

Tỉnh ủy đã họp bàn thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị và ra nghị quyết về nhiệm vụ trước mắt của đảng bộ, của quân và dân Quảng Ninh. Nghị quyết chỉ rõ:

“Giáo dục nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mỹ để không bị bất ngờ.

Củng cố kiện toàn nâng cao chất lượng lực lượng vũ trang, sẵn sàng đối phó thắng lợi nếu địch gây chiến tranh phá hoại trở lại với mức độ ác liệt hơn.

Khắc phục nhanh hậu quả chiến tranh, tranh thủ thời gian có hòa bình để đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, chi viện sức người sức của cho tiền tuyến.

Cùng với việc sản xuất than, Quảng Ninh phải thực hiện khẩu trương có hiệu quả hai nhiệm vụ đột xuất mà Trung ương giao cho:

Một là: Chuyên chở khối lượng vật chất súng đạn, xăng dầu, gạo, thuốc… rất lớn từ biên giới Việt – Trung về một số tỉnh phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Hai là: Thi công đường ống dẫn dầu dài hàng trăm ki-lô-mét để góp phần bảo đảm nhiên liệu cho miền Nam chiến đấu.

Trong sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp phấn đấu tăng năng suất lúa, màu, đánh bắt cá biển”.

Tỉnh ủy nhấn mạnh vấn đề chăn nuôi ở ba khu vực: gia đình, hợp tác xã và quốc doanh với phương hướng, biện pháp, chỉ tiêu:

Chăn nuôi gia đình hiện còn giữ vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn. Từng vùng, tùy điều kiện phấn đấu mỗi hộ nuôi thường xuyên từ 1,5 đến 2,5 con lợn.

Chăn nuôi tập thể hợp tác xã tăng thêm quy mô đàn lợn ở các cơ sở sẵn có. Hướng chính là nuôi lợn nái giống tốt, tự túc được lợn giống cho chăn nuôi tập thể.

Chăn nuôi quốc doanh phải bảo đảm quản lý tốt, gương mẫu về tổ chức quản lý kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật, hình thành mạng lưới kỹ thuật từ các trại chăn nuôi của Nhà nước đến các vùng giống của hợp tác xã.

Chỉ tiêu 2 con lợn, 5 tấn thóc, 10 tấn khoai, 20 tấn rau trên một héc-ta gieo trồng.

Chăn nuôi địa gia súc, gia cầm tăng số lượng hiện có lên mức cao hơn. Về đánh bắt cá biển, phấn đấu đạt năng suất lao động bình quân mỗi người 2 tấn/năm.

Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy, các ban ngành, cơ quan, đơn vị… đã chú trọng bồi dưỡng, giáo dục cán bộ đảng viên về đường lối chính sách, về lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin để nâng cao lập trường giai cấp, đạo đức, phẩm chất cách mạng, nhận thức đúng đắn tình hình nhiệm vụ mới. Mặt khác, nâng cao hiểu biết về khoa học kỹ thuật, về quản lý nhà nước và quản lý kinh tế để cán bộ, đảng viên, có năng lực đảm đương nhiệm vụ trên trong các lĩnh vực, công tác, sản xuất và chiến đấu.

Quảng Ninh luôn chú trọng phát triển đội ngũ đảng viên. Riêng năm 1968, trải qua rèn luyện, thử thách trong chiến đấu, sản xuất, công tác, công nhân và nhân dân các dân tộc xuất hiện nhiều tấm gương ưu tú, 1.761 người đủ điều kiện để được kết nạp Đảng.

Cơ cấu tổ chức được cải tiến. Chỉ tính các huyện, thị ủy, thành phần công nhân tăng 6,6%, lực lượng trẻ 31,3%, người dân tộc chiếm 26,6%.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:07:43 pm »

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở cả hai miền Nam – Bắc nước ta đang trên đà phát triển để giành thắng lợi quyết định thì Đảng ta, nhân dân ta và bè bạn năm châu bốn biển phải chịu nỗi đau thương lớn: Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần.

Những ngày cuối tháng 8 năm 1969, theo dõi thông báo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Bác không được khỏe”, cán bộ, chiến sĩ đảng viên, đồng bào các dân tộc Quảng Ninh hồi hộp lo âu. Hàng ngày cứ đến giờ phát thanh sáng, trưa, chiều của Đài tiếng nói Việt Nam, người ở trong nhà, cơ quan, đơn vị, trường học, trụ sở vây quanh chiếc đài thu thành, người đi ngoài đường dừng chân lại các loa công cộng, lặng lẽ chờ đợi thông báo mới với mong ước được đón nhận những tin tốt lành về sức khỏe của Bác. Nghe tin Bác đi xa, cả Quảng Ninh như lắng lại trong nỗi đau thắt đột ngột. Đau buồn và thương nhớ Bác kính yêu, ngày 3 tháng 9 năm 1969, tại các công sở, trường học, đơn vị, các gia đình đều lập bàn thờ Bác.

Ngày 6 tháng 9, Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính, Mặt trận Tổ quốc tỉnh tổ chức trọng thể lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Đoàn đại biểu quân, dân, chính, đảng từ các ngả đường vùng mỏ, núi rừng hải đảo… tập trung ở Hồng Gai. Từng dòng người già trẻ, gái trai, cán bộ công nhân viên, bộ đội, đồng bào các dân tộc ngực đeo băng tang lặng lẽ đi trong thương nhớ dưới chân dung Người. Từ đỉnh núi Bài Thơ lịch sử, một hồi còi kéo dài, vang xa… để đồng bào, đồng chí biết hướng về nơi làm lễ tưởng nhớ Bác với tấm lòng biết ơn của người dân được Bác, được Đảng giải phóng, được đổi đời và đang đứng lên trong tư thế chiến thắng giặc Mỹ xâm lược.

Đồng chí Bí thư tỉnh ủy đọc lời diếu văn vĩnh biệt Bác trong tiếng nấc nghẹn ngào. Cả hội trường nức nở trong nước mắt đau thương. Thưa Bác kính yêu, chúng con, chúng cháu xin thề và xin thực hiện lời Bác dạy “Đẩy mạnh ngành than trở thành một ngành gương mẫu cho các ngành kinh tế khác và tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh giàu đẹp”.

Thực hiện lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Biến đau thương thành hành dộng cách mạng” và thực hiện lời kêu gọi của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh “Giương cao ngọn cờ quyết chiến – quyết thắng của Bác trao cho, với khí thế thừa thắng xông lên, các lực lượng vũ trang nhân dân hãy cùng toàn dân đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”, quân và dân Quảng Ninh dấy lên phong trào hành động cách mạng lập thành tích đền ơn Bác và quyết tâm thực hiện Di chúc của Người.

Trong nông nghiệp, thực hiện Nghị quyết 197 của Trung ương Đảng về “Phát huy quyền làm chủ của quần chúng ở nông thôn”, tỉnh chỉ đạo các cấp tổ chức cho xã viên học Điều lệ tóm tắt về họp tác xã sản xuất nông nghiệp (bậc cao) do Bác Hồ viết lời tựa. Các hợp tác xã trong toàn tỉnh đi vào chấn chỉnh tổ chức, tính toán cách làm ăn cho có lãi và có hiệu quả kinh tế cao như: quản lý ruộng đất, vật tư, tiền vốn, sức lao động… tiến thêm một bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật.

Nghề rừng của tỉnh trải qua 10 năm dần dần phát triển mạnh và trở thành một ngành kinh tế quan trọng. Từ những cơ sở: hạt, trạm lâm nghiệp nhỏ làm nhiệm vụ hành chính, sự nghiệp, tỉnh đã xây dựng thành các lâm trường, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh ngày càng toàn diện. Các cơ sở lâm nghiệp hoạt động rộng khắp từ biên giới đến các hải đảo với lực lượng lao động khoảng 10.000 người, trong đó quốc doanh 5.000 người Toàn ngành phục hồi được gần hai vạn héc-ta rừng non, quản lý hạn chế được một phần nạn đốt rừng phá rừng làm rẫy. Việc khai thác lâm sản góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế, phục vụ quốc phòng và đời sống nhân dân. Số lượng gỗ tròn khai thác từ 68.000m3 lên 86.000m3. Riêng gỗ phục vụ mỏ đạt từ 27.00m3 lên 51.00m3. Tre nứa từ 7 triệu cây lên 18 triệu cây/năm. Các loại gỗ xẻ phục vụ nhu cầu kiến thiết đạt từ 1.000 lên 8.00m3. Phong trào trồng cây gây rừng phát triển tốt. Đã trồng được 50.000 ha rừng mới (quốc doanh trồng được 35.000ha). Các xã Kim Sơn (Đông Triều), Bình Ngọc và Trà Cổ (Móng Cái) là những nơi trồng trọt và mang lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân và cung cấp một phần gỗ cho Nhà nước(1).

Trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành lâm nghiệp từ chỗ chỉ có 11 cán bộ trung cao cấp kỹ thuật (1959) đã đào tạo và bồi dưỡng được 444 cán bộ kỹ thuật (có 114 cán bộ bậc đại học). Năm 1965 ngành lâm nghiệp Quảng Ninh được chọn là đơn vị dẫn đầu miền Bắc về khai thác, trồng rừng.


(1) 50 năm đấu tranh và bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân ở Quảng Ninh, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh Quảng Ninh, 1975, tr.103-104.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:08:13 pm »

*
*   *

Sang năm 1970, trước những biến chuyển mới của tình hình nhiệm vụ cách mạng và yêu cầu tổ chức lực lượng vũ trang cần có sự điều chỉnh bố trí chiến lược cho phù hợp. Thường trực Quân ủy Trung ương và Tổng tư lệnh quyết định Bộ tư lệnh Hải quân thôi kiêm nhiệm Quân khu Đông Bắc, tỉnh đội Quảng Ninh và các lực lượng thuộc Quân khu Đông Bắc được bàn giao sang Quân khu Tả Ngạn. Ngày 1 tháng 4 năm 1970 việc bàn giao giữa Bộ tư lệnh Hải quân và Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn được tiến hành khẩn trương.

Trở về đội hình Quân khu Tả Ngạn (tách ra từ cuối năm 1963), lực lượng vũ trang Quảng Ninh tiếp thu, thực hiện chủ trương của Quân khu ủy và nghị quyết tỉnh ủy, tập trung toàn lực đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở, quân sự địa phương, chú trọng xây dựng các cơ sở yếu kém, coi công tác cơ sở là trận địa chính của công tác quân sự địa phương. Đồng thời triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn quân khu hướng ra tiền tuyến, sẵn sàng chiến đấu cao, chiến đấu giỏi, xây dựng hậu phương vững mạnh”.

Qua điều tra cơ bản, các huyện miền đông lúc này dân số 207.903, bằng 39,2% dân số cả tỉnh, 9 xã biên giới Việt – Trung, 21 xã ven biển, 16/20 xã đảo, 7/9 xã mặt nước. Các huyện miền đông có 94 xã, bằng 59,8% số xã của cả tỉnh

Dân tộc Hán có 100.889 người, tập trung ở ngoài Quảng Hà, Móng Cái, Cẩm Phả (huyện) và Tiên Yên. Các dân tộc khác: Tày có 18.841 người, bằng 8,87%, Nùng 2.596 người, bằng 1,21%, Thanh Phán 5.714 người, Sán Dìu 3.586 người, Kinh 82.035 người.

Sau giải phóng, đây là vùng xung yếu, được Đảng giáo dục giác ngộ, nhân dân có nhiều đóng góp quan trọng trong việc truy quét thổ phỉ, phản động và biệt kích, tham gia bảo vệ chính quyền, xây dựng cuộc sống mới, thực hiện nghĩa vụ công dân chống Mỹ, cứu nước.

Tuy nhiên, do điều kiện cả tỉnh phải tập trung làm hai nhiệm vụ chiến lượng, nên việc đầu tư và chỉ đạo xây dựng cơ sở vùng xung yếu, vùng núi và hải đảo thực hiện “miền núi tiến kịp miền xuôi” có nhiều hạn chế. Xã Đường Hoa rộng tới 30km2, có 466 hộ, dân số 3.320 người dân tộc Hán, cho đến năm 1960 còn 99,9% số người trong xã chưa biết chữ quốc ngữ, chỉ có một hoặc hai người biết viết, biết đọc.

Được tỉnh, huyện tăng cường cán bộ xây dựng cơ sở nên từ năm 1970 trở đi, tình hình sản xuất và đời sống có nhiều chuyển biến. Hai con đê ngăn nước mặn, một đập nước lớn, 82 cừ, 3 con mương lấy nước ngọt về tưới lúa làm cánh đồng cấy được hai vụ giống lúa mới, lại biết dùng kỹ thuật canh tác, biết dùng phân lân, đạm kết hợp phân xanh nên hai năm 1971-1972 làm nghĩa vụ 196 tấn và bán thêm 20 tấn, 67 thanh niên trai tráng đã nhập ngũ, trong đó 28 ở chiến trường B, toàn xã có 567 học sinh đi học.

Trong số những cơ sở tiêu biểu của Quảng Ninh có Đồng Quặng, một xã vùng cao của huyện Hoành Bồ. Phần lớn số dân trong xã là người Thanh Phán sống rải rác 76 khe, suối nhỏ trên diện tích rộng, nằm giữa những dãy đồi núi trùng điệp… Xã có 7 thôn, nơi xa nhất phải đi bộ khoảng một ngày đường, chưa kể mùa mưa lũ có khi tắc đường, nghẽn lối hàng tuần. Thời Pháp thuộc, Đồng Quặng nằm giữa “vành đai Mán” do trùm phỉ Bàn Đức Thắng cầm đầu, nhưng ta vẫn có cơ sở bí mật để nắm dân.

Sau giải phóng, nghe tiếng gọi của Đảng, Đồng Quặng thực hiện cuộc vận động định cư, định canh. Từ năm, ba nhà rời từng khe, đến từng bản làng làm theo. Nhà nhà ở gần nhau. Con hổ vào bắt lợn, gọi một tiếng cả bản đổ ra, hộ bỏ chạy. Lúa có nước tưới, có phân bón, bông to mẩy hạt, một mẫu Bắc Bộ thu 5-6 tạ rồi một tấn. Ngày mùa lúa đầy nhà, có cơm ăn no, xã lo cho con cái nhân dân được cái chữ Cụ Hồ. 7 trường học, 24 lớp có mái che mưa che nắng, có bàn đọc sách, có ghế ngồi cho học sinh. Rồi trạm xá, sân kho… đường đi lối lại thẳng lưng mà bước. Năm 1973 Đồng Quặng không chỉ tự túc được gạo ăn mà còn có thóc dư bán ngoài nghĩa vụ cho nhà nước.

Có cuộc sống ấm no hạnh phúc, cấp ủy và chính quyền lại lo xây dựng dân quân bảo vệ quê hương. Toàn xã là một cụm chiến đấu liên hoàn, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, có người cầm súng, có người tải thương, cứu hỏa…

Những ngày giặc Mỹ đánh phá khu mỏ, dân quân xã Đồng Quặng được huyện phát súng, chốt trên các điểm cao để đánh máy bay. Hai năm liền (1969-1970), lực lượng dân quân được công nhận là đơn vị quyết thắng. Bằng lực lượng tại chỗ của xã, dân quân chiến đấu với tinh thần “một người cũng tiến công, bộ phận nào cũng đánh giỏi”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:08:39 pm »

Các huyện Quảng Hà, Đầm Hà, Hà Cối (cũ) và Tiên Yên), qua tập trung xây dựng cơ sở vùng đồng bào dân tộc đã tạo nhiều chuyển biến. 10 xã có cán bộ cấp trên tăng cường, 16 xã do huyện trực tiếp phụ trách. Sau một thời gian được học tập, được hướng dẫn, được sinh hoạt kiểm điểm rút kinh nghiệm thực tế, cấp ủy, đảng viên thấy rõ trách nhiệm tiếp tục phát huy và nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu của mình.

Chính quyền, ban quản lý hợp tác xã, đoàn thể quần chúng ở các xã yếu được kiện toàn. Sản xuất tăng, đời sống được cải tiện. Đến năm 1970, xã Mã Tề Nùng đưa mức ăn bình quân từ 8kg lên 12kg/người/ tháng. Xã Trúc Bài Sơn từ 9kg lên 12,5kg, 12 xã từ yếu kém lên trung bình, 6 xã lên khá (có 3 xã người dân tộc). Còn 8 xã tuy chuyển biến chậm nhưng vẫn tuyển quân được. Bảy xã của hai huyện Quảng Hà, Tiên Yên từ chỗ chỉ có hai thanh niên đi bộ đội, đến năm 1970, riêng bảy xã có 47 thanh niên nhập ngũ.

Năm 1970, thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị, Đảng bộ Quảng Ninh kết nạp 640 đảng viên “Lớp Hồ Chí Minh”.

Phong trào xây dựng đảng bộ, chi bộ, đảng viên theo yêu cầu “4 tốt” để củng cố đảng toàn diện được đẩy mạnh. Nhiều đảng bộ, chi bộ, đảng viên xác định rõ vị trí trách nhiệm của mình cao hơn.

Tháng 2 năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể lần thứ 19 và ra nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân là: “Rác sức thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh kháng chiến, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Nắm vững các chỉ thị của Trung ương Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, Tỉnh ủy họp bàn về việc sẵn sàng chiến đấu và chuẩn bị một số việc cho công tác phòng không nhân dân, kinh tế kết hợp quốc phòng.

Năm 1971 Trung ương giao cho Quảng Ninh xây dựng đường ống dẫn dầu từ Hải Ninh về tuyến trong. Nhiệm vụ đã được hoàn thành với nỗ lực cao của cán bộ, công nhân và đồng bào các địa phương nơi có đường ống đi qua. Công trình đột xuất này đã hoàn thành trước thời hạn quy định 5 ngày,.

Cùng với việc hoàn thành công trình này, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn điều động tiểu đoàn 29 thi công tuyến đường dây thông tin dọc theo tuyến đường ống dẫn đầu cũng hoàn thành vượt mức thời gian quy định, tiết kiệm cho Nhà nước 300 tấn sắt giàng và một triệu đồng. Đây là đường dây thông tin liên lạc vừa phục vụ sẵn sàng chiến đấu, vừa phục vụ đường ống dẫn dầu.

Thành công của tiểu đoàn 29 mở ra khả năng bộ đội tham gia làm kinh tế và triển vọng về sự phối hợp giữa Quân khu và tỉnh Quảng Ninh về kinh tế kết hợp quốc phòng vừa làm giàu cho Tổ quốc, vừa phát triển lực lượng bảo vệ an ninh – quốc phòng ở biên giới, hải đảo và ven biển.

Do yêu cầu tăng cường lực lượng cho chiến trường, từ năm 1971 các đơn vị phòng không, các đơn vị phối thuộc chiến đấu với Quảng Ninh trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất lần lượt được trên điều động chi viện cho phía Nam. Ở tỉnh chỉ còn lại tiểu đoàn 237. Từ năm 1968, đội hình tiểu đoàn bị phân tán thành hai nơi: hai đại đội và chỉ huy tiểu đoàn về bảo vệ nhà máy điện cọc 5, một đại đội bảo vệ nhà máy sàng Cửa Ông. Trong quá trình chiến đấu, tiểu đoàn xây dựng 5 đại đội bổ sung cho chiến trường. Tỉnh tổ chức một tiểu đoàn thứ hai gồm “quân chiến thắng trở về” đã hoàn thành chương trình huấn luyện. Bộ lại điều bổ sung cho chiến trường. Cuối năm 1971, tỉnh được phép tổ chức xây dựng tiểu đoàn pháo cao xạ mang phiên hiệu 239.

Các đơn vị (K) thuộc cụm phòng thủ Quân khu Đông Bắc thu gom lại theo kế hoạch biên chế lực lượng của Bộ Tổng tham mưu. Việc xây dựng huấn luyện quân B, riêng Quảng Ninh không có khung đơn vị làm nhiệm vụ này. Số quân tuyển được, Bộ tư lệnh Quân khu giao trung đoàn 5 – trung tâm huấn luyện quân B của Hải Phòng phụ trách vào những năm sau khi Giôn-xơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:09:10 pm »

Một thực tế trong công tác tuyển quân thời gian này là có nơi kêu cạn nguồn, cạn chất; đi tuyển quân vất vả, thực hiện chỉ tiêu hàng năm trở nên khó khăn, có lúc phải lấy tăng số lượng ở nơi mạnh để bù nơi yếu. Nhiều cuộc họp đầu năm hoặc trước mùa tuyển quân, Tỉnh ủy tiếp tục khẳng định tầm quan trọng nhiệm vụ chi viện chiến trường, nhất là vào các thời điểm có ý nghĩa quyết định. Khẩu hiệu hành động là; “Toàn Đảng, toàn dân chăm lo xây dựng lực lượng chi viện cho chiến trương” và chỉ đạo phát động phong trào quần chúng làm tốt công tác này. Đồng thời, có biện pháp chống hữu khuynh tiêu cực từ trong Đảng tới quần chúng, thực hiện công bằng hợp lý trong nghĩa vụ cứu nước, tập trung nuôi dưỡng ngắn ngày để đưa số thấp bé nhẹ cân đủ sức khỏe, đủ điều kiện nhập ngũ. Tổ chức dạy chữ cho thanh niên vùng dân tộc, rẻo cao để ngày càng có nhiều người đi bộ đội đánh Mỹ, tạo nguồn cho sau này khi anh em trở về tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội ở địa phương. Tuy không có trung tâm huấn luyện riêng, nhưng phần lớn thanh niên ở cơ sở đều tham gia dân quân tự vệ, được rèn luyện, được học tập chính trị, quân sự, nhiều nơi anh em đã qua chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Lực lượng thanh niên Quảng Ninh tòng quân chống Mỹ cứu nước có tới 60% là dân quân tự vệ. Riêng năm 1971, huyện Móng Cái số quân tuyển được gấp 5 lần so với hai năm 1969-1970. Các huyện Tiên Yên, Quảng Hà dủ quân. Năm 1971 số quân trong các cơ sở yếu, vùng cao tuyển được 26,64% so với chỉ tiêu toàn tỉnh.

Cuối năm 1971 do số lượng bệnh binh từ các chiến trường đưa về hậu phương ngày càng nhiều, Quảng Ninh được phép tổ chức đoàn an dưỡng mang phiên hiệu 159 do đồng chí thiếu tá Nguyễn Quang Thúy làm đoàn trưởng, Nguyễn Chử đoàn phó. Đoàn được bố trí tại xã Yên Đức huyện Đông Triều. Đảng bộ và nhân dân trong huyện cùng công nhân mỏ Mạo Khê giúp sức, góp của tạo nơi ăn ở thuận lợi cho những trường hợp hiểm nghèo. Còn đại bộ phận thương bệnh binh nhẹ và vừa vẫn ở với dân. Từ khi thành lập đến khi kết thúc (1971-1976) đoàn 159 nuôi dưỡng và giải quyết chính sách cho trên 2.000 thương binh con em đồng bào Quảng Ninh từ các chiến trường gửi về.

Để nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt đáp ứng yêu cầu thực hiện hai nhiệm vụ đẩy mạnh tiến công chiến lược ở miền Nam và chủ động đập tan các bước leo thang chiến tranh của địch ra miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo diễn tập tác chiến bảo vệ khu vực ở Hải Phòng. Các đồng chí bí thư thành ủy và tỉnh đội trưởng các địa phương trong Quân khu về dự rút kinh nghiệm. Thượng tướng Văn Tiến Dũng – Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp chỉ đạo cuộc diễn tập.

Tháng 3 năm 1972 Thường vụ tỉnh ủy họp với các cán bộ chủ chốt của các ngành để bàn việc kiểm tra vũ khí, củng cố dân quân tự vệ và quyết định tiến hành cuộc thực tập lớn về pháo binh, cao xạ đánh địch tập kích đường không và phòng tránh ở Hồng Gai.

Một kỳ họp của Hội đồng nhân dân tỉnh được tiến hành trong hang đá Đèo Bụt, nơi sơ tán của Ủy ban hành chính tỉnh. Tại kỳ họp này, đồng chí Vũ Đình Mai, tỉnh đội trưởng được chỉ định là chỉ huy trưởng phòng không của kỳ họp. Hàng buổi, hàng ngày, đồng chí Vũ Đình Mai giữ nếp thông báo tình hình địch cho hội nghị.

Thực hiện Nghị quyết số 220 của Bộ Chính trị về việc chuyển từ thời bình sang thời chiến, Tỉnh ủy ra nghị quyết 04 và quyết định mở rộng đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn đảng bộ, để quán triệt tình hình nhiệm vụ mới.

Tiểu đoàn 237 với 3 đại đội trải dài trên tuyến 40km (từ cọc 5 đến Cửa Ông). Các đơn vị trực chiến, các tổ săn máy bay được lệnh tập trung, sẵn sàng chiến đấu.

Đêm 15 tháng 4 năm 1972 (thứ bảy) và suốt ngày 16 tháng 4 năm 1972 địch dùng cả B52 đánh Hải Phòng, đồng thời chúng đã sử dụng nhiều tốp máy bay chiến thuật đánh một số điểm trên địa bàn Yên Hưng để kìm chế tên lửa của ta.

Địch gây lại chến tranh phá hoại đối với miền Bắc bằng cách đánh ồ ạt đến mức cao nhất ngay từ đầu vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác, chứ không đánh kiểu thăm dò từ vòng ngoài rồi nhảy dần vào phía trong như lần trước. Thường vụ Tỉnh ủy khẳng định: “Địch đã đánh Hải Phòng, sớm muộn rồi chúng cũng đánh Hồng Gai”. Thường vụ Tỉnh ủy quyết định phân tán một bộ phận dân cư ra khỏi trọng điểm.

Ních-xơn, tổng thống Mỹ coi cuộc đánh phá miền Bắc lần này như là “biện pháp chiến lược quyết định”, là “cách duy nhất để chấm dứt chiến tranh” có lợi cho Mỹ. Ních-xơn thông qua chương trình ném bom miền Bắc gọi là Lai-nơ Bếch-cơ I và quyết định thả thủy lôi phong tỏa Hải Phòng, Quảng Ninh và các cảng miền Bắc Việt Nam, gọi là POCKET MONEY (chiếc túi tiền). Đánh phá miền Bắc lần này, địch sử dụng nhiều máy bay kể cả B52 là phương tiện trang bị hiện đại tinh vi của nền kỹ thuật quốc phòng Mỹ mới nhất với nhiều thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo để đánh phá tất cả các mục tiêu quân sự, kinh tế, quân sự, cầu cống, kho tàng, đê điều…
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:09:30 pm »

Ngày 9 tháng 5 năm 1972, theo dõi và nhận định tình hình chung về âm mưu địch đối với miền Bắc và Quảng Ninh, Thường vụ tỉnh ủy chủ trương cho sơ tán cấp tốc và triệt để các trọng điểm Hồng Gai, Uông Bí.

Ngày 10 tháng 5 năm 1972, đế quốc Mỹ đánh phá có tính chất hủy diệt vào hai điểm thị xã Hồng Gai và khu tuyển than nhà sàng Cửa Ông gây thương vong lớn cho ta, 176 người chết, 233 người bị thương, nhiều nhà dân bị sập đổ.

Sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972, địch đánh phá ồ ạt một số địa phương Quảng Ninh, buổi chiều 32 lần chiếc vào đánh phá. Trong số đó có 2 F.4 lợi dụng núi Bài Thơ bổ nhào đánh cọc 5. Cả ngày 10 tháng 5 năm 1972 Hồng Gai không bắn rơi được chiếc máy bay nào do chỉ huy bắn không đúng thời cơ, trinh sát không kiểm soát được mục tiêu nên khi địch bất ngờ xuất hiện ở nhiều hướng thì xoay xỏa không kịp. Pháo thủ không bắn được mục tiêu, có trường hợp bắn luôn hai mục tiêu cùng lúc. Rút kinh nghiệm ngày chiến đấu không thành công, đơn vị tiến hành kiểm điểm, xây dựng quyết tâm và tập luyện theo phương án tác chiến cơ bản.

Ngày 11 tháng 5 năm 1972, đế quốc Mỹ cho nhiều lần tốp máy bay thả thủy lôi, bom mìn các loại phong tỏa các cảng lớn: Hồng Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông gây tình hình rất căng thẳng trong khu vực.

Thời điểm này khu vực Hồng Gai chỉ có pháo 37mm của tiểu đoàn 327 bố trí ở đồi 105, pháo 37mm của xí nghiệp bốn ở đồi 102 và một số đơn vị trực chiến bằng súng bộ binh của các tiểu đoàn, đại đội tự vệ.

10 giờ 30 phút ngày 18 tháng 5 năm 1972 địch đánh Trới (Hoành Bồ) bay ra. Do quyết định chậm nên các đơn vị đánh không trúng. Ba phút sau 14 lần chiếc từ Uông Bí bay ra lại đánh Trới, ta nổ súng chiến đấu, vẫn không trúng. Đơn vị lại rút kinh nghiệm tại chỗ. Đến 16 giờ 20 phút một máy bay F.4 và 1 A.3J vào trinh sát, bay qua. 16 giờ 35 phút, xuất hiện 8 máy bay bay vào. Đại đội trường Ngôn hạ quyết tâm chính xác, ra lệnh bắn kịp thời. Bằng một điểm xạ dài 41 viên, đơn vị bắn rơi một chiếc F.4. Trận này ta thắng do chuẩn bị chu đáo có kiểm điểm khắc phục thiếu sót trận trước, mục tiêu quản lý chắc, phán đoán đúng, hành động kịp thời. Tuy nhiên, ta vẫn còn lúng túng, bỏ lỡ thời cơ bắn tốp 1, phải đánh tốp 2.

Tại Cửa Ông, địch đánh hai mục tiêu nhà sàng và cảng. Khu vực này phía đông là biển, tây bắc là đồi núi, nhiều điểm cao, tiện cho địch lợi dụng địa hình để bổ nhào khi lao xuống đánh.

Đại đội 150 chốt giữ ở Cửa Ông. Trong thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, cũng tại đây, trong đội hình cả tiểu đoàn đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ. Số cán bộ thời kỳ này bổ sung đi các chiến trường. Cán bộ đai đội lúc này là lớp mới được bổ nhiệm từ năm 1971. Cán bộ trung đội, tiểu đội phần lớn là lớp nhập ngũ năm 1972. Chiến sĩ còn 50% số nhập ngũ năm 1971, 50% số nhập ngũ năm 1972.

Trong trận này, đại đội phải chiến đấu độc lập, cách xa tiểu đoàn 40km.

Đại đội bố trí trên đồi 60. Toàn đại đội có 4 khẩu 37mm một nòng, không có dự phòng, không có xe cơ động. Phối hợp chiến đấu có đơn vị nhà sàng Cửa Ông với 6 khẩu 12,7mm.

Lúc địch bổ nhào đánh phá, quân số đơn vị có một nửa đang huấn luyện, một nửa đào công sự. Trước đó vào lúc 9 giờ, một chiếc A.3J bay trinh sát ở độ cao 4.000m, đơn vị nổ súng không hiệu quả. Hiện tượng A.3J vào trinh sát là sau đó địch sẽ vào đánh phá.

16 giờ 55 phút, toàn đơn vị vào cấp một. 17 giờ, 2 tốp 8 chiếc máy bay vào, trong đó có 4 chiếc A.7 bay ở độ cao 3.000m. Sau đó, 2 chiếc F.4 lao vào đánh một tàu “an than” của Liên Xô (cũ) đang neo đậu ở cảng.

Một chiếc lợi dụng sườn điểm cao 105 lao xuống đánh bom vào quanh kho đạn. Hai khẩu pháo của ta bị hỏng không bắn được. Các chiến sĩ vội rời trận địa, xông vào cứu 4.000 viên đạn trong kho khi lửa đã bén vào cỏ tranh ngụy trang phía ngoài. Đơn vị bắn rơi 1 chiếc A.7, 7 chiến sĩ hy sinh. Các chiến sĩ tự vệ nhà sàng lên bổ sung các vị trí pháo thủ bị thương vong. Đêm hôm đó đại đội 150 cơ động sang vị trí khác. Cũng ngay trong đêm, tự vệ công nhân cơ khí lên chữa súng cho đại đội.

Trận đầu địch gây lại chiến tranh, bắn phá Cửa Ông, đại đội 150 lập công bắn rơi 1 chiếc, nhưng lượng đạn tiêu thụ lãng phí, sự phối hợp chiến đấu giữa đại đội với tự vệ chưa khớp. Đại đội nổ súng rồi mà tự vệ chưa lên phối hợp. Kỹ thuật bắn của các pháo thủ lúc chuyển chiếc và chuyển tốp có khẩu bắn đạn tản mát không tập trung, thiếu chính xác. Sau trận này, nhà máy sàng mang băng chuyền hỏng đưa đến trận địa ủng hộ bộ đội để quây pháo, bảo đảm an toàn, kể cả lúc địch đánh gần trận địa.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9712


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 29 Tháng Chín, 2017, 10:10:43 pm »

Từ ngày 10 tháng 5 năm 1972 đến 13 tháng 5 năm 1972, địch đánh đồng loạt các mục tiêu kinh tế, giao thông, quân sự, dân cư ở ba thị xã Hồng Gai, Uông Bí, Cẩm Phả. Đồng thời chúng rải thủy lôi, mìn phong tỏa các cảng, luồng lạch ra vào vùng ven biển của tỉnh. Thủ đoạn đánh phá và khoảng cách giữa các trận đánh so với chiến tranh phá hoại lần thứ nhất gần hơn, dày hơn, liên tục hơn. Ở cả thị xã hầu như rất ít ngày không có báo động.

Trong bối cảnh ấy, tư tưởng chỉ đạo tổ chức lực lượng, xây dựng đơn vị pháo cao xạ bộ đội địa phương tỉnh là “thấu suốt quyết tâm chiến lược của Trung ương, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh đủ sức đảm nhiệm việc tác chiến bảo vệ địa phương để thay thế bộ đội chủ lực”. Sau khi địch đánh phá một số nơi trong tỉnh, lúc này cần thiết phải xúc tiến xây dựng binh chủng cao xạ trong tự vệ. Về lực lượng tự vệ của tỉnh, Tỉnh ủy đánh giá lực lượng công nhân của tỉnh có truyền thống đấu tranh cách mạng, có giác ngộ chính trị cao, có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, có trình độ khoa học kỹ thuật, biết sử dụng các trang thiết bị của nền công nghiệp hiện đại nên có thể tiếp thu nhanh chóng khoa học kỹ thuật quân sự. Cơ sở vật chất của nền công nghiệp nặng cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc bảo đảm chiến đấu đối với binh chủng kỹ thuật.

Vấn đề nhận pháo tiểu cao, trung cao, Bộ tư lệnh Quân khu Tả Ngạn đã gợi ý từ năm 1971. Nhưng để có được sự nhất trí như chủ trương của Tỉnh ủy, cũng phải qua một thời gian thảo luận xung quanh việc có nhận súng lớn hay không? Nếu nhận pháo 100mm, lấy gì để kéo? Thiếu khí tài có đánh được không?

Số lượng pháo được trên cấp gồm: 5 đại đội pháo cao xạ 100m, 4 đại đội pháo 85mm, 1 đại đội pháo 37mm.

Công ty than Hồng Gai đưa 72 lần chiếc xe Gấu loại 11 tấn đi kéo pháo và 108 lần xe 4 tấn chở đạn. Dọc đường về, có khẩu lốp bị xì hơi phải điện về đưa máy lên bơm. Đem pháo về lại có khẩu bị hỏng, tỉnh đội cử người lên sư đoàn cao xạ 363 nhờ thợ xửa chữa xuống huấn luyện. 400 thợ cơ khí bậc 4 được cử đến học. học xong, khi trở về địa phương anh em tự thao tác và sửa chữa pháo.

Pháo 100mm trang bị cho tự vệ công ty xây dựng Uông Bí một tiểu đoàn, Hà Tu một đại đội. Pháo 85mm trang bị cho tiểu đoàn tự vệ mỏ Hà Lầm. Pháo 37mm trang bị trước tháng 4 năm 1972 cho xí nghiệp bến Hồng Gai một đại đội.



Một khẩu đội của tự vệ bến Hồng Gai , đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nổ súng kịp thời đánh máy bay Mĩ, tháng 6 năm 1972

Đề phòng tình huống địch mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc, Tỉnh ủy chủ trương nhận cả pháo mặt đất 105mm.

Quảng Ninh vừa chuẩn bị chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ, lại vừa phải sẵn sàng đánh thắng địch tập kích đổ bộ đường không vào Hồng Gai và một số điểm cao khống chế có giá trị chiến thuật khác trong tỉnh. Việc chuẩn bị đánh địch tập kích được tiến hành tốt nhưng cũng bộc lộ hiện tượng đánh địch chưa đúng ở một vài nơi.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM