Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Mười Hai, 2019, 12:05:34 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các chiến dịch phản gián tiêu diệt bọn phản cách mạng thời kỳ hậu chiến  (Đọc 6202 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2017, 01:31:40 AM »

6/Sự đền tội của trùm phản động Hoàng Cơ Minh

nguồn: http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Su-den-toi-cua-trum-phan-dong-Hoang-Co-Minh-(phan-3)-287141/

phần 1:

Cách đây gần 20 năm - ngày 28/8/1987, trên đường xâm nhập qua lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào để vào Việt Nam, nhằm thực hiện âm mưu bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân, Hoàng Cơ Minh, nguyên Phó đề đốc quân đội Sài Gòn, kẻ cầm đầu tổ chức phản động gọi là "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam", đã bị các lực lượng vũ trang cách mạng Lào phát hiện, truy đuổi và bắn bị thương tại vùng Bản Pon, tỉnh Xa La Van.

Sau đó, do lo sợ bị bắt, cũng như  đoán trước được kết cục dành cho mình, Hoàng Cơ Minh tự sát.

Chiến dịch Đông tiến 2

Sau khi “chiến dịch Đông  tiến 1” tổ chức hồi tháng 8/1986 thất bại, rồi bị cộng đồng người Việt hải ngoại vạch trần âm mưu bịp bợm vì thực chất của “chiến dịch” này, chỉ là đưa một nhóm tay chân về vùng rừng núi biên giới tiếp giáp giữa Thái Lan, Lào, dưới vỏ bọc công nhân liên doanh lâm nghiệp, và sau đó cho mặc quần áo rằn ri, vai đeo balô, tay cầm súng, lăn lê bò toài để quay phim, chụp ảnh, đưa về Mỹ tuyên truyền rằng, “mặt trận” đã thành lập được nhiều “khu chiến” bên trong lãnh thổ Việt Nam, thì Hoàng Cơ Minh, chủ tịch “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” (từ đây gọi tắt là Mặt trận Hoàng Cơ Minh) cùng đám tay chân thân tín nhận ra rằng, trò lừa đảo của “mặt trận” đang có nguy cơ đổ bể.

Nếu như trước kia, hệ thống "phở Hòa" – là cơ quan kinh tài của “mặt trận”, có chi nhánh trên nhiều tiểu bang của nước Mỹ, liên tục kêu gào cộng đồng người Việt vào... ăn phở để góp phần ủng hộ “kháng chiến”, thì nay dù thúc ép, thậm chí hăm dọa, họ cũng chẳng vào. Những cuộc biểu tình do “mặt trận” tổ chức, người tham dự cũng ngày càng thưa thớt.

Đã thế, trong nội bộ “mặt trận” lại xuất hiện sự chống đối, nhiều người thẳng thừng gọi tổ chức Hoàng Cơ Minh là “kháng chiến tái nạm béo”, Hoàng Cơ Minh là chủ tịch lừa.

Vì thế, tên trùm phản động quyết tâm tiến hành một chiến dịch nữa nhằm tạo tiếng vang và lấy lại uy tín, hầu dễ bề quyên góp tiền bạc. Đầu tháng 7/1987, y cho di chuyển khoảng 130 người (cả số đang còn nằm lại ở biên giới Thái Lan, Lào sau “chiến dịch Đông tiến 1”, lẫn số từ Mỹ sang), đến một khu rừng thuộc tỉnh U Bon – Thái Lan, rồi móc nối với bọn thổ phỉ người Lào để thuê bọn này dẫn đường vượt qua đất Lào.

Theo kế hoạch – được Hoàng Cơ Minh đặt tên là “chiến dịch Đông tiến 2”,  nhóm phản động chia thành 4 bộ phận: Đó là “Quyết đoàn tiền phương”, gồm 40 tên do Phan Thanh Phương làm quyết đoàn trưởng (mỗi quyết đoàn lại chia thành nhiều dân đoàn, mỗi dân đoàn gồm 9, 10 tên), có nhiệm vụ mở đường. “Quyết đoàn Bắc Bình”, gồm 29 tên do Lê Đình Bảy làm quyết đoàn trưởng, đi giữa. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Huy, Trần Khánh, Võ Hoàng (là ủy viên trung ương mặt trận) cùng một số tên chóp bu khác.

Đi sau cùng là “Quyết đoàn Anh dũng” gồm 40 tên, do Khu Xuân Hưng làm quyết đoàn trưởng. Các quyết đoàn ngoài vũ khí cá nhân như súng AK, M16, lựu đạn, mìn claymore, còn có một hoặc hai khẩu B40, B41, và vài máy bộ đàm tầm hoạt động khoảng 3km.

Tất cả những thứ ấy, bọn chúng mua lại từ các nhóm thổ phỉ Lào hoặc từ các chợ trời vũ khí dọc theo biên giới Lào, Thái Lan. Riêng bộ chỉ huy của Hoàng Cơ Minh, còn được trang bị thêm 2 khẩu cối cá nhân M79. Quần áo, giày dép, mũ nón chúng sử dụng cũng vậy, hầu hết đều mua ở chợ trời biên giới với đủ chủng loại.

Về lương thực, mỗi tên mang  trên lưng 20 - 30 kg, gồm gạo, mì ăn liền, mắm muối, nồi niêu xoong chảo. Bên cạnh đó, các quyết đoàn còn được cấp một ít tiền kíp để mua lương thực nếu đi ngang thôn bản người Lào. Riêng các quyết đoàn trưởng và các ủy viên mặt trận, Hoàng Cơ Minh giao cho mỗi tên từ 2 đến 5 lượng vàng, một số USD và đồng bạt Thái Lan  để... hối lộ bộ đội Lào nếu bị bắt!

Theo kế hoạch, cả bọn sẽ vượt sông Mê Kông, sang tỉnh Xa La Van – miền Nam nước Lào rồi từ đó, dưới sự dẫn đường của 20 tên thổ phỉ Lào, chúng sẽ đi về tỉnh Sê Kông và xâm nhập khu vực ngã ba biên giới, thuộc tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Tại đây, chúng sẽ lập căn cứ, tiến hành phục kích xe cộ, đặt mìn phá cầu, tấn công các đồn biên phòng Việt Nam để gây tiếng vang, tạo cơ hội cho bọn ở lại bên Mỹ, thúc ép cộng đồng người Việt góp tiền ủng hộ...

23 giờ ngày 18/7/1987, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh lên đường, đi đầu là “Quyết đoàn Tiền phương”. Càng đến gần biên giới Thái - Lào, bọn chúng càng hoang mang, lo sợ, nhất là những tên chỉ huy các quyết đoàn, dân đoàn vì chúng biết chuyến đi này không phải để dàn cảnh, quay phim, mà dữ nhiều, lành ít. Khi chỉ còn cách điểm tập kết là bờ sông Mê Kông ngăn đôi hai nước Lào, Thái Lan chừng 3km,  Hoàng Cơ Minh sai “Quyết đoàn trưởng quyết đoàn Tiền phương” Phan Thanh Phương, cử một dân đoàn đi trinh sát.

Thế nhưng, 9 gã trong dân đoàn ấy chỉ đi khoảng 300 mét, rồi lủi vào bụi rậm nằm chờ đến giờ quay về báo cáo. Tuy nhiên lúc quay về, thì một tên trong “dân đoàn” bỗng dưng biến mất. (Do quá sợ hãi, gã vứt bỏ toàn bộ lương thực, súng ống, vạch rừng mò ngược trở lại rồi sau một thời gian sống chui lủi, khi nghe tin toàn bộ nhóm xâm nhập đã bị bắt hoặc bị giết, gã dạt về Campuchia, chạy xe ôm kiếm sống, cạch mặt “mặt trận” tới già).

Tin một gã “dân đoàn viên” bỏ trốn được Phạm Thanh Phương giấu kín vì sợ bị Hoàng Cơ Minh trừng trị mặc dù y rất lo gã kia ra hàng chính quyền, bộ đội cách mạng Lào. Trong suốt ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba của cuộc xâm nhập, Phương đứng ngồi không yên, lúc nào cũng nơm nớp.

Đám thổ phỉ Lào ở riêng một góc, lo sợ không kém vì chúng được trả tiền để dẫn đường, nhưng Hoàng Cơ Minh dùng dằng nửa đi, nửa ở khiến chúng như ngồi trên chảo lửa. Chúng không biết Hoàng Cơ Minh đang chờ một bộ phận nữa, là “đoàn đặc nhiệm” do Nguyễn Quang Phục, biệt danh Hải “xăm” cầm đầu.

Đoàn đặc nhiệm này chỉ gồm 7 tên nhưng  hầu hết đã từng tham gia các sắc lính trong quân đội Sài Gòn nên dạn dày kinh nghiệm, được Hoàng Cơ Minh đặc biệt tin tưởng. Thế nhưng, lúc nghe tin Hải “xăm” không đến điểm hẹn vì bất ngờ lên cơn sốt rét, và cả “đoàn đặc nhiệm” còn cách nơi tập kết khá xa, nên  Hoàng Cơ Minh đành ra lệnh cho Hải “xăm” khi nào hết sốt, sẽ dẫn quân đuổi theo các “quyết đoàn”. Việc Hải “xăm” bị sốt ít nhiều gây hoang mang trong hàng ngũ, và có tin đồn truyền tai nhau, rằng sốt chỉ là cái cớ để Hải “xăm” được nằm lại
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2017, 01:32:20 AM »

Xẩm tối ngày 20/7/1987, Hoàng Cơ Minh cùng bọn phản động nhắm hướng sông Mê Kông thẳng tiến. Tại đây, nhóm thổ phỉ Lào đã thuê sẵn mấy chiếc ghe máy, mỗi chiếc có thể chở được 30 người nên việc vượt sông diễn ra êm ả. Nhưng ở bờ bên kia, là những vách đất cao, trơn trợt nên đám  phản động phải mất hơn 10 phút mới trèo lên được.

Sau này, khi bị bộ đội cách mạng Lào bắt, nhiều tên phản động khai rằng, tinh thần của hầu hết các “dân đoàn viên” đã rệu rã ngay từ khi vượt sông, và chúng cầu mong chỉ vào sâu trong đất Lào chừng vài cây số để quay phim, chụp hình rồi rút về như “chiến dịch” trước. Thậm chí có tên trong khi trèo lên con dốc dựng đứng ở bờ sông, đã lén vứt đi mìn, lựu đạn và đạn.

Có tên giả bộ ngã trặc chân để mong được cho ở lại. “Dân đoàn viên” Nguyễn Văn Náo khai: “Lúc vượt sông, lợi dụng trời tối không ai để ý, tôi thả xuống nước 2 băng đạn và 1 quả lựu đạn. Tôi tính nếu đụng trận, tôi sẽ tìm cách trốn về Thái Lan”.

Vượt qua được bờ dốc, Hoàng Cơ Minh cho cả bọn nghỉ đêm. Bên các bụi tre, chúng ngủ chập chờn trong tư thế ngồi co quắp. Mờ sáng, sau khi nhai trệu trạo nắm mì gói vì không dám nổi lửa, chúng đi ngang một trảng lớn, cỏ mọc lưa thưa rồi bắt đầu leo lên dãy núi đá, sườn núi đầy những bụi cây nhỏ lúp xúp.

Đến 9 giờ, khi bọn phản động đang ở ngang lưng chừng núi thì bất ngờ trên trời có tiếng động cơ máy bay, rồi một chiếc máy bay trinh sát xuất hiện khiến đám phản động đứa lủi vào bụi cây, đứa lăn ra đất nằm im như chết.

Thoạt đầu, Hoàng Cơ Minh cùng bộ chỉ huy nhận định đây là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng khi thấy chiếc máy bay đảo đi đảo lại hai, ba vòng, chúng liền đặt câu hỏi, rằng đó chỉ là nhiệm vụ hàng ngày của Không quân cách mạng Lào trên vùng biên giới, hay chúng đã bị lộ?

Khoảng 10 phút sau, chiếc máy bay trinh sát biến mất, Hoàng Cơ Minh ra lệnh tiếp tục lên đường vì y tin rằng sự xuất hiện của chiếc máy bay chỉ là sự tình cờ. Các “quyết đoàn”, “dân đoàn” lầm lũi bước, mắt dáo dác nhìn chung quanh. Gần tối, khi đến cạnh một con suối lớn, Hoàng Cơ Minh cho dừng chân, bố trí đội hình phòng thủ và nấu cơm.

Bữa cơm một phần ăn với mắm kem còn phần kia nắm lại, để dành hôm sau. Bốn năm gã – trong đó có Nguyễn Văn Dũng lén lút mang theo được mấy bi đông rượu từ đất Thái, giờ tụm lại dưới bụi cây, chuyền tay nhau tu. Bị “dân đoàn trưởng” là Đỗ Bạch Thố phát hiện, chửi bới, Dũng toan chụp khẩu M16, lia cho Thố một băng nhưng đồng bọn ngăn cản. Sau này khi Dũng kiệt sức, chính tay Đỗ Bạch Thố đã dùng dây giày, xiết cổ Nguyễn Văn Dũng đến chết để trả thù hành động Dũng định bắn mình.

Sáng ngày thứ 5 của chuyến xâm nhập, bọn phản động khởi hành sớm. Lúc mặt trời lên, chúng nhận ra địa hình đang đi khá trống trải và nếu xảy ra đụng độ, sẽ chẳng khác gì phơi lưng ra làm bia. Hỏi nhóm thổ phỉ Lào dẫn đường, thì chỉ nhận được câu trả lời là cứ đi tiếp. Y như rằng, khoảng 8 giờ sáng, ở cuối đội hình bọn phản động bỗng vang lên từng loạt súng.

Trận chạm súng giữa bộ đội cách mạng Lào và nhóm phản động đi đoạn hậu diễn ra rất ngắn, cả hai bên không ai thương vong nhưng chứng tỏ rằng việc xâm nhập đã bị lộ và điều này khiến tinh thần của hầu hết bọn chúng đều hoang mang. Bất lợi hơn nữa là theo kế hoạch, các dân đoàn, quyết đoàn sẽ tìm cách tiếp cận với những bản làng người Lào trên đường đi qua để mua thức ăn tươi, cũng như tìm hiểu tình hình.

Nhưng nay cuộc chạm súng đã khiến chúng phải lùi sâu vào rừng trong lúc gạo, mì bắt đầu vơi dần. Đã vậy, một số tên từ Mỹ, Pháp, Nhật về, do không quen với khí hậu, địa hình, không quen với cuộc di hành chỉ bằng đôi chân nên đâm ra cáu kỉnh. Hầu như lúc nào cũng có những cuộc cãi vã – không ở dân đoàn này thì cũng ở quyết đoàn khác. Hơn 100 tên xâm nhập nhưng chỉ có 1 y tá. Các vết lở loét ở chân do giày thấm nước, vết rách ở tay, ở cổ do đá cắt, gai cào, muỗi đốt, vắt cắn, chỉ được rửa ráy, băng bó sơ sài nên nhiều tên bị nhiễm trùng, bước đi phải có kẻ xốc nách hoặc chống gậy.

Sau cuộc chạm súng, Hoàng Cơ Minh hạ lệnh đi nhanh hơn. Đến 4 giờ chiều, lúc lên tới một triền núi và khi nhóm phản động chuẩn bị dừng chân qua đêm, thì vài gã dân đoàn viên thuộc “Quyết đoàn Anh dũng” mò xuống những bụi tre phía dưới kiếm măng tươi. Chỉ vài phút sau đó, đột ngột tiếng súng AK nổ từng loạt dài, cùng tiếng la hét inh ỏi.

Lúc bọn lấy măng tháo chạy về, kiểm điểm lại thấy mất Nguyễn Văn Náo. Theo lời bọn chúng, một toán bộ đội cách mạng Lào đã bí mật bám theo, rồi bất ngờ tập kích, bắt sống Nguyễn Văn Náo. Điều này rất nguy hiểm vì Hoàng Cơ Minh nhận định, nếu Náo bị bắt, toàn bộ kế hoạch xâm nhập cũng như lực lượng và trang bị vũ khí của cả đoàn, coi như hoàn toàn bị lộ.

Đã đâm lao thì phải theo lao. Quay về cũng dở mà ở cũng không xong, Hoàng Cơ Minh ra lệnh đi tiếp. Đường đi càng lúc càng khó vì phải leo lên những tảng đá, tảng nọ chồng tảng kia. Sẩm tối, khi toán đoạn hậu báo cáo không thấy dấu hiệu bộ đội cách mạng Lào đuổi theo, Hoàng Cơ Minh mới dám cho dừng chân  nấu cơm gần một con suối.

Để đề phòng, y  chỉ thị cho các quyết đoàn trưởng, là từng dân đoàn lần lượt cử người xuống suối lấy nước chứ không đi đồng loạt. Lúc này, nhiều bếp lửa đã được nhóm lên, “dân đoàn viên” Trần Văn Thảo đang ngồi hong khô đôi giày thì phát hiện bóng người thấp thoáng. Gã hỏi lớn: “Ai đó?". Phía bên kia đáp lại một chữ ngắn gọn, nghe như tiếng Lào, rồi lập tức, hàng loạt đạn AK quạt xối xả vào đội hình bọn phản động, kèm theo những tiếng nổ tức ngực của đạn B40. Một quả B40 nổ ngay cạnh bếp cơm của “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Hòa khiến gã bật ngửa, đầu tung tóe máu.

Đến lúc ấy, cả bọn phản động vẫn không hay biết, rằng chúng đã bị một tổ dân quân Lào tuần tra biên giới phát hiện ngay từ khi chúng đang vượt sông Mê Kông. Và bởi vì lực lượng ở khu vực đó mỏng, hơn nữa chưa rõ nhóm phản động vượt sông có phải là nhóm đi đầu mở đường cho những nhóm tiếp theo hay không, nên bộ đội cách mạng Lào quyết định chỉ cử một toán nhỏ bám theo, trinh sát, tìm cách bắt tù binh đưa về khai thác, điều tra...
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2017, 01:34:09 AM »

phần 2:

Trong  những ngày cuối cùng của “chiến dịch Đông tiến 2”, nhóm phản động Hoàng Cơ Minh chỉ còn chưa đầy 40 tên, hầu hết đều bị thương hoặc kiệt sức vì đói. Lương thực mang theo cạn kiệt nên nhiều tên dù muốn trốn, cũng chẳng biết về đâu. Hơn nữa, các bản án tử hình mà Hoàng Cơ Minh thi hành với đồng bọn khi phát hiện âm mưu đào ngũ đã làm bọn chúng kinh sợ.

Ngày tàn của bọn xâm nhập

Trước khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, Hoàng Cơ Minh quyết định giết bác sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Ngô Chí Dũng vì cho là chống đối, giết Trần Tuyết Ánh, A Hừng, Bùi Duy Hiền, Lưu Tuấn Hùng, Võ Sĩ Hùng, Đào Văn Lâm do nghi ngờ bỏ trốn, giết Thạch Kim Ca, Trần Tự Nhiên... vì nghi là nội gián.

Trên đường hành quân, Hoàng Cơ Minh còn cho các quyết đoàn trưởng, dân đoàn trưởng được quyền giết những tên thương binh như Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Anh Điền, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hòa..., hoặc bỏ mặc nằm chết giữa rừng để khỏi phải khiêng, cáng. Ngay cả Lê Hồng (bí danh Đặng Quốc Hiền), cựu trung tá nhảy dù quân đội Sài Gòn, được Minh phong làm “thiếu tướng, tư lệnh quân kháng chiến”, cũng bị Hoàng Cơ Minh giết vì đã dám chất vấn Minh về những mờ ám trong việc sử dụng tiền.

Sáng 24, nghĩa là đúng 1 tháng 6 ngày kể từ khi “chiến dịch Đông tiến 2” bắt đầu, bọn phản động tiến gần đến bản Phón, thuộc tỉnh Xa La Van. Đêm hôm trước, lại có thêm 3 tên bỏ trốn là Phạm Hoàng Tùng, Hà Văn Lâm và Đặng Quốc Hùng. Trốn khoảng nửa ngày, chúng gặp Nguyễn Văn Thông, cũng đang trốn nên cho đi cùng. Lúc đi hái măng, Phạm Hoàng Tùng bị lạc rồi bị bộ đội cách mạng Lào bắt sống. Hai ngày sau, 3 tên còn lại cũng vào trại giam.

Trở lại chuyện bản Phón, từ trên đỉnh núi nhìn xuống thấy mấy nóc nhà, Đinh Văn Bé, khi đó được đưa lên làm “quyết đoàn trưởng”, đã đề nghị Hoàng Cơ Minh cho 2 dân đoàn viên vào bản  mua lương thực với mệnh lệnh “không mua được thì cướp”.

Tài sản duy nhất mà chúng còn lại là 5 chỉ vàng, do Hoàng Cơ Minh giữ, được lấy ra đưa cho Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền. Cũng cần nhắc lại khi thành lập “mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”, bên cạnh hệ thống kinh tài là một chuỗi những tiệm “phở Hòa”, Hoàng Cơ Minh và bọn cầm đầu như Hoàng Cơ Định, Phạm Văn Liễu, Nguyễn Kim còn tổ chức nhiều đợt quyên góp trong cộng đồng người Việt hải ngoại dưới chiêu bài “ủng hộ kháng chiến”. Và nếu ai không đóng góp, thì bị bọn chúng chụp cho cái mũ “cộng sản nằm vùng”, rồi cho tay chân hành hung, hăm dọa, thậm chí ám sát mà cụ thể là giết vợ chồng nhà báo Lê Triết khi Triết cho đăng loạt bài vạch trần sự bịp bợm của “mặt trận Hoàng Cơ Minh”.

Tổng số tiền bọn Hoàng Cơ Minh thu được, theo số liệu của Cục Điều tra liên bang và Sở Thuế Mỹ sau này, là khoảng 10 triệu USD. Phần lớn số tiền ấy ngoài việc chui vào túi bọn cầm đầu, chúng còn dùng để ăn chơi, du hí ở Nhật, Pháp, Thái Lan, Đức bằng hình thức  “đi công cán”, cũng như để mua lương thực, vũ khí, mua vàng cho các “chiến dịch Đông tiến”.

Sau khi “chiến dịch” bị đánh tan nát, Hoàng Cơ Minh phải đền tội, một số tên cầm đầu còn lại lặng lẽ lấy tiền chia nhau, mua cổ phần trong những công ty chứng khoán, hoặc lập những đội tàu đánh cá, và nó nghiễm nhiên trở thành tài sản riêng.

Cầm 5 chỉ vàng, Trần Văn Yên và Huỳnh Văn Miền xuống núi. Nhưng mới đi chưa được 50 mét, một loạt AK vang lên đanh gọn, khiến  Trần Văn Yên chết ngay. Cùng lúc, tứ bề súng nổ giòn, cả tiếng AK lẫn tiếng đạn cối, đạn sơn pháo. Huỳnh Văn Miền lủi vào một hốc đá, giơ khẩu M16 lên đầu, bắn bừa. Ở phía trên, Hoàng Cơ Minh lăn xuống khe suối cạn, cánh tay trái máu tuôn xối xả vì  mảnh đạn cối ghim phải. Trên ghềnh đá bên bờ suối, dân đoàn viên Tạ Hoàng Thiện lãnh nguyên một trái M79 nổ tung vào mặt.

Lẫn trong tiếng súng nổ, là tiếng quát gọi hàng của bộ đội cách mạng Lào. Trần Đế, Quyết đoàn phó Quyết đoàn Cải Cách dẫn 4 dân đoàn viên, vừa bắn loạn xạ, vừa lùi xuống khe suối cạn nơi Hoàng Cơ Minh đang nằm lăn lộn. Chưa kịp đặt chân xuống lòng suối lổn nhổn đá củ đậu, dân đoàn viên Nguyễn Văn Sĩ  ngã bổ ngửa ra, máu từ ngực phun thành tia, còn dân đoàn viên Ngô Tấn Nghiêm, chân phải đứt tới háng, chỉ còn dính lại bằng mẩu da lủng lẳng. Cạnh đó, “ủy viên trung ương mặt trận” Trần Khánh nằm chết.

Khoảng 40 phút sau, tiếng súng im hẳn. Bọn phản động chết 6, bị thương 3, còn vài tên bỏ trốn hoặc chạy lạc. Thuốc men hầu như chẳng có gì nên cánh tay Hoàng Cơ Minh chỉ được băng bó bằng một miếng giẻ, xé ra từ chiếc khăn rằn quấn cổ.  Kiểm điểm lại, chúng chỉ còn 26 tên trong đó 4 tên không vũ khí vì chúng đã vứt bỏ khi tháo chạy.

Đạn dược cũng thế, mỗi tên chỉ còn chừng 3 băng với vài quả lựu đạn. Bên bờ suối, tiếng rên của Ngô Tấn Nghiêm lúc nghe như  con lợn bị chọc tiết, lúc chỉ ư ử trong cuống họng nhưng chẳng tên nào còn đủ tinh thần để  kết thúc nỗi đau đớn cho mình.

Cái chết của Trần Khánh khiến Hoàng Cơ Minh mất tinh thần. Đây là lần đầu tiên, bọn phản động nhìn thấy Hoàng Cơ Minh mặt tái mét, tay run rẩy, mắt mở trừng trừng nhìn xác Trần Khánh. Là nhân vật thứ hai – chỉ đứng sau Hoàng Cơ Minh trong “chiến dịch Đông tiến”, phụ trách tâm lý chiến, Trần Khánh còn có bí danh là Trần Thiện Khải, một thời gian dài chỉ huy và điều hành đài phát thanh “kháng chiến” đặt trên đất U Bon, Thái Lan.

Tự nhận là mình có họ hàng với nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường, Khánh đã sáng tác một số bài hát nhằm lên dây cót tinh thần đồng bọn. Những gã bị bắt sau này cho biết, Trần Khánh có tác phong quân phiệt, thường xuyên la hét, đánh chửi “chiến hữu”. Trong suốt thời gian thực hiện “chiến dịch Đông tiến 2” cho đến khi chết, Khánh đã trực tiếp hạ lệnh cho các dân đoàn, quyết đoàn giết chết ít nhất là 7 tên đồng bọn bị thương, đồng thời bỏ rơi hàng chục tên khác khi thấy chúng kiệt sức.

Trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa càng lúc càng nặng hạt. Lợi dụng thời tiết, Hoàng Cơ Minh ra lệnh cho bọn phản động nhanh chóng rời con suối lúc này đã ngập nước, bỏ mặc 3 tên bị thương nằm lại với đất trời. Xẩm tối, chúng phát hiện ra một hang đá, cả bọn chui vào ẩn náu. Nếu không kể những tên  từ Mỹ, Pháp, Nhật, Đức về, thì hầu hết dân đoàn viên đều là những tên vượt biên – trong đó không ít là các sắc lính quân đội Sài Gòn, vào trại tị nạn Sikhiu ở Thái Lan, rồi được Hoàng Cơ Minh tuyển mộ với lời hứa “sẽ cho đi định cư tại Mỹ” sau khi hoàn thành nhiệm vụ
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
bodoibienphong
Thành viên
*
Bài viết: 828



« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Tám, 2017, 01:35:05 AM »

Nhưng đến giờ phút này, chẳng tên nào còn nghĩ đến giấc mơ được tới nước Mỹ, mà chỉ mong thoát khỏi vòng vây của bộ đội Lào. Trước lúc lên đường, chúng bóp nhỏ những gói mì, nhét xuống đáy ba lô. Thịt gà, thịt heo, chúng xé nhỏ, rang thật mặn rồi ém chặt. Bây giờ vét kỹ, còn được vài nắm nên chúng hứng nước mưa, nấu thành một thứ canh lõng bõng, chia nhau húp.

Mưa suốt cả ngày hôm sau. Và có lẽ cơn mưa cũng gây khó khăn cho bộ đội cách mạng Lào, nên chúng tạm thời yên ổn. Đói quá, một vài tên liều mạng bò ra ngoài, hái mấy mớ rau rừng về luộc. Tâm trạng tuyệt vọng khiến cả bọn hầu như chẳng còn suy nghĩ gì nữa. Chúng đốt lửa sáng rực, vừa để hong khô những bộ quần áo, vừa đỡ lạnh. Vết thương trên cánh tay nhiễm trùng khiến Hoàng Cơ Minh lên cơn sốt. Y nằm co quắp trong một góc, chẳng “chiến hữu” nào còn để ý đến y. Tất cả chỉ lo cho mạng sống của mình. Nhiều tên thì thào với nhau, rằng nếu bộ đội Lào đánh vào, chúng sẽ đầu hàng hết.

Sáng 28/8, trời tạnh. Khoảng 9 giờ, Hoàng Cơ Minh ra lệnh lên đường. Trước lúc di chuyển, y nói với đám tàn quân, rằng ai có thể quay về đất Thái thì cứ về. Chẳng phải y tốt lành gì nhưng có lẽ y nghĩ đến phát súng “ân huệ” của đồng đội khi cánh tay y sưng to vì nhiễm trùng, đi phải chống gậy. Nhưng về thế nào được nữa khi tấm bản đồ duy nhất, đã nằm cùng với xác Trương Ngọc Ny.

Cả bọn dò dẫm ra khỏi cửa hang. Sau cơn mưa, vắt xuất hiện nhiều vươn mình bám chặt vào những ống chân khẳng khiu, ghẻ lở, nhưng chẳng tên nào còn tinh thần đâu mà gỡ. Võ Hoàng, “Tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” kéo “dân đoàn trưởng” Võ Văn Tuấn lùi lại phía sau, vừa bước vừa hỏi nhỏ “Nếu quay lại Thái Lan thì đi đường nào, mất bao nhiêu ngày?”.

Tuấn dáo dác nhìn quanh như sợ có người nghe thấy, rồi vẫy “dân đoàn viên” Nguyễn Linh lên: “Hồi trước nghe nói mày có đi khai thác gỗ ở Lào phải không?”. Linh gật đầu: “Dạ. Em đi tuốt tới gần biên giới Thái Lan, rồi em chạy qua đó xin... tị nạn luôn” – “Vậy mày còn nhớ đường không?” –  “Nếu đi đường từ Quảng Trị lên thì em nhớ, chứ đường này lạ quá. Thái Lan nằm ở phía Tây, là sau lưng mình...”. Võ Văn Tuấn gừ gừ trong cuống họng: “Thôi, nghe thì biết vậy thôi. Hó hé ra là mày chết trước. Từ bây giờ, mày đi sát với tao”.

9 giờ 30 sáng, trời không có nắng nên quang cảnh vẫn âm u. Đám tàn quân nặng nề lê bước nhưng không phải là tản ra theo đội hình vừa đi, vừa sẵn sàng nổ súng như những ngày đầu, mà co cụm lại với nhau. Qua một trảng cỏ tranh trống trải, chúng cũng chẳng buồn ngụy trang vì đối với nhiều tên trong bọn, cái chết lúc này chính là sự giải thoát, còn bị bắt thì coi như được sinh ra lần thứ hai.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã tuyên bố cho phép đám phản động được trở lại đất Thái, nhưng chẳng tên nào dám công khai quay lưng bởi lẽ đường sá không rành, lương thực không có, lại thêm bộ đội cách mạng Lào lúc ẩn lúc hiện nên chúng chẳng còn cách nào khác hơn là bám theo bầy đàn. Sau này, trong trại giam, “dân đoàn viên” Nguyễn Văn Đức kể lại: “Kể cả Hoàng Cơ Minh, chẳng ai còn tinh thần và cũng chẳng ai có một tí hy vọng gì về cuộc “Đông tiến”.

Trước lúc lên đường, ông Minh nhiều lần thao thao bất tuyệt về các “khu chiến quốc nội”, về các “đường dây xâm nhập”, về các “trạm dưỡng quân” đã được thiết lập từ nhiều năm trước. Thực tế cho thấy Hoàng Cơ Minh chỉ giỏi nói dóc, đánh lừa...”.

Đi được chừng 1km, lúc cả bọn đang dò dẫm bước xuống những tảng đá trơn trợt, thì súng lại nổ. Võ Hoàng – “tổng thư ký hội văn nghệ sĩ mặt trận” bị một quả M.79 vào đầu. Nguyễn Văn Đẩu, tên còn khỏe nhất, đeo balô đựng quần áo, tài liệu của Hoàng Cơ Minh lĩnh nguyên một loạt AK vào bụng. Quyết đoàn phó Trần Đế vừa giương súng bắn bừa, vừa kéo Hoàng Cơ Minh, xuống con suối cạn, là điểm tiếp giáp giữa hai ngọn núi. Dân đoàn trưởng Đinh Văn Bé, có nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Cơ Minh và Nguyễn Tấn Phát, “dân đoàn viên” nhỏ tuổi nhất, mới có 16 tuổi cũng vội vã lao theo.

Bộ đội cách mạng Lào tràn xuống tiếp tục bắn Dân đoàn phó Nguyễn Vĩnh Lộc trúng đạn, giãy đành đạch, dân đoàn trưởng Võ Văn Tuấn ngã gục như thân chuối bị phạt ngang. Biết là chẳng còn làm gì được nữa, Hoàng Cơ Minh rút khẩu súng ngắn Browning đeo bên mình, kê lên thái dương bóp cò tự sát. “Ủy viên trung ương” Nguyễn Huy cũng tự sát. Riêng Lưu Minh Hưng, “ủy viên mặt trận” khi vừa buông chốt quả lựu đạn ra, định ném thì bất ngờ lựu đạn nổ. Cả nửa thân trên của Hưng chỉ còn là nhúm thịt bầy nhầy...

Sáng ngày 1/12/1987, Tòa án nhân dân TP HCM đã mở phiên xét xử những tên phản động trong nhóm Hoàng Cơ Minh do Chính phủ nhân dân Cách mạng Lào chuyển giao vì mục tiêu của chúng là xâm nhập, bạo loạn lật đổ Nhà nước Việt Nam. Chúng đã lĩnh án từ 3 năm tù đến chung thân. Tổng cộng trong số 130 tên xâm nhập, có 83 tên chết. 19 tên bị bắt, số còn lại bỏ trốn khi đang trên đường xâm nhập.

Năm 1990, khi tình hình Liên Xô và các nước Đông Âu có nhiều biến động, hí hửng tưởng rằng thời cơ đã tới, “quyết đoàn trưởng mặt trận Hoàng Cơ Minh” là Đào Bá Kế, nguyên  sĩ quan Binh chủng nhảy dù, quân đội Sài Gòn, đã dẫn 30 tên mở cuộc “Đông tiến 3”. Nhưng cũng như nhóm phản động do Hoàng Cơ Minh cầm đầu, “chiến dịch Đông tiến 3” bị đánh tan tác. Nhiều tên chết, nhiều tên bị bắt trong đó, Đào Bá Kế lĩnh án tù chung thân
Logged

Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết
Trang: « 1 2 3   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM