Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Trọn bộ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tám, 2022, 06:05:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tranphu341 - Đoàn bb Sông Lam - Trên chiến trường A - Phần 6  (Đọc 32250 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #140 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:25:46 am »


         Những ngày đầu tôi được cử đi theo nhóm lên sư đoàn làm doanh trại cho các cơ quan sư đoàn. Chỉ có trung đoàn 273 là đóng quân ở khu vực Vĩnh Linh. Còn sư đoàn bộ, các cơ quan, các tiểu đoàn, đại đội trực thuộc và ba trung đoàn đều đóng quân tại khu vực huyện Quảng Ninh, Quảng Bình. Chuyến đi làm nhà cho sư đoàn này, tôi hiểu thêm về con người và vùng đất Quảng Bình rất nhiều, như: Biết được quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm. Biết thêm về bến đò Xuân Bồ, Bến Tiến mà trong bài hát của nhạc sỹ tài hoa Hoàng Vân đã nhắc đến. Trong câu hát thì Bến Tiến là vùng kinh tế sầm uất lắm, nhưng khi biết địa danh thì không khỏi buồn cười, Bến Tiến chỉ là lạch nước nhỏ mà mùa này thì không có nước, cũng chẳng có cái nhà nào gọi là vùng kinh tế. Đúng là nhạc sỹ khéo ca ngợi, khéo cường điệu lên, chứ thực tế chẳng có thực như vậy mà sao câu hát nghe hay thế. Chúng tôi trọ tại khu vực xã Thái Thủy, dân ở đây rất tốt, đặc biệt phụ nữ rất xinh đẹp. Nhìn những người phụ nữ dáng cân đối, khuôn mặt xinh xắn phúc hậu nhìn ngắm mãi mà không chán mắt. Tò mò tôi hỏi gia đình chủ nhà, khen phụ nữ ở đây đẹp. Bọ, mạ chủ nhà hỏi: Các chú có biết răng mà phụ nữ ở đây xinh đẹp không? Rồi bọ mạ giải thích: Thời Vua Hàm Nghi khi ly khai, trốn chạy thực dân Pháp, đã đưa triều đình từ Huế, chạy về nương náu tại vùng này. Cả vương triều di dời, bầu đoàn thê tử rất đông. Ngoài các quan trọng trách của các bộ cùng gia đình vợ con, còn có cả những người hầu nam và nhiều cung tần mỹ nữ . Khi chạy về đến đây thì mọi người đã mệt mỏi, trong khi lại bị quân Pháp truy đuổi. Một số người hầu và một số cung tần mỹ nữ đã trốn ở lại đây, hoặc vua cho phép lấy vợ lấy chồng định cư lại đây, những người phụ nữ bây giờ là hậu duệ của những người ấy.
Cũng chính vì sự truy đuổi của Pháp và sự mệt mỏi của quan, lính nên vua đã cho chôn giấu vàng bạc châu báu tại đây. Năm 1955 do mưa lũ xói mòn dòng chảy của suối mà nơi cất giấu vàng được mọi người phát hiện, rất nhiều người đã nhặt được vàng. Có những thỏi vàng lớn trọng lượng một vài ki-lô-gam. Chính quyền biết việc này, nên có các đoàn của Chính phủ về đây phát động mọi người giao nộp lại vàng và các báu vật quý cho nhà nước. Nghe nói còn nhiều điểm chôn giấu khác nữa nên vẫn có những nhóm người đi săn lùng kho báu.
 Ở vùng này còn có một loại cây quả trong các gia đình mà không đâu có, đấy là cây bồ quân. Cây to, rất nhiều gai như gai cây bồ kết. Quả cây bồ quân như quả mận, khi chín thì màu hồng mà nhà thơ Tố Hữu có câu “má đỏ bồ quân”. Cây rất nhiều quả, trong mỗi quả có ba hạt chứ không phải một hạt như quả mận. Đây là một loại cây hoang dã trong rừng. Những năm đó, cùng với cây lá trung quân đã giúp cho đoàn hộ giá nhà vua rất nhiều. Để nhớ về loại cây đó và những năm tháng ấy mà dân đã mang về trồng trong vườn các gia đình.
Trong những ngày này, bọ,mạ cũng kể cho chúng tôi biết chuyện năm vừa qua đã bắt tên Tư Thoan, gián điệp của Mỹ cài cắm, đã leo được lên tận chức bí thư tỉnh ủy. Tên này với mục tiêu trèo cao chui sâu. Chính nó đã chỉ điểm cho máy bay Mỹ đánh trúng những đoàn xe của ta cùng những kho tàng bí mật, gây cho ta những thiệt hại lớn về người và của.
Bọ, mạ cũng kể thêm một chuyện đau lòng nữa mới xẩy ra tại địa phương. Đấy là chuyện đoàn văn công Quảng Bình hay còn gọi là đoàn văn công Bình Trị Thiên. Sau đợt đi biểu diễn khắp nơi, vào chiến trường phục vụ bộ đội. Trong đoàn có một nhạc công đã có vợ nhưng lại yêu một nữ diễn viên. Hai người yêu nhau say đắm, nhưng như thế là vi phạm kỷ luật. Thời đó quan hệ nam nữ rất nghiêm khắc. Ban lãnh đạo đoàn văn công cùng đoàn thanh niên họp kiểm điểm nhiều lần để ngăn cấm. Một buổi tối đoàn văn công cũng tổ chức kiểm điểm, người nhạc công này bức xúc quá chạy ra lấy khẩu AK của người phụ trách máy nổ, thêm hai quả lựu đạn ném vào cuộc họp rồi dùng súng AK bắn chết hơn chục người, sau đó cố thủ trong phòng, tự kết liễu mình bằng chính khẩu súng đó.
Dịp đó chúng tôi hay qua lại nơi bến đò Xuân Bồ. Ngay bên bờ phía Nam, một gia đình có cháu gái khoảng hơn bốn tuổi nhưng đã có khả năng xuất chúng là biết đọc, biết viết, biết làm toán lớp 3. Đặc biệt là cháu lại vẽ giỏi. Khi tôi và nhóm anh Trần Qúy Sùng vào chơi vào chơi bảo cháu vẽ, cháu vẽ ngay một cành đào, có một con chim đậu, một con bay và ghi luôn vào đó câu: “Nó đang tung cánh giữa trời”. (Bức họa cháu bé tặng này đến nay anh Trần Qúy Sùng vẫn còn lưu giữ.)
 Hỏi cháu là thấy con chim ở đâu mà cháu vẽ? Cháu nói con chim đậu ở tầu lá chuối, thế mà cháu lại vẽ thành chim đậu ở cành hoa đào mới giỏi chứ! Không biết sau này lớn lên tài năng của cháu có phát triển tỏa sáng không?
Sau khi công việc tăng cường làm nhà cho các cơ quan sư đoàn hoàn thành, chúng tôi về lại đơn vị, cùng đơn vị làm tiếp các công trình doanh trại của đại đội. Việc đi lấy gỗ bây giờ đã vô cùng khó khăn vất vả vì càng ngày càng phải đi vào rừng sâu hơn tìm kiếm gỗ khó hơn. Nhiều lần khiêng gỗ về, dọc đường quá trưa đói mệt nhưng không phải lúc nào cũng được nghỉ. Vừa đi vừa lấy tay sục vào bụi sim để lấy những quả sim chưa chín bỏ vào miệng ăn cho đỡ đói. Ở hướng tiểu đoàn 1 của tôi không có đường ô tô nên không thể nhờ vả được. Nhưng hướng tiểu đoàn 3 thì gần trục đường 15 đi vào Bãi Hà, xe ô tô đi lại nhiều. Anh em tiểu đoàn 3 tận dụng lợi thế này nên việc đi lấy gỗ nhàn nhã hơn. Cứ ra đường là đã có ô tô đi vào hướng rừng và về cũng vậy. Nhưng khi về thì có gỗ dài to, rất cồng kềnh, lái xe rất ngại, nhiều người không cho đi nhờ. Nhưng anh em tiểu đoàn 3 đa phần là dân Quảng Ninh đất mỏ họ rất khỏe và cũng rất nghịch ngợm. Đã có mấy lần anh em xô xát va chạm với các đơn vị khác ở gần đó. Còn nói tiếp việc lấy gỗ, nhiều lái xe không cho anh em đi nhờ thì anh em cũng cứ chạy theo, nhảy lên xe và việc nhảy lên xe với những người lính bộ binh tiểu đoàn 3 là việc nhỏ. Lái xe thấy anh em nhảy lên xe có ý chơi khăm không dừng xe lại. Anh em đập mạnh vào ca bin xe mà xe vẫn không dừng. Không dừng thì anh em cởi áo ra trùm vào kính phía trước, làm lái xe không nhìn được, đành chịu thua phải dừng xe lại. Có lái xe cự nự thì anh em tiểu đoàn 3 có tiếng là “gấu” họ có sợ gì ai. Bên hông ngoài dao to, mỗi người còn có dao găm Liên Xô hay dao găm tự chế. Nắm dao được đúc bằng đuya ra máy bay màu trắng trông rất ngầu làm cho lính lái cũng ngán. Từ đó dân lái xe và mọi người gọi anh em tiểu đoàn 3 là cơn lốc đường 15 hay đội quân dao găm trắng.
Sau này khi vào chiến đấu tại miền Đông Nam bộ thì tiểu đoàn 3 luôn là tiểu đoàn chủ công của trung đoàn, sư đoàn. Họ chiến đấu rất mưu trí, dũng cảm. Kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, tiểu đoàn 3 được phong tặng là tiểu đoàn Anh hùng Lực lượng vũ trang. Cũng tiểu đoàn này có rất nhiều đồng chí đã trưởng thành với quân hàm và địa vị cao là cấp tá, cấp tướng như trung tướng Trần Anh Vinh, trung tướng Nguyễn Đình Giang, thiếu tướng Nguyễn Công Sơn. Những đồng chí kế nhiệm tiểu đoàn cũng luôn phát huy và tỏa sáng như tiểu đoàn trưởng Anh hùng Nguyễn Song Thao, Đại tá Phan Sỹ Thống.
Sau khoảng hơn hai tháng dốc sức làm doanh trại, các đơn vị trong toàn sư đoàn đã có nhà ở, có hội trường, có các nhà phục vụ hoàn thiện khang trang đẹp đẽ. Đại đội 3 của tôi cũng vậy, doanh trại được làm trên một bãi rộng, theo hình chữ U, có hai dãy dọc, dãy bên phải nhìn từ nhà hội trường xuống là trung đội 1, trung đội 2, dãy bên trái là nhà tiểu đội 10, tiểu đội 11, tiếp đến là nhà của trung đội 3. Mỗi trung đội gồm ba nhà, mỗi nhà của một tiểu đội. Đầu chữ U là hội trường lớn, rộng, đủ chỗ họp cho cả đại đội. Giữa chữ U là sân bóng đá không to rộng theo sân tiêu chuẩn nhưng cũng đủ cho lính chạy nhảy đá bóng thoải mái. Phía dưới cùng, gần suối là bãi tập xà đơn xà kép, cầu độc mộc, nhảy cao, nhảy xa. Phía trên hội trường là nhà chỉ huy đại đội. Đầu hồi ban chỉ huy là nhà ăn, nhà bếp, nhà của quản lý anh nuôi và kho lương thực, thực phẩm. Trong từng nhà, bộ đội đã được ngủ nghỉ bằng giường cá nhân có giát giường gỗ xẻ hay tre luồng ken, nằm khá êm ái, có đủ các loại giá súng, giá ba lô, giá để giầy dép, giá để bát, đũa và mũ nữa. Ở dưới nền nhà, đầu giường còn có các thanh tre ghép chìm hình chữ T để dép hay để giầy đúng vị trí.
Toàn sư đoàn bắt đầu đợt cao điểm quyết tâm xây dựng nền nếp chính quy hiện đại. Chính thức bắt đầu đợt huấn luyện mới, huấn luyện bài bản, kỹ càng như huấn luyện tân binh lúc đầu. Từ động tác nghiêm, nghỉ, chào, đi đều, quay phải, quay trái, ngồi xuống, đứng lên đều phải học lại, tập lại. Đến đại đội nào cũng hừng hực khí thế thi đua. Những khẩu hiệu thể hiện quyết tâm của Sư đoàn là huấn luyện xây đựng sư đoàn 341 trở thành sư đoàn: “Cơ động, tinh nhệ, thiện chiến, chính quy hiện đại”. Cũng chính vì mục tiêu lớn đó mà chúng tôi, những người lính sư đoàn đã ngày đêm dốc rức rèn luyện, mồ hôi luôn ướt áo, ướt đẫm khăn mặt do mưa, nắng thao trường. Những khẩu hiệu lớn trong từng đơn vị như: “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”, hay “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường đỡ rơi máu đào”. Trong từng lán trại có những khẩu hiệu thi đua học tập rèn luyện sát với thực tế của từng đợt học tập. Nội vụ gọn gàng ngăn nắp. Sáng dậy gấp chăn màn vuông vắn trên đầu giường, có đồng chí đứng ngắm, chỉnh sửa sao cho thẳng đẹp. Chăn gấp phải có góc vuông, đẹp. Giá mũ, giá dép, giá súng, giá bát đũa, giá khăn mặt đều thẳng tắp. Buổi tối, sau 21 giờ là có ban thi đua của đại đội đi kiểm tra nội vụ, chấm điểm thi đua. Sáng cũng vậy, sau khi kẻng báo thức dậy tập thể dục, ăn sáng rồi đi tập thì có ban thi đua kết hợp với trực ban đại đội đi kiểm tra nội vụ và chấm điểm. Bàn chải đánh răng cũng được kiểm tra xem có sạch, có bị cặn bám vào không. Hàng tuần còn chi ly kiểm tra móng tay, móng chân của từng người. Tóc luôn phải cắt đạt chỗ dài nhất là 3 cm gọi là tóc 3 phân.
Các phong trào thi đua được phát động liên tục. Tất cả đều có sơ kết, tổng kết, động viên kịp thời. Hàng tối, tôi cùng hai anh Phức và Hưởng vẫn tập hợp tin tức trong ngày sau 21 giờ đọc báo, đọc tin cho đại đội. Việc đọc tin đã trở thành món ăn tinh thần của lính, biểu dương gương người tốt, việc tốt và công bố xếp hạng thành tích của từng trung đội. Hết bản tin chính là trích đọc, giới thiệu báo. Hồi đó chủ yếu là báo Quân đội và báo Quân khu Bốn. Cuối chương trình là công bố kết quả thi đấu bóng đá hay bóng chuyền trong ngày. Những công bố thành tích và nêu gương này nhiều khi cũng gay cấn trong việc cạnh tranh thi đua. Làm cho hôm sau những trận bóng đá sôi động hơn. Thường kết thúc buổi thông tin, anh Phức hát, đọc những bài thơ trong báo tường của đại đội.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #141 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:27:44 am »


       Mọi việc đã đi vào nền nếp, những ngày nghỉ, anh em thường rủ nhau đi chơi Hồ Xá, ra cầu Hiền Lương, thăm vùng địa đạo Vĩnh Mốc và hay tổ chức cải thiện. Chủ yếu là cải thiện bằng các loại rau nấu canh vì ngoài tiêu chuẩn nộp cho đơn vị thì lượng rau xanh, bầu bí đã có phần dư thừa. Có trung đội anh em còn trồng được cả dưa hấu nữa. Ở vùng này nắng nhiều lại rất thích hợp với trồng dưa. Anh em thường có câu: “Nắng tốt dưa, mưa tốt lính”. Các trung đội hoặc các nhóm rất tích cực nuôi gà. Rủ nhau đi bắt kỳ nhông. Kỳ nhông rất nhiều, nó giống như con thằn lằn nhưng to hơn, thân xù xì như con tắc kè. Ở những đồi cát trắng ven biển rất nhiều, đi lên đồi cát thấy bóng người là nó chạy trốn vào các lỗ sâu trong lòng cát. Muốn đi bắt chúng phải mang theo xẻng to, loại xẻng công binh. Thấy kỳ nhông chạy vào lỗ nào là đến đó đào thật nhanh. Kỳ nhông chui rất sâu bắt được nó cái hố đào thường to rộng bằng hai cái hố cá nhân. Một buổi hai người đi đào bắt được khoảng hơn chục con. Những chú kỳ nhông sau khi lột da, thịt trắng phau mang nướng hay băm làm chả thơm ngon tuyệt đỉnh. Hiện nay nó là một loại đặc sản quý hiếm của vùng nắng gió miền trung này.
Dịp này trong trung đoàn lại có phong trào đúc cán dao găm và làm dao găm bằng loại thép trắng và cán cũng được đúc bằng đuya ra của máy bay. Đại đội tôi anh em cũng hì hục làm khuôn, làm bếp nấu đuya ra để đúc cán dao. Nhưng anh em đúc mãi cán dao cứ bị rỗ, bị khuyết. Sau khi xem xét, tôi nói để tôi làm khuôn cho, vì tôi đã biết lý do hỏng nên khi anh em đúc được ngay. Mọi người thắc mắc hỏi tại sao tôi làm được mà họ làm mãi không được. Tôi cười nói đấy là bí mật nhà nghề, thực ra nó có tính vật lý. Nói vậy nhưng tôi giảng giải, phân tích kỹ cho anh em là khuôn đúc của anh em không có lỗ thoát khí. Khi nhôm đổ vào muốn đầy lấp tất cả thì phải có lỗ thông khí. Sản phẩm nhỏ thì cần một lỗ, những sản phẩm lớn lượng nhôm nhiều thì cần tới 2 hoặc 3 lỗ thoát khí mới được. Từ đó toàn đại đội, toàn trung đoàn ai cũng có một con dao găm cán trắng tự chế. Hết phong trào làm dao găm lại đến phong trào khắc chữ lên các loại ca bát, ăng gô, bình tông, vẽ thêm con cá, cành hoa ngày tháng địa danh và tên tuổi của mình. Anh Khoát là người có hoa tay vẽ những cảnh như cây tre, con cò, đàn cá vàng bơi lượn v.v… Vẽ xong thì dùng mũi dao nhọn dũi đẩy theo hình vẽ tạo nên bức tranh rất đẹp.
Ở vùng này có nhiều ống pháo sáng, tôi lấy cắt từng khúc rồi làm đáy, làm quai thành những ca uống nước. Những mảnh máy bay to, tôi nghĩ cách làm những cái đĩa đựng ấm chén hình bầu dục có thành đứng gấp sóng và chạm khắc công phu. Dịp anh Lê Tiến Hạt về làm tiểu đoàn trưởng thay tiểu đoàn trưởng Tạo, xuống thăm đơn vị thấy tôi làm đĩa đẹp quá, anh nói làm cho anh một cái. Tôi cũng kiếm đuya-ra làm cho anh một cái đĩa to có chạm khắc hoa văn và đàn cá vàng bơi lội ở giữa, anh rất thích, mang về quê làm kỷ niệm. Anh Lê Tiến Hạt sau làm trung đoàn trưởng trung đoàn 266. Hiện anh nghỉ hưu với quân hàm đại tá tại Hà Nội.
Huấn luyện được khoảng hơn một tháng thì đến tết. Toàn đơn vị náo nức đón xuân, chuẩn bị tết, mùa xuân và tết đầu tiên của chúng tôi tại vùng đất lửa miền Trung. Các tiêu chuẩn lương thực, thực thực phẩm tương đối dồi dào. Trung đội nào, người nào cũng viết hàng tập thư về cho gia đình. Rồi những công việc như gói bánh chưng, giết gà mổ lợn rất sôi động. Cũng trong ngày chuẩn bị tết này mà tôi có một kỷ niệm đi rừng lấy cây giang về chẻ lạt gói bánh chưng thật nhớ. Ấy là khi tiểu đội 10 của tôi được giao nhiệm vụ lấy một gánh giang cho đại đội. Khi anh Khoát hỏi có ai biết chỗ có giang thì đi lấy. Cả tiểu đội không ai biết, riêng tôi thì một lần vào rừng đi lạc vào khu rừng có rất nhiều giang và song mây. Tôi xung phong đi. Nhưng với nhiệm vụ đó chỉ đi một mình. Sáng 27 tết, một mình tôi vào khu rừng cách đơn vị khoảng 15 - 20 ki-lô-mét, đang lần mò đi đến chỗ rừng giang theo con đường nhỏ lên dốc. Đang đi, tôi phát hiện một con rắn thật to, dài chừng hai mét, đen trũi, thân có nống như là rắn cạp nong. Con rắn bò ngược xuống, đối diện với tôi, thỉnh thoảng nó dừng lại ngóc đầu lên, lè lưỡi dài đánh hơi hay định hướng. Tôi rất sợ nhưng vì đường mòn nhỏ độc đạo hai bên là rừng cây, với những dây leo chằng chịt. Sau phút giật mình hoảng sợ, lấy lại bình tĩnh tôi lách người sang bên phải đứng im sau một gốc cây tay cầm dao giơ lên thế thủ. Nghĩ nhanh nếu rắn phát hiện mà lao vào tôi thì phải chém phạt đầu nó ngay mới được. Nhưng rồi mọi việc qua đi khi con rắn bò trườn qua mà không phát hiện tôi nấp ở đó. Thật hú hồn, lúc này tôi mới thấy sợ, mới thấy cái sai khi vào rừng sâu một mình, nếu không may xẩy ra việc gì thì ai cứu, đơn vị tìm sao được. Tu hớp nước, lấy lại bình tĩnh, tôi đi tiếp tới khu vực có giang. Những cây giang mọc bò dài hàng chục mét, có những đoạn bánh tẻ ưng ý. Tôi chặt những khúc bánh tẻ hai gióng một, chặt xong không cần rút tiếp mà giang tự động tụt xuống, cứ thế chặt chưa hết hai cây đã được một gánh. Nhưng trong rừng gánh sao được đành vác, kéo từng bó, từng đoạn ra khỏi rừng rồi mới cắm đòn gánh vào gánh, gần 3 giờ chiều tôi mới về đến đơn vị.
Toàn đơn vị cờ hoa cùng những khẩu hiệu mừng xuân đón tết rất sôi động. Trong mỗi nhà đều có bàn thờ Tổ quốc, có ảnh Bác Hồ, có câu đối xuân cùng bánh chưng, kẹo các loại. Đặc biệt, vùng này những ngày tết, ngày vui, dân thường làm bánh sắn. Bánh làm bằng bột sắn lọc, nặn dẹt ra thành hình tròn, cho nhân là thịt băm hoặc tôm, tép vào giữa rồi gấp lại thành hình bán nguyệt đem hấp. Bánh ăn rất dẻo và ngon. Nhiều nhà anh em còn lấy cây về cắt hoa giấy nhuộm đỏ, vàng làm giả hoa đào, hoa mai. Tôi cùng mấy anh em đi lấy dây trạc trừu về hái vợi lá, giả làm cây nho leo ở tường trông rất hấp dẫn. Có những buổi liên hoan văn nghệ cùng chi đoàn địa phương. Vui nhất là màn tổ chức hái hoa dân chủ. Một cành đào giả to, được cài vào đó những bông hoa đào giấy, cùng những mảnh giấy gấp có câu hỏi yêu cầu người hái hoa hát, kể chuyện hay diễn trò, ngâm thơ v.v… Sau khi người này thực hiện xong, được quyền chỉ định người khác lên hái hoa. Buổi vui văn nghệ có nam có nữ, có thanh niên của địa phương, có kẹo, trà, bánh trái các loại rất vui. Cuộc vui phá lệ kéo dài tới 11 giờ khuya mới giải tán.
Cũng trong không khí ngày xuân, ngày tết, tiểu đoàn còn tổ chức đá bóng giao lưu, rồi đến các tiểu đoàn trong trung đoàn cũng thi đấu bóng chuyền, bóng đá. Tiểu đoàn 2 lính thị xã nhiều nên tài năng thể thao nổi trội hơn. Hôm tiểu đoàn 2 và các liên quân trung đoàn bộ thi đấu chung kết bóng đá về ngang qua đại đội tôi, Bình kể, riêng em hôm nay ghi được 2 bàn, tiểu đoàn em được giải nhất nhưng tiểu đoàn trưởng Dấng thì bị rụng hai răng cửa vì ông trực tiếp làm thủ môn. Trong một pha lao ra bắt bóng thì va chạm mạnh với tiền vệ đối phương (tiểu đoàn trưởng Nguyễn Dấng sau lên chức trung đoàn phó trung đoàn 273. Ông luôn là người xông xáo có bản lĩnh trong huấn luyện và chỉ huy chiến đấu giải phóng Miền Nam, bảo vệ biên giới Tây Nam sau này. Còn Trần Trọng Bình trong trận chiến bảo vệ biên giới Tây Nam tháng 12 năm 1977, bị thương hiện là thương binh loại 1/4, đang sinh sống tại thành phố Thái Bình).
 Ngoài thể thao, các phong trào văn hóa văn nghệ, sáng tác thơ ca cũng rất sôi động. Những cuộc thi báo, thi thơ trong các đại đội, tiểu đoàn và toàn trung đoàn có nhiều bài thơ hay được đăng tải trên báo của quân khu 4 và báo Vĩnh Linh. Tôi nhớ hồi đó có hai bài thơ đoạt giải A rất nhiều anh em đã thuộc, một là của anh Phùng Tấn Nhật ở tiểu đoàn 3. Bài thơ với tiêu đề: “Đất Vĩnh Linh, đất của hồ tiêu” có câu:“Dốc 6 độ, Bãi Hà, cầu Điện, Bến Quan/ Những địa danh đã đi vào huyền thoại/ Em gái Vĩnh Linh bị thương vai còn vác đạn/ Ngực căng tròn đẹp mãi tuổi hai mươi”… Hai là bài thơ của anh Đặng Thành Văn đại đội 2 ca ngợi về tình yêu và cảnh đẹp của Vĩnh Linh có các câu rất như: “Em ơi em có biết?/ Tim hồng anh đang sôi/ Những chiều hè mây trôi/ Dải Trường Sơn hùng vĩ/ Anh lên đường chống Mỹ/ Em ở lại hậu phương/ Càng xa càng nhớ thương/ Càng yêu em da diết”… (Anh Phùng Tấn Nhật sau khi xuất ngũ làm việc trong ngành điện lực, hiện đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Anh Đặng Thành Văn sau mấy chục năm quân ngũ, hết tham gia chiến dịch giải phóng Miền Nam, làm quân quản rồi chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nhiệm vụ Quốc tế tại Campuchia rồi được điều ra Hà Giang tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Hiện anh đang sống tại thành phố Thái Bình, là chi hội trưởng Chi hội Văn học, Hội Văn học nghệ thuất Thái Bình).
Việc chuẩn bị đón xuân, ăn tết cầu kỳ như vậy, nhưng đúng sáng mùng ba tết tất cả các bàn thờ Tổ quốc trong từng nhà phải thu đi để đơn vị trở lại công việc học tập, huấn luyện bình thường. Có tiểu đội lưu luyến không muốn dọn, nhưng đại đội cương quyết lệnh phải thu dọn, mục đích để anh em không lưu luyến gì tết nữa mà tập trung vào học tập, huấn luyện.
Thế là những ngày vui xuân, ăn tết qua đi rất nhanh, vả lại ở đây khí hậu thời tiết không có cái lạnh, không mưa xuân như ở ngoài Bắc, nên cảm giác ngày tết thật sự không còn, thay vào đó là gió, là nắng, cái nắng gió Lào thật kinh khủng. Mồ hôi chúng tôi lại tuôn đổ trên thao trường hàng ngày luyện binh cùng với những bài học chính trị khô khốc. Song tuổi trẻ và kỷ luật quân đội làm chúng tôi luôn tập trung rèn luyện và tăng gia sản xuất đạt các chỉ tiêu thi đua được giao. Qua quá trình rèn luyện, thử thách, cùng ba lần làm đơn, làm lý lịch, vinh dự cho tôi đã được Đảng ủy tiểu đoàn chuẩn y kết nạp Đảng. Ngày 1 tháng 5 năm 1974, chi bộ đại đội 3 tổ chức kết nạp Đảng cho tôi cùng đồng chí Ngô Duy Phơn trung đội 2 được. (Đồng chí Ngô Duy Phơn sau chiến đấu và hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam năm 1977). Thời gian đảng viên dự bị của tôi là 9 tháng còn của đồng chí Phơn là 12 tháng, vì tôi là thành phần công nhân. Được đứng trong hàng ngũ của Đảng là vinh dự lớn lao của tất cả mọi người. Thời đó đi thoát ly, đi học hay đi bộ đội hầu như tất cả mọi người đều dặn dò, đều chúc là phải phấn đấu để trở thành Đảng viên. Trong lời thề hôm kết nạp, tôi và anh Phơn đều hứa sẽ trung thành với Đảng, sẵn sàng hy sinh cho mục tiêu lý tưởng của Đảng. Vâng tôi đã hứa với mọi người, với bố, với mẹ là con sẽ phấn đấu, và hôm nay con đã được kết nạp vào Đảng, thật vinh dự, tự hào, trong lòng tôi trào lên một niềm vui khó tả. Tôi viết thư về báo với gia đình biết niềm vui to lớn này.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #142 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:29:39 am »


          Như vậy sau 2 năm nhập ngũ, tôi đã được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng cũng là thuộc diện phấn đấu trở thành Đảng viên sớm. Song hôm trước, đọc bản tin của trung đoàn có bài viết ca ngợi mấy đồng đội bên tiểu đoàn 2 cùng xã Đông Huy, Đông Hưng, cùng họ Hoàng có nhiều thành tích phấn đấu và đã được kết nạp Đảng từ năm 1973 đó là các anh Hoàng Thế Tuấn, Hoàng Quốc Lập, Hoàng Ngọc Phong. Cả 3 anh em đều có nhiều thành tích trong hành quân, trong học tập và huấn luyện. Anh Tuấn và anh Phong được điều lên làm bảo mật trung đoàn. Còn anh Hoàng Quốc lập khi đi chiến đấu được giữ chức trung đội trưởng khi mới có 19 tuổi. Sau ngày giải phóng anh Tuấn được đi học lớp sỹ quan chính trị rồi về quân chủng Hải quân. Qua nhiều chức vụ anh nghỉ hưu với quân hàm đại tá tại Hải Phòng. Anh Hoàng Trọng Phong sau ngày đất nước thống nhất được đi du học tại Liên Xô ngành kinh tế , với thành tích là bằng đỏ học vị tiến sỹ, học hàm là phó giáo sư. Anh về làm vụ trưởng một vụ quan trọng tại Bộ kế hoạch, rồi làm phó Viện trưởng Viện quy hoạch chiến lược của Bộ kế hoạch đầu tư. Hiện nghỉ hưu sống tại Hà Nội.
 Anh Hoàng Quốc Lập vào bộ đội mới 17 tuổi, khi đi chiến dịch Hồ Chí Minh là là lớp cán bộ trung đội trưởng trẻ nhất. Năm 1977 tiếp tục tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ Quốc tế. Sau bị thương mấy lần được xuất ngũ theo chế độ bệnh binh, thương binh. Về địa phương anh thành lập công ty xây dựng 27 tháng 7 trong lĩnh vực xậy dựng rất thành công. Hiện anh có nhà máy nước cung cấp nước sạch cho các xã và làm Hội trưởng Hội nước sạch tỉnh Thái Bình. Vì nhiều thành tích trong xây dựng phát triển kinh tế. Năm 2012 và 2017, hai lần anh được vinh dự đi Hội nghị biểu dương người có công với Cánh mạng tiêu biểu toàn quốc. Được gặp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà Nước .
Việc học tập huấn luyện ngày một căng. Thi thoảng cũng có ngày chủ nhật được nghỉ nhưng phải kết hợp khi thì đi lấy gạo, khi thì đi lấy củi cho nhà bếp, tiêu chuẩn phải nộp là 30 ki-lô-gam. Mà lấy được lượng củi ấy phải vào mãi trong rừng xa 15 - 20 ki-lô-mét qua trưa mới về đến đơn vị. Song do phẩn đấu thành tích nên tôi và nhiều người thường lấy tới 40-50 ki-lô-gam. Chiều vẫn phải tập trung tưới cây, tăng gia đảm bảo chỉ tiêu rau xanh. Nên mang tiếng là ngày chủ nhật nghỉ, nhưng thực tế là chỉ được nghỉ khoảng 3 tiếng. Tối vẫn họp tổ ba người, họp tiểu đội, kiểm điểm và chuẩn bị tổng hợp tin phát vào lúc 21 giờ.
Là sư đoàn đứng đầu giới tuyến, với quyết tâm xây dựng đơn vị chính quy hiện đại. Ý định của Bộ, của Quân khu là xây dựng sư đoàn 341 là sư đoàn cơ động thiện chiến, nên Quân khu và Bộ đã cử rất nhiều đoàn công tác, trợ lý của sư đoàn, của Quân khu, cả các đoàn nhà báo quân đội về theo dõi giúp đỡ xây dựng đơn vị kiểu mẫu làm gương cho toàn quân học tập. Qua những cuộc thi, những lần kiểm tra, đại đội 2 tiểu đoàn 1 luôn là đơn vị có thành tích cao nhất. Các cán bộ đại đội 2 như đồng chí Đặng Văn Lợi quê Thái Bình, đã đeo quân hàm chuẩn úy được 7 năm. Đôi quân hiệu trên ve áo chuẩn úy màu đỏ thắm, theo thời gian không còn thẫm nữa mà trở nên đen xỉn, cái gạch bạc chuẩn úy cũng vậy. Đại đội trưởng Nguyễn Văn Tiến, thiếu úy, quê thị xã Hà Tĩnh cũng đã có nhiều thâm niên làm cán bộ đại đội, rất nhiều kinh nghiệm trong việc tổ chức huấn luyện. Sư đoàn, trung đoàn đã chọn đại đội 2 để xây dựng điển hình về mọi mặt. Các sỹ quan phái viên của Bộ vào giám sát cũng nhất trí như vậy. Sau khi đại đội 2 được chọn để xây dựng đại đội kiểu mẫu thì khí thế của đại đội, của tiểu đoàn, trung đoàn sôi động hẳn lên. Các đoàn phóng viên, các trợ lý của Bộ, của Quân khu, của sư đoàn kéo về ăn nghỉ tại đại đội để giúp đỡ chỉ đạo về mọi mặt. Qua bình chọn, đại đội 2 Sông Lam đạt danh hiệu Đại đội Quyết Thắng. Hàng ngày trong các báo của Quân đội, của Quân khu và cả báo Nhân dân cùng rất nhiều báo chí địa phương đều đưa tin về đại đội 2 Sông Lam là tấm gương xây dựng đại đội cho toàn quân. (Sau này khi vào miền Nam chiến đấu trong Chiến dịch mùa xuân năm 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Với nhiều thành tích xuất sắc, đại đội 2 đã được Đảng, Nhà nước và Quốc hội phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang. Trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tại biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ Quốc tế tại Campuchia, đại đội 2 cũng lập được nhiều chiến công và đã có hai đồng chí Nguyễn Sông Thao, Ngô Khắc Quyền đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang).
Khoảng tháng 10 năm 1973, mùa mưa đến. Mưa, mưa thật nhiều, việc luyện tập vất vả thêm rất nhiều. Khổ nhất là những ngày học tập về chiến thuật: “Bao vây tiến công liên tục đánh quân địch đổ bộ đường không”. Tình huống là quân Việt Nam Cộng hòa liều lĩnh đổ bộ bằng đường biển và đường không chiếm lĩnh những cao điểm quan trọng tại khu vực Vĩnh Linh, Quảng Bình. Đơn vị phải hành quân chiến đấu dã ngoại. Trời mưa dầm dề nên việc đào hầm rất khổ, vì chỉ cần đào xuống sâu khoảng gang tay là nước đã ứa ra ngập chỗ đào. Nhiệm vụ thực binh phải như trong chiến đấu, hầm hố phải sâu đạt từ 70 cm đến 1 mét. Thế là cứ phải vừa đào vừa múc nước ra. Tối cũng ngủ dưới hầm, cũng phải thay nhau múc nước. Có lần đến phiên tôi ngủ, sáng mở mắt ra ngước nhìn lên tán lá, eo ơi rắn. Không phải một con mà là hai con rắn lục đang cuộn bám đu trong vòm lá thấp ngay trên đầu tôi. Nghe nói loại rắn này rất độc nhưng ban ngày thì mắt nó kém. Rắn lục nên thân của nó màu xanh lẫn vào lá cây rất khó phát hiện. Như vậy là cả chiều và đêm qua hai anh em tôi nằm dưới tổ rắn lục mà không biết, thật hú hồn.
Quần áo đi diễn tập chỉ có hai bộ, không có chỗ giặt giũ phơi phong. Anh em phải mặc quần áo ướt cả ngày. Thế là các bệnh hắc lào, ghẻ ngứa được dịp lây lan phát triển. Hầu như không người nào là không mắc phải. Thứ bệnh ngoài da ấy nó không đau đớn, không làm chết người nhưng lại gây khó chịu vô cùng. Sau đợt diễn tập về doanh trại lại phát hiện thêm một loại ký sinh đáng ghét nữa đó là rệp. Những con rệp bình thường thì mỏng dính như cái vẩy ốc nhỏ, nhưng khi nó đã hút no máu thì bụng phình tròn ra. Khi nó cắm vòi vào da hút máu thì không đau nhưng khi no máu nó rút vòi ra thấy đau nhói một cái mà không thể phát hiện được nó, vì nó đã chạy biệt đi rất nhanh, chui vào ép mình trong các lạch giường. Có nhiều con khi đốt xong lại leo lên giấu mình ở các góc màn. Có sáng dậy kiểm tra các góc màn đã có hàng chục con với cái bụng to kềnh đầy máu. Các vết châm chích của nó làm da thịt bị lở, bị sẹo rất khó chịu. Việc tiêu diệt loại ký sinh này lại rất phức tạp. Anh em dùng nước sôi dội, bôi dầu luyn hoặc mang phơi nắng cũng không tiêu diệt hết được chúng nó. Đúng như dân gian có câu: “Khôn như rệp, sống dai như rệp” thật chẳng sai tý nào.
Cũng mùa mưa năm ấy, đại đội 18 thông tin, đại đội 20 trinh sát tại xã Vĩnh Long còn bị nước lũ dâng cao ngập nhà, đêm anh em phải leo lên tận nóc nhà tránh lũ. Một bài học là không tường địa lý không hiểu lòng dân là như vậy. Vì khi chọn được bãi đất đẹp bằng phẳng cạnh con suối nhỏ, dân địa phương thấy vậy đến chơi và cảnh báo là: Các chú làm nhà ở đây nếu có lũ là ngập hết đấy. Anh em nghe thấy vô lý vì con suối bé tẹo lội qua được, lấy đâu ra nước mà ngập nhà. Thế rồi sự việc xẩy ra đúng như dân nói. Bộ đội thì chạy kịp nhưng kho gạo và lợn gà thì đâu có chạy được. Hết lũ, các đại đội khác trong trung đoàn phải chia sẻ gạo ngâm nước về ăn chua như mẻ và đổi gạo tốt cho anh em.
Mưa thì dầm dề như vậy, ở rừng ở đồi thì khổ sở vô cùng. Nhưng những ngày nắng mà học chiến thuật phải leo lên đánh địch trên những đồi cát trắng ven biển thì lại là cái khổ khác. Đồi tiếp đồi, cát ở đâu mà nhiều thế. Đi trên đồi cát ở đây cảm giác như đi trên sa mạc rộng lớn trong truyện, trong các bộ phim. Mỗi bước đi phải bước cố vì cát lún làm chân nặng như đeo chì. Cát trắng phau phản chiếu ánh mặt trời làm cho bị lóa mắt, tạo thành ảo giác có khi không xác định được phương hướng. Có một vài đồng đội choáng ngã, thế là những người khỏe lại phải tập trung khiêng, hay dìu anh em đi, mang súng đạn giúp. Tất cả những đồi cát ven biển ở đây đều đã in dấu chân chúng tôi, những người lính sư đoàn 341 luyện quân đánh giặc.
Sau đợt diễn tập thực binh: “bao vậy tiến công liên tục, đánh quân đổ bộ đường không đường biển”. Các đơn vị về lại doanh trại, bước vào đợt học tập chính trị sâu rộng. Lần học này, giảng viên không phải là cán bộ chính trị đại đội mà là các trợ lý chính trị của trung đoàn, sư đoàn về giảng. Ngoài các nội dung về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới và nhiệm vụ của cán bộ chiến sỹ sư đoàn. Các cán bộ chiến sỹ còn được học sâu về chủ nghĩa Mác-Lênin cùng một số bài về triết học. Theo như các đồng chí giảng viên nói thì chưa có đơn vị nào được học về chính trị sâu như vậy. Cái thuật ngữ “xem xét” của bài học luôn được lính ta dùng mọi lúc mọi nơi, nó trở thành câu cửa miệng của mỗi người. Hễ ai nói, ai hỏi nhau cái gì, hoặc mượn nhau xin nhau cái gì, thì đầu tiên vẫn nhận được câu trả lời là: Để xem xét cái đã. Những buổi thảo luận chính trị của từng tiểu đội, từng trung đội cũng rất sôi nổi. Môn triết học như: vật chất - ý thức, mệnh đề: “Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất sinh ra và quyết định ý thức”, hay “thời thế tạo ra anh hùng hay anh hùng tạo ra thời thế” và nhiều vấn đề khác nữa như chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội “ai thắng ai” v.v… đều được thảo luận tranh cãi, đôi khi khi không có hồi kết.
Hết đợt học tập chính trị nâng cao nhận thức của bộ đội, chúng tôi còn được học một khóa võ thuật do các giáo viên của Quân khu về huấn luyện. Học chính trị thì nhàn nhã vì được học, được thảo luận trong nhà, nhưng mọi người lại không thích mà khi học võ thuật rất vất vả thậm chí là ngã, là bị đấm, bị đánh rất đau nhưng bộ đội lại rất thích. Hóa ra học võ trước tiên là tập ngã, hay nói đúng hơn là ngã phải đúng kỹ thuật, cho dù là bị ngã bất ngờ cũng không thể để bị đập đầu xuống đất, mà sẵn sàng phản đòn lại đối phương. Có bốn tư thế ngã là ngã sấp, ngã ngửa và ngã nghiêng sang phải, nghiêng sang trái. Với những động tác ngã này thì được tập ở khắp mọi nơi. Sau khi được giáo viên giảng và hướng dẫn cách ngã, mọi người đứng một hàng ngang tập ngã sấp trước. Tiểu đội trưởng đi đằng sau bất ngờ nắm chặt hai cổ chân giật mạnh, ai mà không được rèn luyện thì khi bị đối phương giật như thế sẽ bị ngã sấp, đập mặt xuống đất. Nhưng theo kỹ thuật thì phản xạ phải nhanh, dùng hai tay lên gân và chém mạnh xuống, đỡ cho thân và đầu không bị đập, gây chấn thương. Với bài tập ngã này mà mấy lần trong đơn vị anh em đùa quá chớn dẫn đến va chạm,  vì đang đứng chơi thì bị giật chân. Cũng có anh kịp đỡ đúng kỹ thuật, nhưng cũng có người ngã không đúng bị đau, thế là ầm ĩ cãi vã, thậm chí nhảy xổ vào đấm nhau. Sau những bài tập ngã là những miếng đánh, miếng đỡ trong thực chiến. Mới đầu tập đánh, tập đỡ, tập ngã người ngợm tay chân đau nhừ. Nhưng sau gần một tháng học tập, tự rèn luyện thể lực, nên tính nhanh nhậy phản xạ, sức khỏe của bộ đội nâng lên. Nhiều anh em say mê tập, bất cứ ở đâu cũng thấy đập cánh tay vào thân cây hay thân cột cho tay chắc khỏe, chịu va đập, chân tay chỗ nào cũng bị thâm bầm. Sau một thời gian luyện tập, khi va chạm không còn bị đau nữa, công lực tăng lên đáng kể.


                                                      XII

Khoảng cuối năm 1974, Quân Khu Bốn có kế hoạch tổ chức hội thao toàn quân. Được thông báo đây là lần hội thao Quân khu lớn nhất từ trước đến giờ. Hội thao, tức là thi kiểm tra tất cả các môn từ đội ngũ đến trật tự nội vụ và thi bắn đạn thật các loại vũ khí. Sư đoàn 341 có kế hoạch chọn và cử đại đội 2 đi dự thi. Từ quyết định này, toàn sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn có nhiệm vụ giúp đỡ đại đội 2, xây dựng đại đội 2 giỏi toàn diện, quyết tâm giành cờ đầu hội thi. Trước hết là quân số được lựa chọn tăng cường một số chiến sỹ từ các đại đội khác sang với tiêu chí không chỉ giỏi về chuyên môn xạ kích và ý thức kỷ luật tổ chức, mà còn phải chọn người có chiều cao để xếp đội ngũ cho cân đối, đẹp đội hình. Tôi cũng thuộc diện được cử biên chế vào tiểu đội súng cối 61 ly, trực tiếp làm xạ thủ số 1. Nếu thi bắn đạn thật thì đồng chí Vân, tiểu đội trưởng trực tiếp làm khẩu đội trưởng.
Xạ thủ số 2, số 3 cũng là những đồng chí được chọn lựa kỹ càng. Ngoài việc học tập về xạ kích súng cối, vất vả nhất vẫn là tập về điều lệnh đội ngũ. Tập diễu hành vừa đi vừa hát theo nhạc bài hát Tiến quân ca rồi đi nghiêm chào chỉ huy trên lễ đài. Vất vả, mệt mỏi vô cùng, nên đại đội trong giai đoạn này được ưu tiên không phải ăn độn, không bị cắt lương thực tiết kiệm như các đơn vị khác. Các loại nhu yếu phẩm cũng được ưu tiên cao hơn. Việc tập luyện thật hăng say, luôn hừng hực khí thế của đơn vị chính quy hiện đại đứng đầu nơi chiến tuyến.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #143 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:33:08 am »


           Khoảng đầu tháng 12 năm 1974, đại đội được lệnh lên đường tham dự hội thi. Địa điểm hội thi là Trường hạ sỹ quan Quân khu Đồng Nông thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An. Trước khi lên đường, sư đoàn cấp phát cho mỗi chiến sỹ một bộ quân phục dài tay, một đôi giầy và mũ cối mới. Trên ngực trái quân phục, 100% cán bộ chiến sỹ phải thêu phiên hiệu bằng chỉ trắng là SL 2/1. SL là chữ viết tắt của sư đoàn 341 mật danh là Sông Lam, số 2/1 là ký hiệu đại đội 2, trung đoàn 273 hay gọi là trung đoàn 1. Trên vành mũ bên ngoài được dán một khẩu hiệu “bướm” với nội dung: “Đại đội 2 Sông Lam quyết tâm giành lá cờ đầu trong hội thao Quân khu”.
Đầu tháng 12 năm 1974, toàn đại đội được bốn xe ô tô Hồng Hà của sư đoàn đưa về Quân khu. Các cán bộ của tiểu đoàn, trung đoàn và các đồng chí trợ lý sư đoàn tập trung động viên, tiễn chân đại đội 2 với những lời dặn dò, cùng câu chúc giành giải cao nhất. Đúng 8 giờ đoàn quân lên đường trong khí thế hừng hực của những người lính đơn vị Quyết thắng. Bụi đất đỏ cuộn bay sau bánh xe. Ai cũng háo hức vui trong trang phục quần áo, mũ giầy mới tinh thật hào hùng, trong mỗi người lính còn thêm niềm vui nữa là hy vọng dịp này ra Quân khu dự thi đạt thành tích cao sẽ được thưởng phép về thăm gia đình, vì thời gian này là cuối năm 1974, đã hơn hai năm nhập ngũ chưa được về thăm nhà, nên niềm vui trong mỗi người tăng lên gấp bội.
 Xe chạy ra đường 1 rồi rẽ trái ra Bắc. Đường tốt, xe băng băng ngược với hướng đường của các đoàn xe chở đầy hàng hóa chi viện cho chiến trường. Càng đi, cảm giác cuộc sống của dân mình sau một năm hòa bình sôi động hẳn lên. Những ngôi nhà mới mọc lên nhiều, những hàng quán, biển hiệu hấp dẫn cho thấy cuộc sống sau chiến tranh đang được hồi sinh. Bên trái xa xa là dãy Trường Sơn đen sẫm, còn bên phải là những đồi cát trắng, là biển xanh vô tận với những con sóng tung bọt trắng xóa. Những chiếc thuyền đánh cá buồm căng gió lộng, cảm giác tâm hồn bay bổng. Quê hương tôi, đất nước tôi thanh bình, đẹp đến nao lòng.
 Qua đèo Lý Hòa, tới đèo Ngang thì mưa, đang là cuối mùa mưa nên mưa ập xuống đột ngột. Chúng tôi mở ba lô lấy áo mưa ra quàng, im lặng trong suy tư, cái háo hức giảm đi khi mưa to hơn không còn nhìn ngắm được cảnh vật bên đường nữa. Ngồi trong thùng xe không có mui hàng tiếng đồng hồ, gió lớn, xe chạy ngược gió làm ai cũng bị lạnh. Tôi bị lạnh, nhâm nhẩm đau bụng rồi cứ thế tăng lên, tôi lấy dầu cao xoa vào rốn, bôi vào bên trong miệng mà cũng không đỡ. Tôi nói với anh Thảo là tôi đau bụng quá (anh Thảo cũng ở tiểu đội cối của đại đội 1 được điều động sang như tôi. Anh là lớp học sinh miền Nam được ra Bắc học, nhập ngũ cùng đợt với tôi. Anh người to cao quê Quảng Trị, gia đình có truyền thống cách mạng, rất giỏi võ). Anh Thảo nói: Có lẽ đau do ngấm nước, cảm lạnh rồi, Phú đưa tay đây tôi điểm huyệt cho đỡ đau. Anh cầm bàn tay tôi và dùng ngón tay cái bấm mạnh vào khe giữa ngón cái, ngón trỏ của tôi. Anh nói đây là huyệt phong cốc, bấm, day vào đây sẽ cắt cơn đau. Đúng như vậy, cơn đau của tôi dịu xuống ngay, trời mưa lạnh mà tôi có cảm giác nóng bừng, vã mồ hôi ra. (Anh Nguyễn Ngọc Thảo sau này về làm giám đốc bến xe Nam thành phố Huế. Hiện anh đã nghỉ hưu sống tại Huế. Bố đẻ anh Thảo là phó chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế, gần ngày giải phóng miền Nam thì ông hy sinh. Bà nội anh Thảo được công nhận là Bà mẹ Việt Nam anh hùng).
Buổi trưa, xe tới thị xã Hà Tĩnh, tạt vào nhà dân ở trung tâm thị xã nghỉ ngơi nấu ăn trưa. Xe chở đại đội trưởng Nguyễn Văn Tiến thì chạy thẳng về nhà của gia đình ông ở cuối thị xã. Tiểu đội tôi vào một gia đình nghỉ nhờ, ngôi nhà tranh nhỏ có mấy luống rau cải đằng trước. Anh em dìu tôi vào nhà nói với mạ chủ nhà là tôi bị đau bụng cho nằm nhờ, bà mạ hỏi con đau sao? Tôi nói có lẽ con đau bụng do cảm lạnh. Bà mạ lấy cho tôi cốc nước ấm, cho chút dầu gió vào rồi bảo tôi uống xong nằm trên giường mà nghỉ. Ngôi nhà hai gian nhỏ bên trong có mỗi cái giường. Tôi nằm. Ôi, ngả lưng xuống giường mới êm ái làm sao. Bà mạ kéo chiếc chăn bông vỏ hoa chéo màu đỏ đắp cho tôi cùng cái gối trắng tinh có thêu diềm đăng ten chung quanh, làm tôi cảm giác đầm ấm gần gũi, rạo rực lâng lâng khó tả. Điều thật đơn sơ mà với tôi lúc này thấy cao sang đến thế! Tôi cảm thấy như đang ở quê nhà, mạ đây như mẹ tôi với tình cảm của người mẹ chăm sóc đứa con. Thật cảm động, trong chăn ấm, nước mắt tôi chảy dài, tôi cảm ơn mạ và lơ mơ thiếp đi trong lúc anh em tập trung lo bữa cơm trưa có sự giúp đỡ của mạ. Mạ cắt rau cải ở luống rau trước cửa cho chúng tôi nấu canh với thịt hộp. Mạ nấu cơm và cùng làm đồ ăn với anh em.
Tôi ngủ lơ mơ ngủ nhưng vẫn nghe vọng tiếng trao đổi của mạ với anh em. Rồi tôi thấy có tiếng bước chân nhẹ cùng tiếng con gái hỏi: Ai nằm ở trong ni đấy mạ? Mạ trả lời: Có chú bộ đội bị đau bụng nằm nghỉ trong nớ. Tôi hé mắt nhìn thấy lưng cô gái mặc áo trắng, tóc dài, quần sa tanh đen óng rất đẹp. Chắc đây là giường nằm của cô gái, nên mùi con gải thoang thoảng thơm. Cái mùi thơm đó, cái lưng eo cô gái làm tôi bồn chồn rạo rực khắp người. Tiếng cô gái nhỏ nhẹ nói với mạ: Con đi mua chè xanh nấu nước cho các anh. Tiếng xe đạp lách cách xa dần, lúc sau cô mang về một bó chè xanh, nói mạ nấu nước. Cơm canh đã xong, anh Vân, anh Thảo vào lật chăn lên hỏi: Đã khỏi đau chưa? Dậy ăn cơm thôi, còn lên đường. Tôi nói: Tôi khỏi rồi. Tôi dậy gấp lại chăn, ra rửa mặt. Cô gái múc cho tôi chậu nước, cái chậu sắt tráng men thật quen thuộc, cô nói: Anh rửa mặt đi, khăn mặt của em đó. Một câu nói nhẹ nhàng mà sao ấm áp gần gũi vậy. Tôi cầm cái khăn mặt trắng cô gái đưa cho và nói: Anh cảm ơn em, anh có khăn rồi. Lúc nãy  được nhìn phía sau lưng cô, còn bây giờ được nhìn cô phía trước, một khuôn mặt xinh đẹp dễ thương làm sao! Tôi đưa khăn ấp lên mặt, cái hương thơm là lạ của khăn làm tôi lâng lâng xao xuyến, rạo rực trong lòng. Tôi vắt khăn lên dây và lấy cái khăn xanh của lính ra rửa mặt.
Chúng tôi mời mẹ con cô cùng ăn cơm. Được biết nhà chỉ có hai mạ con, ông bố cũng đang là bộ đội ở chiến trường nhiều năm chưa về, cô là con gái đầu, hiện là giáo viên cấp 1. Nhìn cuộc sống và nếp sinh hoạt của hai mẹ con, ngôi nhà nho nhỏ đơn sơ nghèo nàn nhưng gọn gàng ngăn nắp, chắc lâu rồi không có hơi đàn ông. Bỗng trong tôi bừng lên cảm giác thèm, rất thèm có được cuộc sống trong căn nhà này. Nghỉ ngơi một lúc rồi đến giờ lên đường, bà mạ và cô gái chia tay chúng tôi thật lưu luyến, có phần bịn rịn. Trong lòng tôi tự hứa thế nào cũng có dịp quay lại đây thăm mẹ con cô.
Chúng tôi lên đường, đi tiếp mấy chục ki-lô-mét nữa thì tới phà Vinh. Đợi phà hơi lâu, nhưng xe chở bộ đội nên được ưu tiên qua trước. Thành phố Vinh đây ư? Thành phố Đỏ mà trong bài giảng chính trị thường hay nhắc tới các phong trào đấu tranh cách mạng những năm ba mươi. Từ thành phố này rẽ tay trái mấy chục ki-lô-mét nữa là tới Kim Liên, huyện Nam Đàn, nơi sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh - Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta. Nơi ấy, tại chân núi Đại Huệ là nơi thành lập sư đoàn 341. Thành phố ngày cuối năm người xe đi lại tấp nập, mặc dù nhà cửa vẫn đơn sơ nghèo nàn. Những đống đổ nát do máy bay Mỹ đánh phá vẫn còn nguyên đó. Nhưng với chúng tôi cảm nghĩ lúc đó thành phố vẫn là nơi đông đúc dân cư và  rất tuyệt vời.
Chiều tối đoàn chúng tôi đến nơi tập kết. Trường Hạ sỹ quan Đồng Nông thuộc xã Đức Thành, Huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Trường có quy mô rộng lớn, đầy đủ lán trại chính quy. Chúng tôi được nhanh chóng hướng dẫn vào một dãy nhà của học viên. Các học viên đã đi sơ tán trong dân nhường nơi ở cho các đoàn khách Quân khu đến tham dự hội thao. Cơm tối đã được ban tổ chức nhà trường chuẩn bị. Ngày hôm sau mọi người được nghỉ ngơi, làm quen với thao trường, tập đi đều tại khu vực sân vận động đã có khán đài chính. Chúng tôi được nhắc bộ quần áo mới phải giặt ngay, phơi khô để mặc cho ngày hội chính.
Sang ngày thứ ba thì lễ hội chính thức khai mạc. Tất cả các lực lượng quân đội của Quân khu Bốn và các tỉnh đứng xếp hàng ngang trước lễ đài. Trên khán đài có mấy thủ trưởng đeo quân hàm cấp tướng, chắc là phái viên của Bộ vào. Còn tư lệnh trưởng Quân khu Bốn lúc đó là đại tá Giáp Văn Cương. Sau khi tham mưu trưởng Quân khu hô nghiêm rồi chạy lên báo cáo Tư lệnh quân khu và Đoàn chủ tịch, lễ duyệt binh biểu dương lực lượng bắt đầu. Dẫn đầu đoàn diễu hành là các học viên trường Hạ sỹ quan sau đó đến đội hình của đại đội 2 sư đoàn 341, rồi đến lực lượng quân sự của các trung đoàn, sư đoàn và bộ đội địa phương các tỉnh. Khi đội hình của đại đội 2 Sông Lam diễu hành, cả khu vực quảng trường nhộn hẳn lên, tiếng vỗ tay không ngớt vì đội hình những người lính đại đội 2 đi rất đẹp, trong trang phục mới, những bước chân đều tăm tắp, oai phong và hùng dũng.
 Hết một vòng, mỗi đơn vị về vị trí của mình và chính thức vào cuộc thi, bài thi đội ngũ. Tiếng nhạc nền bài ca: “Tiến bước dưới quân kỳ” do đoàn quân nhạc quân khu cử hành vang lên, đại đội trưởng Nguyễn Văn Tiến hô bộ đội bước đều bước vào nhịp bài hát. Bước chân đầu tiên và câu hát đầu tiên vang trong ngực mọi người, ai cũng đi thật đều, vừa đi vừa hát theo thật to: “Vừng đông đã hửng sáng, núi non xanh ngàn trùng xa, Tổ quốc bao la hiền hòa…”. Tổ ba người dẫn đầu đội hình, anh Ngọc cầm quân kỳ giương cao ngả về phía trước đi tiên phong. Tiếp sau là đội hình đại đội đi theo hàng sáu người. Đoàn quân bước rầm rập, rầm rập, thật hùng dũng và uy nghiêm, thể hiện sức mạnh quân đội, sức mạnh của tập thể, đoàn kết gắn bó, kỷ cương chính quy, hiện đại. Đoàn quân đi ngang qua khu vực lễ đài, các tướng lĩnh trên Đoàn chủ tịch đã đứng hết cả lên đáp lễ đoàn quân. Đại đội trưởng Tiến hô to: Đi nghiêm! Toàn bộ hàng quân chuyển sang động tác đi nghiêm, mặt đánh sang lễ đài làm động tác chào Đoàn chủ tịch, tất cả các động tác đều thành thục, chuẩn đẹp. Hết vòng sân, đại đội về vị trí đứng và lần lượt đến các đơn vị khác. Hết buổi sáng cũng là kết thúc môn hội thao đội ngũ, đại đội 2 Sông Lam được đánh giá là đơn vị có số điểm cao nhất dẫn đầu Quân khu.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #144 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:34:37 am »


        Những ngày tiếp theo là hội thi tất cả các khoa mục như bắn xạ kích súng AK bài 1, bắn các loại B40, B41, DKZ, súng cối 82 ly và súng cối 61 ly cùng hội thi các môn thể thao bóng bàn, chạy, nhảy cao, nhẩy xa, xà đơn, xà kép cùng các kỹ thuật, thông tin, trinh sát v.v… Sau 5 ngày hội thi, đại đội 2 và sư đoàn 341 đều lập thành tích cao, được ban tổ chức hội thi đánh giá là đơn vị dẫn đầu toàn Quân khu. Với thành tích xuất sắc, ai cũng vui, cũng náo nức tin rằng toàn đại đội sẽ được thưởng phép.
Buổi chiều hôm bế mạc hội thi, đại đội tổ chức họp, chính trị viên Đặng Văn Lợi biểu dương tinh thần và thành tích của toàn đại đội. Ông nói tiếp: Lẽ ra với thành tích đó chúng ta được cấp trên thưởng phép như đã gợi ý trước lúc đi hội thao. Nhưng hiện nay tình hình chiến sự có nhiều biến động. Tại chiến trường miền Nam và cả ba nước Đông Dương, thế lực quân sự đang có lợi cho chúng ta. Khi các đồng chí đang dự thi ở đây thì tại trung đoàn và cả sư đoàn được bổ sung quân số. Mùa xuân là mùa của chiến dịch. Hy vọng mùa xuân năm nay sẽ có nhiều diễn biến quan trọng tại chiến trường, thời cơ lớn đã đến. Vì vậy chúng ta không được đi phép và phải trở về vị trí đứng chân của trung đoàn gấp, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Cả hội trường im lặng, câu nói của chính trị viên vừa rồi như bếp lửa rực cháy bị dội thùng nước lạnh. Mọi người tiu nghỉu cảm thấy hụt hẫng trước sự tiền hậu bất nhất của cấp trên. Quân đội, quân sự thì bao giờ chẳng căng thẳng, chỗ nào, lúc nào mà chẳng có địch. Sau một vài phút im lặng, mọi người ồn hẳn lên có ý phản đối. Nhưng phản đối ai, phản đối sao được khi mà lời chính trị viên đã nói là mệnh lệnh. Mà đại đội 2 là đại đội kiểu mẫu, là đơn vị Quyết thắng. Những chiến sỹ của đại đội, cùng với các đồng chí tăng cường đều là những người ưu tú, kỷ luật rất nghiêm. Buồn, bực nhưng rồi tất cả cũng phải răm rắp thực hiện mệnh lệnh cụ thể của đại đội trưởng. Theo nhiệm vụ, sáng ngày mai, sau khi ăn sáng, đúng 8 giờ sẽ có xe đưa mọi người trở về Vĩnh Linh. Chiều tối hôm sau chúng tôi về tới khu vực đóng quân của đại đội. Hôm tiếp sau được nghỉ buổi sáng, chiều họp kiểm điểm, tổng kết mừng công rồi tối thì những đồng chí tăng cường trở về đơn vị của mình. Tôi, anh Ngọc cùng mấy anh em về lại đại đội 3 của tôi tiếp tục công việc học tập huấn luyện.


                                                    XIII

Hai ngày sau có lệnh toàn trung đoàn đi làm nhiệm vụ mở đường tại phía Tây tỉnh Quảng Bình. Sau một ngày chuẩn bị, chúng tôi hành quân dọc theo đường tầu rồi rẽ lên phía Tây nơi cần mở gấp con đường chiến lược. Tối muộn, chúng tôi hành quân tới nơi và lại được phổ biến trong hai ngày phải làm xong lán trại tạm, vì thời gian mở đường làm nhiệm vụ ở đây không dài như lần trước. Lúc này đã là những ngày cuối năm 1974. Mùa đông, cũng là cuối mùa mưa, mưa không lớn nhưng dai dẳng cả ngày. Mùa đông ở vùng rừng núi nên tối và đêm rất lạnh. Lần này chúng tôi không làm nhiệm vụ phá đá như lần trước, mà phát cây san đồi mở tuyến mới. Mưa ẩm ướt suốt ngày, phải khoác áo mưa để san đường, đào bới đồi đất, làm những cái gạt để một người giữ gạt hai người kéo đất giống như người đi bừa, chỉ không có trâu bò mà là sức lính kéo. Quần áo ẩm ướt cả ngày rất khó chịu. Ai cũng chỉ có hai bộ, mà dầm mưa liên tục nên có lúc nào được mặc quần áo khô đâu. Rau xanh thì rất hiếm. Có hôm anh Đôi nhìn thấy dưới khe núi có mấy bắp hoa chuối nhỏ bèn lần mò xuống lấy. Nhìn khóm chuối thì gần, nhưng lần mò mãi mới xuống tới nơi người nọ kéo người kia gần cả tiếng đồng hồ mới lấy được ba cái bắp hoa chuối rừng nhỏ như hai tay úp lại. Cây gai kéo toạc da, rách cả quần áo, sau khi cởi quần áo ra thì mới thấy hàng chục con vắt bám vào người, con nào con ấy đã căng mọng máu.
Lao động vất vả nhưng được cái cơm ăn thì không bị đói, vì hồi này bộ đội được ăn loại gạo gọi là gạo “đồ”. Hình như gạo này được nhập từ Ấn Độ. Họ đã qua chế biến thế nào đó mà thổi nấu xong hột gạo nở to, khô không khốc, rất dôi cơm. Làm nhiệm vụ được khoảng 15 ngày con đường mới hình thành chưa xong hẳn, thì chúng tôi lại được lệnh trở về ngay đơn vị nhận nhiệm vụ mới. Thế là mọi công cụ, lán trại vứt bỏ lại, chúng tôi hành quân về Vĩnh Linh. Mọi người rất vui vì thoát cảnh mưa gió ẩm ướt khổ cực của công việc mở đường, háo hức trở về đơn vị cùng với những đồn đoán tò mò của nhiệm vụ mới.
Về tới Vinh Linh được nghỉ ngơi một ngày thì biết chuyện đau lòng xẩy ra tại đại đội 4 là việc đồng chí chuẩn úy Giang Văn Long người dân tộc Thái đại đội phó cùng mấy đồng chí coi cứ ở nhà. Anh sang chơi với bạn là đơn vị xe của đường dây 559 bên cạnh, chuyện trò mâu thuẫn sao đó với đơn vị bạn. Anh về vào kho súng, hút hết cả bao thuốc lá rồi tự sát.
Sang ngày thứ 2 thì toàn đơn vị sôi động hẳn lên khi tân binh từ Nghệ An, Hà Tĩnh ùn ùn bổ sung về. Lớp tân binh trực tiếp do sư đoàn tuyển quân tại Quảng Bình cũng huấn luyện xong, biên chế về các đơn vị. Đợt tân binh này chất lượng rất cao, đa phần là các em đã tốt nghiệp cấp 3, trông ai cũng đẹp đẽ, tươi trẻ. Mỗi đại đội bộ binh được tăng cường đủ biên chế đại đội bộ binh có quân số từ 110 đến 115 người. Đại đội hỏa lực trợ chiến là 120 người. Tiểu đội tôi được bổ sung 3 tân binh là Sơn, Biểu, Điếng. Điếng và Sơn là học sinh mới tốt nghiệp cấp 3 quê Hương Sơn, Hà Tĩnh, còn Biểu lớn tuổi hơn quê Nghi Xuân. Một số anh em là lớp lính 1972 trên các đại đội trực thuộc, một số anh em là các đơn vị của khu đội Vĩnh Linh cũng được bổ súng về các đại đội bộ binh. Lớp lính mới nhanh chóng được trang bị súng đạn cùng các trang thiết bị. Lớp lính cũ được lệnh nhanh chóng trau dồi nghiệp vụ, kiến thức về quân sự cho anh em tân binh. Tân binh phải nhanh chóng làm quen và học tập để có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Một đợt thi đua rèn luyện, học tập đạt chất lượng cao diễn ra sôi động. Chiến sỹ cũ kèm cặp chiến sỹ mới, người biết hướng dẫn người chưa biết. Cán bộ đại đội, trung đội cũng có những thay đổi. Trung úy Hồng về thay cho đại đội trưởng Nghẹ. Thiếu úy Sáu được điều lên làm trợ lý tác chiến trung đoàn. Thiếu úy Nguyễn Văn Nhung mới học ở trường sỹ quan Lục quân về làm đại đội phó. Anh Nguyễn Văn Va học tại trường sỹ quan Lục quân về làm trung đội trưởng. Anh Nguyễn Văn Tuyển được điều về thay anh Lẫm làm chính trị viên trưởng đại đội. Các cán bộ trung đội cũng được điều động thay mới hết.
 Lúc này lại sắp đến tết âm lịch, khí thế đón xuân, huấn luyện cùng với tin phong thanh sư đoàn sẽ đi B, vào Nam chiến đấu. Được thông báo ở miền Nam, ta đã tiến công và giải phóng tỉnh lỵ Phước Long. Tỉnh đầu tiên tại miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Tin chiến thắng từ miền Nam càng làm cho khí thế trong đơn vị hừng hực sôi động. Rồi cao trào hơn nữa là đơn vị được thông báo: Sư đoàn được nâng cấp chế độ sinh hoạt từ sáu hào tám một ngày sang chế độ bồi dưỡng đi B, chế độ cao gấp ba lần chế độ đang được hưởng. Lương thực cũng được tăng tiêu chuẩn, không phải tiết kiệm, không phải ăn độn khoai, sắn nữa. Doanh trại nào cũng song hành những khẩu hiệu mừng đón xuân mới và khẩu hiệu thể hiện ý chí quyết tâm học tập huấn luyện sẵn sàng vào Nam chiến đấu như: “Quyết tâm xây dựng đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến, chính quy hiện đại”, hay: “Quyết tâm học tập và bắn đạn thật đạt thành tích 100% khá giỏi”. Sau khoảng 20 ngày gấp rút huấn luyện, toàn sư đoàn lại tổ chức bắn đạn thật bài 1 và bài 2. Các loại vũ khí hỏa lực cũng được bắn đạn thật cho 100% người sử dụng súng. Trường bắn đạn thật tại dãy núi Thụy Ve của huyện Lệ Thủy. Còn trận địa bắn đạn thật súng cối tại cao điểm 74 thuộc xã Vĩnh Thủy, Vĩnh Linh. Đây là trái núi độc lập, cao điểm này rất lợi về mặt quân sự cho ta. Giữa vùng đất phẳng cấy lúa lại trồi lên trái núi cao ngay sát quốc lộ 1. Trong những năm chiến tranh, nơi đây như là vọng gác tiền tiêu của quân ta. Leo lên đỉnh núi là có thể nhìn thẳng sang bên bờ Nam của cầu Hiền Lương và sâu hơn là cứ điểm quân sự Cồn Tiên, Dốc Miếu, nơi mà Mỹ và quân Việt Nam Cộng hòa xây dựng hàng rào điện tử Macnamara. Chính vì địa thế quan trọng, lợi hại này cùng với các đài quan sát của ta mà những năm qua nơi đây chịu đựng không biết bao nhiêu bom đạn từ máy bay, từ pháo địch ở Cồn Tiên, Dốc Miếu bắn sang, cả các loại pháo giàn từ hạm đội 7 của Hải quân Mỹ từ biển bắn vào. Nhưng các trạm thông tin, các đài quan sát của ta vẫn đứng vững, đã góp phần quan trọng cho pháo binh ta tiêu diệt căn cứ quân sự và hàng rào điện tử Cồn Tiên, Dốc Miếu, khiến cho quân đội Việt Nam Cộng hòa thất bại thảm hại, phải rút khỏi các căn cứ này.
 Tiểu đội tôi tách khỏi đại đội, hành quân đến xã Vĩnh Thủy để kiểm tra bắn đạn thật súng cối. Đây là thao trường để bắn các loại cối 61 ly và 82 ly của toàn trung đoàn. Trên đường hành quân tới Vĩnh Thủy tôi có dịp nói chuyện nhiều với anh em tân binh. Như đã nói, học vấn của anh em nói chung là cao, ý thức vững vàng, vì các em đều sinh ra, lớn lên ở các địa phương có truyền thống cách mạng, truyền thống ham học. Đặc biệt trong nhóm tân binh có Đậu Thanh Sơn, trình độ hiểu biết rộng hơn. Ngoài khả năng kẻ vẽ, Sơn còn có khiếu làm thơ, viết chữ đẹp và say mê văn học. Những tác phẩm văn học trong nước, văn học nước ngoài tôi đã từng đọc thì Sơn cũng đều biết và có thể đọc lại một đoạn văn trong những tác phẩm đó. Hai anh em nhanh chóng thân tình và quý mến nhau bởi hợp gu về tính cách, về văn chương. Qua kiểm tra bắn đạn thật, tiểu đội tôi đạt loại giỏi.
Ngày tết đến thật vui, cái vui của ngày xuân, ngày tết cùng cái vui đơn vị được bổ sung quân số đông đủ. Thêm cái vui nữa là đơn vị đang được hưởng chế độ an dưỡng đi B, thực phẩm rất dồi dào. Hàng ngày đều có hội đồng quân nhân kết hợp với quản lý bàn bạc thực đơn bữa ăn. Ngày nào cũng có tiếng lợn kêu. Các trung đội, tiểu đội lại thường xuyên tăng gia cải thiện. Đàn gà, đàn ngan đã lớn và được lính ta “hóa kiếp” liên tục, thậm chí cứ hai người giết hẳn một con. Tôi và anh Đôi cũng nuôi được mấy con gà, hai anh em quyết định giết một con thưởng thức. Còn nhớ, mỗi người cầm cả cái đùi gà gặm ăn. Anh Đôi còn tinh nghịch cởi dây màn buộc treo cái đùi gà lên rồi nằm ngửa trên giường gặm đùi gà, anh nói: Phải ăn đúng như Trần Sùng (nhân vật sỹ quan Việt Nam Cộng hòa trong bộ phim “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” mà chúng tôi mới được xem). Anh nói thêm: Ăn thế này, vào Nam chiến đấu có chết cũng thỏa mãn. Các đoàn văn công Tổng cục chính trị, văn công Quân khu và đoàn phim cũng liên tục về chiếu động viên tinh thần bộ đội. Buổi tối, các chi đoàn và liên chi đoàn tổ chức vui liên hoan văn nghệ, mời chi đoàn địa phương cùng dự. Vẫn vui và sôi động nhất là màn văn nghệ “hái hoa dân chủ” cùng những phát biểu cảm tưởng quyết tâm đi chiến đấu của mọi người. Trong đại đội có đồng chí Nguyễn Duy Phúc quê ở Can Lộc,  Hà Tĩnh cũng là lớp lính 1872 ở Khu đội Vĩnh Lĩn chuyển về anh rất có khẩu khiểu. Anh hát hay và giả giọng của các loại con thú như gà kêu, chó sủa, hổ gầm, giả tiếng xe ô tô, tiếng còi tầu cùng hát được hai giọng gái-trai rất hấp dẫn làm cho buổi vui văn nghệ sôi động hẳn lên. (Sau này đi chiến đấu anh hy sinh ngày 27 tháng 4 năm 1975 trong trận đơn vị tiến công yếu khu Trảng Bom mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh)
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #145 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:36:25 am »


         Trong lúc toàn sư đoàn đang vui tết thì Bộ tư lệnh sư đoàn ra Bộ quốc phòng nhận nhiệm vụ. Qua đó, sư đoàn 341, Quân khu 4 chính thức đi B với tinh thần của nhiệm vụ là: “Đi sâu, đi lâu, đi xa, đi đến ngày toàn thắng”.
Mùa xuân năm 1975, trước diễn biến có lợi cho chúng ta tại chiến trường miền Nam, Quân ủy Trung ương và Bộ quốc phòng đã quyết định tung sư đoàn 341 vào tham chiến tại chiến trường miền Đông Nam bộ. Sau khi Bộ tư lệnh sư đoàn nhận nhiệm vụ trở về, những cuộc họp của các cấp liên tiếp diễn ra để lĩnh hội tinh thần đi chiến đấu. Trước hết là các tổ chức chỉ huy được kiện toàn lại, từ cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn, cho đến cán bộ đại đội, trung đội, tiểu đội.
 Bộ khung cán bộ chỉ huy trung đoàn mới gồm Chính ủy trung đoàn là thiếu tá Nguyễn Ngọc Mậu, trung đoàn trưởng là đại úy Nguyễn Trung Trực được điều từ tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 lên. Trung đoàn phó là đại úy Nguyễn Văn Giáp được điều từ nơi khác về. Ba đồng chí: thượng úy Chu Đức Hùng, Nguyễn Văn Phú, Kiều Hữu Lương, ở học viện quân sự được điều về làm tiểu đoàn trưởng ba tiểu đoàn bộ binh. Anh Chu Đức Hùng làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1. Trung úy Nguyễn Minh Tân trợ lý tác chiến trung đoàn làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1. Chuẩn úy Đặng Văn Lợi chính trị viên đại đội 2 được điều lên làm chính trị viên trưởng tiểu đoàn 1. Anh Nguyễn Kim Mận chính trị viên đại đội 20 trinh sát được điều về làm chính trị viên phó tiểu đoàn. Tiểu đoàn 2 gồm thượng úy Nguyễn Văn Phú làm tiểu đoàn trưởng, trung úy Đặng Văn Tố làm chính trị viên trưởng tiểu đoàn. Tiểu đoàn 3 gồm thượng úy Kiều Hữu Lương làm tiểu đoàn trưởng, thượng úy Nguyễn Kim Tiến làm chính trị viên trưởng. Cán bộ đại đội 3 của tôi gồm thiếu úy Quách Thanh Tiễn chính trị viên trưởng. Thượng sỹ Nguyễn Văn Viện lớp lính 1972 bên đại đội 1 được điều làm chính trị viên phó. Trung úy Nguyễn Văn Hồng vẫn làm đại đội trưởng, đại đội phó là thiếu úy Nguyễn Tiến Trụ được điều từ nơi khác về. Ba đồng chí Tuyển, Nhung, Va được điều sang tiểu đoàn 2. Một số anh em lớp lính 1971, 1972 cũng được điều động lên làm cán bộ đại đội, trung đội trong trung đoàn.
Như vậy, theo yêu cầu của chiến trường miền Nam. Đầu năm 1975, Bộ Quốc phòng đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 341 vào chiến đấu tại chiến trường B2 (Miền Đông Nam Bộ). Ngày 3 tháng 2 năm 1975 tại sở chỉ huy sư đoàn long trọng tổ chức kỷ niệm 45 năm ngày thành lập Đảng, đồng thời làm Lễ xuất quân. Buổi lễ có các tướng lĩnh Quân ủy trung ương, Bộ quốc phòng, tướng lĩnh và sỹ quan bộ Tổng Tham mưu, Quân khu 4. Thượng úy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 Chu Đức Hùng thay mặt toàn thể cán bộ chiến sỹ sư đoàn 341 đọc quyết tâm thư và hứa với cấp trên sẽ hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.( Đồng chí Chu Đức Hùng nghỉ hưu với quân hàm đại tá hiện sống tại Hà Nội)
 Toàn trung đoàn, toàn sư đoàn đang rùng rùng chuyển động, một trong những chuyển động đó là mọi người từ cán bộ, chiến sỹ đều viết thư, đều gói ghém quần áo, quân tư trang để gửi về nhà. Vì nghe nói toàn sư đoàn được trang bị mới hết, nên nhiều đồng đội chỉ để lại mỗi bộ quần áo đang mặc. Tôi cũng soạn và gói ghém các thứ để gửi về. Việc cùng lúc toàn trung đoàn gửi đồ về gia đình làm bưu điện Hồ Xá đông cứng người gây ùn ứ, nhân viên bưu điện tiếp nhận không xuể. Tôi cũng đã gói xong hai gói đồ to như hai quả bộc phá đánh lô cốt, bèn nghĩ cách nhờ người gửi hộ. Tôi nghĩ ngay là nhờ Thảo bí thư chi đoàn của đội 7 thanh niên địa phương kết nghĩa với đoàn thanh niên đại đội 3.
O Thảo là lớp thanh niên K10 sơ tán ra Thái Bình. Tôi sang nhà Thảo. Gia đình Thảo đang tập trung dựng nhà bằng những cây gỗ lớn. Thấy tôi đến, Thảo rất vui, tôi chuyện trò rồi nói là tình hình bưu điện như vậy và có ý nhờ Thảo gửi hộ tôi hai gói đồ về quê. Thảo đồng ý ngay và nói thêm: Anh nói còn anh em nào trong đại đội chưa gửi được thì cứ chuyển hết ra đây, mấy ngày nữa em gửi cho. Thật vui, như vậy là việc gửi đồ về quê đã xong, tôi chào ra về. Thảo tiễn chân tôi, tới vườn sắn khi bắt tay tạm biệt, Thảo nhìn tôi khẽ nói: Sao những ngày ở đây anh Phú không đến nhà em chơi? Tôi nói: Trong đại đội, anh và mọi người rất quý mến em, nhưng em biết đấy, anh là phó bí thư liên chi đoàn, họp hành vẫn hay nói việc cấm đoán mọi người quan hệ yêu đương với thanh niên địa phương. Anh phải làm gương, vậy là không đúng với lòng mình, nhưng biết sao được. Tôi nói thêm, anh tạm biệt em và rất nhớ em.
 Tôi trở về đơn vị với cảm giác man mác buồn. Sống ở đây đã hai năm, lần đầu tiên tôi mới được bắt tay, chia tay tình cảm với một cô gái. Hôm sau tôi mang hai gói bưu phẩm đến nhà Thảo, nhưng Thảo không có nhà, tôi gửi lại gia đình rồi về đại đội với bao công việc đang chờ. Buổi tổi, cuộc họp liên chi đoàn, chính thức đoàn thanh niên phát động quyết tâm đi chiến đấu 100% quân số. Mọi người đều phải viết quyết tâm thư. Tối hôm đó có chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Kim Mận cùng mấy cán bộ xuống dự. Tôi chủ trì cuộc họp quan trọng này sau khi đã giới thiệu đồng chí Mận về dự và phát biểu động viên. Đồng chí Mận nói: Tôi rất vui vì thấy khí thế và quyết tâm đi chiến đấu của đoàn thanh niên đại đội 3 rất cao. Tôi thay mặt Đảng ủy tiểu đoàn và cán bộ tiểu đoàn biểu dương các đồng chí. Anh nói thêm: Riêng bản thân tôi cũng đã chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị, bị thương, là thương binh rồi tôi mới được cử đi học. Giờ đây rất vui cùng các đồng chí đi chiến trường, ta lại cùng nhau chiến đấu. Chúng ta đã đánh cho “Mỹ cút”, quyết tâm mùa xuân này đánh cho “Ngụy nhào” để giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện mơ ước của toàn Đảng, toàn dân, của Bác Hồ muôn vàn kính yêu: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Xin chúc các đồng chí khỏe và luôn hoàn thành mọi nhiệm vụ. Cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt trước bài phát biểu tâm huyết của chính trị viên phó tiểu đoàn. Tôi đứng lên thay mặt đoàn thanh niên đại đội cảm ơn và hứa: Toàn thể cán bộ đoàn viên đại đội 3 học tập gương chiến đấu và ý chí của chính trị viên tiểu đoàn, quyết tâm đi chiến đấu 100% quân số. Chính trị viên phó Nguyễn Kim Mận bắt tay tôi thật chặt, anh nói nhỏ: Cậu khá đấy! Rồi anh chào mọi người để sang đại đội khác.


                                                    XIV

Khoảng 10 giờ sáng hôm sau tôi được liên lạc báo lên gặp đại đội. Tôi lên đại đội thấy anh Tiễn cùng ban chỉ huy đại đội vẻ mặt mọi người không bình thường. Tôi nói: Báo cáo tôi có mặt! Anh Tiễn nói : Ông Phú ngồi xuống đây! Rồi anh nói thêm: Tiểu đoàn điều ông lên. Chúng tôi giữ lại mãi mà không được. Ông lên đó làm trợ lý chính trị tiểu đoàn. Tôi rất buồn khi đơn vị đi chiến đấu lại điều ông, điều các nòng cốt đi. Nhưng thôi, anh em chúng tôi đã bàn kỹ, là để ông đi để ông phát triển tốt hơn. Ông về làm mọi thủ tục thanh toán ở quản lý và chia tay anh em, đúng 15 giờ ông có mặt tại ban chỉ huy tiểu đoàn. Nói xong anh đưa cho tôi tờ quyết định điều động của ban chỉ huy tiểu đoàn. Ôi! Thật bất ngờ! tôi cũng không biết nói gì nữa, đành cảm ơn anh rồi cầm quyết định, chào mọi người rồi về tiểu đội.
 Biết tin tôi được điều động lên tiểu đoàn, mọi người rất ngỡ ngàng, ai cũng buồn. Có lẽ buồn nhất là anh Khoát tiểu đội trưởng và Đậu Thanh Sơn, mặt hai người ỉu xìu. Riêng anh Nguyễn Duy Đôi thì lại rất sôi nổi, anh nói: Ông được điều đi là may rồi đấy, lên tiểu đoàn đỡ vất vả hơn, thôi anh em mình liên hoan chia tay cho ông Phú đi. Rồi anh xăm xăm ra chuồng bắt hai con gà, phân công người đi tìm mua rượu. Bữa cơm chia tay nửa vui, nửa buồn. Như vậy tôi phải chia tay tiểu đội, chia tay đại đội đi nhận nhiệm vụ mới, nơi đã gần 2 năm tôi gắn bó từ ngày đầu thành lập.
 Đúng 15 giờ tôi lên gặp tiểu đoàn. Chính trị viên phó Nguyễn Kim Mận vồn vã đón tiếp và giao nhiệm vụ cho tôi. Như vậy là tôi được thay anh Khúc Thái Học làm trợ lý chính trị tiểu đoàn. Cùng ngày hôm đó anh Cao Văn Biều ở đại đội 1 cũng được điều lên làm Quân lực thay anh Trần Quang Trung. Anh Biều quê Quảng Bình hơn tôi mấy tuổi, là sinh viên đại học Lâm Nghiệp năm thứ ba. Anh người thấp nhỏ nhanh nhẹn, có trí nhớ tốt, chữ viết rất đẹp. Hai anh em nhanh chóng thân thiện nhau. (Sau này ở với anh, tôi học được chữ viết của anh. Sau giải phóng miền Nam anh được trở về trường học tiếp và làm giám đốc một công ty chế biến gỗ và xuất nhập khẩu lâm sản tại Đắc Lắc, hiện anh đã nghỉ hưu và sống ở đó).
Sau khi được anh Học bàn giao sổ sách và hướng dẫn qua công việc, tôi nhanh chóng bắt nhịp nhiệm vụ mới, với những bỡ ngỡ ban đầu về chuyên môn trong lúc công việc hết sức bộn bề chuẩn bị đi chiến trường. Hàng ngày tôi thực hiện nhiệm vụ của mình theo yêu cầu của Chính trị viên tiểu đoàn, trực tiếp là chính trị viên phó Nguyễn Kim Mận. Xuống các đại đội gặp gỡ cán bộ chính trị để nắm bắt tình hình tư tưởng của cán bộ chiến sỹ. Phân loại tư tưởng rồi tổng hợp tình hình của cán bộ chiến sỹ trong toàn tiểu đoàn. Đồng thời, nắm bắt các điển hình, gương tiêu biểu cùng những cán bộ chiến sỹ có tư tưởng loại C qua các báo cáo của cán bộ chính trị đại đội. Anh Biều cùng các trợ lý quân khí, quân nhu, hậu cần thì củng cố lại danh sách trích ngang toàn tiểu đoàn, nắm bắt vũ khí, trang bị của đơn vị. Riêng tôi thì được bổ sung luôn vào ban chấp hành liên chi đoàn tiểu đoàn bộ và trực tiếp làm bí thư liên chi đoàn. Công việc khác hẳn những công việc dưới đại đội, có nhiều việc phải làm cả trưa, có khi cả đêm, kịp hoàn thành các báo cáo để tiểu đoàn báo lên cấp trên.
Ngày 14 tháng 2 năm 1975 toàn tiểu đoàn và cả trung đoàn 273 tạm biệt nhân dân Vĩnh Linh lên đường vào Nam chiến đấu. Chúng tôi hành quân gần 30 ki-lô-mét đến khu vực Bến Tiến, Quảng Bình nhận cấp phát mới toàn bộ quân tư trang đi B. Nhận thêm trang bị súng với 3 cơ số đạn. Cả một vùng đồi bừng bừng sắc lính với trang bị, quân tư trang mới tinh đầy hào khí, ai ai cũng vui, cũng đẹp như đi hội. Mà đúng là đi hội thật, hội của những người lính chuẩn bị vượt Trường Sơn ra chiến trường khi ngày tết vừa qua và mùa xuân đang về, với hoa sim, hoa mua cùng các loại hoa rừng nở rộ. Trời đầu xuân se lạnh, đàn én chao lượn vẽ bức tranh mùa xuân trên trời. Ngày 16 tháng 2 năm 1975 cả khu đồi rộng lớn sôi động hẳn lên khi đoàn xe của sư đoàn vận tải 571 với hơn 500 xe ùn ùn đến. Chúng tôi nhanh chóng lên xe và cuộc hành quân thần tốc bằng cơ giới đã đưa tiểu đoàn tôi, trung đoàn tôi và cả sư đoàn vào chiến trường chi viện cho Miền Nam trong chiến dịch Mùa xuân năm 1975 đại thắng. Bụi đỏ Trường Sơn cuộn bay theo đoàn xe tạo thành hình rồng đỏ khổng lồ. Rồng bay, bay cao, cao mãi như linh khí đất trời, như rồng thiêng Thăng Long, nâng bánh đoàn xe chở những người lính sư đoàn 341 - Đoàn bộ binh Sông Lam ra trận.
Trên đường hành quân, sư đoàn được đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị - Trưởng Ban Tổ chức Trung ương gửi một lá thư tay thăm hỏi, động viên cán bộ chiến sĩ. Lá thư viết:
“Không đến thăm và tiễn các anh em được, lòng băn khoăn và nghĩ đến anh em rất nhiều, nên tôi viết mấy câu thơ gửi tình cảm của mình trong đó đến anh em trên con đường ra tiền tuyến:
 Rất nhớ anh bộ đội,
Và thương anh rất nhiều,
 Anh đi vượt suối băng đèo,
 Gian nan không sợ, hiểm nghèo coi khinh;
Con đường cứu nước quang vinh.
Hiến dâng tất cả tuổi xanh cho đời.
Chiến công mừng đón khắp nơi,
 Như muôn hoa nở giữa trời xuân sang.
Hôm nay tiễn bạn lên đường
 Vượt Trường Sơn đến chiến trường phía Nam.
 Đánh tan quân giặc hung tàn,
Ngày về thống nhất Bắc - Nam một nhà."



VĨ THANH


           Đoàn xe chở chúng tôi vượt qua những cung đường, những binh trạm của đường Trường Sơn huyền thoại. Qua Lào, Campuchia, qua ngã ba Đông Dương, cao nguyên Trung phần, núi rừng sông nước thật hùng vĩ với đêm trăng sáng, cảnh trí đẹp mê hồn. Sau 15 ngày hành quân hơn 1000 ki-lô-mét chúng tôi dừng chân tại Lộc Ninh, tỉnh Tây Ninh - vùng đất đỏ ba-zan với những rừng cao su xen lẫn rừng nguyên sinh bạt ngàn. Nơi nào cũng loang lổ hố bom và những vết đạn của cuộc chiến dài. Đã có tiếng è è của máy bay trinh sát địch. Nhanh chóng rời xe, các đơn vị được chia về các hướng của mặt trận yêu cầu, theo ý định của chỉ huy. Được thông báo: Sư đoàn chính thức gia nhập đội hình Quân đoàn 4. Trung đoàn 270, 266, 55 hành quân về hướng tỉnh Long Khánh chuẩn bị cho những trận đánh lớn trên hướng đường 1. Trung đoàn 273 của tôi hành quân bộ tiếp 2 ngày. Những người lính sư đoàn 341 bụi đỏ Trường Sơn còn bám đầy người cùng vũ khí, trang bị, không có thời gian tắm rửa nghỉ ngơi vào ngay chiến tuyến đánh thù. Tiểu đoàn 1 chúng tôi về vị trí thay chốt cho sư đoàn 9 tại trục lộ 13. Tiểu đoàn 2 kết hợp với sư đoàn 9 tiến công giải phóng thị xã Dầu Tiếng, Thủ Dầu Một. Sau đó về kết hợp với tiểu đoàn 3, tiến công xóm Dớt và chi khu Chơn Thành, tỉnh Bình Long.

Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #146 vào lúc: 06 Tháng Năm, 2022, 07:37:44 am »


             Trung đoàn 270, 266, trung đoàn pháo binh 55 cùng các đơn vị trực thuộc sau khi đánh chiếm căn cứ Đồi Tràn kết hợp với sư đoàn 7 tiến công giải phóng thị xã Xuân Lộc, Long Khánh, đập tan cánh cửa thép bảo vệ Sài Gòn. Ngày 26 tháng 4 năm 1975, toàn sư đoàn tập trung tiến công giải phóng yếu khu Trảng Bom tỉnh Đồng nai, mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh trên hướng Đông Bắc. Tiếp đó, sư đoàn cùng đại quân tiến công các căn cứ như Biên Hòa, cùng lực lượng xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập, cơ quan đầu não của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Chiến dịch Mùa xuân năm 1975 được kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng. Sư đoàn 341 được chọn làm nhiệm vụ quân quản xây dựng chính quyền, thanh lọc các phần tử phản cách mạng ẩn náu trong dân.
            Với những thành tích chiến đấu và làm quân quản, ngày 02 tháng 9 năm 1976, sư đoàn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thăm và tặng 5 chữ vàng: “Vào thành vững như thành”. Ngày 20 tháng 10 năm 1976 sư đoàn và một số đơn vị, một chiến sỹ vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
           Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quân quản, năm 1977 sư đoàn được giao nhiệm vụ làm kinh tế xây dựng đất nước. Đang dừng chân tại Long Bình thì tập đoàn phản động Pôn-pốt - Iêng-xa-ri xua quân tàn sát đồng bào ta, xâm chiếm một số vùng biên giới của ta. Trước tình hình đó, toàn thể cán bộ chiến sỹ lại nhận lại vũ khí hành quân ra bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, tiêu diệt bọn Pôn-pốt hiếu chiến ngông cuồng. Thế là bước chân và những trận chiến đấu cùng chiến công của cán bộ, chiến sỹ sư đoàn lại in dấu trên khắp nẻo biên cương từ Tây Ninh, Long An, Châu Đốc, Đồng Tháp, Hà Tiên, Kiên Giang để bảo vệ nhân dân, giữ gìn mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc, mà đỉnh điểm của cuộc chiến là Sư đoàn cùng các lực lượng tăng cường tiến công địch tại khu vực Năm Căn, Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh cuối tháng 12 năm 1978, đã đánh tan 3 sư đoàn tinh nhuệ của bọn Pôn-pốt hòng tiến công vào Tây Ninh, giải phóng 5 xã biên giới bị chúng lấn chiếm, tạo ra cục diện mới, thế chiến lược mới giúp cho Mặt trận Dân tộc giải phóng Campuchia ra lời kêu gọi nhân dân cả nước nổi dậy và kêu gọi sự giúp đỡ của Chính phủ Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam.
             Đáp lời kêu gọi đó, sư đoàn 341 trong đội hình Quân đoàn 4 và toàn quân nhanh chóng cùng lực lượng cách mạng non trẻ của bạn tiến công giải phóng thủ đô Phnompenh, cơ quan đầu não của tập đoàn phản động diệt chủng Pôn-pốt - Iêng xa ri. Cờ chiến thắng tung bay khắp thành phố vào lúc 11 giờ ngày 7 tháng 1 năm 1979. Tiếp quản thủ đô một tuần, sau đó bàn giao cho chính phủ Campuchia. Sư đoàn 341 tiếp tục cuộc chiến đấu truy quyét địch, giải phóng nhân dân Campuchia thoát khỏi hoàn toàn thảm họa diệt chủng của chế độ Khmer Đỏ tại các căn cứ trong rừng sâu núi thẳm. Chúng ta đã được nhân dân Capuchia gọi là Đội quân nhà Phật. Một ghi nhận sáng ngời qua thư của Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia và Chính phủ Campuchia gửi sư đoàn 341 ngày 10 tháng 11 năm 1980, khi sư đoàn chia tay đất nước Chùa Tháp như sau: “Tổ quốc Campuchia sẽ mãi mãi ghi vào sổ vàng lịch sử đấu tranh cách mạng của mình những chiến công và hình ảnh Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và sư đoàn 341 nói riêng…Tên tuổi của sư đoàn Sông Lam đã ăn sâu vào trái tim người dân Chùa Tháp. Năm tháng sẽ qua đi nhưng lịch sử của dân tộc Campuchia và nhân dân Campuchia đời đời ghi mãi tên tuổi của sư đoàn 341”.
         Với những chiến công và thành tích to lớn trong bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia, ngày 20 tháng 12 năm 1979 một lần nữa sư đoàn được phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân lần thứ hai. Như vậy chỉ trong vòng 7 năm từ ngày thành lập, sư đoàn 341 đã hai lần được Đảng, Nhà nước, Quốc hội phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Một kỳ tích mà chưa có sư đoàn bộ binh nào có được. Bốn trung đoàn, 4 tiểu đoàn, 2 đại đội, 4 cá nhân được phong tặng danh hiệu cao quý đó. Ngoài ra sư đoàn 341 còn được tặng thưởng 2 huân chương Quân công hạng nhất, Huân chương bảo vệ Tổ quốc, Cờ Quyết chiến quyết thắng của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng tặng. Một huân chương Ap-sa-ra, Huân chương cao quý của nhà nước Campuchia tặng.
         Chiến thắng nhiều song biết bao lớp cán bộ chiến sỹ đã anh dũng hy sinh và mang thương tật suốt đời khi trở về quê hương. Rất nhiều cản bộ chiến sỹ trong sư đoàn đã trưởng thành là tướng lĩnh cao cấp trong quân đội, trong chính quyền hay trở thành những nhà khoa học, những doanh nhân thành đạt. Đa phần họ được trở về quê hương theo chính sách khi đã làm trọn nghĩa vụ. Dù ở đâu, dù giữ chức vụ gì hoặc là người dân bình thường, họ - những người lính sư đoàn 341 vẫn luôn phát huy và tỏa sáng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, truyền thống Sư đoàn. Nền tảng để tỏa sáng đó chính là những năm tháng rèn luyện, huấn luyện rất cơ bản, rất bài bản tại đất lửa Quảng Bình, Vĩnh Linh mà trong mật danh quân sự là: Chiến trường A.

                                                                Thái Bình, ngày 01  tháng 9  năm 2021.
                                                                                 Trần Ngọc Phú.


Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM