Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Trọn bộ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tám, 2022, 05:41:51 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tranphu341 - Đoàn bb Sông Lam - Trên chiến trường A - Phần 6  (Đọc 32245 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #120 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:11:05 am »


                    Mọi người vỗ tay ầm vang. Tiếp đến đồng chí Từ lên thông báo về công tác đoàn, đã bầu hay chỉ định bí thư và ban chấp hành chi đoàn của các trung đội, rồi thay mặt đoàn thanh niên hứa với chính trị viên là đoàn viên thanh niên sẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao. 
          Tiếp đến đại đội trưởng Nghẹ lên phổ biến kế hoạch cụ thể, anh nói: Báo cáo các đồng chí, hôm nay chúng ta ngồi đây nghe phổ biến nhiệm vụ cụ thể. Trung đoàn đã được lệnh hành quân vào Nam chiến đấu. Tình hình chiến trường Nam - Bắc đang có nhiều chuyển biến. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Nguyễn Văn Thiệu đang rất cay cú, vì chúng đang thua trên khắp mặt trận, kể cả mặt trận ngoại giao như các đồng chí đã được nghe chính trị viên Trần Lẫm phổ biến, như vậy là chúng ta phải hành quân nhiều ngày. Sau đây tôi phổ biến kế hoạch cụ thể: Đội hình trung đoàn 36B của ta bắt đầu lên đường từ ngày N+1, giờ G là 12 giờ +3. Từ bây giờ chúng ta trong tình trạng hành quân di chuyển, lực lượng tiền trạm đã được cử đi từ ngày hôm nay. Tiểu đoàn ta là tiểu đoàn tiên phong của trung đoàn, tiếp đến tiểu đoàn 2 và 3, trung đoàn bộ và các đơn vị trực thuộc xuất quân những ngày tiếp theo để đảm bảo sự giãn cách. Ngày mai, buổi sáng các đồng chí nấu cơm ăn chính, buổi trưa cũng ăn cơm chính và mỗi đồng chí có 1 xuất cơm nắm ăn phụ, vì chúng ta hành quân đêm không có điều kiện thổi nấu. Quãng đường hành quân trung bình từ 15 đến 20 ki-lô-mét một ngày. Có thể hành quân một mạch, hoặc hành quân bằng hai buổi, buổi sớm và buổi tối đề phòng máy bay Mỹ đánh bom. Dự kiến trên đường hành quân phải vượt qua nhiều cầu phà và thành phố, thị trấn đều đang là trọng điểm đánh phá của máy bay Mỹ. Yêu cầu hôm nay các đồng chí phải chuẩn bị cành lá ngụy trang, còn thời gian tập cách sử dụng vải ni-lon đi mưa, cách mắc buộc võng, cách sử dụng tấm tăng che võng (tăng là tấm ni-lon, dài khoảng 2 mét rưỡi, rộng khoảng 1,4 mét, dầy hơn ni-lon đi mưa, có quai khuy ở các góc và bốn khuy ở hai cạnh, có thể căng phủ lên võng, tránh nước mưa vào võng), vì chúng ta có thể ngủ trong nhà dân và có thể phải ngủ trong rừng, mà ngay nhà dân cũng không đủ giường cho ta nằm. Đường xa mang vác nặng, chúng ta lại chưa quen, chưa rèn luyện được nhiều sẽ rất mệt nhọc, sẽ có nhiều khó khăn và nhiều tình huống xẩy ra dọc đường, các đồng chí phải nhất nhất theo lệnh của chỉ huy, phải giúp đỡ nhau trong hành quân, trong mang vác. Chúng ta phải cố gắng, thật sự cố gắng. Tôi tin rằng chúng ta sẽ tới đích thắng lợi an toàn tuyệt đối người và trang bị vũ khí như chính trị viên đã phát động. Sau đây các đồng chí về từng trung đội, tiểu đội họp hạ quyết tâm thi đua và xem xét lại vũ khí trang thiết bị của mình, làm tốt công tác dân vận để “đi dân nhớ, ở dân thương”. Chúng ta sẵn sàng đợi lệnh hành quân, chúc các đồng chí khỏe! Các đồng chí có quyết tâm không? Lời phát biểu phổ biến của đại đội trưởng với chất giọng vang vang hào sảng làm mọi người thật xúc động, đều thấy được trọng trách thiêng liêng của mình với dân tộc, với vận mệnh đất nước. Tất cả đại đội cùng hô vang quyết tâm rồi vỗ tay ầm vang.
       Chúng tôi về nơi ở của mình làm mọi công việc như kế hoạch. Gia đình chủ nhà rất lưu luyến, mẹ con cô Phin rất buồn khi chúng tôi chuẩn bị vào Nam chiến đấu. Bà mẹ thì không nói gì, chỉ thở dài theo dõi chúng tôi chuẩn bị, thỉnh thoảng lại thấy bà lau nước mắt. Cô Phin ở nhà không đi làm đồng nữa mà hình như tất cả dân tình địa phương đều như vậy. Nhiều nhà tổ chức liên hoan chia tay bộ đội. Cô Phin luôn bận rộn với việc hái chè xanh để đun nước, hãm nước cho chúng tôi, cô giúp chúng tôi nấu cơm, hái rau ở vườn nhà thêm cho bữa ăn, cô nói: bầu bí các anh dành để đi đường. Cô đào sắn, bới khoai luộc cho chúng tôi. Cô chỉ lẳng lặng làm mà không chuyện trò gì nhiều. Sáng ngày mùng 4, chúng tôi được lệnh nấu cơm như kế hoạch. Sau khi ăn cơm trưa thì có lệnh nghỉ ngơi, đúng 15 giờ mang toàn bộ quân tư trang vũ khí ra tập trung. Biết là chuẩn bị lên đường nên chẳng có ai nghỉ trưa được. Mọi người đều tập trung viết thư về nhà, có người viết hẳn mấy cái để gửi cho gia đình, bạn bè và người yêu. Tôi cũng viết thư về nhà báo là hôm nay sẽ hành quân vào Nam.
Đúng 15 giờ kém 10, liên lạc đại đội xuống báo, tiểu đội trưởng Khoát cho bộ đội tập trung ra sân kho hợp tác xã nơi ban chỉ huy đại đội ở. Chúng tôi chính thức lên đường. Bà mẹ cô Phin thì khóc nấc không thành tiếng. Cô Phin cũng khóc, cô đi theo anh em tôi ra ngoài ngõ, bắt tay chia xa từng người, tới lượt tôi, cô đưa cho tôi một gói nhỏ bọc bằng cái khăn mùi xoa trắng, cô nói quà của em tặng anh. Tôi cầm gói quà bắt tay cô, hẹn ngày gặp lại. Tôi cầm gói quà nhỏ cảm ơn cô rồi bước nhanh theo đội hình.
         Thế rồi cuộc đời lính đã đưa bước chân tôi đi mọi nơi theo nhiệm vụ chiến đấu khắp mọi vùng miền đất nước. Cuộc hành quân đường dài vất vả và những cuộc chiến thật cam go khốc liệt, những chiến công, những hy sinh gian khổ, người còn người mất, người bị thương, người hy sinh và có cả những người đã đầu hàng trước những vất vả cam go ấy. Ngày giải phóng 30 tháng 4 năm 1975 chúng tôi đã có mặt đầu tiên tại Sài Gòn trong đoàn quân chiến thắng. Đơn vị tôi được làm công tác quân quản xây dựng chính quyền. Rồi chiến tranh biên giới Tây-Nam xảy ra, chúng tôi lại ra trận tiêu diệt bọn xâm lấn Pôn-pốt, bảo vệ đất trời thiêng liêng của Tổ quốc. Tiếp đến là làm nhiệm vụ Quốc tế tiêu diệt tận gốc tập đoàn phản động Pôn-pốt - Iêng-xa-ri, cứu giúp dân tộc Khmer và nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh.
             Sau cuộc chiến, cuộc sống chật vật mưu sinh, lời hứa trở lại thăm Phin mãi tới 41 năm sau mới thực hiện được. Làng xóm đã thật sự thay đổi và phát triển. Chùa Mỹ Cụ được xây dựng rất to. Đường vào làng xưa đã đổ bê tông, hai bên đường toàn nhà cao tầng thành đô thị sầm uất. Nhà cô Phin cũng được xây dựng to đẹp, căn nhà cũ không còn, duy nhất còn cái bể xây chứa nước mưa mà chúng tôi vẫn dùng. Cây cau, cây mít, cây chè, cây hồng vẫn tốt tươi như xưa. Tôi ngồi ăn cơm cùng chồng cô và các con cô. Cô Phin năm xưa, nay đã là bà của những đứa cháu, cùng ôn lại chuyện cũ thật vui và cảm động.
        Chúng tôi ra nơi tập trung, đợi đủ quân số đại đội trưởng hô: Toàn đại đội chú ý: Trung đội hàng dọc, đại đội hàng ngang, mỗi trung đội thành ba hàng dọc thứ tự từ trung đội 1 đến tiểu đội 10, tiểu đội hậu cần tậ..p… hợp! Đang đứng chuyện trò lộn xộn, sau khẩu lệnh mọi người nhanh chóng về vị trí hàng lối của mình. Ai cũng cồng kềnh, ba lô súng đạn, các trang bị và vòng là ngụy trang lòe xòe. Sau khi mọi người đã vào vị trí, đại đội phó hô: Nghiêm! Anh xoay người chạy đến trước đại đội trưởng Nghẹ và chính trị viên Trần Lẫm: Báo cáo đồng chí trung úy - chính trị viên đại đội và đồng chí thiếu úy đại đội trưởng đại đội, hàng ngũ đã chỉnh tề, mời đại đội trưởng lên đọc lệnh. Đồng chí Nghẹ nói: Được, mời đồng chí về vị trí! Rồi anh bước lên trước hàng quân anh hô: Nghiêm! Các trung đội báo cáo quân số thứ tự từ trung đội 1-2-3 đến tiểu đội 10 - tiểu đội hậu cần. Thượng sỹ Lã Quang Trung, trung đội trưởng báo cáo: Báo cáo đại đội trưởng quân số trang bị của trung đội 1 đủ. Tiếp đến trung đội 2…Đủ, Trung đội 3… Đủ…Tiểu đội Hỏa lực… Đủ. Tiểu đội nuôi quân … Đủ. Đại đội trưởng hô các đồng chí hạ ba lô. Mọi người lục tục hạ súng, trang bị và ba lô tại chỗ của mình. Xong đại đội trưởng hô tiếp: Nghiêm! Mệnh lệnh hành quân: Đại đội hành quân chiến đấu trong đội hình tiểu đoàn. Hướng hành quân: Tây Bắc. Tốc độ hành quân: 3 ki-lô-mét một giờ, cứ 50 phút thì giải lao 10 phút. Đội hình hành quân: Hàng một, mỗi đồng chí cách nhau một mét rưỡi đến hai mét, thứ tự hành quân trung đội 1, tiếp đến tiểu đội 10, tiểu đội anh nuôi, tiếp đến trung đội 2, trung đội 3 khóa đuôi. Ba đồng chí y tá thì một đồng chí đi theo ban chỉ huy đại đội, một đồng chí đi cùng trung đội hai, một đồng chí đi cùng trung đội 3. Chúng ta hành quân trong đội hình tiểu đoàn gồm đại đội 1 đi tiên phong, tiếp đến đại đội 4 hỏa lực, tiếp theo là tiểu đoàn bộ, rồi đến đại đội hai. Chúng ta là đại đội đi sau khóa đuôi, những ngày sau tùy theo tình hình sẽ thay đổi lại thứ tự hành quân, cả đại đội ta cũng vậy. Các đồng chí rõ chưa? Tất cả đồng thanh hô: Rõ ! Lên ba lô! Đoàn quân bỗng xao động, mọi người lên ba lô, khoác các loại trang bị lên người, cứ cái nọ đè chồng cái kia lên người lính chiến, cái bao tượng gạo vắt lên vai, đằng trước thì thòng xuống ngực, phía sau thì vắt lên ba lô, vòng ngụy trang, có người còn úp lên cái xoong nữa, cuối cùng là vũ khí của từng người. Giờ đây nhìn mọi người thật cồng kềnh, có những câu hỏi nhau, nhắc nhau nho nhỏ về vấn đền gì đó. Đợi mọi người lên ba lô và trang bị vũ khí xong, đại đội trưởng hô tiếp: Hành quân! Rồi anh xoay người bước tới, trung đội trưởng trung đội 1 xuất phát liền sau đại đội trưởng rồi đến các trung đội, tiểu đội đã phân công. Đoàn quân rùng rùng chuyển động, cành lá ngụy trang đung đưa, đung đưa theo nhịp bước như bàn tay vẫy của người ra trận chia xa những người dân, những ông bố, những bà mẹ, những nam nữ thanh niên cùng các em nhỏ đang đứng xem bộ đội xuất quân.
          Toàn đại đội đã ra dọc đường làng, đại đội phó Sáu tách ra đứng cạnh hàng quân nói to: Các đồng chí ơi! Chúng ta đi chiến đấu là vì Tổ quốc thân yêu, vì nhân dân, gian khổ hy sinh không sờn lòng. Chúng ta hát, hát chia tay nhân dân nhé: Vì nhân dân quên mình hai…ba. “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh, anh em ơi vì nhân dân quên mình”… Tiếng hát đầu tiên còn nhỏ rời rạc, đại đội phó nói: To lên, hát to lên các đồng chí ơi! Mọi người như được thúc giục tinh thần và câu hát chia xa với nhân dân để ra trận bỗng chốc như được nhập hồn mọi người, ai nấy cùng hát thật to, thật vang, thật hùng tráng. “Đoàn vệ quốc chúng ta từ nhân dân mà ra được dân tin, được dân mến vô cùng”… Tôi nhìn sang bên, có nhiều mẹ, nhiều em gái òa khóc. Những bàn tay thiếu nữ nềm mại ngập ngừng giơ lên vẫy. Các em nhỏ thì thật vui, cứ tung tăng chạy theo bộ đội, thoáng thấy cô Phin cũng đứng trong đám phụ nữ đó, tôi một tay giữ súng, một tay giơ vẫy về phía họ, tiếng hát vẫn vang vang, vang vang, bước chân của chúng tôi xa dần, xa dần xóm làng, xa dần những người dân thân yêu đã đùm bọc chúng tôi trong những ngày qua.

Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #121 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2022, 07:12:46 am »


                   Đoàn quân ra tới bãi đất trống gần chùa Mỹ Cụ thì dừng lại, có lệnh dừng nghỉ tại chỗ đợi các đơn vị đi qua rồi đại đội 3 nối tiếp khóa đuôi đội hình. Mọi người hạ ba lô vũ khí đứng nhìn đơn vị bạn hành quân. Những người lính bộ binh thì trang bị giống như chúng tôi. Riêng đại đội 4 hỏa lực thì súng đạn khác hẳn, những khẩu súng đại liên to đùng, súng cối 82 ly, súng DKZ 82 ly, súng 12ly7 đã được tháo rời, có bộ phận phải hai người khiêng. Đúng là đơn vị hỏa lực, ai cũng cao to, sức khỏe tốt, nhìn họ khiêng vũ khí, khí tài mới khiếp, họ mang vác nặng hơn chúng tôi nhiều. Tôi thấy anh Nguyễn Chính Hương, cùng anh Trần Qúy Sùng khiêng nòng súng DKZ, anh Nguyễn Văn Tuyết khiêng cái nòng súng 12,7ly cả hai anh đều là công nhân của nhà máy cơ khi 2-9 mà tôi quen, còn anh Sùng là giáo viên, các anh nhìn tôi cười nhưng lại lè lưỡi lắc lắc đầu ý nói là nặng lắm.
         Đã khoảng bốn giờ chiều, bầu trời ảm đạm, mưa lắc rắc rơi, mọi người lục tục lấy áo mưa để khoác. Có người để áo mưa ngay túi cóc dễ lấy, nhưng nhiều người chưa có kinh nghiệm phải mở ba lô moi tìm mãi mới lấy được. Tôi chợt nghĩ đến bài hát “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” có câu: “Anh lên xe trời đổ cơn mưa, cái gạt nước xua đi nỗi nhớ.” Còn chúng tôi lên đường trời cũng đổ mưa nhưng đâu có xe mà lên, cái xe của chúng tôi lúc này là xe “căng hải” (tiếng lóng chỉ đôi chân của người lính), hôm nay là ngày đầu tiên, không biết là hành quân tới đâu, quãng đường bao nhiêu ki-lô-mét, đại đội chưa nói cụ thể. Tới lượt đại đội tôi lên đường, không còn cành lá ngụy trang lòe xòe nữa, có người đã vứt đi, có người trùm cả ni-lon lên trông gọn hơn, nhưng ai cũng như con lạc đà đầu đưa về phía trước gù lưng tải hàng. Toàn đại đội rầm rập hành quân khí thế thật hào hùng. Đây chính thức là những bước chân hành quân đầu tiên ra trận.
        Chúng tôi đi theo tỉnh lộ 351 về hướng Tây Bắc ngược với hướng ra phà Kiềng. Hết đường lớn, đi vào những con đường liên xã, nhân dân hai bên đường ra đứng xem bộ đội hành quân rất đông, vẫy tay chào đón với những câu chúc ồn ã. Qua vùng dân cư, bước chân đã thấy chậm dần, bắt đầu cảm nhận thấy cái nặng, khi hành quân ai cũng phải cúi gò người, lồng ngực bị chèn ép thiếu ô-xy nên cứ thở gấp, cũng là lúc được lệnh giải lao xốc lại đội hình. Mọi người hạ ba lô, cởi dây lưng to giải tỏa cái nặng, vươn người hít thật sâu không khí vào phổi. Vươn thở xong rồi mở bi đông ngửa cổ tu nước, nước trôi vào đâu biết tới đó. Nước, không khí lúc này làm cho chúng tôi tỉnh táo hồi phục sức lực ngay. Tiếng nói cười, tiếng chuyện trò hỏi thăm nhau rộ lên. Đã thấy lóe sáng của diêm lửa hút thuốc lào, châm thuốc lá dọc đội hình. Mưa đã tạnh, mọi người gấp áo mưa, người ngồi, người đứng chuyện trò râm ran. Ai cũng thắc mắc, đoán mò về quãng đường đi dài ngắn và tối nay nghỉ tại đâu? Đại đội trưởng Nghẹ đi ngược hàng quân, vừa đi vừa hỏi quân số, nhắc nhở bộ đội để gọn gàng tư trang súng đạn. Có tiếng hỏi: Hôm nay hành quân bao nhiêu ki-lô-mét thủ trưởng ơi? Đại đội trưởng nói: Hôm nay ngày đầu chúng ta có 4 lần giải lao. Dự kiến là khoảng 12-13 ki-lô-mét, ngày mai sẽ hành quân dài hơn. Ai cũng lè lười lắc đầu khi nghĩ tới chặng đường dài hơn của ngày mai. Chính trị viên phó Từ cùng đồng chí liên lạc cũng đi tới, anh nói: Xa rứa có chi mô, các đồng chí hành quân rồi nó quen đi, phải bám đội hình hành quân và phải giúp nhau. Mọi người đi được thì miềng cũng đi được. Ít ngày nữa là còn phải trèo đèo, phải lội suối nữa đấy.
          Tôi nghĩ chẳng biết thế nào mà nói trước, thôi thì mọi người đi được thì mình cũng đi được. Hết giờ giải lao, lệnh lên đường. Lần này mọi người lên bao lô đã nhanh gọn hơn, không bị lúng túng như trước. Đội hình lại rầm rập hành quân. Đi, cứ đi, cứ tiếp tục đi, mỗi bước đi thấy sức nặng của ba lô vũ khí cùng các trang bị như nặng hơn lúc đầu. Lần giải lao thứ hai được lệnh nghỉ ba mươi phút ăn cơm nắm. Chặng đường thứ ba đội hình tương đối gọn nhưng đến chặng cuối thì cái nặng, cái mệt đã thật thấm, bước chân nặng nề, bước đi không mạnh nữa mà ai cũng cứ phải dướn lên từng bước, từng bước. Chân mỏi, vai đau, mồ hôi đầm đìa mặc dù trời rất mát. Ai cũng thở dồn, thở gấp chỉ mong sao chóng tới đích. Đã có những tiếng kêu, tiếng than rồi có cả những tiếng nói to: “Mệt lắm rồi nghỉ thôi, nghỉ thôi, nặng lắm rồi đi làm sao được nữa”. Song, kêu vẫn kêu nhưng đoàn quân vẫn đi, mặc dù bước đi ngày càng chậm hơn. Tôi thấy mệt quá, cuộc đời lính khổ quá. Cái nòng súng tôi vác đè lên vai, đè lên quai đeo ba lô, cộng với sức nặng của các thứ cùng bao gạo vắt qua làm quai ba lô xiết vào vai đau rát, hình như nó xiết chặt quá làm máu không lưu thông được, nên thấy tê cả vai. Tôi hết đổi súng sang vai phải rồi lại đổi sang vai trái, có lúc lại lấy hai tay bế ôm đằng trước như bế đứa trẻ. Cái bao gạo cũng vậy, lúc vắt sang phải, lúc vắt sang trái, có lúc nhờ người vắt ngang cái khúc dồi voi ấy sang hai bên ba lô, mà nó cũng chẳng nhẹ đi được tý nào, lại còn như nặng thêm lên. Đã có một vài tiếng văng tục, rồi có những câu nhắc nhở động viên nhau cố lên như: Sao lại nói bậy thế em? Đưa khẩu súng đây mình mang đỡ cho. Chính trị viên Trần Lẫm đi ngược đoàn quân, anh vừa đi vừa nói: Cố lên, gắng lên, cố gắng lên các đồng chí, gần tới nơi nghỉ rồi, các đồng chí giúp nhau để cùng bám đội hình.
        Khoảng 20 giờ 30 thì thấy các đồng chỉ tiền trạm ra đón. Đại đội trưởng lệnh cho đội hình dừng lại giải lao. Anh trao đổi gì với trung đội phó Yến rồi cho liên lạc báo các trung đội trưởng lên hội ý. Chúng tôi được nghỉ, hạ ba lô là vươn vai thở, có nhiều người nằm kềnh luôn ra đường đầu gối lên ba lô mà thở. Anh Khoát lên hội ý về nói: Chúng ta đã tới nơi tập kết đêm nay. Anh nói tiếp, đây là xã An Thiện, An Hải, Hải Phòng. Một chút nữa tiền trạm sẽ đưa chúng ta vào nhà nghỉ, chúng ta nghỉ ở 3 nhà, khẩu đội 1 ở một nhà, khẩu đội hai ở một nhà, các đồng chí súng B41 ở một nhà. Tôi sẽ ở cùng khẩu đội 2. Các đồng chí vào nhà nghỉ ngơi, vệ sinh rồi đi ngủ ngay, ngày mai nhóm của anh Tấn dậy nấu cơm đảm bảo 6 giờ 30 có cơm bữa chính cho tiểu đội. Buổi trưa 11 giờ 30 chúng ta ăn cơm chính và mỗi đồng chí có một nắm cơm ăn phụ. Ăn cơm trưa xong chúng ta nghỉ ngơi đúng 15 giờ các đồng chí tập trung về chỗ tôi để họp, 16 giờ tiếp tục hành quân. Một lúc sau thì có tiếng gọi hỏi: Tiểu đội 10 đâu? Tiểu đội 10 đâu? Anh em chưa kịp phản ứng thì tiếng đồng chí tiền trạm đã giục: “Đi theo tôi nhé!”. Rồi anh quay người đi ngay. Anh Khoát gọi giật lại: Này, này đồng chí tiền trạm, đợi anh em lên ba lô đã chứ! Mọi người lồm cồm đứng lên, các thứ trang bị lại được chất chồng lên vai, nhưng bây giờ người đã khỏe lại, không ai còn biết mệt nữa. Anh Khoát, anh Tấn cùng nhắc các đồng chí kiểm tra lại chỗ nghỉ xem còn quên, còn sót thứ gì không nhé, chứ vội vào chỗ nghỉ lại quên cả súng, cả gạo đấy!
Chúng tôi theo người chiến sỹ tiền trạm vào từng nhà như đã phân công. Gia đình khẩu đội tôi nghỉ, ông bà chủ nhà chắc ngang tuổi bố mẹ tôi. Ông bố cùng hai em nhỏ cầm đèn ra đón từ đầu ngõ, dẫn chúng tôi vào nhà, hướng dẫn nơi nghỉ, nơi giếng nước. Ông nói: Các con hạ ba lô nghỉ ngơi một tý rồi ra giếng tắm rửa. Được biết các con hành quân nghỉ lại, dân làng vui lắm. Bà nhà và các em đã nấu nước chè xanh hãm trong giành tích ấy, bà luộc cả khoai lang cho các con nữa. Các con tắm rửa xong rồi vào ăn khoai. Các con cứ tự nhiên nhé. Bố cũng có hai em đi bộ đội hiện đang ở mãi trong Nam cơ, lâu rồi không biết tin tức thế nào nữa. Ở nhà hiện giờ chỉ còn có ba em còn nhỏ đang đi học. Thằng em thì cứ ao ước là lớn nhanh để được đi bộ đội vào Nam chiến đấu cùng với các anh. Thấy bộ đội hành quân qua có súng là chúng nó thích lắm. Nhưng các con cứ yên tâm để súng đạn gọn vào góc kia, nó chỉ xem chứ không dám sờ, dám nghịch đâu. Anh Thỉnh nói: Vâng bố nhắc các em hộ chúng con, toàn súng đạn thật cả, nguy hiểm lắm đấy ạ. Anh em tôi cảm ơn ông và đi vệ sinh. Xong mọi việc lên nhà đã thấy trên bàn đĩa khoai lang luộc đang bốc hơi  và bát đường cát đen đã chảy nước. Ông giục chúng tôi ăn khoai và rót cho mỗi người một bát nước chè xanh cũng đang bốc hơi nóng. Rất mệt, muốn đi nằm quá, nhưng vì sự nhiệt tình của ông chủ, chúng tôi ăn mỗi người một củ khoai. Ôi! Khoai bở ngon tuyệt, chúng tôi ý tứ không chấm đường vì biết đường là thứ quý lắm, chắc ông bà đã để dành từ lâu rồi. Thoáng nghĩ dân mình khổ mà tốt quá. Không thấy bà chủ đâu, tôi nói với ông mời bà ra ăn khoai cùng. Ông nói: Bà nhà tôi nhớ các con nên vào nhà nằm nghỉ rồi, các con cứ tự nhiên, các em thì chúng ăn khoai suốt ngày nên không ăn đâu. Chuyện trò với ông một lúc, chúng tôi xin phép đi nghỉ. Tôi và anh Thỉnh được nằm giường, còn anh Đôi và Hà thì nằm võng. Ngả người xuống giường mới thấy nó thoải mái làm sao. Cái lưng hành quân đeo ba lô rạp người, giờ sống lưng được duỗi thẳng thật khoan khoái, mặc dù cái giát giường không phẳng phiu mà sao êm ái thế.
 Tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Tiếng gà gáy sáng làm tôi thức giấc nhưng mở mắt thấy trời còn tối, tôi lại ngủ tiếp. Đến 6 giờ anh Khoát sang đánh thức mọi người dậy làm vệ sinh chuẩn bị ăn sáng! Tôi dậy đã thấy anh Thỉnh đang trò chuyện và uống nước chè xanh với ông chủ ở bàn. Anh Thỉnh nói: Các ông ngủ kỹ thế, mau đi làm vệ sinh đi, còn tập trung ăn sáng rồi về ngủ tiếp. Chúng tôi sang nhà của khẩu đội 2 ăn cơm. Trước khi ăn tiểu đội trưởng Khoát nói: Sau khi ăn cơm xong các đồng chí về nghỉ ngơi tại nơi ở của mình, kiểm tra lại vũ khí trang bị tư trang gọn gàng, làm tốt công tác dân vận, chú ý hầm hố tránh máy bay, 9 giờ thì các tổ 3 người họp rút kinh nghiệm về ngày đầu hành quân và bầu mỗi tổ 1 đồng chí khen thưởng ở tiểu đội, 1 đồng chí khen thưởng cấp đại đội, 10 giờ tập trung về đây họp rút kinh nghiệm tiểu đội. Khẩu đội 2 chủ động nấu cơm trưa ăn chính và nắm cơm phụ để ăn tối, đúng 14 giờ 30 phút tất cả tập trung tiếp tục hành quân.
        Đúng 14 giờ 30 phút, liên lạc đại đội xuống báo tiểu đội ra sân kho tập trung. Chúng tôi chào chia tay gia đình. Chỉ có ông bà chủ ở nhà, còn các em đi học hết. Bà mẹ nhìn chúng tôi khoác ba lô ra ngõ bật khóc nức nở, còn ông bố thì nói: Các con đi, khi nào thắng giặc, giải phóng Miền Nam thì về đây thăm ông bà. Ông nói thêm: hòm thư của hai anh là … Nếu vào đó mà gặp các anh thì nhớ nói hai anh phải chăm viết thư về nhé! Tôi nghẹn lời trước tình cảm của ông bà chủ, ghi vội tên và hòm thư của con trai ông vào quyển sổ và hứa sẽ về thăm ông khi chiến thắng. Cả đại đội đã tập trung đầy đủ ở sân kho hợp tác cạnh đường đất liên xã. Mọi người hạ ba lô tập hợp, đại đội trưởng cho từng trung đội báo cáo quân số rồi ông mời chính trị viên Trần Lẫm phát biểu. Chính trị viên Trần Lẫm lên nhận xét rút kinh nghiệm ngày hành quân thứ nhất, nói chung là tốt, đảm bảo đến đích 100% quân số, không đồng chí nào tụt tạt. Ông đọc tên những đồng chí được biểu dương là có thành tích, gương mẫu trong hành quân như các trung đội, tiểu đội đề nghị. Ông nói thêm: Hôm nay chúng ta tiếp tục hành quân, quãng đường dài hơn hôm qua, phải qua phà Phả Lại vượt sông Thái Bình sang huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng. Đây là vị trí nguy hiểm, là trọng điểm đánh phá ném bom của máy bay địch, vì vậy tất cả các trung đội, tiểu đội phải bám sát đội hình không được đi lẫn lộn, không ùn ứ, khi được lệnh xuống phà phải nhanh chóng, tránh trượt ngã. Đặc biệt khi có máy bay phải nhất nhất theo mệnh lệnh của đại đội để tránh thương vong. Sau khi phà cập bến phải nhanh chóng lên bờ ngay, nếu cần vận động cách xa bến phà càng nhanh càng tốt. Dọc đường hành quân chúng ta đi theo trục quốc lộ nên rất nguy hiểm. Sau đây các đồng chí bổ sung thêm ngụy trang và kiểm tra lại các trang bị vũ khí của mình xem có gì thiếu hay quên tại nhà chủ không. Đúng 15 giờ có lệnh là lên đường!
 Trong khi chúng tôi xem xét, kiểm tra lại tư trang súng đạn thì đại đội phó Sáu đến từng trung đội nhắc nhở, nụ cười rất tươi và luôn mồm với câu như là câu vè rất vần: Các đồng chí chú ý kiểm tra tư trang, ca, bát, bạt, giầy, bi đông, bình tông, bao gạo, cuốc xẻng, súng đạn xem có thiếu gì không nhé!
Đúng 15 giờ đội hình lên đường. Trời mưa nhỏ, nhiều người lấy nilon đi mưa. Nhưng khoác áo mưa đi được một lúc thì lại phải bỏ ra vì lượng mưa không đủ lớn nên khoác áo mưa rất nóng. Hôm nay ngày thứ hai cuộc hành quân mọi người đã có kinh nghiệm hơn. Chiều tối thì chúng tôi tới bến phà, cả đại đội được qua phà cùng một chuyến. Có tiếng máy bay ầm ì nhưng ở xa, lúc này ở đây chắc không phải là mục tiêu đánh phá của của tốp máy bay này, nhưng chúng cũng gây cho mọi người chút căng thẳng. Sông rộng, phà vượt sông lại chậm nhưng rồi phà cũng cập bến, mọi người nhanh chóng lên bờ. Đại đội trưởng yêu cầu lên bờ xong là phải vận động xa bến phà ngay. Chúng tôi lên dốc rồi chạy chạy gằn được khoảng vài trăm mét thì mũi miệng tranh nhau thở không ai có thể chạy được nữa. Mọi người nhũng nhẵng đi, đội hình rời rạc mệt, rất mệt. Cái nặng của trọng lượng mang vác và việc lấy dốc sức chạy gằn làm mệt quá. Đội hình giải lao cách bến phà khoảng 1 ki-lô-mét. Đây đã là huyện Nam Sách. Sau giải lao chúng tôi hành quân hai chặng nữa thì tới nơi dừng chân nghỉ qua đêm thuộc xã Cộng Hòa, huyện Nam Sách, Tỉnh Hải Hưng.
Mọi việc nghỉ ngơi và làm công tác chuẩn bị cũng giống như ngày đầu. Hôm sau đúng 15 giờ chúng tôi tiếp tục lên đường. Hôm nay là ngày thứ 3 hành quân nên sức khỏe của mọi người bị tiêu hao đi nhiều, đội hình hành quân không còn khí thế như hai ngày đầu. Bộ đội chưa thật quen với hành quân đường dài, đội hình đi rải rác, các cấp chỉ huy phải đôn đáo thúc giục động viên anh em. Vẳng lên trong hàng quân đã có những câu kêu ca, những câu văng tục, rồi những tiếng động viên nhẹ nhàng của cán bộ: Cố lên, cố lên em đưa anh mang hộ bao gạo hay đưa anh mang hộ khẩu súng. Rồi cái đích của điểm nghỉ cũng đến. Nhưng không gọn đội hình như hai ngày đầu. Người về đích cuối cùng chậm hơn so với người đi đầu gần một tiếng đồng hồ. Hôm nay đội hình vẫn nghỉ tại khu vực đình làng cũng thuộc huyện Nam Sách. Được thông báo ngày mai được nghỉ một ngày. Tôi nghe phổ biến sơ bộ vậy chỉ chăm chăm vào người tiền trạm dẫn vào nhà nghỉ của khẩu đội. Mệt quá, anh em tôi chào hỏi gia đình chủ nhà xong, nhanh chóng làm vệ sinh rồi đi nghỉ.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #122 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:41:53 am »


 Hôm sau, sau khi điểm tâm sáng, tiểu đội lại tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm ba ngày hành quân với những nội dung quen thuộc là cố gắng phấn dấu rèn luyện hành quân ý thức tự giác, bám sát đội hình không tụt tạt, tương trợ giúp đỡ nhau trong mang vác, rồi lại bình chọn, biểu dương gương người tốt việc tốt. Kết thúc họp tiểu đội anh Khoát lên đại đội họp tiếp còn chúng tôi được nghỉ ngơi. Hôm nay khẩu đội tôi được phân công làm công tác hậu cần cho tiểu đội nấu cơm chính và nắm cho mỗi người một suất cơm chính ăn chiều. Gia đình nhà chủ cho chúng tôi rất nhiều rau xanh. Anh Khoát đi họp về phổ biến kế hoạch hành quân, theo đó, 15 giờ lên đường. Được phổ biến chặng đường hôm nay phải vượt qua nhiều trọng điểm quan trọng như cầu Lai Vu, cầu Phú Lương và qua thị xã Hải Dương. Đây là những mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ, nên ý thức phải nâng cao hơn. Dự kiến qua mấy trọng điểm trời sẽ tối, đường hành quân sẽ khó khăn hơn.
Đúng 15 giờ chúng tôi lên đường. Được nghỉ một ngày, sức khỏe của bộ đội khôi phục. Sau ba ngày hành quân, số lương thực trên mỗi người giảm bớt nên khí thế hành quân lại như ngày đầu. Đội hình hành quân trải dài dọc lộ, cành lá ngụy trang rung rinh thật đẹp. Khu vực này là đường lớn, dân cư nhiều, mọi người ra bên đường xem bộ đội. Có rất nhiều phụ nữ đứng vẫy tay cùng những lời đùa vui . Ai nấy đều thấy trách nhiệm và ý nghĩa của mình được tôn vinh, ý thức được nâng cao hơn.
 Đang đi, tôi chợt nhận ra người chị họ ở Hải Phòng. Chị Hòa là con bà chị của bố tôi nhà ở Hải Phòng, sơ tán về đây. Nghe bố tôi kể gia đình tôi trước năm 1946 cũng ở Hải Phòng. Bố tôi và anh trai bố đều là thợ cơ khí được vận động tham gia kháng chiến nhập ngũ vào đơn vị sản xuất chế tạo vũ khí của Quân Khu Tả Ngạn. Chiến tranh lan rộng xưởng quân giới phải di chuyển vào các vùng tự do tận Ninh Bình, Thanh Hóa. Năm 1955 hòa bình hai anh em bố tôi được phụ viên cùng gia đình trên đường trở về Hải Phòng thì vô tình đi chung vào đoàn dân Công giáo đang lũ lượt ra Hải Phòng di cư vào Nam. Chính quyền ở Thái Bình ngăn cản lại. Qua kiểm tra giấy tờ biết anh em bố tôi là bộ đội xuất ngũ nên họ vận động tạm dừng lại không đi cùng đoàn người vào Nam. Rồi họ vận động anh em bố tôi định cư tại thị xã Thái Bình, họ cấp cho mỗi gia đình 1 nhà, vì đang có nhiều nhà bỏ không chủ nhà di cư. Nên hai anh em bố tôi và cả người em trai bố thành cư dân Thái Bình từ đấy.
 Hồi tôi học nghề tại xưởng đóng tầu, ngày nghỉ thường ra nhà chị Hòa chơi. Tôi đứng lại chuyện trò một lúc, dặn chị báo giúp cho gia đình tôi là tôi đang hành quân vào Nam. Chị lấy tiền cho, nhưng tôi kiên quyết không nhận. Đội hình đã đi qua, chia tay chị, tôi chạy đuổi theo để bám đội hình. Sau nghỉ giải lao lần một rồi lần hai, mọi người được lệnh nghỉ ngơi ăn cơm 30 phút rồi vượt qua các trọng điểm. Gần 18 giờ đội hình tiếp tục lên đường. Trời đã tối, tiếng máy bay Mỹ ầm ào nơi xa, rồi chúng bay vụt qua thị xã, ném bom các mục tiêu. Chớp lửa sáng lòa, tiếng bom ầm ầm, đạn phòng không quanh thị xã nổ đoành đoành những vệt lửa đạn đan nhau trên trời, rồi các loại súng phòng không cỡ nhỏ cũng nổ liên tiếp rền như sấm. Chúng tôi nằm tản xuống mép đường. Sau 30 phút có báo yên, đội hình lại lên đường. Đại đội trưởng hô khẩu lệnh đanh hơn mọi khi: Tất cả hành quân bám sát đội hình, giãn cách nhau 5 mét. Tất cả lên ba lô! Không còn tiếng trò chuyện hay đùa vui, những câu hỏi nhỏ nhau kiểm tra tư trang vũ khí. Ai cũng cảm thấy như đã thật sự vào tuyến lửa. Lệnh tăng tốc hành quân vượt trọng điểm, chúng tôi chạy gằn qua trọng điểm thứ nhất rồi lại hành quân bình thường để lấy sức vựợt trọng điểm thứ hai là cầu Phú Lương, rồi qua thị xã Hải Dương. Máy bay Mỹ ào tới, bom lại nổ và các loại súng phòng không lại nhả đạn bắn đuổi. Chúng tôi nhìn thấy 2 quả tên lửa vút lên. Một quầng lửa bùng lên trên bầu trời. Mọi người reo vang: Máy bay cháy rồi! Cháy rồi! Nằm ven đường trống, nên chúng tôi quan sát rất kỹ trận chiến phòng không và lần đầu được thấy máy bay địch bốc cháy. Báo yên, chúng tôi tiếp tục hành quân, bước chân của những chiến sỹ bộ binh ra trận.
Cứ chiến đấu đi các bạn nhé. Đánh máy bay đang là nhiệm vụ của các bạn, còn mặt trận của chúng tôi còn cách xa cả ngàn cây số. Đều là chiến đấu, nhưng trận chiến của chúng tôi sẽ gian lao vất vả, cam go hơn các bạn nhiều. Tự nhiên tôi thầm nghĩ trong lòng như vậy. Suy nghĩ đó làm cho tôi khỏe lên. Không có tiếng chuyện trò, ai ai cũng khẩn trương lầm lũi vượt qua trọng điểm. Đến 21 giờ thì đơn vị tới trạm nghỉ tại xã Thanh Lãm, Cẩm Giàng. Ở vùng này là đất trồng đay. Trong làng, những đống cây đay đã thu hoạch xếp thành từng dãy bên những cái bàn kéo bóc vỏ đay, những đống lõi cây đay đã được bóc vỏ trắng toát, đây là nguồn chất đốt rất có giá trị. Vỏ đay xếp đống hoặc ngâm trong các ao, mưa nhiều, lá đay, vỏ đay ngâm bốc mùi thối hoăng cả làng. Chúng tôi nhanh chóng nhận nhà để nghỉ. Kế hoạch 7 giờ sáng mai lại hành quân.
Đúng 7 giờ sáng chúng tôi tiếp tục hành quân. Vừa ra đầu làng thì chứng kiến một vụ đánh nhau do ghen tuông, mấy người đang dìm nhau dưới nước. Được biết là có ông thợ may khoèo chân nhưng lại rất có duyên với phụ nữ. Nhiều cô gái phải lòng anh chàng thợ may khoèo dẫn tới vợ người thợ may và các cô gái ghen rồi đánh nhau ầm ỹ, dân làng đứng xem. Kỳ lạ là không thấy ai can ngăn mà chỉ đứng kháo chuyện. Chúng tôi cũng được lệnh không can thiệp vào chuyện ấy, đại đội phó Sáu và mấy cán bộ trung đội đứng ngay đó thúc giục bộ đội đi nhanh không đứng lại tò mò. Sau ba lần giải lao chúng tôi dừng lại một làng ven đường nghỉ ngơi ăn trưa, được phổ biến 7 giờ tối hành quân tiếp. Đến tối toàn đơn vị tiếp tục hành quân. Đường hành quân dọc quốc lộ 5, có đường sắt chạy song song với đường bộ. Qua giải lao lần thứ nhất, tôi thấy ồn ào phía trước. Tiếng chửi tục và những tiếng đấm đá uỳnh uỵch. Mấy chục lính đại đội hỏa lực đang vây đánh hai người thanh niên. Hỏi ra thì được biết có mấy thanh niên thấy bộ đội mệt nghỉ ngơi, thậm chí ngủ cạnh đường, nên đã lợi dụng trà trộn vào đội hình lấy cắp ba lô, bị anh em phát hiện, bộ đội quây lại đánh, bắt hai người và thêm chiến lợi phẩm là một chiếc xe đạp. Thế là sau một hồi đấm đá cùng những tiếng van xin của hai thanh niên, một người nói to: Thôi đừng đánh nó nữa, cho nó làm vận tải ba lô! Thế là hai kẻ cắp và chiếc xe chiến lợi phẩm được trưng dụng làm phương tiện vận tải bất đắc dĩ cho bộ đội. Anh em khoác lên người mỗi đứa hai, ba cái ba lô. Cái xe đạp thì còn phải nói, bốn, năm cái ba lô được treo lên xe, anh em hả hê vì tự nhiên lại có kẻ nộp mình thành kẻ vận tải ba lô cho trong lúc mệt nhọc. Sau này anh em đại đội 4 kể lại, tới điểm dừng chân mỗi thằng được nhận thêm chục cú đấm đánh nữa rồi mới được tha bổng, còn chiếc xe đạp bị tịch thu làm phương tiện vận tải. Khoảng gần mười giờ thì chúng tôi vào trạm nghỉ. Đây là xã Thống Nhất, Mỹ Hào, Hải Dương.
Hôm sau, tiếp tục hành quân và nghỉ lại xã Cấp Tiến, huyện Khoái Châu. Ngày hôm sau được phổ biến là sẽ vượt sông Hồng bằng phà. Đây cũng là trọng điểm bắn phá của máy bay. Đường hành quân lại rất khó đi, nên mọi người phải chuẩn bị chu đáo hơn. Chúng tôi hành quân rồi nghỉ trưa, 19 giờ lên đường. Đến đoạn hành quân thứ hai thì đội hình rời quốc lộ đi theo đường liên xã về hướng Tây. Hôm nay trời mưa rải rác cả ngày. Khoảng tám giờ tối thì xuống đến đường bãi cánh đồng ven sông Hồng để ra bến phà dã chiến vượt sông. Chúng tôi đi trên bờ mương đất lầy, rất khó đi, trơn trượt, bộ đội ngã oành oạch liên tục, lăn cả xuống mương nước. Trơn quá giầy lại để mãi trong ba lô không thể hạ ba lô mà lấy được, vì đâu cũng bùn nhão nhoét, dép cao su do bùn đất thịt nên quai dép, đế dép không bám được vào chân. Nhiều khi bị trượt dép lộn ngược cả đế lên mu chân, hoặc chân chọc về đằng trước, dép tụt tận ra sau gót. Tiếng kêu ca, tiếng chửi thề ồn lên, vẫn nhiều tiếng ngã oạch oạch và có cả những câu đùa “tháo đạn đứng dậy”. Tiếng nói như mếu: “Dậy thế đ.. nào được”!!! Tôi vừa buồn cười vì câu đùa thì cũng “oạch”! Tôi lồm cồm bò dậy. Vừa bước được một bước thì lại “oạch” thêm lần nữa, lăn xuống mương. Lần này thì tôi không tự đứng dậy được nữa. Anh Tấn phải cầm tay kéo tôi lên tôi mới đứng dậy được.
 Khổ nhất là đại đội 4 hỏa lực phải khiêng vũ khí mới khó đi, hai người đang khiêng nhưng người trước hay người sau bị trượt bị ngã là kéo theo cả người kia ngã theo, hay khí tài bị rơi xuống đường, lồm cồm bò dậy rồi lại tiếp tục khiêng vác cùng những tiếng chửi thề tục tĩu. Rồi có cả tiếng hu hu khóc của mấy lính trẻ, cứ mẹ ơi, mẹ ơi! Các cán bộ trung đội, tiểu đội đứng rải theo đội hình để nâng đỡ bộ đội ngã và động viên hành quân. Tôi cũng như mọi người, ngã thì hai lần, còn trơn trượt thì liên tục, song cắn răng chịu trận, không kêu ca mà chỉ nghĩ đời mình khổ quá, cực quá, mà có lẽ tất cả đơn vị chưa ai bị khổ thế này. Sao cái mương nước này dài thế, đi mãi mà chưa thấy tới bến sông, chắc nó phải dài tới 3 - 4 ki-lô-mét chứ không ít. Rồi quãng đường sình lầy gian khó cũng vượt qua, chúng tôi đã ra đến sông Hồng. Đây là bến phà Khuyến Lương vượt sông Hồng của quốc phòng, do công binh đảm trách có hai con phà đang chạy. Nghỉ ngơi một lúc rồi có phà cập bến. Phà nhỏ nên đại đội phải đi làm hai chuyến. Tiểu đội tôi được đi chuyến thứ nhất với trung đội 1 và ban chỉ huy đại đội. Sau 30 phút thì phà cập bến. Lên bờ là có lệnh chạy vận động cách xa bến. Được cái bên này đất khô có đường nên không trơn như bên bờ Bắc. Chúng tôi hành quân khoảng 3 ki-lô-mét thì vào được nơi nghỉ. Trời vẫn mưa rải rác, anh em ngồi dựa lưng vào khắp mọi nơi. Mệt quá, hạ ba lô là ngả người ra nằm, mặc cho đất ẩm ướt và mùi hôi thối của cứt trâu cứt chó nơi đầu làng. Hôm nay là ngày hành quân gian khổ nhất trong những ngày qua. Còn những ngày tới thì chưa biết thế nào? Tôi miên man nghĩ ngợi rồi thiếp đi, khi có tiếng đập gọi của anh Tấn: Dậy đi, vào nhà nghỉ! Tôi mới lồm cồm dậy, khoác ba lô theo anh em.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #123 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:43:44 am »


 Làng xóm ở đây kinh tế có vẻ khá giả, nhà xây rất nhiều, cạnh đường 1 và đường tầu, gần ga Tía. Đây là xã Tô Hiệu, Thường Tín, Hà Tây. Chúng tôi được phổ biến là sẽ nghỉ ở đây một ngày, sau đó được hành quân bằng tầu hỏa. Mọi người reo lên thích thú, được đi tầu thì thích quá còn gì. Ngày nghỉ hôm sau, ngoài thực phẩm tiêu chuẩn, chúng tôi còn góp tiền ra chợ mua đồ cải thiện. Dân ở đây ngoài đồng ruộng còn có những nghề phụ, nên kinh tế rất khá. Chúng tôi ở trong một ngôi nhà xây cổ, chủ nhà pha trà mạn mời chúng tôi. Thời đó mà có chè “móc câu” thế này là quý hiếm lắm. Anh em tôi được thoải mái cái khoản trà thuốc, khoai lang, sức lực lại hồi phục rất nhanh.
Khoảng 19 giờ ngày 14 chúng tôi hành quân ra ga tầu. Quãng đường ra ga hơn 2 ki-lô-mét. Tám giờ thì đến ga. Đây là ga xép cách ga Hàng Cỏ Hà Nội hơn 20 ki-lô-mét. Nhà ga đơn sơ hoang tàn, mùi hôi, mùi khai thật kinh tởm, nhưng vì là cạnh đường 1 nên vẫn có dáng dấp phố xá, có hàng quán, có nhiều người bán bánh trái rong. Điện đóm thì lù mù, chúng tôi dồn cả vào trong sân ga. Đúng 21 giờ thì tầu đến. Tiếng còi hơi thét lên lanh lảnh tu tu, rồi cái đầu máy hơi nước đen xì xả hơi phì phò liên tục rồi dừng hẳn. Các đại đội đã được phân công nên cán bộ nhanh chóng tìm số toa rồi đốc thúc bộ đội lên tầu. Mỗi đại đội hai toa, như vậy cả tiểu đoàn đi vừa một chuyến. Tôi cũng trèo lên tầu. Trong toa tầu tối om không có ghế chỉ có sàn tầu. Mùi than thật khó chịu. Đây là toa tầu chở hàng chứ không phải toa tầu khách. Tiếng cười nói ầm ào kêu bẩn, nhiều than đen quá, bẩn hết cả ba lô quần áo. Tiếng ai đó nói lớn: Bẩn cũng tốt. Các đồng chí dồn sát vào! Lính bộ binh được cơ động bằng tầu lửa là quý lắm rồi còn kêu ca nỗi gì? Xô đẩy chen chúc một lúc rồi mọi việc cũng ổn định. Nhiều người đã châm lửa hút thuốc, 15 phút sau thì tầu chuyển bánh. Con tầu hộc hộc lên mấy tiếng như thể lấy đà rồi sình sịch, sìch sịch chuyển bánh. Tiếng bánh sắt nghiến xuống đường ray ken két, thưa rồi mau dần. Tiếng kình kịch của bánh xe qua khớp nối đường ray đã dày. Con tầu lấy tốc độ lao vào  đêm hướng phía Nam. Càng đi Hà Nội càng xa dần… Toa đen chở hàng nhưng lại là toa kín. Tiểu đội tôi ngồi tận góc trong cùng nên chẳng nhìn thấy cái gì, ngoài cái âm thanh kình kịch đều đặn và thỉnh thoảng tiếng hú tu tu của còi hơi và tiếng xì xì xả hơi phì phò khi tầu vào các ga xép.
Khoảng 11 giờ đêm thì chúng tôi tới ga Ninh Bình. Lệnh xuống tầu. Thị xã Ninh Bình vắng hoe nhưng những ngọn đèn lù mù cũng soi rõ các khuôn mặt nhọ nhem. Không có nước rửa, quần áo ba lô của mọi người đều đen nhẻm vì than. Như vậy là chúng tôi được đi tầu khoảng 50 ki-lô-mét. Thôi thế là quý lắm rồi, nếu hành quân bộ có đến 3 ngày, đi tầu mất có 2 tiếng thật quá tốt. Các đơn vị tập hợp nhanh chóng rồi hành quân, nhưng ở đây có nhiều nhà dân có hàng quán nên anh em tranh thủ mua thứ nọ thứ kia. Việc thu quân không nhanh gọn được. Có rất nhiều tốp bộ đội đeo băng kiểm sát quân sự chặn ở các đầu đường không cho bộ đội đi quá xa hoặc đề phòng ai đó tụt tạt. Cả tiểu đoàn tiếp tục hành quân. Lúc này đã rất khuya. Sau hai đợt giải lao thì đại đội tôi vào nghỉ tại xã Thanh Thuỷ, Thanh Liêm, Nam Hà. Chiều hôm sau đơn vị tiếp tục hành quân và dừng lại nghỉ tại xã Thanh Hải, Thanh Liêm. Đơn vị được nghỉ tại đây một ngày. Lại tiếp tục họp tiểu đội rồi đại đội. Được biết toàn trung đoàn đã tập hợp về khu vực này. Cả đơn vị thu dung của trung đoàn cũng đã về đây và được trả về các đơn vị. Đa số lực lượng thu dung là anh em tiểu đoàn 2 vì số anh em này không được đi phép, rất nhiều anh em đã tranh thủ đi phép ba ngày hoặc năm ngày. Khi đến, đơn vị cơ bản của trung đoàn đã hành quân còn lực lượng thu dung hành quân sau 5 ngày nhưng không đi vòng theo trung đoàn mà hành quân theo trục quốc lộ 10 nên quãng đường ngắn hơn, tới đây thì đuổi kịp đội hình.
Cũng qua cuộc họp của đại đội được thông báo bộ đội các đơn vị trực thuộc và tiểu đoàn 3, anh em vi phạm chính sách dân vận nhiều, cao nhất là đã có vụ va chạm đánh nhau với thương binh miền Nam tại khu vực ga Ninh Bình. Thậm chí đã đốt cả xe máy của một thương binh người miền Nam, gây tình hình căng thẳng mất đoàn kết. Các đồng chí về phép lên muộn nữa thì được biên chế sang Sư đoàn 304.
Chúng tôi được nghỉ ngơi một ngày. Nơi đây thuộc đất Ninh Bình, toàn núi đá vôi dãy núi Tam Điệp rất đẹp. Dân cư ở đây theo đạo Thiên chúa nhiều, họ rất hiền lành chất phác có phần lạnh lùng, không thể hiện sự đón tiếp vồn vã bộ đội như những người bên Lương. Hôm sau chúng tôi hành quân theo con đường đá có tên Nguyễn Văn Trỗi. Đường lượn quanh các trái núi đi hướng vào Nam qua khu vực giáp rừng Cúc Phương và những đền đài Đinh Bộ Lĩnh xưa, (nơi này hiện nay là khu vực chùa Bái Đính). Đơn vị nghỉ đêm tại xã Ninh Giang, Gia Khánh, Ninh Bình. Hôm sau tiếp tục hành quân qua Nho Quan, rừng Cúc Phương và dừng nghỉ tại xã Phú Long, Nho Quan, Phố Cát, Thạch Thành.
   Tới khu vực này là đất Thanh Hóa. Đúng là xứ Thanh xa thật, khi đi qua Phố Cát rồi qua ngã ba Kim Tân tôi mới sực nhớ là bố tôi vẫn hay kể chuyện ngày xưa đơn vị ông, xưởng công binh sản xuất vũ khí của Quân khu 3 đã ở đây. Gia đình tôi vào theo ở ngay ngã ba Kim Tân, huyện Thạch Thành, Thanhh Hóa này, trong giấy khai sinh của tôi là địa danh này. Thật bộn chộn không ngờ mình lại được đến, được qua nơi chôn rau cắt rốn của mình. Tôi nghĩ đến nơi nghỉ sẽ viết ngay thư về cho gia đình vừa đi vừa lẩm nhẩm nội dung: Con đã đến những nơi bố mẹ xưa đã sống và đã sinh ra con! Những nơi này bố mẹ chắc rất nhiều kỷ niệm. Giờ đây lại đến thế hệ con qua đây. Tuy nhiên không được ở đây vì nhiệm vụ con còn phải đi xa hơn nữa… Tôi cứ nghĩ mông lung như vậy, đầu nghĩ còn chân cứ bước theo đoàn quân không cảm thấy mệt nữa, mặc dù gan bàn chân phải của tôi đã bị phồng nước, đi rất đau mà thấy cái giá trị thiêng liêng của hai thế hệ. Xưa bố đánh Pháp, còn nay chúng con đánh Mỹ, toàn những kẻ xâm lược có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn mạnh.
Đơn vị nghỉ lại xã Thành Kim, Thạch Thành. Hôm nay chúng tôi đi xuyên qua một cổng thành rồi đi vào giữa khu vực thành quách có hai con rồng đá rất dài nhưng bị chặt đầu. Hỏi một vài người dân mới biết đây là thành Nhà Hồ. Nhà Hồ mà trong lịch sử của chúng ta đã nhắc đến không nhiều nhưng đã có dấu ấn rất lớn của một đế chế: Vua Hồ Quý Ly, nhà cải cách lên ngôi, nhưng vì không được lòng dân nên triều đại lụi tàn sau khi xưng đế 7 năm. Nhưng kỳ tích xây thành lũy của nhà Hồ vẫn còn nhiều việc phải tranh luận, chẳng hạn như: Với tốc độ xây thành và kỹ thuật, kiến trúc xây thành cùng nhiều vấn đề liên quan đến giai đoạn lịch sử dựng nước, giữ nước này của ông cha ta.
Đang ngỡ ngàng trong niềm vui vì được biết nơi chôn rau cắt rốn của mình. Rồi lại được qua những đền đài thành quách mà chưa bao giờ được biết. Nhìn sang bên đường, bất chợt tôi thấy một người đàn ông đang đứng khóc, khóc nức nở nhưng không thành tiếng. Ông mặc áo nâu đã bạc có mấy miếng vá. Cái quần cộc cũng màu nâu nhưng thẫm hơn. Cái nón ông đội cũng quá cũ, rách tua. Một tay ông cầm cái đòn gánh chống xuống đất, đầu trên tựa vào vai, còn tay phải ông liên tục gạt nước mắt. Tôi vừa đi ngang qua thì ông cũng đã xỏ quang gánh có 2 cái rổ sảo không, chắc ông vừa gánh gì đó và trên đường đi về. Thấy bộ đội hành quân, nhìn những người lính 17 -18 đôi mươi rập rập cúi rạp hành quân hướng đường ra trận. Có thể ông cũng có con là bộ đội. Thương nhớ con, hay ông thấy những người lính trẻ măng kia đang hành quân chi viện cho chiến trường mà ngày đi thì có còn ngày về liệu được mấy ai! Rất nhiều, rất nhiều người đã mãi mãi không về. Sinh Bắc tử Nam. Ông thương con ông khóc. Ông thương chúng tôi ông khóc! Hay ông khóc do cuộc sống quá đau khổ vì chiến tranh triền miên, đói rét cơ cực và bao điều nữa chúng tôi lúc đó không thể hiểu hết. Đi qua rồi mà không hiểu sao tôi vẫn quay lại nhìn ông, nhìn mãi nhìn mãi… Ông vẫn đi theo đoàn quân, vẫn một tay để trên đòn gánh, một tay cứ đưa lên quệt nước mắt. Quệt ngang giữa trời…

      Chiều muộn, tháng tám mưa dầm thật ảm đạm. Tiếng máy bay thù vẫn ì ầm và những tiếng bom nổ rền xa nơi cầu Chuối. Hình ảnh người đàn ông khóc bên thành quách rêu phong buổi chiều hôm ấy cứ hiển hiện mãi trong tôi như bức tranh trước mặt. Có lẽ hình ảnh này sẽ mãi theo tôi đến tận cuối đời.
Qua cổng thành chúng tôi đi tiếp khoảng 2 ki-lô-mét nữa thì dừng chân tại xã Vĩnh Long, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Toàn đơn vị được nghỉ tại đây ba ngày. Như vậy sau khoảng 20 ngày hành quân đơn vị đã tới khu vực huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Hồi còn ở nhà nghe mọi người nói đến Xứ Thanh là nói về sự xa xôi ngàn trùng cách trở. Những năm gần đây khi nói đến Thanh Hóa là mọi người cũng như đài, báo đều  ca ngợi về mảnh đất địa linh nhân kiệt, với nền văn hóa văn minh Đông Sơn, nơi có dòng họ Lê, họ Hồ và những chiến công hiển hách đánh trả máy bay Mỹ. Chiến thắng Hàm Rồng hai ngày mà quân dân Thanh Hóa bắn rơi 47 máy bay Mỹ, bảo vệ an toàn cho cây cầu chiến lược huyết mạch giao thông bên Núi Ngọc. Những bài hát ca ngợi quân dân tỉnh Thanh thật hào hùng, đất và người xứ Thanh thật đáng ngưỡng mộ. Những gương chiến đấu như anh hùng Nguyễn Viết Xuân, với câu nói bất hủ: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”. Anh hùng Lê Mã Lương với câu nói nói nổi tiếng mà mọi người phải học tập: “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”. Hay chị dân quân Ngô Thị Tuyển vác hai hòm đạn nặng hơn cả trọng lượng cơ thể mình tiếp đạn cho trận địa pháo. Rồi gương anh hùng nhỏ tuổi Nguyễn Bá Ngọc quên mình lấy thân mình che mảnh bom cứu các em nhỏ. Rồi những gương chiến đấu của nữ dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng. Rất nhiều những bài hát rất hay ca ngợi mảnh đất này như bài: Hò Sông Mã, Hoan hô các cụ dân quân... Nhiều, còn rất nhiều câu chuyện ngợi ca về xứ sở này mà hôm nay chúng tôi đã được đến. Với tôi thì luôn chộn rộn vì mình đã được vào tận nơi chôn rau cắt rốn của mình và nơi xưa bố mẹ tôi cũng đã từng sống, từng chiến đấu. Bước chân tôi đi qua hôm nay có bước chân nào in vào dấu chân xưa của bố mẹ tôi?
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #124 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:45:45 am »


       Tiểu đội tôi được ở trong một gia đình có vẻ khá về kinh tế, cũng nhà tranh ba gian nhỏ, có bể nước mưa và giếng xây trước cửa. Dịp này mưa nhiều nên bể nước đầy ắp. Ông bà chủ nhà nói chúng tôi dùng nước ở bể. Ông nói thêm, giếng nước trong nhưng có cái đài mới rơi xuống chưa lấy lên được. Chúng tôi tròn mắt ngạc nhiên sao ông giầu thế mà vô ý thế, cái đài giá trị vậy mà lại để rơi xuống giếng? Chúng tôi cứ nghĩ cái đài là đài bán dẫn để nghe hát, nghe thời sự. Thời đó gia đình nào có cái đài là giầu là quý lắm. Anh em chúng tôi hỏi ông: Đài rơi lâu chưa bố? Ông nói nó rơi từ sáng mà chưa ai xuống lấy lên được. Anh Thỉnh nói để chúng con xuống lấy cho chứ không thì đài hỏng mất. Ông chủ lại nói không sao đâu xuống nước lạnh và sâu lắm nếu cần thì để mai mua cái khác. Chúng tôi lại tròn mắt ngạc nhiên. Anh Thỉnh cương quyết bảo Tuấn xuống lấy đài. Anh bảo ông: Bố lấy đoạn dây thừng dài buộc vào người Tuấn. Rồi Tuấn tụt xuống giếng mò lặn. Tuấn ngoi lên nói không có, không thấy. Ông bố nói nó rơi khi sáng mà, chú xem lại lần nữa đi. Tuấn lại ngụp lặn xuống giếng rồi ngoi lên cầm theo cái gầu múc bằng lốp cao su đen, một tay gạt nước ở mặt, một tay giơ cái gầu lên nói: Chí có cái gầu này thôi. Ông chủ nói đúng rồi cái đài rơi buổi sáng đấy. Chúng tôi ngớ người ngạc nhiên hỏi đây là cái đài ạ. Ông chủ nói đúng rồi đây là cái đài múc nác. Trời ạ, thế mà chúng tôi cứ nghĩ là cái đài radio bán dẫn cơ chứ. Dân đây gọi cái gầu là cái đài, sau được biết thêm cái bát ăn cơm gọi là cái đọi. Thật là chuyện cười vỡ cả bụng vì ngôn ngữ địa phương. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết thêm về một số từ địa phương mô, tê, răng, rứa. Mô là đâu, đi mô tức là đi đâu, ở tê tề tức là ở kia kìa, mần răng tức là làm sao. Rứa tức là thế. Chú bộ đội mần chi rứa tức là chú bộ đội làm gì đó, con trâu gọi là con chu vv…
Ở đây làng xóm trù phú cạnh dòng sông Chu, sông Mã, dừa và lạc rất nhiều và đặc biệt là đất trồng thuốc lá. Cây thuốc lá cũng giống như cây thuốc lào nhưng để làm thuốc lá hiện tại có thuốc lá Hòn Mê lấy nguyên liệu tại đây, hút rất ngon. Nhưng dân thường hút thuốc tự chế thái nhỏ vấn điếu hút gọi là thuốc rê. Bộ đội ta được hút thuốc thoải mái, những ai là đệ tử của con nghiện thì vô cùng thích vì mua được thuốc rẻ và dân cho hoặc mời chứ không lấy tiền. Gia đình chủ nhà có một cô con gái là giáo viên cấp 1. Tối muộn cô mới đi dạy về chào hỏi chúng tôi xong rồi cô đi tắm. Trời vẫn mưa lâm râm. Cô tắm ngay tại bể nước mưa, như vậy chỉ cách giường ngủ của chúng tôi khoảng hơn chục mét qua cái sân gạch. Khoảng tám giờ từ bên giường bên này tôi thấy Tuấn và Hà cứ cười rúc rích, để ý kỹ thì hóa ra hai ông tướng đang từ trong màn trên giường nhưng nhìn trộm cô giáo tắm. Nếu nhìn ra chỗ cô giáo tắm thì cũng đen ngòm chẳng thấy gì, nhưng hai ông bạn đã phát huy tác dụng của kính ngắm cối nó như cái ống nhòm thu hẹp khoảng cách, vả lại mắt thanh niên trai trẻ thì lại quá tinh tường nên các ông kễnh cứ rúc ríc cười là như vậy. Anh Thỉnh sau khi biết thế sang gằn giọng mắng hai cậu và thu lại cái kính ngắm giá trị đó.
Được nghỉ tại đây ba ngày. Trong ba ngày này, ngoài các buổi họp tiểu đội, đại đội và lau chùi bảo dưỡng súng đạn, nhận nhu yếu phẩm lương thực, chúng tôi đi tham quan khám phá kỹ hơn về khu vực thành Nhà Hồ và đi sang các đơn vị khác giao lưu gặp đồng hương trò chuyện. Tôi sang đại đội 4 hỏa lực chơi với anh Hương, anh Hòe, anh Thụ, anh Sùng. Anh Nguyễn Chính Hương ở trung đội súng ĐKZ. Anh Hương là công nhân nhà máy cơ khí 2/9 của tỉnh mà trong những câu chế nhạo Thái Bình: “Có nhà máy cháo, có lò đúc muôi” là nhà máy nơi anh làm việc. Đồng hương cùng nghề nên anh rất quý tôi, đãi tôi cà phê, trà thuốc còn cho thêm nhiều thứ mang về. Anh hơn tôi 3 tuổi, con của một cán bộ công an tỉnh nhưng cũng nhập ngũ đợt này. Sau này về nơi đóng quân tôi vẫn thường sang chơi với anh. Hơn nhau 2- 3 tuổi nhưng tôi có cảm giác anh hiểu biết hơn tôi rất nhiều, phong thái cao sang lịch lãm làm tôi rất thán phục.
Ngày 23 tháng 8 chúng tôi tiếp tục hành quân. Hướng đi ngược lên vùng huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Được nghỉ 3 ngày anh em lấy lại sức lực hành quân nhanh nhẹ hơn, chân tôi và nhiều người cũng đã bình phục. Đường hành quân bắt đầu theo các con đường đất nhỏ, rừng núi điệp trùng, lúc lên đèo khi xuống dốc, có khi phải lội qua cả những con suối nhỏ nước trong veo, cảnh trí xứ Thanh thật đẹp những ngôi nhà sàn thấp thoáng trong những tán cây rừng. Phía dưới quốc lộ 1 và khu vực Cầu Chuối máy bay địch quần đảo đánh bom nhiều. Còn ở đây là vùng rừng núi, nên máy bay chỉ bay qua chứ không phải là trọng điểm đánh bom của chúng, nên chúng tôi hành quân ban ngày chứ không phải đi đêm, có điều dốc cao nhiều nên leo dốc rất mệt. Tối chúng tôi nghỉ lại xã Xuân Minh, Thọ Xuân. Ngày hôm sau tiếp tục hành quân và dừng nghỉ tại xã Hợp Thành, Triệu Sơn. Sáng ngày 28 tháng 8 toàn đơn vị tiếp tục hành quân. Hôm nay đường hành quân phải leo vượt qua một con dốc cao của dãy núi Nưa để sang sang huyện Như Xuân. Dốc đất đỏ rất dài có rừng cây nguyên sinh. Những cây cổ thụ thật to, nhiều dây leo to hơn cả bắp chân loằng ngoằng xoắn xít vào nhau vắt dọc ven đường. Con dốc thật dài, chúng tôi phải nghỉ lại một chặng mới lên được đỉnh đốc. Lên tới đỉnh dốc như lên tới cổng trời, gió thổi ào ào. Khi xuống dốc dễ đi hơn, bên này dãy núi đã thuộc về huyện Như Xuân. Nghỉ tiếp ba chặng nữa đến chiều tối thì đại đội tôi về địa điểm đóng quân của đại đội thuộc xã Phú Nhuận, huyện Như Xuân, ngay chân dãy núi Nưa. Đây là xã cuối của huyện Như Xuân giáp với huyện Nông Cống. Được biết cả trung đoàn sẽ dừng chân huấn luyện tại đây. Tiểu đoàn 1 của tôi đóng quân tại thôn Bồng Sơn, xã Phú Nhuận. Tiểu đoàn 2 đóng quân ngay tại thị trấn Bến Sung, Tiểu đoàn 3 ở khu vực xã Mậu Lâm. Các đại đội trực thuộc cũng đóng quân quanh trung đoàn bộ.


                                                      VII

Như vậy sau hơn hai mươi ngày, toàn đội hình trung đoàn 36B đã hành quân từ Thủy Nguyên, Hải Phòng vào tới huyện Như Xuân, Thanh Hóa. Tiểu đoàn tôi đảm bảo hành quân tới đích 100% quân số. Tiểu đoàn 2 và 3 có một số tụt tạt theo đội hình thu dung và trong đó có một số không quay trở lại đơn vị nữa. Đại đội 3 của tôi đóng quân tại thôn Bồng Sơn cuối xã Phú Nhuận qua cánh đồng là thuộc huyện Nông Cống. Ở đây là bản dân tộc Mường họ ở nhà sàn, bên dưới làm chuồng trâu bò và các loại gia cầm. Nhân dân rất vui khi chúng tôi đến ở và luyện quân tại đây . Bà con dân tộc khi nói chuyện với chúng tôi thì nói bằng tiếng Kinh nhưng khi họ nói với nhau thì bằng tiếng dân tộc, chúng tôi không thể hiểu nổi. Những ngày đầu tiểu đội 10 được ở cùng với bộ phân nuôi quân tại một gia đình làm nghề thuốc có căn nhà sàn to nhất thôn. Nhưng sau đại đội bố trí lại tiểu đội ở tại gia đình ông bí thư chi bộ cũng là dân tộc Mường ven đồi sắn. Nhà của gia đình không lớn lắm, sàn nhà ghép bằng những cây tre bổ ra nhìn được dưới đất, đi lại thật nhẹ cũng vẫn gây tiếng động. Dưới gầm sàn nhà có gần chục con trâu, mùi phân và nước đái trâu, cứt và nước đái lợn cùng các loại gia cầm rất khai rất bẩn, mãi một thời gian dài chúng tôi mới quen được mùi xú uế tổng hợp đó. Gia đình ông chủ có hai cô con gái khoảng tuổi 18- 20, da trắng rất xinh, qua tìm hiểu thì cả hai cô đều đã có người yêu đang ở bộ đội.
 Hôm sau anh em tôi nhanh chóng làm công tác dân vận quét dọn nhà cửa làm vệ sinh ngõ xóm. Rồi chiều tổ chức lau chùi vũ khí, họp tiểu đội, đại đội rút kinh nghiệm hành quân, biểu dương khen thưởng những tập thể cá nhân có thành tích gương mẫu. Chính trị viên Lẫm và đại đội trưởng Nghẹ thay nhau phổ biến nhiệm vụ của đơn vị. Qua đó nhiệm vụ của đơn vị và của toàn trung đoàn là dừng chân tại đây tổ chức huấn luyện kỹ thuật sử dụng vũ khí khí tài của từng đơn vị, kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu. Tổ chức bắn đạn thật tất cả các loại vũ khí được trang bị. Sẵn sàng cơ động chi viện cho chiến trường.
Hôm sau toàn đơn vị vẫn được nghỉ ngơi nhưng phải làm các nhiệm vụ như đi lấy gạo, lấy củi, giúp tiểu đội nuôi quân làm nhà kho, nhà bếp và đào bếp Hoàng Cầm. Đào hầm tránh máy bay tại nơi ở của mình.
Theo đó chúng tôi được tổ chức huấn luyện lại từ đầu như tân binh mới nhập ngũ, từ đội ngũ xen kẽ là các kỹ thật xạ kích súng AK, tiểu đội tôi được tập trung học kỹ thuật bắn súng cối, súng B41 do cán bộ tác chiến trung đoàn về tổ chức học tập. Toàn trung đoàn nhanh chóng học tập về tính năng tác dụng của súng cối 61 ly, súng cối 82 ly, súng B40, B41 và các loại vũ khí trang bị khác như súng DKZ, súng 12,7 ly, đại liên, trung liên. Các đơn vị trợ chiến thì học sâu về thông tin, công binh hay kỹ thuật nghiệp vụ trinh sát.
Ở vùng này rừng núi rậm rạp, trung đoàn đóng quân dọc theo chân dãy núi Nưa nên thao trường tập luyện rất thuận lợi. Không biết ngày xưa nơi đây bà Triệu cưỡi voi luyện quân đánh giặc như thế nào. Còn chúng tôi nay cũng hàng ngày vào ven chân núi luyện quân nhưng bằng các loại vũ khí hiện đại. Chúng tôi nhanh chóng làm quen với các kỹ thuật thao tác sử dụng như tháo lắp cối, đặt pháo, thao tác kiểm tra đạn, kỹ thuật thả đạn vào nòng. Học thuộc bảng bắn, làm quen những thuật ngữ thước tầm, ly giác, liều bắn, vật chuẩn, ước lượng cự li cả cách bắn súng cối ứng dụng khi cần thiết. Như đã nói ở trên, tiểu đội hỏa lực phải lựa chọn những người có trình độ văn hóa cao nên mặc dù các kỹ thuật khó nhưng anh em tôi nắm bắt cũng nhanh. Hai khẩu đội luôn cùng tập và thi nhau đạt thao tác nhanh nhất chuẩn nhất. Súng B40, nhất là súng B41 đòi hỏi khó hơn phải đoán ước lượng độ gió, tốc độ đạn bay ảnh hưởng tới đường đạn.
Toàn đại đội, toàn tiểu đoàn, trung đoàn dấy lên phong trào thi đua học nhanh, học giỏi sẵn sàng chi việc cho Miền Nam. Các phong trào do đoàn thanh niên phát động như báo tường. Mỗi người phải viết, phải làm từ 1 đến 2 bài thơ hay bài văn ca ngợi về việc học tập huấn luyện và ca ngợi những gương người tốt việc tốt để động viên tinh thần thi đua rèn luyện. Nhiều người không làm được thơ vì vậy mấy thầy giáo phải làm giúp để có thành tích mọi người đều có bài, có thơ báo tường, bào liếp.
  Chúng tôi lao vào học tập không biết mệt mỏi. Được cái ở vùng này lương thực, thực phẩm tương đối dồi dào. Cơm không phải ăn độn khoai, độn sắn. Mặc dù sắn ở đây rất nhiều, sắn đồi rất thơm ngon, nhà dân thường xuyên bới sắn về luộc hoặc nướng cho bộ đội ăn. Đặc điểm nhà dân tộc là bếp ở cùng sàn nhà luôn đỏ lửa suốt ngày. Chỉ cần dựng sắn gần bếp 30 phút là mùi sắn nướng đã thơm lừng. Hàng ngày vẫn 5 giờ dậy tập thể dục theo đội hình trung đội, đại đội, xong làm vệ sinh cá nhân rồi xuống bếp lấy cơm. Ngày vẫn ba bữa cơm nóng. Sáng ăn phụ và trưa chiều hai bữa cơm chính, hầu như không ai bị đói. Riêng tôi thì ăn rất yếu, đi tập về mệt nên chỉ ăn được hơn một bát cơm là không sao ăn được nữa. Anh Trạch, súng B41 thấy tôi ăn yếu quá nên bữa nào cũng kèm ép tôi ăn bằng được thêm một bát nữa. Giọng miền Trung - Huế rất khô và cương quyết cùng với thái độ cứng rắn của Trạch sẵn sàng đè tôi ra để nhồi nhét cơm nên rồi tôi cũng phải theo cái khẩu lệnh của Trạch, nhai cơm mà cứ muốn nôn ra. Nhưng cũng nhờ như vậy mà sức khỏe tôi khá hơn, huấn luyện nghỉ ngơi theo được anh em. ( Anh Trạch sau giải phóng Miền nam thống nhất đất nước về làm chủ tịch thị trấn Phò Trạch tỉnh Thừa Thiên Huế)
Có ngày nghỉ thấy mấy cô gái con nhà chủ đeo gùi, cầm mỗi người hai con dao, một con dao quắm một con dao thẳng không có mỏ. Con dao quắm thì cầm ở tay, con dao thẳng thì có vỏ bao đeo bên hông như đeo kiếm. Chúng tôi hỏi đi đâu thì cô nói các anh có đi lấy măng với chúng em không? Thấy nói vào rừng lấy măng thích quá tôi với anh Thỉnh xin đi cùng. Tôi nghĩ là vào rừng măng nhiều, bẻ măng về cải thiện là đơn giản lắm. Hai anh em mang theo hai con dao găm Liên Xô đã được mài sắc. Đi mãi lên đồi rồi lại xuống suối chẳng thấy rừng tre rừng măng đâu, chỉ có những bụi tre gai với những cành tre vươn ra đầy gai nhọn. Chị em cô gái nói măng ở trong bụi tê tề. Nói thế nhưng chúng tôi có thấy cây măng nào đâu, hai cô gái cười nói: Dao của hai anh không lấy được măng đâu, vì măng ở mãi trong bụi lấy làm sao được! Chúng tôi hỏi: Thế em lấy thế nào? Hai cô gái nói, anh em mình cứ ngồi nghỉ tí đã rồi em lấy cho các anh xem. Nghỉ ngơi chuyện trò một lúc cũng thấy vui nhưng tôi cứ tò mò giục hai cô lấy măng. Hai cô gái lấy con dao dài đeo ở bên hông ra. Cô tiến lại bụi tre gai, cầm dao khua khua các cành tre. Dao sắc, cô khua dao nhẹ mà các cành tre đứt rụng xuống tạo thàng một lối để cúi khom đi vào sát gốc bụi tre, ở đó có những cây măng mới nhú hoặc măng đã mọc cao, có những cây măng thì víu bẻ ngay được nhưng cũng có những cây măng ở sâu trong khe kẽ phải dùng dao quắm móc, khều mãi mới lấy ra được. Chúng tôi thè lưỡi thán phục. Như vậy đi lấy măng ở đây không dễ như chúng tôi tưởng mà quá vất vả. Lấy được măng, chân tay bị gai tre cào xước chảy cả máu. Nếu không có những con dao chuyên dụng kia thì hai con dao găm Liên Xô của chúng tôi chẳng thể làm được gì. Hết bụi tre này đến bụi tre khác vẫn với thao tác như vậy, đến gần trưa hai cô gái có sự giúp đỡ của chúng tôi cũng lấy được hai gùi măng.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #125 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:47:23 am »


          Việc học tập huấn luyện của chúng tôi ngày càng bận rộn. Hết học về kỹ thuật súng cối lại học tập xạ kích. Theo thông báo sau 45 ngày huấn luyện, tất cả cán bộ chiến sỹ đều phải kiểm tra bắn đạn thật bài 1, bài 2 và ném lựu đạn thật. Kể cả bắn B40, B41 và bắn đạn thật tất cả các loại vũ khí trang bị. Như vậy tiểu đội chúng tôi có hai loại vũ khí hỏa lực là B41 và súng cối 61 ly đều phải bắn đạn thật. Các kỹ thuật gói buộc thuốc nổ, lắp ráp thủ pháo cũng được học tập rất cơ bản. Có hai loại thuốc nổ phải gói buộc, một là để đánh hàng rào dây thép gai thì gói xếp các loại thuốc nổ nối tiếp thành ống dài như cái đòn gánh, nụ xòe điểm hỏa ở dưới. Loại thứ hai để đánh các hầm ngầm lô cốt thì gói buộc vuông to bằng 5 cái bánh chưng, có chân chống để tựa vào lô cốt cho dễ. Các kỹ thuật tra kíp mìn cũng được học tập rất kỹ. Ngoài ra còn tăng cường học chính trị để nâng cao trình độ giác ngộ chính trị và ý chí của người chiến sỹ. Những bài học chính trị khô cứng về đường lối cách mạng Việt Nam và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng Miền Nam. Học tập và có kiểm tra về hiểu biết và nhận thức của từng người. Song song với học tập kỹ thuật vũ khí súng đạn, chúng tôi tiếp tục học về các chiến thuật chiến đấu tổ ba người, tiểu đội, trung đội và đại đội tiến công tiêu diệt các cứ điểm của địch. Các trung đội thông tin, trinh sát ngoài học các kỹ chiến thuật cơ bản của bộ đội còn phải học sâu các nghiệp vụ riêng của mình.
Trong một lần được cử đi tiền trạm lấy gạo tại kho ở khu vực Bến Sung cách đơn vị khoảng 15 ki-lô-mét. Tôi và anh Ước tiểu đội trưởng tiểu đội nuôi quân (Anh Ước mới được điều từ tiểu đội tôi lên). Hai anh em đến Bến Sung ở nhờ một gia đình gần kho gạo, đại đội 5 tiểu đoàn 2 cũng đóng quân tại đây. Anh em đón tiếp chúng tôi rất vui vì có Thạch Quốc Cường liên lạc đại đội 5 là em của bạn học tôi hồi nhỏ. Cường kể là tuần trước có bố ở Thái Bình vào chơi. Các gia đình ở thị xã sau khi biết chúng tôi chưa phải vào Nam mà đang dừng chân huấn luyện tại Thanh Hóa bèn rủ nhau vào thăm con. Mới đầu khoảng 7 người muốn đi nhưng rồi sau đó vì nhiều lý do chỉ có ba người quyết tâm đi vào gồm ông Khả, bố của Cường, Ông Khải bố của Khoan ở đại đội 7 và cả mẹ tôi, nhưng hai ông nói mẹ tôi cứ ở nhà để hai người vào rồi có gì về kể sau, vì thời đó xứ Thanh Hóa là xa xôi cách trở lắm. Phải đi bằng xe đạp mà vùng này máy bay thường xuyên đánh phá rất ác liệt. Hai ông đã đạp xe ba ngày mới vào tới chỗ các con, các ông ở chơi ba ngày rồi mới ra.
    Mọi người ai cũng thán phục ý chí của hai ông bố. Nhưng có điều là không hiểu sao cả đợt bộ đội của thị xã Thái Bình tháng 5 năm 1972 qua cuộc chiến tranh khốc liệt giải phóng Miền Nam, đơn vị đi chiến đấu mùa xuân năm 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng thì chỉ duy nhất có hai người hy sinh là anh Thạch Quốc Cường và anh Nguyễn khắc Khoan. Cả hai anh đều được bố vào thăm. Anh Khoan hy sinh ngày 27 tháng 3 năm 1975. Còn Thạch Quốc Cường thì hy sinh đúng sáng 30 tháng Tư năm 1975 ngay tại cửa ngõ Sài Gòn. Chuyện tâm linh khó giải thích. Nếu dịp đó mẹ tôi cùng vào thăm tôi thì không biết tôi có giống như hai đồng đội kia không?
Thấy tôi cũng là dân thị xã ở tiểu đoàn 1 đến, anh em thị xã ở các đại đội đến chơi rất đông toàn những người quen nhưng thường kém tôi hai tuổi như anh Hùng, Anh Bình, anh Chức, anh Khoan, anh Hải. Có cả Khánh và Báu là em của bạn học phổ thông với tôi. Họ kể rất nhiều chuyện về lính thị xã, khi vào đây đã có 4-5 anh em đào ngũ. Có anh em đào ngũ vì lý do không phải sợ đi B chiến đấu mà chỉ là vì con lợn to. Đấy là trường hợp của Tá và Minh ở trung đội thông tin tiểu đoàn 3. Chả là chúng tôi đóng quân thường được cung cấp thịt lợn nhưng phải về các xã thuộc huyện Nông Cống để bắt lợn. Hôm được phân công đi bắt lợn, Minh và Tá được phân công bắt và khiêng con lợn gần 80 kg. Lợn to, trong khi cả hai đồng đội thì nhỏ bé lại không quen khiêng vác. Quãng đường từ chỗ bắt lợn đến đơn vị khoảng hơn 20 ki-lô-mét, hai đồng đội khiêng được một đoạn, lợn giẫy đạp càng nặng thêm đòn khiêng tỳ vào vai đau không chịu được, hai anh bàn nhau để lợn lại nhà dân và trốn về nhà. Tối dò dẫm hỏi đường, vào các nhà dân ở trọ, hỏi đường, lần mò cũng ra được ga Thanh Hóa rồi nhảy tầu về quê. Các đơn vị khác thì mọi người khiêng lợn về còn đại đội 18 không thấy Minh và Tá đâu, dò mãi rồi mới biết là hai đồng đội đã đào ngũ, lợn thì để lại nhà dân khu vực cầu Chuối. Đơn vị phải cử người khác khiêng lợn về và cử người về địa phương bắt lính đào ngũ. Lên tới đơn vị hỏi lý do đào ngũ, hai anh nói lý do là tại con lợn to quá không khiêng được nên đã đào ngũ. Chuyện thật như đùa, cười vỡ bụng vì lý do đào ngũ của dân thị xã.
Anh em ở đây cho chúng tôi rất nhiều chè khô, hỏi chè ở đâu anh em nói ở đây có nông trường chè Bãi Chành. Anh em đi tập thông tin cứ lẩn vào bãi chè mà hái, bảo về đuổi nhưng cũng chỉ dọa chứ chẳng biết làm sao với mấy ông lính chuẩn bị đi B này.
Buổi tối anh em tôi ngủ cùng với anh em đại đội 5. Đêm đó máy bay Mỹ bay qua rất nhiều và đánh bom gần khu vực Bến Sung. Chị chủ nhà khoảng hơn 30 tuổi đã có hai con nhỏ, chồng đi công tác xa. Có anh đội trưởng đơn vị lái xe gần đó chắc là bạn thân, cứ mỗi lần máy bay bay qua là lại thấy chị chủ chạy lên gọi anh đội trưởng xuống hầm lúc sau mới thấy lên. Máy bay đến, chị chủ lại lên gọi vẫn câu quen thuộc: Máy bay nó bay rứa mà anh chẳng biết cái chi. Xuống hầm đi anh. Thế là anh đội trưởng lại theo chị chủ xuống hầm. Đêm đó có tới 4 lần chị chủ lên gọi anh xuống hầm. Sáng hôm sau 7 giờ mà anh vẫn còn ngủ, chắc đêm qua tránh máy bay dưới hầm với chị chủ mệt quá. Anh em tôi thì cứ buồn cười mãi. Cái câu: “Máy bay nó bay rứa mà anh chẳng biết cái chi” cứ là câu chuyện vui mãi những năm sau này.
Qua học tập được biết tình hình chiến sự ở Miền Nam đang rất sôi động, nhất là khu vực Quảng trị. Chiến dịch Quảng Trị và khu vực Thành Cổ vẫn đang vô cùng ác liệt. Cả ta và địch đều quyết tâm gây tiếng vang chiến thắng tại đây để làm áp lực cho hội đàm Pari. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tung hết các đơn vị thiện chiến vào khu vực này, không lực Mỹ đã tập trung hầu hết máy bay B52 và pháo hạm ngoài khơi bắn phá hỗ trợ cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa quyết tái chiếm Thành Cổ. Với diện tích nơi đây chưa đầy 4 ki-lô-mét vuông đã phải hứng chịu hàng vạn tấn bom đạn của chúng. Các lực lượng quân sự của ta cũng quyết tâm giữ vững bằng được khu vực này, nên Thành Cổ đã trở thành chỗ đọ vũ khí quân sự hiện đại, và cao nhất là đọ tinh thần chiến đấu của những người chỉ huy, những người lính chiến của cả hai bên. Qua đó chúng tôi phải tăng cường huấn luyện sẵn sàng cơ động cho chiến trường. Cả trung đoàn tổ chức bắn đạn thật bài 1 và bài 2 súng AK và ném lựu đạn thật. Các loại súng hỏa lực cũng được thực hành.
 Thao trường bắn cối 61 ly và cối 82 ly ngay chân núi Nưa chỗ đại đội tôi. Lần đầu tiên bắn cối thật hồi hộp vì chỉ sợ đạn nổ ngay tại nòng. Nhưng xạ thủ thả đến quả đạn thứ hai thì mọi người cũng quen tiếng nổ, không sợ như lúc đầu nữa. Từ nơi đặt cối đến mục tiêu ước lượng khoảng 800 mét, khẩu đội chúng tôi vào vị trí xạ kích. Anh Khoát hô khẩu lệnh rất bài bản. Tôi hô theo và chỉnh cự ly thước tầm kính ngắm theo khẩu lệnh, mọi người kiểm tra thật kỹ, anh Khoát hô: Bắn! Tuấn thả đạn vào nòng vuốt tay theo nòng súng đúng thao tác. Toong! Quả đạn bay vút lên trời cao rồi lúc lắc rơi xuống, cột khói bùng lên. Ầm! điểm nổ chưa trúng mục tiêu. Anh em tôi hội ý và quyết định bắn theo phương pháp sửa bao bọc, tức là khi thấy đạn đã trúng hướng nhưng cách xa qua mục tiêu thì sẽ ước lượng bắn quả thứ hai sao cho điểm nổ lùi hẳn lại dưới mục tiêu. Quả thứ ba sẽ là quả đạn chỉnh tăng thước tầm vào mục tiêu. Đúng như vậy, sau khi bắn quả đạn thứ hai, đạn dưới mục tiêu chúng tôi nhanh chóng hội ý tăng tầm bắn khoảng 70 mét. Lần này đạn nổ khói bốc lên gần cột hiệu mục tiêu. Tôi quan sát nhanh và nói: Đạn trúng mục tiêu đề nghị cho bắn cấp tập! Chúng tôi nhanh chóng chỉnh lại pháo và liên tiếp thả nốt hai quả đạn còn lại. Bài bắn được sử dụng 5 quả đạn. Đạn cối trúng mục tiêu không như đạn AK trúng vòng 9 vòng 10 mà chỉ cần đạn rơi nổ trong đường kính vòng tròn 30 mét là được, gọi là đạn trúng mục tiêu, hay mục tiêu bị tiêu diệt.
Xin nói thêm với các bạn về cách sửa chỉnh đạn cối thứ hai là cách chỉnh độ dung sai như sau: Khi thấy đạn nổ quả thứ nhất, ta ước lượng đạn vượt tầm hoặc hụt tầm hay sang phải sang trái bao nhiêu mét thì chỉnh tăng lên hạ xuống cho phù hợp. Chỉnh đạn theo cách này là người chỉ huy phải thật giỏi, vì ước lượng cự ly ở xa là rất khó, địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi nhìn cũng có cảm giác khác nhau. Nên pháo binh thường hay chỉnh là sửa theo cách bắn bao bọc.
Hôm thực hành ném lựu đạn là hồi hộp nhất. Tôi cũng thấy hơi ngại mặc dù đã học kỹ về cách sử dụng lựu đạn chày và có người dẫn an toàn kèm ngay bên, nhưng khi tới vị trí có anh em run không dám rút chốt, “ tè ” cả ra quần. Có trường hợp anh em rút chốt lựu đạn, nghe nụ xòe nổ bép… một tiếng, thấy xì khói ở tay sợ quá không thao tác tiếp được nữa vứt ngay lựu đạn tại chỗ. Anh em dẫn an toàn phải nhặt ném đi và kéo nằm xuống. Qua kiểm tra tất cả các khoa mục đại đội tôi cũng như toàn tiểu đoàn, trung đoàn đều đạt thành tích theo yêu cầu. Có mấy trường hợp được thưởng phép vì bắn súng AK đạt 30 điểm.
Trung đoàn đã hoàn thành việc tổ chức bắn đạn thật. Hoàn thành kiểm tra các kỹ thuật chuyên môn thông tin, trinh sát, công binh. Như vậy sau gần hai tháng huấn luyện chúng tôi đã làm chủ được các loại vũ khí, khí tài, sẵn sàng tham chiến được ngay. Các đơn vị đi sâu vào học tập kỹ chiến thuật, chuẩn bị kế hoạch diễn tập hành quân tiến công các cứ điểm của địch, các kỹ thuật chốt phòng ngự và trận địa phòng ngự liên hoàn. Trung đoàn tổ chức diễn tập tiến công các cứ điểm của địch có sự giám sát của các sỹ quan tác chiến Quân khu và Bộ. Nơi tổ chức diễn tập là khu vực Rừng Thông, Quán Giắt thuộc huyện Triệu Sơn bên phía Bắc dãy núi Nưa gần khu vực mỏ Crommit. Lần diễn tập này có dùng cả đạn hơi và thuốc nổ lượng nhỏ. Đơn vị phải hành quân di chuyển vượt qua núi Nưa sang khu vực diễn tập thực binh cấp trung đoàn. Tình huống là trung đoàn có nhiệm vụ tiến công vào khu vực chi khu quân sự của địch, có hầm hào kiên cố được bảo vệ bằng nhiều hàng rào dây thép gai. Tình huống hàng rào dây thép gai đã được công binh phá bằng các giàn mìn định hướng còn sót lại hai lớp. Bộ đội phải phá hai lớp rào dây thép gai bằng bộc phá ống. Quân xanh do đại đội vận tải đảm nhiệm, đã làm giả các hầm hào ụ súng và lô cốt cùng các mô hình xe tăng, xe bọc thép phòng thủ.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #126 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:49:26 am »


         Chúng tôi nhanh chóng nhận trang bị vũ khí, lương thực hành quân một ngày tới khu vực tập kết. Trong lúc bộ đội nghỉ ngơi giấu quân thì các cán bộ được trinh sát dẫn đường đi trinh sát thực địa. Hôm sau về tổ chức đắp sa bàn và tổ chức họp quân chính để hạ quyết tâm chiến đấu. Chiều tối chúng tôi gửi lại ba lô ở nhà dân (hậu cứ giả định) chỉ mang súng đạn bắt đầu hành quân đến khu vực tác chiến. Chín giờ tối mọi đơn vị đã áp sát mục tiêu và tiềm nhập sát cứ điểm địch. Sau khi pháo bắn và mìn định hướng đã nổ (giả định) còn hai lớp hàng rào đơn. Anh em ôm bộc phá lên đánh tiếp để mở cửa mở, rồi đồng loạt xông lên tiến công các mục tiêu như kế hoạch. Đạn AK là đạn hơi và thủ pháo lượng thuốc nổ nhỏ nhưng trận diễn tập có cảm giác như là  trận chiến thật. Tiếng mõ quay giả tiếng súng của quân xanh chống cự rất ác liệt, nhưng với sức mạnh tiến công như vũ bão, anh em nhanh chóng tiêu diệt và làm chủ các mục tiêu như dự kiến.
 Là diễn tập nhưng lại có hai trường hợp bị thương thật. Trường hợp thứ nhất là khi anh em lao lên, định bắt sống tù binh, thì một quân xanh không giơ tay hàng mà cầm đầu súng AK hất ra, lẽ ra thì không được bắn nhưng đồng chí Dự, trung đội một lại bóp cò, đạn nổ, không có đầu đạn nhưng hơi nổ của đạn cũng làm toét tay của quân xanh. Trường hợp thứ hai bị thương do sự cố một đồng chí bên đại đội 2 đánh bộc phá thế nào đó mà bộc phá vừa tung ra khỏi tay đã nổ ngay, lượng thuốc nổ tuy nhỏ, nhưng cũng làm bị thương đồng đội này.
Sau khi làm chủ các mục tiêu được lệnh nhanh chóng rời khỏi trận địa đề phòng máy bay và pháo binh địch đánh phá vào cứ điểm. Về tình huống này thì chúng tôi thêm một kinh nghiệm, khi liên lạc trung đội 3 truyền lệnh xuống cho anh em rời khỏi trận địa thì liên lạc lại truyền lệnh rút lui. Anh Cán trung đội trưởng nghe thấy chạy lên túm ngực liên lạc Thu, anh vừa chửi vừa nói: Đ… mẹ mày tao nói rời khỏi trận địa chứ tao nói rút lui đâu mà mày nói như vậy! Rút lui là thua chạy, còn rời khỏi trận địa là ta đã đánh thắng, rời về chỗ an toàn hiểu chưa?
Hai giờ đêm chúng tôi về tới nơi đóng quân, một đêm tập thật mệt. Sáng hôm sau được nghỉ ngay cạnh nơi đóng quân có dòng mương, nước chảy trong vắt anh em chúng tôi ra tắm giặt. Đang tắm, đang nô đùa thì thấy có một ông to béo khoảng độ 40 tuổi vận quần áo lính, khoác chiếc đài Orionton cùng hai lính trẻ đến và cũng cởi quần áo xuống tắm. Ông xoa xà phòng lên người rồi ngụp lặn xuống nước cho sạch xà phòng, nhìn chúng tôi ông hỏi: Các cậu ở đơn vị nào? Tôi nói tên phiên hiệu đơn vị, ông lại nói: Sao các cậu gầy bé thế? Ông nói tiếp: Thanh niên là phải chịu khó tập cho đùi nó to ra như tớ đây này mới khỏe, mới có sức mà chiến đấu chứ. Vừa nói ông vừa lấy tay vỗ đen đét vào cái đùi chắc nịch của ông. Ông không phải là người cao nhưng thân hình thì thật rắn chắc. Bắp chân, bắp tay nổi cuồn cuộn như lão nông dân. Tuấn xạ thủ số 2 khẩu đội tôi vốn tính hay nghịch ngợm, cũng hay nói về võ vẽ đánh nhau liền nói: Bé, nhưng bé hạt tiêu, khỏe là được nhưng to mà béo phệ như ông thì cũng chẳng làm được gì ai! Cứ vật nhau cái là biết. Hai cậu bộ đội trẻ nhìn chúng tôi như ý nói gì đó, còn người lớn tuổi thì cười nói: Các cậu biết vật nhau à? Tuấn lại nói: Vật thì ai chẳng biết, ông có thử tí không? Ông lớn tuổi cười nói: Ừ! cũng hay đấy mình thử tí nhé. Tuấn đồng ý nói: Ừ, thì vật thử tí nhưng ngã đau ông đừng bắt đền tôi đấy nhé! Ông lớn tuổi nói: Được rồi, có mọi người ở đây chứng kiến, tớ có đau cũng không bắt đền cậu đâu! Tuấn lên bờ và ông lớn tuổi cũng ra vị trí bãi trống ngay cạnh mương. Mọi người xúm lại xem, ông từ từ đi ra động tác có vẻ chậm chạp. Tuấn hỏi: Xong chưa? Ông lớn tuổi nói: Xong rồi! Nói rồi ông hơi thấp người xuống. Tuấn rất nhanh nhẹn lao vào bắt cổ chân ông kéo mạnh. Nhưng nắm được cổ chân rồi mà kéo mãi ông vẫn đứng trơ ra. Rồi ông bất ngờ vặn người sang phải, nhanh như cắt vặn người sang trái, vươn tay nắm chặt cổ chân của Tuấn xách ngược lên. Tuấn như con ngóe bị xách, kêu ối ối ầm ỹ. Ông nhẹ nhàng thả Tuấn xuống rồi nói: Sao, có thử tí nữa không? Tuấn chưa bình thường trở lại, nói: Thôi em thua! Lúc này ông mới nói: Tớ vui với các cậu thôi, tớ là trung tá Vũ Trường Long, chính ủy trung đoàn về đây xem các cậu diễn tập. Mọi người ngỡ ngàng lo sợ, tất cả nói lời xin lỗi chính ủy.
Đúng là lần đầu tiên được gặp, được biết chính ủy trung đoàn lại trong tình cảnh này. Ông là người mà trong trung đoàn mọi người hay nói, hay kể, ca ngợi về trình độ võ nghệ của ông. Có những giai thoại như: Ông là dân Hà Bắc trong một gia đình có truyền thống võ thuật. Cụ thân sinh ra ông là thầy dạy võ nổi tiếng của khu vực. Ông có hai anh em trai. Hồi ông mười lăm hay mười sáu tuổi gì đó, một buổi tối sau khi tập võ xong ông bố hướng dẫn cho hai người con thực chiến, người anh hơn ông hai tuổi. Sau một hồi đấm đá với những miếng võ gia truyền, ông bị ngã ngửa ra sau, người anh theo đà nhảy lên đè người em. Mặc dù đang ngã ngửa, theo phản xạ ông co chân và đạp ngược lên, cú đạp mạnh không may trúng luôn bộ hạ người anh, hất người anh bay lên và cắm đầu xuống đất kêu hự một cái rồi bất động. Miếng đánh phản đòn quá mạnh, quá hiểm không thể cứu được người anh. Ông rất sợ, bà cụ thì chạy ra kêu khóc ầm ỹ, nhưng ông cụ thì rất bình thản nói: Anh nó chết rồi không thể cứu được. Nó là anh không thắng được em thì phải chấp nhận, nó không chết trận đấu này với em thì ra đời cũng sẽ bị chết dưới tay người khác. Con nhà võ thì phải chấp nhận như vậy.
Chuyện thứ hai mọi người hay kể là khoảng năm 1968 khi ông đã là tiểu đoàn trưởng tiều đoàn súng cao xạ đóng quân tại huyện Thụy Anh, Thái Bình. Giai đoạn này máy bay Mỹ tạm ngừng bắn phá các tỉnh phía Bắc. Huyện có tố chức đấu vật. Rất nhiều đô vật tham gia khi đến vòng chung kết, một đô vật đã thắng, nhưng theo thể lệ thì đô thắng vẫn khoác áo, thắt đai đỏ ngồi ghế chính để đón chờ thách đấu. Sang tới ngày thứ ba, ngày cuối cùng của hội, biết tin có hội vật, ông đến và xin với ban tổ chức cho tham dự thách đấu. Theo thủ tục, người xin đấu phải đấu vật với người giải nhì trước đã nhưng ông cứ xin đấu với người thắng cao nhất. Sau khi biết ông là bộ đội đóng quân tại huyện thì mọi người cũng đồng ý cho ông thi đấu với ngươi số một, người đã thắng tất cả các đô vật khác. Ông mặc cái quần đùi xanh bộ đội. Ban tổ chức đưa cho ông thắt lưng màu xanh. Đai bụng màu đỏ dành cho người đang vô địch. Vào sân ông mặc chiếc áo xanh cổ vuông của bộ đội. Mọi người yêu cầu ông cởi áo ra, theo luật vật nhau không được mặc áo. Lưỡng lự một lúc rồi ông cũng cởi áo lót xanh của bộ đội ra thì mọi người ồ lên vì sau lần áo xanh của ông là một áo thun trắng bó chặt lấy thân hình vạm vỡ cồn lên từng múi bắp có hàng chữ vàng thêu trên áo: “Vô địch Miền Bắc”. Cả khán trường sôi động hẳn lên, hóa ra đây là đô vật đã là nhà vô địch miền Bắc năm 1967. Mãi một lúc sau ban tổ chức mới lập lại được trật tự. Tiếp đến là người vô địch sới thách đấu từ chối không giám đấu với ông. Nhưng ông nói với ban tổ chức và mọi người là ông xin đấu vật không phải để lấy giải mà chỉ là cùng nhau biểu diễn võ, cùng học tập võ vật phục vụ hội vật thôi. Sau khi mọi thành viên trong ban tổ chức động viên cả hai cũng có trận vật biểu diễn. Vào xới hai đô vật làm động tác se đài truyền thống, mỗi đô có cách se đài riêng thể hiện đẳng cấp của mình. Ông cũng làm động tác se đài chào mọi người nhưng động tác se đài thật hiếm có. Hai tay ông múa những động tác rất đẹp. Chân trái ông nhảy cò cò tiến về phía trước vòng quanh sân. Chân phải ông duỗi thẳng ra sau, mũi bàn chân như chiếc lưỡi cầy cắm xuống nền sới vật. Đất sới vật được cày lên thành rãnh theo nhịp tiến của chân trái, mọi người ồ hết cả lên thán phục cách se đài có một không hai của ông. Sau ba keo vật ông là người chiến thắng và dân Thụy Anh được xem màn biểu diễn có một không hai của hội vật năm ấy.
Ngồi chơi với chúng tôi một lúc ông nói: Các cậu còn trẻ thể lực còn phát triển nhiều nhưng phải tập. Đơn giản nhất là mỗi buổi tối trước khi đi ngủ các cậu nằm ngửa và đạp hai chân vào không khí, cứ đạp đến khi nào mỏi thì thôi, nhưng vừa đạp vừa đếm để biết số lần đạt được, để lấy mốc hôm nhau đạp được nhiều hơn, chỉ một thời gian là bắp chân của các cậu cũng sẽ to như chân tớ, thế là vừa nói ông vừa vỗ vỗ đen đét vào đùi ông, cái đùi to, chắc như cột gỗ lim. Đến bây giờ cậu công vụ của ông mới nói, em định giới thiệu với các anh nhưng chỉnh ủy không cho nói. Chính ủy sáng nào cũng dậy từ bốn giờ tập võ, đi quyền. Cái đế cối 82 ly nặng gần hai chục ký úp xuống đất mà chính ủy chỉ dùng 3 ngón tay kẹp vào núm đế rồi nâng lên hạ xuống như mình cầm quả trứng. Có lần đi qua suối, chính ủy ngồi xuống ngửa hai tai ngang vai nói hai chúng em đứng lên bàn tay và ông từ từ đứng dậy mang cả hai chúng em qua suối.
         Lúc này đã là cuối tháng 10 năm 1972, trời về thu tiết trời se lạnh. Ở vùng rừng núi cái lạnh như đến sớm. Dịp này máy bay Mỹ đánh phá ác liệt hơn. Tối chúng tôi lên đồi nhìn về phía biển thấy những vệt đạn pháo từ hạm đội của Mỹ bắn vào đất liền. Máy bay Mỹ quần đảo liên tục, khu vực cầu Chuối đường 1 và đường số 15 là những mục tiêu vô cùng quan trọng. Tối nào cũng thấy máy bay ném bom và thấy đạn phòng không của ta bắn máy bay đỏ rực trời. Khu vực chúng tôi đóng quân thì không có mục tiêu quan trọng để chúng quan tâm. Nhưng một sáng, tự nhiên thấy máy bay bay rất nhiều, chúng bay qua khu vực của tiểu đoàn tôi và khu vực trung đoàn đóng quân. Chúng quần đảo liên tục, đánh bom, bắn đạn 20 ly vào những khu vực dân cư quanh chân núi Nưa. Tình hình có vẻ vô cùng căng thẳng. Chúng tôi phải ngừng học tập và tăng cường đào hầm ẩn nấp tránh bom. Một ngày rồi hai ngày máy bay chúng quần đảo càng nhiều. Chúng bay từng tốp hai cái, bay rất thấp gầm thét như làm rách toang cả bầu trời, có những lúc chúng bay thấp nghiêng ngó đến độ nhìn được cả thằng lái. Chiều ngày thứ hai tình hình còn căng thẳng hơn khi chúng dùng cả bom lân tinh đánh phá vào khu vực dân cư nơi có đại đội 1 đang đóng quân. Một số người dân đã bị chết và bị thương. Dân nơi đó và cả đại đội 1 cũng phải hành quân sơ tán khỏi khu vực.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #127 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:51:18 am »


           Là đơn vị bộ binh đang huấn luyện để đi chiến trường, chúng tôi không có nhiệm vụ đánh máy bay. Nhưng trước tình hình đó, đại đội 4 súng 12 ly7 được lệnh lên đồi đón đánh máy bay bay thấp. Anh em khẩn trương đào công sự nghênh chiến. Khoảng một giờ chiều khi máy bay bay qua, khẩu 12 ly7 vừa kéo bắn được hai loạt thì rầm rầm những chiếc máy bay khác đã phát hiện mục tiêu, chúng bắn tên lửa và đạn 20 ly trúng khẩu đội. Hai đồng chí hy sinh. Đồng chí Uy trung đội trưởng và đồng chí Tính lính mới quê Hưng Hà, Thái Bình. Ba đồng chí khác bị thương trong số bị tương có cả chính trị viên đại đội 1, khi họp đảng ủy tiểu đoàn về thấy anh em đánh máy bay tiện đường lên động viên anh em và bị thương. Trong số bị thương hôm đó có đồng chí Hướng hiện sống tại xã Tự Tân, Vũ Thư, Thái Bình.
          Đại đội tôi cũng triển khai một khẩu trung liên lên đồi để sẵn sàng đánh máy bay. Khẩu đội trung liên của trung đội 1 trực tiếp do thượng sỹ Nguyễn Phi Yến trung đội phó chỉ huy với mệnh lệnh khi nào có lệnh thì mới được bắn, nên hòm đạn súng trung liên mang lên trực chiến chưa được lệnh mở. Khi lên trận địa máy bay bay thấp nhiều, đồng chí Yến lệnh cho anh em phá hòm đạn, lấy đạn bắn máy bay bay thấp. Khẩu đội bắn được mấy loạt thì liên lạc chạy lên báo không được bắn để giữ bí mật nơi đóng quân. Cũng do sự việc mở hòm đạn niêm cất khi chưa có lệnh mà sau sự việc trên đồng chí Yến bị kiểm điểm mãi với lý do trên.
             Đồng chí Nguyễn Phi Yến sau trưởng thành là trợ lý tổ chức cùng kỳ với đồng chí Ngô Xuân Lịch, Đại tướng bộ trưởng bộ quốc phòng. Qua nhiều chức vụ, đồng chí là đại tá chính ủy tỉnh đội Hưng Yên. Hiện anh đang nghỉ hưu sống tại Mỹ Đình, Hà Nội.
Tình hình vẫn rất căng thẳng, chiều tối ngày thứ hai, cường độ hoạt động của máy bay vẫn không ngớt. Tất cả phải xuống hầm tránh máy bay. Có lệnh chuẩn bị đi sơ tán khỏi khu vực. Đến chiều tối trung đoàn và huyện đội, tỉnh đội Thanh Hóa phán đoán là có khả năng hoạt động của máy bay không phải là nhằm vào các đơn vị bộ đội đang huấn luyện, mà có thể là tình huống có phi công nhẩy dù xuống khu vực này. Tối, tỉnh Thanh Hóa điều đến gần đơn vị tôi bốn khẩu pháo phòng không 37 ly gấp rút làm công sự để phục kích đánh máy bay. Trung đoàn cử mấy tổ trinh sát lên núi tìm phi công. Sang sáng ngày thứ ba, ngay từ sớm máy bay các loại của chúng ào ào xuất hiện tìm diệt các mục tiêu phòng không của ta. Các loại bom và đạn 20 ly bắn rải quanh chân núi. Lúc này thì tỉnh đội và trung đoàn khẳng định là có phi công trên núi và chúng đang tìm cách cứu phi công.
 Khoảng tám giờ sáng chúng tôi vẫn ẩn nấp dưới hầm, tôi ở phía ngoài cửa hầm quan sát máy bay thấy chúng bay thấp quá như là bay sạt xuống ngọn cây. Cầm khẩu AK báng gấp tôi nói với anh Tấn tiểu đội phó cũng đang ngấp nghé quan sát: Để em bắn cho nó mấy loạt, nó bay thấp quá! Anh Tấn ngập ngừng rồi nói: Phải bắn trúng đấy nhé! Tôi nói: Anh yên tâm! Vừa dứt lời thì một tốp 2 chiếc máy bay ào qua, tôi nhằm một chiếc và điểm xạ mấy loạt. Vừa đến loạt thứ ba thì uỵch một hòn đá đồi rơi ngay cửa hầm kèm theo là câu chửi: Đ… mẹ mày, ai cho mày bắn, lộ mục tiêu chết hết bấy giờ. Quay về hướng chửi, thôi chết cha, đại đội trưởng Nghẹ với khuôn mặt hốt hoảng, tay còn cầm hòn đá nữa đang định ném tôi. Lúc này tôi sợ ông thực sự. Tôi nói, thôi chết rồi, đại đội trưởng. Anh Tấn thì nói: Có thấy máy bay rơi không? Đại đội trưởng chạy đến quát: Ai cho mày bắn máy bay. Tiểu đội trưởng Khoát đâu? Anh Khoát ở hầm bên ló đầu lên nói: Có tôi! Đại đội trưởng nói: Ai cho chúng mày bắn máy bay, lộ mục tiêu nó ném bom chết hết bây giờ! Họp ngay! Tối họp kiểm điểm ngay! Rồi đại đội trưởng bỏ đi sang nơi khác. Trước thái độ giận dữ của đại đội trưởng, tôi rất lo lắng. Cũng không nghĩ là việc bắn máy bay mà lại làm ông hốt hoảng và cáu gắt như vậy.
Chúng tôi vẫn ở dưới hầm. Bom đạn trút xuống nhiều hơn, các loại bom nổ ầm ầm hòa cùng tiếng máy bay ào thét điên cuồng làm cho không gian thật nóng bỏng. Rồi tự nhiên thấy khói, khói nhiều quá dầy đặc tạo thàng bức tường trắng lan đến chỗ hầm, làm chúng tôi chẳng nhìn thấy gì. Khoảng mười phút sau khi khói tan đi hết thì tiếng máy bay cũng im ắng hẳn, không gian trở lại tĩnh lặng như thường. Lệnh báo yên chúng tôi lên hầm, về nhà ở, nhưng ai cũng bàn tán về trận bom đạn vừa qua và khói ở đâu mà nhiều thế?
Sau đó chúng tôi được biết là có một máy bay bị bắn rơi, tên phi công Mỹ nhảy dù xuống bãi mía phía bắc dãy núi Nưa bị gãy chân, nhưng được một người dân ở đó theo đạo Thiên Chúa đã giúp đỡ cất giấu dù, đưa tên phi công lên đỉnh núi. Tên phi công liên lạc với hạm đội 7 và chúng tổ chức tìm kiếm ở khu vực này. Trận bom đạn ác liệt lúc 9 giờ ngày thứ ba của cuộc tìm kiếm thực chất là bom và đạn giấy chỉ gây tiếng nổ hòng uy hiếp mọi người. Lúc khói nhiều là do chúng bắn đạn khói quanh khu vực đó che mắt mọi người để chúng đưa trực thăng đến thả thang dây cứu được tên phi công. Các trinh sát trung đoàn đã tiếp cận gần đến khu vực có tên phi công ẩn náu nhưng bị chúng phát hiện, chúng bắn đạn 20 ly làm đồng chí Phạm Minh Hồng hy sinh, hai đồng chí bị thương. Trận địa phòng không 37 ly của tỉnh do chủ quan thế nào đó mà trước sự manh động hung hăng của máy bay cũng không bắn được loạt đạn nào.
Không bắt được phi công mà lại để chúng cứu thoát là một thất bại của các lực lượng quân sự và phòng không của ta. Việc này các cấp phải kiểm điểm rất nặng. Sau này được biết với chiến thắng cứu được phi công trong đất Thanh Hóa, quân lực Việt Nam Cộng hòa có sáng tác bài ca chiến thắng núi Nưa.
Mọi hoạt động đã trở lại bình thường. Chúng tôi chưa phải học tập mà tập trung củng cố hầm hào. Các tiểu đội, trung đội họp, tiểu đội tôi cũng họp rút kinh nghiệm, ngoài ra còn có nội dung thứ hai là tổ chức kiểm điểm về việc tôi đã tự ý bắn máy bay. Cuộc họp diễn ra từ sáng, rất nhiều người phát biểu phê bình và nâng quan điểm về hành động vô kỷ luật đó. Sau khi đồng chí Khoát tiểu đội trưởng nói về việc chỉ đạo của đại đội việc tôi vi phạm kỷ luật tự động bắn máy bay. Anh Lê Văn Thê nguyên là thầy giáo dạy văn tại trường thiếu niên miền Nam, quê anh ở Quảng Trị phê bình tôi gay gắt nhất. Anh nâng quan điểm nào là hành động vô kỷ luật của tôi nếu làm lộ mục tiêu thì máy bay nó ném bom, có thể dẫn đến hy sinh nhiều người gây tổn thất nặng nề. Sau này vào chiến đấu cũng vậy, nếu không giữ nghiêm kỷ luật thì sẽ gây tổn thất lớn, thậm chí dẫn đến thật bại của cả trận đánh v.v… Và anh đề nghị kỷ luật tôi thật nặng.
Anh Tấn, anh Thỉnh có ý bênh tôi thì lại nói: Đúng là đồng chí Phú bắn máy bay khi chưa có lệnh là vô kỷ luật. Nhưng phải nói đồng chí Phú là người vô cùng dũng cảm, khi mọi người xuống hầm ẩn nấp thì đồng chí ấy vẫn hiên ngang “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, như câu khẩu hiệu và tấm gương dũng cảm chiến đấu của anh hùng Nguyễn Viết Xuân. Hành động của đồng chí Phú cần phải tuyên dương cho mọi người học tập về ý chí chiến đấu dũng cảm, thể hiện căm thù bọn đế quốc Mỹ xâm lược. Cứ như vậy cuộc họp được chia làm hai phe, một phe đòi kỷ luật tôi thật nặng, còn một phe là đòi đề nghị khen thưởng tôi. Anh em trẻ thì không ai phát biểu gì mà chỉ có mấy đồng đội  có trình độ đại học, ba ông thầy giáo tranh cãi nhau. Đến khi anh Thê nâng quan điểm thêm lần nữa và nói rất gay gắt về ý thức tự do vô kỷ luật sẽ gây bao tổn hại khó lường, ý thức của người lính là nhất nhất phải chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy, nên phải đề nghị cảnh cáo tôi. Đến lúc này anh Tấn nói thêm: Tôi hỏi các đồng chí một câu: Nếu hôm qua mà chiếc máy bay đồng chí Phú bắn trúng bị cháy, bị rơi, phần thưởng máy bay rơi là một con bò. Nếu giết bò thưởng thì các đồng chí có ăn không? Câu hỏi rất khôi hài và thực tế, làm mọi người ồ lên cười và không ai nói gì nữa.
 Hồi đó trong những câu chuyện về chiến công bắn máy bay của Thanh Hóa, chiến thắng Nam Ngạn Hàm Rồng của các cụ phụ lão dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ. Chiến công này được nhạc sỹ sáng tác bài hát nổi tiếng: “Hoan hô các cụ dân quân” có câu: “Tin vui bay khắp nơi, các cụ vừa hạ thêm chiếc nữa rơi” mọi người chế vui câu hát thành: “Huân chương không lấy đâu, các cụ bảo nhận con trâu dễ chia”. Thế là cuộc họp chẳng đi đến đâu. Anh Khoát tiểu đội trưởng kết luận sẽ báo cáo nội dung cuộc họp lên đại đội và tùy đại đội quyết định.
Sau sự kiện phi công Mỹ nhảy dù và được giải thoát tại khu vực núi Nưa ngay cạnh một trung đoàn đóng quân. Mặc dù nhiệm vụ của trung đoàn là huấn luyện để đi chiến trường không có nhiệm vụ đánh máy bay, song đây cũng vẫn là bài học về mất cảnh giác, sự cứng nhắc của chi huy trung đoàn. Súng 12 ly7 là súng phòng không cùng các súng đại liên vẫn có thể bắn máy bay bay thấp, đặc biệt là súng ĐKZ có thể bắn máy bay trực thăng khi nó xuống thấp khi thả thang dây cứu phi công. Thấy việc bố trí quân không hợp lý, phía Bắc dãy núi Nưa không có đơn vị nào đóng quân. Trung đoàn sắp xếp lại đội hình, điều một tiểu đoàn sang đóng quân tại phía Bắc dãy núi Nưa. Theo kế hoạch, tiểu đoàn 1 có lệnh chuyển sang đóng quân phía Bắc núi. Các đại đội trong tiểu đoàn cử tiểu đội 10, trực tiếp có đại đội phó đi tiền trạm xây dựng cơ sở vật chất để cho đơn vị sang đó. Tiểu đội tôi được lệnh hành quân di chuyển. Theo lệnh, sau khi ăn cơm sáng, 10 giờ xuất phát hành quân và có cơm nắm cho bữa trưa. Lệnh chuyển quân cũng bất ngờ. Anh Khoát sau khi nhận kế hoạch về họp thông báo việc hành quân di chuyển. Anh Tấn bàn là tới 10 giờ mới hành quân có ý muốn liên hoan chia tay với gia đình chủ. Mấy đồng đội nghĩ ngay đến việc sẽ làm bữa thịt chó. Mọi người góp tiền và cử luôn Nhiên và Đảng biết nơi có chó bán để mua. Số quân ở lại ngoài việc chuẩn bị quân tư trang cá nhân và lên quản lý nhận lương thực, thực phẩm cho di chuyển còn cử người lên đồi đào giềng, xin mẻ, mua mắm tôm hái lá mơ. Giềng thì trên đồi rất sẵn, mẻ và mắm tôm cũng dễ kiếm. Bếp được gầy luôn ở cạnh nhà, đặt nồi nước sôi và chuẩn bị dao thớt cho việc hành quyết chó để liên hoan như kế hoạch.
Mãi 9 giờ hai đồng đội mới mang được chó về. Thời gian có vẻ gấp nhưng với tay nghề của Đảng và Nhiên là những người vùng quê có truyền thống giết lợn trộm thì thao tác rất nhanh. Giềng mẻ mắm tôm đã đủ, lá mơ làm dồi cũng đã được thái sẵn. Mọi người nhất trí là chỉ làm món lòng luộc và thịt chó pha ra luộc hết cho kịp thời gian. Nhưng cũng rất vội, đến 10 giờ kém 15 mà dồi luộc sau khi châm kiểm tra vẫn còn nước đỏ. Đun tiếp 5 phút nữa anh Khoát quyết định vớt tất cả ra dội nước lạnh cho nguội. Thịt để lại cho nhà chủ một phần còn thái to mang đi. Dồi chó cũng được cắt ra mỗi người một khúc khoảng 20 cm cùng phần tim gan, ai nấy nhét vội vào ăng gô, vừa xong chưa kịp thưởng thức thì liên lạc đại đội xuống báo hành quân di chuyển.
Sau khi đại đội trưởng Nghẹ giao nhiệm vụ tiền trạm cho tiểu đội xong. Đồng chí đại đội phó Sáu hứa với đại đội sẽ cùng tiểu đội 10 làm tốt nhiệm vụ hành quân, đến vị trí mới chuẩn bị cơ sở vật chất cho toàn đại đội di chuyển đến là có bếp, có kho, có giếng nước để dùng. Trời lất phất mưa, chúng tôi lên đường đi về hướng Mậu Lâm cắt vào đường 15B qua cổng Trời sang bên kia dãy núi. Mấy tháng trước từ ngoài vào chúng tôi cũng vượt dốc này. Hôm nay chúng tôi vượt dốc để ra phía Bắc. Dốc núi đất thật cao. Hôm nay như vậy là ngoài quân, tư trang, súng đạn, gạo và các thực phẩm lĩnh ở quản lý, trong hành trang mỗi người còn có tảng thịt chó và phần lòng chó còn nóng hổi tỏa hương ra thơm phức. Mặc dù mang vác rất nặng, đường trơn khó đi nhưng không ai thấy mệt. Ai cũng háo hức đi cho nhanh, mong đến trạm nghỉ ăn trưa để thưởng thức bữa thịt chó có một không hai này. Đại đội phó Sáu phát hiện mùi lạ, anh hỏi: Sao có gì thơm thơm như mùi thịt chó vậy các cậu? Anh Khoát kể về việc thịt chó, ý định liên hoan với gia đình chủ nhưng vội quá nên để phần lại cho nhà chủ và mang đi theo. Đại đội phó nói vui: Vậy tý nữa nghỉ là tớ cũng được thưởng thức rồi.
Khoảng gần 1 giờ trưa thì chúng tôi lên được đến đỉnh dốc. Lệnh dừng lại giải lao và ăn cơm trưa. Mọi người háo hức hạ ba lô, ai cũng lôi cái ăng gô có món lòng dồi ra ăn cùng cơm nắm. Anh Khoát nói nhỏ với mọi người, san sẻ lòng dồi cho nhóm đại đội phó, liên lạc và y tá. Đỉnh đốc cao gió lồng lộng thổi, trời vẫn mưa. Tuy rằng mưa không to nhưng vẫn phải khoác áo mưa ngồi lên thân dây leo to bò dưới đất mà thưởng thức bữa tiệc lính đặc biệt này. Gia đình tôi không có truyền thống ăn thịt chó nhưng vào bộ đội thì kiêng sao được. Tôi cầm khúc dồi cắn, dồi chưa chín hẳn, nên dai lằng nhằng, vẫn còn màu hồng hồng của tiết. Tôi rùng mình không dám ăn nữa đưa cho Sắc. ( Đinh Hồng Sắc mới được điều về thay anh Trạch được điều lên trinh sát tiểu đoàn). Sắc thì ăn ngấu nghiến khen ngon và nói: Đúng là dân thị xã, dồi chó ngon thế này mà không ăn. Tôi nói: Ở nhà tớ cũng không ăn bao giờ, vả lại lòng luộc chưa chín nên thấy kinh. Cơm xong, được nạp năng lượng, khí thế hẳn lên, ai nấy sôi nổi chuyện trò ầm ỹ. Mọi người lấy thuốc lá ra mời đại đội phó. Chính bật lửa cho đại đội phó châm thuốc sau đó châm cho Sắc. Anh tắt máy lửa đi và nói kiêng không châm 3 người. Đại đội phó nghe vậy anh cười hỏi: Các cậu có biết sao lại kiêng châm 3 người không? Mọi người đều nói vì 3 người là số lẻ kiêng hay xui xẻo, chụp ảnh 3 người cũng thế thường hay có người chết. Đại đội phó nói có vẻ cũng đúng một phần thôi. Lý do kiêng châm thuốc 3 người thực chất nó có tính khoa học thực tế là như thế này. Khi người lính ở trận địa hay ở chốt tiền tiêu mà châm thuốc lá, trinh sát địch thấy lóe lửa lên nhìn thấy, nhưng với thời gian của người châm thứ nhất là rất ngắn , đến người châm thứ 2 cũng vậy. Nếu cứ để ngọn lửa đấy mà châm cho người thứ 3 thì đối phương kịp lấy đường ngắm chuẩn và bắn gây thương vong. Chính vì vậy nên mọi người hay nói châm thuốc cho 3 người là xui xẻo. Sau này, từ hiện tượng đó nên mọi người hay kiêng chụp ảnh 3 người và nhiều việc khác kiêng nữa, thậm chí có câu: “Tam nhân bất đồng hành” là như vậy. Chúng tôi reo lên thích thú, câu chuyện tại nơi nghỉ giải lao giữa đỉnh dốc của đại đội phó mà cho chúng tôi hiểu biết thêm vấn đề kiêng cữ có tính khoa học này.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #128 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2022, 10:52:58 am »


         Đội hình tiếp tục lên đường, đến 16 giờ thì tới nơi quy định. Cả nhóm tiền trạm ở hai nhà, ban chỉ huy ở một nhà còn cả tiểu đội tôi ở một nhà. Đây là khu vực phía Bắc chân núi Nưa. Dân ở đây là người gốc quê Nam Hà di cư vào khai hoang lập làng năm Ất Dậu 1945. Ở đây đã lâu nên nhà cửa làng mạc rất trù phú, nếp sống nếp nhà cũng giống như tập tục ngoài Bắc. Nhà xây 4 gian lợp lá gồi sạch sẽ ngăn nắp. Đằng trước có sân gạch, vườn rau cải, su hào tốt xanh, phía trước cửa bếp cũng có một giếng nước xây. Chúng tôi ở tại nhà ông bà chủ khoảng 50 tuổi. Đặc biệt là nhà toàn con gái với những tên gọi vần T. Con gái lớn tên là Thịnh đã lấy chồng, người con gái tiếp là Thảo, Thược, Thung, Thinh. Mấy chị em sàn sàn nhau. Thinh là út năm nay khoảng 13 tuổi. Ông kể có người con trai đi bộ đội và đã hy sinh năm 1970. Gia đình chủ và mọi người thấy chúng tôi đến đóng quân và biết đơn vị cũng sẽ đến nên dân rất vui. Họ nói ở vùng này rất hiếm bộ đội đóng quân, nhất là bộ đội toàn người Thái Bình gần gũi với quê hương của họ. Thinh thì nhanh chóng đun nước hãm chè xanh cho bộ đội. Nhiên và Hà tranh nhau vào bếp đun nước, chuyện trò dân vận với hai cô gái. Thịt chó được tập trung và chế biến lại, một phần vẫn là luộc, một phần xin thêm nguyên liệu nấu rưạ mận. Sau khi chia phần cho ban chỉ huy đại đội chúng tôi có bữa tiệc thịt chó thịnh soạn liên hoan cùng gia đình nhà chủ mới, ông bố bảo con gái đi mua hai chai rượu trắng về thết đãi anh em chúng tôi, bữa cơm thật vui.
Tối đến, anh Khoát đi nhận nhiệm vụ về họp tiểu đội. Như vậy là chúng tôi không được nghỉ ngơi và sáng hôm sau mọi người bắt tay ngay vào việc đào giếng nước, đi rừng lấy tre hóp và cây làm khung nhà, cắt tranh lợp nhà kho, nhà bếp, đào bếp Hoàng Cầm. Như vậy là công việc rất nhiều và gấp gáp. Theo kế hoạch 5 ngày nữa là đại đội hành quân đến phải có mọi thứ sử dụng được ngay. Tôi được phân công vào nhóm đi vào rừng lấy tre hóp. Trên sườn đồi các bụi tre hóp rất nhiều, tre hóp không to, mọc thành từng bụi, mỗi cây như những chiếc cần câu, thân tre hóp mỏng như nứa, rất tiện cho việc làm dứng trát vách nhà, vách bếp. Đi lấy cây lấy tre thì không khó nhưng núi đồi ở đây là núi đất đỏ rất trơn. Trong khi giầy của tôi và mọi người đều đã rách không sử dụng được. Chúng tôi phải đi dép cao su vào rừng và như vậy là rất trơn, rất khó đi. Buổi sáng chúng tôi cũng lấy được mỗi người một bó hóp mang về, chân tôi bị trượt dép và bị gốc cây hóp chọc vào bật cả máu. Tôi kể về việc đi dép bị trơn với ông bố, phàn nàn là giầy không có. Ông bố không nói gì lẳng lặng vào trong buồng mang ra đôi giầy vải bộ đội đã cũ, ông nói: Con lấy đôi giày này mà dùng tạm chắc vừa chân. Tôi nói: Ô! Sao bố có giầy mà bố không đi? Ông nói: Bố cất lâu rồi con cứ dùng đi chứ để lâu rồi nó cũng tự mục mất. Tôi vui mừng cảm ơn và đi thử, giầy thật vừa, như vậy là chiều nay đi rừng không sợ trơn trượt nữa. Trong lòng thầm cảm ơn ông bố thật tốt bụng.
Công việc rất nhiều, rất bận rộn, để đảm bảo thời gian theo kế hoạch, chúng tôi không được nghỉ trưa mà tối muộn mới được nghỉ. Thấy chúng tôi lao động vất vả, gia đình chủ nhà và bà con hàng xóm rất thương. Có ông bố và mấy người dân trong xóm đến cùng làm giúp chúng tôi. Ngoài phục vụ nước uống nhà chủ và dân cho chúng tôi thêm khoai sắn và các thức ăn như cá và cua nấu canh rau cải. Tối vui vui ông còn sai con gái rang lạc, mua rượu cùng chúng tôi nhâm nhi. Sang ngày thứ tư, mọi việc tiến hành hết sức tốt đẹp, công việc có vẻ hòm hòm. Giếng đã có nước, nhà kho nhà bếp gần hoàn tất thì có lệnh dừng lại không tiếp tục triển khai nữa, mà ngày mai quay trở về nơi đóng quân cũ. Mọi người hẫng hụt. Ông bố, bà mẹ cùng nhân dân rất buồn, đặc biệt là mấy cô con gái nhà chủ thì buồn ra mặt. Hai cô gái út khi biết tin chúng tôi không ở đây nữa thì òa khóc.
Chiều tôi giặt đôi giầy hong khô để trả lại ông. Anh Tấn nói sao Phú không hỏi mua lại đôi giầy mà đi cho đỡ đau chân. Tôi nghe có lý và cũng nói với ông về việc đó. Trầm ngâm một lúc rồi ông nói: Lẽ ra thì bố cho con cũng được. Nhưng đây là di vật của anh con hy sinh, khi làm lễ truy điệu, đơn vị giao lại di vật cho gia đình, đôi giầy là một trong những di vật đó nên bố cũng không dùng chỉ cất giữ làm kỷ niệm. Tôi thật bất ngờ và vô cùng cảm động khi biết chuyện đó. Đôi giầy tôi sử dụng mấy hôm nay không phải là đôi giầy bình thường mà là vật thiêng liêng của gia đình, là di vật của liệt sỹ. Nghẹn ngùng không nói thêm được gì, tôi cảm ơn ông bố cùng gia đình đã giúp chúng tôi rất nhiệt tình trong mấy ngày qua. Đặc biệt là chuyện đôi giầy vải này làm tôi rất nặng lòng cảm phục và cảm động. Chuyện đôi giầy vải kỷ niệm tình quân dân cá nước sâu nặng nghĩa tình này, là hành trang tinh thần thật quý theo tôi trong suốt đời quân ngũ và theo mãi trong ký ức đến tận bây giờ.
Sáng hôm sau chúng tôi chia tay gia đình nhà chủ, chia tay những người dân hiền lành tốt bụng cùng những tình cảm lưu luyến sâu nặng, ngược đường về phía Tây của dãy núi Nưa.
Trở lại vị trí đóng quân cũ hơn chục ngày, đại đội lại di chuyển đóng quân tại Xã Thăng Bình, huyện Nông Cống. Không biết là những di chuyển đóng quân các địa bàn ý nghĩa thế nào của các chỉ huy. Thăng Bình thuộc huyện Nông Cống là đồng bằng nhưng cũng có những núi đá và rừng cây. Dân ở đây rất nghèo, có câu ca: “Được mùa Nông Cống thì sống mọi nơi”, ý nói ở vùng này cấy hái làm nông nghiệp rất khó. Khẩu đội tôi ở nhà một anh chị anh làm nghề cắt tóc. Chị thì mới sinh cháu được ít ngày. Gái đẻ mà đến cơm ăn cũng không đủ, mỗi bữa chỉ có lưng bát cơm độn khoai. Thức ăn thì chỉ có muối trắng giã với giềng. Muối thì phải mua, còn giềng thì trên đồi rất nhiều. Theo người dân kể thì anh chị lấy nhau có vấn đề về sức khỏe, chị có bệnh động kinh kinh niên, nên chị rất đẹp mà muộn chồng. Thương hoàn cảnh của anh chị cứ đến bữa là anh em tôi bớt ra một bát cơm đầy cùng chút thức ăn của lính đưa cho chị. Mới đầu chị cương quyết không nhận, chị nói các chú ăn để có sức còn vào Nam chiến đấu, chị ăn thế này được rồi. Anh Thỉnh, anh Tấn phải thuyết phục mãi, nói là đây là biếu chị để chị ăn có sữa cho cháu nhỏ, vì cháu nhỏ chị phải ăn chúng em cơm nhiều mà. Chị chảy nước mắt và đồng ý nhận bát cơm biếu của chúng tôi.
    Về đóng quân ở đây việc tập tành không thật gấp rút, hầu như các khoa mục, các kỹ thuật sử dụng vũ khí súng đạn và diễn tập thực binh cũng đã hoàn thiện. Hàng ngày chúng tôi lại lên núi lấy cây về làm thêm lán trại. Ở gần nơi đóng quân có một trái núi đá lớn, trên đỉnh núi có trạm ra-đa và trạm thông tin của Bộ, nghe nói trạm trung chuyển thông tin này vô cùng quan trọng vì nó làm nhiệm vụ phát sóng truyền tin từ Bắc vào Nam. Được biết trên trạm đó lại đa số là bộ đội thông tin nữ. Được cử đi lấy cây, địa điểm lấy cây lại ở khu rừng đó. Tò mò chúng tôi lên để xem trạm phát sóng nhưng lên tới nơi thì bị ngăn lại vì lý do bí mật quân sự không thể vào chơi giao lưu được. Ở đây là núi đá, cây nhiều không to nhưng rất cứng. Sau khi chặt xong một bó cây ưng ý, tôi và anh em xuống núi theo đường dốc ở khe nước chảy. Cứ bó chặt cây và thả bó cây lao xuống theo dốc. Khe nước chảy nên có nhiều tảng đá to nhỏ xếp gá vào nhau do nước chảy. Cây lao xuống làm lay động những tảng đá có tảng to cả khối cũng lao theo. Đang đứng ở giữa khe nghe tiếng đá lăn ục ục. Nhìn lên thấy hàng chục tảng đá lớn nhỏ đang lăn xuống đúng chỗ mấy anh em đang đứng đón cây. Hốt hoảng nhưng cũng rất nhanh nhẹn anh em tôi nhẩy đu lên cây. Dòng đá to, đá nhỏ ục ục lăn bên dưới có những tảng đá khi lăn xuống tốc độ cao va đập vào những tảng đá khác nhẩy chồm lên, hú hồn vía không ai việc gì. Nếu sơ xuất không để ý thì ba anh em tôi đã thịt nát xương tan do đá va đập rồi.
Đóng quân ở đây được hơn chục ngày thì đại đội lại di chuyển về địa bàn cũ. Việc tập tành cũng không căng thẳng mà chủ yếu là học chính trị và nghe cán bộ trung đoàn và quân khu nói chuyện thời sự. Qua học tập được biết về tình hình Hội nghị Pa-ri về Việt Nam vẫn đang bế tắc. Chúng ta mới chỉ đạt 75 % theo yêu cầu. Cả hai phía đều gia tăng hoạt động quân sự làm áp lực lợi thế cho việc đàm phán. Tại khu vực Quảng Trị, do mùa mưa đến có những bất lợi cho ta, hầm hào bị ngập nước rất khó cho việc phòng thủ chốt giữ. Quân lực Việt Nam Cộng hòa và hỏa lực Mỹ dồn tất cả bom đạn vào đây, chúng quyết tâm dốc túi quân sự vào canh bạc này. Thấy việc giữ Thành Cổ đã đạt mục tiêu nên quân ta rút về phía Bắc sông Thạnh Hãn. Sau khi tái chiếm được Thành Cổ, Quân lực Việt Nam Cộng hòa hung hăng tuyên bố sẽ Bắc tiến. Ở miền Bắc thì máy bay của chúng tăng cường đánh phá mạnh hơn, chúng đã dùng cả máy bay B52 ném bom đánh phá nhiều nơi và đe doạ sẽ dùng máy bay B52 đánh phá Hà Nội với tuyên bố rất ngông cuồng là: “Cho Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Trước tình hình đó trung đoàn 36B sẵn sàng cơ động hành quân bổ sung cho mặt trận Quảng Trị.
Chiều ngày 21 tháng 12 năm 1972, toàn trung đoàn được lệnh hành quân vào Nam. Chúng tôi chia tay bà con Thanh Hóa, những người dân Mường thật tốt bụng đã che chở, nuôi dưỡng chúng tôi sau gần ba tháng luyện quân. Theo đường 15B chúng tôi lại tiếp bước “Bài ca ra trận”. Lần này hành quân vào Nam không như lần hành quân từ Thủy Nguyên, Hải Phòng. Tất cả các kỹ chiến thuật đều đã được huấn luyện tinh thông. Việc hành quân đường dài cũng đã quen thuộc. Đã sang mùa đông trời lạnh nên hành quân đỡ mệt hơn. Có điều là vùng này máy bay hoạt động mạnh, lúc nào trên trời cũng có máy bay, chúng bay qua bay lại tìm đánh các mục tiêu cố định và cả các mục tiêu di động. Đã có nhiều đoàn ô tô chở vũ khí lương thực cho tiền tuyến bị trúng bom. Vì vậy chúng tôi đều phải hành quân đêm. Đường hành quân lần này chủ yếu là đường rừng đèo dốc rất vất vả khó đi. Khổ nhất, vất vả nhất là đêm ngày thứ ba của cuộc hành quân phải vượt qua dốc “Bò Lăn”, con đèo giáp ranh hai tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An. Nghe kể đèo này rất dài, rất hiểm trở đến con bò leo qua dốc này nhiều con cũng còn bị ngã bị lăn xuống vực. Vì thế cái tên Bò Lăn là điển tích của con dốc. Khoảng hai giờ đêm, tiểu đoàn tôi vượt dốc, đúng là dốc cao thật. Anh em mang nặng nên leo dốc càng mệt, đội hình không gọn được như trước mà lẫn lộn cả các đơn vị trong tiểu đoàn. Mạnh ai người ấy đi, mệt thì tự động nghỉ rồi la cà nhập nhóm cùng đồng hương đồng khói. Cán bộ các đơn vị đi tìm, thúc giục xốc lại đội hình, nhưng có vẻ cũng không cải thiện được nhiều. Đã có những  tiếng chửi đổng: Tao đ…é…o đi nữa đâu, đằng nào rồi cũng chết, chết mẹ nó ở đây cho sướng chứ hành quân khổ thế này ai mà chịu được!”. Rồi lại có tiếng động viên: “Cố lên, cố lên các đồng chí. Sao lại nói bậy thế? Dốc này cũng cao, anh em mệt đấy nhưng ít nữa vượt Trường Sơn dốc đèo còn cao nữa, cao hơn đây nhiều. Đưa bao gạo đây mình khoác cho”.
Logged
tranphu341
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2432


« Trả lời #129 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2022, 03:08:13 pm »


         Đúng là tuổi trẻ, trừ số cán bộ, số anh em lớn tuổi còn lại toàn là học sinh mới lớn mười bẩy mười tám tuổi. Cái tuổi mà nếu ở nhà bố mẹ còn giục ăn giục uống, đi ngủ có khi còn phải mắc màn đuổi muỗi cho ấy chứ. Thế mà ở đây trong cương vị chiến sỹ, với vũ khí súng đạn nặng trên vai, đường dài hành quân thiếu ăn thiếu ngủ, leo dốc thâu đêm thế này hỏi sao không kêu, không than thân trách phận! Vì thế nên trong học tập rèn luyện, ngoài kỹ năng chiến đấu, người lính phải rèn luyện về ý chí, về tinh thần chịu đựng khổ cực, sẵn sàng xả thân hy sinh vì Tổ quốc, mấu chốt là ở tư tưởng. Các cán bộ thường có câu cửa miệng: “Tư tưởng không thông đeo bình tông không nổi”. Cho nên việc lãnh đạo tư tưởng, giáo dục chính trị trong quân đội lúc nào cũng được đặt lên hàng đầu.
Sang qua dốc Bò Lăn là đã thuộc đất Nghệ An. Nghệ An là nơi sinh ra Bác Hồ. Xứ Nghệ thật xa, ngày xưa nói đến xứ Nghệ là nói về sự xa xôi và bao điều kỳ bí về xứ sở này. Xứ sở của những ông đồ, xứ sở của những câu chuyện về con cá gỗ của cậu học trò nghèo, nhưng cũng là xứ sở có cảnh trí đẹp như mơ mà ai cũng thuộc câu ca dao: “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh, non xanh nước biếc như tranh họa đồ”. Vùng này, do thổ ngữ nên trao đổi nghe rất khó. Cách xưng hô cũng khác miền Bắc, như bố thì gọi là bọ, mẹ thì gọi là mạ. Anh em chúng tôi cứ buồn cười về những từ ngữ địa phương đó. Một đêm sau khi được tiền trạm chỉ vào ở, đêm tối đen như mực mắt lính trẻ mà cũng chẳng nhìn thấy gì. Con ngõ vào nhà dân cây phủ kín nên càng tối. Nhiên với Sắc đi vào thấy lạch cạch, lạch cạch trong căn nhà nhỏ có buông mành. Nhanh mồm miệng lại có chút pha trò Nhiên nói to: Con chào bọ, con chào bọ! Lại cứ có tiếng lạch cạch, lạch cạch, Nhiên lại nghĩ chủ nhà đang mở then cửa, nhưng vẫn lạch cạch, lạch cạch. Nhiên lại nói: Con chào bọ, bọ mở cửa lâu thế. Cũng vẫn chỉ có tiếng lạch cạch. Nhiên tiến sát vào bật máy lửa soi, rồi hốt hoảng kêu: Ôí giời ơi! Chuồng trâu! Hóa ra cái tiếng lạch cạch, lạch cạch là tiếng trâu vung vẩy cặp sừng đuổi muỗi. Chuyện thật hi hữu mà cũng thật buồn cười. Câu chuyện này sau là câu chuyện vui mãi của đời lính! Chúng tôi hành quân qua đất huyện Quỳnh Lưu, đến tối ngày thứ tư toàn trung đoàn dừng chân tại huyện Yên Thành. Có lệnh trung đoàn tạm dừng chân huấn luyện tại đây. Tiểu đoàn 1 đóng quân tại xã Hậu Thành, tiểu đoàn 2 đóng quân tại xã Phú Thành, trung đoàn bộ và tiểu đoàn 3 cùng các đơn vị trực thuộc đóng quân tại các xã Lăng Thành, Mã Thành, Long Thành, Hợp Thành.
Đại đội tôi đóng quân ngay xã Hậu Thành gần trung tâm xã. Cảnh trí vùng này rất đẹp có đồi, có rừng. Đồi không cao lắm và có cả cánh đồng bằng phẳng cùng con kênh dẫn nước thẳng tắp. Mấy xã hiện có trường Đại học sư phạm Vinh cũng đang sơ tán ở đây. Sinh viên rất đông, chủ yếu là sinh viên nữ. Họ cũng có ký túc, lán trại, nhưng chủ yếu vẫn ở cùng dân, và bộ đội về lại cũng ở nhà dân. Như vậy nhiều nhà dân có cả bộ đội và sinh viên cùng ở. Thật là vui! Lính ta rất thích. Còn gì bằng khi lính thì chuẩn bị ra trận, còn sinh viên thì sống lãng mạn cũng đang thiếu thốn tình cảm. Bộ đội ập về, được ăn ở cùng nhà, tuổi đời sàn sàn như nhau nên tình cảm quân dân nẩy sinh tình yêu thật nhanh. Đây là vấn đề làm cán bộ rất đau đầu vì rất khó cho việc quản lý bộ đội. Đơn vị tạm dừng chân chờ nhiệm vụ nên việc tập tành không nhiều, đa phần được nghỉ ngơi lau chùi bảo quản vũ khí, ôn luyện lại những thao tác kỹ thuật sử dụng vũ khí và học tập một số bài chính trị theo giáo án. Anh em tôi thường cùng dân vào rừng lấy củi, đây là việc nhiều người thích được đi, vì đi vào rừng có cả nữ sinh viên đi cùng. Cánh đồng rất rộng, mùa này chưa phải là mùa cầy cấy, anh em tôi tổ chức đi bắt cua. Cua ở đây rất nhiều, những con cua kềnh rất to, bờ ruộng thì nhiều, móc tay vào các lỗ, lỗ nào cũng có cua. Chỉ hai giờ đi bắt mà đã đầy hai cái nồi đồng của gia đình nhà chủ. Dân ở đây không hiểu sao lại không ăn cua đồng, cái thứ thực phẩm rất quý của dân Bắc. Họ gọi cua là con ram. Mỗi lần bắt về họ nói: Bộ đội bắt ram giỏi hầy! Gia đình chủ nhà có vườn rau cải rất tốt, rau cải nấu canh cua thì thật là tuyệt. Ở đại đội 2 còn có một đồng đội tên là Vâm, là xạ thủ súng cối có tài bắt ếch, bắt lươn. Vâm đi dọc bờ mương, vạch cỏ ra là biết lỗ nào có ếch, lỗ nào không. Rồi cứ lấy cái móc sắt móc vào lỗ là được chú ếch bự, hai người đi sau chỉ chuyên buộc ếch mà buộc không kịp. Có mấy trận đấu bóng giữa bộ đội và sinh viên trường Sư phạm thật vui.
Chuyện tắm giặt cũng rất hấp dẫn. Đi khiêng nước về tắm thì khá xa. Ngay gần sân bóng có một giếng nước to, là nơi tắm giặt của mọi người. Giờ đây thêm bộ đội nữa, nên giếng nước lúc nào cũng đông. Bộ đội thì tắm trần còn sinh viên nữ thì tắm trong mấy cái nhà tắm quây hờ hững, được che bằng những mảnh vải hoặc tấm nilon rất tạm bợ, làm cho lính ta càng tò mò bổ mắt. Sinh viên nữ rất bạo dạn, hình như họ còn cố ý muốn lộ “hàng” cho bộ đội thưởng thức nữa hay sao ấy! Ở đây còn một cái khoái nữa, đấy là cam. Cam Vinh ngon ngọt có tiếng. Các nông trường cam rất nhiều lại đang chiến tranh ác liệt nên việc vận chuyển, tiêu thụ, xuất khẩu rất khó. Hợp tác xã bán có sáu hào một ki-lô-gam. Tôi gặp anh Hương đại đội 4, mấy anh em cùng ăn cam, anh còn mua cho tôi hai ki-lô-gam mang về cho anh em và cho tôi 5 đồng nữa, nói là để dành mua cam.
Ở đây khoảng hơn chục ngày, tôi được cử đi tập huấn nâng cao kỹ thuật sử dụng súng cối 61 ly của trung đoàn. Vị trí tập huấn bên xã Phú Thành, nơi tiểu đoàn 2 đóng quân. Ở đây được gặp, được tiếp xúc với anh em thị xã nhiều. Họ đến chơi với tôi, lần nào cũng thì thầm rủ tôi đào ngũ. Thấy tôi không đồng tình, họ không gạ tôi nữa và xin tôi tiền, hôm sau có 5 người đảo ngũ về quê.
Dịp này máy bay Mỹ bay qua, đánh phá, rải bom gần khu vực trung đoàn đóng quân. Việc canh gác rất được đề cao, dân chúng hầu như phải ở, phải ngủ dưới hầm, sinh viên cũng vậy. Những cái hầm kèo được đào đắp rất kỹ lưỡng. Một hôm đến phiên tôi gác từ 1 giờ đến 3 giờ đêm. Hôm đó máy bay, có cả máy bay B52 ném bom gần khu vực trung đoàn. Tất cả phải ở trong hầm, riêng người gác thì vẫn phải đi tuần trên mặt đất. Bom đánh liên tục, khi đi qua khu hầm của sinh viên có sinh viên nữ thấy tôi liền lên khỏi hầm, cứ lôi tôi xuống và nói: Máy bay đánh bom nhiều lắm, anh xuống hầm ẩn đi! Hầm rộng hôm nay chỉ có em thôi! Lời mời chào thật hấp dẫn, không hiểu là cô gái lo cho tôi hay còn có mục đích gì khác nữa? Nửa muốn theo cô xuống hầm, nửa lại thấy không được phép vì đang làm nhiệm vụ. Tôi theo cô gái đến cửa hầm rồi cương quyết dừng lại nói: Anh còn phải làm nhiệm vụ mà em! Rồi tôi đi như chạy khỏi cô sinh viên trẻ đẹp.
 Sau này qua chuyện trò tôi mới biết, không phải chỉ có tôi được các nữ sinh viên mời vào hầm, mà có nhiều anh em khác cũng được mời, cũng có người chối từ như tôi, nhưng cũng có mấy đồng đội thì cùng xuống hầm trú ẩn và họ được các cô chiều chuộng dâng tặng những hương thơm da thịt con gái, những thăng hoa thần tiên của cuộc đời.
Trong thời gian đóng quân ở đây, hai đồng chí y tá Nguyễn Văn Quang và Trần Tuấn Phát đã làm được một việc rất tốt là chữa khỏi bệnh thấp khớp cho bốn cô sinh viên và mấy người dân địa phương. Chả là dịp đóng quân tại Thanh Hóa, tổ y tá đại đội được ở cùng gia đình người Mường làm nghề chữa bệnh. Ông chủ có nhiều bài thuốc quý chuyên chữa bệnh cho dân, rất uy tín. Những bài thuốc chữa bệnh họ rất bí truyền, các vị thuốc đều là lá cây rừng hay lấy ở đồng ruộng hoặc ven đồi. Ông chữa giỏi nhất là bệnh thấp khớp. Hai đồng đội xin ông truyền dạy cho bài thuốc ấy nhưng ông không đồng ý. Ông có người con gái lớn đang học Đại học Sư phạm Vinh. Thỉnh thoảng cô về chơi, gặp và yêu quý anh em bộ đội cùng nhà. Thuyết phục thế nào đó mà cô gái hứa sẽ lấy cho công thức chữa bệnh thấp khớp. Cô nói, cô biết chỗ ông giấu quyển sách ghi chép các bài thuốc gia truyền. Nhân hôm ông đi lấy lá thuốc trong rừng, cô gái ở nhà có chìa khóa, mở được cái rương, trong đó có hộp đựng quyển sách các bài thuốc. Hai anh em vui sướng ghi chép được công thức mấy bài thuốc rất giá trị, nhất là công thức bài thuốc chữa bệnh thấp khớp bằng 12 loại lá cây. Thời đó ai mà mắc bệnh này, nhất là con gái là khó lấy chồng lắm. Vì trong dân gian vẫn có câu: “Thấp khớp nó đớp vào tim”. Ý nói tuổi thọ của người bệnh không cao, đau khớp không đi lại được dẫn tới phù tim.
Đến xã Hậu Thành đóng quân, có cô sinh viên bị bệnh thấp khớp chân sưng to cứ ngồi khóc. Đúng là bệnh gặp thầy gặp thuốc. Hai anh em đi kiếm các vị thuốc về cân đong đúng hàm lượng pha chế thuốc. Thật kỳ lạ là chỉ sau ba ngày uống ba thang thuốc trực tiếp do hai anh em sắc, chân cô gái hết sưng, đi lại bình thường. Thế là tiếng đồn lan nhanh, người nọ giới thiệu người kia. Ở đây gần một tháng mà hai anh em đã chữa được cho gần chục người khỏi căn bệnh hiểm ác này, trong đó có bốn cô sinh viên. Anh em chữa bệnh không lấy tiền, nên mọi người trả công bằng quà cáp rất nhiều. Anh em tôi ở gần sát đấy, nên cũng thường xuyên được hưởng “sái” thơm. (Anh y tá Nguyễn Văn Quang sau khi giải ngũ về lại trường Đại học Lâm nghiệp. Còn anh Trần Tuấn Phát hiện là giáo viên chính trị trường đại học Thủ Đức, Sài Gòn).
Trung đoàn được lệnh đi chiến trường. Mọi người được cấp phát quân tư trang đi B, lần này cấp mới 100%, mà toàn loại đặc biệt như võng dù, màn tuyn, có cả mặt nạ phòng độc, thuốc lọc nước cùng các loại trang bị gọn nhẹ. Ngay khi có lệnh nhận quân tư trang đi Nam thì cũng có lệnh tất cả các giáo viên, kỹ sư đã tốt nghiệp đại học được ở lại. Sau này mới biết các đồng chí này được điều động về các trường đào tạo của quân đội. Như vậy là trung đoàn có biến động lớn. Toàn đại đội tôi có tới gần 20 đồng chí trong diện như vậy, tiểu đội tôi có anh Tấn, anh Thê, anh Thỉnh. Chúng tôi nhanh chóng nhận đổi quân tư trang và tổ chức chia tay các anh. Những ngày này biết tin chuẩn bị đi chiến đấu, những tình cảm quân dân mới bộc lộ, nhất là tình cảm của bộ đội và sinh viên, đặc biệt là sinh viên nữ. Tình yêu thầm kín giờ mới có dịp công khai. Tối thì đơn vị cấm trại nhưng vẫn thường xuyên phải báo động tìm người, vì một số đồng đội vượt rào đi gặp người yêu ở những nơi kín chỉ có trời có đất mới biết được. Gần đơn vị có khu rừng Cấm, nhưng rừng đâu có cấm tình yêu, và họ đã trốn vào đó để tình tự.
Như vậy tiểu đội tôi từ ngày thành lập đến nay có 5 đồng chí chuyển đi. Anh Ước lên làm tiểu đội trưởng anh nuôi. Anh Trạch lên tiểu đội trinh sát tiểu đoàn và hôm nay là anh Tấn, anh Thỉnh, Anh Thê nữa. Tiểu đội được bổ sung thay thế ngay. Anh Sắc giữ súng B41 thay anh Trạch. Anh Thúy về thay anh Tấn súng B41. Anh Đảng, Anh Muộn, anh Hà về súng cối. Tôi và anh Thúy được cử giữ chức tiểu đội phó.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM