Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Giêng, 2023, 01:12:53 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862 - 1975  (Đọc 45305 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #20 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2017, 06:55:58 am »


        Lao động khổ sai

        Mỗi suất làm khổ sai ngoài đảo nhiều gấp 3, gấp 4 mức lao động bình thường. Làm khổ sai ở sở nào cũng có thể chết người vì mức lao động quá cao, vì công việc làm nguy hiểm, an toàn lao động không có, vì điều kiện lao động khắc nghiệt, không đủ cả công cụ thô sơ, vì sơn lam chướng khí, vì đòn roi hiểm ác của cai ngục. Người tù có khi chết vì sơ ý, tạo thời cơ cho cai ngục lĩnh thưởng1. Khủng khiếp nhất là làm khổ sai ở Sở Củi và Sở Chỉ Tồ ri .

        Sở Củi nằm ngay tại cơ sở chăn nuôi của nhà tù do xếp Chuồng Bò điều khiển. Sở Chuồng Bò có bộ phận tù chuyên chăm sóc đàn bò sữa, bò thịt và heo để cung cấp cho bọn gác ngục. Bộ phận Sở Củi thường xuyên có trên dưới 100 tù nhân. Họ có trách nhiệm đốn các loại củi về cung cấp cho nhu cầu toàn đảo.

        Bọn chúa ngục dùng sở này để tiếp tục đày đọa những người vượt ngục không thoát, sau khi đã nếm đủ các ngón đòn ở Sở Truy tầm.  Mãn hạn nhốt hầm sau hai tháng, họ lại sống sót từ Hầm xay lúa trở về đây. Đến Chuồng Bò thì họ đã gần thành người tàn phế. Tù khổ sai ở Sở Củi - Chuồng Bò phải kiếm bốn loại củi trong một ngày.

        Củi banh là loại củi thường, để nấu ăn cho tù trong các banh, loại củi này tương đối dễ kiếm. Củi lò vôi, lò gạch, lấy khá vất vả vì phải hạ những cây lớn, chặt ra từng khúc, có khi phải đánh cả những gốc cây to về nung vôi. Khổ nhất là kíp lấy củi nhà đèn và củi hầm than. Củi dùng làm nhiên liệu chạy máy phát điện cho toàn đảo thì phải chọn loại gỗ tốt, đường kính từ 20 cm trở lên, dài đúng một mét. Củi để hầm than cũng phải dùng gỗ tốt, đường kính từ 10 đến 15 cm.

        Vì sợ tù trốn, bọn giám thị không dám cho tù đi đốn xa, chỉ có mấy khu rừng gần, đốn đi đốn lại mãi cũng hết gỗ. Để định mức củi hằng ngày, bọn cai ngục cho mấy phạm nhân sức vóc cao lớn, khỏe mạnh, ăn no, uống đủ rồi khoán cho họ một ngày phải kiếm cho được hai thước củi.

        Được bồi dưỡng trong cả tuần chỉ để làm trong một ngày, những người này lấy được đủ số lượng mà chúng khoán. Thế là định mức chung cho Sở Củi đã được định đoạt: trong tuần lễ đầu, những người mới làm phải nộp nửa thước, đến tuần thứ hai thì cứ một thước rưỡi mà nộp. Thiếu củi thì bị đánh ngay tại chỗ, trước mặt cả kíp. 

        Ăn uống kham khổ thiếu thốn, cây rừng đủ quy cách thì khan hiếm, đường dốc, mưa trơn, vắt, muỗi đủ thứ. . . Nhưng bọn chúa ngục vẫn mặc kệ! Cứ phải đủ số lượng. Tuy đã làm việc cật lực, chân tay rã rời, kiệt sức mà vẫn không sao lấy đủ số củi hằng ngày, ít có người tù nào thoát khỏi roi vọt của gác dang, ma tà, cho nên họ đành phải bỏ trốn. Trốn không thoát lại bị phạt hầm, phạt xiềng, phạt ở Hầm xay lúa. Tuy vậy, vẫn có người tù khổ sai bị phạt đến lần thứ 20 vì đã bỏ trốn! 

        Không thể vin cớ ốm đau, bệnh hoạn để chuyển sớ. Có người đã phải tự chặt ngón chân, ngón tay, chịu nằm hầm tối còng chân vì tội “tự hủy hoại thân thể” mới thoát khỏi khổ dịch ở Sở Củi.

        Công việc khổ sai ở Chỉ Tồn bao gồm những công việc ở xung quanh thị trấn, nặng nhất là việc kiếm san hô. Trước năm 1930, kíp Chỉ Tồn ở trong các khám 2, 3, 4 thuộc dãy bên phải Banh I, phải làm những việc cực nhọc như: dọn tàu, xe gạch, củi, đá, làm đường, kiếm san hô. Rất nhiều tù chính trì bị kết án khổ sai cũng làm việc ở đây. Dưới sự điều khiển trực tiếp của xếp Banh I, còn có cả bầy gacdăng, ma tà hung ác và có lính mang súng đi kèm ốp. Các kíp Chỉ Tồn thường bị đòn roi nhiều nhất.

------------------
        1. Bọn gác ngục, ma tà có quyền giết người tù với cái cớ là người tù “tìm cách vượt ngục”. Chỉ cần hạ thủ người tù, cắt tai trình Quản đốc là được lãnh 10 đồng bạc tiền thương. Nhiều ma tà thấy người tù khờ khạo nào đó sai đi bứt lá bứa, hái rau rừng, người tù vừa chạy đi thì chúng bắn chết, xẻo tai đem về lãnh thưởng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #21 vào lúc: 14 Tháng Sáu, 2017, 11:21:26 pm »


        Dọn tàu

        Thông thường cứ cách hai tuần lại có một chuyến tàu chở thóc, cá khô và hàng hóa ra đảo. Kíp tù khổ sai ở Chỉ Tồn phải đưa khoảng 50 đến 60 người ra dọn tàu.  Công việc nặng nhọc này đã được cụ Huỳnh Thúc Kháng nói đến trong bài thơ Dọn tàu:

                                  Việc gì rất ghê người
                                  Tàu chở hàng đã tới,
                                  Sẽ rước trận đòn lớn,
                                  Sắc mặt trắng như vôi!


        Vịnh Côn Lôn cạn, tàu lớn không vào được thường phải từ Vịnh Cỏ Ống men theo lạch nước sát Hòn Bảy Cạnh tới đậu gần Đá Trắng, (nơi có một tảng đá lớn quét sơn trắng làm chuẩn cho tàu bè tới đậu). Muốn lấy hàng, phải đưa sà lan nhỏ ra dỡ hàng chuyển vào bờ làm nhiều chuyến. Kíp dọn tàu phải đưa hàng từ hầm tàu lên, chuyển qua sà lan, đưa vào bờ, bốc hàng chất lên bờ rồi lại từ đó chuyển vào kho.

        Kíp dọn tàu phải khuân vác từ sáng sớm đến chiều tối, đêm phải chong đèn làm, đến khi hết hàng mới được nghỉ. Những giỏ cá khô nặng 50 kg, những bao thóc nặng 60-70 kg đè nặng trên vai, trên lưng những thân tù gầy yếu, đi không vững. Nhiều người bước không nổi, ngã gục vào thành kè đá bao hàng đè sấp lên người. Chỉ chờ có thế, bọn cai ngục lập tức xúm lại quật gậy hèo vào đầu, vào lưng người tù. Đáng một thì chúng đánh mười, vì thường thường tên Quản đốc và Xếp chánh đều hay có mặt trong những buổi dọn tàu. Người tù chỉ còn cách thu hết sức lực còn lại vác cho được bao hàng bước đi cho thoát đòn. 

        Cụ Huỳnh Thúc Kháng kể lại: “Lúc chúng tôi ra đảo có dọn tàu hai lần, rất là tê mê bải hoải, rước lấy vô số là roi! Đám “quan to” (tù thường phạm thường gọi các cụ văn thân - những ông tiến sĩ, ông nghè, ông cử...  là bọn quan to - T.G) duy có hai ông Phong Thử và Ngô Xá là vác nổi bao lúa nặng 60 hg, còn bao nhiêu đều qụy liệt cả đến hai người cũng không rê nổi... có đánh cũng chỉ nằm quay ra đó mà chịu, không làm nổi việc!”.  (Thi tù tùng thoại).

        Đập đá, làm đường

        Kíp tù khai thác đá hộc ở chân Núi Chúa phải lên núi khoan lỗ, nổ mìn, đập đá, khuân đá, xếp lên xe đẩy về. Khi nổ mìn, mảnh đá văng lung tung, không mấy ngày không có người bị thương. Nạn sập đá xảy ra luôn, lớn nhất là vụ sập đá tháng 9 năm 1932 làm chết tại chỗ 5 người, trong đó có 3 người tù chính trị và làm bị thương nhiều khác.

        Bọn coi tù phải điều động hàng trăm người ở những chỗ gần đó đến kích những tảng đá lớn để lấy xác hoặc moi những người bị thương ra. Cảnh tượng rất thương tâm: kẻ gấy tay, cụt chân, người vỡ đầu, phọt óc, lòi ruột gan ra ngoài, máu me bê bết.

        Một tù nhân Côn Đảo thời kỳ 1939-1945 cho biết: khoảng trước chiến tranh thế giới, những người trong kíp đập đá Sở Chỉ Tồn còn thấy có một tấm bia dựng ở công trường đá Núi Chúa ghi lại một tai nạn sập đá: 19 người bị chết, 7 người bị thương nặng, 11 người bị thương nhẹ. Tù nhân Sở Chỉ Tồn đã tuyệt thực 5 ngày để phản đối chế độ khổ sai giết người và dựng bia kỷ niệm những người bị nạn, trừng phạt bọn cai tù ở công trường đập đá và cải thiện chế độ lao dịch quá nặng nề.  Kíp chở đá còn khó nhọc hơn kíp chở củi, xe gạch.  Đường xấu, xe đầy ắp, nặng lặc lè , làm rất cẩn thận mà có lúc xe cũng đổ, gây tai nạn.

        Gần 50 km đường rải đá chạy từ Cỏ Ống đến quá Bến Đầm và các nhánh trong thị trấn Côn Đảo, chạy vòng phía trước Núi Chúa là mồ hôi nước mắt của tù khổ sai trong kíp làm đường. Hằng ngày họ phải gò lưng dưới nắng rát, chân đạp lên mặt đường trải đá dăm sắc cạnh, ra sức kéo trục hồ lô lăn đường nặng cả tấn.

        Trong khi đó “bọn ngục tốt chực sẵn bên cạnh. Thấy ai hưi trễ nải một chút là múa hèo, múa gậy giáng xuống chan chát, không hề nới tay, mặc hệ cho tù bể đầu, gãy xương. Nhanh lên, mau lên! Làm hối hả đi! Bả vai, chân tay bị thương đau đớn mồ hôi ra như tắm ướt đẫm, thân lưng trần trụi trông rõ lằn ngang, lằn dọc dày đặc”1.

        Đó là tình cảnh những người tù khổ sai đang đổ sức ra để nối dài thêm từng tấc đường trên Hòn Côn Lôn dưới thời thuộc Pháp.

---------------------
        1. Nguyễn Văn Nguyễn: Côn Lôn - Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 35, Nxb Khoa học xá hội, N. 1983, tt. 747.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #22 vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2017, 08:21:40 am »


        Đốn gỗ

        Kíp tù khổ sai đốn gỗ có khoảng 70-80 người, họ phải lang thang khắp các cánh rừng ở Đá Trắng, Đất Dốc, Bãi Bàng, Bãi ông Câu, Bãi ông Lân... để đốn gỗ về xây dựng nhà cửa và đóng đồ dùng cho bọn cai ngục. Họ phải làm quần quật từ 5 giờ sáng đến 5 giờ 30 tối, hạ những cây gỗ to, đường kính trên 80 cm, rồi cả bọn xúm lại kéo xuống bãi biển, kết bè chở về xưởng cưa trên đảo. 

        Kéo những cây gỗ lớn từ đỉnh núi xuống bãi biển là một công việc nặng nhọc và nguy hiểm, đòi hỏi phải có kỹ thuật. Nhiều người tù đã bị gỗ đè vỡ đầu, gãy chân.  Khi con nước lên muộn, họ phải cột bè và chèo chống suốt đêm. Có lần, vào đêm 28 rạng ngày 29 tháng 7 năm 1931, một con sóng lớn xô bè gỗ đập vào một mỏm đá, vỡ tan. Kíp kéo gỗ may không ai bị chết. Tất cả mọi người đều ướt sũng nước biển, rét run. Vậy mà tên ma tà Trần Văn Giáp đánh họ một trận thừa sống thiếu chết, rối lại xua họ vào rừng, bắt làm đủ một bè gỗ khác thay vào, không cho người tù ăn uống, nghỉ ngơi. Hai người bị phạt hầm tối và bị đánh đập tàn nhẫn.

        Mỗi tháng kíp đốn gỗ phải cung nạp từ 3 đến 4 bè gỗ mỗi bè từ 30 đến 40 cây. Tháng 10 năm 1934, kíp đốn gỗ ở Bãi Bàng gồm 90 người thì đã có tới 20 người mắc bệnh sốt rét nặng, 10 khác bị phạt Hầm xay lúa vì tội đã liều mạng bỏ trốn nhưng bị bắt lại. Còn lại 60 người tù, nhưng họ vẫn phải làm số lượng công việc của 90 người như cũ. Thiếu gỗ là đòn roi, phạt hầm tối và xiêng, cùm.

        Trước khi bị phạt vì không nộp đủ số gỗ như đã định, nhiều người tù khổ sai đã bỏ mạng vì bị gỗ đè và sốt rét ác tính.

        Lấy san hô

        Ngay từ khi có Nhà tù Côn Đảo thì tù khổ sai đã phải lấy san hô để nung vôi. Bãi san hô ở ngay trước Vịnh Côn Đảo. Cồn san hô nổi lên từ bãi Lò Vôi chạy mãi đến gần Đá Trắng. Đó là nguồn nhiên liệu để nung vôi xây nhà giam và tất cả các kiến trúc khác trên đảo. 

        Kíp san hô có khoảng 80 đến 100 người tù khổ sai, làm việc theo con nước. Khi thủy triều rút, họ đem theo đòn xeo, choáng... và đẩy sà lan ra ngoài cồn san hô, cách bờ chừng 2 km. Nước chưa cạn hẳn, bọn gác ngục đã đẩy họ xuống, bắt ngụp lặn, đào bới, bẩy từng tảng san hô lên, rồi bửa nhỏ, chất thành đống. Khi nước lên trở lại, sẽ đưa sà lan tới, bốc lên chở về.

        Mùa hè, nước lớn về đêm đến trưa hôm sau mới rút, kíp san hô phải đi làm từ 13 giờ đến nửa đêm. Mùa đông, nước lớn ban ngày, họ phải dầm mình xuống nước tử nửa đêm hôm trước đến trưa hôm sau. Da thịt người tù xám ngắt vì gió rét. Họ phải đi bộ từ Banh I đến Lò Vôi chừng 3 km, đẩy sà lan ra xa 2 đến 3 km nữa mới tới chỗ làm việc. Lấy đủ số san hô rồi lại phải chờ con nước lên, chất san hô lên sà lan chở về Lò Vôi. Giao nộp đủ rồi mới được về banh. Mỗi ngày làm khổ sai 12 tiếng, vừa đi vừa về mất thêm 3 tiếng nữa. Họ chỉ còn lại vài tiếng đồng hồ để trút nỗi cực nhọc xuống sàn, vật ra trên nền xi măng lạnh lẽo, nhớp nhúa, tối tăm ngạt thở cua khám giam.

        San hô kết thành từng mảng lớn, phải tìm cho ra những khe hở giữa hai tảng san hô, dùng choáng đục cho rộng ra, người tù gọi là “mở miệng” rồi lùa những đòn xeo dài đến 5-6 mét vào, sau đó 5 đến 7 người xúm lại treo người lên đầu đòn xeo ráng sức bẩy mạnh cho bật tung tảng san hô.

        Nhiều khi trượt chân, đứt dây buộc, hoặc đòn xeo bật mạnh quật trở lại, tung mấy người ngã xuống đám san hô tua tủa, sắc nhọn. Vỡ đầu, gẫy tay, gấy chân, đứt thịt, lòi xương... là chuyện thường xảy ra.

        Lấy san hô trong những ngày nắng ráo đỡ vất vả nhọc nhằn hơn khi gặp phải những ngày mưa gió. Người tù phải ngâm mình dưới nước cả chục tiếng đồng hồ. Đói rét, mệt vẫn phải làm, ngơi tay một chút là roi gân bò, mây tầm vông bổ xuống đầu. Nhiều anh em tù ở Sơn La mới ra bị sốt rét nhưng vẫn phải đi làm, dù có lên cơn sốt rét ngay giữa biển đi chăng nữa.

        Có khi trời sắp nổi cơn giông, bọn gác ngục vẫn xua tù ra biển. Vừa ra khỏi bờ thì bị mưa ập đến, gió thổi bạt cả xà lan. Tù nhân phải nhảy xuống nước, ghì mỏ neo vào một tảng san hô lớn, rồi cả bọn ôm lấy nhau chống với gió rét. Bớt gió mới xúm nhau lại đẩy sà lan vào bờ. 

        Kíp san hô mỗi chuyến đi mỗi người phai nộp 40 tảng đá to bằng cái nón lá. Có khi nước lên đến cổ rồi mà lấy vẫn chưa đủ nhưng bọn gác ngục vẫn bắt người tù phải ngụp lặn, dù sao cũng phải nộp đủ, nếu không thì đòn roi tại chỗ, xiềng ngay trong khám giam, nhốt hầm tối...

        Cả ngày ngâm nước biển đầy bùn rác cũng không được tắm. Nếu đòi tắm lập tức sẽ bị đòn roi, hầm xiềng vì tội “dám đưa yêu sách tập thể”, trái với quy chế nhà tù. Đằng nào cũng chết! Nhiều người chọn cái chết chóng vánh: tự tử! Có người đã thắt cổ tự tứ trên cành cây ngang lối thường đi của chúa đảo. Có người trèo sẵn trên cây, đợi “ông Lớn” đi kiểm tra ngang qua, nhảy bổ từ trên cao xuống, đâm đầu vào đống đá hộc cho tan sọ trước mặt kẻ thù. Năm 1934, có 4 đảng viên Quốc dân đảng, vì không chịu nổi chế độ hà khắc của nhà tù đã làm như vậy.

        Người tự tử trước mặt chúa đảo Buviê là anh Bướu (quê ở Phú Thọ). Nhưng đến cả cái chết thương tâm như vậy, cũng không làm tên chúa đảo kịp mủi lòng. Không một thoáng cau mày, hắn cất cái giọng khàn khàn, lạnh lùng dằn từng tiếng:

        - Thêm một thằng hay bớt một thằng, cũng chẳng sao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #23 vào lúc: 16 Tháng Sáu, 2017, 07:35:34 am »


        Những hình thức kỷ luật trong nhà tù

        Toàn bộ cuộc sống ở nhà tù được tổ chức để trừng trị người tù. Những hình thức kỷ luật nội bộ nhà tù là những biện pháp đàn áp, bó buộc người tù phải tuyệt đối tuân thủ những gì đã được tổ chức ra để trừng trị họ, nghĩa là buộc họ phải chấp nhận tình trạng chết dần chết mòn trong nhà ngục.

        Những biện pháp đàn áp người tù là: đánh đập, tra tấn, nhốt trong khám, trong xà lim, trong hầm tối, trong những khu biệt giam, bắt lao động cực kỳ nặng nhọc ở khu Hầm xay lúa, Sở Củi...

        Xiềng đơn, xiềng kép, xiềng hai người làm một, cùm một chân, cùm hai chân, ăn cơm nhạt, uống nước lã, bắt nhịn đói... là những hình phạt thường được dùng kèm trong khi sử dụng những biện pháp đàn áp nói trên. Đã là nhà tù đế quốc thì bất cứ ở đâu, Sơn La, Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn (Sài Gòn), Kon Tum hay Côn Đảo đều là những địa ngục trần gian đối với những người tù chính trị, những người cộng sản Việt Nam. 

        Ngày 29-10-1891, Tổng thống Cộng hòa Pháp Phêlích Phô (Félix Faure) ra sắc lệnh hủy bỏ kiểu hành hình bằng mã tấu, hủy bỏ hình thức phạt roi đối với tù nhân. Quy chế Nhà tù Côn Đảo cũng quy định giám thị không được quyền ấn định bất cứ hình thức nào đối với tù nhân, họ chỉ có việc báo cáo với gác dang phụ trách banh; muốn nhốt người tù vào hầm thì phải có lệnh của Thống đốc Nam Kỳ, nhưng ở Côn Đảo, ý muốn của chúa đảo của gác dang, ma tà là luật pháp. Chúng muốn đánh ai, đánh bằng gì, đánh lúc nào là tùy chúng. Có cớ cũng đánh, không có cớ cũng đánh, thích đánh là chúng đánh. 

        Ở Sở truy tầm, tù vượt ngục bị bắt phải chịu tất cả những ngón đòn tra tấn ác hiểm nhất, ở đó có cả dùi cui, roi song, roi gân bò, kìm sắt nung, hòm tra điện, nước xà phòng, kim cắm móng tay... Đã bị đòn ở đây, phải gan góc lắm mới không cung khai.

        Phạt xiềng ở Côn Đảo có nhiều loại: xiềng đơn, xiềng kép, xiềng tạ, xiềng hai người làm một. Người bị xiềng phải kéo lê cái xiềng sắt nặng mắc vào hai cổ chân, xiềng dài 1,5 mét. Xiềng kép là khóa hai chân bằng hai sợi dây xiềng, có khi tới ba dây. Xiềng tạ là dây xiềng đèo theo một quả tạ tròn, nặng 5 kg. Các loại xiềng này ở Hầm xay lúa đều được áp dụng, kể cả lối xiềng hai người làm một, chân trái người này xiềng với chân phải người kia, rồi cứ thế mà đi làm việc. Những người bị cai ngục loại riêng, gọi là “những tên bất trị” ở khám 6 và 7 thuộc Banh I, năm 1935, lúc phong trào đấu tranh của tù nhân lên cao cũng bị xiềng hai người vào một. Những tù chính trị bị cấm cố hầm trong dãy xà lim Banh II cũng bị xiềng cả trong những giờ ra sân “hưởng không khí”.

        Nếu người tù đã bị hình phạt nhốt ngay trong khám giam, ở xà lim hầm tối, hay ở khám giam đặc biệt như Khám trị an ở Banh III thì thường phải ăn cơm nhạt, uống nước lã và bị cùm một hay hai chân.  Cường bức khổ sai ở Hầm xay lúa là hình thức cuối cùng trong danh mục các biện pháp trấn áp ghi trong quy chế Nhà tù Côn Đảo và cũng không nhà tù nào ở Đông Dương xưa kia có hình thức đày đọa người tù giống như vậy.

        Trong nỗi tuyệt vọng, có một số tù thường phạm đã tìm mọi cách nói lên cho mọi người biết chế độ giết người ở Nhà tù Côn Đảo man rợ đến mức nào, nỗi thống khổ cùng cực của người tù như thế nào, dù phải chết dưới bàn tay kẻ thù. Huỳnh Văn Giáp đã làm được việc này. Anh bị truy tố về tội mưu sát một tên giám thị có tiếng hung ác là tên Arun (Aroul) và được ra cung khai trước tòa án xứ ở Sài Gòn. Anh khai rõ sự thật, làm cho quan tòa phải ngạc nhiên, công chúng thì xúc động:

        “Đời sống của tù nhân chúng tôi ở Côn Lôn, thực không sao chịu đựng nổi. Làm việc quá sức người, ăn uống thiếu thốn và bẩn thỉu; ốm không có thuốc men, không được chạy chữa; ngoài ra bọn gác dang vô cùng tàn ác, hình phạt vô nhân đạo, lắm khi tôi tự hỏi, tôi có phải là người nữa không? Khi đánh đập, gậy gộc bố xuống đầu chúng tôi như mưa, khiến chúng tôi có những lúc phát điên lên, bởi vì không còn biết than thở nỗi khốn cùng đó với ai nữa.

        Chính là trong những trường hợp đó mà tôi nảy ra ý nghĩ phải đập tên gác dang. Tôi nghĩ rằng, chỉ có làm như thế mới được đưa về Sài Gòn, đứng trước các vị quan tòa, rồi tôi sẽ thuật lại đời sống ở địa ngục của tù nhân Công Lôn, và dẫu rằng tôi có bị chém chết đi nữa, tôi cũng tự thỏa nhãn và tự an ủi mà chết”.

        Huỳnh Văn Giáp là một người can án thường phạm, anh đã phát biểu ý kiến của anh một cách tự nhiên, rất đơn giản nhưng rất kiên quyết.

        Đây chính là lời nhắn cuối cùng của một con người mà cõi chết đối với người ấy chẳng qua là một sự giải thoát, vì rằng cuộc đời ở trong nhà ngục chi là một cuộc đấu tranh kéo dài khốc liệt mà thôi”1.

        Dưới chế độ thực dân, tố cáo tội ác của bọn thống trị trong các nhà tù là việc làm có tầm quan trọng lớn lao, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc đấu tranh không ngừng của người tù chống lại chế độ tù đày, chống lại chế độ thực dân đã đẻ ra nó.

------------------
        1. Nguyễn Văn Nguyễn - Sách đã dẫn, tr. 761.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #24 vào lúc: 17 Tháng Sáu, 2017, 08:42:00 am »


        Đấu tranh của tù nhân Côn Đảo trước năm 1930.

        Ngoài số thường phạm bị án nặng, thực dân Pháp dùng Nhà tù Côn Đảo để lưu đày những người tù chính trị ở Đông Dương thuộc đủ mọi phong trào, mọi xu hướng. Cuộc đối đầu chủ yếu ở Nhà tù Côn Đảo là giữa bọn thực dân và những người tù chính trị này. 

        Số tù chính trị đầu tiên ra Côn Đảo là những tù binh, những người bị bắt trong thời kỳ nhân dân ta đấu tranh vũ trang chống Pháp hồi cuối thế kỷ thức XIX, những người mà bọn xâm lược gán cho cái tội phiến loạn hay bạo kháng. Chiến tranh xâm lược càng mở rộng thì số tù binh và những người “phiến loạn” này càng nhiều.

        Về thực chất, sở dĩ Pháp phái hối hả trong việc xây dựng Nhà tù Côn Đảo cũng chỉ là để giải tỏa những trại giam tạm thời ở Gia Định lúc nào cũng đầy ắp những người bị bắt. Lúc nào cũng có thể xảy ra những vụ phá ngục giải thoát tù nhân.

        Khi hạ thành Hà Nội lần thứ nhất (1873), Pháp đã đưa ra Côn Đảo 80 người bị bắt. Đánh thành Hà Nội lần  thứ hai (1882) thực dân Pháp lại đày hàng trăm người nữa ra Côn Đảo. Vào những năm 1863-1867, số tù nhân ở Côn Đảo đã tới 500 người.

        Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, số tù nhân ở nhà tù này đã lên tới 1.200 (Báo cáo của Uy ban ngân sách Hội đồng thuộc địa, phiên họp ngày 11-9-1908). Họ là những nghĩa quân của Trương Định, tù binh bị bắt trong trận hạ thành Biên Hòa, Định Tường, những người đứng dưới cờ nghĩa của Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân... Họ là những người đã tham gia phong trào Cần Vương, những chiến sĩ Ba Đình, Bãi Sậy, Hùng Lĩnh, Hương Khê, Yên Thế...

        Là những nông dân và những người thuộc tầng lớp lao động khác đã đấu tranh võ trang giữ từng tấc đất của Tổ quốc, chống kẻ địch mạnh hơn, quỷ quyệt hơn gấp nhiều lần, trong suốt 40 năm trời, khi thất bại, bị này ra Côn Đảo, họ vẫn tiếp tục đấu tranh, với tinh thần cương quyết dùng bạo lực chống lại kẻ thù có bạo lực Với truyền thống thà chết quyết không chịu làm nô lệ, lớp tù nhân đầu tiên này mang lại cho cuộc đấu tranh ở Côn Đảo hình thức chủ yếu là đấu tranh vũ trang thuần tuý, với những ưu điểm và những hạn chế rõ ràng của nó.

        Khởi đầu là cuộc nổi dậy tháng Sáu 1862 ở Côn Đảo Đây là cuộc khởi nghĩa của toàn thể nhân dân trên đảo mà tù nhân là lực lượng đi đầu, do ông Nguyệt, quê ở Chợ Quán (Sài Gòn cũ) lãnh đạo. Lực lượng tù nhân lúc đó bao gồm cả những người cựu tù dưới triều Nguyễn (còn 119 người). Những người lính coi tù thuở đó và con cháu họ cũng là những người đã từng chống lại các triều Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức. Họ đã quét sạch bọn Pháp ra khỏi Côn Đảo, đã phá tan Nhà tù Côn Đảo ngay từ khi nó mới được thành lập.

        Cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi vẻ vang, đặt nền móng cho truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân Côn Đảo anh hùng. Sau khi đuổi được bọn Pháp ra khỏi Côn Đảo, nghĩa quân không biết xây dựng tổ chức chính trị và phát triển lực lượng, cho nên bọn Pháp đã quay lại đàn áp dã man cuộc khởi nghĩa.

        Nhưng chỉ hai năm sau, năm 1864, những người tù Côn Đảo lại có kế hoạch đầu độc bọn thủy thủ Pháp trên tàu Đồng Nai, khi tàu này tới đảo. Việc không thành, một thầy thuốc người Việt và 4 tù nhân bị bắt. 

        Ngày 1-1-1868, Quản đốc nhà tù Búp (Boube, đại úy hải quân, viên Quản đốc thứ tư của nhà tù, từ 1868 đến 1869) lại phải đối phó với một cuộc nổi dậy khác. Hắn được báo trước là tù nhân sẽ tổ chức một cuộc bạo loạn vào 4 giờ 30, ngày 2-1-1868. Đứng đầu cuộc bạo loạn là một gác dang người Tagan, tên là Anatôhô (Anatolio) và hai người tù Việt Nam. Người thứ nhất là Đoàn Văn Đang, người từng tuyên bố “sẽ lột da bọn xâm lược Pháp làm cờ lấy máu chúng nhuộm đỏ lá cờ”. Người thứ hai là Lê Văn Phương, một người tù tự nhận rằng đã giết 50 người Tây”. Lập tức cả ba người này bị xiềng chặt. Sáng ngày 3-1-1868, 19 tù nhân tham gia âm mưu bạo động đã bị treo cổ (khi Pháp mới sang, bọn chúng thường xử giảo tội nhân). Anatôliô bị đưa đi đày chung thân ở đảo La Rêuyniông.

        Tiếp đó là cuộc khởi nghĩa của tù nhân trên Hòn Bảy Cạnh, ngày 27-8-1883, một sự kiện đã làm chấn động chính giới Pháp. Chiếm Côn Đảo xong, Bông phái người ra phát quang một ngọn đồi phía bắc thung lũng Cỏ Ống, dựng một ngọn hải đăng vào tháng 1 năm 1862. Sau đó chúng chọn vị trí xây Hải Đăng - Côn Đảo ở một mỏm núi phía đông trên Hòn Bảy Cạnh, Quản đốc Nhà tù Côn Đảo bắt 150 người tù ra làm khổ sai ở dây, điều kiện làm việc rất cực nhọc.

        Năm giờ sáng ngày 27-8-1883, tù nhân nổi dậy giết 8 lính gác và một viên sĩ quan chỉ huy tên là Gatxơtông Cabilích (Gaston Cabilic). Kiểm định viên công chính, Giuyn Pie Duy lông (Jules Pierre Dulong) cũng bỏ mạng. Viên đốc công Bi đô (Bidaun) bị thương nặng, đưa về thị trấn thì chết, sau khi đã kể lại cuộc nổi dậy của tù nhân.

        Những người tù khởi nghĩa đã tước 15 súng trường, 2 súng lục của bọn lính Tây, chiếm được tàu săn cá mập và một canô, mang hết lương thực đi và cả đoàn 150 người tù lên tàu ghé vào một làng gần Phan Thiết (Bình Thuận) lúc đó do Nam triều quản lý.  Viên chánh tổng bắt giam tất cả lại trong trại nhưng vị phó tổng, một công chức có tinh thần yêu nước, chống Pháp, đã bí mật mở cửa nhà giam giải thoát cả 150 nghĩa quân Côn Đảo.

        Thống đốc Nam Kỳ phản kháng triều đình Huế, đòi cho quân Pháp mở cuộc càn quét ngay trên đất Trung Kỳ thuộc quyền quản lý của nhà vua để truy nã những người khởi nghĩa. Chúng bắt lại được 36 người, còn 114 người đã trốn thoát. 

        Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa trên Hòn Bảy Cạnh đã làm cho bọn cai trị Pháp ở Nam Kỳ rất hoang mang.  Gần một tháng sau chúng mới có báo cáo gửi về Bộ Hải quân và thuộc địa Pháp. Sau đó Pháp tăng cường thêm một đội thủ quân lục chiến ra bảo vệ Hải Đăng - Bảy Cạnh, đặt đường cáp điện tín ngầm nối Côn Đảo với đất liền, khiển trách Quản đốc nhà tù Bốc kê (Bocquet, quan chức thuộc ngạch cai trị, Quản đốc nhà tù từ 1882 đến 1884). Tháng 5 năm 1884, Hải Đăng Côn Đảo mới được xây xong. Báo chí Pháp gọi cuộc khởi nghĩa ở Hòn Bảy Cạnh là “cuộc cách mạng ở Côn Đảo”.

        Sau cuộc khởi nghĩa 1883, chế độ nhà tù được siết chặt hơn. Theo quy chế mới ban hành năm 1889, bọn giám ngục Pháp được quyền bắn vào tù nhân khi thấy cần thiết; việc quản lý tàu thuyền trên đảo càng thêm chặt chẽ; hình phạt đối với tù nhân nặng thêm; khu kỷ luật Banh I hình thành... nhưng vẫn không dập tắt được ý chí đấu tranh củ những người yêu nước.

        Ngày 17-6-1890, gần 400 người tù gốc Bắc Kỳ đã nổi dậy giết gác ngục, cướp súng, dự định đóng bè vượt đảo. Quản đốc Rơn (Ren) điều lính đến đàn áp, bắn chết mấy chục ngươi và bắt lại gần hết. Do thiếu tổ chức chặt chẽ, cuộc nổi dậy bị dập tắt nhanh chóng.  Hai ngày sau, ngày 19-6-1890, một tù nhân tên là Ca định tổ chức cướp tàu Gi.B.Xay vừa từ Thái Lan sang, nhưng việc bị lộ không thành.

        Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Pháp cần nhiều công nhân để khai thác thuộc địa, chúng chủ trương đưa tù Côn Đảo đi các nơi, như đảo Rêuyniông còn gọi là đảo Buốcbông (Bourbon), Gabông (Gabon), Tahiti (Tahiti), Numê a (Noumé a) và Guyan (Guyane).  Năm 1892, Toàn quyền Lanétxăng (De Lanessan) lệnh cho Quản đốc Nhà tù Côn Đảo phải đưa 200 tù ra làm con đường chiến lược số 4 ở thượng du Bắc Kỳ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #25 vào lúc: 18 Tháng Sáu, 2017, 07:42:38 pm »


        Tù Côn Đảo tổ chức nhiều cuộc nổi dậy

        Ngày 28-8-1894, 65 người tù khổ sai bị đưa ra lấy san hô, 8 giờ tối, 15 tù nhân, do ông Đạt (số tù 3084) chỉ huy, đã giết hai gác ngục bằng lưỡi hái. Họ dự định cướp thuyền vượt ngục, nhưng việc không thành. ông Đạt nhảy xuống biển bơi trốn sau đó bị sóng đánh dạt vào bờ. Ông bị giặc bắt và bị tử hình.

        Ngày 25-7-1904, 65 tù khổ sai người Bắc Kỳ bị đưa sang Hòn Cau lấy dừa về đảo. Viên trưởng tàu sà lúp Lơ Carê (Le Carer) chỉ huy chung, dưới quyền có 3 giám thị người Pháp, một người lính Tagan, 2 ma tà người Việt.  Những người tù khổ sai đã hiệp lực diệt hầu hết bọn nhân viên coi tù này, chỉ trừ hai tên giám thị Pháp nhảy xuống biển nên thoát chết. Chiếc tàu chở tù chạy thẳng ra khơi. Bọn Pháp đã huy động chiếc tàu chiến Atxơpic (Aspic) truy lùng họ, nhưng vô hiệu. 

        Sau cuộc chống thuế ở Trung Kỳ, một lớp tù nhân mới, những vị văn thân, những nhà nho yêu nước hoạt động trong các phong trào Đông Du (1905-1908), Đông kinh nghĩa thục (1907), phong trào Duy Tân và phong trào chống đi phu, đòi giảm thuế ở Trung Kỳ (1907-1908) đã bị Pháp đày ra Côn Đảo. Phần lớn các vị đều là những người cầm đầu, khởi xướng của các tổ chức cách mạng theo chiều hướng dân chủ tư sản.

        Khuynh hướng tư tưởng của các cụ đã có ảnh hưởng rõ nét đến sắc thái hoạt động và tranh đấu cua tù chính trị Côn Đảo. Các vị không chủ trương bạo động mà chuyển sang hình thức đấu tranh trên các mặt chính trị, văn hóa và đòi cải thiện đời sống theo khuynh hướng cải lương. Những hoạt động phản kháng chế độ lao tù rất yếu ớt, tuy ý chí đấu tranh cứu nước không hề giảm sút, biểu hiện chủ yếu trong một nền thi ca mới: thi ca trong tù, khởi đầu là thi ca trong ngục tù Côn Lôn.

        Từ kinh đô Huế, Phan Chu Trinh trên đường đi đày ra Côn Đảo đã ứng khẩu bài tứ tuyệt nổi tiếng “Ra cửa đô môn” (Xuất đô môn tác):

                                Luy luy già tòa xuất Đô môn,
                                Khảng khái bi ca thiệt thượng tồn,
                                Quốc thổ trầm luân dân tộc tụy,
                                Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn!
1

        Huỳnh Thúc Kháng, bạn chiến đấu của Phan Chu Trinh đã dịch :

                                Xiểng gông cà kệ biệt đô môn,
                                Khảng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn,
                                Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn,
                                Thân trai nào sợ cái Côn Lôn!


        Sau Phan Chu Trinh là các cụ Huỳnh Thức Kháng, Đặng Nguyên Cẩn (số tù 7448), Ngô Đức Kế cùng hàng chục thân sĩ Bắc, Trung, Nam bị kết án chính trị đày ra Côn Đảo. Khi đó cụ Phan đang ở Sở rẫy An Hải, cụ đã tìm cách gửi thư động viên các bạn chiến đấu, ngay buổi chiều hôm họ tới Côn Đảo: “Thoạt nghe anh em ra đây, dậm chân kêu trời một tiếng, đoạn tự nghĩ: anh em vì quốc dân mà hy sinh đến phải ra đây, chắc có trăm điều vui mà không chút gì buồn. Đây là trường học thiên nhiênmùi cay đắng trong ấylà trai giữa thế kỷ này không thể không nếm cho biết...”2.

        Ở đảo hồi đó chưa có sự phân biệt tù chính trị với tù thường, họ ở chung trong Banh I. Các vị thân sĩ vẫn phải làm khổ sai như tù thường. Những người án nhẹ thì đi làm rẫy, đốn củi, dọn tàu... án nặng thì đập đá trong banh, không được ra ngoài.

        So với công việc khác thì đập đá trong banh là việc tương đối nhẹ, nhưng đối với các nhà nho, các vị khoa bảng thì quả là khó. Do không làm được các công việc khổ sai nặng nhọc, bọn gác ngục ác ôn vô học thường đánh đập, cúp phạt và gọi các cụ một cách xách mé là “tụi quan to hèn”. 

        Khổ nhục không làm nhụt ý chí đấu tranh của các cụ Sau mỗi ngày lao động khổ sai, buổi tối trong các khám giam, các cụ vẫn họp lại với nhau, đàm luận về chính trị, văn chương, xem xét lại hoạt động đấu tranh của mình.

        Tháng 2 năm 1908, những người đứng đầu phong trào Đông kinh nghĩa thục như: Nguyễn Quyền, Lê Đại, Võ Hoành, Dương Bá Trạc cùng với các sĩ phu thuộc phong trào Đông du bị đày ra Côn Đảo. Tiếp đó vài tháng sau, nhiều vị khoa bảng ở Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định và Hà Nội cũng bị đày ra đảo, số tù “quốc sự phạm” lên tới trên 50 người.

        Năm đó ở Côn Đảo có bệnh dịch lớn, tù chết nhiều, trong đó có cả những vị văn thân. Cảnh tù đày càng thêm thê thảm.  Bị tù thường phạm lưu manh quấy nhiễu, tù quốc sự phạm làm đơn đấu tranh đòi được giam riêng.

        Năm 1910, Quản đốc Quyđơnê (Cudenet) tách các vị giam riêng vào khám 6 và khám 7 ở Banh I. Được giam riêng và làm khổ sai tương đối nhẹ hơn như dệt chiếu, làm rẫy... các cụ có điều kiện thảo luận kỹ với nhau về tình hình đất nước, tình hình phương Đông và thế giới. 

        Những người tham gia thảo luận ở đây đều là những nhân chứng đủ thẩm quyền để phát biểu chính kiến. Họ trình bày những điều đã nghe, đã thấy, đã làm, góp phần vào việc đánh giá một con người, một sự việc một phong trào. Đề tài thảo luận khá rộng: văn thơ cổ điển Việt Nam, Trung Quốc, tư tưởng phương Đông, tinh thần yêu nước và hoạt động duy tân của các chí sỹ Nhật Bản những năm trước và sau khi Minh Trị lên ngôi; chủ trương Duy Tân đã tiến hành và thất bại ở Trung Quốc những năm cuối thế kỷ trước; đặc biệt lý thú là các cuộc vận động chống Pháp, từ thời kỳ mất lục tỉnh Nam Kỳ đến đầu thế kỷ này.

--------------------
        1. Thơ văn Phan Chu Trinh, Nxb Văn học. H. 1983, tr. 65. 

        2. Huỳnh Thúc Kháng - Sách đã dẫn, tr. 42.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #26 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2017, 08:28:11 pm »


        Trái với mong muốn của thực dân, những người tù chính trị ở Côn Đảo không phải là hoàn toàn không có khả năng nắm bắt tình hình trong nước và trên thế giới. Tàu bè từ Sài Gòn vẫn chở những món hàng cần thiết ra cho nhu cầu trên đảo. Mặt khác, các cuộc biến động chính trị ở trong nước vẫn không ngừng xảy ra, các tòa Đại hình cũng liên tiếp gửi ra Côn Đảo hàng loạt quốc sự phạm. Các vị khách mới này chính là những nhân chứng sống thực sự trong tấn bi kịch hùng tráng của đất nước.

        13 năm bị cầm tù ở Côn Đảo là 13 năm khủng hoảng bế tắc đối với các nhà nho đại diện cho những khuynh hướng khác nhau trong phong trào văn thân. Các tổ chức tiếp tục tan rã, những người cầm đầu bị bắt gần hết, những người sống lưu vong ở Nhật, ở Tàu cũng lần lượt bị trục xuất hoặc bị bắt bớ, làm khó dễ. 

        Từ khi bị bắt (1908) đến khi được thả (1921), các cụ đã có dịp suy nghĩ, cân nhắc để nhận chân sự bất lực của mình, của đường lối mình theo, của phương pháp mình hành động, mặc dầu tinh thần yêu nước thương nòi, xả thân vì nghĩa cả không hề đổi khác. Các lãnh tụ phong trào Văn thân đã nhận thấy con đường họ chọn lựa chỉ đưa đến “một trăm thất bại không một sự thành công” (Phan Bội Châu).

        Nhưng do những hạn chế về giai cấp, về ý thức hệ, các cụ đã không thể tìm ra một đường lối đúng đắn, tập hợp được đông đảo nhân dân chống giặc, phù hợp với xu thế của thời đại. Trong những năm tháng ở Côn Đảo, các nhà Văn thân tỏ ra bất lực, chỉ biểu lộ cảm tình mà không tham gia những cuộc đấu tranh do các tù nhân khác tiến hành. 

        Các cuộc bạo động của tù nhân vẫn tiếp tục diễn ra. Ngày 22-5-1910, một nhóm tù đang xây bể giặt quần áo ở Banh I, đã dùng dao nhọn làm bằng đai thùng khuy, đâm chết ngay tên Xếp chánh min gia (Emile Aujard). Tên giám thị này là một lính cảnh sát cũ ác có tiếng, tù nhân đều ghét. Một tên gác dang khác rút súng bắn chết một tù nhân để cứu gia, tên này cũng đền tội tại chỗ.
       
        Ngày 12-1-1911, bọn Pháp đem 3 tù nhân liên quan đến vụ giết gia ra chém đầu, sau khi họ đã không thèm ký vào đơn xin ân giảm. Để giấu giếm vụ bạo động này, nhà cầm quyền ở Côn Đảo, trong một thời gian dài, canh gác chặt chẽ không để cho khách vãng lai từ Xanhgapo lên đảo, sợ họ chụp ảnh nơi đã xảy ra sự việc.

        Mùa xuân năm 1918, ở Côn Đảo đã nổ ra cuộc nổi dậy của khám tù chung thân Banh I, có sự tham gia của Nguyễn Trọng Thạc, một tướng chỉ huy của phong trào Bãi Sậy, con trai Tán tương quân vụ Nguyễn Thiện Thuật. 

        Ngày mùng 4 Tết Mậu Ngọ (14-2-1918) tù nhân vẫn đi làm ở các sở ngoài như thường lệ. Tù chung thân ở Banh I cũng ra đập đá dăm trên khoảng đất trống, sau Nhà bếp.  Khoảng 2 giờ chiều, tù nhân xông tới dùng búa đập chết gác dang Simông và hai tên ma tà. Những người tù ào lên định xông vào cướp vũ khí và tấn công đội lính gác. 

        Viên cai Lácmuyriê (Larmurier) vội đóng cửa lại và chỉnh súng qua chấn song bắn ra. Kẻng báo động nổi lên, bọn giám thị Tây, viên quan hai, Xếp chánh và Quan đốc Ăng đua (Andouard) chạy tới dẫn đầu một toán lính Tây. Hắn ra lệnh xả súng bắn vào những người tù đang tụ lại ở Nhà bếp, Hầm xay lúa và gian nhà dùng làm nơi cho tù đan lát.

        Cuộc tàn sát những người tù tay không vũ khí kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ. Người chỉ huy nghĩa quân Bãi Sậy - Nguyễn Trọng Thạc và ông tú Phạm Cao Chẩm, người vừa tham gia cuộc khởi nghĩa Duy Tân (5-1916) cùng hơn 80 người tù chung thân đã gục ngã. Sau khi giết gần hết khám tù chung thân, tên chúa đảo cho lệnh Tây vác súng đi tới các sở tù áp giải tù về. Bọn này được lệnh thấy động là xả súng bắn ngay.

        Đến tận chiều tối, từng tốp tù đi làm khổ sai đã được giải về Banh I. Cụ Huỳnh Thúc Kháng cũng trong đám tù đi làm ở Sở Ruộng, kể lại: “Về đến banh, vào trong sân thì thấy xác chết nằm ngổn ngang, máu chay thành đống, mắt không dám ngó”1.

        Dư luận dân chúng trong đất liền xôn xao. Người ta kể ra những chi tiết đau lòng chung quanh vụ thảm sát. Lính Tây đã dí súng vào mang tai những người tù ngắc ngoải, bắn cho chết hẳn. Báo chí Sài Gòn, bất chấp sự kiểm duyệt, phát lời tố cáo tên đao phủ ở Côn Lôn. Họ buộc tên này vào tội đã xả súng bắn vào cả những người tù không biết gì về việc nổi dậy... Báo chí thực dân hồi đó đã thuật lại như sau:

        “Ngày 1-10-1918, Ăngđua bị đưa ra tòa án. Nhưng anh ta đã tự bào chữa hùng hồn:

        - Tôi đã bắn một cách tỉnh táo... và tôi sẽ còn bắn nữa nếu như còn xảy ra bạo loạn. Các ngài nên biết rằng vẫn còn bốn trăm năm mươi tù nhân ngoài vòng khủng bố...”.

        Quan tòa Kexơnen (Quesnel) đã lập biên bản, tha bổng ăng đua và còn ca ngợi Ăng đua mà chê hai người Quản đốc trước đó quá nhu nhược. Ăng đua được trắng án trong những tràng vỗ tay hoan hô của bọn thực dân và trở lại cai trị Côn Đảo như trước.

--------------------------
        1. Huỳnh Thúc Kháng - Sách đã dẫn, tr. 225.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #27 vào lúc: 20 Tháng Sáu, 2017, 08:11:42 am »


        Trong cuốn sách “Đây “công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đã tố cáo vụ thảm sát của Ăng đua ở Côn Đảo trước dư luận thế giới:

        “Một tên quản ngục Côn Lôn, bị tố cáo là đã giết một cách thản nhiên một lúc hơn 40 phạm nhân, được trắng án và khen thưởng”1. Ăng đua là một trong những tên chúa đảo hung bạo nhất ở Nhà tù Côn Đảo. Là một trung úy trừ bị cảnh sát thuộc địa, hắn đã được cất nhắc làm Quản đốc Nhà tù Côn Đảo từ 1917. Do bị cụt tay phải trong trận Âu chiến 1914-1918, tù nhân gọi hắn là ông Lớn một tay, động một chút là là phạt rất nặng, nhất là đối với tù chung thân thì kẻ hầm, người xiềng, không mấy người thoát khỏi.

        Vì thế khám tù chung thân (khám 6 và 7 trong Banh I) mới diễn ra tấn kịch “liều chết bạo động”, đó là ngày 4 Tết âm hạch năm Mậu Ngọ, 19182.

        Ăng đua có nuôi một con chó Bécgiê thật dữ, khẩu phần của nó một ngày gồm 2 kg thịt bò và 2 lít sữa tươi do Sở Chuồng Bò cung cấp. Mỗi khi có chuyện bực mình, hắn cho con chó tha hồ cắn một người tù nào đó mà hắn không ưa. Nạn nhân nào không may bị Ăng đua trù mặt thì ít có hy vọng thoát chết, vì con bécgiê của hắn thích cắn tận cần cổ hơn chỗ nào khác. Chính Ăng đua đã cho đem hai con hổ từ đất liền ra, thả lên núi để chống lại những người tù trốn lên đến đây, kết bè và ẩn náu trước khi vượt ngục. Trên rừng thì cọp dữ, dưới biển thì cá mập, trong nhà tù thì những tên giết người như ăng đua, thử hỏi người tù còn biết chạy đâu cho thoát chết! 

        Sau cuộc thảm sát ở Banh I, cuộc sống của tù nhân ở đảo đã tồi tệ lại càng thêm tồi tệ. Bất cứ đi làm khổ sai ở đâu, đều có lính gác đi kèm, súng lăm lăm trên tay. Đám tù chung thân sống sót mỗi lần ra khỏi khám là phải đeo xiềng tạ, vào khám là phải cùm chân. Bọn gác ngục đánh tù như điên để khủng bố, trả thù. Cửa banh được bố trí súng máy chĩa vào, lính gác tuần tiễu ngày đêm, thấy có gì khả nghi là mặc sức bắn. Nhưng tất cả những thứ đó không hề làm nhụt chí đấu tranh của người tù.

        Ngày 3-12-1919, tên Ăng đua khát máu đã phải đền tội Sửu Nhỏ - người tù ra làm bồi cho viên quan hai chỉ huy trại linh đã lấy được khẩu súng lục của hắn và đã hạ sát tên Quản đốc đao phủ ăng đua. Anh giấu súng trong áo chẽn, đến nhà tên đao phủ ăng đua, nói với người hầu rằng có thư phải chuyển cho Quan đốc. Lúc ấy là 10 giờ sáng.

        Sửu Nhỏ bước vào phòng làm việc của Quản đốc, một tay đưa phong thư ra, tay kia giương súng, bóp cò, xả gần hết cả băng đạn. Ăng đua gục ngay tại chỗ. Xong nhiệm vụ trả thù cho gần 100 bạn tù đã bị giết hại, Sửu dành viên đạn cuối cùng cho mình, biết chắc rằng không thể thoát được vì tư dinh của Ăng đua đã ở vào tình thế bị bao vây.

        Trong điếu văn đám tang Ăng đua, viên Quản đốc mới, đại úy Lăm be (Lambert) đã khẳng định: “Ăng đua đã chuốc lấy bao nhiêu hận thù. ông đã trả giá cho việc mình đã làm từ năm1918”.

        Hai cuộc nổi dậy liên tiếp của tù nhân Côn Đảo trong năm 1818 và 1819 đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho những sĩ phu Văn thân ở Côn Đảo, ngay trước khi họ được thả. Muốn sống còn, chỉ có một con đường duy nhất là đấu tranh. Đấu tranh như thế nào? Những năm cuối cùng ở Côn Đảo, lớp nho sĩ cải lương yêu nước thường bàn luận về chủ nghĩa, về phương thức đấu tranh một khi thoát khỏi ngục tù.

        Trong số những nhà Văn thân đã hết vai trò lịch sử đó, có nhiều người đã suy nghĩ, tìm cách đi gần tới những tổ chức chính trị của giai cấp công nhân - giai cấp mà lịch sử phát triển của đất nước đã trao trọn quyền lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc.

        Một trong những người đó là ông tú Nguyễn Đình Kiên (Nguyễn Hy Cao) ở đảo về năm 1921, ông đã cùng một số bạn chiến đấu cùng chí hướng kết hợp với nhóm sinh viên yêu nước trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội thành lập Hội Phục Việt vào mùa hè năm 1925. Trong phong trào sôi nổi của nhân dân ta đòi thực dân Pháp phải thả nhà ái quốc Phan Bội Châu năm 1925. Hội đã rải truyền đơn ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, thị xã Hải Dương và cả ở Nam Kỳ kêu gọi đấu tranh. Cở sở của Hội bị lộ và Hội phải đổi tên là Hưng Nam.

        Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, tổ chức cách mạng do đồng chí Nguyễn ái Quốc sáng lập năm 1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc), Hưng Nam đã chuyển thành Tân Việt cách mạng đảng (7-1928), sau đó phân hóa và dẫn tới sự ra đời của Đông Dương cộng sản liên đoàn (1-1930), một trong ba tổ chức cộng sản đã hợp nhất lại thành Đảng Cộng Sản Việt Nam vào tháng 2 năm 19303. Trong thời kỳ dựng Đảng, cụ Nguyễn Hy Cao là Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ của Tân Việt cách mạng đảng. 

-----------------------
        1. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 2, Nxb. Sự Thật, N.1981, tr. 142. Do thực dân bưng bít, số tù nhân bị giết không được công bố chính xác (T.G). 

        2. Huỳnh Thúc Kháng - Sách đã dẫn, tr. 224.

        3. Hồ Chí Minh - Toàn tập, tập 2, Nxb Sự Thật, H. 1981, tr. 324.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #28 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2017, 08:54:45 am »

       
Chương hai

NHÀ TÙ CÔN ĐẢO TỪ NĂM 1930 ĐẾN TRƯỚC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939)

        Chi bộ khám Chỉ Tồn Banh I (1930 -1934)

        Ngày 9-2-1929, Quốc dân đảng tổ chức ám sát tên trùm mộ phu Badanh tại Hà Nội. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố, bắt hàng trăm người yêu nước và cách mạng. Tháng 7 năm 1929, theo lệnh của toàn quyền Pátkiê (Pièrre Pasquier), các phiên toà đại hình được mở cùng một thời gian ở hơn 20 tỉnh và thành phố Việt Nam. Hàng trăm người bị kết án và đày ra Côn Đảo, trong đó có một số hội viên Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Đây là những chiến sĩ cộng sản đầu tiên trên Côn Đảo.

        Ngày 10-2-1930 cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân đảng nổ ra và bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Nguyễn Thái Học và một số lãnh tụ Việt Nam Quốc dân đảng bị xử tử, hầu hết số đảng viên còn lại bị bắt tù. Chuyến tàu Cơlốt Sáp (Claude Chappe) ngày 18-6-1930 rời cảng Hải Phòng chở hơn 200 đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng và gần 40 đảng viên cộng sản vừa bị bắt đày ra Côn Đảo.

        Tại cửa biển Vũng Tàu, thực dân Pháp dồn tù từ tàu Cơlốt Sáp qua tàu Ácmăng Rút sô (Hardmand Rousseaux) vừa chở đoàn tù từ Khám Lớn (Sài CTòN) đến để đưa cùng một chuyến ra Côn Đảo. Trong lúc chuyển tàu đoàn tù cộng sản đã phất cao lá cờ đỏ búa liềm và hô to các khẩu hiệu:

        - Đả đảo đế quốc Pháp!

        - Phản đối bắn giết, tù đày !

        - Đáng Cộng sản Việt Nam muôn năm!

        Hình ảnh lá cờ đỏ búa liềm tung bay trên biển Vũng Tàu và âm vang của những khẩu hiệu đã báo hiệu một thời kỳ đấu tranh cách mạng mới ở nhà tù Côn Đảo.  

        Cuối năm 1930 thực dân Pháp đưa thêm mấy chuyến tù ra Côn Đảo, nâng con số tù nhân ở đây lên 1992 người. Tù chính trị lúc này mới có khoảng hơn 300 người mà phần đông là Việt Nam Quốc dân đảng bị cấm cố trong Banh II. Hơn 1.600 tù nhân còn lại tập trung ở Banh I và các sở tù khổ sai. Nhiều đảng viên cộng sản bị kết án khổ sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I...

        Lớp người cộng sản đầu tiên bị đày ra Côn Đảo còn gặp một số sĩ phu yêu nước thuộc các phong trào Đông Du, Đông kinh nghĩa thục, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ và một vài nghĩa quân của các cuộc khởi nghĩa Hương Khê, Yên Thế, Duy Tân... còn sống sót sau nhiều năm bị đày ải ở đây.

        Nhà tù Côn Đảo là nơi tụ hội của những người yêu nước và những người cách mạng Việt Nam sau mỗi lần thực dân Pháp khủng bố ác liệt.  Theo Niên giám thống kê Đông Dương, từ năm 1930 đến năm 1933, thực dân Pháp đã bắt giam 216.532 người. Riêng ở Bắc Kỳ trong 2 năm 1930-1931 chúng đã mở 21 phiên tòa đại hình xử nhiều vụ với 64 án tử hình, 114 án khổ sai chung thân và 430 án lưu đày biệt xứ.  Nhiều người trong số đó đã lần lượt bị đày ra Côn Đảo.

        Mặc dù mỗi năm có đến hàng trăm người tù chết nhưng con số tù nhân ở Côn Đảo vẫn không ngừng tăng lên:

        Năm 1931: 2.145 người

        Năm 1932: 2.276 người

        Năm 1933: 2.483 người

        Năm 1934: 2.818 người1.

        Phần lớn số tù nhân tăng lên trong thời kỳ này là những đảng viên cộng sản và quần chúng yêu nước bị thực dân Pháp bắt sau cao trào cách mạng 1930-1931.  Dưới thời tên chúa ngục khát máu Buviê (Bouvier, 1927-1934) nhà ngục Côn Đảo thật ghê rợn và ảm đạm.  

        Tháng 11 năm 1930, một trận bão lớn ập đến Côn Đảo, trại giam Sở Lưới sập làm 75 người tù chết thê thảm; Banh I, Banh II và nhà cửa trên đảo đều bay hết ngói.  Sau trận bão, tù nhân được huy động đi sửa chữa ngay nhà cửa cho binh lính và gác ngục, còn họ thì phải sống cảnh “màn trời chiếu đất” trong mấy tháng trời. Ngày phơi nắng, đêm phơi sương và phải chịu những trận mưa bất thường ập đến nhiều người tù mòn mỏi, suy kiệt rồi mang bệnh mà chết.  Năm 1930, Nhà tù Côn Đảo đã vùi xác 311 người tù, tỷ lệ chết là 15,6%, cao nhất trong các nhà tù ở Đông Dương2.

        Vừa ra đời và phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, lật đổ ách thực dân, những người cộng sản Việt Nam đã phải đương đầu với bộ máy đàn áp khổng lồ: tòa án phát xít và nhà tù nổi tiếng tàn bạo ở Đông Dương. Tên thực dân khét tiếng chống cộng Pátkiê khi nhận chức toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố: Không diệt hết cộng sản không về3.

-------------------
        1. số liệu của Thanh tra thuộc địa Pháp. Theo tài liệu của Viện Lịch sử Đảng.  

        2. Số liệu của Thanh tra thuộc địa Pháp. Tài liệu đã dẫn.  

        3. Nguyên văn. “Không dẹp xong cộng sản, Pasquier này sẽ không nhìn thấy sông Xen (Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nan, Nxb sách giáo khoa Mác-lênin. H. 1983 tập 1, tr. 99). Pasquier là viên Toàn quyền Đông Dương đầu tiên xuất thân từ ngạch quan cai trị thuộc địa, đã từng làm công sứ tỉnh Thanh Hóa, khâm sứ Trung Kỳ, nôi tiếng là “tên đao phủ của cách mạng Dông Dương”. Pasquier bị chết trong một tai nạn máy bay, giữa tháng một năm 1934, trên chặng đường cuối cùng từ Liông (Lyon) tới Pari (Paris). Cộng sản Đông Dương thì không tiêu diệt được mà sông Xen cũng không được nhìn thấy lần cuối.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #29 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2017, 08:56:19 am »


        Không thể chém đầu hàng loạt được vì nền thống trị thực dân cần phải lừa bịp về chính trị, vì vậy nhà tù là công cụ khủng bố chủ yếu của chúng. Không giết được hàng loạt ngay một lúc thì giết dần, giết mòn. Nhà tù là nơi tập trung đày ải làm tiêu mòn ý chí chiến đấu và tiêu diệt lực lượng cách mạng.

        Năm 1931, Nhà tù Côn  Đảo có 2.146 tù nhân thì có 209 người đã chết, tức là cứ đày 10 người tù ở Côn Đảo là mỗi năm chúng giết được một người. Với tốc độ giết người như vậy, sau 10 năm đày ải, bọn thực dân có thể giết sạch một lớp tù. Nhiều người đã chết khi chưa được nửa án. Lớp tù nhân của cao trào cách mạng 1930-1931 bị đặt trước hai tình huống: hoặc là chịu chết dần mòn trong lao tù, hoặc là đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù, giành lấy sự sống. Những người cộng sản đã thảo luận ngay phương châm tổ chức và đấu tranh chống chế độ khủng bố, đọa đày. Cuộc thảo luận kéo dài vì Côn Đảo không giống bất cứ nhà tù nào ở trong đất liền.

        Ở Hỏa Lò (Hà Nội) hay Khám Lớn (Sài Gòn), tù nhân tuyệt thực ngày hôm trước là hôm sau chấn động cả thành phố, dư luận quần chúng bên ngoài lên tiếng ủng hộ. Ở một nơi heo hút như ngục Sơn La, trong vòng 8 tháng đày đọa, 43 tù nhân bị giết hại (1933) đã làm xôn xao dư luận. Để dập tắt phong trào đấu tranh ở nhà tù Sơn La và bưng bít ngay dư luận, tên toàn quyền Pátkiê đã ra lệnh đày những người còn sống sót ra Côn Đảo. Bọn gác ngục trong đất liền lại được dịp đe dọa tù nhân: “Ra Côn Đảo tha hồ mà đấu tranh, ở ngoài ấy có sóng biển ủng hộ chúng mày!”.

        Cùng thời gian ấy, năm 1933 tại Nhà tù Côn Đảo đã có 85 người chết; trong vòng 4 năm, từ 1930 đến 1933 thực dân Pháp đã giết hại 708 tù nhân tại nhà ngục này, nhưng dư luận bên ngoài không hề biết. Các nhà tù ở đất liền đều gần gũi và có sự phối hợp hoạt động với các tổ chức cách mạng và phong trào cách mạng của quần chúng, với dư luận tiến bộ, còn Côn Đảo là một hòn đảo biệt lập.

        Giữa biển khơi mênh mông, Côn Đảo không có dân cư, chỉ có tù nhân, cai ngục và sự đọa đày. Đó là một nhà tù “lý tưởng” mà bọn thực dân đã sớm chọn để có thể khủng bố những người chống đối chúng một cách man rợ nhất, bất chấp cả dư luận và pháp luật. Tất cả các yêu sách của tù nhân đều được trả lời bằng roi vọt và những hình phạt khắc nghiệt. Các cuộc bạo động đều bị đàn áp bằng súng máy và lưỡi lê. 

        Cuộc đàn áp đẫm máu khám tù chung thân Banh I năm 1918 và không khí khủng bố, chết chóc ở Côn Đảo những năm 1930 làm không ít người tù ngao ngán. Lớp cộng sản đầu tiên ra Côn Đảo còn gặp những người tù cũ bị đày đọa ở đây đã trên 30 năm. Có người đã ngoài 70 tuổi còn bị đày ra Côn Đảo như cụ Nguyễn Thiện Kế, em ruột người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Nguyễn Thiện Thuật. Có người bị đày ra khi tóc còn xanh cho đến hơn 70 tuổi vẫn chưa được về như cụ Lãnh Đạt, một tướng của Phan Đình Phùng.

        Đày ra Côn Đảo là không còn hy vọng trở về.  Trong tình hình đó có một số ít người cầu an, dao động, nhưng phần lớn số đảng viên cộng sản đều vững vàng và nung nấu ý chí cách mạng. Tổ chức và đấu tranh là vũ khí sắc bén của người cộng sản. Sống là tranh đấu. Ở nhà ngục Côn Đảo muốn sống càng phải tranh đấu.

        Vấn đề thành lập chi bộ Đảng làm hạt nhân lãnh đạo trong nhà tù được những người cộng sản thảo luận sôi nổi.  Nhiều vấn đề rất mới nảy sinh trong các cuộc thảo luận. Ở Côn Đảo có tổ chức chi bộ đảng được không?  Chi bộ trong nhà tù hoạt động như thế nào? Ai công nhận và chỉ đạo hoạt động của chi bộ? Tiêu chuẩn để công nhận đảng viên trong nhà tù ra sao? Có ý kiến cho rằng tổ chức chi bộ trong một nhà tù hà khắc nhất định sẽ bị địch khủng bố, như vậy sẽ không bảo vệ được cán bộ. Có ý kiến cho rằng ở Côn Đảo không có quần chúng, không có phong trào cách mạng nên không thể tổ chức và đấu tranh thắng lợi được.

        Vấn đề tiêu chuẩn đảng viên được thảo luận rất kỹ. Không thể tránh khỏi những đảng viên sai phạm về nguyên tắc hoạt động bí mật, sai phạm khi bị bắt hoặc sai phạm trong tù. Những sai phạm ấy chưa được kiểm điểm và xử lý; chưa được xác định tính chất, mức độ và kỷ luật... Vậy thì xét công nhận đảng viên như thế nào?  Ngay cả những người không sai phạm cũng đưa ra ý kiến: Tôi vẫn là đảng viên, chưa hề bị kỷ luật khai trừ, vậy lấy tư cách gì để kết nạp tôi vào Đảng? 

        Sau nhiều lần thảo luận, mặc dù có những vấn đề chưa đủ căn cứ để giải đáp, song nhiều ý kiến đã thống nhất rằng: Bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào người cộng sản cũng phải không ngừng hoạt động cách mạng; nơi nào có người cộng sản là ở đó cần có tổ chức Đảng để giáo dục đảng viên, giác ngộ quần chúng và lãnh đạo đấu tranh; vào tù không phải là nằm im chờ đợi hay bó tay chịu chết; ngay ở Côn Đảo cũng phải tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng và cần phải có tổ chức Đảng làm hạt nhân lãnh đạo.

        Chi bộ đầu tiên ở Nhà tù Côn Đảo ra đời gắn liền với hoạt động của đồng chí Nguyễn Hỡi, nguyên ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định. Ngay khi mới ra đảo, bị giam ở Banh II, Nguyễn Hỡi đã bàn bạc với một số đồng chí gần gũi rằng cần phải thành lập ngay một tổ chức hạt nhân cộng sản để lãnh đạo trong tù. Cuối năm 1931, khi bọn chúa ngục chuyển những người tù chính trị mang án khổ sai và án tù về Banh I thì nhóm hạt nhân được hình thành do Nguyễn Hỡi đứng đầu.

        Banh I là điển hình của chế độ khổ sai giết tù. Xây chưa xong hai mố cầu Ma Thiên Lãnh, bọn chúa ngục đã giết hại 356 người tù. Xây cầu tàu Côn Đảo trong nhiều năm chúng đã vùi xác gần một ngàn người. Hầu như mỗi mảnh đất, gốc cây, tảng đá ở Côn Đảo đều khắc sâu nỗi cực nhọc và thấm máu của những người tù khổ sai.  Banh I là hiện thân của “địa ngục trần gian”, những công việc khổ sai như xay lúa, đốn củi, kéo gỗ, kè đá, mò san hô, dọn tàu... còn rùng rợn hơn cả cái chết.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM