Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Giêng, 2023, 02:01:21 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862 - 1975  (Đọc 45309 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #190 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2017, 03:24:13 pm »

     
        Cuộc dấu tranh của tù bại lết

        Lực lượng phụ nữ ra đảo đợt tháng 11-1969 đã nâng con số chống chào cờ lên trên 500 người, chưa kể đến hơn 300 tù chính trị câu lưu chống toàn diện đang bị giam ở chuồng cọp. Chúa đảo Nguyễn Văn Vệ quyết định giải tỏa tù chính trị câu lưu từ chuồng cọp về Trại IV (cấm cố).

        Nhiều người bị còng xiềng và đày ải nghiệt ngã lâu ngày đã teo cơ, bại liệt, không đi nổi. Tên Giám thị trưởng ban chuyên môn cho bọn trật tự an ninh sắp hàng đôi từ chuồng cọp về Trại IV dùng roi mây, củi đòn đánh đập man rợ, xua đoàn tù tàn tạ về trại. Người nào bại liệt không đi nổi chúng đưa lên biệt giam ở chuồng bò. Từ đấy, chuồng bò là một trong những khu tập trung giam tù bại liệt.

        Đánh đập, khủng bố man rợ hàng trăm trận vẫn không dập được phong trào chống chào cờ. Chúa đảo Nguyễn Văn Vệ đổi thủ đoạn. Đối với 100 tù án chống chào cờ vừa giải tỏa từ Chuồng Cọp II, giam tại phòng 9 và phòng 10 Trại IV, Nguyền Văn Vệ cho xả còng, cho nước tắm, ăn no, cấp thêm một cần xé rau muống, cho ăn thịt vích, nghỉ 2 ngày, sau đó đưa đi lao động khố sai, bắt rào dây thép gai quanh Trại VI vừa xây dựng. Hai anh Vũ Đức Đạo và Hồ Hồng Vân (sinh viên) đã đi đầu trong đợt chống khổ sai làm lao này. Hai anh bị đánh tại chỗ cho đến khi gục xuống. Noi gương 2 anh, cả hai phòng 9 và 10 Trại IV lần lượt chống đợt khố sai rào thép gai. Họ chấp nhận chế độ cấm cố và sau đó trở lại chuồng cọp.

        Trong số tù chính trị bị đày ra Côn Đảo từ sau cuộc tiến công Tết Mậu Thân có gần 500 thiếu niên bị giam ở ba nơi: Công xưởng, Sở ruộng Quang Trung và Sở Rẫy Điền Viên. số ở Công xưởng đông hơn cả (350 em) được hướng nghiệp một số nghề thủ công cơ khí. Ở Điền Viên có 70 em, còn lại vài chục ở Sở Quang Trung, cũng được hướng nghiệp về kĩ thuật chăn nuôi, trồng trọt, làm tương...

        Nhận rõ các thủ đoạn lừa mị và bóc lột lao động của địch, các em đã tham gia các phong trào đấu tranh chống khổ sai, phá hoại sản xuất, làm thất bại kế hoạch “ngũ niên tự túc” của Nguyễn Văn Vệ. Nhiều thiếu niên đã dũng cảm tham gia phong trào chống chào cờ như Trần Lịch, Đặng Xi, Huỳnh Ngọc Huệ, Lê Văn Hiệp, Sáng... Nhiều người trở thành cốt cán trong phong trào Đồng Khởi (8-1970) ở Trại II, Trại III, Trại V sau này.

        Sau cuộc đấu tranh chống mắm ruốc và chống còng tháng 11 năm 1969, địch gom số tù bại lết ở Trại IV về Chuồng Bò, một chi nhánh trực thuộc Trại IV biệt lập do Ban Chuyên môn của Lê Văn Khương trực tiếp phụ trách. Họ bị đói khát lâu ngày, cơ thế tàn tạ và thiếu dinh dưỡng trầm trọng. Giờ tắm nắng, hàng trăm người tù lết ra sân bứt từng nắm cỏ cú (cỏ gấu), cỏ mần trầu ăn.

        Hai tên ác ôn Lê Văn Khương và Nguyễn Văn Rỗng cho bọn trật tự đánh đập họ đổ máu trên sân cỏ, đưa tất cả vào trại rồi cho trật tự nhố sạch cỏ trong sân, không cho tù ăn. Tên Rồng tuyên bố) “Cỏ này của chính phủ quốc gia. Các anh không chào cờ, không thừa nhận chính phủ quôc gia nên không được ăn”.

        Đầu năm 1970, số tù bại lết lên đến 193 người, địch đưa về nhà dù Trại VII. Nhà dù được lập tạm theo kiểu lều dã chiến giữa bãi cát trống thuộc khu vực Trại VII đang xây dựng dở dang. Thiếu tá Nguyễn Văn Vệ cho dựng khu nhà dù này từ tháng 5-1968 theo chỉ thị của Bộ Nội vụ để chuẩn bị tiếp nhận thêm 5.000 can phạm mới bị bắt sau Tết Mậu Thân. Khu vực nhà dù có 4 lều liền nhau, quây bằng tăng (tente) quân dụng của Mỹ, có sạp tre lót sàn nằm trên cát. Ban ngày, hơi cát nóng bỏng bốc lên cùng mái tăng hấp nóng hắt xuống thiêu đốt người tù. Nửa đêm, khí đất xông lên lạnh ngắt. Gió thổi cát bụi mù mịt, bữa cơm nào cũng trộn cát.

        Tù bại lết vốn là những người đã có một quá trình đấu tranh kiên cường trong tù, đến lúc này vẫn là lực lượng xung kích trong đấu tranh chống địch. Một số cán bộ của Thành đoàn và Đặc khu Sài Gòn - Gia Định hình thành lực lượng nòng cốt trong Ban lãnh đạo tù bại lết, trong đó có Phan Trọng Danh, Đỗ Hoàng Hải (Hồ Thái Hòa), Nguyễn Văn Mẫn, Tôn Thất Hương (Nguyễn Nam Lộc), Nguyễn Văn Đô, Nguyễn Chơn Trung, Nguyễn Văn Minh (Nguyễn Kiên Trung).

        Đợt kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3-2-1970, với danh nghĩa là Đảng ủy, các anh đã tổ chức kết nạp Đảng cho 4 thanh niên là Nguyễn Thân Phước, Ngô Văn Thiều, Tư Ếch, Tuấn. Lễ kết nạp không có cờ, hoa, ảnh Bác, không có văn bản quyết định nhưng xúc động, trang nghiêm. Các đảng viên cũ và mới đã siết chặt tay nhau ứa nước mắt. Người trẻ và người già, tất cả trong họ đã nguyện hiến dâng trọn đời cho lý tương cộng sản, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

        Đợt kỷ niệm sinh nhật Đảng năm ấy đã chuẩn bị tư- tưởng cho một cuộc đấu tranh quyết liệt của tù bại liệt. Mục tiêu của đợt đấu tranh này là đòi đưa tù bại lết về Sài Gòn chữa bệnh, trước hết cải thiện đời sống, giải tỏa trại dù, đưa về trại cũ. Hình thức đấu tranh là đưa yêu sách, tuyệt thực, hô la, nếu địch không giải quyết sẽ mổ bụng, quyết tử hy sinh để tố cáo. Mở đầu cuộc đấu tranh, ngày 18-2-1970, năm anh Đặng Trung Tâm, Võ Duy Quang, Nguyễn Hân, Trần Khắc Phi và Lê Văn Ngọc tuyệt thực đòi:

        1. Thức ăn phải được cải thiện.

        2. Khô mắm phải đủ ăn.

        3. Phải có đủ nước tắm giặt.

        4. Phải đưa về các trại thoáng khí.

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #191 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2017, 03:28:04 pm »


        Ngày 20-2-1970, địch giải quyết vấn đề thức ăn và nước uống, năm anh kết thúc tuyệt thực. Nhưng ngày hôm đó, một lều khác của nhà dù lại tiếp tục cuộc đấu tranh với các yêu sách:

        1. Đưa bác sĩ đến khám và điều trị.

        2. Cấp phát rau, tuần 3 lần (từ nhiều tháng qua địch đã không cho tù chính trị chống chào cờ ăn rau).

        Tù nhân bại lết ngồi thành đội ngũ chỉnh tề tại lều, xé quần áo kết thành biểu ngữ, dùng mắm ruốc viết khẩu hiệu:

        1. Chúng tôi cực lực phản đối chế độ lao tù hà khắc, giết hại tù nhân.

        2. Yêu cầu cải thiện đời sống, có rau, thịt cho tù.

        3. Yêu cầu cho gặp Ban quản đốc.


        Trưởng Trại VII lảm ngơ. Tù nhân bại lết đã hô la khẩu hiệu suốt 2 ngày. Ngày thứ 3, Ban lãnh đạo quyết định kết hợp cả hai hình thức: hô la và mổ bụng tố cáo. Tám người xung phong quyết tử. Sau khi bình chọn, người thanh niên 23 tuổi Nguyễn Thân Phước thắng cuộc. Thân Phước là người đề ra hình thức mổ bụng trong cuộc đấu tranh này. Trước sự ngần ngại của đồng đội, Thân Phước đã phân tích bằng lý lẽ có sức thuyết phục: “Chúng ta luôn quí trọng sự sống. Nhưng nếu như vì sự hy sinh của một người mà 192 người khác được sống thêm nửa năm nữa chẳng hạn thì tập thể chúng ta sẽ có thêm 96 năm sống để tranh đấu cho Đảng. Vì 96 năm sống ấy, cho tôi được hành động”.

        Mười giờ sáng ngày 24-2-1970, Thân Phước rạch bụng, lôi một khúc ruột ra ngoài. Sự phẫn nộ của tù nhân dâng lên tột đỉnh. Tất cả đồng thanh thét vang tưởng như xé toang cả trại dù:

        - Đả đảo chế độ lao tù khắc nghiệt!

        - Yêu cầu giải toả trại dù, cải thiện đời sống tù nhân.

        - Tù nhân mổ bụng tự sát, yêu cầu Ban quản đốc xuống giải quyết.


        Địch cho quân xông vào đánh đập dã man và cướp Nguyễn Thân Phước. Những người tù bại lết đã vây chặt, giữ thi thể Nguyễn Thân Phước, chống trả đàn áp và liên tục hô la khẩu hiệu phản đối. Cuộc hô la và chống trả và đàn áp kéo dài đến 17 giờ chiều, đại úy Nguyễn Phúc Trân, phụ tá Quản đốc đến giải quyết, đưa xe hơi lên chuyển tất cả tù bại lết về Trại IV, đưa Thân Phước đi bệnh xá. 

        Phúc trình không số ngày 25-2-1970 của giám thị Trần Văn Du cho biết: “Vào lúc 18 giờ ngày 24-2-1970, số phạm nhân tạm gửi Trại VII, 193 người nay chuyến về Trại IV (...) Can phạm Thân Phước, đính bài 19.226 dùng lưỡi lam mổ bụng dưới sườn phải dài 10 phân, sâu một phân rưỡi (...) Yêu sách đòi tất cả số can phạm bệnh tật tại Côn Sơn được đưa về Chí Hòa chữa bệnh, thức ăn phải có rau cải, tuần 3 lần. Thức ăn đúng giá biểu 10 cent mỗi ngày. Tất cả số can phạm nhân được đưa về Trại IV xong lúc 19 giờ”.

        Trước sau, có hơn chục cuộc đấu tranh bằng hình thức mổ bụng để phản đối chế độ nhà tù giết người, song trường hợp người thanh niên Nguyễn Thân Phước mổ bụng tranh đấu cùng tập thể tù chính trị bại xụi, tàn phế lần ấy đã gây xúc động lớn, khích lệ hàng ngàn tù nhân Côn Đảo vùng dậy trong năm 1970.

        Hai tên giám thị ác ôn Lê Văn Khương và Nguyễn Văn Rồng, Trưởng và Phó ban chuyên môn nắm trọn quyền sinh quyền sát với số tù nhân chống đối tại khu vực cấm cố: Trại IV, Trại I, chuồng cọp, chuồng bò. Lê Văn Khương tiếp tục siết bóp đời sống số tù nhân chống đối, hòng làm cho họ suy sụp về cơ thể, mòn mỏi về tinh thần, tàn lụi ý chí đấu tranh, nhưng hắn đã lầm.

        Ngày 24-4-1970, tù bại lết phòng 9 Trại IV nổ ra cuộc đấu tranh đòi cấp rau và thịt. Trong 2 tháng qua, địch vẫn không cấp rau và chỉ cho ăn thịt có một lần. Mở đầu một cuộc đấu tranh, 9 người tù bại lết ở phòng 9 đã xung phong tuyệt thực là Thích Hành Tuệ, Trần Văn Hải, Huỳnh Thành Minh, Phan Nhược, Lê Văn Động, Ngô Mờ, Nguyễn Văn Thoại, Đào Duy Nghệ và Lê Văn Ngọc.

        Ngày 28-4-1970, Lê Văn Khương đưa bọn trật tự đến đàn áp, phân tán xuống chuồng cọp. Trong đợt đàn áp ấy, Hòa thượng Thích Hành Tuệ cùng 3 người nữa đã mổ bụng để phản đối. Vừa chống trả địch, tù nhân Trại đã hô vang các khẩu hiệu: “Đả đảo đàn áp tù bại lết”.

        Máu chảy - ruột mềm, toàn thể tù chính trị câu lưu Trại I, nữ tù chính trị ở chuồng cọp, tù binh ở Trại đã hô la ủng hộ cuộc đấu tranh của tù bại lết. Địch dùng vôi bột và củi đòn đàn áp toàn bộ khu vực Trại I, Trại IV, Trại V và chuồng cọp.

        Cuộc đấu tranh của tù bại lết vẫn tiếp diễn. Ngày 1-5-1970, thêm 9 người khác tiếp tục tuyệt thực: Võ Duy Quang, Ngô Văn Thiều, Cao Văn Chín, Nguyễn Văn Thê, Châu Văn Cưu, Huỳnh Công Thuần, Tô Ếch, Trần Văn Tư và Bồ Minh Biện. Địch phân tán mỗi người một chuồng, đè từng người cán miệng chích thuốc, đổ nước cháo và cơm.

        Tù chính trị câu lưu Trại I, nữ tù chính trị ở chuồng cọp, tù binh ở Trại V đã hô la ủng hộ cuộc đấu tranh của tù bại lết. Địch dùng vôi bột và củi đòn đàn áp toàn bộ khu vực Trại I, Trại IV, Trại V và chuồng cọp.

        Cuộc đấu tranh của tù bại lết bước vào giai đoạn quyết liệt. Ngày 1-5-1970, thêm 9 người khác tiếp tục tuyệt thực: Võ Duy Quang, Ngô Văn Thiều, Cao Văn Chín, Nguyễn Văn Thê, Châu Văn Cưu, Huỳnh Công Thuần, Tô Ếch, Trần Văn Tư và Bồ Minh Biện. Địch phân tán mỗi người một chuồng, đè từng người cán miệng chích thuốc, đổ nước cháo và cơm.

        Ngày thứ 7, Cao Văn Chín mổ bụng, tất cả các chuồng lại phát loa, thông báo, hô la làm náo loạn chuồng cọp. Tập thế phụ nữ ở chuồng cọp cùng tù chính trị Trại I, Trại IV, Trại V đều hô la hưởng ứng cuộc đấu tranh của tù bại lết. Địch dỡ mái ngói, trút vôi bột trấn áp các cuộc hô la, sau đó chúng xối nước làm cho vôi bột ăn lở loét da thịt, làm rụng tóc người tù. Ngày 17-5- 1970, địch mới giải quyết một phần yêu sách.

        Những đợt đấu tranh quyết liệt của tù bại lết từ Trại IV, chuồng bò đến Trại VII, chuồng cọp, cùng với phong trào đấu tranh của hơn 300 nữ tù chính trị tại chuồng cọp đã trở thành ngọn cờ thôi thúc phong trào đấu tranh chống chào cờ của toàn thể tù chính trị Côn Đảo.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #192 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 10:49:36 am »


        Nữ tù chuồng cọp và vụ chuồng cọp Côn Đảo

        Trong những năm 1966-1968, lực lượng nữ tù chính trị bị giam ở Trại V và chuồng cọp đã trở thành lực lượng trung kiên, sát cánh với tập thể tù chính trị câu lưu và tập thể tù án chính trị chống chào cờ tại chuồng cọp. Tinh thần đấu tranh kiên cường của tập thể nữ tù chính trị có tác dụng như một ngòi thuốc súng, làm bùng lên một cao trào đấu tranh trong lực lượng tù án chính trị.

        Tháng 8-1966, ngụy quyền Sài Gòn đày 36 phụ nữ chống đối lâu năm từ các nhà lao đất liền ra Côn Đảo, giam ở Trại V. Trại V khi ấy có một bộ phận tù binh và một bộ phận tù câu lưu dân sự mới bị đưa ra. Tập thể nữ tù chính trị là lực lượng kiên cường tranh đấu. Các chị tuyên bố chống chào cờ, chống nội quy, chịu chế độ cấm cố khắc nghiệt.

        Năm 1967, các chị đã tuyệt thực 10 ngày đòi cải thiện đời sống, đòi đưa về đất liền. Chị Nguyễn Thị Bé đã dùng dao lam mổ bụng trước mặt tên đại úy Nguyễn Phúc Trân, phụ tá Quản đốc để phản đối hành động man rợ của chúng đối với phụ nữ. Cuối năm 1968, địch đưa 36 phụ nữ ở Côn Đảo về Nhà lao Thủ Đức.

        Sau cuộc tổ chức lễ tang Bác tại các nhà lao Thủ Đức, Chí Hòa (9-1969), ngụy quyền Sài Gòn đày 342 phụ nữ và 2 cháu bé ra Côn Đảo ngày 29-11-1969. Tất cả bị giam ở Chuồng Cọp, mỗi chuồng 5 người. Bất chấp nội qui, các chị đã liên hệ công khai, đấu tranh đòi tăng khẩu phần ăn, đòi trả quần áo, vận dụng vệ sinh, đòi được tắm giặt, có thuốc trị bệnh, đòi cho các chị có thai ra bệnh xá sinh nở.

        Bọn gác ngục đã nhiều lần dàn áp bằng vôi bột và sào nhọn bịt đồng Bản Sơ kết tình hình Nhà lao Côn Đảo của Trung ương Cục soạn thảo năm 1974 đã đánh giá: “Từ cuối năm 1969 đến tháng 8-1970, đội ngũ chị em phụ nữ ở chuồng cọp là ngọn cờ hiệu triệu dũng cảm nhất, kiên quyết nhất, làm cho địch khiếp sợ, góp phần động viên phong trào toàn đảo".

        Đầu năm 1970, tập thể nữ tù chính trị ở chuồng cọp đã tổ chức học tập Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà một số người có trách nhiệm đã chép được từ Nhà lao Chí Hòa. Bản Di chúc được chuyền tay trong số cốt cán ở các chuồng. Vào thời điểm thuận lợi, số cốt cán trong mỗi chuồng sẽ truyền miệng từng đoạn Di chúc của Bác Hồ kính yêu cho những người cùng chuồng.

        Chị Lê Hồng Quân, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn biệt động nữ mang tên Lê Thị Riêng đã phố biến Di chúc của Bác cho tập thể 14 chị em què lết, tàn tật ở gian hầm đá nổi số một đối diện với chuồng cọp II vào đúng dịp 19-5-1970.

        Bọn gác ngục lợi dụng đặc điểm sinh lý của phụ nữ để kìm kẹp không chế các chị. Hình phạt tồi tệ mà chúng thường áp dụng là không cho tắm, không cho nước rửa, không cho đổ thùng cầu. Có lúc chỉ vì không chịu khai tên tuổi, chúng phạt 19 chuồng phụ nữ, không cho đổ thùng cầu, chuồng lâu nhất bị phạt 53 ngày.

        Không có đồ dùng vệ sinh, các chị phải xé quần áo rách ra dùng mỗi kỳ có kinh, dùng nước tiểu mà giặt, quạt cho khô dùng tiếp. Chuồng cọp lúc nào cũng nồng nặc mùi hôi hám, khó chịu. Khi hết cả những mảnh áo rách, các chị phải ngồi trên thùng cầu hoặc trên những tấm nilon trong suốt thời kỳ có kinh, lâu lâu lại trút vào thùng cầu.

        Trong suốt 8 tháng ở chuồng cọp, các chị chỉ được ăn 3 lần thịt heo, 3 lần rau xanh, còn lại là tương chua và mắm ruốc xấu. Thêm vào đó là các trận đàn áp bằng vôi bột làm cho cơ thể suy sụp rất nhanh. Rệp ở chuồng cọp rất nhiều, chúng phụ họa với bọn gác ngục xâu xé các chị. Chống rệp không khác gì chống giặc. Mỗi đêm các chị giết hàng trăm con, vệt máu giết rệp đỏ bầm khắp tường mà cuộc chiến đấu không đêm nào kết thúc. Ớ các chuồng giam tù nam giới, tình cảnh cũng diễn ra tương tự.

        Song song với các thủ đoạn đàn áp, kẻ địch còn dùng biện pháp mua chuộc, phân hóa, tách được 25 phụ nữ cầu an ra khỏi đội ngũ. Số này chịu điều kiện, chấp hành nội qui, chịu chào cờ ngụy, được chúng ưu ái cho mở chuồng suốt ngày, cho gửi thư, nhận tiền của gia đình, được đi chợ mua gạo và thực phẩm về nấu ăn. Sinh hoạt trong tù cỡ đó cũng xem như “thần tiên” giữa chốn “địa ngực trần gian”. Những nữ tù kiên trung thuở ấy còn nhớ mãi kỷ niệm sâu sắc về bà Sáu Mù.

        Tên thật của bà là Nguyễn Thị Chỉ, quê Quảng Nam, mắt đã lòa, nhưng bà vẫn đứng vững trong tập thế chiến đấu, chống chào cờ, chống nội quy, chịu mọi cực hình ở chuồng cọp I. Tóc bạc, lưng còng, mắt mờ, sức yếu, bà thường nép mình vào một xó chuồng, đôi tay run rẩy, rờ rẫm trên đầu gối mình, lơ đãng lắng nghe mọi âm thanh đơn điệu xung quanh chuồng 27.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #193 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 10:52:15 am »


        Tháng 6-1970, trong một lần xáo trộn, bà Sáu Mù được đưa về chuồng 24, nơi giam những phụ nữ đã chịu điều kiện. Họ cũng thương bà, kính phục bà. Đến bữa thấy khẩu phần ăn có đĩa rau muống và nửa hột vịt luộc nóng hổi và thơm phức, bà biết ngay là đang ở chung với số phụ nữ chịu điều kiện, chấp hành nội quy. Bà gắp miếng hột vịt lên rồi lại bỏ xuống, trào nước mắt, bỏ cơm, xin về lại chuồng 27 chung với tập thể chiến đấu, với tương chua, mắm ruốc nặng mùi quen thuộc của chế độ kỷ luật.

        Hình ảnh bà má Sáu Mù gần 70 tuổi giam chung với các nữ sinh 15 tuổi và các nhà sư bị hành hạ trong chuồng cọp đã được phái đoàn nghị sĩ Mỹ phơi bày trước dư luận quốc tế vào tháng 7-1970, trong vụ phát hiện ra những sự thật kinh khủng tại Chuồng Cọp Côn Đảo.

        Vụ “chuồng cọp Côn Đảo” đã tạo nên một chấn động chính trị, phơi bày sự dính líu thối nát của chính quyền Mỹ tại Nam Việt Nam. Vào tháng 6 năm 1970, một Ủy ban điều tra của Hạ nghị viện Mỹ đã đến Sài Gòn để điều tra về các khoản viện trợ Mỹ cho Nam Việt Nam.

        Cùng thời điểm đó, Bản tường trình của 5 sinh viên học sinh Cao Nguyên Lợi, Nguyễn Thanh Tòng, Nguyễn Tuấn Kiệt, Trần Văn Long, Nguyễn Minh Trí về một địa ngục có thật tại Chuồng Cọp Côn Đảo mà họ vừa trải qua đã được đọc trước Liên Ủy ban Nội vụ - Tư pháp định chế - Xây dựng nông thôn của Hạ nghị viện ngụy, phiên họp ngày 19-6-1970. Bản tường trình được in rônêô, phân phát trong hội nghị và giới báo chí. Nhờ đó mà nhà báo Don Luce đã tìm cách gặp những sinh viên này và được họ chỉ dẫn sơ đồ chuồng cọp Côn Đảo.

        Ngày 2-7-1970, hai dân biểu Mỹ Augustus Hawkins và William Anderson đã tách ra khỏi đoàn, bay ra Côn Đảo. Don Luce tháp tùng chuyến đi với danh nghĩa phiên dịch. Luce năm ấy 35 tuổi, là thư ký Hội đồng Nhà thờ thế giới, từng là Giám đốc cơ quan tình nguyện quốc tế ở Việt Nam, nói thạo tiếng Việt.

        Trong lời tường thuật trước giới báo chí, hai dân biểu Mỹ khẳng định rằng, các ông đã tận mắt thấy: “Khoảng 500 người bị giam trong các chuồng cọp... Có những tu sĩ phật giáo... Có nhiều phụ nữ từ 15 đến 70 tuổi, có cả những bù già bị mù mắt... Họ bị giam giữ chỉ vì đấu tranh cho Hòa bình... Họ bị bỏ đói, bỏ khát bị nhốt như những con vật trong các chuồng cọp... Họ bị ngạt thở vì người ta tung vôi bột vào trừng phạt họ... Trong bảy tháng họ chỉ được ăn rau có 3 lần... Nhiều người trong số đó bị còng lâu ngày đến mức không thể đứng lên bằng đôi chân của mình được nữa... Đó là sự đối xử kinh khủng nhất đối với con người mà chúng tôi chưa bao giờ được thấy...”.

        Dân biểu Anderson đã chỉ trích các nhân viên của cơ quan AID của Mỹ làm nhiệm vụ cố vấn cho chính phủ Nam Việt Nam về chế độ nhà tù.

        Ngày 7-7-1970, nhiều Hãng thông tin phương Tây như UPI, AP (Mĩ), AFP (Pháp), Roitơ (Anh) đã đưa một loạt tin về cuộc họp báo của 2 dân biểu Augustus Hawkins và William Anderson về thực trạng kinh khủng mà những người tù chính trị đang phải chịu đựng ở Chuồng Cọp Côn Đảo. Dân biểu Hawkins, một trong 12 thành viên của Ủy ban điều tra Hạ nghị viện Mĩ đến Việt Nam đã tuyên bố từ chức để phản đối Ủy ban này bưng bít sự thật về tội ác của cố vấn Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn tại Côn Đảo, nhất là trong các chuồng cọp. Hawkins cho biết, trong bản báo cáo dày 70 trang của Ủy ban này, chỉ có một đoạn nói về Nhà tù Côn Đảo.

        Bài viết về vụ chuồng cọp Côn Đảo của John Helmul và Don Luce đăng trên tạp chí TIME, phát hành hàng triệu bản trên khắp toàn cầu cuối tháng 7-1970 đã làm chấn động dư luận thế giới về sự khủng khiếp của nhà ngục của Mỹ ngụy tại Nam Việt Nam.

        Những ngày tiếp theo, nhiều tờ báo lớn ở Mỹ, Pháp, Nhật, Italia, Cộng Hòa Liên bang Đức, Cộng Hòa Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Liên Xô... đã đưa tin và dẫn lời của 2 dân biểu Mỹ, lên án tội ác của Mỹ - ngụy tại chuồng cọp.

        Lời tố cáo của 2 dân biểu Mỹ là xác đáng, tuy nhiên, đó chỉ là một phần nhỏ về sự thật tội ác của Mỹ ngụy mà hai ông tận mắt chứng kiến. Song sự thật bé nhỏ ấy đã thức tỉnh lương tri nhân dân Mỹ và nhân loại tiến bộ, rằng chính phủ Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội lỗi và sự nhơ bẩn của hàng chục tỉ đô la viện trợ mỗi năm để bảo hộ cho một chính quyền tay sai tàn bạo, phi nhân tính.

        Bản tin Việt Nam Thông tấn xã, Thông tấn xã Giải phóng đã đưa tin lên án tội ác của Mỹ - ngụy đối với tù chính trị Côn Đảo, chỉ trích gay gắt bọn cố vấn Mĩ, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ, trưởng ban chuyên môn Lê Văn Khương. Tờ Tin Sáng xuất bản tại Sài Gòn ngày 15 và 16-7-1970 đã đăng toàn bộ thiên phóng sự của Don Luce về chuồng cọp Côn Đảo, khởi đầu cho phong trào đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù ở miền Nam Việt Nam.

        Trước áp lực của dư luận, ngụy quyền phải mở cửa chuồng cọp, quét dọn sạch sẽ. Trung tuần tháng 7-1970 địch chuyển số tù án chống chào cờ về chuồng bò, chuyển toàn bộ phụ nữ về Trại V. Sau đó chúng cho tay chân đập phá vách ngăn và dàn song sắt chuồng cọp II, dỡ một phần mái ngói chuồng cọp I, đưa các đoàn báo chí ra quay phim, chụp hình.

        Về Trại V, tập thế nữ tù chính trị nhanh chóng củng cố tổ chức, hình thành Ban cán sự tại mỗi phòng để lãnh đạo toàn diện các hoạt động của tù nhân. Các chị tiếp tục đấu tranh đòi đưa về đất liền, trả tự do, trong khi chờ đợi trả tự do phải được cải thiện đời sống, có thuốc men trị bệnh, được nhận thư và bưu kiện tiếp tế của gia đình. Tháng 11-1970, ngụy quyền đưa tất cả phụ nữ tù về Nhà lao Tân Hiệp (Biên Hòa).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #194 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 10:56:22 am »

       
        Đồng khởi chống khổ sai và chống chào cờ

        Từ đầu năm 1970, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí MinhThư đầu năm (1970) của Trung ương Cục gửi các dồng chí trong các nhà lao đã được bóp Đường dây Côn Đảo chuyển cho các trại tù chính trị. Xúc động về Di chúc Bác Hồ và phấn khởi về chủ trương chỉ đạo của Trung ương Cục, tù chính trị các trại tù khổ sai đã thảo luận một phương án vùng lên tranh đấu.

        Tinh thần đấu tranh kiên quyết của nữ tù chính trị, của tù chính trị chống chào cờ và tù bại lết ở chuồng cọp, chuồng bò, nhà dù Trại VII dồn dập từ đầu năm 1970 đã tạo khí thế mới, thôi thúc phong trào, nhất là từ khi vụ “chuồng cọp Côn Đảo” được phơi bày trước dư luận quốc tế.

        Theo một báo cáo của tù chính trị do bộ phận Đường dây Côn Đảo tổng hợp ngày 23-11-1970 gửi Trung ương Cục miền Nam, Ban lãnh đạo các trại tù khổ sai đã tập hợp ý kiến của tù chính trị các phòng, các trại và thông nhất phát động một đợt đấu tranh qui mô toàn đảo mang tên tháng Tám nhằm:

        - Chống khủng bố, phá lỏng kìm kẹp, giành quyền làm chủ.

        - Hạ uy thế địch, nâng cao uy thế tù chính trị. Mở đầu cho thời kì tiến công chính trị, phối hợp với cuộc đấu tranh tố giác Mỹ - ngụy ở bên ngoài.

        - Tích cực xây dựng lực lượng, chuẩn bị đón thời cơ mới.

        - Thiết thực kỉ niệm ba ngày lễ lớn: 19-8, 2-9, 3-9 và củng là hành động cụ thể làm theo Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu.

        Bản sơ kết tình hình Nhà lao Côn Đảo cho biết, cuộc đấu tranh dã diễn ra sôi nổi với các hình thức trực diện, đưa yêu sách, bãi công đòi hạ mức khổ sai, cải thiện đời sống, loại trật tự, mật báo ra khỏi phòng, bầu đại diện, làm chủ sinh hoạt trong các phòng giam kết hợp chống chào cờ. Phương châm đấu tranh là: bất ngờ, khẩn trương, đồng loạt, nhân nhượng, chú trọng yêu cầu dân sinh (hạ mức khổ sai) nhưng bám chắc yêu cầu chính trị (chống chào cờ, loại ác ôn, bầu đại diện).

        Ngày 11-8-1970, Sở Củi đưa yêu sách hạ mức khổ sai, củi chẻ từ 4 tấc xuống 3 tấc, củi đòn từ 7 tấc xuống 5 tấc, đòi tăng thực phẩm, chấm dứt khủng bố đánh đập, loại bọn giám thị, trật tự ác ôn ra khỏi sở. Cùng ngày, các sở cử người trực diện đưa yêu sách cho Ban Quản đốc, đòi giảm giờ làm, thêm thức ăn, cấp rau cải, thuốc chừa bệnh, thêm người làm rẫy cải thiện. Kíp lao công nội trại và Nhà bếp đòi nghỉ bù ngày chù nhật.

        Ngụy quyền Côn Đảo hết sức lúng túng, chúng hứa sè chuyến các kiến nghị của tù nhân về Bộ Nội vụ. Tù nhân tiếp tục đấu tranh. Sở Rẫy Đông Phong bãi công phản đối tên chủ sở gian ác.

        Bước vào giai đoạn 2, toàn thể Trại III, Sở Vệ Sinh, Sở Ruộng và Lò Gạch, các phòng mãn án câu lưu của Trại VI đấu tranh đòi được bầu đại diện phòng, đại diện trại, loại bọn ác ôn, tăng thực phẩm. Địch chấp nhận việc bầu đại diện, còn yêu sách tăng thực phẩm, chúng hứa chuyền về Bộ. Ngày 16-8-1970, Trại III và ba sở của Trại II bầu xong đại diện, bọn trật tự ác ôn, mật báo tự động rút lui khỏi các phòng.

        Nắm được bước phát triển của phong trào, Ban lãnh đạo Trại II và Trại III quyết định phát động đấu tranh chính trị, chống chào cờ. Ngày 21-8-1970, toàn thể Trại III nhất loạt chống chào cờ. Tù chính trị Trại II cũng đưa toàn bộ yêu sách, tuyên bố bãi công chờ Ban Quản đốc nhà tù giải quyết, đồng thời chống chào cờ ngay lúc đó. Địch đưa tất cả vào cấm cố.

        Lực lượng tù bại lết ở Sở Muối trực diện đưa yêu sách chống khô đắng, đòi cấp rau xanh 3 ngày một lần, phát quần áo năm 1970. Sau 3 ngày địch không giải quyết, anh em đã lết ra đường, căng biểu ngữ, hô khẩu hiệu đấu tranh. Địch đàn áp làm 15 người bị thương nặng.

        Ngày 24-8-1970, thiếu tá Nguyễn Văn Vệ gửi Công điện thượng khấn số 472/TTCH/CS/M/ZZ về Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia xin lực lượng cảnh sát dã chiến cơ động ra đàn áp. Nha cảnh sát quân khu 3 được lệnh chuẩn bị một đại đội cảnh sát dã chiến, trang bị đầy đủ dụng cụ chống bạo động, dự trù phương tiện cần thiết để sẵn sàng không vận ra Côn Sơn khẩn cấp khi tình hình đòi hỏi.

        Ngày 31-8-1970, gần 100 tù nhân Công Xướng, 50 tù nhân Sơ ruộng Quang Trung và gần 300 tù nhân làm lao công xây dựng lao mới (Trại VI, Trại VII và Trại VIII) đã bãi công, vào cấm cố. Hơn 4.000 tù chính trị đồng loạt chống chào cờ và chống khổ sai đã tạo một uy thế chính trị vô cùng to lớn, làm chuyển biến tương quan lực lượng, mở màn cho một giai đoạn đấu tranh quyết liệt với địch.

        Toàn bộ sinh hoạt trên đảo dựa trên lao động khổ sai của tù nhân nay bị ngừng trệ. Ngụy quyền Côn Đảo phải sử dụng bọn trật tự an ninh và trại sinh tiểu đoàn tâm lý chiến thí điểm vào việc dọn vệ sinh, đốn củi, phục dịch trong cư xá giám thị và khu gia đình. Ngày 3- 9-1970, toàn thể các trại đều làm lễ tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập Di chúc Bác Hồ và kiểm điểm quá trình đấu tranh trong tù. Sau này, tù chính trị Côn Đảo gọi đợt tranh đấu tháng 8-1970 là cao trào Đồng khởi chống khổ sai và chống chào cờ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #195 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 10:57:57 am »


        Được tăng cường một đại đội cảnh sát dã chiến, Nguyền Văn Vệ đưa tối hậu thư vào tất cả các phòng, buộc tù nhân đầu hàng vô điều kiện (chấp hành nội quy, chào cờ, làm khố sai), nếu không chúng sẽ dùng biện pháp mạnh. Các phòng đều trả lại tối hậu thư.

        Ngày 5-11-1970, Nguyễn Văn Vệ tập trung toàn bộ giám thị, trật tự và cảnh sát dã chiến lần lượt tiến công từng trại. Hàng trăm tù nhân đã bị thương tích nặng vì lựu đạn cay, dùi cui, gậy gộc. Sau 3 tháng đàn áp, có đến một phần ba số tù chính trị chống chào cờ bị bức rời hàng ngũ, còn “đậu” được 2.640 người. Đó là con số kỷ lục về chống chào cờ sau những trận đàn áp khốc liệt từ trước đến nay.

        Bất lực, Nguyễn Văn Vệ bị cách chức, ngụy quyền Sài Gòn đưa trung tá Cao Minh Tiếp ra thay. Vốn là sĩ quan tình báo đã được nhiều lần tu nghiệp ở Mỹ, từng làm Giám đốc Trung tâm tình báo hỗn hợp Việt - Mỹ phụ tá Tổng thư ký úy ban Phượng hoàng Trung ương, Cao Minh Tiếp thực hiện nhiều thủ đoạn nham hiểm và thâm độc.

        Ra Côn Đảo tháng 2-1971, Tiếp huy động tất cả các nguồn thực phẩm cho tù nhân ăn tết cổ truyền. Hắn tự tay viết thư chúc tết tù nhân, và đặt thẳng vấn đề “hợp tác sản xuất” giữa tù nhân và nhà tù, nêu khẩu hiệu “tự túc tự cấp - có làm, có hưởng”. Cao Minh Tiếp trả lại sinh hoạt bình thường cho các trại cấm cố, cấp hột vịt, coi như phần ăn phụ trội, mở hội nghị đại diện tù nhân các trại đế thăm dò nguyện vọng mà thực chất là ráo riết chuẩn bị cho âm mưu:

        - Lừa mị để chiêu hồi sản xuất

        - Đàn áp để đánh rã số chống chào cờ ngoan cố

        - Thanh lọc tù nhân, phẩn vùng giam giữ.


        Tuy nhiều thủ đoạn, Cao Minh Tiếp vẫn bất lực. Tù chính trị tẩy chay khẩu hiệu “tự túc, tự cấp - có làm, có hưởng”, mặc dù hắn đã tăng mức hưởng lợi từ 25% lên 40%, 60%, 80% rồi 100%.

        Bất chấp sự đàn áp, khủng bố, số tù chính trị chống chào cờ vẫn tăng lên đến hơn 3.000 vào tháng 7- 1971. Cao Minh Tiếp ráo riết thúc đẩy việc xây dựng khu biệt lập Trại VII (chuồng cọp Mỹ), và thanh lọc tù nhân, thực hiện chiến lược phân vùng giam giữ. Trong tháng 11 và tháng 12-1971, Tiếp chỉ huy nhiều trận đàn áp, xé phòng dồn trại, đưa trên 1.000 tù án chính trị mà chúng xem là cốt cán, biệt giam về Trại VII đưa hơn tám trăm tù chính trị câu lưu từ Trại I về Trại VI khu B. Chiến lược phân vùng giam giữ của Cao Minh Tiếp chia Côn Đảo thành 3 khu vực:

        - Khu vực I gồm Trại II, Trại III và các Sở tù khổ sai là nơi giam giữ số tù nhân chấp hành nội quy, chịu làm khổ sai,

        - Khu vực III gồm Trại VI, Trại VII, và Trại VIII là nơi cấm cố các phần tử cốt cán, cầm đầu, khó cải tạo.

        - Khu vực II gồm Trại I, Trại IV và Trại V là khu đệm,vừa có cấm cố, vừa khổ sai, chờ thanh lọc, phân loại.

        Tháng 5-1972, thực hiện xong chiến lược phân vùng giam giữ, ngăn chặn đấu tranh, Cao Minh Tiếp được thăng chức đại tá, làm Giám đốc Nha cải huấn, trung tá hải quân Đào Văn Phô ra Côn Đảo kế vị.

        Nhằm đối phó với cuộc tiến công mùa hè 1972 của quân và dân ta, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra Sắc lệnh 271-TT/SL ngày 10-5-1972 ban bố tình trạng khẩn trương, thiết quân luật trên toàn lảnh thổ Việt Nam cộng hòa.

        Ngày hôm sau, 11-5-1972, Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia ngụy cho di tản ngay 828 người tình nghi là cộng sản vừa bị bắt ở Thừa Thiên ra Côn Đảo, trong số đó có 515 nam, 313 nữ, ngoài ra còn có 36 trẻ em từ một đến 9 tuổi bị bắt theo mẹ. Phiếu trình số 878/ĐB/E225 ngày 2-6-1972 của Trướng khối cảnh sát đặc biệt cho biết, Côn Đảo khi đó có 8.441 tù nhân, trong đó có 2.924 can cứu cộng sản an trí, 4.237 can phạm thành án và 828 nghi can cộng sản.

        Đợt di tản thứ 2 có 398 nghi can bị đày ra Côn Đảo ngày 13-6-1972. Tất cả đều là thường dân ở các quận Phú Cam, Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên, không rõ tội trạng, không có hồ sơ, án tiết, chí có một bản danh sách ghi "tình nghi hoạt động cho cộng sản".

        Từ ngày 22-6 đến 6-7-1972, Bộ chỉ huy cảnh sát Quốc gia Sài Gòn đã cử 3 toán cảnh sát đặc biệt, tổng cộng 23 tên do thiếu tá Lê Kim Vũ làm Trưởng đoàn ra Côn Đảo thẩm vấn và phân loại. Phiếu trình số 966/BTL/CSQG/ĐB/E2 ngày 26-6-1972 cho biết: “Việc phân loại phải thực hiện trong thời gian 60 ngày. Côn Đảo đang lập thêm một trại giam bằng lều vải để tiếp nhận thêm can phạm từ đất liền đưa ra”.

        Từ cuối năm 1972, ngụy quyền Côn Đảo ráo riết phân loại tù nhân, xé phòng đồn trại nhằm thực hiện âm mưu ém dấu tù chính trị, chuyển án chính trị thành thường phạm. Cuộc đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo bước vào giai đoạn mới, quyết liệt và mạnh mẽ, trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Paris (1973).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #196 vào lúc: 02 Tháng Tám, 2017, 11:00:49 am »


        Tiểu đoàn tâm lý chiến thí điểm

        Bất lực trước phong trào chống chào cờ ngày càng dâng lên mạnh mẽ, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ cùng phái đoàn cố vấn Mỹ tại Côn Đảo đã soạn thảo “Chương trình tâm lý chiến Côn Sơn” thay cho chính sách cải huấn thực thi trong nhiều năm qua đã thật sự phá sản. Chương trình này đưa ra dự án xin 300 sĩ quan tâm lý chiến của quân đội ngụy để thành lập 10 tiểu đoàn tâm lý chiến, được tuyển mộ trong số tù chính trị Côn Đảo. Phiên họp Hội đồng Nội các ngụy ngày 26-9-1969 chấp thuận cho thành lập một tiểu đoàn thí điếm với Sự trợ giúp hữu hiệu của các cố vấn Mỹ và Đài Loan.

        Tổng cục chiến tranh chính trị ngụy đã tuyển chọn 30 sĩ quan tâm lí chiến, biệt phái qua Nha cải huấn, giao cho cố vấn Mỹ và cố vấn Đài Loan huấn luyện 4 tuần về quản trị khám đường, thực tập 2 tuần tại khám Chí Hòa. Tháng 5-1970, thiếu tá Nguyễn Văn Vệ được cử làm Trưởng đoàn đưa 30 tên sĩ quan tâm lý chiến đi thụ huấn tại Đài Loan trong 5 tuần lễ.

        Sau khoá huấn luyện, trung tá YINKANG cầm đầu một đoàn cố vấn tâm lý chiến cùa Trung Hoa dân quốc bay ra Côn Đảo, cùng cố vấn Hoa Kỳ và Trung tâm cải huấn Côn Sơn tuyển lựa 800 tù chính trị ‘‘theo tiêu chuẩn an trí trên một năm, biết đọc, biết viết, “hạnh kiểm tốt”, lập thành 5 đại đội, 15 trung đội, dưới quyền một sĩ quan tiểu đoàn trưởng, 5 đại đội trưởng, 15 trung đội trưởng và một Ban tham mưu”.

        Địch chọn vào Tiểu đoàn tâm lý chiến thí điếm hầu hết số tù mới bị bắt từ sau cuộc tiến công Tết Mậu Thân (1968), chưa có án tiết và chưa có biểu hiện chống đối. Từ khi họ ra Côn Đảo, ngụy quyền đã giam riêng ở Trại VI khu A, vừa được xây dựng. Trại VI A được tổ chức theo kiểu quân sự hóa, kết hợp với hình thức tự quản của tù nhân. Bọn sĩ quan tâm lý chiến dùng quy chế quân sự để quản trị thay cho quy chế nhà tù.

        Chúng không gọi tù nhân là can phạm, can cứu mà gọi là trại sinh. Trại sinh mặc quần áo lính ngụy, không đeo phù hiệu, được sinh hoạt tự do trong trại, được tự do tranh luận với các sĩ quan tâm lý chiến. Thông qua tranh luận, chúng loại dần các trại sinh có tư tưởng chống đối.

        Chương trình tâm lý chiến huấn luyện 216 giờ giáo dục công dân, 172 giờ văn hóa, 517 giờ chính trị, 612 giờ hướng nghiệp, 70 giờ văn nghệ, 72 giờ thể dục, 156 giờ khảo hạch.

        Phiếu trình số 4456/BNV/CH/10 ngày 12-12-1971 của Giám đốc Nha cải huấn Nguyễn Phú Sanh gửi Thủ tướng ngụy cho biết: Trong số 800 trại sinh thuộc tiểu đoàn tám lý chiến thí điểm, có 426 người đã chống lại dưới nhiều hình thức, còn lại 374 người theo học hết chương trình. Mãn khoá (từ 31-8-1970 đến 29-10-1971), 368 trại sinh đủ điểm để phóng thích. Trại sinh Hồ Văn Tư (tự Út Oanh), đính bài 11524 thuộc tỉnh Vĩnh Long “đậu” thủ khoa. Trại sinh Đinh Thái Bình (bí danh Tư Bê, Giá Rai, Bạc Liêu) trước khi mãn khoá đã lên văn phòng tiểu đoàn một tháng viết phản tính, hiến kế đánh phả Việt Cộng. Hai trại sinh Lý Văn Thắng, đính bài 13264 ở Kiên Giang và Nguyễn Văn Chiến, đính bài 13745 ở Sóc Trăng đã xin ở lại làm mật bảo viên cho tiểu đoàn ở khoá học tiếp theo mà không cần hưởng thù lao.

        Trung tá Nguyễn Mẫu, trưởng khối cảnh sát đặc biệt đã lập phiếu trình ngày 25-12-1971, đề nghị Tư lệnh Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia chấp thuận đề nghị của Nha cải huấn: “Tăng cường và bành trướng đoàn cán bộ tâm lý chiến để có thể cung ứng ít nhất cho 4 trung tâm ở đất liền là Thủ Đức, Tân Hiệp, Sài Gòn và Trung tâm thiếu nhi Đà Lạt”.

        Theo chủ trương này, Tiểu đoàn Tâm lí chiến khóa II đã được thành lập vào tháng 4-1972, song tiểu đoàn này chết yểu sau đó một tháng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #197 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2017, 10:42:34 am »

       
       Đảng bộ Lưu Chí Hiếu

        Đối với tập thể tù chính trị câu lưu Trại I, bọn gác ngục đã bất lực không khuất phục được về chính trị, chúng thực hiện các thủ đoạn giam giữ họ trong khuôn khổ kỷ luật nhà tù, lúc nới lỏng, lúc xiết chặt, tùy theo tình hình.

        Tháng 2-1971, trung tá Cao Minh Tiếp ra nhận chức chúa đảo, thực thi chương trình “chiêu hồi sản xuất”, xoa dịu tình hình, chế độ lao tù đờ phần khắc nghiệt. Tù chính trị câu lưu được ra sân chơi, được quản trị Nhà bếp, trồng rau cải thiện, mỗi tháng được đôi lần ăn cá tươi. Tháng 8-1971, Cao Minh Tiếp ra lệnh cấm cố trở lại, tước quyền quản trị Nhà bếp, bữa ăn chỉ còn cơm hẩm và mắm thôi.

        Ban lãnh đạo tù chính trị câu lưu Trại I quyết định phát động một đợt đấu tranh nhằm:

       - Mục đích yêu cầu: Đòi nới rộng từng phần về đời sống, hạn chế sự siết bóp của địch, phối hợp với phong trào đấu tranh chung trên đảo và gắn với phong trào đấu tranh chính trị bên ngoài, lấy đấu tranh để củng cố và xây dựng nội bộ.

        - Khẩu hiệu, yêu sách: Đòi trả tự do cho tù chính trị không án (câu lưu) và mãn án, đưa về đất liền trị bệnh cho người già yếu, trong lúc chờ trả tự do phải cải thiện đời sống.

        - Hình thức đấu tranh: Trực diện yêu sách, dư luận phản ứng, thông báo hô la, vận động tranh thủ... Nếu địch ngoan cố sẽ tuyệt thực".


        Trình tự cuộc đấu tranh diễn ra giống như dự kiến. Sau một tuần trực diện nêu yêu sách, địch vẫn không giải quyết. Tập thể tù chính trị câu lưu quyết định sử dụng hình thức hô la thông báo toàn trại và tuyệt thực. Cuộc tuyệt thực kéo dài đúng 14 ngày, 13 người dao động, bỏ cuộc nhưng tập thể quyết định đấu tranh đến cùng. Có 5 tù chính trị ở phòng 7 dùng dao lam mổ bụng moi ruột để biểu thị ý chí quyết tử tranh đấu.

 
        Ngày 1-10-1971, theo lệnh của Tổng quản đốc các trung tâm cải huấn, Cao Minh Tiếp trả lại sinh hoạt bình thường, trả quyền quản trị Nhà bếp, bệnh xá, cung cấp rau xanh cho các bữa ăn và cấp thuốc điều trị cho những người bị bệnh. Vấn đề trả tự do và đưa về đất liền, hắn hứa sẽ đề đạt cấp trên nghiên cứu giải quyết. Cuộc đấu tranh kết thúc thắng lợi vào lúc 17 giờ ngày 1-10-1971. Thắng lợi của đợt tranh đấu này đã góp phần quan trọng củng cố nội bộ, nâng cao uy thế của tù chính trị câu lưu.

        Thực hiện chiến lược phân vùng giam giữ, ngày 20- 12-1971, Cao Minh Tiếp ra lệnh chuyển hơn 800 tù chính trị câu lưu Trại I về Trại VI khu B. Ngày 3-2- 1972 lực lượng tù chính trị câu lưu tại Trại VI khu B đã thành lập Đảng bộ mang tên Lưu Chí Hiếu. Đồng chí Trần Văn Cao là Bí thư, đồng chí Trịnh Văn Tư là Phó Bí thư, đồng chí Mai Xuân Cống là Uy viên Thường vụ.

        Đợt đầu, Đảng bộ kết tập 11 người, sau đó xây dựng 10 chi bộ trong 10 phòng của Trại VI khu B, mỗi chi bộ từ 5 đến 10 đảng viên tổng số 62 đảng viên được kết tập vào cuối năm 1972.

        Đảng bộ xác định rõ nhiệm vụ là lãnh đạo toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, hoạt động và tranh đấu của lực lượng tù chính trị câu lưu. Mang tên Lưu Chí Hiếu, người chiến sĩ kiên cường trong cuộc đấu tranh chống ly khai và hy sinh anh dũng tại chuồng cọp (24- 12-1961), vẹn toàn khí tiết, Đảng bộ đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị, bảo vệ khí tiết của lực lượng tù câu lưu.

        Đảng bộ ra tập san Xây Dựng, tiếng nói của tù chính trị câu lưu Trại VI khu B, mỗi tháng một số, mỗi số được chép thành 10 bản gửi cho 10 phòng. Anh Lê Tú tức Nguyễn Đằng được cử làm chủ bút. Báo được chép tay trên giấy học trò khổ nhỏ (khoảng 9 X 13cm), trình bày đẹp. Nội dung gồm các thể loại: xã luận, tín tức, bình luận, truyện ký, thơ ca, tiểu phẩm... mang tính chất thông tin, giáo dục chính trị, sinh hoạt tư tưởng và tổng kết kinh nghiệm đấu tranh.

        Đảng bộ tổ chức ra Đoàn Thanh niên Lao động mang tên Nguyễn Văn Trỗi, do Sầm Thanh Liêm, một đảng viên trẻ tuổi làm Bí thư. Mỗi phòng giam có một chi đoàn làm nòng cốt trong các sinh hoạt và đấu tranh. Phong trào Trại VI khu B lên rất mạnh.

        Nghị quyết của Đảng ủy được toàn thể tù nhân chấp hành nghiêm túc. Mỗi chủ trương trước khi thành nghị quyết đều được trưng cầu ý kiến của tập thể tù nhân từng phòng. Buổi sáng phát chủ trương, buổi chiều đã tập hợp được ý kiến các phòng về Văn phòng Đảng ủy (Phòng 3). Ngày thành lập Đảng và các ngày lễ kỉ niệm của cách mạng, của dân tộc đều được tổ chức trọng thể, công khai treo cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, bảo đảm tính giáo dục cao, bất chấp sự khủng bố của kẻ thù.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #198 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2017, 10:46:06 am »

       
        Đảng ủy chủ trương vừa giáo dục chính trị, lí luận, nhân cách, vừa rèn luyện lực lượng trong tranh đấu. Tập tài liệu Nhà lao Côn Đảo do Ban Tổ chức Trung ương Cục tổng kết đã phản ánh cuộc tuyệt thực tranh đấu 14 ngày cùa tù chính trị Trại VI B như sau:

        “Ngày 8-10-1972, nhân cái chết thê thảm của đồng chí Đoàn Hảo 56 tuổi, quê Quảng Nam tại bệnh xá Lao VI B do giam cầm đày ải khắc nghiệt, không thuốc men chữa trị nên đồng chí phát bệnh rồi chết chỉ trong ba ngày. Ban chỉ đạo Lao VI B quyết định giữ xác đồng chí Đoàn Hảo tại bệnh xá để tố cáo tội ác và buộc chúng phải giải quyết các yêu sách của ta, cụ thể là:

       - Cơm ăn đủ no, thức ăn đủ bữa, cấp rau và cá tươi.

       - Cấp đủ thuốc men trị bệnh.

       - Bãi bỏ việc cất giữ tiền của gia đình gửi cho tù nhân.

       - Trả lại sinh hoạt bình thường.

       - Được mua hàng, vật dụng trực tiếp, không qua trật tự.

       - Đòi gặp Quản đốc (để giải quyết).

        Cuộc đấu tranh diễn ra ác liệt. Địch dưa một trung đội cảnh sát dã chiến và hàng trăm an ninh trật tự bao vây bệnh xá. Anh em y tá của ta và bệnh nhân đóng cửa bệnh xá, cột dây kẽm gai, bám giữ chặt cứa, phát loa tố cảo địch, nêu các yêu sách. Trung tá Quản đốc Đào Vãn Phô ra lệnh cho bọn an ninh trật tự ác ôn dung cây, đa, thanh Sắt, dao, cưa sắt phá cứa, đâm chém dã man rồi cướp xác đồng chí Đoàn Hảo khiêng ra ngoài. Phẫn nộ trước những hành động cực kỳ tàn bạo của ké thù, toàn Lao VI A hô la phản đối và 9 phòng Lao VI B gồm 860 người quyết định tuyệt thực để chặn bàn tay đẫm máu của địch và làm áp lực buộc chúng giải quyết các yêu sách”.


        Sau 19 ngày tuyệt thực, Quản đốc Đào Văn Phô mới giải quyết các yêu sách. Đảng bộ lãnh đạo tập thể tù chính trị kiên trì đấu tranh, đi đến thắng lợi những mục tiêu xác định. Sau nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt, nhiều lần đổ máu, địch mặc nhiên thừa nhận vị trí chính trị cùa tù câu lưu, để tù nhân được tự do sinh hoạt trong trại. Nếp sống và sinh hoạt chính trị ở Trại VI khu B giống như một vùng giải phóng giữa ngục tù Côn Đảo.

        Việc thành lập Đảng bộ Lưu Chí Hiếu đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của tù chính trị câu lưu. Đảng bộ Lưu Chí Hiếu thực sự trở thành bộ tham mưu chiến đấu lãnh đạo toàn bộ các hoạt động và tranh đấu tại Trại VI khu B. Nhiều đảng viên của Đảng bộ sau này đã được cử vào Đảng ủy lâm thời, góp phần quan trọng trong thời điểm nổi dậy giải phóng hoàn toàn Côn Đảo.

        Sự ra đời của Đảng bộ Lưu Chí Hiếu có vai trò đóng góp xuất sắc của hai đồng chí Trần Văn Cao và Trịnh Văn Tư. Trần Văn Cao tức Trần Văn Đa, Nguyễn Ngọc Cao, sinh năm 1917 tại Bình Thuận, nguyên là Huyện ủy viên, bị bắt ngày 3-2-1958.

        Trần Văn Cao từng tham gia Liên chi ủy Nhà lao Gia Định, tham gia dự thảo Chỉ thị bảo vệ khí tiết, bi đày ra Côn Đảo tháng 7-1959, trực diện chống ly khai, cùng 59 chiến sĩ kiên cường về chuồng cọp sau “chiến dịch chuyển hướng” tháng 4-1960 rồi bị rớt khi chỉ còn 21 người (9-1960).

        Nhận thức ra sai lầm, Trần Văn Cao đã nghiêm khắc kiểm điểm trước tập thể cốt cán, cùng nhau xây dựng phương án Kiến tạo lập trường khí tiết (10-1960) và luôn đứng hàng đầu trong cuộc đấu tranh vươn lên, được tập thể tù chính trị câu lưu tín nhiệm cử vào Ban lãnh đạo ở các phòng.

        Phiếu nhận xét hàng năm do Trưởng trại giam trình Quản đốc nhà lao phê về Trần Văn Cao những nội dung như sau: “Hạnh kiểm: Rất kém. (...) Tinh thần học tập: Chống mọi sinh hoạt, học tập chính trị. (...) Trình độ giác ngộ: Rất kém... Đương can là một phần tử trung kiên của cộng sản. Suốt thời gian thụ huấn, luôn tỏ thái độ ngoan cố chống lại chánh quyền. Thành phần ngoan cố khó cải tạo”.

        Kiên trì tổ chức, kiên trì tranh đấu, bền bỉ vươn lên, song Trần Văn Cao và những người đồng chí hướng vẫn chưa xây dựng được một tổ chức Đảng thật sự. Trong một thời gian dài, những người có vai trò lãnh đạo của tù chính trị câu lưu đã bất đồng về quan điểm.

        Một số người đối lập quan điểm với nhóm Trần Văn Cao chủ trương trong tù không cần sinh hoạt, không cần tổ chức với lý do là ở trong tù, không có sự chỉ đạo của Trung ương, không ai lấy danh nghĩa gì mà tổ chức. Vào tù, mỗi người tự quản lý mình, tự bảo vệ sinh mạng chính trị của mình, khi nào bức xúc cần đấu tranh thì bàn bạc thống nhất phương châm hành động rồi tranh đấu. Đứng đầu quan điểm này là đồng chí Hoàng Dư Khương, nguyên Phó Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Tán đồng với Hoàng Dư Khương còn có Trần Xuân Lê, nguyên Xứ ủy viên và vài trăm người khác.

        Tháng 7-1970, Trịnh Văn Tư bị đày ra Côn Đảo. Trịnh Văn Tư (Tư Cẩn) tên thật là Trịnh Văn Lâu, sinh năm 1927 tại quận Trà Ổn, tỉnh Vĩnh Long, nguyên cán bộ binh vận Trung ương Cục, Khu ủy viên Khu ủy Miền Tây Nam Bộ, đặc trách chỉ đạo Vùng trọng điểm 2 (Vĩnh Long), bị bắt tháng 4-1970, thời hạn an trí 2 năm. Ra Côn Đảo, Trịnh Văn Tư nhanh chóng nhập cuộc, góp phần tích cực với những người có trách nhiệm ở Trại I củng cố đội ngũ, tổ chức học tập chính trị, lý luận, học các nghị quyết của Trung ương và Trung ương Cục một cách bài bản. Trịnh Văn Tư được tù chính trị câu lưu Trại I tín nhiệm bởi phẩm chất vững vàng về chính trị, bản lĩnh trong tranh đấu, giản dị, chân thành với đồng chí, bạn tù.

        Trịnh Văn Tư đứng hẳn về quan điểm kiên trì tổ chức, kiên trì đấu tranh mà thuyết phục anh em. Cuối năm 1970, Hoàng Dư Khương bị bại liệt nặng, địch chuyển ra Sở Muối, Trịnh Văn Tư và Trần Văn Cao tiếp tục đấu tranh về mặt lý luận, quan điểm, thuyết phục được Trần Xuân Lê thay đổi lập trường, nghiêng về phía kiên trì tổ chức, kiên trì đấu tranh. Trên 200 tù chính trị câu lưu trước đây theo quan điểm không tổ chức, không sinh hoạt trong tù cũng dần dần ngả theo. số anh em này có phẩm chất chính trị tốt, chỉ hạn chế về mặt nhận thức và phần nào sùng bái cá nhân (đối với Hoàng Dư Khương).

        Từ năm 1971, tù chính trị câu lưu Trại I đã nhất trí về tư tưởng, quan điểm, tiến tới xây dựng tổ chức lãnh đạo tập trung và thống nhất, cả công khai và bí mật, dẫn đến bước phát triển mới của phong trào và sự ra đời của Đảng bộ Lưu Chí Hiếu. Giữa năm 1973, Trần Văn Cao chuyên sang bộ phận chờ trao trả theo Hiệp định Paris, Trịnh Văn Tư được cử làm Bí thư Đảng bộ, sau đó được cử làm Bí thư Đảo ủy lâm thời, lãnh đạo cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo. Các đảng viên được kết tập trong tù đều chuẩn chất, sau về đều được Đảng bộ các địa phương công nhận.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25560


« Trả lời #199 vào lúc: 03 Tháng Tám, 2017, 10:48:21 am »


        Nhà tù thời sau Ngô Đình Diệm

        Thời kỳ sau Ngô Đình Diệm (1964-1972) ở Nhà tù Côn Đảo là thời kỳ ngụy quyền Sài Gòn thực hiện chiến lược chống cộng theo bài bản của Mỹ, với sự gia tăng của viện trợ Mỹ và sự can thiệp ngày càng sâu của cố vấn Mỹ vào việc quản trị tù nhân. Đó cũng là thời kì mà phong trào đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ, với lực lượng tham gia đông đảo, với tính chất chính trị điển hình.

        Ngay sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, nhân lúc các phe nhóm quân sự và dân sự tranh giành quyền lực, tù chính trị Côn Đảo đã tuyên bố chống chào cờ, khẳng định một cách dứt khoát vị trí chính trị, là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, không thừa nhận bất cứ cá nhân hay phe nhóm nào của chính quyền Sài Gòn.

        Nếu như chống chào cờ trước đó chỉ là chống một trong những thủ đoạn tố cộng cực đoan kiểu Ngô Đình Diệm, thì trong thời kỳ này đã trở thành hình thức đấu tranh chính trị cao nhất, với ý nghĩa khẳng định vị tríchính trị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, không thừa nhận chế độ Sài Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ.

        Áp dụng các bài bản tâm lý chiến của Mỹ, các phương tiện chống bạo động được sản xuất từ Mỹ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của cố vấn Mỹ, ngụy quyền đã đàn áp lực lượng chống chào cờ bằng Cảnh sát dã chiến và lựu đạn cay, bằng trật tự an ninh và củi đòn, bằng cách bịt các lỗ thông hơi trong xà lim làm rối loạn đường hô hấp, nhiều tháng không cho ăn rau làm rối loạn tiêu hóa, kết hợp với còng xiềng, cấm cố trường kỳ làm teo cơ, bại liệt hàng trăm người tù, làm suy kiệt hàng ngàn người khác. Sự tàn bạo của Mỹ - ngụy vượt quá mọi giới hạn tưởng tượng của con người.

        Cùng với sự phát triển của cách mạng miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị trong Nhà tù Côn Đảo đã chuyến mình và phát triển mạnh mẽ. Tù án chính trị đã sát cánh bên tù chính trị câu lưu, lực lượng lao động khổ sai liên hệ chặt chẽ với khu vực cấm cố, bộ phận đường dây Côn Đảo tố chức mạng lưới liên lạc với Trung ương cục và các trại tù.

        Thắng lợi to lớn, cùng những hy sinh và tổn thất trong nhiều năm tranh đấu đã tạo thành mối liên hệ nhân quả, tiếp thêm sức mạnh cho tù chính trị Côn Đảo. Gương đấu tranh kiên cường của tù chính trị câu lưu, của nữ tù chính trị, của tù án chính trị chống chào cờ, của tù chính trị bại lết đã Hòa nhịp và thôi thúc lực lượng tù án đang chịu lao động khổ sai vươn lên chống khổ sai và chống chào cờ, tạo nên cao trào Đồng khởi tranh đấu, làm phá sản những thủ đoạn tâm lý chiến và chiêu hồi của Mỹ - ngụy tại Nhà tù Côn Đảo vào tháng 8 năm 1970.

        Nhiều cuộc đấu tranh của tù chính trị đã vượt ra khỏi phạm vi nhà tù, tạo được mối quan tâm sáu sắc của dư luận trong nước và quốc tế, góp phần vào mặt trận đấu tranh ngoại giao của cách mạng miền Nam. Những tội ác ghê tởm của Mỹ - ngụy tại chuồng cọp Côn Đảo được phơi bày trước dư luận trong nước và quốc tế từ tháng 7 năm 1970, đã góp phần đẩy nhanh ngày tàn của ngụy quyền Sài Gòn trong những năm sau này.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM