Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tám, 2019, 05:23:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu chiến lược - chiến thuật thời Trần - Lê  (Đọc 22947 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:51:09 PM »

II. Vấn đề chiến thuật

Quân đội nhà Trần nhơ vận dụng khéo léo những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược trình bầy ở trên nên đã dần dần thoát khỏi địa vị bị động về chiến lược, chuyển sang chủ động về chiến lược, từ thế yếu ban đầu chuyển dần sang thế mạnh về sau.

Những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược đó đã quy định nhiệm vụ cho chiến thuật trong trận chiến đấu lớn nhỏ của quân đội ta.

Những nguyên tắc chiến thuật mà Trần quốc Tuấn đã vận dụng là:

1. Giành ưu thế và chủ động trong mỗi cuộc chiến đấu phòng ngự cũng như tấn công

Trần quốc Tuấn đã vận dụng một cách tài tình hai nguyên tắc chiến thuật có quan hệ chặt chẽ với nhau là: “Tập trung binh lực ở hướng chủ yếu” và “tiết kiệm binh lực ở hướng thứ yếu”.

Trong phần bàn về vấn đề chiến lược, chúng ta đã nghiên cứu cách phân phối bố trí lực lượng của Trần quốc Tuấn trong cuộc chiến tranh lần thứ hai, khi quân đội ta phải đối phó trên hai mặt trận, tức là tập trung lực lượng chủ yếu trên mặt trận chính và để một bộ phận lực lượng trên mặt trận phía nam.

Về mặt chiến thuật, đứng trước thế tấn công ồ ạt, mạnh mẽ của địch, Trần quốc Tuấn không chủ trương xây dựng các tuyến phòng ngự cố thủ; trái lại, trong từng trận chiến đấu của thời kỳ đầu trong mỗi cuộc chiến tranh đã chủ động nhanh chóng chỉ huy quân đội rút lui, tiến hành phòng ngự có tính chất vận động (cơ động) để thoát khỏi thế bị bao vây.

Nếu như trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, lúc đầu có khuynh hướng đem lực lượng chủ yếu lên phòng ngự có tính chất cố thủ trên các thành lũy của các cửa ải ở biên giới thì do thay đổi phương châm chiến lược nên quân đội ta đã bỏ phương pháp tác chiến không thích hợp đó.

Chiến thuật “dụ địch vào sâu” thực chất là phòng ngự có tính chất vận động. Nghiên cứu tất cả những trận phòng ngự trong ba cuộc chiến tranh, ta đều thấy nổi bật lên phương pháp tác chiến đó – tức là phòng ngự vận động – trên các chiến trường chính. Ta thường thấy Trần quốc Tuấn và các tướng lĩnh khác, thường để một bộ phận nhỏ kiềm chế chủ lực địch, sau đó hoạt động sau lưng và ngay trong lòng địch, còn chủ lực thì nhanh chóng tập trung về một hướng khác.

Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba, Trần quốc Toản và Nguyễn Khoái được cử lên biên giới chỉ huy ba vạn quân để tiêu hao địch. Xét về quân số thì ba vạn quân không phải là nhỏ, nhưng ba vạn quân để chống với 30 vạn quân địch, thì một của ta phải chiến đấu với mười của địch. Trong khi đó, chủ lực do Trần quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy mạnh gấp trên ba lần số quân của ta ở biên giới, so với quân Nguyên thì một của ta phải chiến đấu với ba của địch.

Cứ nhìn cách bố trí đó, - đây nói về chiến thuật – cũng đủ thấy rõ nguyên tắc “tập trung” và “tiết kiệm” mà Trần quốc Tuấn đã áp dụng.

Về sau này, Trần quốc Tuấn còn tập trung nhiều hơn nữa và tiết kiệm nhiều hơn nữa. Đó là thời kỳ sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu hao địch ở biên giới, một bộ phận lực lượng vẫn được để lại phối hợp với dân binh tác chiến chặn tiếp tế bằng đường bộ của địch, còn rút một lộ quân lớn do Nguyễn Khoái chỉ huy về chờ đợi tại vùng ven biển; cho nên khi 5.000 tên địch vượt qua cửa Nội-bàng, quân ta đã giấu kín ở biên giới đã đánh một trận tiêu diệt khá quan trọng. Trong khi đó, để tiêu diệt thủy binh của Ô Mã Nhi rút lui theo sông Bạch-đằng, Nguyễn Khoái đã được lệnh nhanh chóng chuẩn bị, chiếm lĩnh trận địa phục kích.

Cuộc chiến đấu của quân ta để thoát khỏi thế bị bao vây ở Vạn-kiếp, Trần quốc Tuấn cũng vận dụng nguyên tắc chiến thuật đó nên đã thực hiện được nhiệm vụ chiến lược là tránh quyết chiến, thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt.

Quân Thoát Hoan đang tấn công chính diện trên hướng chủ yếu, khi phát hiện thấy quân ta tập trung, chia thành tuyến để phòng ngự ở Vạn-kiếp hắn lập tức đưa đội hậu vệ do Ô Mã Nhi chỉ huy nhanh chóng vu hồi vào sườn phải của Trần quốc Tuấn; chúng lợi dụng được địa hình kín đáo ở Khau Cấp để nhanh chóng tiếp cận nên tốc độ hành quân nhanh hơn so với cánh quân chủ lực của Thoát Hoan; hơn nữa địa hình để triển khai tác chiến ở Phả-lại và Vạn-kiếp lại thuận tiện cho kỵ binh hành động.

Nhưng Trần quốc Tuấn đã kịp thời để lại một bộ phận đánh chặn, còn chủ lực cho rút lui một cách chủ động tránh được nguy cơ bị tiêu diệt. Tuy quân ta có lập phòng thủ trên bờ sông để bảo vệ kinh thành, nhưng không cố thủ, chiến đấu đến một mức nhất định rồi rời bỏ kinh thành để bảo toàn chủ lực, quyết không để chủ ực của ta lúc đó còn yếu chọi với chủ lực của địch lúc đó còn mạnh.

Trái lại ở phương nam việc vận động chiến thuật lại khác: sau những cuộc chiến đấu oanh liệt để trì hoãn bước tiến, tiêu hao một số sinh lực địch và làm chúng mệt mỏi, quân đội ta đã từ Nghệ-an rút lui về Thanh-hóa và đến đây xét thấy không thể rút lui được nữa nên đã dừng lại tiến hành phòng ngự và với binh lực ít dựa chắc vào công sự để chống với gần 10 vạn quân của Toa Đô.

Tính chủ động chiến thuật trong phần lớn các trận chiến đấu thuộc giai đoạn đầu của ba cuộc chiến tranh thể hiện rất rõ rệt và đó cũng là những nét độc đáo về chiến thuật của quân đội ta. Các tướng soái nhà Trần đã tỏ ra có trình độ vận dụng nguyên tắc chiến thuật hết sức linh hoạt, nêu lên một khuôn khổ về sự liên quan giữa phòng ngự vận động và phòng ngự cố định.

Thời kỳ này, ta còn biết giành chủ động bằng những cuộc tập kích với binh lực nhỏ của quân chính quy và dàn binh để tấn công địch đang vận động và tiêu diệt những toán quân tiếp tế của địch. Việc phối hợp khéo léo giữa rút lui của chủ lực ở một tuyến và tấn công của du kích ở ngoại tuyến cũng là một đặc điểm nổi bật về nghệ thuật giành chủ động chiến thuật trong bị động chiến lược.

Nguyên tắc tập trung và tiết kiệm binh lực, nguyên tắc giành chủ động và ưu thế về chiến thuật còn thể hiện một cách rõ ràng, đầy đủ hơn nữa trong những trận chiến đấu ở giai đoạn phản công.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:51:36 PM »

Phản công chiến lược như trong phần nghiên cứu về chiến lược đã nêu lên là giành chủ động cục bộ về chiến lược. Nhưng muốn giành được chủ động cục bộ về chiến lược, vấn đề nổi lên hàng đầu là phải giành được ưu thế và chủ động về mặt chiến thuật.

Thật vậy nếu chiến thuật vận dụng sai, trận chiến đấu nhất định không thể thắng và như thế không thể thực hiện được việc giành chủ động cục bộ về chiến lược. Trong trận tiêu diệt quân của Toa Đô từ Thanh-hóa ra Bắc để bắt liên lạc với quân chủ lực của Thoát Hoan, Trần quốc Tuấn đã không dùng chủ lực – đang chuẩn bị cho những cuộc phản công lớn hơn sau này – mà chỉ tập trung một bộ phận lực lượng đến mức ưu thế hơn địch (không phải ưu thế tuyệt đối về chiến thuật) từ ba ngả tấn công quân địch và đã chiến thắng vẻ vang ở Hàm-tử.

Một cách giải quyết khác, trong trận tấn công tiếp sau khi quân ta quyết định tiêu diệt liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi đang định mở một con đường máu để cố đem gần 10 vạn quân về tập trung với đại quân của Thoát Hoan (úc này Thoát Hoan đã rút khỏi Thăng-long lên đóng tại Bắc-ninh), Trần quốc Tuấn đã phân tích tình hình một cách cụ thể tỉ mỉ và hạ quyết tâm hết sức chính xác như sau: Thoát Hoan tuy đã rút khỏi Thăng-long nhưng chủ lực của hắn còn mạnh nếu đem chủ lực ta tấn công vào chủ lực địch thì thật là mạo hiểm, thắng không chắc mà bại thì khá rõ ràng; nhưng nếu lại chỉ để một bộ phận lực lượng dù đã lớn đảm nhiệm việc chiến đấu với liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi cũng không thể thắng nổi. Với lực lượng 10 vạn quân, Toa Đô lại có kinh nghiệm thất bại ở Hàm-tử quan, chắc chắn việc tổ chức hành binh là chu đáo có phòng bị đầy dủ. Nếu để địch đi thoát đại bổ phận binh lực về tập trung được với chủ lực của Thoát Hoan thì chúng đã mạnh lại càng mạnh hơn và như thế sau này khả năng tiêu diệt chủ lực của địch khó trở thành hiện thực.

Cho nên, Trần quốc Tuấn đã vận dụng nguyên tắc mà binh thư yếu lược đã ghi: “Dĩ đoản chế trường, dĩ trường diệt đoán” và thực hiện: dùng một bộ phận lực lượng kiềm chế chủ lực địch (quân Thoát Hoan), dùng chủ lực tinh nhuệ do Trần quốc Tuấn trực tiếp chỉ huy tập trung ưu thế tiêu diệt gọn một bộ phận lực lượng rất quan trọng của địch.

Trận chiến đấu tao ngộ ở Tây-kết, kết thúc bằng một cuộc truy kích liên quân Toa Đô – Ô Mã Nhi rất mãnh liệt để đem lại một chiến thắng lớn lao và hết sức vẻ vang: giết chết mấy vạn, bắt sống 5 vạn, tiêu diệt hoàn toàn một lộ quân của địch; kết quả làm thay đổi hẳn tương quan lực lượng vô cùng có lớn cho quân ta. Thật là tài tình.

Trong chiến tranh lần thứ ba, việc vận dụng nguyên tắc chiến thuật như trên cũng rất tài tình khéo léo. Đoàn thuyền lương của Trương văn Hổ tuy là một mục tiêu chiến lược, nhưng đứng về mặt chiến thuật bản thân nó đã là một đối tượng tác chiến yếu, chúng lại chỉ đơn thuần dùng thủy binh hộ tống, dùng một đội hình dễ bị chia cắt, khiến cho quân chiến đấu tách rời đoàn thuyền lương. Để tiêu diệt đoàn thuyền lương này, Trần quốc Tuấn chỉ dùng đạo quân của Trần nhật Duật cũng đã đủ sức hoàn thành nhiệm vụ một cách thắng lợi.

Qua đây, có thể đặt một câu hỏi: Nếu tập trung binh lực lớn hơn nữa, tiêu diệt luôn thủy binh của Ô Mã Nhi đi hộ tống có tốt hơn không? Chúng tôi nghĩ rằng, quân của Ô Mã Nhi đi hộ tống không phải là một đạo quân lớn, nó chỉ có tác dụng chiến thuật là yểm hộ. Chính đoàn thuyền lương mới quan trọng vì là một mục tiêu chiến lược lại dễ đánh, nhưng đó chưa phải là vấn đề chủ yếu. Vấn đề chủ yếu đây phải nói là ý định của Trần quốc Tuấn muốn dành chủ lực để quyết chiến với những tập đoàn lớn hơn của địch trong những trận tiếp sau và tình hình tiếp sau đó đã xảy ra đúng như ý định.

Nói về trận Bạch-đằng, có tài liệu cho rằng “đại quân của Trần quốc Tuấn vận động đến kịp” theo ý nghĩa của một cách xử trí tình huống ngoài kế hoạch đã định, hoặc nếu có trong kế hoạch cũng chỉ là một nhiệm vụ giao cho chủ lực theo kiểu chung chung, rồi sẽ “tùy tình hình” mà quyết định.

Chúng tôi cho rằng chủ lực của Trần quốc Tuấn vận động đến là theo một kế hoạch hợp đồng chặt chẽ đã định từ trước, nhiệm vụ giao cho nó được rõ ràng, cụ thể và dứt khoát; cho nên, trong trận này, khi cần tiêu diệt toàn bộ thủy binh của địch trên đường rút lui về nước, Trần quốc Tuấn đã tung chủ lực tinh nhuệ của mình ra để đạt đến tập trung binh lực ưu thế tuyệt đối trong chiến đấu, do đó mà hễ đánh là thắng, đã tấn công là tiêu diệt.

Trong chiến tranh lần thứ hai, khi tấn công tiêu diệt chủ lực của Thoát Hoan, Trần quốc Tuấn cũng đã vận dụng thật vững vàng và linh hoạt nguyên tắc chủ động và ưu thế này. Địch đang vận động chính là thời cơ thuận tiện nhất để ta đánh tiêu diệt.

Đánh địch đang vận động là phương pháp tốt nhất để tiêu diệt một đạo quân chủ lực còn khá mạnh về số lượng. So với chủ lực của Thoát Hoan, chủ lực của Trần quốc Tuấn chưa chiếm ưu thế, nhưng vấn đề là ở chỗ chọn đúng trọng điểm công kích (hướng chủ yếu), tại đó sẽ tập trung ưu thế tuyệt đối về binh lực để đánh chia cắt địch ra tiêu diệt từng bộ phận một.

Trong trận này, ta thấy Trần quốc Tuấn đã không tập trung chủ lực đánh vào hậu vệ của địch, vì làm như vậy là tự mình kìm hãm mình, chỉ đánh với một bộ phận nhỏ của địch. Tất nhiên khả năng rất có thể tiêu diệt được hậu vệ của địch, nhưng đánh theo kiểu ấy thì chủ lực của địch chạy thoát và tranh thủ được thời gian rút về biên giới mất; cho nên Trần quốc Tuấn chỉ dùng một bộ phận gần 2 vạn quân đánh bọn hậu vệ do Lưu Thế Anh chỉ huy, còn củ lực cho gấp rút hành quân đánh vào sườn chủ lực địch đang vận động chia cắt đội hình của chúng rồi liên tục truy kích, phối hợp với các đạo quân của Phạm ngũ Lão, Hưng Vũ Vương, nhờ đó đã đánh tan được mấy chục vạn quân còn lại của Thoát Hoan.

Chiến thắng kỳ diệu này đã kết thúc cuộc chiến tranh lần thứ hai, đồng thời là một khuôn mẫu về việc vận dụng chiến thuật một cách tài tình của quân đội ta.

Đánh địch yếu trước mạnh sau, dùng binh lực yếu kiềm chế binh lực mạnh, dùng binh lực mạnh tiêu diệt từng bộ phận yếu của địch và bất kỳ trong trường hợp nào cũng giành ưu thế và chủ động, đó là những bài học lớn về nghệ thuật vận dụng nguyên tắc chiến thuật của Trần quốc Tuấn và quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:52:15 PM »

2. Sử dụng khéo léo binh chủng, mật thiết hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, quân chính quy và quân du kích, phát huy chỗ mạnh của ta, khoét sâu chỗ yếu của địch

Vấn đề sử dụng binh chủng trước hết cần phải căn cứ vào tính năng chiến thuật và kỹ thuật của các loại binh khí kỹ thuật, vào trình độ sử dụng những thứ đó của những chiến binh mà trao nhiệm vụ cho mỗi binh chủng trong các hình thức chiến đấu khác nhau cũng như trong mỗi giai đoạn, mỗi tình huống của chiến đấu.

Mỗi binh chủng đều có ưu điểm và nhược điểm riêng biệt cho nên khi chiến đấu, một binh chủng nào đó được trao nhiệm vụ chủ yếu, vẫn cần phải có sự hợp đồng của các binh chủng khác, ưu điểm của binh chủng này có thể giúp đỡ khắc phục nhược điểm của binh chủng khác, cho nên chỉ có biết khéo léo sử dụng các binh chủng, tổ chức chu đáo sự hợp đồng giữa các binh chủng mới bảo đảm giành được thắng lợi trong chiến đấu. Nguyên tắc đó cũng đã được thể hiện rõ ràng trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.

Xâm lược nước ta, quân Nguyên dùng kỵ binh là chủ yếu, riêng trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, có thể nói rằng quân Nguyên chỉ dùng đơn thuần có kỵ binh. Như ta đã biết, kỵ binh có ưu điểm nổi bật là sức vận động và sức cơ động nahnh chóng, nhưng cũng có nhược điểm là khó lợi dụng địa hình địa vật để tự che chở, một khi mà ngựa – phương tiện vận động và cơ động – bị thương vong, thì kỵ binh lại trở thành bộ binh, sức chiến đấu thông thường lại kém hơn bộ binh.

Kỵ binh của quân Nguyên thời đó là thiện chiến nhất, để khắc phục nhược điểm của mình, kỵ binh của quân Nguyên đã dùng số lượng ưu thế để áp đảo đối phương và áp dụng đội hình chiến đấu hàng ngang rộng lớn, thành nhiều tuyến, xung phong liên tục vào trận địa phòng ngự của đối phương.

Trên các địa hình rộng rãi và khô ráo, kỵ binh của chúng quả là vô cùng lợi hại và sở dĩ họ đề ra phương pháp tác chiến là tấn công ồ ạt, chớp nhoáng đánh vào chiều sâu khá lớn, chính là dựa vào những ưu điểm nói trên. Trái lại, khi phòng ngự, kỵ binh của chúng rất kém.

Quân đội nhà Trần chủ yếu do quân bộ hợp thành, nếu dùng bộ binh đơn độc chống với kỵ binh của quân Nguyên dày kinh nghiệm thì rõ ràng quân đội ta không thể hoàn thành được tốt nhiệm vụ trong tấn công cũng như trong phòng ngự. Nhưng quân đội ta lại có truyền thống về thủy chiến; từ Ngô Quyền đến Lý Thường Kiệt, quân thủy của ta đã từng chiến thắng những đội hùng binh của phong kiến phương Bắc.

Sau này, trong các cuộc chiến trnah lần thứ hai và thứ ba, quân Nguyên cũng đã thấy được nhược điểm của mình cho nên cũng sử dụng thêm thủy binh. So với ta, thủy binh của chúng còn kém khá xa, thậm chí còn kém cả thủy binh của phong kiến Trung-quốc thời Nam Hán và nhà Tống nữa.

Để chiến thắng một quân đội có ưu thế về số lượng, gồm chủ yếu là kỵ binh chính quy có trình độ chiến thuật cao, kỹ thuật giỏi, thông thạo về tấn công và tấn công chớp nhoáng, giỏi tấn công chính diện lẫn bao vây vu hồi và có khả năng cơ động lớn như quân Nguyên, nếu không nhìn thật thấu suốt, đánh giá dúng đắn chỗ yếu của địch để khoét sâu thêm, biến mạnh thành yếu cũng như dựa chắc và phát huy chỗ mạnh của ta thì khó lòng có thể thắng được địch.

Trong cuộc chiến tranh lần thứ nhất, Trần quốc Tuấn đã dùng tượng binh để chiến đấu với kỵ binh địch. Voi nặng nề, tính cơ động rất bị hạn chế; nếu như trong tấn công, voi là một phương tiện đột kích đáng kể - trong trường hợp có số lượng đúng mức – thì trong phòng ngự, voi không thể là phương tiện có hiện quả để chống lại sức đột kích của hàng ngàn, hàng vạn quân kỵ binh có sức cơ động lớn hơn được. Các cuộc chiến đấu đầu tiên ở biên giới đã bị thất bại, một trong những nguyên nhân thất bại là do sai lầm trong việc sử dụng binh chủng này.

Nhưng sau đó, Trần quốc Tuấn đã nhanh chóng thấy rõ sai lầm nên trong trận phòng ngự trên đoạn sông Phù-lỗ đã sử dụng bộ binh và kỵ binh hợp đồng chặt chẽ với nhau để ngăn chặn địch và đánh phản xung phòng. Đồng thời cũng phát hiện thấy ưu điểm của kỵ binh địch có tính cơ động cao nhưng có nhược điểm là khi tấn công ở rừng núi và trên địa hình hẹp, có sông ngòi chia cắt, không thể sử dụng được đầy đủ số lượng ưu thế nên đã phải chuyển đội hình từ hàng ngang sang hàng dọc.

Trong hai cuộc chiến tranh sau này, Trần quốc Tuấn đã sử dụng các binh chủng rất khéo léo, biết triệt để lợi dụng địa hình để hạn chế sức cơ động của địch, nhanh chóng thay đổi đội hình và phương pháp tác chiến, cho nên đã thắng nhiều trận lớn.

Để hạn chế sức cơ động và do đó khắc phục được chỗ mạnh căn bản của địch làm cho khả năng chiến đấu của chúng bị giảm sút, Trần quốc Tuấn đã không áp dụng đội hình hàng ngang theo chính diện để phòng ngự có tính chất trận địa, không dùng tượng binh làm lực lượng chính để chiến đấu ngăn chặn những đội hình tấn công hàng dọc có chiều sâu lớn của kỵ binh địch, mà đã áp dụng một kiểu đội hình rất linh hoạt, nghĩa là bố trí một bộ phận kỵ binh tác chiến trên chính diện dử địch đến nơi địa hình có lợi đã có bộ binh và kỵ binh phối hợp chặt chẽ, bố trí theo đội hình tẩn binh của quân mai phục, đánh vào sườn kỵ binh địch.

Phương pháp dùng kỵ binh tiến hành tác chiến trì hoãn trên chính diện, kết hợp với dùng kỵ binh mai phục đánh vào sườn đã đem lại nhiều thắng lợi.

Trong bố trí chiến đấu cũng có nhiều sáng tạo, thí dụ việc đặt “dư binh” (tức đội dự bị) và “dư địa” (tức trận địa dự bị) để tùy tình hình mà tăng cường cho lực lượng ngăn chặn hoặc lực lượng mai phục hay lực lượng phản xung phong.

Ở rừng núi, việc sử dụng bộ binh và kỵ binh một cách khéo léo và mật thiết như thế nào đã gây cho quân Nguyên bị nhiều thiệt hại, tránh cho quân ta nguy cơ bị tiêu diệt, đặc biệt là trong những trận rút lui tránh quyết chiến với địch.

Khi địch đã về trung châu và đồng bằng, kỵ binh địch khó cơ động vì địa hình lầy lội, sông ngòi chia cắt, thì việc hợp đồng mật thiết giữa quân bộ và quân thủy lại là biện pháp hết sức quan trọng để chiến thắng địch.

Trong trận đánh vào Đông Bộ-đầu, trận tấn công đầu tiên của ta vào một tập đoàn mạnh của địch đã chuyển sang phòng ngự trong trú quân, ta đã dùng tượng binh làm lực lượng đột kích, dùng kỵ binh và bộ binh làm lực lượng xung kích, đồng thời có quy định quân bộ và quân thủy đảm nhiệm hai hướng tấn công khác nhau nhưng có hợp đồng chặt chẽ bao vây tấn công địch.

Trong những trận đánh lớn ở đồng bằng sau này, chúng ta đều nhận thấy rằng việc hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy rất khéo léo và chặt chẽ; vai trò, tác dụng của thủy binh rất lớn lao, khác hẳn với quân Nguyên đặt địa vị của thủy binh vào hàng thứ yếu.

Nguyên tắc hợp đồng chặt chẽ giữa quân bộ và quân thủy áp dụng trong trận Bạch-đằng đã giành được thắng lợi vô cùng rực rỡ. Tuy vậy khi nghiên cứu trận này, có thể đặt một câu hỏi: có phải đó là một trận thủy chiến, ngĩa là vai trò quyết định trận đánh, tiêu diệt thủy binh địch có phải là thủy binh ta không? Chúng tôi khẳng định vai trò của thủy binh ta rất lớn lao, thể hiện ở việc lừa địch, dụ chúng vào trận địa phục kích và đã tiêu diệt được một bộ phận thủy binh địch; còn vai trò chủ yếu quyết định trong việc tiêu diệt toàn bộ đội thủy binh địch do Ô Mã Nhi chỉ huy là do bộ binh phục kích ở hai bên bờ và nhất là kỵ binh chủ lực của Trần quốc Tuấn từ phía sau vận động đến đảm nhiệm.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:53:14 PM »

3. Nhanh chóng phân tán, nhanh chóng tập trung

Trần quốc Tuấn rất coi trọng tính cơ động và tính linh hoạt của quân đội. Nguyên tắc chiến thuật đề ra là: “họp lại thành chính, phân ra thành kỳ”, nghĩa là phải biết tập trung nhanh, phân tán chóng, thiên biến vạn hóa, khi tập trung lại thì đột kích địch mạnh mẽ, khi phân tán thì tập kích tiêu hao địch.

Việc điều động binh lực của Trần quốc Tuấn và các tướng lĩnh khác được tiến hành rất nhanh chóng, lúc thì phân tán chiếm giữ những nơi xung yếu để ngăn chặn địch, khi đã rút khỏi những nơi đó thì lại nhanh chóng tập trung để chuẩn bị cho những cuộc chiến đấu lớn, không để lỡ mất thời cơ.

Quân đội ta lúc đó đã được luyện tập chu đáo, quân thủy và quân bộ đều thông thạo cơ động, đánh đêm, các chiến thuyền thì thông thạo di chuyển trên những con sông lớn, nhỏ thuộc đồng bằng Bắc-bộ, do đó tính cơ động của quân ta được nâng cao, tạo điều kiện cho việc phân tán nhanh chóng thành những đòn tập trung đột kích của địch, cũng như thực hiện việc tập trung nhanh chóng để tấn công tiêu diệt địch.

Khi tấn công, quân ta đã áp dụng hình thức “phân lộ hợp kích”. Trong trận Hàm-tử quan, ba cánh quân của ta từ ba ngã khác nhau tiến vào chiếm lĩnh trận địa phục kích. Trong trận Bạch-đằng cũng vậy, việc áp dụng hình thức “phân lộ hợp kích” còn được coi là một trong những biện pháp quan trọng để thực hiện phương châm tập trung binh lực giành ưu thế hơn địch. Khi truy kích, quân ta cũng thường từ các ngả khác nhau vận động đến.

Khi phòng ngự, rút lui hay phá vây, quân ta cũng biết nhanh chóng phân tán, buộc địch phải phân tán theo; thông thường khi rút lui quân ta để một bộ phận đánh ngăn chặn, còn đại bộ phận nhanh chóng chia ra thành nhiều đường để rút, tả quân sang trái, hữu quân sang phải, kỵ binh theo đường bộ và bộ binh thường rút theo với thủy binh.

Để phân tán nhanh, tập trung chóng, việc lựa chọn những vị trí cơ động cũng rất được chú ý: Vạn-kiếp chẳng những là một vị trí chiến lược cơ động, mà còn là một vị trí chiến thuật có địa hình hết sức thuận lợi để tác chiến hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, cho nên quân ta đã nhiều lần lấy Vạn-kiếp làm nơi xung yếu để phòng ngự hoặc làm bàn đạp để tiếp công; ngoài ra Thiên- trường, Tây-kết cũng là những vị trí rất cơ động.

4. Phát huy nhân tố bất ngờ

Trong những trận chiến đấu của quân ta, yếu tố bất ngờ trong chiến thuật đã được phát huy cao độ. Chủ động rút lui, tránh quyết chiến với chủ lực địch, đã là những sự việc rất bất ngờ đối với quân Nguyên; đặc biệt trận ta rút khỏi Vạn-kiếp để tránh bị bao vây là một thất bại chua cay về chiến thuật của Thoát Hoan và Ô Mã Nhi.

Thật vậy, trong khi chúng ta tập trung quân ở Vạn-kiếp, chuẩn bị chiến đấu với đại quân của Thoát Hoan, chúng đã tổ chức ngay một cánh quân vu hồi lớn, hí hửng tưởng rằng với tốc độ tiến quân “thần tốc” trên một trục đường tiếp cận kín đáo, có địa hình thuận tiện cho kỵ binh, sẽ bất thình lình ôm gọn được quân ta trong một cái túi, rồi bất ngờ đánh một đòn mạnh để tiêu diệt chủ lực ta.

Bao vây lớn để rồi đánh vu hồi một nhóm quân đội ít ỏi mà không tiêu diệt được, đối với địch, thật là một đòn quá sức bất ngờ và là một thất bại lớn về chiến thuật; đối với ta cố nhiên đó là một thắng lợi lớn về chiến thuật. Binh thư yếu lược của ta rất chú trọng đến nhân tố bất ngờ; trong mưu mẹo lừa địch có nêu lên rằng: “phải hư hư thực thực, phải khéo che chỗ yếu của ta, phát huy sở trường của ta, phải làm cho địch sinh ra kiêu căng, phải thiên biến vạn hóa, đánh phải có chính có kỳ (nghĩa là có hướng chính, hướng phụ), bên phải đánh bên trái hưởng ứng, bên phải nguy bên trái cứu”… Ngoài những hành động phân tán nhanh, tập trung giỏi nói ở phần trên có thể gây nên bất ngờ với địch, việc tận dụng đêm tối để đánh, việc khéo léo chhe giấu lực lượng ta, khiến cho ta ít mà địch tưởng nhiều, làm chúng rất khó phán đoán, dễ hoang mang, đối phó có thể tạo nên bất ngờ, do đó quân ta đã tạo được nhiều thời cơ thuận lợi để đánh thắng địch.

Trong trận Tây-kết lần thứ nhất, Toa Đô bị một bộ phận lực lượng ta tiêu diệt; trận Tây-kết lần thứ hai, chúng cho rằng với lực lượng còn mạnh của Ô Mã Nhi trong thình huống mà chủ lực của ta đã phân tán ở xa thì liên quân của chúng có đủ sức đánh lại một cuộc tấn công mới của quân ta. Tất nhiên, sai lầm của địch trong trận này còn thể hiện ở chỗ không cho quân dự bị ra tiếp viện ứng cứu cho quân của Ô Mã Nhi, để mặc cho liên quân bị ta tiêu diệt. Ô Mã Nhi và Toa Đô thật không ngờ ta đã có thể tập trung nhanh chóng được gần toàn bộ quân chủ lực vận động đến tiêu diệt chúng; cho nên “bất ngờ” trong trận này là một trong những nguyên nhân thắng lợi của quân ta.

Ngoài ra, việc sử dụng các binh chủng, việc phối hợp, hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, việc kéo quân địch buộc phải chiến đấu với quân ta trên những nơi địa hình bất lợi cho chúng, đều đã tạo nên thế bất ngờ đối với địch.

Cố nhiên, bên quân Nguyên cũng chú ý đến việc tạo nên bất ngờ để gây khó khăn, trở ngại cho ta. Vì vậy để tránh bị tổn thất, việc hành quân, trú quân, chuẩn bị tác chiến với quân ta đều được tổ chức chu đáo; khoảng cách giữa tiền quân, tả quân, trung quân, hữu quân, hậu quân đều được quy định rõ ràng, có thể dựa lẫn vào nhau và tiếp ứng cho nhau.

Ngoài ra còn tổ chức những đội du binh từ 20 đến 50 người đi ngựa, những tổ trinh sát từ 3 đến 5 người sục sạo xa để do thám tình hình nhằm che chở bảo đảm cho các cánh quân.

Giỏi tạo thế bất ngờ là một đặc điểm của Trần quốc Tuấn và quân đội ta, một biểu hiện của nghệ thuật quân sự cao, cho nên dù về toàn cục ta yếu thế và bị động, nhưng về cục bộ và trong từng trận chiến đấu, ta vẫn giành được ưu thế và chủ động.

Đến đây, chúng ta đã nghiên cứu qua một số bài học chủ yếu về chiến lược – chiến thuật, những bài học về thành công trong việc vận dụng những nguyên tắc chiến thuật của quân đội, nhưng với khả năng sẵn có chỉ thu tóm lại nêu lên một số mà chúng tôi cho là chủ yếu.

Đạt được trình độ cao và giỏi về vận dụng chiến lược – chiến thuật, tất nhiên có nhiều nguyên nhân; nhưng ở đây nổi bật nhất là do trình độ rèn luyện của quân đội và các cấp chỉ huy thời Trần, trong đó vai trò của Trần quốc Tuấn rất vĩ đại. Bộ binh thư yếu lược do ông soạn ra đóng một công lao quan trọng trong việc giáo dục chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật cho tướng sĩ của quân đội ta thời ấy. Trần quốc Tuấn không những có công trong việc rèn luyện quân đội có được tinh thần cao, kỹ thuật giỏi trong chiến đấu, mà từ bản thân mình là tổng tư lệnh xuống đến chỉ huy các cấp, các đơn vị, tất cả đều có trình độ nghệ thuật quân sự thành thạo, vận dụng chiến lược – chiến thuật cơ trí linh hoạt; do đó đã chỉ đạo chiến tranh, chiến lược và chỉ huy chiến đấu một cách rất tài tình, làm cho quân đội ta chuyển biến từ yếu đến mạnh, đủ sức tiêu diệt hàng chục vạn quân Nguyên, đưa cuộc kháng chiến lâu dài và cực kỳ gian khổ của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn và hết sức vẻ vang.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:54:19 PM »

CHƯƠNG HAI

CHIẾN LƯỢC - CHIẾN THUẬT NGHĨA QUÂN LAM-SƠN
TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN LÂU DÀI CHỐNG QUÂN MINH

Sau 5 thế kỷ (từ 939 đến năm 1407), hồi phục và giữ vững được nền độc lập của dân tộc mình, nước Việt-nam ta một lần nữa lại rơi vào ách thống trị của bọn phong kiến Trung-quốc.

Nhà Minh đã từ lâu lăm le muốn nuốt trôi nước ta, thủ tiêu nền độc lập tự chủ của dân tộc ta, cho nên tích cực chuẩn bị mọi mặt, chỉ chờ khi có thời cơ thuận tiện là xuất quân xâm lược.

Nhân lúc tình hình nội bộ nước ta đang có những biến động to lớn, bọn phong kiến nhà Minh nấp sau chiêu bài: “phù Trần diệt Hồ” đã cho hàng chục vạn quân vượt biên giới đánh vào nước ta. Cuộc kháng chiến của họ Hồ bị thất bại nhanh chóng, ách thống trị tàn bạo của nhà Minh đặt lên đầu dân tộc ta và từ đấy nhân dân Việt-nam ta lại phải sống những ngày vô cùng đen tối và thê thảm.

Nhưng cũng trong những ngày đau thương ấy, nhân dân ta đã vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến hành một cuộc đấu tranh kiên trì, dũng cảm, biểu lộ một ý chí bất khuất và lòng tin tưởng rất mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của một dân tộc đã trưởng thành. Hai mươi năm thống trị (1407-1427) của nhà Minh cũng là 20 năm kháng chiến lâu dài gian khổ nhưng rất oanh liệt của dân tộc ta; trong cả nước một phong trào đấu tranh rộng lớn, anh dũng, kiên trì của nhân dân mà chủ lực quân là nông dân đã nổi lên và lan ra ngay từ khi quân xâm lược mới bắt đầu đặt chân lên đất nước ta.

Mặc dù những cuộc khởi nghĩa nổ ra đều bị địch dùng những thủ đoạn dã man nhất để đàn áp, dìm nó trong bể máu, thế nhưng cuộc khởi nghĩa này thất bại, cuộc khởi nghĩa khác lại nổ ra và đặc biệt năm 1418 (ngày 2 tháng giêng năm Mậu Tuất), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở Lam-sơn (huyện Thọ-xuân, Thanh-hóa), động viên đông đảo nhân dân cả nước tham gia kháng chiến, đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới, một giai đoạn đấu tranh lâu dài, gian khổ nhưng tất thắng.

Khi bắt đầu khởi nghĩa, lực lượng chiến đấu của nghĩa quân vẻn vẹn chỉ mới có 35 cán bộ quân sự, 200 thiết kỵ, 200 nghĩa sĩ, 200 dũng sĩ và 14 thớt voi, lẩn lút trong một căn cứ địa hẹp thuộc miền thượng du Thanh-hóa, nhưng nhờ được sự ủng hộ rộng rãi và nhiệt tình của các tầng lớp nhân dân yêu nước, nhờ tinh thần chiến đấu dũng cảm với sự lãnh đạo sáng suốt và kiên quyết cùng với đường lối chỉ đạo đúng đắn về chiến lược – chiến thuật, cho nên sau 10 năm chiến đấu gian khổ, lực lượng nghĩa quân đã trưởng thành mau chóng, lần lượt giải phóng những vùng chiến lược lớn bao gồm Thanh-hóa, Nghệ-an, Tân-bình, Thuận-hóa (trừ một số thành cô lập) làm căn cứ hậu phương vững chắc cho cuộc phản công. Cuối cùng, với 35 vạn quân chính quy đã tiến lên giải phóng toàn bộ đất nước.

A – ĐỐI TƯỢNG TÁC CHIẾN CỦA NGHĨA QUÂN LAM-SƠN

Đối tượng tác chiến của nghĩa quân là quân đội của triều đại phong kiến nhà Minh thuộc Trung-quốc. Nhà Minh đã lợi dụng sự suy yếu của nhà Nguyên và lòng căm thù phẫn nộ của nhân dân Trung-quốc đối với sự áp bức bóc lột nặng nề, tàn bạo của bọn quý tộc Mông-cổ, đã nổi dậy diệt quân Nguyên. Sau khi chiến thắng quân Nguyên, nhà Minh đã áp dụng chính sách vũ lực để xâm lược các nước nhỏ yếu. Không những họ chuẩn bị xâm lược nước ta mà còn dòm ngó cả các nước thuộc quần đảo Nam-dương, Ấn-độ và thậm chí cả châu Phi nữa.

Sau khi Hồ quý Ly lên ngôi vua, quan hệ bang giao giữa nước ta với nhà Minh ngày càng trở nên rất căng thẳng. Nhà Minh vin hết cớ này đến cớ khác để mang quân xâm lược nước ta và đến năm 1406 cuộc xâm lược đại quy mô bắt đầu.

Quân đội nhà Minh sang xâm lược nước ta thuộc những lộ quân tinh nhuệ, được điều động từ các tỉnh Giang-tô, Quý-châu, Lưỡng-quảng, Vân-nam. Đó là một quân đội dày kinh nghiệm tác chiến, đã từng chiến thắng quân Nguyên, chẳng những giỏi về lực chiến mà còn giỏi cả về thủy chiến.

Quân đội nhà Minh lúc đó đang mạnh. Cũng như các quân đội xâm lược khác, chiến lược của họ áp dụng là dùng ưu thế tuyệt đối tấn công tác chiến tốc quyết hòng nhanh chóng đánh tan quân đội ta, thủ tiêu nền độc lập tự chủ, lập nên một chính quyền phục thuộc vào phương Bắc.

Chiến thuật mà họ thường áp dụng là tấn công ồ ạt trên nhiều hướng có hợp đồng chặt chẽ giữa bộ binh, kỵ binh và thủy binh, họ giỏi cả về tấn công lẫn phòng ngự. Về tấn công, sở trường nhất là công thành, ngoài ra còn giỏi về tấn công vào các tuyến phòng ngự có tính chất trận địa nữa. Những trận chiến đấu chọc thủng nhanh chóng các phòng tuyến và hạ các thành lũy kiên cố của nhà Hồ chứng tỏ họ có một trình độ chiến thuật khá cao, họ có nhiều kinh nghiệm thủ thành, biết kết hợp khéo léo giữa quyết chiến giữ thành với tập kích thọc sâu vào đội hình đội phương.

Các tướng lĩnh quân Minh còn rất thạo trong việc nắm sơ hở của đối phương, giỏi phao tin nghi binh đánh những đòn bất ngờ làm cho đối phương bị thiệt hại nặng nề.

Sau khi chiến thắng quân nhà Hồ, quân nhà Minh lại có thêm nhiều kinh nghiệm để chiến đấu với một quân đội thông thạo về thủy chiến lẫn lục chiến như quân đội ta, cũng như trong việc chống lại các đội tượng binh hùng mạnh của ta; so với quân Nguyên, quân Minh thông thạo địa hình nước ta hơn, cho nên có thể nói bộ binh và thủy binh của họ hành động trên địa hình đồng bằng của ta có nhiều sông ngòi giỏi hơn kỵ binh của quân Nguyên.

Dựa vào ưu thế về số lượng và chất lượng cao của quân đội chính quy, tài năng của các tướng lĩnh dày kinh nghiệm và do sai lầm về chỉ đạo chiến lược – chiến thuật của Hồ quý Ly, chỉ sau gần 9 tháng xâm lược, quân Minh đã chiếm đóng xong toàn bộ nước ta, đánh tan quân đội nhà Hồ, biến nước ta thành thuộc địa của phong kiến nhà Minh. Tuy vậy cuộc chiến đấu của nhân dân ta vẫn tiếp diễn nhằm chống lại quân chiếm đóng, cho nên mãi đến đầu năm 1415 mới gọi là quân Minh thực sự chiếm đóng toàn bộ đất nước ta.

Sau khi đã hoàn thành giai đoạn hành động quân sự, nhà Minh tuy đã rút địa quân về nước, nhưng vẫn luôn luôn sẵn sàng tăng cường viện binh sang để cùng với quân chiếm đóng chống lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

Quân chiếm đóng chia ra thành các vệ, sở, xây dựng một hệ thống thành lũy kiên cố ở khắp mọi nơi. Mỗi vệ có chừng 5.000 quân, mỗi thiên hộ sở có 1.120 quân và mỗi bách hộ sở có 120 quân. Tổng cộng số thành lũy có đến 39 cái. Trên đất nước ta hiện nay, một số thành lũy đó vẫn còn vết tích. Tất cả quân chiếm đóng đều thống thuộc vào đô ty đóng ở thành Đông-quan (tức Hà-nội).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:54:58 PM »

B – TỔ CHỨC QUÂN ĐỘI CỦA LÊ LỢI

Từ khi bắt đầu cuộc khởi nghĩa đến khi kháng chiến thắng lợi, quân đội của Lê Lợi không ngừng được xây dựng, củng cố và phát triển về mọi mặt.

Về tổ chức, quân khởi nghĩa chia thành các quân: trung, tiền, hậu, tả, hữu; dưới quân có 14 vệ; dưới vệ có các đơn vị gọi là đội, ngũ. Sau này, khi khởi nghĩa đã thắng lợi, trên cơ sở tổ chức của thời kỳ kháng chiến, Lê Lợi đã cải tổ lại quân đội, tổ chức thành các quân ngự tiền đóng ở kinh thành, có nhiệm vụ bảo vệ kinh đô và cung điện nhà vua; các quân đạo có nhiệm vụ chiếm đóng và phòng thủ các địa phương.

Mỗi quân có hành quân tổng lĩnh chỉ huy; mỗi vệ đều có các cấp tư lệnh gọi là thượng tướng quân, đại tướng quân và tướng quân, đô chỉ huy sứ và hỏa đầu, hỏa thủ chỉ huy vệ; đội và ngũ có chánh phó đội trưởng và chánh phó ngũ trưởng chỉ huy. Lê Lợi là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa và là tổng tư lệnh của nghĩa quân. Giúp việc cho Lê Lợi có bộ tham mưu của nghĩa quân gồm những nhà chiến lược – chiến thuật giài giỏi như vị anh hùng Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, nhà quân sự đồng thời là một nhà chiến lược nhìn xa thấy rộng; các tướng lê Liễu, Nguyễn Xí, Lê Lai, Lê Thạch, Trịnh Khả… đều là những nhà chỉ huy có tài năng, dũng cảm, tích cực phấn đấu và sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp của nhân dân.

Trong thời kỳ khởi nghĩa, tuyển binh theo chế độ tình nguyện, nghĩa quân đánh đến đâu, nhân dân nô nức ủng hộ và gia nhập hàng ngũ của nghĩa quân đến đó; có khi trong một thời gian ngắn, hàng vạn thanh niên nông dân khỏe mạnh tình nguyện xin vào quân đội, nhờ đó lực lượng của nghĩa quân lớn mạnh mau chóng.

Về mặt binh chủng, dần dần đã xây dựng thành 4 binh chủng chủ yếu: thủy binh, bộ binh, kỵ binh, tượng binh; pháo binh tuy chưa hình thành một binh chủng thật rõ rệ nhưng Lê Lợi rất chú trọng đến việc sử dụng pháo, cho nên trong biên chế tổ chức các binh chủng nói trên đều có những đội súng lửa chuyên môn, làm cơ sở để tổ chức ra những đơn vị pháo binh sau này. Trang bị gồm: cung tên, giáo mác, gươm đao và hỏa đòng. Lê Lợi rất chú trọng đến việc trang bị các thứ vũ khí và phương tiện để công thành và các phương tiện bảo đảm chỉ huy như: đài quan sát, phương tiện thông tin liên lạc bằng tín hiệu, ngựa, và thuyền.

Về mặt luyện quân, đặc điểm là vừa tác chiến vừa luyện quân, lấy những kinh nghiêm trong thực tế chiến đấu huấn luyện nghĩa quân. Trong những lúc tạm thời hòa hoãn với địch, Lê Lợi thường tranh thủ thời gian huấn luyện kỹ thuật, giáo dục tinh thần chiến đấu và kỹ thuật cho toàn quân. Tháng 4 năm 1427, Lê Lợi đã tổ chức duyệt binh ở Vĩnh-đông (huyện Kim-động, Hưng-yên), rồi tập thủy chiến. Chính nhờ có những kinh nghiệm chiến đấu của thời kỳ kháng chiến nên đã xây dựng được những bản quân lệnh sau này như: 31 điều quân lệnh về thủy chiến, 42 điều quân lệnh về bộ chiến, 32 điều quân lệnh về tượng trận và 27 điều quân lệnh về mã trận.

Kỷ luật của nghĩa quân rất nghiêm minh, đặc biệt tuyệt đối không xâm phạm đến tài sản của nhân dân, cho nên ở miền xuôi cũng như ở miền ngược, đâu đâu nghĩa quân cũng được nhân dân nhiệt liệt ủng hộ, hướng ứng, tiếp tế lương thực. Lần duyệt binh ở Vĩnh-động, viên chánh đốc Nguyễn Liên để đội ngũ lỏng lẻo, khí giới không nghiêm chỉnh, lập tức bị Lê Lợi hạ lệnh đem ra chém đầu để đề cao kỷ luật. Lê Lợi còn cho ban bố 10 điều quân pháp, sau định rõ hiệu lệnh trong chiến đấu, chú trọng đề cao tinh thần chiến đấu đồng đội; do đó sức mạnh của quân đội được nâng cao rõ rệt.

Nghĩa quân Lam-sơn là một quân đội có tính chất nhân dân được tổ chức chặt chẽ, có tinh thần chiến đấu và chịu đựng gian khổ rất cao, có trình độ kỹ thuật giỏi, có kỷ luật nghiêm minh, có những tướng lĩnh chỉ huy tài giỏi lại được toàn thể nhân dân nhiệt liệt ủng hộ, cho nên càng đánh càng mạnh và càng phát triển. Từ non 500 người ban đầu đến thời kỳ phản công lực lượng ấy đã lớn mạnh trở thành một quân đội chính quy có quân số đến 35 vạn người đủ sức tiêu diệt và bức hàng quân đội hùng mạnh của nhà Minh lúc đó.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:56:13 PM »

C – CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH

1. 1418-1422: Xây dựng căn cứ du kích – Thời kỳ vây quét và chống vây quét

Ngày 7 tháng 2 năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam-sơn lịch sử, kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên giết giặc cứu nước.

Cuộc khởi nghĩa vừa được phát động thì chỉ một tuần sau, ngày 13 tháng 2, tướng nhà Minh là Mã Kỳ đóng quân ở Tây-đô (Thanh-hóa) lập tức điều động binh lực đến đàn áp. Lực lượng nghĩa quân lúc bấy giờ còn non yếu lại chiến đấu ở nơi địa hình bất lợi, nên Lê Lợi rút quân về Lạc-thủy (bắc thượng du sông Chu). Địch vẫn tiếp tục tiến đến bao vây nhưng Lê Lợi lại cho quân đi phục kích sẵn; ngày 13, khi Mã Kỳ lại kéo quân đến đã bị chặn đánh nên phải rút lui và nghĩa quân thu được thắng lợi trận đầu.

Ngày 21 tháng 2 năm 1418, quân Minh đi đường tắt, hành quân bí mật, bất ngờ tập kích làm cho nghĩa quân tuy bị tổn thất nặng, bị chết và bị bắt nhưng đã anh dũng chiến đấu để thoát vây rồi rut lên núi Chí-linh. Sau đó ít lâu, địch tưởng đã tiêu diệt xong nghĩa quân nên rút đi. Lê Lợi liền đưa nghĩa quân trở về đóng ở Lam-sơn, đắp hào xây lũy để chống địch. Lúc này, nghĩa quân chỉ còn trên dưới 100 người, nhưng nhờ có nhân dân địa phương gồm đồng bào Mường và Kinh nhiệt liệt ủng hộ, cung cấp cho lương thực, vũ khí, nên nghĩa quân lại phát triển, hành ngũ được chỉnh đốn lại và chuẩn bị những trận chiến đấu mới.

Tháng 10, một đạo quân Minh tiến lên tấn công Lam-sơn. Lê Lợi đặt phục binh ở Mường-một (có thể là Trịnh-van gần Lam-sơn, phía nam sông Chu); khi quân địch kéo đến, nghĩa quân đã bắn tên thuốc độc lầm chúng bị tổn thất nặng và phải rút lui.

Tháng 5-1419, do lực lượng nghĩa quân đã khá lớn mạnh nên Lê Lợi quyết định tấn công vị trí Nga-lạc của địch (thuộc huyện Lỗi-giang). Trong trận này, ta đã bắt được tên Việt gian Nguyễn Sao và giết được trên 300 tên địch. Viện binh địch kéo đến, Lê Lợi lệnh cho nghĩa quân rút lui về núi Chí-linh lần thứ hai. Lần này địch tập trung một số quân quan trọng, bao vây chặt quân ta. Tình hình của nghĩa quân thật là nguy ngập; để đánh lừa làm cho địch tập trung quân vào một điểm, Lê Lai đã giả làm Lê Lợi, chỉ huy 500 quân và 2 thớt voi, anh dũng tập kích địch. Quả nhiên, quân Minh tập trung quân bao vây bắt được Lê Lai đem giết, đánh tan những nghĩa binh dũng cảm quên mình hy sinh để bảo vệ cho chủ lực và bộ tham mưu của nghĩa quân được an toàn. Sau trận gọi là “thắng lợi” này quân Minh rút về Tây-đô, do đó Lê Lợi và nghĩa quân mới được giải vây rồi lại quay trở về Lam-sơn.

Tháng 6, quân Minh tập trung một đạo quân rất lớn định đến vây quét Lam-sơn. Nghĩa quân bố trí phục kích ở Mường-một đã đánh tan cuộc vây quét này của địch. Sau đó xét thấy lực lượng mình còn non yếu, Lam-sơn chưa phải là nơi có địa thế thuận tiện để chống vây quét liên tục và lâu dài, Lê Lợi quyết định chuyển lên miền thượng lưu sông Mã, dựa vào địa thế của miền núi hiểm trở để lập căn cứ. Ở đây, Lê Lợi giao dịch rất khéo nên được nhân dân Lào giúp đỡ lương thực, khí giới, về sau cả quân số; nhờ vậy lực lượng nghĩa quân thêm vững mạnh và Lê Lợi quyết định tiến quân về đóng ở vùng Mường-thôi (tây-bắc Thanh-hóa).

Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi ở Lam-sơn có ảnh hưởng rất lớn, tin chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân truyền đi đã khích động nhân dân các nơi khác cũng vùng lên vũ trang khởi nghĩa, khiến cho quân Minh phải phân tán đi dàn áp. Nhân thời cơ đó, Lê Lợi tiến hành chỉnh đốn nghĩa quân và đến đầu năm 1420 tiến xuống hoạt động ở miền Lỗi-giang và thượng lưu sông Mã.

Tháng 11, một đội quân Minh tiến đánh căn cứ của nghĩa quân. Lê Lợi cho phục kích ở bến Bỗng đánh tan quân địch xong rút về Mường-thôi. Sau đó, quân Minh do các tướng Phương Chính, Lý Bân từ Quỳ-châu (Nghệ-an) hành quân qua rừng đánh thẳng vào Mường-thôi, định tiêu diệt nghĩa quân ở ngay trong căn cứ nhưng lại bị phục binh của Lê Lợi bố trí ở Thi-lang (?) đánh tan, và nhân lúc địch rút chạy tán loạn, đã kịp thời truy kích mạnh mẽ, chém giết được nhiều địch.

Từ đây, lực lượng nghĩa quân càng lớn mạnh. Tháng 12, Lê Lợi tiến xuống Ba-lẫm (thuộc Lỗi-giang). Trước sức uy hiếp của nghĩa quân, quân Minh đã bỏ đồn Nga-lạc chạy về trại Quan-du (thuộc Quan-hóa) cố thủ tại đó để bảo vệ Tây-đô. Lê Lợi quyết định tấn công Quan-du phá tan trại này, giết rất nhiều địch và thu nhiều khí giới.

Tình hình bắt đầu chuyển biến có lợi cho nghĩa quân, lực lượng được phát triển, căn cứ được mở rộng. Lê Lợi và chủ lực của nghĩa quân về đóng tại Ba-lẫm. Trong khi đó, quân Minh phải quay về đóng tại Tây-đô và các đồn bảo vệ, cố thủ ở những nơi đó, chờ chủ lực được tăng cường sẽ mở những cuộc tấn công mới.

Ngày 14 tháng 12 năm 1421, quân Minh quyết định tập trung đại quân với ý định bao vây rồi tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Lý Bân được lệnh điều động quân các vệ Giao-châu và ngụy binh, quân số lên tới 10 vạn, tiến về còn cách Ba-lẫm 50 dặm, dừng lại trú quân và chuẩn bị tấn công. Ngay đêm hôm đó, Lê Lợi tiến quân tập kích vào nơi đồn trú của địch, chém chết một số lớn, thu được nhiều khí giới lương thực; sau thắng lợi của trận tập kích chớp nhoáng này cũng ngay đêm hôm đó, nghĩa quân bí mật rút lui luôn. Quân Minh lập tức hành quân tấn công vây quét Ba-lẫm; ta phục kích ở Úng-ải (Cổ-lũng, thuộc chauan Quan-hóa giáp Cẩm-thủy); địch ồ ạt kéo đến, phục binh ta bất thình lình từ hai bên đánh mạnh khiến cho địch bị thua to. Trần Trí chỉ huy đạo quân tiền vệ phải rút lui và cuộc vây quét quy mô lớn của địch đã bị phá tan.

Đồng thời cũng trong lúc ấy, bọn tù trưởng Lào bị quân Minh mua chuộc, lại đem quân đánh úp sau lưng quân ta. Tuy bị đánh bất ngờ nhưng quân ta chống cự rất dũng cảm và cuối cùng đã đánh lui được bọn này.

Từ đầu năm 1422, quân Minh đã đàn áp xong các cuộc khởi nghĩa ở các nơi khác, tên tổng binh của quân Minh là Trần Trí quyết định tập trung lực lượng tấn công nghĩa quân. Tháng 12 năm ấy, Trần Trí đã huy động một lực lượng lớn, lại được sự phối hợp của quân Lào từ hai mặt giáp công đánh vào căn cứ Quan-da (tức Quan-du, ở Quan-hóa) dồn nghĩa quân vào nơi “tử địa”, gây được nhiều tổn thất nặng nề; vòng vây của địch rất chặt, tình hình đã đến lúc rất nguy khốn. Lê Lợi động viên kêu gọi toàn thể các tướng sĩ hãy dũng cảm phá vây, rút khỏi nơi “đất chết” đó. Quân ta xông vào phá trận địa địch, giết được tên tướng Phùng Quý, cùng rất nhiều binh sĩ của quân Minh và ngụy binh. Cuối cùng đã mở được đường để thoát khỏi vòng vây.

Trần Trí phải rút lui về thành Đông-quan, còn quân Lào thì bỏ trốn. Sau trận này, Lê Lợi rút quân về núi Chí-linh, tình hình mọi mặt của nghĩa quân đang gặp khó khăn; nhưng quân Minh sau nhiều trận vây quét không thành công cũng đã mỏi mệt nên chưa đủ sức mở những cuộc tấn công mới.

Lê Lợi thấy cần phải tranh thủ thời gian để củng cố và phát triển lực lượng; quân Minh thấy cũng cần phải chỉnh đốn quân mã và chờ tăng viện để chuẩn bị mở những cuộc tấn công mới, cho nên cả hai bên đã đi đến cuộc hòa hoãn.

Trong những năm 1423 và 1424 là thời gian hòa hoãnh, nhưng địch vẫn luôn luôn uy hiếp quân ta, tăng cường lực lượng và dọa dẫm về quân sự, mua chuộc về chính trị. Xét thấy lực lượng đã được củng cố và phát triển, Lê Lợi quyết định tiếp tục hoạt động, đưa cuộc chiến đấu sang giai đoạn mới.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:57:25 PM »

II. 1424-1425: Chuyển hướng chiến lược – Thời kỳ xây dựng căn cứ địa vững chắc,
lấy nông thôn rộng lớn để bao vây các thành lũy của quân Minh

Sau một thời gian tạm thời hòa hoãn với địch, ngày 12 tháng 10 năm 1424, Lê Lợi triệt tập một cuộc hội nghị tham mưu để quyết định kế hoạch chiến lược của giai đoạn mới. Trong hội nghị, nhà chiến lược tài giỏi Nguyễn Chích đã đề nghị: “Nghệ-an là nơi hiểm yếu, đất rộng, người nhiều; tôi đã từng qua lại Nghệ-an nên hiểu rõ tình thế. Nay ta trước hãy đánh lấy Trà-long, rồi hạ thành Nghệ-an để làm chỗ đứng chân, rồi dựa vào nhân lực, tài lực đất ấy mà quay ra đánh Đông-đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”. Lê Lợi và hội nghị đồng ý với kế hoạch mới của Nguyễn Chích và cuộc chuyển hướng chiến lược bắt đầu.

1. Tiến quân vào Nghệ-an, chiếm Trà-long, chiến thắng Khả-lưu và Bồ-ải

Để mở đường cho cuộc hành binh chiến lược vào Nghệ-an, Lê Lợi chỉ huy nghĩa quân tập kích thành Đa-căng (thuộc Quan-hóa). Cuộc tập kích đó thành công, tướng địch bỏ chạy. Sau khi thu vũ khí lương thực, quân ta đã đốt phá trại địch, đánh tan một cánh quân tiếp viện của địch khiến chúng phải chạy về Tây-đô cố thủ. Sau đó, khi mọi mặt đã chuẩn bị đầy đủ, nghĩa quân theo đường núi, tiến quân vào Nghệ-an.

Quân Minh biết tin này liền phái quân đuổi theo. Nghĩa quân đến Bồ-lạp (thuộc Phủ-quỳ, Nghệ-an) gặp 5.000 tên địch từ Trà-long thuộc phủ Chương-dương (nay là Con-cuông, Nghệ-an) tiến lên ngăn chặn; đồng thời, chủ lực của Trần Trí, Phương Chính cũng đuổi theo kịp.

Lợi dụng lúc trời tối, Lê Lợi dàn bộ binh và tượng binh ở trong rừng để phục kích. Bị đánh bất ngờ từ bốn mặt, địch bịt thiệt hại nặng, số còn lại chạy tán loạn, bỏ lại hơn 100 còn ngựa lọt vào tay quân ta.

Hôm sau, ta hành quân về phía Trà-long, đến trang Trịnh-sơn (thuộc Chương-dương), địch đuổi kịp nhưng bị ta đánh lại bỏ chạy tan tác. Trần Trí phải rút quân về thành Nghệ-an; thừa thế, nghĩa quân tiến đến bao vây luôn thành Trà-long. Sau hơn hai tháng bị bao vây, quân tướng nhà minh bị cô lập ở trong thành, tình hình mọi mặt trở nên nguy khốn, quân tiếp viện không dám đến ứng cứu giải vây, cho nên vào tháng 12 năm ấy, chúng mở cổng xin hàng; thế là thành trì kiên cố án ngữ trên đường vào Nghệ-an – nơi đồng bằng giàu có đã bị phá bung.

Sau khi tuyển thêm 5.000 quân ở đây và được nhân dân miền núi cũng như miền đồng bằng lân cận nô nức và nhiệt liệt ủng hộ, Lê Lợi chuẩn bị tiến quân xống đồng bằng, vây hãm thành Nghệ-an rồi mở rộng căn cứ địa.

Trần Trí được lệnh tập trung toàn bộ quân thủy và quân bộ ở thành Nghệ-an tiến đến vây đánh nghĩa quân.

Để phá tan cuộc tấn công, dồn địch vào thế bị động, kế hoạch của Lê Lợi như sau: cử Đinh Liệt chỉ huy 1.000 quân theo đường tắt đến chiếm trước huyện Đỗ-gia (huyện Hương-sơn, Hà-tĩnh), một địa thế hiểm trở uy hiếp thành Nghệ-an, chủ lực do Lê Lợi chỉ huy đóng ở Khả-lưu (cách Đô-lương chừng 20 cây số trên thượng lưu sông Lam), dựa vào núi non hiểm trở và sông ngòi chờ địch.

Vài hôm sau, đại quân của Trần Trí theo đường sông Lam, ồ ạt tiến đến mạn dưới Khả-lưu; Lê Lợi dùng nghi binh, ban ngày thì dựng cờ khua trống, ban đêm đốt lửa rực trời, đồng thời phái một cánh quân tinh nhuệ cùng 4 thớt voi bí mật vượt sông Lam phục kích bên bờ phía nam.

Mờ sáng hôm sau, địch tiến quân lọt vào trận địa bị phục binh của ta xông ra đánh và chủ lực của Lê Lợi cũng tiến đến tăng cường; trong trận ác chiến này, địch bị chém chết và bị chiết đuối đến hàng vạn tên và phải rút về phía hạ lưu sông Lam, dựa vào rừng núi xây dựng cứ điểm, đào hào đắp lũy để ngăn chặn bước tiến của nghĩa quân.

Lê Lợi nhận định: “Quân địch nhiều lương, đắp lũy để làm kế lâu dài; quân ta ít lương không thể dễ giữ dằng dài được với chúng”, nên cho đốt doanh trại nghi binh giả rút về thương lưu sông Lam nhưng thực ra đã bí mật đi tắt vòng về phía sau lưng địch.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:58:06 PM »

Quân địch tưởng rằng ta thua chạy, liền kéo quân đến chiếm lĩnh doanh trại và đào công sự trên núi. Lê Lợi hành quân đến Bồ-ải (thuộc huyện Thanh-chương) đặt phục binh, đồng thời cho một cánh quân đến đánh vào đồn lũy địch sau đó lại giả vờ thua chạy, địch cho toàn bộ binh lực trong đồn lũy đi đuổi nhằm tiêu diệt quân ta, nhưng đến Bồ-ải bị pục binh của Lê Lợi từ các mặt tấn công dữ đội, địch bị tan rã.

Lam-sơn thực lục chép rằng: “thuyền địch trôi ngang, xác chết lấp sông, vũ khí vất đầy cả khe núi”, tên tướng Hoàng Thành chỉ huy đội tiền vệ của địch bị chém chết. Chu Kiệt và trên 1.000 tên địch bị bắt làm tù binh. Ta thừa thắng truy kích, Trần Trí liều mạng dẫn tàn quân rút chạy về thành Nghệ-an.

Thắng lợi Khả-lưu, Bồ-ải là những chiến công đầu tiên rất to lớn của nghĩa quân, tiêu diệt được một bộ phận lực lượng rất quan trọng của địch khiến cho chúng ở Nghệ-an phải chuyển sang phòng ngự, đi dần vào thế bị động.

Sau chiến thắng Bồ-ải, tháng 2 năm 1425, nghĩa quân kéo đến làng Đa-lôi (nay thuộc xã Nam-kim, huyện Thanh-chương) được nhân dân tiếp đón rất nồng nhiệt, úy lạo và tiếp tế lương thực. Trong thời gian đóng quân tại đây, Lê Lợi cho xây dựng “Lục niên thành” để kỷ niệm 6 năm chiến đấu chống quân Minh và làm nơi đóng quân.

Sau đó, nghĩa quân tiếp tục giải phóng các châu, huyện; tri phủ châu Ngọc-ma là Cầm Quý đem trên 8.000 quân và 11 thớt voi đến theo Lê Lợi. Đi đến đâu cũng được nhân dân các địa phương nhiệt liệt chào đón quân cách mạng đã giải phóng cho họ; nhân dân tích cực tham gia kháng chiến, đặc biệt thanh niên hăng hái tình nguyện đi chiến đấu.

Ở đâu, Lê Lợi cũng ra lệnh cho quân đội giữ vững kỷ luật thật nghiêm minh. Cả một vùng đồng bằng và miền núi rộng lớn đã được giải phóng khỏi ách thống trị của nhà Minh.

Tháng 3, Lê Lợi đem quân đến vây thành Nghệ-an, tháng 5, tham tướng Minh là Lý An vội vã đem thủy binh từ Đông-quan theo đường biển vào giải vây cho thành Nghệ-an; Lê Lợi đem quân đến mai phục ở cửa sông Khuất thuộc huyện Đỗ-gia. Ngày 27, Trần Trí từ trong thành đem hết quân ra định phối hợp với viện binh tấn công ta, nhưng khi vừa qua được cửa sông thì bị phục binh của ta bắt đầu tấn công rất mạnh nên bị tan rã, bị chém giết và chết đuối rất nhiều, tàn quân có bộ phận thì rút chạy về Đông-đô, còn Lý An, Phương Chính cố sống cố chết chạy về thành Nghệ-an cố thủ; từ đó không dám ló đầu ra ngoài để chiến đấu nữa, mặc dù quân ta đã nhiều lần tìm mọi cách khiên chiến. Tình hình của địch ngày càng rơi sâu vào thế bị động.

Để ghi lại những chiến công oanh liệt đó, trong bài “Phú núi Chí-linh”, Nguyễn Trãi viết:

“Bên cứ điểm mà lập công, lại nhiều cách để lừa người
Lửa đốt ban đêm, cờ dăng ban ngày.
Trận Đỗ-gia lấn đất để giành tiện lợi nơi ấy,
Trận Khả-lưu qua sông đánh đắm quân thủy bên này
Sấm ran chợp giật, trúc chẽ tro bay
Chu Kiệt đóng cũi; Hoàng Thành phơi thây…”


Tháng 6, Đinh Lễ được cử ra đánh thành Diễn-châu. Cũng lúc đó, quân Minh phái 300 thuyền chở lương thực từ Đông-quan vào tiếp tế; được tin trên, địch ở thành Diễn-châu rất vui mừng, còn ta thì Đinh Lễ tiến quân đến phục kích ở gần Diễn-châu; kết quả đã ngăn chặn được địch và cướp được các thuyền lương, rồi thừa thắng đánh đuổi địch đến tận thành Tây-đô; Lê Lợi liền cử ngay các tướng Lê Sát, Lý Triện chỉ huy 2.000 quân đi suốt ngày đánh ra Tây-đô tăng cường lực lượng cho Đinh Lễ; địch chạy hết vào trong thành cố thủ.

Ở Thanh-hóa, nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, tình nguyện gia nhập hàng ngũ, cùng quân đội tích cực vây hãm thành Tây-đô.

Thế là, chỉ gần sau một năm nghĩa quân rời khỏi miền thượng du Thanh-hóa vào Nghệ-an, lực lượng của Lê Lợi đã trưởng thành rất nhanh chóng, giải phóng được cả hai tỉnh này, dựa chắc vào một khu vực rộng lớn giàu có để bao vây các thành Nghệ-an, Diễn-châu và Tây-đô, biến nó thành ba hòn đảo chơ vơ giữa biến cả mênh mông của vùng nông thôn rộng lớn đã trở thành căn cứ địa vững chắc của nghĩa quân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 8635


Lính của PTL


« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Năm, 2017, 03:59:03 PM »

2. Tiến quân vào giải phóng Tân-bình và Thuận-hóa

Giải phóng được hai tỉnh Thanh-hóa và Nghệ-an không những nghĩa quân đã xây dựng được một căn cứ địa rộng lớn, vững chắc để phát triển lực lượng mình về mọi mặt, mà còn chia cắt địch ra thành hai vùng không liên lạc được với nhau; Bắc-bộ và Tân-bình – Thuận-hóa. Nhằm lúc địch còn hoang mang lực lượng lại non yếu, Lê Lợi quyết định tiếp tục mở rộng căn cứ địa về phía Nam, giải phóng Tân-bình và Thuận-hóa.

Tháng 10, Lê Lợi cử các tướng Trần nguyên Hãn, Lê Nô, Lê Bồ chỉ huy hơn 1.000 quân và một thới voi theo đường bộ tiến vào Tân-bình, đồng thời cử các tướng Lê Ngân, Lê Bôi đem thủy binh và 70 chiến thuyền vượt biển để phối hợp tác chiến.

Quân bộ tiến vào đến song Bố-chính thì gặp một toán địch, liền chĩnh mĩnh ngay địa hình có lợi, tổ chức phục kích, dử địch vào trận địa rồi tấn công rất mạnh, tiêu diệt được rất nhiều địch. Tiếp sau, cả hai cánh quân thủy bộ phối hợp giáp công, nhanh chóng hạ thành Tân-bình và Thuận-hóa, quân Minh hoàn toàn bị tiêu diệt hai tỉnh Tân-bình và Thuận-hóa được hoàn toàn giải phóng và căn cứ địa của nghĩa quân được mở rộng đến dãy núi Hải-vân, thế là cả một miền Nam rộng lớn đã hoàn toàn được giải phóng – trừ ba thành: Nghệ-an, Diễn-châu và Tây-đô. Nghĩa quân lại tích cực và nhanh chóng phát triển lực lượng, tích trữ lương thực và khí giới, chuẩn bị cho một cuộc chuyển hướng chiến lược mới: tấn công ra Bắc, tiêu diệt chủ lực địch.

Cũng như ở Thanh-hóa và Nghệ-an, nhân dân Tân-bình và Thuận-hóa vô cùng phấn khởi, nô nức tham gia kháng chiến và chỉ trong một thời gian ngắn, hàng mấy vạn thanh niên đã gia nhập nghĩa quân.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM