Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 12:46:57 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 32713 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 990



WWW
« Trả lời #70 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 09:41:49 PM »

Cuối tháng 5, Chu Ân Lai mời Uyn-sơn (Harold Wilson), cựu chủ tịch "Ủy ban Thương mại" (Board of Trade) 1947-1951) của chính phủ Át-li (Attlee), nghị sĩ bảo thủ gắn bó với các giới doanh nghiệp luyện kim đến gặp Chu Ân Lai ở Giơ-ne-vơ. Một phiên họp làm việc đầu tiên kéo dài ba tiếng rưỡi ngày 29 tháng 5, có Lôi Nhiệm Dân, Thứ trưởng Ngoại thương và Sih Chih-ang, Phó giám đốc Tổng công ty xuất nhập khẩu Trung Quốc35 (Xem báo cáo về cuộc họp do Harold WIlson công bố trong báo Manchester Guardian số ra ngày 2 và 3-6-1954. Báo cáo về vấn đề này trong hlst Bộ Ngoại giao Pháp/Luân đôn/Bản ghi nhớ về vấn đề "nói chuyện của Chu Ân Lai với các nghị sĩ Anh tại Giơ-ne-vơ-Trao đổi buôn bán với Trung Quốc"/3-6-1954/Tóm tắt hai bài của báo Manchester Guardian đăng trong bản tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 4-6-1954, Bản dịch tiếng Pháp trong báo Le monde, 8-6-1954) cùng dự.


Như thường lệ, các đại biểu Trung Quốc tránh mọi tuyên truyền đề cập một cách thực dụng đến những vấn đề kinh tế tồn tại giữa Anh và Trung Quốc. Họ giải thích dài dòng cho hai nghị sĩ Anh về những khả năng quan trọng đang mở ra cho việc buôn bán giữa hai nước. Về phía Trung Quốc, người ta mong muốn nhất là nhập các thiết bị cơ bản: dụng cụ cơ khí và điện, vật tư đường sắt, xe, tàu thủy. Còn nước Anh thì có thể nhập các sản phẩm truyền thống mà xưa kia vẫn mua của Trung Quốc (đậu tương, dầu thảo mộc, lông lợn, v.v...) cũng như một vài loại sản phẩm hóa chất, thực phẩm (lợn, gạo), thuốc lá, thảm, lông thú và đồ thủ công mỹ nghệ. Ngược lại, Trung Quốc không thể xuất khẩu tungsten hoặc thiếc.


Sau đến vấn đề bằng những con đường nào có thể tiến hành việc buôn bán ấy. Người Anh đã trình bày những khó khăn về tiếp xúc với đoàn đại biểu mậu dịch Trung Quốc tại Đông Béc-lin, họ đi đến thỏa thuận là những đại diện của Tổng công ty xuất nhập khẩu của Trung Quốc khi rời Giơ-ne-vơ, có thể đi Luân-đôn và nhiều trung tâm công nghiệp khác ở nước Anh.


Sau cùng, hai bên đề cập đến vấn đề thanh toán. Những đại diện Trung Quốc giải thích rằng, trong chừng mực có thể được, những cuộc trao đổi hàng phải cân đối nhưng nếu cần thiết, Trung Quốc có thể có ngoại tệ dự trữ từ các nguồn thu nhập vô hình. Ngược lại, họ nhấn rất mạnh đến việc ở Bắc Kinh người ta từ chối thẳng thừng ký kết các khoản vay nợ nước ngoài để thanh toán nhập khẩu. Sau cùng, khi kết luận, Thứ trưởng Lôi Nhiệm Dân đưa ra con số 100 triệu đô-la (36 triệu bảng Anh) như là mục tiêu ban đầu cần đạt tới, điều nay H.Uyn-xơn thấy có vẻ không thực hiện được chừng nào chưa hủy bỏ những hạn chế đối với một số mặt hàng chiến lược.


Sáng hôm sau, một cuộc gặp gỡ thứ hai nữa. Giữa hai bên, lần này có Chu Ân Lai tham dự36 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 30-5-1954). Trở lại vấn đề trao đổi buôn bán giữa hai nước, nhưng cũng có những vấn đề quan hệ chính trị Trung-Anh cũng như những tiến bộ đạt được trong hội nghị về Đông Dương, về vấn đề này, Thứ trưởng Trung Quốc tỏ ra lạc quan37 (Xem đoạn sau ở chương VI). Đồng thời, Ten-năng (Tennant) Giám đốc hải ngoại của Liên đoàn công nghiệp Anh (Federation of British Industries) cũng đến Giơ-ne-vơ để thăm dò ý định của Trung Quốc38 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 7-6-1954). Ông này cũng được Lôi Nhiệm Dân tiếp. Trong các cuộc hội đàm này, người Anh và người Trung Quốc lập bảng danh mục khá chính xác về các sản phẩm có thể trao đổi buôn bán giữa hai nước39 (Times, 4-6-1954. Cũng xem Chroniques Etrangères, La documentation francaise, số 263, 5-7-1954). Ten-năng thay mặt cho Liên đoàn của ông ta nhưng cũng thay mặt cho cả Phòng Thương mại Luân-đôn và "Hội Trung Quốc" (China Association). Tổ chức này, thành lập năm 1889, từ 1950 do Ngày Xây-mua (Sir Horace Seymour), cựu đại sứ tại Trung Quốc lãnh đạo, tập hợp tất cả những công ty lớn buôn bán với Trung Quốc-từ hàng chục năm nay: Liên đoàn Ngân hàng Thượng Hải và Hồng Công (Hong Kong and Shanghai Banking Corporation), công ty Giác-đin (Jarrdines Ltd.Co), v.v... Cuối năm 1949 hội này đã là một trong những nhóm gây sức ép có trọng lượng nhất đối với quyết định của Chính phủ Luân-đôn trong việc công nhận Chính phủ Bắc Kinh40 (Brian Porter, Britain and the rise of Communist China: a Study of British Attitudes, 1945-1954 (Người Anh và việc cộng sản Trung Quốc vùng dậy: Nghiên cứu về thái độ của Anh, 1945-1954), Oxford University Press, 1967, tr.153). Từ đó, hội không ngừng phần đấu cho việc nới lỏng việc cấm buôn bán và nối lại buôn bán với Trung Quốc. Lôi Nhiệm Dân có ở đó một điểm tựa gắn bó chặt chẽ với các giới bảo thủ Anh và do đó nó có thể cực kỳ ích lợi đối với Chính phủ Bắc Kinh.


Những cuộc tiếp xúc kinh tế mà Trung Quốc cho rằng chúng có một tầm quan trọng lớn lao như vậy, đã chứng tỏ là tương đối tích cực trong một thời hạn nhất định. Theo lời mời của Liên đoàn công nghiệp Anh (Federation of British Industries), một phái đoàn mậu dịch Trung Quốc một tháng sau, quả là đã đến Anh, từ ngày 28 tháng 6 đến 14 tháng 7 do Tsao Chung-shu và Shih Chih-ang, cả hai đều là Phó giám đốc Tổng công ty xuất nhập khẩu Trung Quốc (China National Import Export Corporation) dẫn đầu41 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 28 và 29-6-1954, 14-7-954). Tổng kết các cuộc thương lượng đó, Chi Chao-ting, Tổng thư ký Ủy ban xúc tiến mậu dịch quốc tế của Trung Quốc viết một bài báo dài, tỏ ra hoàn toàn tin tưởng vào tương lai của việc buôn bán Trung-Anh, theo ông ta có thể lên tới 80 đến 100 triệu bảng Anh trong 12 tháng tới42 (Chi Chao-Ting, tài liệu đã dẫn, đăng trong tạp chí People's China số 15, 1-8-1954, tr.23-26. Xem thêm bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 9-7-1954, Đại công báo, 13-7-1954). Về phía Anh, người ta cũng bắt đầu nuôi một vài hy vọng về triển vọng thương mại có vẻ đang mở ra giữa hai nước. Mấy tuần lễ sau, "Hội Trung Quốc" tổ chức một "Ủy ban Thương mại Trung-Anh" (Sino British Trade Committee) với một số nghiệp đoàn giới chủ và phòng thương mại, ủy ban này ngay tháng 11 năm 1954 cử một phái đoàn đầu tiên đi Trung Quốc43 (Le commerce extérieur de la R.P.Chine (Ngoại thương của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa), sách đã dẫn, tr.46).


Những cố gắng của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ trong việc đặt quan hệ trực tiếp với các giới kinh tế Tây Đức-Thụy Sĩ, Pháp hay Anh sẽ góp phần thật sự vào việc tăng khối lượng buôn bán giữa Trung Quốc và Tây Âu. Trong khi năm 1954, khối lượng đó chỉ lên tới tổng số là 173,4 triệu đô-la, thì đến năm 1955 đã đạt 226,2 triệu và đến năm 1956 đạt 326 triệu. Có nghĩa là trong hai năm, Trung Quốc đã tăng được gấp hai lần việc trao đổi buôn bán với các nước Tây Âu.


Tuy nhiên, doanh số thương mại Trung-Anh không bao giờ đạt 80 đến 100 triệu bảng Anh như người Trung Quốc ước mong. Năm 1956, mới chỉ đạt 1/4 số đó. Ngoài ra, phần của Tây Âu trong tổng khối lượng ngoại thương của Trung Quốc mới chiếm khoảng 7% năm 1954, chỉ mới có 8% năm 1955 và 10% năm 1956. Điều đó có nghĩa là những cuộc thương lượng tại Giơ-ne-vơ không đi tới thay đổi căn bản vị trí của các nước Tây Âu trong quan hệ kinh tế đối ngoại của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, không phải trực tiếp vì những cuộc hội đàm thương mại, cũng không phải gián tiếp vì hòa hoãn về chính trị gây nên.

Bảng X



Nhưng điều quan trọng là đã có những cuộc tiếp xúc có tính chất thương mại. Xét theo quan điểm Trung Quốc, cuộc thương lượng tại Giơ-ne-vơ có một tầm vóc kinh tế không thể xem thường. Tuy vậy, chắc chắn là sẽ đi quá xa nếu chỉ dựa vào sự quan sát thuần tùy kinh tế để giải thích thực chất thái độ của Trung Quốc. Trái lại, chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra rằng động cơ chủ yếu của chính sách của Trung Quốc là hoàn toàn khác. Vả lại, thương lượng kinh tế bao giờ cũng đi song song với thương lượng chính trị. Không bao giờ người Trung Quốc, nhìn bề ngoài, sẽ lấy việc hủy bỏ cấm buôn bán dù bỏ từng phần, làm điều kiện không có không được của một hiệp định chính trị về Đông Dương.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 990



WWW
« Trả lời #71 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 09:53:55 PM »

Những quan hệ chính trị song phương giữa ta và người Ăng-lô Xắc-xông ở Giơ-ne-vơ


Trong quá trình những cuộc nói chuyện đó mà hội nghị đã tạo nên cái khung cảnh và duyên cớ, Trung Quốc cũng tiến hành vài cuộc thương lượng thứ yếu, những cuộc thương lượng thuần túy về chính trị. Chín tháng sau đình chiến Triều Tiên, Trung Quốc cần phải bắt đầu đánh đổ bức tường thù nghịch do việc đưa quân "chí nguyện" sang Triều Tiên gây nên.


Để riêng những trường hợp đặc biệt của Anh, Mỹ và Pháp mà chúng tôi sẽ phải nói lại-dài dòng hơn-những cuộc thương lượng tại Giơ-ne-vơ thực sự là cơ hội để Trung Quốc có những cuộc tiếp xúc chính trị khác nhau với vài nước phương Tây. Chính vì vậy mà Chu Ân Lai sẽ tiếp các Bộ trưởng Ngoại giao Thụy Sĩ, Phần Lan44 (G.V.Astafev và A.M.Dubinski, sđ, tr.98), các đại sứ Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan45 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 17-6-1954. Lúc này Trung Quốc đàm phán với Na Uy về một hiệp định công nhận ngoại giao và với Phần Lan về một hiệp định thương mại (sẽ được ký kết hai ngày sau)). Tiếp theo, Chu Ân Lai còn có quan hệ với những quốc gia da trắng trong khối Thịnh vượng chung. Ngày 18 tháng 6, Trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc còn hội đàm với Ri-sa Ca-sây (Ruchard G.Casey), Bộ trưởng Ngoại giao Ô-xtrây-li-a46 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 18-6-1954. Richard G.Casey đã công bố hồi ký của mình từ năm 1954, nhưng nội dung hồi ký chỉ viết đến tháng 4 năm đó thì dừng lại. Do đó tập hồi ký không nói đến giải pháp về Đông Dương và các cuộc hội đàm với Chu Ân Lai. Tuy nhiên đặc điểm của tập hồi ký là tinh thần chống cộng ở Ô-xtrây-li-a lúc đó. Richard G.Casey, Friends and Neighbours: Australia and the World (Bạn bè và láng giềng; Ô-xtrây-li-a và thế giới) Melbourne, F.W.Cheshire, 1954, 166 trang, kể cả bản đồ, bản chỉ dẫn), rồi ngày 22 tháng 7 đúng trước lúc lên đường, hội đàm với Đu-glát Cô-plăng (Douglas Coplang), Trưởng đoàn đại biểu Ô-xtrây-li-a tại Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc47 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 22-7-1954). Đồng thời, Đoàn đại biểu Canada tại hội nghị về Triều Tiên đã được đoàn Trung Quốc quan tâm đặc biệt. Đại sứ Sét-tơ Rô-ninh (Chester Ronning) quen thân với Trung Quốc48 (Sinh năm 1894 tại Trung Quốc. Vào ngành ngoại giao Canada năm 1945. ban đầu công tác lại Trùng Khánh và Nam Kinh với chức vụ Đại biện, đến năm 1951. Từ đó đến năm 1953, giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Mỹ và Viễn Đông ở Bộ Ngoại giao, được cử làm Đại sứ tại Na Uy năm 1954, cầm đầu đoàn đại biểu Canada tại Hội nghị Giơ-ne-vơ), có nhiều cuộc tiếp xúc với người Trung Quốc, được Chu Ân Lai tiếp ngày 19 tháng 649 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 19-6-1954), và còn đạt kết quả giành được việc phóng thích một phi công Canada bị bắt làm tù binh ở Mãn Châu trong cuộc chiến tranh Triều Tiên50 (C.Ronning, sách đã dẫn, tr.235-239. Xem thêm hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Hubert-Guérin/số 476-477/Ottawa/31-7-1954. Bức điện này kể lại việc trao trả tự do cho kiều dần Canada ở Đông Dương nhờ sự can thiệp của Chu Ân Lai. Có lẽ đây là những kiều dân Canada tại Trung Quốc thì đúng hơn).


Nhưng nhiều nhất và quan trọng nhất là cuộc thương lượng với Pari và Luân Đôn. Bị Mỹ bao vây phần lớn các mặt trận-Liên hiệp quốc, Triều Tiên, Đài Loan-Trung Quốc có hai lý do để nghĩ rằng Đông Dương sẽ là miếng đất tốt nhất để tiếp cận với Pháp, với Anh. Lần này, hai cường quốc đó liên quan trực tiếp lợi ích dân tộc của họ, khác rõ rệt với lợi ích của Mỹ, có thể sẽ được thừa nhận. Từ đó, có lẽ có khả năng cô lập một phần chính phủ Oa-sinh-tơn và chính sách đối ngoại của Trung Quốc có thể mở ra với một phần của thế giới không cộng sản.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 990



WWW
« Trả lời #72 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 09:55:49 PM »

Những cuộc thương lượng Trung Quốc-Anh về quan hệ ngoại giao giữa hai nước

Tình thế của Luân Đôn hoàn toàn khác biệt. Trước hết là vì lý do vấn đề Hồng Công. Là thuộc địa của Hoàng gia Anh từ năm 1843, đảo Hồng Công và lãnh thổ kế cận bị sáp nhập năm 1860 và năm 1898 chưa bao giờ là đề tài yêu sách nhỏ nhất của Trung hoa nhân dân. Quyết tâm của người Anh duy trì địa vị chủ nhân ông ở đó, được khẳng định rõ rệt năm 1949 và nhất là lợi ích kinh tế mà lãnh thổ Hồng Công đem lại cho chế độ mới, đã đưa hai chính phủ kéo dài "nguyên trạng" mà mỗi bên rõ ràng là có lợi. Chắc rằng có vài lần nổ rao những vụ rắc rối, nhất là năm 1950 khi người Anh áp dụng những biện pháp đầu tiên nhằm ngăn chặn dòng người di cư vào Hồng Công51 (Phản kháng của Trung Quốc tháng 5-1950. Xem Winberg Chai (nhà xuất bản) The Foregin Relations of the People's Republic of China (Quan hệ đối ngoại của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) New G.P.Putnam's, 1972, tr.270-272). Nhưng không bao giờ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đặt vấn đề tranh cãi về quy chế thuộc địa của lãnh thổ Hồng Công (Vả lại điều này không chứng tỏ rằng Trung Quốc đã thừa nhận quy chế đó).


Sự có mặt của Anh ở Mã Lai và Sin-ga-po là một yếu tố thứ hai có trọng lượng trong quan hệ giữa hai nước. Là nước xuất khẩu cao su thiên nhiên và thiếc, và về mặt này bị ảnh hưởng về những hạn chế đè nặng lên việc buôn bán với Trung Quốc, các chế độ bảo hộ Mã Lai, từ năm 1848 phải đối phó với cuộc nổi dậy của cộng sản, trong đó Trung Quốc có lẽ có một vai trò không thể coi thường được52 (Về điểm này, chủ yếu xem Gene. Z.Hanrahan, The Communist Strunggle in Malaya (Cuộc chiến đấu chống cộgn sản ở Mã Lai) xuất bản lần thứ hai, Kuala Lampur, University of Malaya Press, 1971, tr.131-133 (theo tác giả này, năm 1954, cộng sản nổi loạn ở Mã Lai, có thể có một trung tâm liên lạc đặt tại Nam Ninh trong tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc). Xem thêm J.H.Brimmel Communism in South East Asia-a Political Analysis (Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam châu Á-một sự phân tích chính trị) London, New York, Toronto, Oxford University Press. 1959, tr 321-328 chủ yếu nêu lên ảnh hưởng của chủ nghĩa Mao đối với Đảng cộng sản Mã Lai; Victor Purcell, Malaya: Communist or Fress (Mã Lai: Cộng sản hay tự do). London, Victor Gollancz, 1954, tr.131-150; Stephen Fitzgerald, China and the Over sea Chinese: A Study of Peking's changing Policy, 1949-1970 (Trung Quốc và người Hoa ở hải ngoại: Nghiên cứu về sự thay đổi chính sách của Bắc Kinh, 1949-1970) Cambridge, Cambridge University Press, 1972, tr.91-98, (trong cuốn sách vai trò của Trung Quốc trong cuộc nổi dậy ở Mã Lai chưa xác định rõ), Lucian W.Pye, Guerrilla Communism in Malaya. Its Social, and Polotical Meaning (Du kích cộng sản ở Mã Lai. Ý nghĩa chính trị và xã hội của nó) N.J.Princeton, University Press, 1956, 369 trang). Vào mùa xuân năm 1954, chắc chắn là tình hình quân sự đối với người Anh-Mã Lai không nghiêm trọng bằng những năm 1948-1951. Nhưng đất nước còn nằm trong tình trạng giới nghiêm và quân đội Anh dính líu vào những cuộc hành quân tốn kém chống du kích, đó là bấy nhiêu yếu tố làm kéo dài việc mất an ninh đáng lo ngại53 (Về tình hình Mã Lai năm 1954, ngoài những sách trên đây xem thêm Coral/Bell, sách đã dẫn, tr.304-311).


Đi xa hơn, đặt ra toàn bộ vấn đề "Khối thịnh vượng chung" ở châu Á. Mối lo lắng chủ yếu của Anh trong lĩnh vực này là việc duy trì một sự thống nhất nào đó giữa các nước trước đây đã tạo thành đế quốc Anh. Vậy mà Ấn Độ từ bốn năm nay đã có một thái độ quyết tâm hòa giải với Trung Quốc và tìm cách tổ chức ở Đông Nam châu Á và Nam Á một tổng thể trung lập, tất cả những cái đó được Chính phủ Luân Đôn tiếp nhận một cách thiện cảm, vì Luân Đôn thấy ở đó một phương tiện làm dịu tình hình ở Viễn Đông và  bảo vệ những lợi ích quốc gia của Anh trong vùng này của thế giới.


Đó là toàn bộ những yếu tố quân đội lập trường của Anh đối với vấn đề Đông Dương. Về điều này I-đơn giải thích rõ ràng:

"Chiến dịch của chúng ta chống du kích cộng sản ở Mã Lai đang trải qua một giai đoạn gay go, làm chúng ta phải hết sức quan tâm đến cơn lốc Đông Dương. Những nước liên kết trong Khối thịnh vượng chung đặc biệt là Ấn Độ cũng như bản thân chúng ta đều bị ảnh hưởng như vậy"54 (A.Eden, Mémoires, sách đã dẫn, tr.86 hoặc tr.97-98: "Mối quan tâm chủ yếu của tôi đối với Mã Lai").


Và Pôn Muýt (Paul Mus) tóm tắt thái độ đó trong một câu:

"Thực ra chính là các đầu nhọn của compa đặt ở Hồng Công và Xingapore mà các ông bạn láng giềng của chúng ta đo đạc toàn vùng Viễn Đông"55 (Paul Mus: "Ai muốn chia cắt Việt Nam" (báo France Obervateur số 216, 1-7-1954)).


Những lý do đó có tính chất chính trị nhiều hơn, bổ sung cho những nhân tố thuần túy thương mại cần được nêu lên, hơn nữa đã là trung tâm của mối quan hệ Trung-Anh từ năm 1949. Ít nhất đối với những người bảo thủ, những lý do đó, với mối quan hệ Anh-Mỹ, đã là đề tài chủ yếu trong cuộc tranh luận tại Quốc hội mùa đông 1949-1950 về sự công nhận chế độ mới của Trung Quốc56 (B.Porter, sách đã dẫn, tr.25-44, chương II "vấn đề công nhận").


Người ta biết rằng vấn đề công nhận được quyết định từ tháng 11 năm 1949 đã được chính thức tuyên bố ngày 6 tháng 1 năm 195057 (Văn bản công hàm Anh trao cho chính phủ Trung Quốc đăng trong bản tin hàng ngày (La Documentation Francaise) 7-1-1950. Về sự công nhận đó và về những năm đầu quan hệ Trung-Anh, xem H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.16-18 và 51-56).


Tháng 2, Hút-chi-xơn (Hutchison), Tổng lãnh sự ở Nam Kinh, được chuyển về Bắc Kinh trong khi chờ đợi việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước được đầy đủ hơn. Nhưng rất nhanh, những khó khăn lại tăng lên gấp bội. Vấn đề người tị nạn ở Hồng Công, rồi việc ký kết hiệp ước liên minh Trung-Xô là những trở ngại đầu tiên. Ngoài ra, việc giữ lại Lãnh sự quán Anh tại Tan-shui để duy trì quan hệ với nhà đương cục quốc gia ở Đài Loan, đối với Trung Quốc là không thích hợp với việc công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa58 (Tanshui nằm trên cửa sông cùng tên, cách Đài Bắc khoảng hai chục kilomet về phía tây bắc, Lãnh sự quán ở đây về nguyên tắc chỉ quan hệ với nhà đương cục trên đảo đặt ở Tai-chung. Cơ quan này cũng đại diện quyền lợi cho cả Canada, Ô-xrây-li-a và Nu-ven-Zây-lan ở Đài Loan, xem"Foregin Ministry Spokesman on Sino-British Negociations" (Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao về các cuộc thương thuyết Trung-Anh) tạp chí People's China, số 11, 1-6-1950, tr.26). Rồi việc gửi quân "chí nguyện" Trung Quốc sang Triều Tiên, việc Liên hiệp quốc lên án "sự xâm lược đó", và việc quyết định những biện pháp hạn chế buôn bán với Trung Quốc đã hoàn toàn chặn đứng quá trình bình thướng hóa quan hệ giữa Anh và Trung Quốc. Trong khi tại Hội đồng bảo an tháng 1 năm 1950, Anh đã không tỏ thái độ về vấn đề quyền đại diện của Trung Quốc và tháng 10, Anh đã đề nghị cho Trung Quốc được gia nhập một số cơ quan thuộc tổ chức Liên hiệp quốc59 (B.Porter, sách đã dẫn, tr.58) thì từ mùa đông năm 1950-1951, Anh đã không bao giờ ngừng bỏ phiếu giống như Mỹ. Sức ép của chính phủ Bắc Kinh đối với những công ty cuối cùng của Anh đặt ở Trung Quốc đã buộc họ phải rời khỏi nước này vào tháng 5 năm 1952. Lần lượt các lãnh sự quán Anh đã bị đóng cửa: năm 1954 ngoài một bộ phận lãnh sự ở Bắc Kinh, chỉ còn lãnh sự quán tại Thượng Hải.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 990



WWW
« Trả lời #73 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 10:00:12 PM »

Cho đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, bức tranh về quan hệ Trung-Anh có thể coi là khá tiêu cực60 (Về quan hệ Trung-Anh năm 1954, xem Coral Bell, sách đã dẫn, tr.247-250). Gần toàn bộ tài sản của Anh-200 đến 250 triệu bảng Anh-theo I-đơn khẳng định trước Hạ nghị viện đã bị tịch thu61 (H.Revelyan, sách đã dẫn, tr.53-55 (đưa ra con số 300 triệu)). Chỉ còn vài chục kiều dân Anh còn ở lại Trung Quốc, một số đang chờ xin thị thực xuất cảnh mà họ không thể xin được62 (Như trên, tr.18 và 52). Còn về quan hệ ngoại giao, từ tháng 1 năm 1950, không có tiến bộ gì. Ba đại biện Anh kế tiếp nhau ở Bắc Kinh mà người Trung Quốc bao giờ cũng gọi là "Ying kuo t'an-p'an t'ai-piao (Anh quốc đàm phán đại biểu)63 (Hutchison, Lamb, từ khi trở thành Đại sứ tại Berne (Thụy Sĩ) và với danh nghĩa này ông cầm đầu đoàn đại biểu Anh trogn lúc vắng mặt E-den và Trevelyan cũng là thành viên của đoàn đại biểu Anh tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Cơ quan đại diện Anh tại Trung Quốc gọi là Văn phòng (Bureau) chứ không được gọi là Đại sứ quán và không được hưởng quy chế ngoại giao H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.17, 35, 51), tức là "Trưởng đoàn đại biểu Anh tại các cuộc đàm phán" (về kiến lập quan hệ ngoại giao)64 (H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.51).


Sau cùng, không bao giờ Trung Quốc cử đại biện đến Luân Đôn, đây là điểm người ta rất nhậy cảm ở Anh.

Mặc dù vậy, đại bộ phận dư luận Anh mong muốn bình thường hóa quan hệ ở mức độ nhất định giữa Trung Quốc và các nước phương Tây. Một cuộc thăm dò dư luận tiến hành hồi tháng 3 năm 1954 đã cho biết 45% người Anh nghĩ rằng Trung Quốc phải được nhận vào Liên hiệp quốc, trong khi chỉ có 17% phản đối và 38% không bày tỏ ý kiến. Một cuộc điều tra thứ hai thực hiện cuối tháng 6 khi hội nghị Giơ-ne-vơ đã tiến hành được hai tháng, đã phản ánh việc tăng cường hết sức rõ rệt khuynh hướng này (xem bảng XI)

Bảng XI



Thái độ đó chủ yếu là do nhiều đảng viên Bảo thủ và Công đảng gặp nhau trên vấn đề Trung Quốc, Bảo thủ thì tán thành vì lý do kinh tế và ảnh hưởng ở Viễn Đông, còn Công đảng thì vì lý do chính trị nhiều hơn. Những đảng viên Bảo thủ mong muốn Anh không để mất một thị trường có tầm quan trọng bậc nhất một khi hủy bỏ việc cấm buôn bán với Trung Quốc; còn đảng viên Công đảng thì mong muốn theo đuổi chính sách mà chính họ đã khơi mào từ năm 1950 khi họ còn đang cầm quyền. Ba tháng trước hội nghị Giơ-ne-vơ, cựu thủ tướng Clê-măng Át-li (Climent Attlee) đã giải thích điều đó rất rõ ràng trong một tạp chí Mỹ:

"Người Trung Quốc cảm thấy bị xúc phạm vì Mỹ phủ nhận địa vị mà Trung Quốc có quyền được hưởng trong các hội đồng của thế giới. Tôi tin rằng thái độ của Mỹ là thiếu khôn ngoan (...). Tôi cho rằng khi nào Trung Quốc chấm dứt việc ủng hộ xâm lược, thì phải cho chính phủ nhân dân chiếc ghế của Trung Quốc tại Hội đồng bảo an"65 (Foregin Affiars (Tạp chí đối ngoại Mỹ) tháng 1-1954. Bản dịch tiếng Pháp trong Articles et Documents-La Ducumentation francaise)-Bài báo và văn kiện số 16, 9-2-1954, tr.5)
Tình hình đó cho phép Trung Quốc tiến hành hoạt động ngoại giao trên một địa bàn tương đối thuận lợi như trong lĩnh vực thương mại.


Những cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa I-đơn và Chu Ân Lai ở Giơ-ne-vơ khá lạnh nhạt. Ngày 30 tháng 4, tại một bữa cơm tối do Mô-lô-tốp khoản đãi, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh đã chủ động nêu ra với đồng nghiệp Trung Quốc vấn đề quan hệ ngoại giao giữa hai nước, bày tỏ hi vọng được thấy Trung Quốc cử một đại biện đến Luân Đôn như Anh đã làm đối với Trung Quốc. Đối với việc tiếp cận đầu tiên này, Chu Ân Lai đã "phản ứng một cách rất lạnh nhạt, cho rằng không nên đặt ra vấn đề đó trước khi Trung Quốc vào Liên hiệp quốc và Hội đồng bảo an"66 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Bi-đôn/Giơ-ne-vơ, số 170-171/5-5-1954). Ngoài ra, chính sự "lạnh nhạt" trong quan hệ Trung-Anh đã thúc đẩy Bi-đôn, ngay từ đầu cuộc đàm phán bác bỏ ngay lập tức ý kiến của một số thành viên chính phủ Pháp về việc nhờ Luân Đôn làm trung gian để làm quen với người Trung Quốc67 (Như trên nhiều nhân vật chính trị Pháp đã gợi ý nên nhờ New Delhi. Đó là trường hợp Pleven, xem V.Ô-ri-ôn, sách đã dẫn, tr.507, 508, ý kiến này hình như không hấp dẫn lắm đối với Bi-đôn).


Nhưng thực ra, thái độ của Chu Ân Lai sẽ nhanh chóng biển đổi. Tại một cuộc gặp sau, vào cuối tháng 4, khi I-đơn tỏ ý phàn nàn là Trung Quốc không có cơ quan đại diện tại Luân Đôn thì thủ tướng Trung Quốc, trái ngược với điều đã nói cách đó bốn tuần lễ đã trả lời rằng ông ta cũng đang có ý muốn mở cơ quan đại diện (tại Luân Đôn) khi nào có thể được68 (A.Eden, Mémoires, sách đã dẫn, tr.140).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 990



WWW
« Trả lời #74 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 10:01:55 PM »

Có lẽ bắt đầu từ ngày đó, diễn ra các cuộc đàm phán kỹ thuật giữa Trung Quốc và Anh về vấn đề trao đổi cơ quan đại diện. Hum-phrây Tơ-ri-li-an, đại biểu về phía Anh trong các cuộc đàm phán này kể lại rằng chính ông ta đã tiếp xúc liên tiếp với Hoạn Hương, Vụ trưởng Vụ Tây Âu và châu Phi thuộc Bộ Ngoại giao và Lôi Nhiệm Dân, Thứ trưởng Ngoại thương Trung Quốc69 (H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.182). Trong cuộc gặp mặt H.Uyn-sơn ngày 30 tháng 5, Chu Ân Lai gợi lại vấn đề. Ông ta bảo đảm với thủ lĩnh Công đảng rằng sự có mặt của Anh ở thuộc địa Mã Lai không làm Trung Quốc phải do dự gì trong việc cử một đại diện ngoại giao đến Anh, trái ngược với thái độ của Luân Đôn tại Liên hiệp quốc đã làm Bắc Kinh rất khó chịu. Thứ trưởng Trung Quốc kết luận rằng đúng là ông ta đến Giơ-ne-vơ với ý muốn thảo luận với I-đơn về những biện pháp cụ thể có thể tiến hành để cải thiện quan hệ giữa hai nước và không lâu nữa, sẽ đi tới những quyết định theo hướng đó70 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Công văn/Londres về vấn đề "Các cuộc nói chuyện của nghị sĩ Anh với Chu Ân Lai ở Giơ-ne-vơ, Trao đổi thương mại"/3-6-1954). Hôm đó, một sự bình thường hóa nào đó về quan hệ ngoại giao giữa Bắc Kinh và Luân Đôn thế là đã được quân đội về nguyên tắc. Chính H.Tơ-ri-vi-li-an cũng kể lại rằng, những khó khăn đối với kiều dân Anh ở Trung Quốc cũng dần dần được khắc phục. Những thị thực xuất cảnh được cấp, những cuộc thương lượng về việc đóng cửa các hãng buôn Anh được tiến hành, một người Anh ở Hồng Công chạy trốn sang Trung Quốc được các nhà đương cục cộng sản trao trả, hết thảy những người Anh bị giam giữ (trừ có hai người) đã được phóng thích, những nhân viên ngân hàng và nhân viên các công ty thương mại có thể được luân phiên thay thế71 (H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.82).


Thỏa thuận cuối cùng về kiến lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước Anh và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa dạt được ngày 17 tháng 6 năm 195472 (Niên giám của Trung Quốc đều ghi ngày 17-6 là ngày kiến lập ngoại giao giữa hai nước, xem La Chine (Trung Quốc, sđ, tr.222. Cùng ngày Tân hoa xã đưa tin về thỏa thuận kiến lập ngoại giao giữa Trung Quốc và Anh (17-7-1954). Còn Trevelyan thì chỉ rõ ràng nguyên tắc về sự thỏa thuận này đã được chấp nhận trong bữa cơm tối do A.Eden thết Chu Ân Lai (sách đã dẫn, tr.83). Có lẽ, phải chăng là bữa cơm tối 1-6 mà Trevelyan cũng có mặt. Ngày 17-6 là ngày công bố sự thỏa thuận hơn là ngày ký kết chính thức. Đây là sự thỏa thuận miệng (sách đã dẫn, tr.86). W.Churchill thông báo cho Hạ viện Anh biết về sự thỏa thuận đó. Cũng vào ngày 17-6 (Parliamentary Debates, House of Comons (Biên bản họp hạ viện Anh) tập 528, cột 2275)). Hai ngày trước đó, hội nghị về Triều Tiên đã thất bại73 (Về vấn đề này, xem chương VI ở đoạn sau). Trước đó, để tránh cho hội nghị về Đông Dương chịu chung số phận, Chu Ân Lai đã đưa ra một đề nghị quan trọng về Campuchia và Lào, đáp ứng hoàn toàn các mục tiêu mà các đoàn đại biểu Pháp và Anh theo đuổi74 (Xem chương VII ở đoạn sau). Nhắc lại một cách đơn giản như vậy trình tự thời gian các sự việc xảy ra đủ để làm sáng tỏ quyết định của Trung Quốc ngày 17 tháng 6. Chu Ân Lai nhằm hai mục đích: Một mặt, quyết định kiến lập quan hệ ngoại giao với Anh sẽ cô lập Mỹ, làm sâu sắc thêm nữa những sự bất đồng sẵn có giữa Oa-sinh-tơn và Luân Đôn; mặt khác, nó xác nhận quan điểm của Anh và Trung Quốc tương đối giống nhau trong một số điểm, do đó minh họa một khả năng nào đó "cùng tồn tại hòa bình" giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau như hiệp ước Trung Quốc-Ấn Độ về Tây Tạng ký kết một tháng rưỡi trước đó. Ngoài ra, Thủ tướng Trung Quốc còn nhấn mạnh điều đó trong một buổi hội đàm thu thanh vào cuối thời gian hội nghị với Moóc-gan Phi-líp (Morgan Philips), Thư ký của Công đảng75 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 20-7-1954).


Chắc chắn là sự thỏa thuận đó còn hạn chế. Đại diện Anh tại Bắc Kinh được công nhận đầy đủ là đại biện trong lúc về phía Trung Quốc, cam kết theo nguyên tắc có đi có lại cử đến Luân Đôn một viên chức cấp bậc tương đương. Hai bên thỏa thuận rằng cả hai nhà ngoại giao sẽ là những viên chức cấp thấp76 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện Sô-ven Giơ-ne-vơ/số 789-790/18-6-1954). Chính là Hoạn Hương chuyên viên của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ, Vụ trưởng Vụ Tây Âu và châu Phi tại Bộ Ngoại giao từ năm 1949, sẽ được cử đi Luân Đôn vào tháng 9 năm sau77 (Tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 10-9-1954). Và để đánh dấu tình hình mới, Chu Ân Lai lần đầu tiên tiếp H.Tơ-ri-vi-li-an với tư cách đại biện Vương quốc Anh tại Trung Quốc, điều mà ông này chưa bao giờ đạt được78 (H.Trevelyan, sách đã dẫn, tr.83). Cuối cùng như đã thỏa thuận, chính phủ Bắc Kinh cấp thị thực xuất cảnh cho kiều dân Anh còn bị giữ lại trên lãnh thổ Trung Quốc79 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Sô-ven/Giơ-ne-vơ/số 789-790/18-6-1954. Ngày 10-7 nhà đương cục Trung Quốc phóng thích 9 thủy thủ Anh bị bắt ngày 1-6, trong hải phận Trung Quốc, ngoài khơi Hồng Công. Tin Tân hoa xã Bắc Kinh, 11-7-1954).


Nhưng, tuy nhiên sự kiện này có ý nghĩa rất lớn mà thoạt đầu chưa thể thấy được. Một mặt, vì sự thỏa thuận kiến lập ngoại giao Trung Quốc với Anh đã đạt được mà Trung Quốc không đợi Anh phải đóng cửa Lãnh sự quán tại Tanshui80 (Chỉ đến năm 1972, cơ quan lãnh sự này mới đóng cửa, khi quan hệ hai nước đã nâng lên hàng đại sứ). Sự nhượng bộ của Trung Quốc về điểm này lại rất quan trọng: Nó chứng minh Trung Quốc quan tâm đến quan hệ với Anh và nói chung, với các nước Tây Âu81 (Về vấn đề này, cần lưu ý rằng một đại diện của chính phủ Hà Lan đã đến Bắc Kinh ngày 26-5 để đàm phán về việc kiến lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc (Tin Tân hoa xã Bắc Kinh, 26-5-19554). Những mối quan hệ đó đã kiến lập ngày 19-11 cũng ở cấp đại biện. Những quan hệ tương tự sẽ được thiết lập với Na Uy ngày 5-10-1954. Tại Giơ-ne-vơ, Chu Ân Lai đã tiếp đại sứ Na Uy ở Thụy Sĩ, M.P.Anker ngày 17-6 (Tin Tân hoa xã, Giơ-ne-vơ, 17-6-1954)). Đặc biệt nó đã chứng tỏ rằng khi lợi ích dân tộc đòi hỏi thì Trung Quốc hoàn toàn dám thỏa hiệp về các vấn đề "thể diện", trái ngược với ý kiến rất nhiều lần được chấp nhận. Mặt khác, quyết định Trung-Anh này là gần gũi với đoạn trong thông báo Béc-lin, do Đa-lét yêu cầu đưa vào, nói rằng họp hội nghị Giơ-ne-vơ không được coi "như là dẫn đến việc công nhận ngoại giao trong trường hợp chưa có sự công nhận đó". Chắc chắn đây không phải là sự công nhận ngoại giao giữa Trung Quốc và Anh vì sự công nhận đó đã có từ bốn năm trước rồi. Nhưng việc thỏa thuận giữa hai nước đạt được ở Giơ-ne-vơ trong thời gian hội nghị, trong lúc Mỹ vừa tuyệt giao với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, không thể không xem như một thắng lợi đối với Trung Quốc82 (Hai tháng sau, cuộc đi thăm Trung Quốc của một đoàn đại biểu quan trọng của Công đảng Anh do Atlee dẫn đầu cũng được coi như là một thắng lợi của Trung Quốc, xem chương XI).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 990



WWW
« Trả lời #75 vào lúc: 29 Tháng Hai, 2020, 10:03:59 PM »

Trung Quốc lo ngại về hành động của Mỹ và vấn đề người Mỹ bị giam giữ ở Trung Quốc

Những "quan hệ" tay đôi của đoàn đại biểu Trung Quốc với Mỹ có tính chất hoàn toàn khác. Không có một vấn đề nào mà lập trường hai nước không khác nhau về căn bản. Những cuộc đả kích của Trung Quốc đối với Mỹ trước khi hội nghị họp mà chúng tôi đã phân tích83 (Xem lại chương III. Về thái độ của Oa-sinh-tơn đối với Trung Quốc trước khi Hội nghị Giơ-ne-vơ, xin xem bản thuyết trình đăng trong hai chuyên san của Bộ Ngoại giao Mỹ: The China Problem and U.S.Policy (Vấn đề Trung Quốc và chính sách của Mỹ) sách đã dẫn và China in the Shadow of Comunism (Trung Quốc dưới bóng chủ nghĩa cộng sản) Department of State Publication 5383, Far Eastern Series 63, tháng 2-1954 của Walter P.Mc Conaughy Vụ trưởng Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ) đã đủ biện minh điều đó. Cố gắng làm bảng liệt kê về vấn đề đó là trở lại việc gợi lên toàn bộ các vấn đề Đông Á.


Chỉ tự giới hạn trong riêng quá trình diễn biến cuộc hội nghị và các cuộc thương lượng song song kèm theo, đã có hàng loạt sự kiện không thể không làm đoàn đại biểu Trung Quốc lo ngại.

Một mặt, quá rõ ràng là Đa-lét tỏ ra do dự đối với bất kỳ giải pháp chính trị nào về Đông Dương. Tất cả các bài diễn văn và các cuộc hội đàm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ ở Giơ-ne-vơ cũng như ở Mỹ chứng tỏ rõ ràng là chính phủ Oa-sinh-tơn không tin rằng các cuộc thương lượng đang tiến hành có thể thật sự dẫn đến một giải pháp. Ngoài ra, việc Đa-lét vội vã rời Giơ-ne-vơ ngay từ ngày 3 tháng 5, bỏ lại cho B.Xmít cầm đầu đoàn đại biểu Mỹ đã làm Chu Ân Lai hết sức tức giận84 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ/bản ghi nhớ về vấn đề "Nói chuyện với một thành viên đoàn đại biểu Anh"/4-5-1954). Nói chung, người Trung Quốc nghi ngờ người Mỹ đã có ý đồ can thiệp vào Đông Dương, thậm chí trù tính cả việc gây xung đột đối với chính lãnh thổ của họ nữa85 (A.E-dén, Mémoires, sách đã dẫn, tr.136). Có thể gọi đó là lập trường cơ bản của họp. Vả lại, chính là với luận điểm nay mà Chu Ân Lai đã bắt đầu lên án chính sách của Mỹ ở Đông Nam châu Á, trong bản tham luận ngày 12 tháng 5. Ông nói:

"Thực chất của vấn đề là ở chỗ chính bọn can thiệp Mỹ sợ hòa bình (...). Cần phải nói rằng hoạt động của Mỹ trong việc lập các khối xâm lược ở châu Á không tách rời khỏi mục tiêu của chúng là chuẩn bị chiến tranh tổng lực" (...)86 (Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (...), sách đã dẫn, tr.66 và 68).


Yếu tố thứ hai có thể đặc biệt gây đe dọa đối với Trung Quốc là việc nối lại các cuộc thương lượng Pháp-Mỹ về khả năng can thiệp quân sự của Mỹ ở Đông Dương. Thực vậy, ngày 13 tháng 5, sau hôm Chu Ân Lai đọc tham luận trình bày quan điểm của Trung Quốc về Đông Dương, tờ Thời báo Niu Oóc đăng tin Pháp đã yêu cầu Mỹ phải hành động ngay nếu cuộc thương lượng không đi đến kết quả. Thực ra, bài báo nói đến cuộc vận động của Đại sứ Pháp Bon-nê (Bonnet) tại Oa-sinh-tơn với Đa-lét mà người đại diện của Pháp đã thật sự đặt một vấn đề như vậy. Bốn mươi tám giờ sau, Đại sứ Mỹ Đi-lông (Dillon) tại Pháp, đến gặp Su-man (Shumann), trả lời cho biết việc dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương, trong trường hợp hội nghị Giơ-ne-vơ thất bại, phụ thuộc vào bảy điều kiện sau đây:

"1. Pháp và ba quốc gia liên kết phải đưa ra yêu cầu Mỹ giúp đỡ.

2. Yêu cầu nói trên của Pháp và ba nước phải đưa ra với các nước sau: Thái Lan, Philippin, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lơn, Anh, Mỹ sẽ cho là đủ điều kiện để hành động khi hai nước đầu đáp ứng tích cực và hai nước sau dự kiến là có thể như vậy (vì phải đợi kết quả tuyển cử ở Ô-xtrây-li-a vào tháng 8 ) và Anh, nếu không muốn tham gia, ít nhất cũng chấp nhận yêu cầu đó.

3. Liên hiệp quốc phảu "che đậy" cho công cuộc (giúp đỡ) này. Nhằm mục đích đó, người ta có thể dự kiến rằng Thái Lan hoặc Lào hay Campuchia yêu cầu Liên hiệp quốc cử quan sát viên đến để phát hiện hay ngăn chặn mọi âm mưu xâm lược. Thủ tục này phải được tổ chức càng nhanh càng tốt.

4. Chính phủ Pháp khẳng định lại nền độc lập hoàn toàn của ba quốc gia (liên kết). Chính phủ Pháp nói rõ rằng ba quốc gia đó có thể đi đến thoát ly khỏi Liên hiệp Pháp.

5. Trong suốt thời gian diễn ra hành động chung, chính phủ Pháp nói rõ rằng Pháp cam kết không rút quân đội của mình (khỏi Đông Dương), thỏa thuận rằng cố gắng của Mỹ trước hết là hải quân, không quân, nhưng cũng có thể hiểu là cả lực lượng trên bộ nữa. Ý căn bản là các đơn vị Mỹ sẽ đến bổ sung các lực lượng hiện có chứ không phải để thay thế các lực lượng này.

6. Các hiệp định sẽ được ký kết giữa Mỹ và Pháp để tổ chức việc chỉ huy, phân công nhiệm vụ và huấn luyện quân đội Việt Nam.

7. Yêu cầu viện trợ của Pháp phải được Nghị viện Pháp thông qua"87 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/Bộ Ngoại giao, trình Bộ trưởng về vấn đề "Tình hình thương lượng Pháp-Mỹ hiện nay"/31-5-1954, tr.1-2).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM