Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Mười, 2020, 11:39:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung đoàn 96 - Trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp  (Đọc 15040 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #40 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 09:58:57 pm »


II - GIẢI PHÓNG ÁT-TÔ-PƠ, BÔ-LÔ-VEN, XA-RA-VAN Ở HẠ LÀO

1. Từ tháng 10 năm 1953, các lực lượng Quân tình nguyện phối hợp chặt chẽ với bạn Pha-thét Lào đã phát động toàn dân vùng giải phóng đấu tranh với địch, bảo vệ vùng tự do, chống càn quét lấn chiếm đã giành được nhiều thắng lợi. Bộ chỉ huy khu Hạ Lào đã huấn luyện các đơn vị, tổ chức nắm tình hình địch, chuẩn bị lương thực, đạn dược, bảo đảm cho hoạt động Xuân - Hè 1954. Ngày 16 tháng 11 năm 1953 khi chúng tôi đến Tổng cục Chính trị ở Việt Bắc nhận nhiệm vụ, đồng chí Nguyễn Chánh Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên Khu 5 trao cho tôi bức thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp gửi Ban cán sự Hạ Lào và anh Nguyễn Chính Cầu. Bức thư gủi Trung đoàn 101 và riêng cho tiểu đoàn 436. Đồng chí nêu rõ yêu cầu phối hợp chiến trường Hạ Lào và Bắc Tây Nguyên.

Từ đầu tháng 1 năm 1954, Trung đoàn 101 thiếu tiểu đoàn 436 và Trung đoàn 66 của Sư đoàn 304 đã tiến công Trung Lào, giải phóng thị xã Thà Khẹt và phần lớn tỉnh Xa-va-na-khẹt, dọc phía đông trục quốc lộ 13. Cuộc tiến công đã gây bất ngờ lớn đối với địch ở chiến trường Trung Đông Dương và phối hợp nhịp nhàng với cuộc tiến quân của chủ lực Bộ và Tây Bắc Việt Nam. Ở Bắc Tây Nguyên các đơn vị chủ lực của Liên khu 5 đã hành quân và tiếp cận các vị trí đông-bắc Công Tum như Mang Đen, Mang Bút, Công Brai.

Sau hơn một tháng hành quân tiểu đoàn 436, Trung đoàn 101, Sư đoàn 325, đã đến căn cứ địa phía đông (Tà-ven-oọc) ngày 25 tháng 12 năm 1953. Giữa hạ tuần tháng 1 năm 1954; tại Huội Khâm-xa-i phía đông bản Hạt-xa-ti 20km, Ban cán sự Hạ Lào và Bộ chỉ huy Quân tình nguyện dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Chính Cầu, đã mở hội nghị quân sự có Cụ Xi-thôn Com-ma-đăm, Khu trưởng, tham dự để nghiên cứu quán triệt tinh thần nội dung bức thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp. Chiến thắng tiêu diệt Mang Đen của chủ lực Liên khu 5 (27-1-1954) là một cổ vũ lớn đối với Hạ Lào. Theo kế hoạch do cơ quan tham mưu Hạ Lào vạch ra, mục tiêu chủ yếu là tiêu diệt vị trí Pui tiền đồn, cùng lúc dùng đặc công đánh vào thị xã, tiêu diệt tiểu khu Át-tô-pơ, giải phóng toàn tỉnh này. Tiểu đoàn 436 từ xa đến, vừa vây, vừa làm công tác tổ chức chiến đấu. 4 giờ 30 phút ngày 3 tháng 2 năm 1954 vị trí Pui bị tiêu diệt; lực lượng đặc công và bạn cùng lúc tiến công trung tâm thị xã. Địch tháo chạy, ta truy kích tận chân núi Phu-luông (Cao nguyên Bô-lô-ven) và đã tiêu diệt phần lớn lực lượng địch. Toàn bộ hệ thống chiếm đóng của địch trên trục đường 16 dọc sông Xê Kông tháo chạy. Lực lượng Liên khu 5 sau khi tiến vào Đắc-Tô, đã truy kích địch tận Mường Cầu, Hạ Lào. Một cuộc hội quân tại đây giữa lực lượng Liên Khu 5 với lực lượng Quân tình nguyện và Pha-thét Lào - Một hình ảnh rất đẹp và xúc động, toàn bộ tỉnh At-tô-pơ đã được giải phóng vào ngày 5 tháng 2 năm 1954.

2. Chiến thắng Át-tô-pơ, Bắc Tây Nguyên, Trung Lào lan truyền rất nhanh, cổ vũ khí thế quân dân Hạ Lào, gây hoang mang lớn cho địch. Thừa thắng tiểu đoàn 436 truy kích địch lên tận cao nguyên Bô-lô-ven, đập tan các vị trí Chăm-pi Hỉn-lập phía nam Pắc-xong, bao vây đập tan vị trí Huội-kòn, chỗ dựa của lực lượng phỉ Nha-hớn, tiền đồn của Pắc-xong. Một lực lượng chính trị, quân sự của bạn Lào từ hướng Tam-ma-loi, Lanhao (tây thị xã Át-tô-pơ) tiến vào thu phục phỉ Nha-hớn. Hệ thống cứ điểm địch từ Pắc-xong đến Tha-teng, bản Phôn tháo chạy. Tiểu đoàn 436 và Pha-thét Lào thừa thắng tiến về Lào Ngam, Xẻng Vang, Kèng Kịa, thọc sâu đến tả, hữu ngạn sông Xê-đôn (bắc Lào nam 50km), thực hành bao vây thị xã Xa-ra-van. Một vùng rộng lớn tỉnh Xa-ra-van từ đông đường 13 đến Tây Trường Sơn không còn địch.

Trung đoàn 101 thiếu tiểu đoàn 436 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 66, Sư đoàn 304 sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Trung Lào, đầu tháng 3 năm 1954 tiến xuống Hạ Lào. Tiểu đoàn của Trung đoàn 66 do đồng chí Mai Hiền chỉ huy hoạt động ở tả, hữu ngạn sông Xê-đôn từ Đông Xê-đôn đến Bắc Pắc-xế. Một tiểu đoàn của Trung đoàn 101 hoạt động vùng Chăm-pát-xắc, phối hợp với bạn Lào. Sau gần hai tháng đã giải phóng hầu hết Chăm-pát-xắc từ huyện Phôn thông đường số 10 Pắc-xê - Thái Lan đến huyện Xu-ku-ma, huyện Mường Mun, huyện Mường Khốn giáp Stung-Treng Cam-pu-chia là một vùng sông lớn, nhiều thác ghềnh ta không đến được. Vùng giải phóng Chăn-pát-xắc mở rộng đến biên giới Thái Lan. Một tiểu đoàn còn lại của Trung đoàn 101 theo trục đường 13 từ Nam Pắc-xế tiến sâu đến bắc Stung-Treng. Các đơn vị quân tình nguyện Hạ Lào như tiểu đoàn 200, tiểu đoàn 49 và lực lượng bạn vừa làm nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với các đơn vị của Trung đoàn 101, vừa giúp địa phương củng cố và giữ vững vùng giải phóng.

Ban chỉ huy Trung đoàn 101 (thiếu) do đồng chí Trần Văn Bành Trung đoàn trưởng, đồng chí Hoàng Văn Thái Chính ủy và một phần lực lượng cơ quan trở thành cơ quan chỉ huy giúp đồng chí Trần Quý Hai điều hành chung về hoạt động quân sự. Đồng chí Trần Quý Hai được bổ sung vào Thường vụ Ban cán sự Đảng bộ Hạ Lào đặc trách về mặt quân sự.

Thắng lợi trên các chiến trường từ bắc đến nam mà trực tiếp là Trung Lào, Bắc Tây Nguyên đã tạo nhiều thuận lợi cho Hạ Lào hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Và chiến thắng của quân, dân Hạ Lào có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến trường Bắc Tây Nguyên chiến trường Cam-pu-chia.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #41 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 09:59:41 pm »


III - TIẾN VÀO ĐÔNG BẮC CAM-PU-CHIA, GlẢl PHÓNG KHU VỰC PHÍA ĐÔNG CÁC TỈNH STUNG-TRENG, KRA-CHÊ

Đông bắc Cam-pu-chia gồm bốn tỉnh: Stung-Treng, Kra-Chê, Rat-ta-na-ki-ri và Môn-dun-ki-ri, có biên giới chung với các tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc. Đường liên quốc gia số 19 xuyên suốt từ Bình Định đến Gia Lai, vượt biên giới đến Bồ Keo, Stung-Treng của Cam-pu-chia. Việc lực lượng của ta phối hợp với bạn Cam-pu-chia giải phóng phía đông đường số 13 chạy qua hai tỉnh Stung-Treng, Kra-Chê có ảnh hưởng trực tiếp đối với Plây Cu, Buôn Ma Thuột.

Đồng thời với cuộc tiến quân của tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 66 thọc đến bắc Pắc-xế, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 101 từ nam Pắc-xế thọc sâu đến bắc Stung-Treng, tiểu đoàn 436 được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, bỏ việc bao vây chuẩn bị tiêu diệt địch ở Xa-ra-van, cấp tốc tiến xuống đông-bắc Cam-pu-chia. Hành quân qua vùng phỉ La-ve, tiến xa hậu phương của Hạ Lào, không hiểu rõ địa hình, địch tình là khó khăn không nhỏ. Ngày 31 tháng 4 năm 1954 sau hơn 10 ngày hành quân, được sự giúp đỡ của bạn Lào, đơn vị đã tiếp cận tiền đồn Vơn-xai, thực hành bao vây , tổ chức tiến công một đại đội tăng cường của tiểu đoàn cơ động thuộc GM 51 đến tăng viện. Như vậy ta và địch đồng thời cùng đến Vơn-xai trong ngày 31 tháng 4. Tiểu đoàn 436 đã tập kích tiêu diệt bộ phận lớn đại đội Âu Phi và một trung đội xe bọc thép, tiêu diệt hai vị trí chiếm đóng. Vận động phục kích đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn cơ động thiện chiến của GM 51, truy kích đến tận Xiêm-pang, giải phóng hoàn toàn Vơn-xai, thu nhiều vũ khí trang bị: 21 xe cơ giới, phá hủy bốn xe bọc thép, bắt sáu tù binh Âu Phi và số lớn quân ngụy Cam-pu-chia. Các cứ điểm địch ở Lom Phát, Bô Kham, Bô Keo tháo chạy. Đường số 19 từ biên giới Việt Nam đến cầu Xê-rê-pốc (phía tây thị xã Stung-Treng) không còn địch.

Sau chiến thắng ở Vơn-xai, tiểu đoàn 436 thọc sâu xuống hướng Kra Chê, vận động phục kích tiêu diệt gọn một đoàn xe tiếp vận cho GM 51 gồm một đại đội hạ sĩ quan, sĩ quan của Pháp vừa tốt nghiệp trường võ bị Xanh-suya sang bổ sung cho GM 51, bắt sống 33 tên, diệt gần hết một đại đội ngụy Cam-pu-chia hộ tống, thu toàn bộ vũ khí, trang bị, lương thực, phá hủy trên 40 xe các loại có bốn xe bọc thép. Thắng trận này, tiểu đoàn 436 mới có gạo ăn. Yêu cầu chủ yếu lúc này là lương thực nên chúng tôi chủ trương đánh "công voa" từ phía Nam ra. Đơn vị thay đổi toàn bộ vũ khí, và chúng tôi đã tiến sâu vào vùng không có cơ sở.

Sau trận này đơn vị được lệnh tiến quân về Mỏ Vẹt, Tây Ninh. Bộ Tư lệnh Nam Bộ đã cử đồng chí Thành đại đội trưởng và một trung đội ra đón chúng tôi. Sau nhiều ngày hành quân, đơn vị đến vùng Xê-rê-chi trên đường số 13 cách Kra Chê 20 ki-lô-mét về phía đông. Để ngăn chặn đơn vị tiến về Sno-un, địch đã đưa một lực lượng khá đông gồm bộ binh, một đại đội pháo 105 ly một đại đội cối 106,7, hai trung đội xe bọc thép, đánh phá quyết liệt vào khu vực dừng chân, một vài trận đụng độ đã xảy ra. Vào thời gian này tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của địch đã bị tiêu diệt. Tiểu đoàn 436 nhận được lệnh chuyển quân về Hạ Lào, và phối hợp với bạn Lào, chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng giải quyết được khu vực phỉ Nai-koong-tanh.

Ở miền Đông Cam-pu-chia, Quân tình nguyện Việt Nam và bạn Cam-pu-chia đã giải phóng phần lớn tỉnh Công Pông Chàm. Vùng giải phóng Đông và Đông - Bắc Căm-pu-chia đã được nối liền, liên hoàn với vùng giải phóng Hạ Lào, Trung Lào. Con đường chiến lược Nam - Bắc Đông Dương đã được khai thông.

Tiểu đoàn 436 là một đơn vị cấp chiến thuật, nhưng hiệu suất và hiệu quả chiến đấu của nó đã có tác động thọc sâu chiến dịch rõ rệt. Cùng lực lượng tại chỗ giải phóng phần lớn Hạ Lào, dựa vào hậu phương Hạ Lào thọc sâu giải phóng Đông - Bắc Cam-pu-chia, phối hợp chặt chẽ với Tây Nguyên, Nam Bộ. Hạ Lào và một phần Đông Bắc Cam-pu-chia tiếp giáp với Hạ Lào là chiến trường du kích đã được chuẩn bị, sẵn có lực lượng vũ trang tại chỗ gồm Quân tình nguyện và lực lượng vũ trang của bạn, có chính quyền ở phần lớn các địa phuơng để huy động lương thực. Trong khi địch bị thu hút vào chiến trường chính Bắc Bộ và các chiến trường phối hợp lớn như Trung Lào, Thượng Lào, Liên khu 5, sơ hở phía sau lưng, thì một bộ phận chủ lực cơ động rất tinh nhuệ của ta, thọc sâu, phối hợp với lực lượng tại chỗ được chuẩn bị trước, bất ngờ tiến công có thể thu được thắng lợi lớn. Tiến quân vào một vùng chưa hiểu địa hình, địch tình, có khi xa hậu phương khó tiếp tế thì đơn vị thọc sâu tuy nhỏ, gọn nhưng phải rất tinh nhuệ, thiện chiến và có người chỉ huy rất kiên quyết, dũng cảm, linh hoạt, có bản lĩnh khắc phục mọi khó khăn, chấp hành triệt để mệnh lệnh. Đây là vấn đề đáng được nghiên cứu để rút ra bài học cho mai sau.

L.K
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #42 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 10:04:44 pm »


TRỰC TIẾP ĐƯƠNG ĐẦU VỚI MŨI TLẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC CỦA NA-VA

... Theo đúng kế hoạch, từ tháng giêng năm 1954, các chiến trường sau lưng địch lần lượt nổ súng.

Ở Quảng Nam, đêm ngày 4 tháng 1, lực lượng địa phương tiến công tiêu diệt lô cốt Gò Đình, tiếp đến đêm ngày 7 tháng 1 cùng một lúc tiêu diệt hai cứ điểm Châu Lâu và Non Trước, thọc sâu vào thị xã Hội An, tập kích một loạt cơ quan, công sở, vị trí địch, đánh thiệt hại chi đoàn "nghĩa dũng đoàn".

Đêm ngày 11 tháng 1, lực lượng vũ trang Khánh Hòa luồn vào thị xã Nha Trang, đốt cháy bốn triệu lít xăng, đồng thời tiến công tiêu diệt khu hành chánh Mỹ Lệ. Đêm 15, quân ta lại tập kích căn cứ tiếp vận tiền phương của địch ở Ninh Hòa, phá hủy nhiều kho vũ khí và phương tiện chiến tranh, giết và làm bị thương trên một trăm tên. (Ninh Hòa là đầu cầu quân Pháp tiến công ra Phú Yên).

Ở Đắc Lắc, đêm ngày 18 tháng 1, bộ đội địa phương tiến công tiêu diệt cứ điểm Ma-tê, đánh vào khu kho dự trữ cho chiến dịch Át-lăng của địch ở buôn Ai-riêng, phá 24 kho quân trang.

Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang Ninh Thuận, Bình Thuận tiến công tiêu diệt hai đại đội địch, san phẳng các cứ điểm Pascal và Sông Cạn, liên tục đột nhập thị xã Phan Thiết diệt tề, trừ gian, buộc địch phải điều lực lượng về bảo vệ thị xã.

Các chiến trường phía sau lưng địch hoạt động đều, đánh trúng một số mục tiêu chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn của địch (Át lăng), nhưng vẫn chưa đủ buộc địch phải đối phó. Sau khi chiếm lại các vị trí bị tiêu diệt và tăng cường bảo vệ các đường giao thông, ngày 20 tháng 1, 22 tiểu đoàn Pháp trong đó có bốn binh đoàn cơ động số 10, 100, 41, 42 và hai tiểu đoàn ngụy đánh ra tỉnh Phú Yên.

Từ đầu tháng 1 năm 1954, Tỉnh ủy Phú Yên đã chủ động lãnh đạo các cơ quan quân-dân-chính khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, đồng thời bàn bạc kế hoạch với Tỉnh ủy Khánh Hòa và Ban cán sự Đắc Lắc.

Dựa vào làng chiến đấu và thế trận đã chuẩn bị sẵn, quân và dân Phú Yên chủ động đánh ngay từ lúc địch mới đến. Nổi bật là các đại đội 377, 389 và du kích các xã Hòa Hiệp, Hòa Kiến, Hòa Thành đã liên tục đánh quyết liệt các cuộc tiến công, các đoàn xe vận tải tiếp tế của địch. Du kích và bộ đội địa phương còn đánh vào sân bay Tuy Hòa, gây cho địch nhiều thiệt hại. Chỉ trong 10 ngày đầu, quân và dân Phú Yên đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 800 tên địch.

Chia lửa với Phú Yên, quân và dân Khánh Hòa liên tục quấy rối, tập kích các đồn bót, đánh phá giao thông của địch ở phía nam Đèo Cả. Quân và dân Đắc Lắc đánh đường tiếp vận và các đơn vị phía sau cánh quân địch đang từ Tuy Bình - Củng Sơn đánh xuống Tuy Hòa, diệt và bắt hàng trăm tên.

Sự phối hợp chiến đấu nhịp nhàng và chặt chẽ giữa quân và dân ba tỉnh Phú Yên - Khánh Hòa - Đắc Lắc đã tạo ra thế trận liên hoàn hỗ trợ, vừa chặn đánh ở phía trước, vừa tiến công ở phía sau, khiến cho quân địch gặp nhiều khó khăn, lúng túng phải mất đúng 26 ngày chúng mới tạm kiểm soát được thị xã và toàn huyện Tuy Hòa...
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #43 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 10:07:33 pm »


Sau khi rút chạy khỏi Công Tum và dồn lực lượng từ đồng bằng lên phòng thủ Tây Nguyên, quân Pháp hình thành hai khối lớn. Ở Tây Nguyên và ở đồng bằng. Ở đồng bằng có mười tiểu đoàn, trong đó có binh đoàn cơ động số 10 đang chiếm giữ thị xã Tuy Hòa và các vị trí trọng yếu: Ngã ba Chí Thạnh, Sông Cầu, La Hai trên trục đường số 1 và số 6. Phía sau, sáu tiểu đoàn dự bị đứng ở Ninh Hòa, Nha Trang...

Tranh thủ lúc địch co về phòng thủ, ta nhanh chóng ổn định vùng mới giải phóng; sẵn sàng đánh bại các cuộc hành quân phản kích của địch. Rút kinh nghiệm ở Phú Yên để chỉ đạo các tỉnh tự do khác, trước hết là Bình Định, tuyển thêm tân binh, xây dựng thêm các đơn vị mới, tăng thêm các đơn vị cơ động, tạo ra những hướng mới...

Trong khi đó quân và dân Phú Yên vẫn tiếp tục chặn đánh tiêu hao kìm chân địch. Bộ đội địa phương, du kích, nhân dân các huyện Đồng Xuân, Tuy An đào đắp, thiết lập thêm hàng ngàn hầm chông, cạm bẫy ở khắp thôn xóm và trên mọi ngả đường. Hơn 100 lính địch chết và bị thương do sập hầm chông và vướng mìn khi đánh vào thị trấn La Hai. Binh đoàn cơ động số 10 của địch bị bộ đội địa phương và du kích Tuy An diệt trên 300 tên trên đoạn đường từ Tuy Hòa đến Chí Thạnh. Vừa đánh địch tràn đến địa phương, nhân dân Phú Yên còn đóng góp hàng trăm tấn lương thực và cử hàng ngàn dân công vận chuyển lên phục vụ chủ lực Khu đang tác chiến trên chiến trường Đắc Lắc...

Thực hiện nghị quyết của Tỉnh ủy chỉ riêng trong tháng 4 năm 1954, Phú Yên đã huy động 5.752 dân công, 751 ngựa và nhiều lương thực, thục phẩm phục vụ cho Nam Tây Nguyên.

Vừa chuẩn bị đánh địch, vừa huy động sức người, sức của cho tiền tuyến, hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định còn xây dựng thêm được mười đại đội độc lập và hai tiểu đoàn tập trung, huy động 247 ngàn lượt dân công phục vụ chiến trường.

Phong trào ủng hộ tiền tuyến và giúp đỡ gia đình bộ đội, gia đình có người đi dân công được phát động rộng rãi và thu hút tất cả mọi người tham gia. Nhân dân trong từng xóm phân công làm giúp công việc đồng áng cho gia đình có người đi bộ đội, hoặc đi dân công phục vụ chiến trường. Ngoài thuế nông nghiệp, nhân dân còn tự nguyện đóng góp hàng ngàn tấn lương thực phục vụ tiền tuyến.

Nhằm đánh vào chỗ yếu và sơ hở của địch, cuối tháng 2 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định đưa Trung đoàn 803 (thiếu một tiểu đoàn) tiến vào khu tam giác An Khê - Plây Cu - Cheo Reo đánh mạnh sau lưng cụm quân địch trên đường 19, tiêu diệt hệ thống đồn bót bảo vệ đường số 7 và đường 14... Các tiểu đoàn 365 và Trung đoàn 803 và tiểu đoàn 375 được lệnh tiến vào Phú Yên, cùng lực lượng địa phương tiêu diệt hệ thống đồn bót địch vừa thiết lập, uy hiếp mạnh phía sau lưng cánh quân địch theo đường số 1 ra Bình Định.

Trong lúc đó địch chủ quan cho rằng cuộc tiến công Đông Xuân 1953-1954 của ta đã kết thúc. Chủ lực ta trên chiến trường chính hết khả năng đánh lớn, nên cuối tháng 2 năm 54, Na-va ra lệnh đưa binh đoàn cơ động dù - đơn vị dự bị chiến lược tinh nhuệ của chúng từ Hà Nội vào tham gia bước hai cuộc hành quân Át-lăng
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #44 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 10:09:59 pm »


Ngày 12 tháng 3, tám tiểu đoàn quân Pháp, nòng cốt là binh đoàn cơ động số 10 bắt đầu đổ bộ lên Quy Nhơn, đồng thời hai binh đoàn cơ động 41 và 42 từ Phú Yên vượt đèo Cù Mông và theo đường số 6 đánh ra Diêu Trì. Phía tây bốn binh đoàn cơ động 11, 21, 100, Dù, từ An Khê kéo ra chiếm đầu cầu Thượng An, chuẩn bị đánh xuống Phú Phong, Bình Định. Địch đổ bộ lên Quy Nhơn ngày 12 tháng 3, ngay hôm sau 13 tháng 3, chủ lực ta trên chiến trường Bắc Bộ tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ... Một lần nữa Na-va lại rơi vào tình trạng bị động đối phó. Ngày 16 tháng 3, binh đoàn cơ động Dù đang ở An Khê được lệnh hối hả chạy ra Hà Nội.

Giữa lúc đó Trung đoàn 803 nhận được lệnh nhanh chóng chuyển về phía đông Cheo Reo, phá vỡ phòng tuyến của địch trên đường số 7 đoạn từ Cheo Reo đi Bà Lá... Trong vòng 12 ngày, trung đoàn liên tiếp đánh thắng bốn trận lớn ở Trà Khê, Buôn Ma Bếp, Ai Nu, Ka Ting diệt gọn sáu đại đội, phá hủy 24 xe cơ giới. Hệ thống phòng ngự của địch từ Cheo Reo đi Bà Lá hoàn toàn sụp đổ. Đường số 7 bị cắt đứt, chi khu quân sự Cheo Reo bị cô lập.

Thấy địa bàn chiến lược Nam Tây Nguyên bị uy hiếp mạnh, bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng buộc phải rút binh đoàn cơ động số 42 từ Bình Định quay về ứng cứu.

Ở Phú Yên chưa thấy chủ lực của ta xuất hiện cho nên địch rất sơ hở. Được sự giúp đỡ tích cực của du kích và nhân dân, sau khi bí mật luồn vào cụm quân địch ở La Hai, tiểu đoàn 375 táo bạo phục kích ngay trên đường số 1 diệt gọn một đoàn xe 16 chiếc tại Phong Niên (6 tháng 3).

Tiếp đến ngày 21 tháng 3, tiểu đoàn 365, trong trận gặp địch trên đường hành quân ở Suối Cối đã mưu trí linh hoạt nổ súng đánh phủ đầu chúng, lúc chưa kịp triển khai, tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn ngự lâm quân số 1, bắt sống trên 200 tù binh sau 45 phút chiến đấu.

Bị mất hai tiểu đoàn trong vòng nửa tháng, bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng của địch lại hốt hoảng báo động: Chủ lực Việt Minh đã vào Phú Yên...

Các đơn vị chủ lực sau thắng lợi đầu tiên đã nhanh chóng tiến sâu về Tuy Hòa. Ngày 10 tháng 4, tiểu đoàn 375 tập kích cụm quân ngụy tại đèo Quán Cau, diệt và làm bị thương hàng trăm tên. Ngày 21 tháng 4, bí mật vượt sông Đà Rằng, tiểu đoàn 365 được tăng cường một đại đội của tiểu đoàn 375 đã tập kích tiêu diệt một tiểu đoàn quân ngụy tại Bàn Nham, phát triển tiến công đánh thiệt nặng tiểu đoàn thứ hai của địch ở cầu Bàn Thạch.

Lúc này, phần lớn các đơn vị cơ động tinh nhuệ của Pháp đều tập trung ở Quy Nhơn và đường 19. Quân chốt giữ Phú Yên phần lớn là các tiểu đoàn khinh quân ngụy mới thành lập, tinh thần bạc nhược, sức chiến đấu kém, không thể chống đỡ nổi trước sức tiến công dồn dập của ta. Bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng lại đứng trước sự lựa chọn khó khăn: tiếp tục dồn sức đánh ra Bình Định thì tình hình Phú Yên sẽ đảo lộn. Rút lực lượng về phòng thủ Phú Yên sau khi binh đoàn cơ động 100 bị đánh thiệt hại nặng phải lui về sau củng cố, binh đoàn cơ động 42 quay về phòng thủ đường số 7, thì cuộc tiến công ra Bình Định cầm chắc thất bại. Cuối cùng Đa Bô-pho lại phải rút binh đoàn cơ động số 41 từ Diêu Trì (Bình Định) quay về phòng thủ Tuy Hòa. Tuy nhiên trước những trận đánh liên tục của quân và dân Phú Yên, quân Pháp phải lần lượt co hẹp phạm vi kiểm soát. Đến đầu tháng 5 năm 54, trên thực tế quân Pháp chỉ tập trung lại bốn cụm lớn: La Hai, Sông Cầu, Chí Thạnh và Tuy Hòa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #45 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 10:15:10 pm »


Ngày 10 tháng 3, quân địch từ Sông Cầu, La Hai theo đường số 1 và đường số 6 đánh ra Bình Định. Bộ đội địa phương và du kích lợi dụng núi rừng hiểm trở, bí mật bám sát đường, liên tục đánh vào sườn và sau lưng địch. Nhiều nơi du kích đào hầm "độn thổ" ngay bên mép đường, chờ địch đến tận nơi mới nổ mìn, xông ra tiêu diệt rồi biến ngay vào rừng. Bị đánh liên tục, đến chiều ngày 11 tháng 3 quân địch mới gặp nhau tại Diêu Trì. Cạnh sườn đã có quân bảo vệ, mờ sáng ngày 12 tháng 3, cánh quân đường biển của địch bắt đầu đổ bộ vào Quy Nhơn.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Bình Định, có kinh nghiệm đánh địch ở Phú Yên, quân và dân Quy Nhơn triệt để thực hiện phá nhà, phá đường gây trở ngại cho địch, tổ chức các ổ chiến đấu bí mật, bố trí hầm chông, bãi mìn ở những khu vực dự kiến địch sẽ đi tới...

Một bộ phận đặc công Liên khu đào hầm bí mật, lót sắn vũ khí, lương thực chuẩn bị nằm lại trong lòng địch.

Chỉ trong ba ngày đầu (từ 12 đến 14 tháng 3) dân quân du kích, bộ đội địa phương đã chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu trên 500 tên địch, trong đó gần 300 tên bị thương vong vì chông mìn.

Theo kế hoạch chung, tiểu đoàn 30 của Trung đoàn 96 (vốn đã ở Bình Định) chuyển về chiến đấu ở Quy Nhơn. Mặt trận Quy Nhơn được thành lập để thống nhất chỉ huy các lực lượng. Chiến sự mỗi ngày một quyết liệt.

Dựa vào ưu thế binh lực và hỏa lực, quân Pháp ào ạt đánh chiếm một số vị trí ngoại vi thị xã và tiến rộng ra Phú Bài, Phước Hải... Quân và dân Quy Nhơn, Tuy Phước ngày đêm chặn đánh, liên tiếp đập tan các cuộc càn quét của địch vào cầu Sông Ngang, Trường Ức; tập kích tiêu diệt các đơn vị địch ở Lương Nông, Xóm Bảy. Đêm 3 tháng 4, lực lượng đặc công lót sẵn ở Quy Nhơn tập kích vào "Trung Hoa hý viện" diệt hơn hai trăm địch.

Bị đánh mạnh và bị rút lực lượng đối phó ở các chiến trường khác, ngày 4 tháng 4, quân Pháp phải rút bỏ tất cả các đồn bót mới đóng ở phía đông Tuy Phước quay về cố thủ Quy Nhơn. Trong lúc đó, cánh quân địch trên đường 19 sau khi chiếm Thượng An cũng buộc phải dừng lại vì binh đoàn dù bị trả về Hà Nội, binh đoàn cơ động 100 mất sức chiến đấu đang lo củng cố...

Ở mặt trận sau lưng địch, ngày 11 tháng 6 năm 1954, trung đoàn 803 tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Tuy Bình, Buôn Ai-riêng, Buôn Thơ trên tuyến giáp ranh hai tỉnh Phú Yên và Đắc Lắc, diệt một tiểu đoàn và ba đại đội, bắt sống trên 600 tù binh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #46 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2017, 10:16:04 pm »


Lúc này quân Pháp đang thu hẹp phạm vi chiếm đóng để bảo toàn và tập trung lực lượng có trọng điểm theo ý đồ của Ê-ly (tướng Pháp vừa sang thay bại tướng Na-va). Thừa lúc quân Pháp ở Phú Yên đang vội vã tháo chạy khỏi Sông Cầu và Chí Thạnh, đêm 21 tháng 6, Trung đoàn 803 được tăng cường tiểu đoàn 375 và một bộ phận đặc công Liên khu cùng lực lượng địa phương Phú Yên đồng loạt tiến công cụm quân địch ở Màng Màng, các cứ điểm núi Sầm, núi Hùng, đồng thời thọc sâu tiến công bãi xe cơ giới, kho đạn, kho xăng và tiểu đoàn khinh quân ngụy tại trung tâm thị xã Tuy Hòa. Chiến sự diễn ra quyết liệt trong một khu vực dài gần 10 ki-lô-mét rộng hơn 6 ki-lô-mét. Lửa từ các kho xăng bị đánh cháy bốc cao hàng chục mét. Tiếng nổ của các kho đạn bị phá hủy làm rung chuyển một vùng rộng lớn. Sau một đêm chiến đấu quyết liệt, ta đã tiêu diệt gần hết tiểu đoàn khinh quân ngụy 717, đánh thiệt hại nặng ba tiểu đoàn khác, phá hủy trên 200 xe cơ giới, đốt cháy và phá tung các kho đạn, kho xăng dự trữ của địch tại trung tâm thị xã.

Bốn ngày sau, ta lại chặn đánh tiêu diệt một đoàn xe 79 chiếc trên Đèo Cả, cắt đứt mọi con đường tiếp tế trên bộ của địch. Thị xã Tuy Hòa, mảnh đất cuối cùng quân Pháp còn giữ được ở Phú Yên đã bị bao vây...

Ngày 8 tháng 7 năm 1954, quân ta lại thọc sâu đánh phá các kho dự trữ của quân Pháp ở gần sát mép biên của thị xã Tuy Hòa, gây ra nhiều đám cháy lớn từ nửa đêm đến sáng.

Tinh thần binh lính địch dao động mạnh. Nhiều đơn vị quân ngụy đào ngũ tập thể. Lính của binh đoàn cơ động 21 không chịu ra trận. Quân ngụy đóng ở Phú Ân, núi Hùng, Màng Màng (bắc thị xã Tuy Hòa) bắn chết sĩ quan chỉ huy người Pháp rồi mang súng chạy ra vùng giải phóng.

Bộ chỉ huy chiến dịch Át-lăng của Pháp chẳng những không rút được lực lượng ở phía sau đưa đi tiến công vùng tự do, mà nhiều lúc phải đưa các đơn vị cơ động chiến đấu ở phía trước quay về đối phó với các hoạt động của du kích. Mâu thuẫn giữa phân tán và tập trung, giữa tiến công ra vùng tự do hay quay về bảo vệ sào huyệt của địch mỗi lúc một thêm gay gắt.

Cuộc tiến công chiến lược đầy tham vọng của Na-va trên chiến trường Nam Đông Dương mà điểm trung tâm là cuộc hành quân Át-lăng đến đây đã thất bại. Báo Le Monde tờ báo của tư bản Pháp số ra ngày 24 tháng 4, đã chưa xót thú nhận: "Atlante đã phá sản hoàn toàn". (Sách "Chiến thắng Điện Biên Phủ" NXBQĐND 1975 - Hà Nội, tr.433)

Trích "Khu 5-30 năm chiến tranh giải phóng"
Tập 1 - Bộ Tư lệnh QK5 xuất bản năm 1986
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #47 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2017, 10:46:08 am »


TRẬN ĐÁNH TRƯỚC NGÀY KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ
Trung tá DUY MINH
(Bộ chỉ huy quân sự QN-ĐN)

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954, quân và dân cả nước liên tiếp giành những thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ, ở đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên, cổ vũ mạnh mẽ quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Bộ đội địa phương và dân quân du kích ngày đêm liên tục bao vây, tiến công quân Pháp và quân ngụy, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, đẩy quân Pháp vào thế phòng ngự, đối phó bị động, lúng túng. Hệ thống phòng thủ xung quanh Đà Nẵng của chúng bị uy hiếp nghiêm trọng. Đứng trước tình hình đó, bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp tại miền Trung đã vội vã điều động một lực lượng hỗn họp từ Tây Nguyên và Thừa Thiên - Huế về Đà Nẵng để cứu nguy.

Sáng ngày 16 tháng 7 năm 1954, chúng sử dụng hai tiểu đoàn lính Âu Phi, một tiểu đoàn pháo binh, một số đại đội độc lập gồm các binh chủng thiết giáp, công binh, thông tin, và quân ngụy, tổ chức thành một chiến đoàn lấy phiên hiệu GM-10 với quân số trên 1.000 tên, mở cuộc hành quân "Con báo" (Opération Panthère). Lực lượng đông, trang bị mạnh, nhưng lại hỗn hợp, đã bị quân và dân ta đánh bại ở các chiến trường, tinh thần chiến đấu bị sa sút. Mục tiêu đầu tiên của cuộc hành quân là chiếm lại căn cứ Bồ Bồ làm bàn đạp chuẩn bị cho các cuộc hành quân tiếp theo đánh phá các vùng du kích Hòa Vang, Điện Bàn, nhằm nối liền các tuyến phòng thủ nam bắc sông Cẩm Lệ, sông Thu Bồn, khai thông đường 100 (Vĩnh Điện đi Ái Nghĩa), giải tỏa áp lực của ta đang bao quanh Đà Nẵng, tạo điều kiện để thay quân, tiếp tế, vì hiện nay mọi sự chi viện đều phải sử dụng máy bay thả dù lương thực, đạn dược.

Mặc dù được phi pháo chi viện đắc lực, nhưng bọn lính bộ binh và xe tăng tiến rất chậm, đến chiều tối ngày 16 tháng 7 chúng mới đến Bồ Bồ.

Núi Bồ Bồ (còn gọi là núi Đất Sơn) nằm trên địa bàn xã Điện Tiến (huyện Điện Bàn), có nhiều đồi trọc, độ cao trung bình đến 40m, đồi cao nhất là 53m so với mặt biển. Nằm giữa một vùng đồng bằng tương đối rộng, nên Bồ Bồ có một vị trí quan trọng về mặt quân sự. Từ các điểm cao, quân Pháp dễ dàng quan sát khống chế các vùng giải phóng xung quanh thuộc ba huyện Điện Bàn, Hoa Vang, Đại Lộc, ngăn chặn các mũi tiến công của bộ đội ta vào Đà Nẵng từ hướng này. Do đó quân Pháp đã đưa lực lượng và phương tiện đến đây chiếm đóng ngay từ đầu năm 1953, biến Bồ Bồ thành một cứ điểm tiền tiêu lợi hại, nằm trong hệ thống phòng thủ Đà Nẵng.

Kiên quyết đánh bại âm muu của Pháp, đêm mồng 8 tháng 6 năm 1954 đại đội 11 đặc công của tỉnh đã tập kích diệt gọn một đại đội lính Pháp, thu nhiều súng đạn phá hủy hai pháo 105 ly (thường được gọi là trận tiêu diệt Bồ Bồ 1). Mất Bồ Bồ quân Pháp ở Đà Nẵng càng lo sợ nên chúng vội vàng điều động lực lượng đến chiếm lại Bồ Bồ lần thứ 2, làm bàn đạp để thực hiện các âm mưu thủ đoạn nói trên. Khi vừa đặt chân đến Bồ Bồ quân Pháp nhanh chóng triển khai đội hình phòng ngự, bố trí một trận địa pháo gồm tám khẩu 105 ly, hai khẩu 75 ly, một sân bay trực thăng dã chiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #48 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2017, 10:46:42 am »


Trước cuộc hành quân liều lĩnh của quân Pháp, trong các lực lượng vũ trang của tỉnh có ý kiến nên phân tán lực lượng chủ lực, phối hợp với du kích bám sát địch, sử dụng các cách đánh của du kích để tiến công tiêu diệt, tiêu hao từng cánh quân của chúng. Nhưng nhiều ý kiến cho rằng nên tập trung lực lượng cả bộ đội và dân quân du kích mở một trận tập kích đánh phủ đầu quân Pháp, khi chúng chưa thiết lập đầy đủ cấu trúc của cứ điểm Bồ Bồ. Lúc này sở chỉ huy cơ bản của Tỉnh đội đứng tại Gò Nổi. Sở chỉ huy phía trước cùng tiểu đoàn 20 đứng tại Điện Tiến. Các đồng chí Võ Thứ, Tỉnh đội trưởng, Trường Vinh, Tỉnh đội phó, đồng chí Võ Văn Đặng, Phó chỉ huy theo dõi sát mọi diễn biến của cuộc hành quân. Qua các nguồn tin nắm được, Thường vụ Tỉnh ủy và Ban chỉ huy Tỉnh đội hạ quyết tâm sử dụng tiểu đoàn 20 bộ đội tỉnh được tăng cường đại đội 22 trợ chiến, đại đội 64 bộ binh, đại đội 15 trinh sát đặc công, đại đội 61 bộ đội địa phương Điện Bàn. Ban chỉ huy huyện đội Điện Bàn điều động 500 cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích và 650 dân công làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu.

Đồng chí Trường Vinh trực tiếp chỉ huy trận đánh, sở chỉ huy đặt tại Điện Tiến, phía tây bắc núi Bồ Bồ. Thời gian hiệp đồng nổ súng, vào đêm 18 rạng ngày 19 tháng 7 năm 1954. Từ khi nhận lệnh của Ban chỉ huy Tỉnh đội đến lúc bước vào trận đánh, chỉ có hơn 24 giờ, tất cả các đơn vị tham gia chiến đấu phải vừa làm công tác chuẩn bị chiến trường, vừa tổ chức lực lượng chiến đấu. Tiểu đoàn 20 là lực lượng chủ công với ba đại đội chia làm ba mũi. Mỗi mũi được tăng cường một tổ đặc công trinh sát, một tổ công binh. Đại đội 64 Điện Bàn làm lực lượng dự bị. Còn dân quân du kích vừa dẫn đường các mũi, vừa bố trí đón lõng vòng ngoài, đề phòng quân Pháp chạy thoát. Các mặt công tác bảo đảm được huy động đến mức cao nhất. Hai mươi ba giờ đêm 18 tháng 7, toàn bộ lực lượng các mũi đã áp sát mục tiêu. Hỏa lực đã triển khai xong, tất cả sẵn sàng chờ lệnh nổ súng. Một giờ ngày 19 tháng 7 năm 1954, đồng chí Lê Văn Bàng, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 20, phát lệnh nổ súng. Các trận địa hỏa lực đồng loạt bắn vào các mục tiêu chủ yếu: sở chỉ huy, trung tâm thông tin liên lạc, trận địa pháo, các cụm bộ binh và xe tăng. Quân Pháp bị bất ngờ, đối phó lúng túng. 15 phút sau, pháo hiệu màu xanh vọt lên hỏa lực dừng bắn, lập tức các mũi tiến công của ta từ hướng tây-bắc, và đông-bắc đồng loạt tiến lên, chia thành nhiều mũi nhỏ, thọc sâu chia cắt đội hình địch để tiêu diệt. Các chiến sĩ xung kích dùng tiểu liên, thủ pháo đánh vào những nơi quân Pháp ẩn náu. Nhiên liệu, nhà bạt bốc cháy, cùng với ánh trăng hạ tuần tháng 6 (âm lịch) làm cho các mục tiêu của địch càng lộ rõ hơn, tạo thuận lợi cho bộ đội và du kích phát triển tiêu diệt địch. Quân Pháp, số bị diệt, số bị bắt hoặc bỏ súng đầu hàng, ngày càng đông. Những tên ngoan cố vẫn cố bám công sự, xe tăng để phản kích bắn chặn các mũi tiến quân của ta. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu kiên cường, đánh giáp lá cà với địch và anh dũng hy sinh Trong đó có đồng chí Lê Văn Bàn tiểu đoàn trưởng. Càng về sau cuộc chiến đấu càng ác liệt. Ban chỉ huy trận đánh ra lệnh cho đại đội 61 dự bị vào tiếp sức để giải quyết dứt điểm trận đánh. Đến hơn 3 giờ ngày 19 tháng 7, trận địa mới im tiếng súng. Xác giặc ngổn ngang. Lực lượng dân công, dân quân, du kích tiến vào giải quyết thương binh tử sĩ và thu chiến lợi phẩm. Như vậy sau gần ba giờ chiến đấu quyết liệt, tiểu đoàn 20 và các đơn vị tăng cường cùng quân, và dân huyện Điện Bàn đã tiêu diệt hoàn toàn chiến đoàn 10 của quân Pháp, loại khỏi vòng chiến đấu trên 400 tên, bắt sống 293 tên, trong đó có tên chỉ huy trưởng chiến đoàn, thu nhiều súng đạn, quân trang, quân dụng.

Chiến thắng Bồ Bồ lần thứ hai là một chiến công xuất sắc của quân và dân Quảng Nam - Đà Nẵng. Lần đầu tiên bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt một chiến đoàn chủ lực cơ động của quân Pháp, thể hiện nghệ thuật sử dụng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong một trận đánh tương đối lớn, thời gian rất khẩn trương. Chiến thắng cũng thể hiện tư tưởng tiến công của cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang trong lúc Hiệp định Giơ-ne-vơ sắp được ký kết. Dù phải chịu hy sinh, nhưng tất cả đều hăng hái xông vào trận đánh phối hợp đắc lực với chiến dịch giải phóng Bắc Tây Nguyên của Liên khu 5 và chiến trường chính Bắc Bộ.

D.M.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #49 vào lúc: 10 Tháng Năm, 2017, 10:48:08 am »


MÃI MÃI LÀ NIỀM TỰ HÀO CỦA CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN
PHẠM HỒNG
Nguyên Chủ tịch UBND Tỉnh Gia Lai

Tôi đã sống và hoạt động trên địa bàn này hơn 40 năm. Chiến thắng tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 đã từng là niềm tự hào, không những của Trung đoàn 96 và các lực lượng tham gia chiến đấu, mà còn là niềm phấn khởi tự hào của cán bộ và đồng bào dân tộc ở tỉnh Gia Lai, trong những ngày kết thúc chiến tranh chống Pháp, Chiến thắng đó đã cổ vũ mạnh mẽ và tác động to lớn trong những năm tháng chống Mỹ - ngụy vô cùng gian khổ, ác liệt sau năm 1954.

Năm 1994 cả nước nô nức kỷ niệm lần thứ 40 chiến thắng Điện Biên Phủ. Đó là một đỉnh cao chiến thắng mãi mãi là niềm vinh dự tự hào của chúng ta. Trong phạm vi Liên khu 5, trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp, cũng là một đỉnh cao chiến thắng của lực lượng vũ trang địa phương.

Về đánh giá trận đánh, về bố trí lực lượng và tổ chức chỉ huy trận đánh, về những bài học kinh nghiệm rút ra v.v... đã có nhiều bài viết sâu sắc và phong phú. Đứng trên góc độ một cán bộ chính trị, hoạt động tại địa bàn huyện Đak Bơt, tỉnh Gia Lai, nơi trận đánh đã diễn ra tôi thấy:

1. Chiến thắng tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 là sự phối hợp tuyệt đẹp với chiến trường Điện Biên Phủ. Nói riêng về chiến dịch Bắc Tây Nguyên, trước khi trận đánh diễn ra chúng ta đã có chiến thắng giải phóng tỉnh Công Tum, các trận đánh địch trên đường 14, cắt đứt đường 19 cô lập thị xã Plây Cu... đó là bức tranh hoành tráng về những chiến thắng của lực lượng vũ trang Liên khu 5 để phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ. Nhưng tiêu diệt cả binh đoàn cơ động 100 là một chiến thắng vang dội, một trận tiêu diệt lớn, bắt nhiều tù binh, trong đó có toàn bộ cơ quan chỉ huy binh đoàn, thu toàn bộ vũ khí trang bị... rất hiếm có những trận đánh như thế trên chiến trường Khu 5 trong thời kỳ chống Pháp.

Trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta thiếu phương tiện thông tin kịp thời. Trận đánh diễn ra trên địa bàn gần huyện chúng tôi, nhưng đến khi súng nổ, bắt tù binh, thu vũ khí thì chúng tôi mới biết.

a) Binh đoàn cơ động 100 gồm đa phần là lính Âu Phi được rút từ Nam Triều Tiên về, được đưa xuống An Khê. Có lẽ là để thực hiện chiến dịch Át-lăng, (phối hợp với quân đổ bộ từ Qui Nhơn đánh lên), suốt cả thời gian này tiểu đoàn 50 và bộ đội địa phương cùng dân quân du kích tỉnh Gia Lai đã tổ chức đánh địch liên tục trên đường 19.

Có thể nói, không có ngày nào không có trận đánh trên con đường chiến lược này. Địch ở An Khê mất ăn mất ngủ, gặp rất nhiều khó khăn trong vận chuyển tiếp tế. Chắc rằng đó không phải là nguyên nhân chính buộc địch phải rút quân khỏi An Khê. Nhưng đó là sự phối hợp, sự chuẩn bị địa bàn giữa quân chủ lực và quân địa phương, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần vào chiến thắng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM