Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 08:25:41 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung đoàn 96 - Trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp  (Đọc 13029 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #20 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2017, 09:49:44 PM »


Ngày 13 tháng 1 năm 1953:
+ Mở đầu chiến dịch cùng một lúc tiến công Tú Thủy, Cửu An và Eo Gió. Tiêu diệt cứ điểm Thượng An, và Eo Gió (21-1). Đánh viện, tiêu diệt hai đại đội của Tiểu đoàn dù ngụy (24-1). Tiêu diệt đoàn xe 25 chiếc, diệt một đội dù (25). Chiến dịch kết thúc.
+ Pháp tiếp viện An Khê sáu tiểu đoàn, đổ bộ lên Quy Nhơn, làm giảm áp lực của ta, rồi rút lui.

Tháng 1 năm 1953:
+ Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn lãnh đạo kháng chiến thắng lợi, chính sách quân sự, phát động quần chúng giảm tô tiến lên cải cách ruộng đất... Hồ Chủ tịch đề ra phương hướng chiến lược: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, phân tán lực lượng địch, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do.

Tháng 4 năm 1953:
+ Quân giải phóng Lào và Quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Thượng Lào, giải phóng Sầm Nưa và phần lớn hai tỉnh Xiêng Khoảng, Phong Xa Lỳ.
+ Liên khu 5 phát động quần chúng triệt để giảm tô, thí điểm cải cách ruộng đất. 25.000 thanh niên xung phong nhập ngũ trong khi ta chỉ cần tuyển 1.700 tân binh.
+ Toàn Liên khu xây dựng thêm một tiểu đoàn chủ lực, hai tiểu đoàn, sáu đại đội và một trung đội địa phương, một tiểu đoàn cao xạ, một tiểu đoàn phòng không 12,7, một liên đội và năm đại đội đặc công, một đại đội công binh.
+ Chỉnh huấn chính trị và quân sự cho toàn Liên khu.

Tháng 5 năm 1953:
+ Na-va được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, trong đó chủ yếu phát triển quân ngụy.
+ Ra đời kế hoạch Na-va, 1953 -1954 tiến công chiến lược ở miền Nam, đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5.

Tháng 9 năm 1953:
+ Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953 -1954: Tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, phối hợp Quân giải phóng Lào giải phóng Phong Xa Lỳ. Phối hợp Quân giải phóng Lào và Quân giải phóng Cam-pu-chia tiêu diệt một bộ phận địch ở Trung và Hạ Lào, ở đông-bắc Cam-pu-chia, mở rộng vùng giải phóng đến sau lưng Sài Gòn, đánh thông đường chiến lược Bắc - Nam Đông Dương. Giành địa bàn chiến lược Tây Nguyên phá tan âm mưu bình định miền Nam của địch.

Tháng 11 năm 1953:
+ Tổng Quân ủy đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng chuẩn y: Tập trung lực lượng tiến công lên Tây Nguyên là nhiệm vụ hàng đầu, củng cố vùng tự do là nhiệm vụ quan trọng thứ hai.

Tháng 12 năm 1953:
+ Pháp chuẩn bị tiến công vùng tự do Liên khu 5: tập trung quân cơ động hình thành lực lượng tiến công 40 tiểu đoàn.
+ Ta triển khai kế hoạch tiến công lên Bắc Tây Nguyên: các Trung đoàn chủ lực, tiểu đoàn 30 và các đơn vị trợ chiến lên Tây Nguyên.

Ngày 7 tháng 12 năm 1953:
+ Mở màn chiến dịch giải phóng Lai Châu. Ngày 21 tháng 12 chiến dịch Trung Lào bắt đầu.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2017, 09:52:05 PM »


Ngày 1 tháng 1 năm 1954:
+ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 phát động phong trào thi đua giết giặc lập công, giành cờ thưởng luân lưu "Quyết chiến, quyết thắng" của Hồ Chủ tịch.

Ngày 20 tháng 1 năm 1954:
+ Các binh đoàn cơ động của Pháp tiến công ra Phú Yên bắt đầu bước 1 kế hoạch Át-lăng chiếm đóng vùng tự do Liên khu 5.

Ngày 20 tháng 1 năm 1954:
+ Bộ chỉ huy chiến dịch Bắc Tây Nguyên họp quyết định đánh mạnh vào quân địch buộc chúng phải đưa lực lượng đánh vùng tự do về chống đỡ.

Ngày 26 tháng 1 năm 1954:
+ Trên hướng diện đường 19 - An Khê ta tiêu diệt ba cứ điểm.
+ Hướng chính ta tiêu diệt ba cứ điểm Mang Đen, Mang Bút, Công Brai... đông thị xã Công Tum. Trung đoàn 108 phát triển mạnh về hướng tây. Trung đoàn 803 áp sát thị xã Công Tum. Ở hướng diện lại diệt ba đồn của địch.

Ngày 7 tháng 2 năm 1954:
Quân Pháp bỏ chạy khỏi thị xã Công Tum. Ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Công Tum (14.000 km2 và 200.000 dân). Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh tạm dừng chiến dịch Át-lăng đưa các đơn vị cơ động lên phòng thủ tuyến đường 19 và Nam Tây Nguyên.

Đầu tháng 2 năm 1954:
Đảng ủy chiến dịch Bắc Tây Nguyên họp quyết định: tổ chức đợt tiến công ngắn, nhưng thật mạnh vào cụm phòng thủ thị xã Plây Cu và đường 19, tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, buộc chúng không dám rút lực lượng phòng thủ ra tiếp tục tiến công.

Ngày 17 tháng 2 năm 1954:
Tiêu diệt cứ điểm Đak Đoa, bắt sống 150 lính Âu Phi. Tập kích vào trung tâm thị xã Plây Cu, phục kích nghi binh kéo hai tiểu đoàn địch vào trận địa phục kích ở Nam Biển Hồ, giết và làm bị thương hàng trăm tên.

Ngày 25 tháng 2:
Pháp cho ba binh đoàn cơ động 10, 21, 100 càn quét hai bên đường 19.
Bộ Chỉ huy chiến dịch của ta quyết định đưa Trung đoàn 803 (thiếu một tiểu đoàn) vào khu tam giác Plây Cu - Cheo Reo - An Khê, đánh mạnh vào các đồn bót và trục giao thông chiến lược (đường 7 và 14), buộc địch đưa quân về giải tỏa, để diệt sinh lực của chúng.

Ngày 12 tháng 3 năm 1954:
Tám tiểu đoàn quân Pháp đổ bộ lên Quy Nhơn. Hai binh đoàn cơ động 41, 42 tiến từ Phú Yên ra Diêu Trì, Nam Bình Định. Bốn binh đoàn cơ động 11, 21, 100, Dù từ An Khê kéo xuống chiếm đầu cầu Thượng An, chuẩn bị đánh xuống Tây Bình Định.

Ngày 13 tháng 3 năm 1954:
Chủ lực ta trên chiến trường chính bắt đầu tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 16 tháng 3, binh đoàn cơ động Dù được điều ra Hà Nội.

Ngày 20 tháng 3 năm 1954:
Ta đánh thiệt hại nặng binh đoàn cơ động 100 càn quét ven đường số 7 về trú quân ở cứ điểm Plây Ring, giết và làm bị thương 600 tên. Bộ chỉ huy Pháp phải rút binh đoàn cơ động 100 về củng cố và phòng giữ Plây Cu, đưa ba tiểu đoàn khác bảo vệ khu vực ngã ba đường 7 và 14.

Đầu tháng 5 năm 1954:
Trung đoàn 803 phá vỡ phòng tuyến địch từ Cheo Reo đến Bà Là, cắt đứt giao thông của địch ở đường số 7, chi khu Cheo Reo bị cô lập. Địch điều binh đoàn cơ động 42 từ Bình Định về Nam Tây Nguyên để phòng thủ.
+ Ta tranh thủ thời gian phát triển lực lượng, khối chủ lực tăng 25%. Trung đoàn 96 làm lễ thành lập và xuất quân (1-5). Trung đoàn 108 và các Tiểu đoàn độc lập đánh mạnh trên đường 19, trong tháng 4 diệt tám đoàn xe. Từ giữa tháng 5 ta làm chủ đường 19, uy hiếp An Khê. Bộ chỉ huy Pháp điều binh đoàn cơ động 100 xuống giữ An Khê, binh đoàn cơ động 42 giữ Plây Cu.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954:
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt.

Ngày 24 tháng 6 năm 1954:
+ Trung đoàn 96 kết hợp cùng đại đội địa phương của Trung đoàn 120 tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 ở Đak Pơ quét sạch địch trên đường 19, giải phóng phần lớn tỉnh Gia Lai, bao vây Plây Cu.

Ngày 7 tháng 7 năm 1954:
+ Trung đoàn 108 phục kích địch rút chạy khỏi Plây Cu đánh địch ở đèo Chư Đrek diệt 300 bắt sống 200, trong đó có tàn quân binh đoàn cơ động 100 của Pháp.
+ Trung đoàn 803 cắt đứt đường 21 ở Ma Đrăc, mở đường vòng về Nam Buôn Ma Thuột.

Ngày 19 tháng 7 năm 1954:
Bộ đội địa phương Quảng Nam tập kích hai tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh Pháp ở Bồ Bồ, diệt và bắt sống 700 tên.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954:
Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2017, 09:55:00 PM »


TRUNG ĐOÀN 96 NỬA THẾ KỶ CHIẾN ĐẤU VÀ XÂY DỰNG

Từ những đơn vị Nam tiến chiến đấu ở phía Bắc Sài Gòn, bao vây địch ở Nha Trang, chặn bước tiến quân Pháp ở Tây Nguyên (1945 -1946) tập họp lại.

* TRUNG ĐOÀN 96: 1946-1947
- Tiếp phòng quân Đà Nẵng.
Thành lập: tháng 3 năm 1946
BCH - các trung đoàn trưởng kế tiếp nhau: ĐÀM QUANG TRUNG - NGUYỄN THẾ LÂM. TRẦN HOÀI ÂN: Chính trị viên.
- Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng tháng 12 năm 1946.
BCH: NGUYỄN BÁ PHÁT - trung đoàn trưởng
NGUYỄN HỮU THÀNH - Chính trị viên
BẾ KIM DOANH - trung đoàn phó
Chiến công nổi bật: Bao vây quân Pháp 107 ngày ở Đà Nẵng và phụ cận; các trận Hải Vân, Ba Khe, Đại La.
- Khen thưởng: cờ "Giữ vững" của đại diện Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ - Đồng chí PHẠM VĂN ĐỒNG.


* TRUNG ĐOÀN 96: 1954-1960
- Chủ lực Liên khu 5
Thành lập: ngày 1 tháng 5 năm 1954 ở Vĩnh Thạnh, Bình Định.
BCH: NGUYỄN MINH CHÂU - trung đoàn trưởng.
NGUYỄN HỮU THÀNH - Chính ủy.
Chiến công nổi bật: Tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp ở An Khê (ngày 24 tháng 6 năm 1954).
- Khen thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
- Đại đoàn 305 - Tập kết ra Bắc tháng 10 năm 1954. Cả Đại đoàn phất cao cờ Ba Nhất.


* TRUNG ĐOÀN 96 PHÁO BINH: 1967 -1972
- Trung đoàn Hỏa tiễn ĐKP Tây Nguyên - Khu 5.
- Đoàn 69 pháo binh miền Đông Nam Bộ.
Thành lập: Giữa năm 1967.
BCH: NGUYỄN SÔ - trung đoàn trưởng.
NGUYỄN THÀNH LAI - trung đoàn phó.
TRẦN VĂN HÙNG - Chính ủy.
Chiến công nổi bật: Tập kích căn cứ Mỹ: Lai Khê, Phú Lợi. Tham gia các đợt tiến công và nổi dậy 1968 - chặn đánh tàu địch trên sông Mê Công (CPC).
- Khen thưởng: Cờ "Quyết chiến, quyết thắng" của MTDTGPMNVN
Huân chương quân công các loại.

* TRUNG ĐOÀN 96: tháng 2 năm 1975, tháng 9 năm 1978.
- Mặt trận 4 Quảng Đà, Khu 5.
BCH: LẠI VĂN DƯƠNG - trung đoàn trưởng
NGUYỄN VÕ: Chính ủy
Chiến công nổi bật: Tham gia giải phóng Đà Nẵng, cắm cờ lên nóc Tòa Thị chính.
- Xây dựng kinh tế ở Thuận Hải.

* TRUNG ĐOÀN 96: tháng 9 năm 1978 đến nay.
- Sư đoàn 309 (Đoàn Bắc Sơn) Quân khu 5.
Thành lập: ngày 27 tháng 9 năm 1978 ở Thị xã Buôn Ma Thuột.
Chiến công nổi bật: Giữ vững biên giới, tham gia chiến dịch giải phóng CPC (1979).
- Sư đoàn 309, Quân đoàn 3, mặt trận 479 - QK7.
Chiến công nổi bật: Đứng vững ở Bát Đom Boong, nhiều lần tiến công hang ổ Pôn-pốt.
- Khen thưởng: Nhiều Huân chương danh dự.
- Sư đoàn 309, Quân đoàn 4 từ tháng 9 năm 1979 đến nay.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #23 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:40:59 PM »


GIẢI PHÓNG BẮC TÂY NGUYÊN TIÊU DIỆT BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG 100, THẮNG LỚN KỲ DIỆU CỦA ĐƯỜNG LỐI CHIẾN LƯỢC QUÂN SỰ CỦA ĐẢNG TA
VÕ QUANG HỒ
Nguyên Thiếu tướng Bộ Tổng Tham mưu


I - Ý định chiến lược của địch, của ta Đông - Xuân 1953 -1954.

1. Tháng 1 năm 1953 Trung ương, Hồ Chủ tịch xác định phương hướng chiến lược là: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh chắc thắng.

Bộ Chính trị chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 bằng ba đòn tiến công lớn:

- Tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, phối hợp với quân giải phóng Lào giải phóng tỉnh Phong-xa-lỳ.

- Phối hợp với bạn tiêu diệt địch ở Trung Lào, Hạ Lào, Đông - Bắc Cam-pu-chia, mở rộng vùng giải phóng tới sau lưng Sài Gòn.

- Giành địa bàn chiến lược Tây Nguyên, phá tan âm mưu bình định miền Nam.

2. Tháng 5 năm 1953 thực dân Pháp cử tướng Na-va làm tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương.

Na-va chủ trương xây dựng một khối chủ lực cơ động mạnh (100 tiểu đoàn năm 1954).

- Tiến công chiến lược chiếm đóng tất cả vùng tự do còn lại ở miền Nam: vùng tự do Liên khu 5, vùng tự do Nam Bộ.

- Bình định xong miền Nam, tập trung toàn bộ khối chủ lực cơ động, quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh.

3. Tháng 12 năm 1953 ở Liên khu 5, Liên khu ủy, Đảng ủy Bộ Tư lệnh Liên khu quyết định:

- Tập trung toàn bộ chủ lực cho nhiệm vụ tiến công lên Tây Nguyên.

- Giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương.

- Chiến trường sau lưng địch tiêu diệt sinh lực, mở rộng vùng du kích, kềm giữ không cho địch rút lực lượng đi nơi khác, phá kế hoạch xây dựng ngụy quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #24 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:42:01 PM »


II - Giải phóng tỉnh Công Tum, thị xã Công Tum ngày 7 tháng 2 năm 1954.

1. Giữa tháng 11 năm 1953 các Đại đoàn chủ lực của ta tiến công Lai Châu, giải phóng khu Tây Bắc, phối hợp với quân Pha-thét Lào giải phóng tỉnh Phong-xa-lỳ (tỉnh Sầm Nưa đã được giải phóng tháng 5 năm 1953). Na-va phải ném một lực lượng lớn quân tinh nhuệ xuống Điện Biên Phủ (20 -21 tháng 11 năm 1953), xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm, hòng cản bước tiến của chủ lực ta, bảo vệ khu Tây Bắc và Thượng Lào. Ta đã nhanh chóng bao vây giữ địch tại Điện Biên Phủ chuẩn bị để tiến công tiêu diệt.

2. Cuối tháng 12 năm 1953, ta và bạn tiến công quân Pháp ở Trung Lào, giải phóng thị xã Thà Khẹt và vùng đông Xa-van-na-khét cắt đường số 9, địch phải điều quân cơ động về ứng cứu.

3. Ở Liên khu 5 địch tập trung một lực lượng cơ động 40 tiểu đoàn, rút từ Pháp, Triều Tiên, Bình Trị Thiên, Nam Bộ do Đơ Bô-pho, tư lệnh quân khu Tây Nguyên chỉ huy, tiến hành chiến dịch Át-lăng, lần lượt đánh chiếm các tỉnh tự do Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi. Ngày 20 tháng 1 năm 1954, 22 tiểu đoàn quân cơ động từ ba mặt tấn công tỉnh Phú Yên, từ Khánh Hòa đánh ra, từ Đắc Lắc đánh xuống, từ biển đổ bộ lên Tuy Hòa.

Đêm 27 tháng 1 năm 1954 rạng ngày 28, Trung đoàn 108 và một bộ phận của Trung đoàn 803 tiêu diệt cả cụm phòng ngự hướng đông bắc Công Tum của địch gồm ba cứ điểm Mang Đen, Mang Bút, Công Brai, trong đó cứ điểm mạnh nhất là Mang Đen do ba đại đội đóng giữ. Ta phát triển tiến công về phía tây. Toàn bộ quân địch từ Đắc Tô đến Đắc Lây bỏ chạy. Ta giải phóng toàn vùng Bắc Công Tum, nối liền vùng tự do Nam-Ngãi với vùng giải phóng của bạn ở Hạ Lào. Trung đoàn 803 áp sát thị xã Công Tum diệt một đại đội của binh đoàn cơ động 100 vừa mới nống ra ở Kon Xom Lư (giữa thị xã Công Tum và Công Brai), luồn vào giữa thị xã Công Tum diệt sở chỉ huy của một tiểu đoàn, vòng xuống phía Nam Công Tum tiêu diệt một đoàn xe tiếp tế trên đường số 14.

Ngày 7 tháng 2 năm 1954, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh cho Đờ Bô-pho bỏ thị xã Công Tum về giữ thị xã Plây Cu. Cánh quân rút chạy của địch vòng phía tây đường số 14, nên quân ta phục sẵn ở đường số 14 không tiêu diệt được. Toàn tỉnh Công Tum với 14.000km2 và 200.000 dân được giải phóng, sau hơn 10 ngày tiến công, tạo điều kiện thọc sâu xuống Nam Tây Nguyên.

4. Ở Hạ Lào, đông bắc Cam-pu-chia, quân tình nguyện tại chỗ được tăng cường tiểu đoàn 436 chủ công của Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325, tiêu diệt một cứ điểm tiền tiêu mạnh của tiểu khu Át-tô-pơ địch rút chạy, ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Át-tô-pa, phát triển giải phóng cao nguyên Bô-lô-ven, bao vây địch ở Xa-ra-van, Pắc-xê. Sau đó quân chủ lực của ta phối hợp với bạn Cam-pu-chia tiêu diệt địch ở Von Xai, giải phóng Xiêm Pạng, uy hiếp tỉnh lỵ Stung Treng. Ta và bạn ở miền Đông Cam-pu-chia, hoạt động từ phía nam, giải phóng phần lớn tỉnh Công Pông Chàm. Vùng giải phóng Đông Cam-pu-chia và Đông Bắc Cam-pu-chia đã được nối liền. Con đường chiến lược Bắc - Nam Đông Dương đã được đánh thông, tạo điều kiện để có thể đưa thêm lực lượng cấp trung đoàn, sư đoàn phát triển tiến công về miền Đông Nam Bộ, thọc sâu sau lưng Sài Gòn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #25 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:43:11 PM »


III - Giải phóng tỉnh Gia Lai, thị xã Plây Cu ngày 17 tháng 7 năm 1954.

Sau khi tháo chạy khỏi Công Tum, quân Pháp rút một số binh đoàn cơ động từ đồng bằng lên phòng thủ Tây Nguyên, tổ chức tuyến phòng thủ Plây Cu hình cánh cung từ đồn điền Đắc Đoa vòng về phía tây giáp đồn điền Biển Hồ, hình thành tuyến chốt chặn trên đường số 19 không cho quân ta vượt đường, tiến vào cao nguyên Đắc Lắc.

Tranh thủ lúc địch đang co về phòng thủ, ta phát triển thêm một trung đoàn chủ lực (Trung đoàn 96) một tiểu đoàn chủ lực. Hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định cũng xây dựng được 10 đại đội độc lập, hai tiểu đoàn tập trung, chuẩn bị đánh địch tại chỗ.

Ta chủ trương tiếp tục tiến công vào cụm phòng thủ thị xã Plây Cu và đường 19. Ngày 17 tháng 2 năm 1954 Trung đoàn 803 tiêu diệt cứ điểm Đắc Đoa do hai đại đội của binh đoàn cơ động 100 đóng giữ. Sau đó, cuối tháng 2 vượt qua đường số 19 tiến vào khu tam giác Plây Cu, Cheo Reo, An Khê diệt một số đồn bót địch bảo vệ đường số 7. Bộ chỉ huy Pháp phải tập trung ba binh đoàn cơ động 11, 21 và 100 càn sâu vào hai bên đường số 19. Tiểu đoàn 365 của Trung đoàn 803 và tiểu đoàn 375 chủ lực của địa phương tiến xuống Phú Yên. Hai trung đoàn 108, 96 cùng lực lượng địa phương đánh quân địch trên đường 19.

Ngày 1 tháng 3 năm 1954 Na-va cho triển khai cuộc đánh chiếm tỉnh Bình Định. Quân địch từ Phú Yên đánh ra. Ngày 12 tháng 3 cánh quân đường biển đổ bộ lên Quy Nhơn. Ở phía tây, bốn binh đoàn cơ động trong đó có binh đoàn cơ động 100 từ An Khê kéo ra chiếm đầu cầu Thượng An, chuẩn bị đánh xuống Phú Phong, tây Bình Định. Địch vừa mới đổ bộ lên Quy Nhơn, thì ngày hôm sau 13 tháng 3 năm 1954 chủ lực ta ở Bắc Bộ đã mở đầu cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, binh đoàn cơ động dù mới điều vào, đã phải bay trở ra Hà Nội. Đêm 20 tháng 3 rạng 21 tháng 3 Trung đoàn 803 tập kích đánh thiệt hại nặng binh đoàn cơ động ở Plây Ring. Địch buộc phải rút binh đoàn 100 về Plây Cu củng cố. Ngày 30 tháng 3 năm 1954 Trung đoàn 803 dùng tiểu đoàn 19 tiêu diệt cứ điểm đầu cầu Thượng An, chặn cuộc tiến công của các binh đoàn cơ động địch từ phía tây xuống. Từ giữa tháng 5 năm 1954, ta làm chủ đường số 19, kìm chân cánh quân Qui Nhơn, uy hiếp bàn đạp Phú Yên, đánh sau lưng cánh quân từ Phú Yên ra buộc quân Pháp phải lui về thế phòng ngự; rút bớt các đồn bót, co cụm vào các thị xã, thị trấn, dựa vào các điểm cao, xây dựng thành từng cụm phòng ngự ở Qui Nhơn, An Khê, Tuy Hòa.

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chủ lực ta trên chiến trường chính tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Lúc này quân Pháp chỉ còn binh đoàn cơ động 100 ở An Khê và Binh đoàn cơ động 42 phòng thủ Plây Cu. Bộ chỉ huy chiến dịch của ta chủ trương: đánh mạnh sau lưng địch, kìm chế các cụm quân địch ở An Khê, Qui Nhơn, Tuy Hòa sẵn sàng đánh tiêu diệt khi chúng rút chạy.

Trung đoàn 803 thọc sâu từ Tây Nguyên xuống phía Nam Phú Yên, liên tiếp loại ra ngoài vòng chiến đấu bốn tiểu đoàn địch, tập kích cả vào thị xã Tuy Hòa, diệt một đoàn xe lớn của địch trên Đèo Cả, giữa Phú Yên và Khánh Hòa.

Ngày 24 tháng 6, binh đoàn cơ động 100 trên đường rút lui khỏi An Khê, bị Trung đoàn 96 (thiếu tiểu đoàn 30 đang phối hợp với quân dân tỉnh Bình Định đánh địch ở Qui Nhơn) tiêu diệt toàn bộ ở Đắc Pơ. Trận đánh tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 là trận vận động phục kích lớn của quân đội ta. Đây là một đòn nặng nề, dữ dội bồi thêm cho quân Pháp sau thảm bại ở Điện Biên Phủ. Đến giữa tháng 7 năm 1954 thì quân Pháp bị vây ở Plây Cu. (Cả ba trung đoàn chủ lực của ta đã đánh mạnh vào Nam Tây Nguyên, bao vây thị trấn Cheo Reo, cắt đứt quốc lộ 21 Ninh Hòa đi Buôn Ma Thuột, mở đường vòng về phía Nam thị xã Buôn Ma Thuột, (đánh một trận nhỏ ở Ea Tý). Ngày 17 tháng 7 năm 1954, quân Pháp bị vây ở Plây Cu bắt đầu tháo chạy, bị Trung đoàn 108 tiêu diệt ở Chư Drek. Ta đã tạo đủ thế và lực để giải phóng tỉnh Đắc Lắc, thị xã Buôn Ma Thuột, giải phóng Nam Tây Nguyên. Trung đoàn 803 đề nghị đánh Buôn Ma Thuột, Trung đoàn 96 đề nghị tiến công tiêu diệt Cheo Reo, nhưng Quân khu không cho đánh, ra lệnh ngừng bắn vì Hiệp định Giơ-ne-vơ đã được ký kết. Hiệp nghị Giơ-ne-vơ ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 công nhận nền độc lập và thống nhất của nước Việt Nam đã cứu vãn số phận của quân Pháp ở Tây Nguyên và ở các nơi khác trong cả nước.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #26 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:44:23 PM »


IV - Kết luận.

Thắng lợi của lực lượng vũ trang Liên khu 5 trong chiến dịch Đông - Xuân 1953 -1954 giải phóng Bắc Tây Nguyên mà đỉnh cao là trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100, là thắng lợi của đường lối quân sự đúng đắn của chủ trương chiến lược sáng suốt.

Đồng chí Nguyễn Chánh - nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 5 thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã kể lại cuộc gặp gỡ với tướng Đơ Bô-pho, trước đây là chỉ huy quân Pháp ở Nam Trung Bộ, kiêm tư lệnh chiến dịch Át-lăng đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5. Đơ Bô-pho đã hỏi đồng chí Nguyễn Chánh:

- Tại sao trong chiến cuộc ở Nam Trung Bộ vừa qua chủ lực của tướng quân không đương đầu với chúng tôi ở đồng bằng ven biển, lại tiến công lên cao nguyên miền Tây!

Đồng chí Nguyền Chánh:

- Nếu chúng tôi đưa các trung đoàn chủ lực ra chọi với các ông trên các cánh đồng ven biển tức là chúng tôi chấp nhận tác chiến theo ý muốn của các ông và phải đánh theo cách đánh của các ông, thì chúng tôi đã thua rồi còn gì! Còn nếu chúng tôi tập trung chủ lực đánh lên rừng núi Bắc Tây Nguyên, chúng tôi buộc các ông phải đánh theo ý muốn của chúng tôi và đánh theo cách đánh của chúng tôi, cho nên chúng tôi đã thắng.

Ta không nhũng xác định đúng phương hướng chiến lược, mà lại còn có cách đánh rất tài tình, phát huy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, của nhân dân, phối hợp chặt chẽ các chiến trường buộc địch phân tán cao độ, đông hóa ít, mạnh hóa yếu, căng địch ra mà đánh, phá vỡ thế tập trung binh lực của địch, tập trung bao vây tiêu diệt chúng ở Điện Biên Phủ. Quân ta đang ở thế thắng, thế chủ động trên hầu khắp các chiến trường trong cả nước.
V.Q.H
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #27 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:46:09 PM »


TƯ LỆNH CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN
Đại tá NGUYỄN VĂN LUYỆN,
Nguyên thư ký Bộ Tư lệnh Liên khu 5 kể
Nhà báo Xuân Linh ghi


Vào chiến dịch Đông - Xuân 1953 -1954, đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 được cử làm Bí thư Đảng ủy, Chính ủy và Tư lệnh chiến dịch. Thắng lợi to lớn của chiến dịch và những trận chiến đấu lớn đều gắn liền với sự lãnh đạo và chỉ huy tài tình của Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu 5 mà đứng đầu là đồng chí Nguyễn Chánh - người chiến sĩ cách mạng kiên cường đã trải qua nhiều nhà tù của Pháp như Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột, Phủ Bài. Sau đảo chính Nhật, được tự do, đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy Quảng Ngãi, đặc trách lãnh đạo Đội Du kích Ba Tơ, từ 24 người đã dần dần phát triển lên khoảng 1.000 người, lập căn cứ ở Vĩnh Sơn và Nước Lá, nam và bắc tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 8 năm 1945 đồng chí đã chỉ huy lực lượng vũ trang trong tỉnh đánh Nhật, hỗ trợ cho nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Đồng chí được cử làm Ủy trưởng Quốc phòng Trung Bộ. Kháng chiến toàn quốc, đồng chí là Chính ủy Khu 5 rồi Chính ủy Liên khu 5, cùng với Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu 5, đồng chí trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Trung Bộ cho đến khi tập kết ra Bắc. Đồng chí đã được cử làm Tổng Tham mưu phó, rồi Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ. Đồng chí đã qua đời vì một cơn bệnh cấp tính năm 1957, giữa tuổi 43. Sau đây là lời kể của đồng chí đại tá Nguyễn Văn Luyện, một thời gian dài là thư ký riêng của Bộ Tư lệnh Liên khu 5, được sống và công tác bên cạnh đồng chí Nguyễn Chánh trong những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp.

Theo dòng lịch sử, hơn 40 năm qua đã có bao người chỉ huy có tác động đến cuộc đời chiến đấu của tôi. Nhưng sống động và sâu sắc nhất trong tôi vẫn là hình ảnh của người Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu 5 - đồng chí Nguyễn Chánh, người anh cả của lực lượng vũ trang Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp.

Tháng 1 năm 1953, Ban chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 4 bàn về lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự, đồng thời phát động quần chúng giảm tô, tiến đến cải cách ruộng đất. Tháng 9, Bộ Chính trị bàn về chủ trương tác chiến trong Đông -Xuân 1953 -1954 trên hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, trong đó có hai nhiệm vụ quan trọng có liên quan trực tiếp đến Liên khu 5 là: đoạt lấy địa bàn chiến lược Tây Nguyên, trước hết là Bắc Tây Nguyên và bảo vệ vùng tự do Nam, Ngãi, Bình, Phú nếu địch tiến công.

Lúc bây giờ tướng H. Na-va được cử làm tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương và dựng kế hoạch mang tên mình - kế hoạch Na-va, một cố gắng cuối cùng của thực dân Pháp ở Đông Dương, được Mỹ chi viện tích cực; trước mắt vùng tự do Liên khu 5 là một mục tiêu.

Tình hình rất khẩn trương, cuộc chạy đua giữa ta và địch trên khắp các chiến trường Đông Dương đã bắt đầu. Đồng chí Nguyễn Chánh được điện của Trung ương triệu tập ra nhận nhiệm vụ tác chiến cho Liên khu 5 trong Đông - Xuân sắp đến.

Đi cùng với đồng chí Chánh chỉ có bốn người. Tôi và đồng chí Thân Hoạt là thư ký, đồng chí Nhành là cần vụ, đồng chí Ba là nuôi quân. Đoàn lên đường ngày 4 tháng 8 năm 1953.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #28 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:46:45 PM »


Trước đây, đầu năm 1951, sau chiến dịch biên giới đại thắng lợi, đồng chí được cử ra Việt Bắc dự Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ hai. Ở đại hội này đồng chí đã được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Sau đó đồng chí được lưu lại một thời gian khá dài bên cạnh các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh và nhất là Bác Hồ. Đồng chí được tiếp thu những kinh nghiệm quý báu về chỉ đạo chiến lược, chiến thuật trong chiến dịch biên giới, được tham gia theo dõi, học tập thực tế lãnh đạo và chỉ huy trong các chiến dịch Trung du, Đường số 18, Hà Nam Ninh với tất cả những kinh nghiệm thành công và chưa thành công, trước những âm mưu và thủ đoạn mới của kẻ địch, kể cả bọn can thiệp Mỹ. Khi trở về Liên khu 5, đồng chí được cử làm Bí thư Liên khu ủy, thay đồng chí Nguyễn Duy Trinh về Trung ương, kiêm Chính ủy và Tư lệnh Liên khu 5. Đồng chí đã trực tiếp chỉ huy các lực lượng chủ lực của Liên khu cùng với trung đoàn địa phương giành thắng lợi lớn nhất Liên khu từ trước đến giờ. Trong thời gian ngắn, ta đã tiêu diệt một loạt đồn bót, án ngữ miền đồng bằng Bắc Tây Nguyên, đánh viện... buộc địch phải ném chủ lực đối phó, gây xôn xao dư luận tận Pa-ri.

Đoàn chúng tôi không giấu được xúc động trong chuyến đi này, trước những biến chuyển đang sôi động đất nước, một chuyến đi dài gian khổ, phải mất 45 ngày mới đến Tuyên Quang.

Đồng chí đã báo cáo với Bộ Chính trị, với Bộ Tổng Tư lệnh khá đầy đủ về tình hình của Liên khu và nhận các chỉ lệnh tác chiến của Liên khu trong Đông - Xuân sắp đến. Điều tâm đắc nhất của đồng chí là phương hướng chiến lược mà Bác đã đề ra: "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do". Đồng chí Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu rất phấn khỏi, nhận thực hiện một trong ba mũi tiến công chiến lược chung của cả nước: Tiến công lên Bắc Tây Nguyên giành lấy địa bàn chiến lược. Trong kế hoạch tác chiến Đông -Xuân do Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh đề ra cũng chọn chiến trường này. Đồng chí cũng được phổ biến về âm mưu chiếm đóng vùng tự do Liên khu 5 của kế hoạch Na-va. Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã chỉ rõ mối quan hệ của việc kiên quyết tiến công lên Tây Nguyên là yếu tố quyết định để bảo vệ vùng tự do - nhiệm vụ quan trọng thứ hai. Đồng chí đã điện ngay về Liên khu đề nghị chuẩn bị theo phương hướng chiến lược mới. Đồng chí cũng đề nghị Bộ cung cấp cho một số vũ khí mới, nhất là súng đạn để tiến công các công sự vững chắc của địch mà Liên khu còn thiếu. Bộ đã đáp ứng tích cực.

Tranh thủ từng giờ, phút, đồng chí Chánh lên đường trở về Liên khu vào ngày 2 tháng 2 năm 1953. Lúc bấy gia các Đại đoàn chủ lực của Bộ đã chuẩn bị sẵn sàng và bắt đầu tiến về hướng Tây-Bắc. Địch hoảng sợ cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ (20 -11) nhằm ngăn chặn đường ta tiến công sang Thượng Lào. Nhưng vô vọng! Ngày 12 tháng 12, ta giải phóng thị xã Lai Châu, bao vây chặt Điện Biên Phủ. Ngày 21 tháng 12, quân ta tiến công Trung Lào... Tình hình vô cùng khẩn trương thôi thúc chúng tôi, như muốn bay về chiến trường. Bộ Tổng phát lệnh cho chúng tôi hành quân hỏa tốc, có thể trưng dụng tất cả mọi phương tiện vận chuyển có trên đường để rút ngắn thời gian đến mức tối đa. Ngày ấy là ngày cuối cùng của năm 1953, chưa bao giờ phai mờ trong ký ức tôi, chuyến đi 30 ngày ròng trở lại chiến trường rút ngắn được 15 ngày quý hơn vàng bạc nhất là trong thời kỳ chuẩn bị thực hiện mệnh lệnh tác chiến mới của Trung ương, có thể tiết kiệm bao nhiêu xương máu của quân và dân Liên khu 5.

Cán bộ chủ chốt của Liên khu được triệu tập đã làm việc dưới sự điều khiển của đồng chí Nguyễn Đôn -Tham mưu trưởng. Đồng chí Chính ủy kiêm Tư lệnh chỉ giải đáp những vấn đề còn tồn tại trong thảo luận. Đúng như dự kiến khó tháo gỡ nhất vẫn là việc địch sắp chiếm đóng vùng tự do mà chủ lực lại tập trung tiến đánh lên Tây Nguyên. Đồng chí đã đem hết lý lẽ và tình cảm, thuyết phục mọi người: "Nếu không tiến công lên Tây Nguyên buộc địch lên vùng núi rừng đánh theo bài bản của mình, ta để chủ lực lại chống đỡ ở đồng bằng là rơi vào âm mưu của Na-va và chỉ có thua, vì ta bị buộc phải đánh theo bài bản của nó".

Chỉ năm ngày sau khi kết thúc hội nghị, ngày 5 tháng 2, các đơn vị chủ lực của Liên khu theo nhiều đường khác nhau, đã nhằm Bắc Tây Nguyên tiến lên. Sự chuẩn bị được tiến hành khá chu đáo, các cầu lớn nhỏ trên các nẻo đường hành quân của bộ đội lên chiến dịch đã được sửa chữa. Theo chân bộ đội là hàng vạn dân công.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2017, 03:48:03 PM »


*
* *

Theo kế hoạch đã định sẵn, chủ lực của ta sẽ lần lượt tiến công ba cứ điểm Mang Đen, Kông Brai, Mang Bút trên tuyến phòng thủ đông - bắc Công Tum. Nhưng khi nghe địch triển khai kế hoạch Na-va đánh ra nam Phú Yên, trong cuộc họp Bộ tư lệnh, đồng chí Chánh đã đề xuất ý kiến phải tập trung diệt ba cứ điểm nói trên trong một đêm mới đủ mạnh, đủ sức uy hiếp buộc quân địch phải đưa lực lượng về chống đỡ. Đúng như dự kiến, bộ chỉ huy Pháp phải điều binh đoàn cơ động 100 lên cứu nguy cho Công Tum.

Sự kiên quyết đánh địch của người chỉ huy trưởng đã thấm nhuần tư tưởng chiến lược của Trung ương, thể hiện rõ trong trận tiêu diệt cứ điểm Mang Đen, một cứ điểm mạnh. Trong khi bộ đội ta giải quyết gọn đồn phụ, ở đồn chính, qua mấy lần đột phá chiếm được các lô cốt ngoại vi, nhưng không chiếm được lô cốt mẹ giữa đồn. Địch rút xuống các hầm ngầm chống cự lại. Thương vong của bộ đội ta khá lớn. Có ý kiến đề xuất nên cho bộ đội rút ra củng cố, đêm sau tiếp tục đánh. Tư lệnh chiến dịch kiên quyết bác bỏ ý kiến đó: Nếu rút ra, đêm sau đánh vào thương vong càng lớn, chưa chắc đã đánh được đồn. Chính diện bị chận lại, thì tìm chỗ yếu của địch mà đột kích. Chính nhờ lệnh của đồng chí Chánh, mà tiểu đoàn ở hướng phụ, sau khi hoàn thành được nhiệm vụ đã băng qua sân bay đánh vào sau lưng của đồn chính. Địch hoảng sợ vì bị đánh cả hai mặt, phải đầu hàng.

Tuyến phòng thủ đông bắc tiểu khu Công Tum bị phá vỡ, cửa vào Bắc Tây Nguyên đã mở. Đồng chí lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 đưa một bộ phận phát triển nhanh, mạnh lên phía tây uy hiếp, tiêu diệt các cứ điểm dọc theo quốc lộ 14. Đồng thời Trung đoàn 803 áp sát thị xã Plây Cu, phục kích trên đoạn Plây Cu - Công Tum, tiến công ngay vào thị xã. Trong khi đó chủ lực của Bộ lại bắt đầu mũi tiến công lên Trung Lào và Hạ Lào. Bộ chỉ huy Pháp phải tạm ngừng chiến dịch Át-lăng, đưa binh đoàn cơ động 100, xương sống của chiến dịch lên chống đỡ. Bộ phận tiền tiêu của nó bị đánh ở ven thị xã Công Tum. Cuộc đấu trí chiến lược đã diễn ra và phần thắng đã thuộc về phía bộ đội Liên khu 5. Ngày 6 tháng 2 địch rút chạy khỏi tiểu khu phía bắc cao nguyên chiến lược.

Ngày 7 tháng 2, từ sở chỉ huy ở Con-xơ-bai, đồng chí Chánh cùng tôi lên một xe ô-tô vào thị xã. Tại đây đồng chí đã liên lạc với Đại tướng Tổng Tư lệnh ở chỉ huy sở Mường Phăng (Điện Biên Phủ). Đại tướng hỏi:

- Có thật Công Tum được giải phóng không?

- Hiện bây giờ tôi đang đứng giữa trung tâm thị xã, thưa đồng chí Tổng Tư lệnh. Đồng chí Chánh đã nhận ngay được những lời khen ngợi đối với tất cả cán bộ và chiến sĩ đã tham gia chiến dịch và tiếp theo đó là thư khen của Đại tướng biểu dương: đó là một thắng lợi to lớn trên chiến trường toàn quốc.

Không hề thỏa mãn với thắng lợi, đồng chí Nguyễn Chánh đã nhanh chóng nhận ra thiếu sót: không tiêu diệt được bộ phận địch khi chúng rút chạy khỏi Công Tum, cho nên chưa thay đổi được cục diện chiến trường. Đồng chí ra mệnh lệnh thúc giục các đơn vị nhanh chóng tiến xuống phía nam bám lấy đường 19, áp sát thị xã Plây Cu và sẵn sàng tiến công liên tục. Đồng chí cũng thấy do chưa chuẩn bị, nên ta chưa có kế hoạch tiếp quản vùng mới giải phóng. Dựa vào kinh nghiệm của Cao Bằng, các chính sách tiếp quản được ban hành, kỷ luật chiến trường được phổ biến. Địch rút chạy, kho tàng bỏ ngỏ, nhưng nói chung không bị xâm phạm. Đồng chí ra lệnh lấy đồ hộp, sữa đường phát cho anh em thương bệnh binh, lấy gạo và thực phẩm khác cứu trợ cho đồng bào thị xã...
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM