Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Tám, 2019, 07:05:53 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN  (Đọc 16710 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #80 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2017, 07:33:08 AM »


        II. NHỮNG SUY NGHĨ SAU "TẾT MẬU THÂN”

        1. Về những đợt tiến công sau “TẾT”


        Như chúng tôi đã trình bày ở phần cuối chương II, sau “Tết Mậu thân", trong điều kiện yếu tố bất ngờ không còn, địch đã tăng cường phòng thủ đô thị, lực lượng ta bị tổn thất chưa kịp phục hồi và bổ sung, việc ta vẫn nhằm vào đô thị, liên tiếp mở thêm các đợt tiến công và nổi dậy, dù có gây cho địch những thương vong nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh nhưng ta cũng bị tiêu hao lớn. Hơn nữa, nhân lúc ta dồn sức đánh vào đô thị, bỏ ngỏ trận địa NÔNG THÔN, địch kịp thời lợi dụng cơ hội đó để tung quân chiếm lại cái vùng vừa bị mất trong dịp Tết Mậu thân. Từ đấy THẾ TRẬN ba vùng chiến lược của ta ngày càng bị suy giảm: Mất bàn đạp đứng chân ở vùng ven, vùng nông thôn đồng bằng, các đơn vị vũ trang của ta phải lùi dần lên vùng rừng núi; thậm chí phải qua bên kia biên giới Campuchia và Lào, một số đơn vị chủ lực phải trở ra vùng Nam Quân khu 4 để củng cố lực lượng. Trong khi đó, tại các đô thị vùng ven, vùng đồng bằng bị địch chiếm, Mỹ - ngụy liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định, triển khai mạnh mẽ các hoạt động "Phượng hoàng"... hòng tận diệt các cơ sở chính trị của cách mạng miền Nam. Từ giữa năm 1968 qua năm 1969 đến năm 1970, cách mạng rníền Nam lâm vào thời kỳ đầy thử thách, khó khăn.

        Tình hình trên đây khiến nhiều người khi nhìn lại các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam ngày đó đã xem như một hạn chế về tầm nhìn hoặc sai lầm của các cấp chỉ đạo chiến lược mà hậu quả của sai lầm này đã làm cho cục diện chiến trường sau "Tết Mậu thân" trở nên “Xấu hơn trước năm 1968", cách mạng miền Nam lâm vào "thời kỳ đen tối". Nhiều ý kiến cho rằng: "Đáng lẽ sau đợt 1, nếu ta biệt ngừng và chuyển hướng hoạt động chiến đấu để chống địch bình định mới đúng"1; “nếu có chủ trương từ trước, từ đầu, thì rất hay, sau đợt 1 nền chuyển hướng ngay là đúng nhất, hay nhất, có nhiều khả năng giữ được lực lượng, đứng được ở vùng ven, nắm được nông thôn, địch vẫn phải thua to mà ta đỡ tổn thất"2; “Đặc biệt, lẽ ra với đợt 2, ta tiếp cận các thành phố, thị xã, giải phóng cả vùng nông thôn rộng lớn, nếu lấy việc giữ vững mới giải phóng làm hướng phấn đấu chính thì tình thế có cơ phát triển tốt hơn nhiều, ta đỡ hao sinh lực mà thế đến bàn hội nghị cũng vững hơn"3.

        Nhìn trên thực tế của chiến trường lúc ấy, những ý kiến trên đây quả thật có nhiều mặt xác đáng. Nhưng đó là những ý kiến được phát biểu vào 18, 20 năm sau “Tết Mậu thân" - nghĩa là nó đã mang sắc thái của những ý kiến TỔNG KẾT, RÚT KINH NGHIỆM nên không tránh được những chữ "NẾU", "ĐÁNG LẼ", “LẼ RA"... Nhưng sự kiện lịch sử lại là những sự kiện "một đi không trở lại", không có chữ NẾU NHƯ... Chính vì thế mà, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: "Lịch sử, nói chính xác hơn là hiện thực lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất và không thể chữa lại, nhưng nhận thức lịch sử, cũng như viết sử có thể làm đi làm lại nhiều lần"4. Và chỉ trong khi viết đi viết lại về một sự kiện lịch sử nào đó, người nghiên cứu mới đặt ra những chữ NẾU mang ý nghĩa giả thiết này để lật đi, lật lại một vấn đề theo nhiều chiều cạnh mà chiêm nghiệm, mà rút ra những bài học từ những chiến thắng hay chiến bại trong lịch sử. Ở một ý nghĩa nào đó, trong nghiên cứu khoa học lịch sử, chúng ta lại rất cần đào sâu vào nguyên nhân của những chiến bại. Bởi vì, những bài học rút ra từ những thắng lợi và thất bại bao giờ cũng là những bài học có tính cập nhật, cần thiết cho cuộc chiến đấu trong tương lai. Với ý nghĩa đó, chúng ta thường nói “thất bại là mẹ của thành công" là vì thế. Xô viết Nghệ - Tĩnh sở dĩ được xem là “cuộc tổng diễn tập lần thứ nhất" của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là do những người Cộng sản Việt Nam đã từ tổn thất đó mà chắt lọc được những bài học máu để 15 năm sau vùng lên, làm một cuộc tổng khởi nghĩa ít đổ máu trong lịch sử dân tộc. Cái cay đắng có thật của một số chiến trường sau Tết Mậu thân cũng chính là những "bài học" để 7 năm sau đó, chúng ta đã đưa sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam từ 3 năm rồi 2 năm trong kế hoạch, rút xuống chỉ còn 55 ngày đêm chiến đấu dũng mãnh mà giành lại được một Sài Gòn hầu như nguyên vẹn, tránh được "cuộc tắm máu” trong tưởng tượng của không ít người của phía bên kia.

        Với suy nghĩ như thế, trong chuyên luận này, chúng tôi không hề ngần ngại hay né tránh những tổn thất có thật hoặc những thiếu sót của các cấp chỉ đạo chiến lược mà chính Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 (năm 1973) đã chỉ ra.

------------------------
        1. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề về tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, Sđd, tr.54.

        2. Hoàng Văn Thái: Mấy vấn đề về chiến lược trong cuộc tiến công và nổi dậy xuân 1968. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 2 năm 1988.

        3. Trần Bạch Đằng: Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 2 năm 1988.

        4. Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ xưa và nay. Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 5 năm 1994.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #81 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 08:57:45 AM »


        Chúng tôi nhận thấy rằng: trong quá trình nghiên cứu về "Tết Mậu thân", dù còn nhiều ý kiến chưa thống nhất nhưng chưa hề có một ai dám nghi ngờ hay phủ nhận hoàn toàn tác động chiến lược to lớn của cuộc tiến công đợt 1 - tức là Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu thân 1968; một cuộc tiến công mà, như đồng chí Lê Duẩn từng nhận định, như "một cú bombarde (ném bom, đập thẳng, đập mạnh) cho các yếu tố chính trị tung tóe ra"1; một cuộc tiến công mà, như một tác giả Mỹ đã nhận ra rằng: "Đảng hoàn toàn không được chuẩn bị sẵn sàng" để đón nhận quy mô to lớn của tác động TẾT”2. Nhưng vấn đề còn lại thường gây tranh luận, thường tạo nên sự né tránh, kiêng ky, do sợ "đụng chạm" chính là nằm ở những đợt tiến công tiếp theo như chúng tôi đã trình bày, đã được một số tác giả đặt ra nhiều chữ NẾU, GIÁ NHƯ, ĐÁNG LẼ... THÌ SẼ tránh được những tổn thất, tránh được sự "mất thế”... Đề tránh những mâu thuẫn, lúng túng trong cách nhìn nhận, đánh giá các đợt tiến công sau "Tết Mậu thân", chúng tôi nghĩ rằng: người nghiên cứu cần phải đứng trên quan điển lịch sử cụ thể, toàn diện hơn nữa để xem xét nó. Trong một loạt bài viết của cố đồng chí Lê Đức Thọ về Tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử quân sự, đã có lúc chúng ta bắt gặp một thoáng suy nghĩ này khi đồng chí cho rằng: trong việc tổng kết những giai đoạn cách mạng trước đây, "cần phải nắm chắc hoàn cảnh lịch sử của mỗi sự kiện, không được lấy tình hình và kinh nghiệm hiện nay để đối chiếu vào những sự kiện đã qua, bất chấp hoàn cảnh, thời gian không gian của sự kiện lịch sử lúc đó" 3.

        Vì vậy ở chuyên luận này, chúng tôi muốn đặt suy nghĩ của mình vào chính thời kỳ lịch sử sau "Tết Mậu thân", nghĩa là từ sau ngày 31 tháng 3 đến ngày 31 tháng 10 năm 1968, để xem xét, để đặt ra những câu hỏi cần thiết. Cần mở ngoặc để nói ngay ở đây rằng, làm như vậy, chúng tôi không hề có ý định phủ nhận những tổn thất của các đợt tiến công sau ngày 31 tháng 3 khi mà, do dồn sức tiến công mà hướng chính vẫn nhằm vào đô thị nên lực lượng và thế trận cách mạng miền Nam đã bị thương vong và suy giảm mạnh. Thế nhưng, để làm rõ vai trò và vị trí của các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968, cần phải đặt nó trong bối cảnh tổng thể của thời kỳ lịch sử sau Tết Mậu thân. Điều này đòi hỏi phải có những công trình, những luận văn chuyên sâu vào thời kỳ lịch sử phức tạp này - mà ở đó, độ lùi của thời gian đã cho phép các văn bản, các tư liệu lịch sử liên quan tới tính toán chiến lược của cơ quan chi đạo chiến lược Việt Nam và giới lãnh đạo "chóp bu” Mỹ lúc đó đã được công bố, được đào xới tới từng chi tiết. Vẫn biết đó không phải là nhiệm vụ đặt ra cho chuyên luận này và thực sự là chúng tôi chưa thể đủ sức ôm trùm một khối tư liệu như mong ước, song trong quá trình thực hiện chuyên luận, chúng tôi thấy vẫn buộc phải tự đặt ra một số câu hỏi cho chính mình, xem như những “nghi vấn khoa học" nhằm bổ sung, soi sáng thêm cho những luận điểm của chúng tôi khi đặt cho mình nhiệm vụ nghiên cứu kỹ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968. Làm được như vậy, chúng tôi hy vọng rằng, những nghi vấn khoa học đặt ra mà nếu tìm được lời giải đáp đúng, sẽ càng tô đậm thêm thắng lợi của cuộc tiến công "Tết Mậu thân"; bằng không, đó cũng chỉ là những suy nghĩ bước đầu chúng tôi tự đặt ra cho mình phấn đấu tự giải đáp trong quá trình nghiên cứu sau này và không vì thế mà tác động vĩ đại của "Tết Mậu thân" bị giảm tầm giá trị đã đi vào lịch sử của nó - như một bước ngoặt, một cột mốc lớn trong tiến trình 21 năm (1954-1975) cuộc kháng chiến chống Mỹ.

        Quả thực là, cho đến nay, chưa một tác giả nào có điều kiện đầy đủ về tư liệu như chúng tôi mong ước để đi sâu hơn nữa vào từng đợt tổng tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968 như một chuyên luận độc lập. Một chuyên luận như vậy, chúng tôi hình dung nhất định phải đặt ra và giải quyết được những câu hỏi sau đây:

        1. Ý đồ chiến lược thực sự của cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam và tập đoàn cầm đầu Nhà Trắng sau cuộc Tổng tiến công "Tết Mậu thân" là gì vậy?

        2. Những nhân tố quốc tế nào đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới tính toán chiến lược của Mỹ và Việt Nam thời kỳ sau "Mậu thân"?

--------------------
        1. Dẫn theo Trần Bạch Đằng: Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược Tlđd.

        2. G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Sđd, T1, tr.310.

        3. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề về Tổng kết chiến tranh và biền soạn Lịch sử quân sự. Sđd, tr.141.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #82 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 09:04:55 AM »


        3. Phía Việt Nam sẽ ngồi vào bàn đàm phán trực tiếp với Mỹ ở tư thế như thế nào nếu như sau "Tết Mậu thân", quân và dân ta trên chiến trường thôi không tiến công vào đô thị mà quay ra củng cố vùng giải phóng nông thôn - vốn là địa bàn thuận lợi để Mỹ phát huy ưu thế về hỏa lực, bom đạn? Và liệu phía Mỹ, ngụy có chịu để yên cho chúng ta "củng cố" như vậy hay không khi Mỹ là nước lớn và khi trong tay chúng vẫn còn hơn một triệu quân, một khối lượng vũ khí, phương tiện chiến tranh lớn, hiện đại1?

        Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy được rằng: từ "Tết Mậu thân" trở về trước, lập trường của Chính phủ ta là: Mỹ phải chấm dứt không điều kiện mọi hành động chiến tranh chống phá Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi có bất cứ cuộc tiếp xúc chính thức nào giữa đại diện của Mỹ và Việt Nam. Đến ngày 31 tháng 3 năm 1968, do tác động của đòn "Tết Mậu thân", phía Mỹ phải đơn phương xuống thang chiến tranh, tuyên bố sẵn sàng cử đại diện đi vào đàm phán với phía Việt Nam nhưng trên thực tế, Mỹ vẫn duy trì cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 20, vẫn duy trì các chuyến bay trinh sát đường không trên vùng trời, vùng biển miền Bắc và vẫn giành quyền ném bom trở lại toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khi cần.

        Trong khi đó, chiến sự trên chiến trường vẫn không ngừng tiếp diễn và ngày càng quyết liệt. Tháng 3 và tháng 4 năm 1968, địch tập trung lực lượng, liên tiếp mở các cuộc hành quân quy mô lớn nhằm đánh bật lực lượng vũ trang ta ra xa các đô thị, khôi phục lại các tuyến đường giao thông chiến lược đã bị cắt đứt, đồng thời tăng cường đàn áp khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng của ta, ráo riết tiến hành "bình định" nhằm giành lại các vùng nông thôn đồng bằng, đặc biệt là các vùng trọng điểm vừa bị mất.

        Đứng trước tình hình này, Đảng ta không thể không cân nhắc kỹ lưỡng mọi phương án hành động nhằm đưa sự nghiệp kháng chiến của nhân dân tiếp tục phát triển. Chúng tôi tin chắc rằng, ở đây, kinh nghiệm của những lần đàm phán trực tiếp với phía Pháp năm 1945, 1946 hoặc năm 1954 trong lịch sử chắc hẳn để lại cho Đảng ta nhiều bài học quý báu trong cuộc đấu tranh ngoại giao cũng như sự cảnh giác cao độ của một nước nhỏ ngồi "đàm phán hòa bình" với một nước lớn đầy tham vọng. Và bối cảnh phức tạp của quan hệ quốc tế mà ở đó, kể cả một số bè bạn của ta như Liên Xô và Trung Quốc vẫn còn những sự nhìn nhận không thuận chiều khi ta quyết định đi vào đàm phán với phía Mỹ, chắc chắn cũng là một nhân tố được Đảng ta lượng định, đánh giá trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Chúng ta còn nhớ mới chỉ 36 tháng trước khi Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đọc diễn văn ngày 31 tháng 3 năm 1965, phát biểu tại Ban-ti-mo (ngày 7 tháng 4 năm 1965), Giôn-xơn từng nói trắng: “Mỹ sẵn sàng thương lượng không điều kiện" với Hà Nội nhằm chấm dứt chiến tranh. Nhưng, cùng với lời tuyên bố này là việc quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam và không quân, hải quân Mỹ leo thang đánh phá dữ dội miền Bắc (!). Dư luận rộng rãi trên thế giới ngày đó đã nhận thấy giữa lời tuyên bố công khai với hành động thực tế của Chính phủ Mỹ là hai chiều ngược nhau. Đến tháng 9 năm 1967, đọc diễn văn tại Hội nghị lập pháp toàn quốc ở Xan An-tô-ni-ô, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn tuyên bố rằng: Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam "đã chuẩn bị sẵn sàng để thảo luận tối hôm nay”, với Bắc Việt Nam; sẵn sàng nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh”, sẵn sàng cử Bộ trưởng ngoại giao Ra-xcơ đi gặp Bộ trưởng Bộ ngoại giao của các vị ấy ngày mai", "sẵn sàng cử một đại diện có thẩm quyền của nước Mỹ đì bất cứ nơi nào trên trái đất để nói chuyện công khai hay bí mật với người phát ngôn của Hà Nội"2.

-------------------
        1. Trong và sau "Tết Mậu thân", quân đội Mỹ trên chiến trường công khai bộc lộ sự tàn bạo của họ bằng cách gây ra nhiều vụ tàn sát dã man đối với đồng bào ta ở miền Nam - mà Mỹ Lai đã là một điển hình; dội bom đạn ồ ạt xuống vùng ven, vùng nông thôn, vùng giáp ranh... Về điều này, viên tư lệnh chiến trường mới được cử thay Oét-mo-len là A.Ram đã tuyên bố: Mỹ sẽ "dùng B.52 ném thật nhiều bom đến mức (...) chỉ cần phái một đội tuần tra không vũ trang đi xa với những cuốn sổ tay để ghi chép kết quả (Hãng tin AP, ngày 29 tháng 6 năm 1968). Vì thế, "nếu trong nửa cuối năm 1965, mỗi tuần có 50 phi vụ B.52 tại Nam Việt Nam... thì bảy giờ, mỗi tuần có 350 phi vụ B.522 (Thời báo Niu-oóc, ngày 26 tháng 8 năm 1968. Dẫn theo Trần Văn Giàu: Việt Nam giữ vững thành đồng, T5, Sdd, tr. 115-116).

        2. Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ trước Hội nghị Pa-ri. Viện Quan hệ quốc tế, H, 1990, tr.243.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #83 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 09:41:31 AM »


        Nhưng chính là do kinh nghiệm dạn dày trong đấu tranh ngoại giao của Đảng ta cũng như sự thấu hiểu bản chất của đối phương mà chúng ta đã ít "xúc động" trước lời tuyên bố dường như là "thiện chí" đó của Mỹ. Và sự thực là đến trước "Tết Mậu thân", Mỹ vẫn quyết tâm giành thắng lợi trên chiến trường Việt Nam bằng biện pháp quân sự. Điều đó được chứng tỏ trong thông điệp ngày 17 tháng 1 năm 1968 về tình hình liên bang của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn. Trong thông điệp này, khi đề cập tới chiến tranh Việt Nam, Giôn-xơn vẫn nói rằng "các cuộc thương lượng (với Bắc Việt Nam) phải trên cơ sở công thức Xan An-tô-ni-ô"1 - một công thức bề ngoài có vẻ “mềm dẻo” nhưng thực chất chứa đựng một lập trường thương lượng cứng rắn và có điều kiện của Mỹ; một công thức khả dĩ xoa dịu dư luận ở Mỹ và trên thế giới, qua đó, "để cho Mỹ vượt qua được năm khó khăn trước tuyển cử, còn lập trường của Mỹ vẫn là lập trường chiến tranh"2.

        Từ những thực tế đó, Đảng và Chính phủ ta nhận thức rõ ràng rằng, cái gọi là "sáng kiến hòa bình", "thương lượng không điều kiện" của Mỹ chỉ là luận điệu tuyên truyền nhằm đánh lạc hướng dư luận, che giấu các hành động chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Cho nên, chúng ta không hề ảo tưởng vào "thiện chí hòa bình" của Mỹ và kiểu Mỹ. Tuy nhiên, đương đầu với Mỹ - một nước lớn có tiềm lực quân sự và kinh tế mạnh hơn ta gấp nhiều lần, ngay từ những ngày đầu, trong khi chỉ ra phương hướng chiến lược cho quân và dân ta trong giai đoạn chiến tranh cục bộ, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 tháng 12 năm 1965) đã đồng thời nhấn mạnh: "Trong quá trình chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, ta phải giữ vững quyết tâm chiến lược, đồng thời áp dụng sách lược đấu tranh chính trị và ngoại giao khôn khéo để phối hợp với đấu tranh quân sự, chủ động tiến công, nêu cao ngọn cờ độc lập và hòa bình ,nhằm tranh thủ rộng rãi dư luận thế giới và cô lập hơn nữa đế quốc Mỹ”. Đến tháng 10 năm 1966, Bộ Chính trị đã họp để đánh giá tình hình và đề ra chủ trương "tích cực chủ động và tích cực tạo điều kiện vận dụng sách lược vừa đánh vừa đàm, vừa đàm vừa đánh, nhằm mục đích tranh thủ dư luận thế giới, cô lập đế quốc Mỹ, gây thêm khó khăn cho địch, làm cho chúng bị động, lúng túng và nội bộ chúng mâu thuẫn hơn nữa". Ba tháng sau đó - từ ngày 23 đến ngày 26 tháng 1 năm 1967, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 13 đã quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Hội nghị khẳng định “Chúng ta mở mặt trận ngoại giao bây giờ là đúng lúc" và cho rằng: "Chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trên chiến trường mà trong tình hình quốc tế hiện nay, với tính chất cuộc đấu tranh giữa ta và địch, đấu tranh ngoại giao giữ một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động".

        Xuất phát từ chủ trương nhất quán trên đây, từ sau "Tết Mậu thân", trước đề nghị đàm phán của Giôn-xơn ngày 31 tháng 3 năm 1968 và trước hành động thực tế của Mỹ trên chiến trường, Đảng và Chính phủ ta đã, một mặt '”sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện của Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việt ném bom và mọi hành động chiến tranh chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện"3; mặt khác, kiên quyết "động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phát huy khí thế chiến thắng, tiếp tục phát triển tiến công toàn diện, giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn nữa (...), đẩy địch vào thế thất bại liên tiếp, ngày càng suy yếu, tan rã, không sao gượng dậy được nhằm đi tới giành thắng lợi quyết định"4. Đây là một chủ trương chiến lược thể hiện bản lĩnh vững vàng và sách lược mềm dẻo của Đảng ta - một Đảng từng trải và dày dạn kinh nghiệm trong suốt bao năm ròng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao ghềnh thác, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Bởi lẽ, sau ngày 31 tháng 3 năm 1968, nếu từ chối lời yêu cầu cử đại diện tiếp xúc trực tiếp với đại diện Chính phủ Mỹ thì chính là ta đã mắc mưu địch: ai cũng biết rằng, một mặt, Mỹ tuyên bố "Mỹ sẵn sàng cử đại diện để nói chuyện với Hà Nội" nhưng mặt khác, từ trong thâm tâm, Mỹ rất muốn ta từ chối để "đẩy quả bóng sang sân" chúng ta, đánh lạc hướng dư luận.

--------------------
        1. Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ. Sđd, tr.243.

        2. Trả lời Thứ trưởng ngoại giao Ru-ma-ni ngày 17.12.1967 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Dẫn theo Lưu Văn Lợi, Nguyễn Anh Vũ: Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ. Sđd, tr.247.

        3. Tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 3 tháng 4 năm 1968. Dẫn theo Việt Nam - những sự kiện 1954-1975. Nxb Khoa học xã hội, T2, H, 1976, tr.82.

        4. Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 4 năm 1968.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #84 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 09:54:10 AM »


        Thật vậy, trong bức điện văn gửi cho sứ quán Mỹ tại Sài Gòn giải thích việc Tổng thống Giôn-xơn giới hạn ném bom từ vĩ tuyến 20 trở vào, Bộ ngoại giao Mỹ nêu rõ rằng Hà Nội có thể sẽ "lên án" việc giới hạn đó của Mỹ và sẽ từ chối cử đại diện tiếp xúc với phía Mỹ. Mỹ hy vọng chính điều này tạo điều kiện cho Mỹ “sẽ được tự do hành động sau một thời gian ngắn" ngừng ném bom mà không bị dư luận trong nước và trên thế giới phản đối. Nhưng Mỹ không thể ngờ là ngay sau đó, ngày 3 tháng 4 năm 1968, Chính phủ ta đã tuyên bố "sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam dân chủ cộng hòa để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện"1. Trước tuyên bố đó của Chính phủ ta, một tác giả Mỹ - Pi-tơ A. Pu-lơ đã nhận xét rằng: "Tốc độ đáp ứng của Hà Nội rõ ràng đã làm cho chính quyền Giôn-xơn bị bất ngờ - điều này được thể hiện qua việc giải quyết một cách lúng túng chung quanh vấn đề chủ yếu thuộc về thủ tục là triệu tập hội nghị ở đâu2. Về vấn đề này, tác giả G.C Hê-ring ghi nhận: "Câu trả lời tích cực của Hà Nội làm cho Oa-sinh-tơn kinh ngạc và nhiều quan chức Mỹ nghi ngờ Bắc Việt Nam có mưu mẹo khôn ngoan nhằm khai thác tình cảm chống chiến tranh ở Mỹ. Chính quyền Mỹ không có sự lựa chọn nào khác là chấp nhận đề nghị thương lượng trực tiếp của Hà Nội, nhưng họ quyết tâm không vội vã lao vào thương lượng"3. Cuối cùng, hai bên đồng ý lấy Pa-ri - thủ đô của nước Cộng hòa Pháp làm địa điểm gặp nhau, nhưng "Mỹ giữ lập trường cứng rắn ngay từ đầu”4 (G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr. 269).

        Thực tế đã cho thấy rằng: dù cho Mỹ có "thành tâm" khi ngồi vào bàn đàm phán đầu tháng 4 năm 1968 đi chăng nữa thì đó cũng là ngồi vào bàn trên thế của kẻ mạnh. Theo hồi ký của Giôn-xơn thì, trong cuộc họp giữa tổng thống với các quan chức hàng đầu trong Chính phủ Mỹ ngày 9 tháng 4 năm 1968 để bàn về việc cử đại diện đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Rốt-xtâu - cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ - đã bình luận việc Hà Nội chấp nhận cử đại diện đàm phán với Mỹ chính là đã "tự thừa nhận họ (tức Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đã ở vào một tình thế quân sự suy yếu”5. Trong khi đó Ha-ri-man - người được Giôn-xơn cử cầm đầu phái đoàn Mỹ hội đàm với phái đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa - đã nói tại cuộc họp ngày 9 tháng 4 năm 1968 này rằng: “Trong những cuộc đàm phán sắp tới, chúng ta (tức phía Mỹ - HK) phải cầm chắc là chúng ta sẽ đạt được những kết quả tích cực". Để đạt được "những kết quả tích cực" đó trên bàn hội nghị, theo Ha-ri-man, Mỹ cần phải đẩy mạnh hơn nữa những nỗ lực quân sự ở trên chiến trường: "Chúng ta (tức là Mỹ) càng mạnh về quân sự trên chiến trường thì lập trường chúng ta trong thương lượng càng có thế"6.

        Xuất phát từ quan điểm đó, trong khi trên chiến trường Việt Nam, quân Mỹ và quân Sài Gòn "có những nỗ lực điên cuồng"7 như nhận xét của tác giả Mỹ Hê-ring, bằng việc dồn sức mở hàng loạt các cuộc hành quân quy mô lớn, áp dụng nhiều biện pháp, sử dụng ồ ạt bom đạn và chất độc hòng giành thêm những lợi thế mới8.

--------------------
        1. Tuyên bố ngày 3 tháng 4 năm 1968 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

        2. Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn. Sđd, tr.162.

        3, 4. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr.269.

        5, 6. Hồi ký Giôn-xơn. Tlđd, tr, 430, 431. Cũng cần nhắc lại ở đây rằng, đầu năm 1969, khi mới bước vào Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Ních-xơn đã làm một cuộc kiểm điểm liên bộ về tình hình chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc kiểm điểm này, theo hồi ký “Những năm ở Nhà Trắng” của Kít-xinh-gơ thì, người ta dễ dàng nhận thấy "có một trường phái tư tưởng tương đối lạc quan (về thắng lợi của Mỹ ở Việt Nam - HK), bao gồm đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Ét-uốt Bân-cơ, hai vị tổng tham mưu trưởng, tướng Abram và đô đốc Giôn Mc.Ca-in (John Mc.Cain) - chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương. Nhóm này nghĩ là khi người Bắc Việt Nam chấp nhận đi vào đàm phán hòa bình thì chính là họ đã thú nhận sự suy yếu của họ trên phươpng diện quân sự". Tlđd, tr.26).

        7. G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr.273.

        8. Theo G.A. Am-tơ: "những hoạt động mới này là nhằm cản trở các cuộc hội đàm hòa bình, mà cuối cùng đã được bắt đầu ở Pa-ri ngày 13 tháng 5 năm 1968".
 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #85 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 10:03:14 AM »


        Rõ ràng, Giôn-xơn muốn thương lượng trên thế mạnh, và chỉ sau khi giành được những thắng lợi mới ở Việt Nam". Ngoài ra, "Giôn-xơn (còn) công bố chính quyền ông ta sẽ không thừa nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng hay Việt cộng. Hơn nữa, tổng thống đòi hai nhượng bộ: Nam Việt Nam được phép xác định tương lai chính trị của mình, và Mỹ được phép duy trì một "sự có mặt có thể là quân sự, ở Đông Nam Á"1; đồng thời, trên trường quốc tế, Mỹ ra sức tuyên truyền về "thắng lợi quân sự của Mỹ và đồng minh ở Nam Việt Nam từ sau Tết Mậu thân thì trên bàn hội nghị, phía Mỹ đã ngang nhiên đặt điều kiện cho việc chấm dứt ném bom hoàn toàn miền Bắc - bằng cách buộc chúng ta phải:

        -  Công nhận đại diện chính quyền Sài Gòn tại Hội nghị Pa-ri;

        -  Chấm dứt việc đưa người, vũ khí từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam;

        -  Ngừng ngay các cuộc tiến công vào các thành phố lớn ở miền Nam Việt Nam.

        Công khai bám giữ lập trường trên đây, ngày 20 tháng 7 năm 1968, trong Thông báo chung nhân cuộc hội đàm giữa Giôn-xơn với Nguyễn Văn Thiêu tại Hô-nô-lu-lu, phía Mỹ khẳng định lại cam kết của Mỹ "quyết tâm ngăn chặn xâm lược",  "không bỏ miền Nam Việt Nam",  "Mỹ rút quân thì Bắc Việt Nam cũng phải rút quân ra khỏi Nam Việt Nam"...

        Ngày 31 tháng 7 năm 1968, tại một cuộc họp báo, Giôn-xơn đe dọa nếu không có một đột phá tại Pa-ri, Bắc Việt Nam không thay đổi lập trường của mình, ông "sẽ buộc phải có những biện pháp quân sự mạnh"2. Trong lúc đó các tham mưu trưởng liên quân Mỹ không hề "khoan nhượng", đã liên tiếp thúc ép phải tiếp tục "leo thang", kể cả việc dùng máy bay B.52 ném bom các "vùng đất thánh" của Bắc Việt Nam ở Campuchia. Vào trung tuần tháng 8 năm 1968, phát biểu tại hội nghị cựu chiến binh Mỹ, Giôn-xơn đã lại một lần nữa xác nhận quan điểm của Chính phủ Mỹ là: "Không có ý tiến xa thêm nữa cho đến khi có đủ lý do để tin rằng, phía bên kia có những ý đồ nghiêm chỉnh để phối hợp với Mỹ xuống thang chiến tranh và nghiêm chỉnh tiến tới hòa bình"3. Trước tình hình này, trưởng phái đoàn đàm phán Mỹ Ha-ri-man đã có lúc yêu cầu Giôn-xơn thỏa hiệp nhưng ngay lập tức đề xuất đó của Ha-ri-man bị bác bỏ. Sau này, một nhà ngoại giao Mỹ cho biết: "Những cuộc thương lượng gay go nhất của chúng tôi là với Oa-sinh-tơn chứ không phải với Hà Nội. Vào mùa hè đó chúng tôi không thể thuyết phục được, ngay cả với tổng thống"4. Trong lúc đó, chính quyền Sài Gòn công khai đòi đàm phán trực tiếp với Hà Nội - chứ không phải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.

        Rõ ràng là, sau ngày 31 tháng 3 năm 1968, lập trường nhất quán của phía Mỹ vẫn là dành cho mình quyền tự do hành động ở miền Nam trong khi ép đối phương phải giảm thiểu các hoạt động tiến công, chấm dứt đưa người và vũ khí từ miền Bắc vào, công nhận đại diện chính quyền Sài Gòn trên bàn hội nghị - nghĩa là, buộc Chính phủ ta phải thỏa mãn các điều kiện của Mỹ đưa ra trước khi Mỹ chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Thực chất, đấy vẫn là đòi hỏi trịch thượng của kẻ mạnh. Trước tình hình đó, Đảng ta vẫn kiên định lập trường vừa đấu tranh đòi Mỹ phải đơn phương chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, vừa chỉ đạo quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh tiến công quân sự - chính trị, mở tiếp đợt 3 mà hướng chính vẫn là đô thị, nhằm làm cho địch: "Thất bại trên chiến trường, thất bại ở các thành thị lớn và thất bại ở ngay nước Mỹ"5.

        Như vậy diễn biến chiến trường sau “Tết Mậu thân" thực chất là sự phản ánh ý đồ chiến lược thực sự của cơ quan chỉ đạo chiến lược Việt Nam và tập đoàn cầm đầu Nhà Trắng ở Oa-sinh-tơn: giành ưu thế trên chiến trường để tạo thế mạnh ở bàn hội nghị. Nhìn lại thực tế lịch sử này, có tác giả Mỹ đã bình luận rằng: "Hình như cả hai bên đều tham gia vào cuộc phô trương công khai sức mạnh ý chí của mình"6.


------------------
        1. G.A.Am-tơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr. 229.

        2, 4. Dẫn theo G.C. Hê-ring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr.271.

        3. Dẫn theo P.A. Pu-lơ: Nước Mỹ và Dông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn, Sđd, tr.264.

        5. Nghị quyết Bộ Chính trị, tháng 8 năm 1968.

        6. Pi-tơ A.Pu-lơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ru-zơ-ven đến Ních-xơn Sđd, tr.264.
« Sửa lần cuối: 17 Tháng Ba, 2017, 10:10:35 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #86 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 10:21:50 AM »


        Trong cuộc đọ sức quyết liệt đó, chẳng ai lấy làm lạ rằng, các bên tham chiến đều bị tổn thất nặng nề: Nếu như 111.360 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng hàng vạn quần chúng của ta đã hy sinh và bị thương trong năm 1968 thì cũng là trong năm này, số thương vong của quân Mỹ đã "gia tăng ghê gớm, nó gần gấp hai lần tổng số thương vong của tất cả các năm trước đó cộng lại - 30.610 người so với 16.210 người"1. Chỉ sáu tháng đầu năm 1968, Mỹ, nguỵ đã bị tổn thất 101.400 người - như chính tài liệu của họ đã tự thú nhận2. Bước sang năm 1969, "số người Mỹ đã chết trong những tuần lễ đầu lên tới 453, tuần lễ thứ hai là 336, tuần lễ thứ ba là 351; những thiệt hại của phía Nam Việt Nam (tức quân đội Sài Gòn) còn nặng nề hơn vì lên tới trung bình 500 người mỗi tuần"3. Qua những con số thương vong này, chúng ta cũng đã hình dung được phần nào sự ác liệt của cuộc chiến ngày đó - một sự ác liệt mà mỗi bên đều buộc phải chấp nhận nhằm khẳng định ý chí, khẳng định tư thế của mình trên chiến trường đặng thông qua đó, giành lợi thế trên bàn đàm phán. Điều này không chỉ được chứng nghiệm trong THỜI ĐIỂM có tính bước ngoặt lớn - là năm 1968, mà sau đó, còn tái diễn trong năm 1972 để đi tới Hiệp định Pa-ri tháng 1 năm 1973. Theo đồng chí Lê Đức Thọ, sau chiến dịch Quảng Trị năm 1972, tại Pa-ri, Kít-xinh-gơ có nói đại ý: Nếu chỉ thuần túy về mặt quân sự thôi thì chẳng bên nào lại đánh và chịu tổn thất đến mức như vậy. Trả lời Kít-xinh-gơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: "Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh về chính trị trong đàm phán, chứ còn đứng về quân sự thì không ai vì một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh đến như thế” 4.

        Như vậy phải thông qua những hoạt động cụ thể trên chiến trường - đặc biệt ở vào một thời điểm quyết định, quân và dân ta ngày đó mới buộc được phía Mỹ phải xuống tiếp một nấc thang chiến tranh bằng việc ngày 31 tháng 10 năm 1968, bỏ qua sự phản ứng gay gắt của chính quyền Sài Gòn, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã đơn phương tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mọi hành động chống phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - mà không còn đưa ra điều kiện đòi ta phải ngừng chi viện cho cách mạng miền Nam; công nhận đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên ở Pa-ri - mà trước đó phía Mỹ vẫn nhất mực phủ nhận... Buộc được Mỹ phải đơn phương xuống tiếp một nấc thang chiến tranh trong khi trên chiến trường, quân số Mỹ, ngụy, chư hầu tiếp tục tăng đến đinh cao là một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược to lớn của phía Việt Nam, là một thành công trong chỉ đạo chiến lược nhất quán của Đảng ta; kéo Mỹ xuống thang chiến tranh để đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của Mỹ.

        Nhắc lại một số diễn biến lịch sử liên quan tới thời kỳ sau "Tết Mậu thân”, chúng tôi không nghĩ rằng đã lột tả được bối cảnh của tình hình mọi mặt rất phức tạp của thời kỳ này cũng như chưa đề cập trực tiếp sự sai - đúng của các đợt tiến công tháng 5 và tháng 8 năm 1968. Dù vậy, chỉ qua việc điểm lại một số sự kiện lịch sử trên đây, chúng tôi vẫn cho rằng: Sau tuyên bố ngày 31 tháng 3 năm 1968 của Tổng thống Mỹ Giôn-xơn, chúng ta không thể nào ngồi vào bàn đàm phán trực tiếp với phía Mỹ ở tư thế chủ động của người chiến thắng được5. Để có được nấc xuống thang chiến tranh mới của Mỹ ngày 31 tháng 10 năm 1968 nói trên, chúng ta buộc phải dồn hết tâm lực và chấp nhận sự hy sinh bằng cách đẩy mạnh các hoạt động tiến công - bằng cách dấn tới để khẳng định TƯ THẾ đàm phán, buộc Mỹ phải đàm phán theo yêu cầu của chúng ta. Nếu nói như một tác giả Mỹ vừa dẫn trên đây, trong những đợt tiến công tháng 5 và tháng 8, "hình như cả hai bên đều tham gia vào cuộc phô trương công khai sức mạnh ý chí của mình" thì đó chỉ là một cách nói tưởng như khách quan nhưng về mặt nào đó là chưa đầy đủ và chính xác. Bởi vì, với một tiềm lực kinh tế và quân sự như Mỹ, Mỹ có thể phô trương thanh thế và uy lực quân sự ở bất cứ nơi nào mà Mỹ muốn - và thực tế gần đây, ở Cô-xô-vô, ở Áp-ga-ni-xtan hoặc ở I-rắc hiện nay chẳng hạn, Mỹ đã phô trương và giành chiến thắng bằng chiến lược "lấy thịt đè người" này. Còn như ở hoàn cảnh như chúng ta vào năm 1968, chúng tôi cho rằng chúng ta không hề có ý định "phô trương” mà thực chất là đã buộc phải gồng mình lên, chấp nhận sự hy sinh để biểu hiện sức mạnh ý chí của mình. Buộc phải gồng mình lên để "biểu hiện sức mạnh ý chí" của mình một cách chủ đích, có ý thức không bao giờ là đồng nghĩa với duy ý chí" hoặc sự “cay cú"6.

        Ở trường hợp cụ thể như trường hợp "Tết Mậu thân" và sau "Tết Mậu thân" này7, chúng tôi nghĩ có lẽ những câu thơ sau đây của một nhà thơ thời chống Mỹ đã diễn đạt súc tích hơn điều mà chúng tôi mong diễn đạt:

                                         Ta đây có thích gì máu đổ
                                         Thích gì nghe đạn nổ bom rơi
                                         Ta chiến đấu bởi không cam cúi cổ
                                         Để cho quân giặc Mỹ chém ngang người


-----------------------
       1. Jeff Stein - Marc Leepson: Sổ tay sự kiện chiến tranh Việt Nam. Sđd, tr.81.

        2. Dẫn lại: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Sđd, T1, tr.311.

        3. Hen-ri Kít-xinh-gơ: Những năm ở Nhà Trắng, T1. Tlđd, chương 8, tr.33.

        4. Lê Đức Thọ: Một số vấn đề tổng kết chiến tranh. Sđd, tr.67, 68.

        5. Nhiều tác giả Mỹ, ví như G.C. Hê-ring chằng hạn, đã nhận định: "Mỗi bên có thể tuyên bố "chiến thắng" của mình trong cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân, nhưng thế trận của mỗi bên đều yếu đi nhiều và không bên nào có đủ ảnh hưởng để ép buộc phía bên kia đi đến một giải pháp". Quả thật, phải hơn 4 năm sau, Hiệp định Pa-ri mới được ký kết nhưng riêng cuối năm 1968, rõ ràng, Mỹ đã phải xuống tiếp một nấc thang chiến tranh.

        6. Đồng chí Trần Bạch Đằng trong bài viết Mậu thân - cuộc Tổng diễn tập chiến lược đăng trên tạp chí Lịch sử quân sự, số 2 năm 1988 đã nhận xét rằng: "Sứ mệnh của Mậu thân căn bản hoàn thành với đợt 1. Ở đây, bệnh cay cú dẫn chúng ta đi xa, và do đó, qua đợt 2, vùng nông thôn giải phóng bị thu hẹp và đến đợt 3 thì trên thực tế, chúng ta để mất gần hết vùng giải phóng”.

        7. Các đợt tiến công sau "Tết Mậu thán" - mà nhiều tác giả xem đó là những đòn đánh bồi, đánh nhồi vào ý chí xâm lược của Mỹ, đã được báo Nước Đức Mới, số ra ngày 7 và 8 tháng 2 năm 1998, ghi nhận: "Tuy Mỹ và các đồng minh đã có thể chuyển sang phản công, nhưng đợt tiến công tháng 5 và tháng 6 năm 1968 đã chứng tỏ rằng kẻ xâm lược đã vĩnh viễn mất đi thế chủ động chiến lược".
 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #87 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 10:28:29 AM »


        2. Một số suy nghĩ về “Tết Mậu thân”

        “Tết Mậu thân" là sự kiện tạo nên bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh kéo dài suốt 21 năm tại Việt Nam (1954-1975) trên một quy mô rộng lớn, đồng thời cũng là hiện tượng phức tạp nhất trong công tác tổng kết và biên soạn lịch sử chiến tranh chống Mỹ. Vì là một sự kiện lịch sử có tính bước ngoặt của cuộc chiến tranh, lại diễn ra trên một địa bàn rộng lớn với một ý đồ chiến lược hết sức quy mô nhưng cũng vô cùng bí mật... nên cho đến nay, chúng tôi tin chắc rằng chưa một nhà nghiên cứu nào có thể dám cho rằng đã nắm được hết các tài liệu tối mật của Bộ Chính trị hay Quân ủy Trung ương (sau này là Đảng ủy Quân sự Trung ương) về chủ trương chiến lược này. Theo chúng tôi, những sự kiện lịch sử cận - hiện đại thường cần phải có độ lùi sáu, bảy chục năm hoặc hơn nữa kể từ khi sự kiện lịch sử đó diễn ra mới có thể tạo điều kiện cho các nhà khoa học tiếp cận tư liệu một cách đầy đủ; và khi đó, người ta mới hy vọng nhìn sự kiện lịch sử ấy từ chiều thẳm sâu của chúng trong mối tương quan đồng đại và lịch đại với các sự kiện lịch sử khác.

        Lại nữa, tất cả các công trình, báo cáo, bài nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về "Tết Mậu thân" mà chúng tôi đọc được, chưa một công trình nào mang ý nghĩa là một công trình tổng kết dày dặn của Bộ Chính trị hay Đảng ủy Quân sự Trung ương, thậm chí dù chỉ là một công trình tập thể của một cơ quan tổng kết chiến lược; cũng như chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về sự kiện mang tính chất cột mốc này. Chúng ta có thể đọc được những chương sách, những bài tạp chí, những bài phát biểu trong các hội thảo về "Tết Mậu thân" từ nhiều nguồn và ở những thời điểm khác nhau; song tác giả của các bài viết, bài nói này hoặc chỉ nhìn từ một góc độ, một chiến trường cụ thể, một đợt tiến công cụ thể; hoặc có tác giả nêu lên vấn đề tưởng như lý luận sâu sắc: "không được đùa với khởi nghĩa"1, nhưng xem ra lại quá lệ thuộc vào lý luận về các điều kiện khởi nghĩa của Mác, Ăng-ghen, Lênin trước đây - so sánh "Tết Mậu thân" với tổng khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Mười Nga và Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, mà không để ý mảng lịch sử là một chuỗi sự kiện không lặp lại bao giờ...

        Còn như các sách, báo và tài liệu của nước ngoài, từ hồi ký Giôn-xơn, hồi ký Oét-mo-len... đến những chuyên khảo về "Tết Mậu thân" của một số phóng viên báo chí hay giới sử học Mỹ, tuy về mặt khách quan cũng cho chúng ta những số liệu cần thiết, những nhận định nhiều khi sắc sảo để tham khảo, nhưng chung quy, họ không thể giấu được chỗ đứng, góc nhìn của họ trước sự kiện này nên dĩ nhiên là có nhiều trang mô tả phiến diện, thậm chí là xuyên tạc...

        Chính vì thực trạng tình hình tư liệu hiện thời như vậy mà ở chuyên luận này, chúng tôi không đặt phạm vi nghiên cứu toàn bộ các cuộc tiến công kéo dài hàng năm trời sau "Tết Mậu thân", mà chỉ khuôn lại nghiên cứu ở cuộc tiến công đợt 1, tức là đến ngày 31 tháng 3 năm 1968 - cái ngày mà dưới tác động của đòn "Tết Mậu thân", cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ đã ngoặt sang cục diện khác, khung cảnh khác, khuôn khổ khác.

        Cố gắng miêu tả một cách cụ thể lịch sử và toàn diện đợt tiến công "Tết" này để rút ra được những bài học lịch sử cần thiết và mạnh dạn trình bày những suy nghĩ bước đầu của mình trong quá trình bắt tay vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hy vọng rằng đó sẽ là một đóng góp nhỏ trong việc tổng kết chiến tranh và biên soạn lịch sử kháng chiến chống Mỹ.

        * Về phát hiện và chớp thời cơ chiến lược

        Từ xưa tới nay, thời cơ là một trong các điều kiện quan trọng mà mỗi bên tham chiến cần phát hiện để chớp lấy kịp thời nhằm tạo nên chuyển biến quyết định của cục diện chiến tranh. Thời cơ là cả một quá trình chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị thế trận; là cả một quá trình phân tích các nhân tố quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao liên quan tới cuộc chiến tranh trong một khoảng thời gian nhất định.

        Lãnh đạo quân và dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc trong những năm kháng chiến chống Mỹ, không bao giờ Đảng ta có ảo tưởng thắng Mỹ - cũng như với Pháp trước đây, trên thế áp đảo về sức mạnh quân sự thuần túy. Trong mấy chục năm chiến đấu dạn dày về kinh nghiệm của một nước nhỏ chống lại một kẻ xâm lược lớn, bao giờ Đảng ta cũng rất chú trọng vấn đề thời cơ chiến lược và ra sức chuẩn bị mọi mặt để tạo thời cơ. Và một khi thời cơ đến là ra sức thúc đẩy, chớp lấy thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược kịp thời nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh.

------------------------
        1. Tống Hồ Trinh: Không được đùa với khởi nghĩa. Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 7 năm 1988.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #88 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 10:32:42 AM »


        Ngay từ cuối năm 1965, Nghị quyết đánh Mỹ của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) đã chỉ ra phương hướng giành thắng lợi trong chiến tranh cục bộ là: Trên cơ sở tiếp tục quán triệt phương châm đánh lâu dài, "cần cố gắng cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam". Cần lưu ý rằng, ngay ở Nghị quyết này, khái niệm "Giành thắng lợi quyết định" ở đây không bao hàm ý nghĩa là tiêu diệt toàn bộ lực lượng quân sự địch mà thực chất chỉ là "đè bẹp ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, thực hiện mục tiêu về độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập , tiến tới thống nhất nước nhà".

        Theo dõi lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ từ sau năm 1965, chúng ta thấy phương châm chiến lược này đã quán xuyến trong từng chiến dịch, từng đợt hoạt động quân sự và chính trị. Chúng ta biết thắng địch từng bước, thắng từng bộ phận và luôn luôn tính sao cho "thắng Mỹ vừa với sức ta". Vì thế, sau thắng lợi đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, đánh bại các mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Đảng ta nhận thấy thời cơ thuận lợi tiến lên giành thắng lợi to lớn hơn, đang đến gần.

        Trên chiến trường, mặc dù quân số địch lên tới mức cao nhưng tất cả ưu thế về binh lực, hỏa lực và sức cơ động của chúng bị hạn chế rất thiều trước thế trận và cách đánh của ta. Những chỗ yếu của địch không được khắc phục mà ngày càng bị khoét sâu thêm - đặc biệt là chỗ yếu về chính trị. Vì thế, mặc dù địch vẫn còn rất chủ quan nhưng nhìn chung, "Xu thế của tình hình trong cả nước năm 1968 là địch sẽ ngày càng chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước"1.

        Mặt khác, xuất phát từ sự phân tích rằng: Việt Nam không phải là mục tiêu quan trọng nhất trong chiến lược toàn cầu của Mỹ nên Mỹ không thể hy sinh mọi lợi ích ở các khu vực chiến lược khác vì cuộc chiến tranh Việt Nam, Đảng ta nhận thấy: "So với mục đích chính trị, quân sự nhất định của chúng thì những cố gắng chiến tranh lớn của Mỹ (cùng với những thiệt hại nặng nề của chúng) ở Việt Nam đã lên tới đỉnh cao”2. Đây là một nhận định rất quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch chiến lược "Tết Mậu thân". Bởi vì, trong chỉ đạo chiến lược, nhận thức được đâu là thời điểm đỉnh cao trong cố gắng chiến tranh của đối phương để xác định thời điểm tiến hành đòn đành quyết định có ý nghĩa to lớn. Nếu nhận thức không chính xác chọn thời điểm giáng đòn quyết định không đúng lúc thì hiệu lực thấp, thậm chí kết quả có thể ngược lại so với tính toán ban đầu vì đối phương có thể phản ứng nhanh, tăng viện ồ ạt, tiếp tục nỗ lực chiến tranh ở mức mạnh mẽ hơn, gây cho ta những tổn thất to lớn.

        Ở trên chiến trường Việt Nam đã vậy, còn tại Mỹ, chính quyền Giôn-xơn đang gặp phải những khó khăn to lớn về chính trị, kinh tế, quân sự, xã hội, ngoại giao do hậu quả bị sa lầy trong chiến tranh Việt Nam. Tất cả tình hình này của Mỹ được Đảng ta phân tích, đánh giá. Đồng thời, Đảng ta còn nhận rõ những khó khăn đó trong nội bộ nước Mỹ càng bị nhân lên khi mà năm vận động bầu cử tổng thống ở Mỹ đang xích lại gần. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là cần phải và có thể lợi dụng tình hình đó để buộc chính phủ Mỹ phải quyết định “xuống thang" chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán.

        Về phía ta, mặc dù ta vẫn còn nhiều khó khăn, nhược điểm (về tổ chức lực lượng, về khả năng đánh tiêu diệt lớn, về đảm bảo hậu cần, về phong trào đô thị...) nhưng "diễn biến cơ bản của tình hình là ta đang ở thế thắng, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang ở thế thua, thế bị động và khó khăn”3.

        Từ những phân tích, đánh giá diễn biến và xu thế phát triển của tình hình như thế, Đảng ta đã đi tới nhận định: "Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn. Đế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược"4. Tình hình đó cho phép chúng ta "có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định như Nghị quyết của Hội nghị của trung ương Đảng lần thứ 12 và 13 đã đề ra”5.

-------------------------
        1, 2, 3, 4, 5. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lằn thứ 14, tháng 1 năm 1968.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20920


« Trả lời #89 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2017, 10:36:57 AM »


        Như vậy trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo quân và dân ta ở cả hai miền Nam, Bắc đánh thắng chiến lược "chiến tranh cục bộ", Đảng ta đã luôn luôn kiên định chủ trương "giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam" - chủ trương quán xuyến suốt gần 3 năm (1965-1967) mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (tháng 12 năm 1965) và 13 (tháng 1 năm 1967) đã dự kiến. Theo phương hướng này, trong khi chỉ đạo quân và dân ta trên chiến trường đẩy mạnh tiến công địch về quân sự và chính trị, ra sức chuẩn bị thế trận và lực lượng cho trận đánh quyết định, Đảng ta đồng thời theo dõi sát diễn biến trên chiến trường cũng như ở ngay trong nước Mỹ và trên thế giới. Khỉ phát hiện thấy động thái mới của địch sau mùa khô 1966-1967, Đảng ta đã dự kiến được xu thế phát triển của cuộc chiến tranh và phát hiện được thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược kịp thời bằng việc mở cuộc tiến công "Tết Mậu thân" 1968. Vì vậy, trong thư gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền, đồng chí Lê Duẩn đã chỉ rõ: "Từ ba, bốn năm nay, ta đã chuẩn bị lực lượng và thế trận cho trận quyết chiến chiến lược này. Song, vì nhiều lý do, lực lượng ta chuẩn bị chưa đủ. Tuy vậy như Trung ương đã phân tích, khi đã có thời cơ thuận lợi nếu chúng ta biết làm và làm đúng, có sự nỗ lực vượt bậc thì lực lượng ít cũng có thể tạo nên sức mạnh, bảo đảm giành thắng lợi rất to lớn, rất quan trọng"1.

        Nếu để ý rằng, “bức thư” vào Nam gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền trên đây được gửi đi trước giờ G của “Tết Mậu thân" chưa đầy 2 tuần, rằng trong "bức thư" này, những điều trích dẫn trên đây được đặt dưới tiêu đề: "THỜI CƠ LÀ HẾT SỨC QUAN TRỌNG", chúng ta có thể xem đây như một mệnh lệnh cuối cùng sau 3 năm tạo thời cơ, chờ đón thời cơ và chớp lấy thời cơ để giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam, của Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

        * Về nghệ thuật tiến công

        Nhằm tạo ra hiệu lực chiến lược mạnh, làm tan rã ý chí xâm lược của đối phương, Đảng ta đã chủ trương trong “Tết Mậu thân", vừa tiến công rộng khắp và đồng loạt - một cách đánh chiến lược mới; vừa táo bạo hướng sức mạnh của chiến tranh cách mạng vào các đô thị miền Nam. Đảng xem đó là "mũi nhọn thọc sâu vào yết hầu của địch, có tầm quan trọng chiến lược đối với toàn bộ chiền trường và toàn bộ cuộc chiến tranh"2, là “đòn ác liệt nhất đánh vào tim óc, huyết mạch của địch, và cũng là cách tốt nhất để phối hợp ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược để tiêu diệt nhiều nhất sinh lực địch, làm sập chỗ dựa chính trị của địch và đè bẹp ý chí xâm lược của chúng”3 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, tháng 1 năm 1968). Nhưng muốn tiến công vào hệ thống dinh lũy của Mỹ, ngụy - nơi được tổ chức phòng thủ chặt chẽ bằng nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều lực lượng, nhiều biện pháp, nhiều thủ đoạn... chúng ta phải giải quyết một loạt các vấn đề thuộc về nghệ thuật tiến công trong "Tết Mậu thân", đặc biệt là trong điều kiện tương quan lực lượng quân sự đôi bên trên chiến trường lúc bấy giờ nghiêng lệch về phía địch.

        Nghi binh chiến lược nhằm phân tán lực lượng chủ lực địch, làm lạc hướng sự đề phòng của chúng đã được các cơ quan chỉ đạo chiến lược và các cấp chỉ huy chiến trường triển khai thực hiện từ trước "Tết Mậu thân" bằng nhiều biện pháp và nhiều thủ đoạn kết hợp. Những tháng cuối năm 1967, chúng ta đã lần lượt mở một số chiến dịch ở' vùng ven biên giới, ở Tây Nguyên; đồng thời chúng ta duy trì các hoạt động quân sự ở vùng ven đô thị và ở vùng nông thôn đồng bằng như lệ thường. Các hoạt động như vậy khiến cho địch lầm tưởng rằng lực lượng của ta đã bị thương vong nặng qua cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, không còn khả năng mở các chiến dịch ở đồng bằng như trước. Điều này dường như là lôgíc với bài báo của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Quân đội nhân dân Việt Nam đăng trên nhật báo Nhân Dân và Quân đội nhân dân trong tháng 9 năm 1967, trong đó nhà lãnh đạo này khẳng định lại quyết tâm đánh lâu dài và kêu gọi toàn quân, toàn dân bảo toàn lực lượng. Trên mặt trận ngoại giao, vào tháng 12 năm 1967, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố phóng thích hai tù binh Mỹ. Tiếp đó Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ta công khai ngỏ ý tại một buổi chiêu đãi đoàn ngoại giao rằng: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ đi vào đàm phán với Mỹ. Điều đáng lưu ý là, trước đó ta mới chỉ công khai tuyên bố sẽ có thể "nói chuyện" nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc mà thôi. Tín hiệu ngoại giao này càng làm cho chính quyền Mỹ bị phân hóa giữa phái chủ chiến và phái chủ hòa. Nhưng điều quan trọng hơn lại là ở chỗ, qua những cử chỉ ngoại giao đó, giới lãnh đạo Mỹ càng thêm tin chắc là ta đã thực sự bị suy yếu trên mặt trận quân sự.

---------------------
        1. Thư gửi Trung ương cục và Quân ủy miền Nam, ngày 18 tháng 1 năm 1968 (Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.192).

        2, 3. (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14, tháng 1 năm 1968)
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM