Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười Hai, 2019, 03:11:01 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tết Mậu Thân 1968-Bước ngoặt lớn của cuộc KCCM CN  (Đọc 18891 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #10 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2017, 09:21:00 AM »


        Trên trường quốc tế, Mỹ triệt để lợi dụng mâu thuẫn Xô - Trung và sự bất đồng trong phong trào cộng sản quốc tế để cô lập Việt Nam, đẩy mạnh chiến tranh xâm lược. Ở trong nước, chính quyền Mỹ thi hành các biện pháp nhôm bưng bít tin tức về các chiến tranh ở Việt Nam, che giấu các hoạt động chiến tranh của Mỹ trên chiến trường. Bằng cánh đó, chính phủ Mỹ hy vọng duy trì dược sự đồng tình của Quốc hội và tranh thủ được ủng hộ của nhân dân Mỹ đối với chính sách “leo thang" chiến tranh của chính quyền Mỹ ở Việt Nam.

        Trước việc Mỹ thay đổi chiến lược - đưa quân vào trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, quân và dân hai miền Nam, Bắc Việt Nam không nao núng ý chí, quyết tâm, bình tĩnh, tự tin bước vào cuộc chiến đấu mới.

        Dưới Bự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương, khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" đã trở thành mục tiêu, lẽ sống của nhân dân miền Bắc. Vì thế, ngay sau đó, được miền Bắc chi viện, khối chủ lực cơ động của Quân giải phóng miền Nam đã phát triển từ 10 trung đoàn (1964) lên tới 5 sư đoàn, 11 trung đoàn bộ binh và nhiều trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật với vũ khí, trang bị tương đối hiện đại. Bên cạnh khối chủ lực cơ động, bộ đội địa phương và dân quân du kích cũng dã nhanh chóng được mở rộng, tăng cường: mỗi tỉnh có 1 đến 2 tiểu đoàn và hàng chục đại đội bộ đội chủ lực cùng hàng trăm trung đội, tiểu đội du kích... Như vậy là bắt đầu từ đây, ở miền Nam, lực lượng vũ trang ta đã củng cố vững chắc hơn nữa thế trận liên hoàn trên các địa bàn chiến lược: khối chủ lực đứng chân vững chắc ở miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng Khu 5; bộ đội địa phương và dân quân du kích hoạt động xen kẽ với dịch, hỗ trợ trực tiếp cho phong trào chống phá "bình định" và đấu tranh chính trị của nhân dân tại chỗ. Xung quanh các căn cứ quân sự; làng xã chiến đấu được liên kết lại, hình thành các "vành đai" áp sát, bao vây, trực tiếp uy hiếp quân Mỹ ngay tại vị trí xuất phát hành quân của chúng. Ở vùng ven đô, dân quân, du kích, đặc công, các đội pháo cối chuyên trách được tăng cường. Trong các đô thị, cơ sở chính trị cũng được chú ý phát triển.

        Dựa trên thế trận đã dược chủ động hình thành đó, khi quân Mỹ ồ ạt kéo vào miền Nam, lực lượng vũ trang quân giải phóng chẳng những không bị động lùi về phòng ngự chống đỡ mà ngược lại, đã chủ động tiến công một số đơn vị quân Mỹ nhằm tìm hiểu khả năng thực tế quân Mỹ để tìm ra cách đánh phù hợp. Vì vậy, ngay trong năm 1965, chiến thắng của Quân giải phóng miền Nam đã làm nức lòng cả nước. Đó là các trận đánh đã đi vào lịch sử: Trận Núi Thành (3.1965), một đại đội bộ đội địa phương quân giải phóng tập kích vào một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ; trận Vạn Tường (8.1965), một trung đoàn chủ lực Quân giải phóng đã đương đầu thắng lợi với cuộc tiến công hiệp đồng binh chủng của một lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ với số quân lớn hơn ngay tại vùng đồng bằng ven biển; tiếp đó, Quân giải phóng đã chủ động mở chiến dịch Plây Me (11.1965) trên miền rừng núi Tây Nguyên, tiêu diệt gọn một tiểu đoàn của sư đoàn kỵ binh không vận số 1 của Mỹ. Như hòa nhịp với chiến trường Khu 5, ở miền Đông Nam Bộ, chủ lực Quân giới phóng đã tập kích vào lữ đoàn dù Mỹ 173 tại Đất Cuốc và tấn công vào lữ đoàn 1 thuộc sư đoàn bộ binh số 1 - sư đoàn được mệnh danh là “Anh cả đỏ " tại Bàu Bàng (11.1965).

        Từ thực tiễn chống Mỹ, cứu nước trên khắp cả hai miền Nam, Bắc trên đây và trên cơ sở phân tích toàn bộ tình hình trong nước và trên thế giới có liên quan tới cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, khóa III (12.1965) đã đi tới kết luận: "Ngày nay, mặc dù đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch"1 (Nghị quyết hội nghị Ban Chấp bành Tnmg ương Đảng lần từ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965). Hội nghị hạ quyết tâm chiến lược: "Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào”2 (Nghị quyết hội nghị Ban Chấp bành Tnmg ương Đảng lần từ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965). Cũng tại Hội nghị này, Trung ương Đảng đã vạch rõ phương châm chiến lược chung trong cược kháng chiến chống Mỹ, cứu nước phải là "đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính”3 (Nghị quyết hội nghị Ban Chấp bành Tnmg ương Đảng lần từ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965). Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó, Hội nghị cũng đã sáng suốt lường trước được khả năng nhằm chớp thời cơ và lưu ý các cấp chiến lược rằng: Trên cơ sở quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài mà Nghị quyết đã chỉ ra, chúng ta “phải cố gắng cao độ, tập trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ, giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam”1.

----------------------
       1. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12 (khóa III), tháng 12 năm 1965).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #11 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2017, 09:21:44 AM »


        Tinh thần đó được thể hiện cụ thể thành những nội dung chính sau dây:

        1. Tiêu diệt, tiêu hao một bộ phận quan trọng quân đội Mỹ, làm cho Mỹ bị tổn thất nặng, không thể thực hiện được các nhiệm vụ quân sự và chính trị của chúng.

        2. Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân ngụy tới mức nó không còn là một lực lượng mà Mỹ có thể dựa vào đó để tiếp tục chiến tranh. Và, khi Mỹ buộc phải chuyển sang giải pháp chính trị, thì thế và lực của ngụy quân ngụy quyền sẽ không đủ sức để duy trì và giữ vững chế độ của chúng.

        3. Trên cơ sở đó, đè bẹp ý chí xâm lược của Mỹ, thực hiện mục tiêu về độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới thống nhất nước nhà.

        Như lịch sử đã chứng minh, tinh thần của Nghị quyết 12 đã có tác dụng chỉ đạo kịp thời, từng bước làm thất bại các biện pháp chiến lược chiến tranh cục bộ Mỹ. Lúc này, trên chiến trường, về phía Mỹ, đến cuối năm 1965, hơn 20 vạn quân Mỹ và chư hầu (trong đó có 184.134 tên Mỹ) đã triển khai xong ở các địa bàn chiến lược. Đầu năm 1966, chúng lại đưa thêm hai trung đoàn, lữ đoàn, một sở chỉ huy sư đoàn cùng Tập đoàn không quân số 7 vào miền Nam1 . Như vậy là toàn bộ quân Mỹ, ngụy và chư hầu đã hợp thành đội quân 72 vạn tên. Với lực lượng đông đảo ấy, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ quyết định mở cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, mùa khô 1965-1966, nhằm "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng, giành lại quyền chủ động trên chiến trường, giải tỏa áp lực quanh các đô thị và khai thông những tuyến đường giao thông chiến lược, "bình định" các vùng nông thôn quan trọng, ổn định và tăng cường hiệu lực của chính quyền, quân đội Sài Gòn.

        Thực hiện mục tiêu trên, Bộ chỉ huy quân sự của tướng Oét mo-len quyết định dùng toàn bộ "vốn liếng” quân sự nói trên để tập trung đánh vào năm hướng ở hai chiến trường trọng điểm là Đông Nanh Bộ và Khu 5 (bao gồm Tây Bắc Sài Gòn, Đông Sài Gòn, Nam tỉnh Phú Yên, Bắc tỉnh Bình Định và Nam Quảng Ngãi). Như vậy, cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 của Mỹ ở miền Nam đã diễn ra trên một quy mô rộng lớn, bằng một lực lượng đông nhằm các mục tiêu đầy tham vọng. Đồng thời, trên miền Bắc Việt Nam, không quân, hải quân Mỹ đã leo thang đánh phá ác liệt. Tháng 2 năm 1966, địch tập trung oanh tạc các tuyến đường từ Thanh Hóa trở vào. Từ tháng 3 năm 1966, không quân chiến thuật Mỹ đánh vào một loạt mục tiêu giao thông và các khu công nghiệp Hòn Gai, Cẩm Phả, Việt Trì. Thậm chí Mỹ còn cho máy bay B.52 ném bom xuống khu vực đèo Mụ Giạ ở Tây Quảng Bình...

        Với một binh lực hùng hậu, sử dụng các thành tựu khoa học quân sự tiên tiến, giới lãnh đạo Oa-sinh-tơn và Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn tin chắc bang sẽ nhanh chóng đè bẹp được đối phương! Thế nhưng, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng và phát triển trong những năm đánh thắng chiến lược "chiến tranh đặc biệt” kết hợp chặt chẽ các hình thức tác chiến của bộ đội chủ lực, bộ đội dịa phương và dân quân du kích..., với một tầm nhìn xa và ý thức chủ động đón địch để đánh, lực lượng vũ trang ta đã liên tục chặn đánh, kìm chân, phản công và tiến công để bẻ gãy nhiều cuộc hành quân "tìm diệt" của quân Mỹ và chư hầu. Ở vòng ngoài là như vậy. Còn ở vòng trong, các đơn vị đặc công, biệt động, các đội pháo cối chuyên trách, lực lượng du kích “Vành đai diệt Mỹ” đã tổ chức các trận tập kích, phục kích, đánh sâu, đánh hiểm vào hậu cứ, hậu phương, căn cứ xuất phát hành quân của địch. Ngay cả ở các khu vực mà địch tập trung đánh phá ác liệt hơn như Sài Gòn - Gia Định, lực lượng vũ trang ta vẫn bám trụ kiên cường. Nhân lúc quân địch bị gìm chân, phân tán trên nhiều hướng, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng đã chủ động mở các cuộc tiến công đánh thiệt hại nặng sư đoàn 1, sư đoàn 25 bộ binh và lữ dù 173 của Mỹ ở Củ Chi, Bến Cát, Nhà Đỏ - Bông Trang, Võ Xu, Bình Tuy, dốc Bà Nghĩa, tỉnh lộ 16, núi Lá... Chủ lực Quân khu 5 đánh địch ở Tây Sơn Tịnh (Bắc Quảng Ngãi), đánh thiệt hại nặng lính thủy đánh bộ Mỹ ở Đông Giáp...

--------------------
        1. Theo báo cáo về cuộc chiến tranh Việt Nam của Gr.Sap và Oét-mo-len - Bộ quốc phòng Mỹ xuất bản năm 1969, tính đến 1.1966, các đơn vị Mỹ có mặt ở miến Nam Việt Nam gồm: Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 1, sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3, sư đoàn ky binh bay số 1, sư đoàn bộ binh số 1, lữ đoàn 1 sư đoàn 101, lữ đoàn 2 au đoàn 25, lữ đoàn dù 173.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #12 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2017, 09:29:33 AM »


        Như vậy là gọng kìm “tìm diệt" mà Mỹ thực thi đã bị bẻ gãy. Còn mục tiêu "bình định" nông thôn do quân ngụy đảm nhiệm trong đợt phản công lần thứ nhất này, xem ra cũng không sáng sủa gì: kết hợp chặt chẽ phương châm đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đánh địch bằng "ba mũi giáp công" quân sự, chính trị, binh vận, quân và dân ta đã thu được nhiều kết quả. Cụ thể là đã phá vỡ Kế hoạch bình định 900 ấp, củng cố 19.000 ấp trong năm 1966 do tổng thống Mỹ Giôn-xơn và Nguyễn Văn Thiệu nhất tri tại Hô-nô-lu-lu vạch ra từ ngày 20 tháng 4 năm 1965. Ở Khu 5, Trị - Thiên, Tây Nguyên, hơn 2 triệu đồng bào giành được quyền làm chủ. Vùng giải phóng ở Bình Định Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Đà, Gia Lai, Công Tum, Đắc Lắc, Quảng Trị, Thừa Thiên được giữ vững. Căn cứ du kích và hệ thống làng xã chiến đấu ngày càng được mở rộng ở nhiều vùng nông thôn, rừng núi...

        Như vậy là đến giữa năm 1966, không "tìm diệt" được các đơn vị chủ lực Quân giải phóng, không đạt được chỉ tiêu “bình định" các vùng trọng điểm nông thôn miền Nam, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) buộc phải kết thúc cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất sớm hơn dự định1. Trong khi đó, mục tiêu ổn định chính quyền và quân đội Sài Gòn, khai thông các tuyến giao thông chiến lược, giải tỏa áp lực quanh các thành phố, các căn cứ quân sự Mỹ cũng không được thực hiện. Nhiều đô thị lớn của địch như Sài Gòn - Gia Định, Đà Nẵng,... nhiều tuyến giao thông như quốc lộ 1, đường 15 từ Vũng Tàu đi Biên Hòa... vẫn bị ta gây áp lực. Đặc biệt là từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1966, nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn bị chia rẽ sâu sắc - nhân việc Hội đồng quân sự do Thiệu - Kỳ cầm đầu cách chức Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh quân đoàn 1. Chỉ 24 giờ sau khi Thi bị cách thức, sĩ quan và binh lính ủng hộ Thi tại Huế, Đà Nẵng tuyên bố ly khai chính quyền Sài Gòn. Sinh viên, học sinh, tăng ni phật tử... ở các thành phố miền Trung xuống đường biểu tình với khẩu hiệu chống Mỹ - Thiệu... Giữa tháng 6 năm 1966, Thiệu - Kỳ mới lập lại quyền kiểm soát ở Huế, Đà Nẵng. Dù vậy, qua sự kiện này, uy thế, hiệu lực của chính quyền và quân đội Sài Gòn đã bị tổn thương, suy sút nghiêm trọng.

        Đầu tháng 5 năm 1966, trong báo cáo gửi lên tổng thống Mỹ Giôn-xơn, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn C. Lốt-giơ cho rằng: Tình hình chung ở miền Nam là ảm đạm. Theo ông, cố gắng quân sự của Mỹ những tháng đầu năm đã "không làm hao tổn được Việt cộng, không tiêu diệt được đơn vị chính quy nào của Việt cộng, không ngăn chặn được du kích phát triển"2. Tháng 6 năm 1966, phát hiện ta mở Mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) vội điều sư đoàn 1 và sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ Mỹ cùng chiến đoàn tổng trù bị ngụy ra ứng phó trên hướng chiến lược này. Lực lượng dịch, do vậy, càng bị căng kéo, dàn mỏng trên chiến trường, thế bố trí chiến lược của địch ngày càng trở nên mất phương hướng. Chính vì thế mà đến giữa năm 1966, tình hình đã trở nên rõ ràng là sức mạnh quân sự Mỹ không thể nhanh chóng kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam"3.

----------------------
        1. Theo sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), T1, Nxb Sự thật, H, 1990, kết quả mùa khô 1965-1966, quân và dân miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 68.000 tên địch, trong đó có 3,5 vạn tên Mỹ, tiêu diệt và đánh thiệt hại 9 tiểu đoàn Mỹ, 7 tiểu đoàn ngày, bắn rời, phá hủy 940 máy bay, bắn cháy, phá hỏng 6.000 xe quân sự. Theo thống kê của Trung tâm hành quán Bộ tổng tham mưu quần đội Sài Gòn, từ tháng 10 năm 1965 đến tháng 6 năm 1966, chúng bị thiệt hại 51.000 quân, mất 9.400 vũ khí, 300 máy bay, bị bắn chìm, bắn cháy 38 tàu thuyền.

        2. Dẫn theo: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.131, 132.

        3. Tóm tắt Tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #13 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2017, 07:32:12 PM »


        Ở miền Bắc thì, mặc dù đã sử dụng một khối lượng lớn bom đạn, áp dụng nhiều thủ đoạn đánh phá, và mặc dù đã phịu tổn thất nhiều máy bay và người lái1 nhưng chiến dịch "Sấm rền" của không quân Mỹ đã không đạt được kết quả như dự tính ban đầu. Trong một báo cáo gửi lên Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra, cơ quan tình báo Bộ quốc phòng Mỹ nhận định: "Ý kiến cho rằng phá hủy hoặc dọa phá hủy nền công nghiệp Bắc Việt Nam thì sẽ buộc Hà Nội phải quỳ gối; nhìn lại, thì thấy đó là một nhận định sai lầm"2. Ngay cả mục tiêu ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam cũng vậy, bởi vì: “Hệ thống vận tải Bắc Việt Nam rất thô sơ và xem ra rất dễ bị đánh tan nhưng lại rất cơ động và có khả năng phục vụ vượt xa mức yêu cầư”3. Vả chăng, theo cơ quan này, “Chi viện cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam không phải là một điều căng thẳng rất lớn đối với nền kinh tế Bắc Việt Nam. Các lực lượng Bắc Việt Nam và Việt cộng ở Nam Việt Nam không phải là một đạo quân lớn. Họ không đánh nhau như các sư đoàn chính quy hoặc những đạo quân lớn ra trận với xe tăng, máy bay, súng đại bác dã chiến; họ không cần tiếp tế bằng những đoàn xe vận tải, tàu hỏa hoặc tàu thủy. Họ đánh rồi rút bộ, tự túc ở địa phương và thường tình không giao chiến khi nguồn tiếp tế bị giảm sút”4.

        Mùa hè 1966, Hội nghị chuyên đề bí mật bao gồm một tập thể các nhà khoa học có danh tiếng của Mỹ họp dưới sự đỡ đầu của chính phủ Mỹ để nghiên cứu toàn bộ kết quả cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam đã đi đến kết luận rằng: "Tính đến tháng 7 năm 1966, các hoạt động ném bom của Mỹ ở Bắc Việt Nam đã không có ảnh hưởng trực tiếp đáng kể nào đến khả năng của Hà Nội trong việc tiến hành và hỗ trợ các hoạt động quân sự ở Nam Việt Nam”5. Tình hình đó khiến cho Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra "phải suy nghĩ lại vai trò của toàn bộ chiến dịch oanh tạc trong cố gắng của Mỹ. Ông rất đau khổ biết rõ tình trạng bất lực của các lực lượng không quân trong việc ngăn chặn các hoạt động thâm nhập vào Nam và không thấy biểu hiện gì chứng tỏ oanh tạc có khả năng bẻ gãy ý chí của Hà Nội, làm cho dân chúng mất tinh thần hoặc ép Bắc Việt Nam phải tới bàn hội nghị"6.

------------------------
       1. Đến hết tháng 4 năm 1966, số máy bay Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời miền Bắc là 1.005. Con số này đạt tới 1.620 chiếc vào tháng 12 năm 1966.

        2. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.140, 141.

        3. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.140, 141.

        4. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.141.

        5. Tài Liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ cho biết tham dự hội nghị này là "các nhà khoa học xuất sắc nhất của Mỹ, những người đã giúp chính phủ sản xuất nhiều hệ thống vũ khí hiện đại nhất - kể từ khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc".

        6. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.149.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #14 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2017, 07:39:01 PM »


        Những cố gắng chiến tranh của Mỹ trong mùa khô 1965-1966 không đạt được mục tiêu dự định là một bất ngờ lớn, một thất bại có ý nghĩa chiến lược của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Thất bại đó khiến cho nhiều quan chức cấp cao trong chính quyền Giôn-xơn từ hoài nghi đi tới chỗ nhận rõ: Sức mạnh quân sự Mỹ không thể nhanh chóng kết thúc chiến tranh, giành phần thắng cho Mỹ như dự tinh ban đầu. Tình hình đó buộc chính phủ Mỹ từ tháng 4 năm 1966 trở đi phải "triệu tập nhiều cuộc họp để xem xét khả năng lựa chọn ở Việt Nam"1 như tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ xác định. Cuộc tranh luận diễn ra trong nơi bộ chính quyền từ mùa hè năm 1966 chủ yếu xoay quanh chiến lược quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ với Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam Oét-mo-len liên tục gây sức ép đòi Giôn-xơn chấp thuận các đề nghị của họ nhằm đẩy mạnh hơn nữa cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam - bằng cách tăng quân vào miền Nam, đánh phá với cường độ cao toàn bộ mục tiêu ở miền Bắc, phong tỏa các cảng biển, cửa sông miền Bắc, và chuẩn bị phương án dùng bộ binh đánh ra Nam Quân khu 4... Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Gioóc-dơ Bon, trợ lý Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mác-nâu-tơn, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mắc-na-ma-ra không đồng ý quan điểm này bị phái quân sự phản dối gay gắt. Cuộc tranh luận đó đã biểu lộ sự rạn nứt của khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ chính quyền Giôn-xơn - điều mà trước đó gần một năm chưa xuất hiện bởi tất cả các thành viên trong chính phủ Mỹ lúc bấy giờ đều tin tưởng sâu sắc rằng sức mạnh quân sự Mỹ sẽ nhanh chóng đè bẹp đối phương.

        Dù sự rạn nứt đó chưa đến mức gay gắt nhưng "từ nay trở đi, nhận định của giới quân sự Mỹ về việc nên tiến hành chiến tranh ra sao và phải cần những gì" cho cuộc chiến này "đã thành vấn đề”2.

        Sau mùa khô 1965-1966, cả ta và địch đều đã tranh thủ mùa mưa để chuẩn bị bước vào cuộn đọ sức quyết liệt mới: mùa khô 1966-1967.

        Phát huy thắng lợi vừa giành được, quân và dân miền Nam tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động tiến công quân sự và chống phá bình định, củng cố và bổ sưng thêm lực lượng, vũ khí, phương tiện chiến tranh, thành lập thêm một số đơn vị, bố trí lại thế trận trên một số địa bàn... Để căng kéo lực lượng cơ động chiến lược của dịch, hút chúng ra những khu vực mà ta có điều kiện tiêu diệt, Bộ Chính trị Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên (tháng 4 năm 1966), mở Mặt trận đường 9 - Bắc Quảng Trị (tháng 6 năm 1966). Mặt trận mới mở này bao gồm ba huyện Do Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa; phía bắc giáp Vĩnh Linh, Quảng Bình, phía tây giáp Trung, Hạ Lào, phía đông giáp biển Đông và phía nam giáp Hải Lăng, sông Ba Lòng, thị xã Quảng Trị. Đối với ta, đường 9 - Bắc Quảng Trị là cửa ngõ tiến vào giải phóng miền Nam; còn với địch - là tuyến đầu ngăn chặn chủ lực miền Bắc. Tại mặt trận này, ta bố trí hai sư đoàn bộ binh (324 và 325C) uy hiếp tuyến ngăn chặn địa bàn phía bắc của dịch, buộc Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) phải tăng quân ra Trị - Thiên; nâng tổng số quân Mỹ, ngụy có mặt tại đây lên xấp xỉ 42.000 tên (có 16.750 tên Mỹ). Nhân lúc một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động của địch bị hút ra Trị - Thiên, chủ lực và bộ đội địa phương ta mở chiến dịch Bình Long (Nam Bộ), Bắc Phú Yên (Khu 5) Bắc Công Tum, Tây Gia Lai (Tây Nguyên)... khiến địch phải điều lực lượng chống đỡ.

        Trên miền Bắc, đáp ứng yêu cẩu tăng cường sức mạnh quốc phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố lệnh Động viên cục bộ (tháng 7 năm 1966). Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Người ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước nêu cao quyết tâm kháng chiến chống Mỹ xâm lược - trong đó Người xác định: cho dù "chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"3.

-----------------------
       1. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ. Tlđd, T2, tr.154.

        2. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.182, 183.

        3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Ti2, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.31-32.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #15 vào lúc: 02 Tháng Ba, 2017, 07:43:01 PM »


        Về phía địch, tháng 10 năm 1966, Giôn-xơn triệu tập hội nghị khối quân sự Đông Nam Á, gọi tắt là S.E.A.T.O2 (Được Mỹ thành lập vào tháng 9 năm 1954, bao gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ốt-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Pa-kit-xtan, Phi-líp-pin, Thái Lan. Trong Hiệp ước của khối này, Đông Dương được xem là "Khu vực bảo hộ” của khối) ở Ma-ni-la nhằm động viên các nước đồng minh châu Á tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào chiến tranh Việt Nam. Tháng 11 năm 1966, Bộ quốc phòng Mỹ quyết định tăng thêm quân vào miền Nam; đạt tới mức 469.000 quân vào giữa năm 1968. Không quân Mỹ được lệnh tăng cường đánh phá vào một loạt các mục tiêu kinh tế, quân sự trên miền Bắc.

        Mùa khô 1966-1967, Mỹ tung vào cuộc phản công chiến lược lần thứ hai một lực lượng lớn bao gồm 20 sư đoàn và 10 lữ đoàn chủ lực (có 7 sư đoàn và 4 lữ đoàn Mỹ), 4.000 chiếc máy bay, 2.500 xe tăng, xe bọc thép, 2.500 khẩu pháo, 500 tàu thuyền chiến đấu cùng hàng chục vạn tán bom đạn, chất độc hóa học. Nếu tính cả số quân Mỹ trên Hạm đội 7, ở các căn cứ quân sự Mỹ tại Thái Lan, Nhật Bản, Phi-líp-pin, Gu-am tham gia chiến tranh Việt Nam, thì tổng cộng số quân tham chiến trong cuộc phản công lần này vượt xa số quân tham gia cuộc phản công lần thứ nhất; gần 1 triệu 20 vạn tên Mỹ, ngụy, chư hầu1. Ngoài ra, Mỹ, ngụy còn tung vào cuộc phản công hàng vạn tề điệp ác ôn, hàng trăm đội "cán bộ bình định".

        Để chi phí cho một lực lượng tham chiến lớn như vậy, Giôn-xơn đã buộc phải tăng ngân sách quân sự tài khóa 1966-1967 lên tới mức cao. Ngân sách đó dự toán lúc dầu 48 tỉ đô la, sau tăng lên 68 tỉ dô la, trong đó 40%, tức xấp xỉ 28 tỉ đô la là dành cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

        Rút kinh nghiệm từ cuộc phản công lần trước, lần này, mặc dù lực lượng quân sự đã tăng thêm nhưng Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (M.A.C.V) đã chủ trương chỉ tập trung quân đánh trên một hướng (miền Đông Nam Bộ) nhằm "tìm diệt" chủ lực Quân giải phóng và cơ quan đầu não của Cách mạng miền Nam. Bên cạnh gọng kìm “tìm diệt", Bộ chỉ huy quân sự Mỹ nhấn mạnh hơn trong việc tăng cường chương trình "bình định" so với đợt một, xem đó là gọng kìm quan trọng thứ hai trong mùa phản công chiến lược này. Toàn bộ chủ lực quân đội Sài Gòn được sử dụng vào nhiệm vụ “bình định” nhằm kiểm soát khu vực đồng bằng quan trọng, nới rộng vành đai an ninh quanh các đô thị lớn, từ đó tiến tới cô lập và tiêu diệt cơ sở cách mạng ở nông thôn đồng bằng và vùng ven đô thị. Trên các hướng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Trị - Thiên, địch chủ trương kiềm chế hoạt động của ta, chú trọng phòng thủ khu vực Đường 9 - Quảng Trị. Hỗ trợ cho cuộc phản công chiến lược lần thứ hai này, Mỹ đẩy mạnh cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, gấp rút triển khai các hoạt động ngoại giao thăm dò thái độ của Hà Nội và để đối phó vời dư luận trong nước cũng như trên thế giới.

        Với nỗ lực quân sự lớn và bằng những thủ đoạn quân sự chính trị, ngoại giao kết hợp trên đây, giới cầm quyền Oa-sinh-tơn hy vọng cuộc phản công chiến lược lần này sẽ giành thắng lợi, làm chuyển biến cục diện chiến trường vào giữa hoặc cuối năm 1967 có lợi cho Mỹ để bước vào năm 1968 - năm bầu cử tổng thống Mỹ.

        Thực hiện ý đồ đó, về mặt quân sự, từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 6 năm 1967, theo số liệu của địch1 (Dẫn theo: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.147), Mỹ, ngụy, chư hầu đã mở 2.732 cuộc hành quân "tìm diệt" và càn quét từ cấp tiểu đoàn đến cấp quân đoàn, trong đó có 426 cuộc hành quân của quân Mỹ và chư hầu; chủ yếu làm nhiệm vụ “tìm diệt" chủ lực và cơ quan chỉ đạo cách mạng miền Nam. Nhằm mục tiêu đó, toàn bộ nỗ lực quân sự của lực lượng chiến đấu Mỹ hiện có trên chiến trường miền Nam chủ yếu dồn vào việc đánh phá các căn cứ của ta ở phía Bắc và Đông Sài Gòn. Trên hướng này, Bộ chỉ huy quán sự Mỹ tập trung 7 sư đoàn, 5 lữ đoàn quán Mỹ, ngụy, chư hầu, trong đó có những đơn vị thiện chiến của quân đội Mỹ như sư đoàn bộ binh số 1, sư đoàn bộ binh số 25; lữ đoàn dù 178, 199... Trong vòng 6 tháng (từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 4 năm 1967), trên hướng này, địch liên tiếp mở 3 cuộc hành quân quy mô lớn nối tiếp nhau, dành vào cụm căn cứ của ta ở phía Bắc Sài Gòn.

        Ngày 14 tháng 9 năm 1966, địch mở cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ (Atteleboro) với 30.000 quân Mỹ, ngụy nhằm đánh đòn bất ngờ vào khu căn cứ Dương Minh Châu, tiêu diệt chủ lực, phá căn cứ, kho tàng của ta2.

---------------------------
        1. Trong khi đó, địch ước đoán lực lượng vũ trang ta ở miền Nam có 7 sư đoàn, 33 trung đoàn, 147 tiểu đoàn, tổng cộng 280.000 quần. Dẫn theo: Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, Sđd, tr.134.

        2. Lực lượng quân Mỹ tham gia cuộc hành quân gồm lữ đoàn bộ binh nhẹ 196, 5 lữ đoàn bộ binh thuộc các sư đoàn 1, 4, 25, lữ đoàn dù 173 và trung đoàn thiết giáp 11.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #16 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2017, 02:26:03 PM »


        Phán đoán được ý đồ của địch, Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền quyết định sử dụng Sư đoàn 9, các đơn vị pháo cối đặc công, bộ đội địa phương, dân quân du kích Dầu Tiếng, Tây Ninh và tự vệ cơ quan chủ động mở chiến dịch Tây Ninh nhằm đánh bại cuộc hành quân quy mô lớn của địch. Lực lượng ta được bố trí sẵn trên những khu vực dự kiến địch sẽ tiến công, hình thành thế trận liên hoàn hỗ trợ cho nhau giữa phía trước, phía sau, giữa các thứ quân: chủ lực, dịa phương, dân quân du kích và tự vệ cơ quan... Dựa trên thế trận đó, lực lượng vùng căn cứ liên tục chặn dành và tiến công vào đội hình hành quân của các đơn vị Mỹ, bẻ gấy nhiều mũi tiến quân và gây cho không nhiều thiệt hại về sinh lực, phương tiện chiến tranh. Sau 72 ngày đêrn đối phó với lực lượng vùng căn cứ trong một thế trận bất lợi cho Mỹ, ngày 24 tháng 11, Oét-mo-len phải chấm dứt cuộc hành quân, rút toàn bộ lực lượng còn lại ra khỏi khu vực căn cứ Dương Minh Châu trong khi các mục tiêu đề ra cho cuộc hành quân không thực hiện được.

        Sau cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ, Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ dồn sức củng cố lực lượng, ổn định tinh thần sĩ quan và binh lính Mỹ, mở tiếp cuộc hành quân Xi-đa-phôn - (Cedarfall) - cuộc hành quân lớn cấp quân đoàn thứ hai đánh vào Bến Súc - Củ Chi - Bến Cát - khu vực bàn đạp của ta uy hiếp Sài Gòn từ phía Bắc. Địch sử dụng vào cuộc hành quân này các sư đoàn bộ binh số 1, số 25, lữ đoàn dù 178 và trung đoàn thiết giáp số 11 Mỹ, cùng một số chiến đoàn ngụy và hàng trăm xe tăng, trọng pháo, hàng ngàn lượt chiếc máy bay ném bom, máy bay trực thăng vũ trang. Với quy mô như thế, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tin chắc sẽ “tìm diệt" được các đơn vị chủ lực của ta, phá căn cứ du kích, chia cắt vùng giải phóng hai tỉnh Gia Định, Thủ Dầu Một, mở rộng khu vực vành đai phòng thủ phía Bắc Sài Gòn.

        Thế nhưng, dựa vào hệ thống công sự, địa đạo được cấu trúc vững chắc, quân và dân Củ Chi, Bến Cát, Trảng Bàng đã bám trụ kiên cường, liên tục tổ chức các trận tập kích vào đội hình trú đóng ban đêm của quân Mỹ, ngụy. Nhân lúc địch dang lo đối phó với lực lượng vũ trang tại chỗ của ta thì chủ lực Quân giải phóng miền Nam phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ của Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở các cuộc phục kích, táp kích vào bên sườn, sau lưng các đơn vị quân Mỹ, gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh mạng và phương tiện chiến tranh.

        Sau gần một tháng đánh phá, chịu tổn thất hàng nghìn lính chiến đấu nhưng không tiêu diệt được lực lượng vũ trang ẩn sâu dưới hệ thống công sự, địa đạo của ta, ngày 26 tháng 1 năm 1967, địch buộc phải chấm dứt cuộc hành quân, dồn 15.000 dân về thị xã Bình Dương. Trong khi đó, Thành ủy, sở chỉ huy Bộ tư lệnh Sài Gòn - Gia Định cùng Trung đoàn 16 chủ lực Miền vẫn tiếp tục trụ bám ở vùng “đất thép" Củ Chi ngay sát Sài Gòn - Gia Định. Đó là một thất bại nữa của địch trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai này. Nhưng không phải vì thế mà Bộ chỉ huy quân sự Mỹ đã chịu từ bỏ mục tiêu dùng lực lượng quân sự mạnh đánh vào cán cứ của ta nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và chủ lực của Quân giải phóng miền Nam hòng thay đổi cục diện chiến trường, tạo ra bước ngoặt chiến tranh có lợi cho Mỹ trong năm 1967. Nhưng mục tiêu này, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ huy động 45.000 quân, 1.200 xe tăng, xe bọc thép, hơn 250 khẩu trọng pháo, 17 phi đoàn máy bay mở cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ti (Junction City) - một cuộc hành quân lớn nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam - đánh vào căn cứ Dương Minh Châu.

        Căn cứ Dương Minh Châu, trong bản đồ quân sự Mỹ, được gọi là chiến khu C. Đây là khu vực giữa vùng rừng núi rộng lớn, thưa dân thuộc tỉnh Tây Ninh. Hình thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tiếp tục được củng cố trong kháng chiến chống Mỹ, căn cứ này là nơi tập trung cán bộ, nhân viên các cơ quan, nhà trường, xưởng máy, bệnh viện, kho tàng, đài phát thanh... thuộc Trung ương Cục, Mặt trần Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ chỉ huy Miền. Hệ thống cơ quan, kho tàng, bệnh viện, trường học... được bố trí dọc theo triền suối cạn, ẩn dưới tán rừng, trong các công sự nửa chìm nửa nổi, nối liền với nhau bằng mạng giao thông hào liên hoàn, chằng chịt. Ngay từ giữa năm 1966, trên cơ sở phán đoán ý đồ của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, Bộ chỉ huy Miền đã triển khai kế hoạch củng cố và tổ chức phòng thủ căn cứ theo phương châm trụ bám đánh địch tại chỗ. Tiếp đó, sau cuộc hành quân Xi-đa-phôn, Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Miền khẩn trương tổ chức lực lượng nhân viên các cơ quan quân - dân - chính - Đảng thành những đơn vị du kích tự vệ, bộ đội địa phương. Lực lượng này có nhiệm vụ trụ bám địa bàn, đánh địch tại chỗ, tạo điều kiện cho chủ lực thực hiện các đòn đánh tiêu diệt quân Mỹ. Vùng căn cứ được chia thành 13 "huyện", mỗi "huyện" chia thành từng "ấp", từng “xã” chiến đấu có hệ thống công sự, trận địa, hầm hào vững chắc và liên hoàn hỗ trợ cho nhau.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #17 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2017, 02:26:36 PM »


        Dựa trên thế trận chiến tranh nhân dân được tạo ra ở địa bàn hầu như không có dân, lực lượng tại chỗ đã trụ bám trận địa vật lộn với địch, tiến công rộng khắp bằng nhiều hình thức. Nhờ đó, các đơn vị chủ lực Miền "dĩ dật đãi lao", đón đánh vào chỗ sơ hở của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Trước tình hình đó, ngày 15 tháng 5 năm 1967; Oét-mo-len buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc hành quân lớn nhất này.

        Thế là sau hơn 50 ngày đêm dồn sức đánh vào vùng căn cứ rộng chừng 1.500km2, chịu tổn thất 14.000 quân, gần 1.000 xe quân sự các loại, 160 máy bay nhưng bộ chỉ huy quân sự Mỹ lại một lần nữa không đạt được mục tiêu mong muốn! Thất bại có ý nghĩa chiến lược này đã làm tiêu tan niềm hy vọng vào các cuộc hành quân "tìm và diệt" ở cấp quân đoàn của Mỹ - các cuộc hành quân mà Nhà Trắng hy vọng có thể trở thành giải pháp để giải quyết vướng mắc về chiến tranh diện địa, qua đó mà giành thắng lợi về quân sự ở Việt Nam. Ở các chiến trường khác như đồng bằng sông Cửu Long, Khu 5, Tây Nguyên và Trị - Thiên, những cố gắng quân sự của Mỹ không hề có một chút thắng lợi nào đáng kể. Đó là tất cả những lý do vì sao Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc phản công chiến lược lần thứ hai - mùa khô 1966-1967, lui quân về chiếm đóng trên các địa bàn chiến lược, tập trung ở hai cực Sài Gòn - Gia Định và Trị - Thiên.

        Cần phải nói thêm ở đây rằng: Trong hai cuộc phản công của Mỹ mà chúng tôi trình bày trên đây, mặc dù Mỹ đều thất bại, mặc dù cả hai cuộc phản công này phía Mỹ đều chủ trương thực hiện hai gọng kìm “tìm diệt” và “bình định"; nhưng, ý nghĩa và mức độ của hai gọng kìm này ở mỗi cuộc phản công có khác nhau - và chính điều khác biệt này, ngẫm cho kỹ, đã thể hiện sự chủ quan, sai lầm về chiến lược của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ.

        Nếu như ở cuộc phản công lần thứ nhất, Mỹ đặt mũi "tìm diệt” là chủ yếu, còn “bình định” chỉ là mũi thứ yếu - mà ở đó, quân ngụy được phân công đảm nhiệm với tư cách là kẻ thuộc hạ giữ nhà - thì, sang đến cuộc phản công lần thứ hai, do quan điểm quân sự máy móc của Mỹ lấy việc “đếm xác Việt cộng và quân Bắc Việt Nam” làm thước đo thắng lợi(!) Mỹ tin chắc rằng đã “tìm diệt" được một bộ phận quan trọng chủ lực Quân giải phóng, làm mất chỗ đứng chân của họ ở đồng bằng, nên đã chủ quan nâng gọng kìm "bình định" lên thành một gọng kìm ngang tầm, song song với gọng kìm “tìm diệt".

        Theo kế hoạch, Mỹ và Sài Gòn dự định năm 1967 sẽ nỗ lực "bình định" 3.500 ấp trên toàn miền, tập trung vào các vùng "ưu tiên quốc gia"1 (Đó là các địa phương xung quanh Sài Gòn - Gia Định, các tỉnh Long Khánh, Phước Tuy, Bình Dương, Long An, Tây Ninh, Bình Long, Vĩnh Long, Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Kiến Phong, Trị - Thiên, Bình Định, Tuy Hòa, Lầm Đồng, Plây Cu, Công Tum). Mục tiêu chủ yếu của chương trình "bình định" là nhôm triệt phá phần lớn cơ sở cách mạng trong nông thôn miền Nam để tách lực lượng vũ trang khỏi sự đùm bọc, che chở của nhân dân. Đó là biện pháp mà R.Cô-mơ (Robet Komer) - đặc phái viên “bình định" của Giôn-xơn, quan niệm như “nhát dao đâm vào tim Việt cộng". Để đạt mục tiêu trên, ngoài việc đào tạo gấp rút "cán bộ bình định”2 (Chương trình huấn luyện "Cán bộ bình định" (hoặc còn gọi là “cán bộ phát triển cách mạng") do Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) đảm nhiệm về kinh phí và huấn luyện. Chương trình này đã đào tạo, huấn luyện được gần 20.000 tên trong năm 1966, 60.000 tên trong năm 1967 và 60.000 tên trong nam 1968. Sau khi ra trường, toàn bộ số này được chia thành các đoàn, mỗi đoàn 59 tên; được tung về các vùng nông thôn làm cắc công việc như phòng thủ, trị an (30 tên), giáo dục, y tế, văn hóa... (29 tên). Tuy nhiên, chương trình này vấp phải một loạt khó khăn. Một trong những khó khăn đó là việc tuyển mộ những người xuất thân nông dân đã không đạt được con số như ý muốn của những người phụ trách chương trình. Theo Mai-cơn Mác-li-a, tác giả cuốn Việt Nam - cuộc chiến tranh mười nghìn ngày thì, sở dĩ có tình trạng này là bởi “Việt cộng đã thu hút họ - những thanh niên nông thôn, vào tổ chức", chỉ còn một lũ thanh niên thành thị khoác áo bà ba đen gửi đến bảo vệ xóm ấp để chống Việt cộng" (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 9.1988)) tung xuống nông thôn, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn sử dụng hầu hết toàn bộ quân đội Sài Gòn kết hợp với lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát mở hàng ngàn cuộc hành quân càn quét, liên tục đánh phá, chà đi xát lại nhiều vùng nông thôn. Không quân và các trận địa pháo của Mỹ đã dội xuống vùng giải phóng, vùng tranh chấp một khối lượng bom đạn khổng lồ và chất độc khai quang để tàn sát dân thường, hủy hoại mùa màng, nhà cửa.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #18 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2017, 02:31:27 PM »



        Chúng còn dùng những biện pháp bạo lực nhằm cưỡng bách người nông dân phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, vào sống trong các "ấp đời mới", "ấp tân sinh" thà thực chất cũng là biến tướng của mô hình "ấp chiến lược”, thời Ngô Đình Diệm. Bên cạnh các biện pháp quân sự từ năm 1967, Mỹ, ngụy còn triển khai các chương trình kinh tế, chính trị, văn hóa... để hỗ trợ và thúc đẩy công cuộc “bình định" tiến triển…1. "Cô-mơ có trong tay 1,7 tỉ đô la viện trợ kinh tế có thể sử dụng được... ông ta đã có hàng ngàn tấn lúa giống thần nông đủ loại, hàng ngàn tấn đỗ tương, phán bón, hàng ngàn thùng dầu ăn, hàng tấn thuốc chữa bệnh, với những bãi đất khổng lồ lát đầy xi măng và tôn, nhiều kho đồ sộ chứa đủ loại từ bàn chải răng đến máy khoan, máy khâu, máy hàn kiểu mới nhất... Tất cả đã sẵn sàng để lôi kéo 18 triệu quả tim và khối óc của nạn dân miền Nam"2.).

        Những biện pháp trên đây của Mỹ, ngụy đã làm cho cuộc đấu tranh chống phá "bình định" của quân và dân miền Nam gặp nhiều khó khăn. Trong cuộc đấu tranh đầy gian khổ và phức tạp đó, đã có một bộ phận nông dân, thậm chí cá một bộ phận cán bộ, đảng viên không phịu nổi thiếu thốn hy sinh... đã bỏ vào vùng địch, ra đầu thú, đầu hàng (Theo hồi ký của Giôn-xơn, “số Việt cộng về chiêu hồi năm 1965 là 16.000, năm 1966 là 22.000, năm 1967 là 27.000. Đầu năm 1967 bắt được tài liệu mật của Việt cộng nói họ mất khoảng 1 triệu dân chỉ trong nửa cuối năm 1966". Theo Giới thiệu hồi ký của Giôn-xơn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ga-bri-en Côn-cô trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh cho biết: bom đạn và đau khổ đã buộc người nông dân miến Nam phải dồn vào đô thị để lánh nạn và tìm kế sinh nhai, đưa số di cư lên đến 3 triệu người vào cuối năm 1967". Nếu con số trên đây là đúng thì "Sự việc này quả là một món nợ chính trị của vần đề bình định". Nhưng còn hơn thế, con số đó đã vô hình chung nói lên rằng: việc chi phí cho vấn đế dân tị nạn đã ngốn hết phần lớn kinh phí của Mỹ và chính phủ Sài Gòn dự chi cho chương trình “bình định"! Quả thật là một mầu thuẫn - hơn nữa là điều bất ngờ ngoài dự toán "khôn ngoan" của Mỹ. Lợi bất cập hại!). Nhưng nhìn chung, quân và dân ta ở các vùng nông thôn đã kiên trì phương châm "3 bám" (bám đất, bám dân, bám đánh địch), đẩy mạnh "8 mũi giáp công" (tiến công địch về quân sự, chính trị, binh vận), chặn đánh quyết liệt các cuộc hành quân càn quét, hành quân "bình định” của Mỹ, ngụy; trừng trị bọn tề điệp nầm vùng, bọn tay sai ác ôn và các đoàn "cán bộ xây dựng nông thôn”; phá rối và vô hiệu hóa chính quyền cơ sở của địch ở nhiều nơi; giữ vững và mở rộng vùng làm chủ, vùng giải phóng; xây dựng thành hệ thống làng xã chiến đấu liên hoàn, thành các “lõm chính trị", khu du kích, thành "Vành đai diệt Mỹ" để bao vây, áp sát các khu căn cứ quân sự Mỹ, các vùng ven đô thị uy hiếp nhiều tuyến giao thông huyết mạch.

-------------------------
        1. Tháng 3 năm 1967, Giôn-xơn triệu tập hội nghị Gu-am, nhằm soát xét toàn bộ chương trình "bình định" được triển khai trong năm 1966 và bàn biện pháp thực hiện trong năm 1967. Tại cuộc họp này, Giôn-xơn chính thức thông báo quyết định cử R.Cô-mơ Bang làm phó đại sứ ở miền Nam Việt Nam, đặc trách công tác "bình định" cho Oét-mo-len, tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền Nam (M.A.C.V).

        2. Theo Mai-cơn Mác-li-a: Cuộc chiến tranh ở nông thôn - Tạp chí Lịch sử quân sự số 9.1988.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22010


« Trả lời #19 vào lúc: 03 Tháng Ba, 2017, 10:29:35 PM »


        Do những cố gắng trên đây, chỉ trong mùa khô 1966-1967, quân và dân miền Nam đã giành thêm 390 xã, áp; nâng số xã, ấp được giải phóng lên 700 xã và 6.750 ấp. Trong khi đó chính quyền Sài Gòn chỉ còn kiểm soát (ở các mức độ khác nhau) 5.400 ấp trong tổng số 16.293 ấp trên toàn miền. Theo đánh giá của phía chính quyền Sài Gòn, chương trình “bình định" năm 1967 chỉ đạt 13% so với kế hoạch ban đầu. Trong báo cáo gửi lên Giôn-xơn đầu năm 1967 sau chuyến đi miền Nam Việt Nam trở vế, Mắc-na-ma-ra nhận định: “Công tác bình định có lẽ đã thụt lùi. So với 2 hoặc 4 năm trước đây, các lực lượng địa phương thoát ly của địch và các lực lượng du kích nửa thoát ly đã lớn mạnh hớn. Các trận đánh, khủng bố và phá hoại đã tăng cả về cường độ lớn quy mô. Nhiều đường xe lửa bị đóng và đường bộ bị cắt đứt. Thóc lúa mà người ta chờ đợi đem bán ở ngoài chợ đã không được nhiều. Hạ tầng cơ sở chính trì của Việt cộng lan ra hầu hết đất nước, tiếp tục tạo cho kẻ địch lợi thế tình báo to lớn. Không ở đâu có an ninh hoàn toàn, ngay cả sau phòng tuyến của lính thủy đánh bộ Mỹ và Sài Gòn. Tại nông thôn, hầu như địch kiểm soát hoàn toàn về ban đêm"1. Thế nhưng, theo sự đánh giá Mai-cơn Mác-li-a, con số 13% trên dây vẫn là con số phóng đại quá mức. Bởi vì ngay tại những vùng mà chính quyền Sài Gòn thông báo đã hoàn toàn kiểm soát thì "tình hình an ninh vẫn bị đe dọa. Bởi lẽ, làm sao phân biệt được Việt cộng với người Việt Nam khác đi trên đường làng, làm sao bảo đảm hạt giống đậu tương và máy khâu cấp phát đến tay dân"2. Vả chăng, ngay tại vùng do Mỹ, ngụy kiểm soát hay tại những vùng tranh chấp, bom đạn và lối sống Mỹ đang hàng ngày, hàng giờ phá vỡ cuộc sống và lối sống vốn đã bình ổn từ nhiều năm của mọi gia đình Việt Nam, gây ra bao đau thương tang tóc, chia lìa cho mọi người dân thì cho dù Mỹ có cố gắng bao nhiêu hoặc dùng thủ đoạn và biện pháp nào di nữa, thì từ trong bản chất và trên những hành động thực tế, Mỹ đã không thể tạo được không khí yên "bình" để mà ổn "định" lòng dân ở một phương trời xa lạ! Nhiều tác giả Mỹ lúc bày giờ và ngay cả sau này cũng đã từng thừa nhận thực tế đó trong cố gắng "bình định" của Mỹ: “Công việc bình định lao đao y như một người bà con họ hàng nghèo vậy" (...)”. Trên thực tế, "Mỹ không thể phá được quân Việt cộng khởi nghĩa,... không thể nào đối phó được tốt với cả một đất nước thù tịch với mình”. Theo Cincinatus: Tự hoại - sự tan rã và suy sụp của quân đội Mỹ trong kỷ nguyên Việt Nam. Trung tâm thông tin - khoa học quân sự Bộ Tổng tham mưu địch).

        Trong những điều kiện đó, phong trào đấu tranh chính trị tại những vùng do Mỹ, ngụy kiểm soát ngày càng phát triển. Năm 1967, tuy không bùng nổ thành cao trào nhưng phong trào đã đi dần vào chiều sâu, gắn chặt với mục tiêu chung của cả dân tộc là chống Mỹ và tập đoàn tay sai Thiệu Kỳ. Mùa khô 1966-1967, hơn một triệu đồng bào các tỉnh dông bằng sông Cửu Long biểu tình chống địch càn quét bắn pháo, rải chất độc phá hoại ruộng vườn, triệt phá mùa màng, bắt lính, aồn dân, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích phát triển. Trong các thành phố lớn Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, những tháng đầu và các tháng 7, 8, 9 - 1967, học sinh, sinh viên, tăng ni, phật tử, công chức, nhà buôn và các tầng lớp xã hội khác đã tổ chức một số cuộc biểu tình, hội thảo với nội dung dòi Mỹ phải rút quân về nước, đòi phải giữ truyền thống văn hóa dân tộc, chống lại sự du nhập lối sống Mỹ; đòi Thiệu - Kỳ phải từ chức, đòi chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hòa bình. Trong các cuộc đấu tranh đó, hơn một trăm nhà sư đã tuyên bố sẽ tự thiêu trên đường phố để phản đối Mỹ, ngụy... Những cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nói trên đã góp phần làm cho tình hình chính trị, xã hội của chế độ Sài Gòn thêm rối ren, hậu phương chiến tranh của Mỹ, ngụy càng thêm mất ổn định. Ngay cả hàng triệu nông dân miền Nam chạy vào các đô thị để tránh sự tàn phá của bom đạn, chất độc hóa học của Mỹ thì cũng không phải là họ "rút lui khỏi chính trị" mà thực chất, như nhận thức của các chuyên gia Mỹ, đấy chính là biểu hiện sự "lãnh đạm có phần thân Việt cộng" của số người đông đảo này3!

--------------------
        1. Theo Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, T2, Tlđd, tr.201.

        2. Mai-cơn Mác-li-a: Cuộc chiến tranh ở nông thôn - Tạp chí Lịch sử quân sự, 9.1988.

        3. Theo G. Côn-cô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, T1, tr.248.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM