Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Tám, 2019, 02:47:44 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân-1968‎  (Đọc 17125 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #140 vào lúc: 25 Tháng Ba, 2017, 07:54:44 AM »


        PHỤ LỤC I

        1.Các đơn vị Mỹ: (31-1-1968):


        - Các Sư đoàn:

        + Sư 1 lính thủy đánh bộ:  22.466     

        + Sư  3 lính thủy đánh bộ:  24.417   

        + Sư 1 ky binh (sư tốt nhất): 18.647 

        + Sư 1 bộ binh:17.539

        + Sư 4 bộ binh: 19.042

        + Sư 9 bộ binh:16.153

        +  Sư 23 (America):15.825 

        + Sư 25 bộ binh: 17.666.   

        + Sư 101 dù  : 15.220.

        - Các lữ đoàn và đơn vị khác:

        + Lữ đoàn 173 dù: 5.313 

        + Lữ 199 bộ binh: 4.215 

        + Trung đoàn 11 kỵ binh cơ giới:  4.331

        + Đội lực lượng đặc biệt số 5 (dù):   3.400

        Tổng hợp: 79 tiểu đoàn bộ binh, 23 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ, 3.100 trực thăng.

        2. Lực lượng đồng minh của Mỹ:

        - Lực lượng đặc nhiệm số 1 của Úc (3 tiểu đoàn khoảng 6.000).

        - Trung đoàn tình nguyện quân đội Hoàng gia Thái. (Queen Cobras khoảng 2.400).

        - Sư đoàn bộ binh Capital (Mãnh Hổ) Nam Hàn.

        - Sư đoàn 9 (Bạch Mã) Nam Hàn .

        - Lữ đoàn 2 lính thủy đánh bộ (Nam Hàn) 

        Lực lượng Nam Hàn trước Tết là 48.800.

        3.Các đơn vị Việt Nam (ngụy Sài Gòn):

        - Sư dù (xuất sắc). 

        - Lính thủy đánh bộ (2 lữ đoàn, mỗi lữ 3 tiểu đoàn).

        - Sư 1 (khá nhất).

        - Sư 2 (đào ngũ cao).   

        - Sư 5 (trung bình)

        - Sư 9 ( kém nhất) .

        - Sư 18 (Chiến đấu không hiệu quả). 

        - Sư 21 (tốt).       

        - Sư 22 (Có khá lên).   

        - Sư 23 (có khá lên).     

        - Sư 25 (khá lên sau khi được trang bị M16).

        - Các tiểu đoàn biệt động quân (không đều, từ kém đến rất tốt) .

        - Lực lượng địa phương: 151.376.   

        - Lực lượng bảo an: 148.789. 

        - Dân vệ: 42.000.   

        - Cảnh sát quốc gia 70.000.

        Tổng cộng quân số Mỹ,  nguỵ và đồng minh của Mỹ đến 3l-12-1967: 1.298.000 người.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #141 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2017, 10:44:46 PM »

       
        PHỤ LỤC II

        Tiểu đoàn quân cảnh số 716 (Mỹ): Bản kê các điện nhận được trong 2 giờ đầu cuộc tiến công bất ngờ vào các mục tiêu ở Sài Gòn:

        03h00: Cư Xá Số 3 Của sĩ quan Mỹ độc thân báo cáo có hoạt động của địch.

        03h15: Sứ quán Mỹ bị tấn công.  

        03h16: Tiếng nổ ở cư xá Phoenix.

        03h17: Tiếng nổ ở cư xá Townhouse.

        03h18: Cư xá số 1 bị tấn công

        03h19: Cư xá Mc Arthur bị tấn công.

        03h21: Báo cáo có tấn công vào cư xá Rex. .

        03h25: Tiếng nổ ở cơ xá số 2.

        03h30: Có tiếng súng tự động nổ và tấn công cư xá số 3.

        03h41: Quân cảnh ở sứ quán Mỹ yêu cầu tiếp tế đạn khẩn cấp    

        03h42: Súng bắn mạnh vào cư xá Metropole.  

        03h50: Đạn súng cối rơi vào cơ xá Montana.

        03h58: Cảng Sài Gòn báo cáo có tiếng súng nhỏ và súng tự động.

        03h59: Súng cối và rốc-két bắn vào sứ quán Mỹ, yêu cầu tăng viện.

        04h07: Xe gíp quân cảnh Mỹ số C9A báo cáo xe vận tải 2 tấn chở 25 người trong đội phản ứng đến cư xá số 3 bị rốc-két và mìn Claymore. Thiệt hại nặng.

        04h08: Xe gíp C9A bị trúng đạn, cả 2 quân cảnh Mỹ chết.

        04h19: Cư xá số 3 xin tiếp tế đạn.  

        04h20: Tướng Westmoreland gọi; ra lệnh ưu tiên số 1 là đánh chiếm lại sứ quán Mỹ. .

        04h49: Cư xá Cleveland và Columlia yêu cầu đạn và giúp đỡ.

        05h50: 3 quả mìn nổ ở xưởng máy Sài Gòn, phát hiện thấy có đặt bẫy.  

        15 Tháng Mười, 2008, 06:40:54 pm

        PHỤ LỤC III

        - 1967:

        7/7 : Quyết định ở Hà Nội mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy.  Cuối tháng: Lãnh đạo Việt Cộng họp ở Cam-pu-chia bàn về thực hiện cuộc tấn công.

        29-7: Bạo động ở Detroit, chính phủ phái 15.339 quân cảnh vệ quốc gia và liên bang đến Detroit.

        7-8: Tham mưu trưởng Lục quân báo cáo là đã thấy “mùi chiến thắng” qua sự nỗ lực của đồng minh; bắt đầu chiến dịch tuyên truyền của chính quyền Johnson.

        21-9 - 3-10: Bạo động ở Lầu năm góc, 3 tiểu đoàn dùng hơi chảy nước mắt đẩy lùi tấn công của dân bằng đá và chai lọ.

        21-11: Westmoreland dự đoán có thể bắt đầu rút quân Mỹ sau 2 năm.

        15-12: Chuyển giao trách nhiệm phòng thủ Sài Gòn cho quân Nam Việt Nam.

        20-12: Westmoreland báo cho Washington là cộng sản quyết định cố gắng mở cuộc tấn công rộng lớn để giành thắng lợi.

        - 1968:

        10-1: Westmoreland lệnh rút một số đơn vị Mỹ về gần Sài Gòn.

        20-1: Bao vây Khe Sanh bắt đầu.

        23-1: Bắc Triều Tiên bắt tàu USS Pueblo của Mỹ.

        29-1: Các đồng minh bắt đầu ngừng bắn tết.

        30-1: Cộng sản mở cuộc tấn công vào Quân khu 1 và Quân khu 2.

        31-1: Cuộc tiến công toàn lãnh thổ của cộng sản bắt đầu.

        8-2: Xe tăng Bắc Việt Nam chiếm Làng Vây, phía ngoài Khe Sanh. Các nơi khác, Việt Cộng và Bắc Việt Nam chỉ còn giữ ngoại Ô Sài Gòn và Huế.

        13-2: Thăm dò dư luận của Gallups thấy 50% không tán thành cách điều hành chiến tranh của Johnson.

        17-2: Thương vong lớn nhất của Mỹ trong một tuần (10-17-2): 543 chết, 2.547 bị thương.

        18-2: 45 đô thị và căn cứ bị pháo kích, nhưng chỉ có 4 cuộc tấn công bộ binh.

        21-2: Có lệnh của chỉ huy cộng sản là rút quân và trở lại đánh trả.

        24-2: Lấy lại được Thành nội, Huế.

        27-2: Walter Conkite của CBS tuyên bố với toàn quốc là thương lượng là con đường duy nhất để rút khỏi cuộc chiến tranh.

        01-3: Thay bộ trưởng Quốc phòng Robert Mc Namara bằng Clark Clifford.

        10-3: New York Times đưa tin Westmoreland muốn thêm 206.000 quân.

        12-3: Eugene Mc Carthy được 42% số phiếu ở cuộc bầu cử sơ bộ của đả ng Dân chủ ở New Hampshire.

        16-20-3: Thăm dò của Galiups thấy lần đầu tiên bồ câu nhiều hơn diều hâu.

        20-3: Áp lực của Bắc Việt Nam ở Khe Sanh giảm.

        26-3: Cố vấn riêng của Johnson báo cáo là nhân dân Mỹ đã mất tin tưởng vào chiến tranh và nước Mỹ nên rút ra.

        30-3: Johnson tuyên bố ngừng ném bom một phần, muốn đàm phán và quyết định thôi không tái ứng cử.

        16-4: Lầu năm góc thông báo sự thay đổi chính sách từng bước chuyển cho lực lượng Nam Việt Nam phụ trách chiến đấu tuyến trước, nguồn gốc của “Việt Nam hoá”.

        3-7: Abrams thay Westmoreland (được lên làm Chủ tịch tham mưu trưởng liên quân).

        - 1969:

        8-6: Tuyên bố đợt rút quân đầu tiên của Mỹ.

        - 1972:

        30-3: Cuộc tiến công lớn toàn miền của cộng sản.

        1973:

        27-1: Ký Hiệp định Paris.

        29-3: Người lính cuối cùng của Mỹ rút khỏi Mìên Nam Việt Nam

        Tài liệu tham khảo:

        1- Tẹt offensive 1968 - James R.Arnold

        2- Việt Nam A History - Stanìey Karnow.  

        3- The Perfect War - James William Gibson  

        4- Fire in the la ke - Frances Fitg gerald  

        5- On Strategy - Harry G.Summers
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #142 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2017, 10:48:06 PM »


CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968 – 30 NĂM SAU NHÌN LẠI

Trung tướng, PGS NGUYễN ĐÌNH ƯỚC           
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam       

        Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 là một sự kiện lớn đánh dấu mốc quan trọng có ý nghĩa chiến lược Mậu Thân 1968 cũng là một sự kiện phức tạp và gây nhiều tranh cãi nhất từ trước đến nay. Xung quanh Mậu Thân, đã từng có nhiều cuốn sách, nhiều bài báo, nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc hội thảo, kể cả ở trong và ngoài nước, song dường như ở sự kiện này còn tiềm ẩn nhiều vấn đề chưa được làm sáng rõ.

        Gần một phần ba thế kỷ đã trôi qua, nhìn lại Mậu Thân 1968 với những chứng cứ, những tư liệu và phương pháp tiếp cận mới, chúng ta thấy thêm điều gì ở sự kiện lịch sử v đại này.  trước hết, xin được bắt đầu từ tên gọi của sự kiện Mậu Thân 1968, đã có nhiều cách gọi khác nhau: “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968”; “Cuộc tiến công đồng loạt Tết Mậu Thân”, “Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân”; “Tập kích chiến lược Tết Mậu Thân”. Vậy thực chất nó là gì và vì sao lại có những tên gọi đó?

        Điểm xuất phát đầu tiên phải kể đến là hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1967. Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình địch - ta trên chiến trường, từ kinh nghiệm của Tổng khởi nghĩa tháng Tám, của việc đưa hai đại đoàn chủ lực vào đồng bằng Bắc Bộ năm 1952 trong kháng chiến chống pháp và đồng khởi năm 1960, Bộ Chính trị chủ trương Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968. Chủ trương này được cụ thể hóa trong Nghị quyết Trung ương lần thứ 14 (1-1968): “nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất bằng phương pháp Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định...”.

        Như vậy, chủ trương của Đảng ta là Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa. Vì thế mới có tên gọi Mậu Thân 1968 là cuộc “Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa” . Song, trên thực tế không đủ những điều kiện cho một cuộc Tổng khởi nghĩa nên Tổng khởi nghĩa đã không xảy ra. Nhưng ở từng vùng, từng địa phương vẫn có quần chúng nổi dậy (Mỹ Tho, Bến Tre, Quảng Ngãi...). Do đó, thực chất Mậu Thân 1968 là một cuộc tiến công chiến lược trên quy mó toàn miền Nam có sự tham gia nổi dậy của quần chúng (nhưng quy mô không lớn như Tổng khởi nghĩa). Đây cũng là lần đầu tiên trong kháng chiến chống Mỹ xuất hiện một cuộc tiến công chiến lược (sau đó có tiến công chiến lược năm 1972 và Tổng tiến công và nổi dậy năm 1975).

        Tiến công chiến lược là một hình thức tiến công mới xuất hiện trong kháng chiến chống Mỹ có quy mô rất lớn, gần như toàn miền Nam trong một thời gian nhất định nhằm mục tiêu chiến lược theo một kế hoạch đồng bộ. Mậu Thân 1968 cũng không chỉ đơn thuần là một cuộc tập kích chiến lược, vì không chỉ có tiến công quân sự mà còn có nổi dậy của  quần chúng, không chỉ có một đợt mà nhiều đợt. Với bản chất của nó như đã nói ở trên thì tên gọi mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973) xác định cho Mậu Thân 1968: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 hay như công trình Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thắng lợi và bài học đã được Bộ Chính trị thông qua gọi là: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968” là chính xác nhất. Nó phù hợp với diễn biến thực tế khi mà Đảng ta chủ trương Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa nhưng Tổng khởi nghĩa không diễn ra.

        Mậu Thân 1968 có nhiều nét đặc sắc và sáng tạo, trước hết là xác định hướng tiến công chủ yếu một cách táo bạo và tìm ra cách đánh mới: Phương thức tiến công đồng loạt dưới nhiều hình thức (quân sự, chính trị, binh vận), bằng nhiều lực lượng (chủ lực, đặc công, biệt động, lực lượng tại chỗ...). Có lẽ trong lịch sử chiến tranh thế giới (kể cả cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô trước đây các cuộc chiến tranh cách mạng Trung Quốc) cũng như lịch sử đấu tranh phong ngoại xâm cửa dân tộc ta thưa bao giờ có cuộc tiến công đồng loạt, đều khắp, rộng lớn như Mậu Thân 1968.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #143 vào lúc: 26 Tháng Ba, 2017, 10:48:25 PM »


        Nếu đồng khởi cuối 1959 đầu 1960 là phong trào khởi nghĩa của quần chúng nhân dân, một cuộc khởi nghĩa từng phần nhằm giành lấy chính quyền cơ sở, diễn ra chủ yếu ở các vùng nông thôn, đồng bằng và rừng núi - nơi chính quyền địch tương đối yếu, thì Mậu Thân 1968, ta đồng loạt tiến công vào hầu khắp các đô thị  trên 6 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn - nơi cơ quan đầu não, nơi chính quyền địch mạnh. Cuộc tiến công  mãnh liệt vào các mục tiêu xung yếu ở Sài Gòn - Gia Định - nơi tập trung cơ quan đầu não cao nhất của địch đã có ảnh hưởng rất rộng lớn, sâu sắc. Cuộc chiến đấu ở thành phố Huế 25 ngày đêm chứng tỏ nổi bật sức mạnh và tính chủ động của cuộc tiến công. Xét cả về quy mô cũng như tính chất đồng loạt, Mậu Thân 1968 đã sáng tạo ra một hình thức tiến công chiến lược mới với hiệu lực chiến đấu “cộng hưởng” lớn lao chưa từng có, làm lung lay ý chí xâm lược của một siêu cường.

        Chính cuộc tiến công táo bạo này đã làm cho những người  điều hành chiến tranh Hoa Kỳ sững sờ, choáng váng. Chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ, toàn bộ hậu phương an toàn nhất của kẻ địch, tất cả thành phố, tỉnh lỵ, trước đó hầu như đứng ngoài cuộc chiến, đều bị tiến công đồng loạt.  Các mục tiêu quan trọng nhất từ Bộ Tổng tham mưu đến biệt khu Thủ đô, từ Dinh Tổng thống ngụy đến tòa Đại sứ Mỹ đều bị tiến công ác liệt. Cái thế của đôi bên trong chiến tranh bỗng chốc bị đảo lộn, hậu phương thành tiền tuyến, tiền tuyến biến thành hậu phương. Hãng thông tấn AFP (Pháp) ngày 3-2-1968 đã đưa tin: “Đây thực chất là chiến trường- rộng lớn nhất trong các cuộc chiến tranh.  Toàn bộ nước Việt Nam đều bốc lửa từ Khe Sanh đến Cà Mau”. Chính tướng Oét-mo-len, Tổng chỉ huy quân sự Mỹ lúc đó ở miền Nam Việt Nam đã phải thừa nhận: “Việt cộng đã đưa chiến tranh đến các thành phố, các đô thị, đã gây thương vong thiệt hại và nền kinh tế bị phá hoại... các trung tâm huấn luyện bị đóng cửa. Nói theo quan điểm thực tế thì chúng ta phải công nhận dối phương đã giáng cho chính phủ Nam Việt Nam một cú đấm nấng nề”.

        Cuộc tiến công đồng loạt Mậu Thân 1968 không chỉ diễn ra một đợt mà liên tiếp nhiều đợt. Ta không chỉ tiến công tuần tự từ ngoài vào trong mà kết hợp cả từ ngoài vào trong và từ trong ra ngoài khiến địch đã bất ngờ càng bất ngờ hơn.

        Vấn đề này, có nhiều ý kiến cho rằng việc đánh nhiều đợt là không cần thiết vì sau đợt 1 yếu tố bất ngờ không còn nữa và mọi tác động quân sự, chính trị, tâm lý... đều đã diễn ra ngay từ sau đợt tiến công hồi Tết rồi. Thực tế không hoàn toàn như vậy. Với mọi kẻ thù hiếu chiến và ngoan cố như đế quốc Mỹ, dù đợt 1 Mậu Thân 1968 có mạnh mẽ và gây choáng váng cho giới cầm quyền Mỹ đến đâu đi chăng nữa, ý chí của chúng cũng chưa thể lung lay tận gốc được. Chính việc ta đánh tiếp đợt 2 vào Sài Gòn đã chứng minh rằng không có yếu tố bất ngờ nhưng chủ lực ta vẫn đánh được vào thành phố lớn nhất và sức mạnh của ta không phải là kiệt quệ như những kẻ diều hâu ở Hoa Kỳ đã tuyên bố.

        Kỷ niệm 30 năm cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân, báo Nước Đức mới số ra ngày 7 và 8 tháng 2 năm 1998 đã viết: “Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 đã đồng thời nổ ra ở 36 trong 44 tỉnh ly và 5 trong 6 thành phố lớn ở miền Nam Việt Nam. Cuộc bao vây căn cứ Khe Sanh của quân Mỹ trong nhiều tuần lễ, việc giải phóng cố đô Huế và các trận đánh trên các đường phố Sài Gòn, các đơn vị đặc công đã chiếm dược phần lớn Tòa đại sứ quán Mỹ được phòng thủ cẩn mật đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuy Mỹ và các đồng minh đã có thể chuyển sang phản công, nhưng đợt tấn công tiếp theo của Quân giải phóng trong tháng 5 v à 6-1968 đã chứng tỏ rằng kẻ xâm trước đã vĩnh viễn mất đi thế chủ động chiến lược”. Những đòn đánh bồi, đánh cho đủ “đô” đó mới làm cho những tên diều hâu ở Mỹ không thể “kiên nhẫn” được nữa. Việc thay đổi chiến lược chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, hạn chế chiến tranh phá hoại miền Bắc, thỏa thuận đàm phán hòa bình mặc dù đã được quyết định từ tháng 3-1968 - nghĩa là sau đợt 1 Tết Mậu Thân 1968, nhưng phải trải qua các đợt chiến đấu ác liệt trên chiến trường, đến 11-1968, Mỹ mới tuyên bố chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bấc và chịu chấp nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng là một thành viên hòa đàm tại Pa-ri. Hoa Kỳ ỷ vào tiền bạc và sức mạnh nên không bao giờ chịu thua non.  Mậu Thân 1968 không chỉ sáng tạo về phương pháp và hình thức tiến công mà còn ở nghệ thuật chọn thời cơ chiến lược để tạo ra bước ngoặt quyết định của chiến tranh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #144 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2017, 08:45:56 PM »


        Ta chọn thời cơ vào năm 1968 là năm bầu cử Tổng thống Mỹ, năm mà tình hình nước Mỹ rất nhạy cảm về chính trị. Vào thời điểm này, Mỹ đã qua 8 năm trực tiếp tham chiến ở Việt Nam. Chúng cũng đã từng mở hai cuộc phản cộng chiến lược lớn vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 nhưng không đạt được kết quả gì đáng kể, trái lại chúng còn bị quân và dân miền Nam đánh cho thiệt hại nặng nề và thất bại hoàn toàn trong mục tiêu chiến lược bẻ gãy xương sống Việt Cộng. Leo thang đánh phá miền Bắc hòng ngăn chặn sự chi viện cho miền Nam và uy hiếp tinh thần kháng chiến của nhân dân ta cũng không xoay chuyển được tình thế. Những cố gắng của Mỹ vào thời điểm này đã gần đến đỉnh cao. Tính đến tháng 12-1967, Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam nửa triệu quân với 40% số sư đoàn bộ binh sẵn sàng chiến đấu của nước Mỹ, 30% lực lượng không quân chiến thuật, 1/3 lực lượng hải quân. Lực lượng dự trữ dành cho một cuộc “chiến tranh cục bội”. Mỹ đã dùng hết, thậm chí còn sử dụng cả một phần lực lượng dự trữ dành cho chiến lược toàn cầu, chi phí cho chiến tranh Việt Nam tính đến 1968 lên tới 60 đến 70 tỷ đô la (gấp 3 lần chiến tranh Triều Tiên). Gánh nặng chiến. tranh Việt Nam đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế và xã hội nước Mỹ, đến chiến lược toàn cầu và xây dựng quốc phòng của Mỹ. Đế quốc Mỹ đang trong tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.

        Về phía ta, đây là lúc các lực lượng quân sự, chính trị ở miền Nam đã lớn mạnh hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó và ta đang nắm quyền chủ động trên chiến trường. Từ những phân tích đánh giá trên, Đảng ta đã khẳng định: “chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn”, tình hình đó cho phép chúng ta “có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định”...

        Thời điểm 1968 quả là hội tụ các điều kiện thuận lợi cả  về quân sự và chính trị cho giành thắng lợi lớn theo ý đồ của ta. Thời cơ này được ta tạo ra và nắm bắt đúng lúc, không sớm và cũng không muộn. Nếu sớm quá, ta chưa đánh thắng hai cuộc phản công chiến lược mùa khô  trong 3 năm (1965-1967) thì Mỹ cũng không chịu thua vì còn quỹ thời gian để triển khai đầy đủ chiến lược chiến tranh cục bộ. Nếu để muộn, cuộc tổng tiến công sau năm bầu cử thì áp lực quân sự khó làm rung chuyển nước Mỹ, khó làm lung lay ý chi xâm lược của giới cầm quyền. Độc đáo hơn, ta chọn thời cơ tiến công vào dịp Tết Nguyên đán - đúng đêm giao thừa, lúc mà địch dễ bộc lộ sư hở, chủ quan. Vì thế khi bị ta tiến công, địch hoàn toàn bị bất ngờ. Nhiều tài liệu của địch đã xác định rằng: Vào nhưng ngày “tết Mậu Thân”, các đơn vị quân đội Sài Gòn chỉ còn một nửa quân số, khiến cho Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn vô cùng lúng túng trong việc ứng phó.

        Còn về hướng tiến công chủ yếu, Mậu Thân 1968 ta nhằm vào đô thị, nơi tập trung các cơ quan đầu não Trung ương và địa phương của chính quyền Sài Gòn. Đó là những mục tiêu tập trung sinh lực cao cấp của cả Mỹ và ngụy, những mục tiêu nhạy cảm nhất trong bộ máy chiến tranh của chúng ở miền Nam. Địch vẫn cho rằng bộ đội ta ít kinh nghiệm đánh thành phố và chưa có khả năng đánh vào các trung tâm đầu não của chúng. Hơn nữa, từ năm 1968, ta chủ động mở Mặt trận đường 9, coi đây là một hướng tiến công của quân chủ lực, tiêu hao, tiêu diệt địch, đồng thời kéo một lực lượng lớn quân Mỹ ra giam chân tại Khe Sanh. Và trong lúc Oét-mo-len đang cố gắng điều động lực lượng lên “cố giữ bằng được cái chốt Khe Sanh” thì Việt Cộng lại mở một loạt trận tiến công táo bạo và bất ngờ vào hầu hết các căn cứ Mỹ và ngụy ở Nam Việt Nam”.

        Có thể nói, chọn đô thị làm hướng tiến công chủ yếu là ta đã chọn vào nơi hiểm yếu nhất của kẻ thù. Đòn hiểm đó đã phơi bày đầy đủ sự thất bại về quân sự và sự yếu kém của Mỹ  ngụy. Đây là lần đầu tiên trong suốt bao nhiêu năm kháng chiến, chúng ta đã đưa được chiến tranh vào thành thị, thực hiện một đòn đánh hiểm, đánh đau, đánh vào yết hầu, vào “trung ương thần kinh địch”. Rô-bớt Ken-nơ-đi - Thượng nghị sĩ Mỹ đã phải thốt lên rằng: ‘tại sao nửa triệu lính Mỹ có 70 vạn lính Nam Việt Nam cộng tác, có ưu thế hoàn toàn trên không và ngoài biển, được cung cấp quá đầy đủ và được trang bị những vũ khí hiện đại nhất lại không có khả năng bảo vệ được thành phố khỏi bị đối phương tấn công”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #145 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2017, 08:46:31 PM »


        Mậu Thân 1968 quả là có nhiều độc đáo và sáng tạo. Điều này thì không ai có thể phủ nhận, song vấn đề có nhiều ý kiến còn khác nhau về Mậu Thân 1968 là đánh giá thắng lợi ùa ưu điểm, khuyết điểm trong chỉ đạo chiến lược đa phần thống nhất đánh giá Mậu Thân 1968 là một thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược. Song cũng có ý kiến trên cơ sở đối chiếu mục tiêu đề ra ban đầu và kết quả đạt được mà cho rằng: “Đợt 1 ta thắng, sau ta thua, thế là hòa”. Một số ý kiến bằng sự so sánh đơn thuần số lượng thương vong của đôi bên đã đặt câu hỏi về sự cần thiết của Mậu Thân và kết luận: chúng ta đã phải trả giá quá đắt cho thắng lợi. Giới quân sự và nhiều chính khách Mỹ cũng như phương Tây cho rằng: ta chỉ thắng về tâm lý, chính trị, còn thua về quân sự... Tổng thống Mỹ Giôn-xơn trong hồi ký của mình đã nhận định: “Dù so với bất kỳ tiêu chuẩn nào thì trận tiến công Tết cũng là một thất bại quân sự nặng nề với Bắc Việt Nam và Việt cộng”. Hen-ry Kít-xinh-giơ trong Những ‘năm ở Nhà trắng viết: Ngày nay, hầu hết chuyên viên về Việt Nam công nhận: đó (Tết Mậu Thân) là một thất bại thảm hại (với Bắc Việt Nam); còn  Đôn O-bơ-đo-phơ (Don Oberdoi fer) trong cuốn “Tết” lại khẳng định: “Cái trớ trêu của cuộc tiến công Tết là ở chỗ cộng sản đã thua trên chiến trường nhưng đã thắng về chính trị trên nước Mỹ”.

        Vậy sự thật là thế nào? Muốn đánh giá thắng lợi hay thất bại phải xuất phát từ mục tiêu chiến tranh của hai bên và mục tiêu chiến lược quân sự trong từng thời kỳ. Về phía Mỹ, từ giữa năm 1965, trước nguy cơ chiến lược “chiến tranh đặc biệt’ bị phá sản, chúng đã quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đây là cố gắng cao nhất của Mỹ (về huy động lực lượng, binh khí kỹ thuật và bộ máy điều hành chiến tranh), là chiến lược quan trọng nhất, then chốt nhất mà Mỹ - ngụy hy vọng có thể giành được thắng lợi quyết định trong chiến tranh. Mục tiêu bao trùm của Mỹ trong chiến lược này là:

        Triển khai lực lượng lớn quân Mỹ để tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, đánh gãy xương sống Việt cộng; leo thang đánh phá miền Bắc nhằm phá hoại tiềm lực, ngăn chặn miền Bằc đưa quân vào miền Nam.  Bình định tiêu diệt tận gốc cơ sở kháng chiến của ta.

        Để thực hiện những mục tiêu này, chúng dự định một kế hoạch gồm 3 giai đoạn:

        • Giai đoạn 1 (từ tháng 7 đến 12-1965): đưa ồ ạt quân Mỹ và quân các nước đồng minh vào miền Nam, hoàn thành việc triển khai lực lượng chuẩn bị cho các hoạt động ở giai đoạn sau.

        • Giai đoạn 2 (từ tháng 1 đến 6-1966): mở cuộc phản công chiến lược “tìm và diệt” ở những vùng ưu tiên để tiêu diệt chủ lực đối phương, giành lại quyền chủ động chiến trường, tổ chức lại các hoạt động “bình định nông thôn”.

        • Giai đoạn 3 (từ tháng 7-1966 đến 12-1967): mở tiếp các cuộc tiến công “tìm diệt” những đơn vị chủ lực quân giải phóng còn lại, phá căn cứ kháng chiến và tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, hoàn tất chương trình bình định nông thôn, bắt đầu rút quân Mỹ về nước.

        Về phía ta: Ngay từ đầu cuộc chiến tranh chưa bao giờ Đảng ta có ảo tưởng thắng Mỹ trên thế áp đảo về quân sự thuần túy bởi điều đó khó có thể thực hiện được. Mục tiêu của ta là đánh cho My những đòn đau, đánh vào ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải rút quân khỏi miền Nam (đánh cho Mỹ cút) . Muốn vậy phải huy động sức mạnh tổng hợp làm cho Mỹ từ sa sút tinh thần đến lung lay tận gốc ý chí xâm lược của chúng. Nói cách khác, là phải làm cho giới cầm quyền Mỹ hiểu rằng chúng càng đánh thì càng sa lầy, càng thất bại, còn nhân dân Mỹ thì phản đối cuộc chiến tranh vô nghĩa, hao người, tốn của, càng kéo dài càng vô vọng, chỉ càng làm cho vị trí nước Mỹ suy yếu.  Đối chiếu với Mậu Thân 1968 chúng ta thấy:

        • Sau 3 năm trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, Mỹ không đánh gãy được xương sống của Việt Cộng, trái lại xương sống của Việt cộng còn mạnh lên rõ rệt. Quân Mỹ không thực hiện được chiến lược “tìm diệt” mà chủ lực Việt cộng còn tìm đánh quân Mỹ, quân ngụy ở ngay các thành phố lớn như Sài Gòn - Huế...

        • Thế chiến lược của quân Mỹ trên toàn miền Nam bị đảo lộn qua đòn Mậu Thân. Chiến tranh” đã diễn ra ác liệt ở các thành thị - nơi Mỹ cho là an toàn nhất. Trong lúc đó một bộ phận quan trọng quân My lại bị ta ghìm chân ở đường 9 - Khe Sanh, không thể bảo vệ được các thành thị.  Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân vả hải quân của Mỹ trên miền Bắc Việt Nam đã thất bại rõ ràng vì Mỹ không thể nào ngăn chặn nổi miền Bắc tăng cường chi viện cho miền Nam.

        • Không lẽ chỉ do tác động của tâm lý hay sức ép về chính trị mà Mỹ phải thay đổi chiến lược từ “tìm diệt” sang “quét và giữ”, phải xuống thang chiến tranh, chấm dứt ném bom miền Bắc và ngồi vào bàn đàm phán hòa bình với ta. Đây rõ ràng là một thắng lợi to lớn về quân sự bơi ta đã dùng sức mạnh quân sự, chính trị để đạt mục tiêu chiến lược của mình, làm thất bại mục tiêu chiến lược của địch trong một giai đoạn quyết định của chiến tranh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #146 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2017, 08:47:00 PM »


        Thắng lợi to lớn mà ta đạt được trong Mậu Thân 1968 đã làm lung lay tận gốc ý chí của kẻ xâm lược. Đây là một sáng tạo của Đảng ta - là sự phát triển nghệ thuật chiến tranh cách mạng lên một tầm cao mới - không theo lối cổ điển trong chiến tranh là chỉ nhằm tiêu diệt lực lượng đối phương, mà dùng sức mạnh tổng hợp đánh vào ý chí của đối phương. Trong chiến tranh hiện đại, chỉ có kẻ ngu ngốc mới chịu thua khi bị tiêu diệt đến tên lính cuối cùng.  Với sự phát triển của thế giới hiện đại, người ta có thể xác định sớm chiều hướng của chiến tranh.

        Vả lại trong thời đại ngày nay, không có vấn đề quân sự nào tách rời với chính trị. Quân sự gắn chặt với chính trị. Chỉ có những kẻ quân sự đơn thuần hoặc “vũ khí luận” mới cố tình tách biệt ra để bào chữa cho thất bại của mình.  Trong các cuộc chiến tranh trước đây, để chiến thắng, người ta thường đặt mục tiêu đánh diệt bao nhiêu quân địch, đánh cho đối phương kiệt quệ về lực lượng, không đủ sức để tiếp tục chiến đấu phải chịu thua trên chiến trường.  Với một dân tộc nhỏ, trang bị vũ khí kỹ thuật còn hạn chế như dân tộc ta để chống lại một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh như đế quốc Mỹ, việc thắng bằng thế áp đảo về quân sự trên chiến trường  khó có thể đạt được.

        Thắng Mỹ không thể chỉ bằng sự hy sinh, lòng dũng cảm mà hơn cả là trí tuệ, tài thao lược. Chúng ta phải biết tiếng địch từng bước, thắng Mỹ vừa với sức ta. Chủ trương của Đảng ta là tận dụng ưu thế tuyệt đối về chính trị và năng lực phát động và tổ chức sức mạnh tổng hợp qua một quá trình chiến đấu lâu đài, làm phá sản kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của chúng, buộc chúng phải chịu thua vì tuy còn sức mạnh nhưng các yếu tố để chiến thắng không còn, “thua vì khủng hoảng toàn diện và bế tắc”, chấp nhận rút quân về “trong danh dự”; “thua từ trong ý chí của kẻ điều hành chiến tranh”.

        Mậu Thân 1968 với những đòn tiến công đồng loạt, liên tục, mạnh mẽ, đều khắp ta đã làm lung lay tận gốc ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ.

        Nhà sử học Ga-bri-en Côn-cô trong “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” đã viết: “Tiến công Tết Mậu Thân là một cú sức đối với Mỹ” và “tác động quyết định nhất của cuộc tấn công Tết cho ta thấy rằng thực tế Mỹ đang đứng trước một cuộc khủng hoảng tiềm tàng và nghiêm trọng”. “Tết” cho ta thấy rằng đã đến lúc phải quan tâm đến những giới hạn của Mỹ. Nếu theo đuổi một quy mô leo thang ở mức cao hơn sẽ gây thiệt hại to lớn cho vị trí kinh tế của Mỹ ở trong nước cũng như ngoài nước, cho sức mạnh quân sự của Mỹ trong chiến lược toàn cầu và cho đời sống chính trì của Mỹ.  Đó là cái giá mà không mấy người nghiêm chỉnh muốn trả”.  Giới lãnh đạo Mỹ phải thừa nhận rằng: Tết Mậu Thân “đã đặt họ “trước một bước rẽ trên đường đi” và ‘các giải pháp để lựa chọn đã bày ra trong một thực tế tàn nhẫn”.

        Clíp phớt, một chính khách thuộc phái “diều hâu’, người được Giôn-xơn chỉ định thay Mắc Na-ma-ra làm Bộ trưởng Quốc phòng sau sự kiện Tết đã đưa ra kết luận chính thức báo cáo với Tổng thống Giôn-xơn: “Dù có thêm 20 vạn quân cũng không thể đẩy địch ra khỏi Nam Việt Nam hoặc tiêu diệt được lực lượng họ”. “Nếu tiếp tục leo thang hơn nữa sẽ làm nổ ra một cuộc khủng hoảng trong nước với quy mô chưa từng cói’.Chíp phớt còn tin chắc rằng: đường lối quân sự mà Mỹ theo đuổi ở Việt Nam trong suốt những năm “chiến tranh cục bộ” không chỉ không có tận cùng mà còn vô vọng.

        Đối với Tổng thống Giôn-xơn: Cuộc tiến công Tết đã làm ông ta choáng váng. Khoảng thời gian tháng 2, tháng 3-1968 là quãng thời gian u ám nhất trong đời hoạt động chính trị của Giôn-xơn và tất cả đều bắt nguồn từ cuộc chiến tranh Việt Nam và hậu quả trực tiếp “Tết Mậu Thân”. Điều tra của Viện Ga-lớp sau cuộc tiến công Tết cho thấy số người ủng hộ Giôn-xơn chỉ còn 36%, số người ủng hộ đường lối chiến tranh của Mỹ xuống thấp tới mức kỷ lục: 26%. Với sức ép Tết Mậu Thân, Giôn-xơn đã phải tuyên bố không ra tranh cử tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ tiếp theo.

        Hậu quả Tết Mậu Thân đối với Mỹ thật nặng nề. Nó thể hiện không chỉ ở sự chia rẽ gay gắt trong nội bộ giới lãnh đạo Mỹ, ở sự khủng hoảng về chiến lược của Mỹ ở Việt Nam mà cả sự phẫn nộ của công chúng Mỹ với chính phủ. Trước tình hình đó, Quốc hội Mỹ phải xem xét lại toàn bộ chính sách và chiến lược của Mỹ ở Nam Việt Nam, không chấp nhận tăng quân cho Oét-mo-len. Nói như In A-ki-sưn - nguyên Ngoại trưởng Mỹ: Mỹ không còn hy vọng gì khác ngoài việc “cần phải đánh giá lại và thay đổi hoạt động của các lực lượng mặt đất, cần phải dừng hay giảm nhiều cuộc ném bom và chấm dứt chiến tranh sao cho Mỹ ít bị thiệt hại nhất”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #147 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2017, 08:47:30 PM »


        Như vậy, rõ ràng là thắng lợi Mậu Thân 1968 rất to lớn. Bộ Chính trị cũng đã đánh giá: Mậu Thân 1968 là một “thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng tạo ra bước ngoặt quyết định cua cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải chuyển sang chiến lược phòng ngự trên toàn chiến trường, phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Pa-r chấm dứt ném bom không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hóa chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh”.

        Mặc dù vậy, Mậu Thân 1968 không phải không có khuyết điểm nghiêm trọng. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973), Đảng ta đã   nghiêm khác kiểm điểm và công nhận: “Chúng ta cũng đã mắc một số khuyết điểm: chủ quan trong việc đánh giá tình hình cho nên ta đã đề ra yêu cầu chưa thật sát với tinh hình thực tế lúc đó, nhất là sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, ta đã không kịp thời kiểm điểm và rút kinh nghiệm ngay, nhằm đánh giá lại tình hình và có chủ trương chuyển hướng kịp thời”.  Đúng là trong đánh giá tình hình, Đảng ta rất sắc sảo và nhạy bén, tạo và nắm được thời cơ chiến lược, thấy được chỗ sơ hở của địch ở đô thị, thấy được động thái của địch ở chiến trường, phát hiện giới hạn khả năng tham chiến của Mỹ ở Việt Nam (theo tính toán của Mỹ giới hạn đó là hai năm rưỡi, nay đã quá 3 năm) và những bế tắc về chiến thuật, chiến lược của Mỹ... Nhưng chúng ta có phần chưa sát tình hình, đề ra yêu cầu quá cao: Tổng khởi nghĩa trong lúc quân đội của địch còn tới hơn một triệu tên. Về vấn đề chuyển hướng, nguyên nhân chính là do chỉ đạo chưa sát của trên nhưng cũng còn do dưới báo cáo lên thiếu chân thực, thường bốc đồng về thành tích. Có chiến trường do chưa dứt điểm được nên cố dấn. Mặt trận Quảng Đà và một số nơi khác còn đề nghị trên cho tiếp tục đánh đợt 3. Đây là một khuyết điểm trong điều hành chiến tranh của ta. Đại tướng Hoàng Văn Thái sau này nhớ lại? “Ở B9 hồi ấy, chúng tôi cũng có phần trách nhiệm, lúc đó cũng quá nhiệt tình, phấn chấn, say sưa thắng lợi, nghe báo cáo của dưới không hết, báo cáo lên trên không đầy đủ... cũng góp phần làm cho trên không đủ cơ sở để đánh giá lại  tình hình cho thật khách quan, đúng như nó có”.

        Lẽ dĩ nhiên, trong cuộc chiến đấu ác liệt, liên tiếp và kéo dài đó, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó. Mỹ đã thú nhận: ở Huế ta đã diệt 300 tên ác ôn. Còn bọn Mỹ đã giết hại 14.000 dân thường.  Một sĩ quan Mỹ đã tuyên bố: phải ném bom san bằng cả tỉnh ly Bến Tre, Mỹ Tho... để cứu lấy nó. Theo sách Sổ tay sự kiện chiến tích Việt Nam của hai tác giải Mỹ Stein và Leepson: Năm 1968 “là năm gia tăng ghê gớm số thương vong của Mỹ ở miền Nam. Nó gần gấp hai tổng số thương vong của tất cả các năm trước cộng lại (30.610 so với 16.201)”. Cũng theo hai tác giả này, số binh lính Mỹ bị giết ở miền Nam năm 1968 là 14.5891. Về phía ta, chỉ riêng B2 thương vong năm 1968 cao hơn tất cả các năm từ 1961 đến 1970. Thương vong của ta tuy có lớn nhưng để đánh bại ý chí xâm lược của một siêu cường thì sự hy sinh cao cả ấy là cần thiết và xứng đáng.

        Điểm cuối cùng là một vấn đề gây nhiều tranh cãi khi bàn về Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa.

        Đã có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề này.  Có người trên cơ sở đối chiếu chủ trương đề ra (Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa) với thực tế diễn biến không xảy ra (chỉ có Tổng công kích, không có Tổng khởi nghĩa) mà cho rằng đề ra như vậy là sai. Có người cho về lý luận thì đúng nhưng thực tế không xảy ra. Lại có ý kiến không coi là sai mà chỉ cho đó là một khả năng ta chưa thực hiện được.  Muốn đánh giá đúng hay sai phải căn cứ trên cả hai cơ sở lý luận và thực tiễn.

        Về lý Luận: Lê-nin đã chỉ ra ba điều kiện để tổng khởi nghĩa có thể xảy ra và thắng lợi:

        1 Không những đội tiên phong mà cả đại bộ phận giai cấp cách mạng thấy sự cần thiết phải làm cách mạng và sẵn sàng chiến đấu hy sinh để lật đổ chính quyền cũ, dựng lên chinh quyền mới .

        2. Kẻ thù của cách mạng bị khủng hoảng, suy yếu, cắn xé lẫn nhau.

        3. Giai cấp trung gian đứng về phía cách mạng, ủng hộ  và sẵn sàng đi theo cách mạng, chống lại kẻ thù.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #148 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2017, 08:47:55 PM »


        Đồng chí Lê Duẩn cũng đã nói: “Muôn tiến tới tổng khởi nghĩa thì phải làm cho quân đội dịch bị đánh bại, mà ở đây quân đội địch bị đánh bại chủ yếu do Lực lượng vũ trang cách mạng của ta”. Đồng chí còn nhấn mạnh: Trong chiến tranh cách mạng chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam: ‘để có tổng khởi nghĩa phải có tổng công kích về quân sự và tổng công kích về quân sự phải đi trước một bước” ... Tuy nhiên điều kiện của Cách mạng tháng Mười Nga và Cách mạng tháng Tám khác với kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta. Nghị quyết Trung ương 14 (1-1968) cũng chỉ rõ điều đó: “Ta tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa không phải trong điều kiện kẻ địch đã kiệt quệ trong một cuộc thế giới chiến tranh (như trong trường hợp Cách mạng Tháng 10 Nga hay Cách mạng Tháng 8 của ta) mà là trong khi địch còn trên một triệu quân và một tiềm lực chiến tranh lớn”. Song từ kinh nghiệm Cách mạng Tháng 8-1945 và Đồng Khởi 1960 cho thấy khả nặng huy động lực lượng quần chúng nổi dậy là có thể thực hiện được. Mặt khác, ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp, đánh địch bằng cả lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, bằng cả tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng trên cả ba vùng chiến lược: nông thôn đồng bằng, rừng núi, và đô thị, ta cũng đã xây dựng được lực lượng chính trị và quân sự tương đối mạnh, ta đang trên thế thắng và đang nắm quyền chủ động trên khắp các chiến trường... còn địch quân số tuy đông nhưng tinh thần đã bạc nhược và bắt đầu suy sụp, về chính trị, quân địch đang lâm vào tình trạng mâu thuẫn khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng”.

        Nhưng thực tế tổng khởi nghĩa đã không diễn ra như dự kiến. Nguyên nhân do ta đánh giá thấp kẻ địch (Mỹ-ngụy còn khá đông và tiềm lực chiến tranh còn mạnh), phần khác do những nỗ lực chủ quan của ta cũng chưa đủ (chẳng hạn chưa chuẩn bị kịp lực lượng quần chúng nổi dậy ở đô thị, chủ lực chưa có thể tạo những quả đấm mạnh đánh quỵ các trung đoàn chủ lực của địch và bẻ gãy các cuộc phản kích của chúng... ). Tuy đề ra như vậy nhưng trong thực tế thì việc vận dụng phải linh hoạt và sáng tạo, không nhất thiết đề ra tổng khởi nghĩa là phải thực hiện cho bằng được trong bất kể tình huống nào. Đề ra Tổng khởi nghĩa đồng thời với tổng công kích, Đảng ta cho đó là một ‘khả năng, một dự kiến có thể phát triển của tình hình. Ta cố gắng phấn đấu để đạt được khả năng đó vì nếu kết hợp được cả tổng công kích - tổng khởi nghĩa, ta phát huy được cao độ sức mạnh tổng hợp thì thắng lợi của ta càng to lớn hơn. Ngược lại, nếu không đủ điều kiện để Tổng khởi nghĩa ta tập trung tiến công về quân sự là chủ yếu, không cố thực hiện tổng khởi nghĩa non, dễ bị địch đàn áp gây tổn thất lớn”.

        Nói như vậy không có nghĩa Mậu Thân 1968 ta chỉ có tiến công quân sự, chỉ có Tổng công kích. Không có tổng khởi nghĩa không có nghĩa là không có nổi dậy. Nói như Thượng tướng Trần Văn Trà: “Không có nổi dậy của quần chúng thì không thể đánh theo kiểu Mậu Thân được. Cách đánh của Mậu Thân quả là độc nhất vô nhị trong chiến tranh từ trước đến nay mà lực lượng ta dùng là lực lượng tổng hợp quân sự, chính trị, trong nước và ngoài nước”. Mậu Thân 1968 thật là một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

        Đến đây chúng ta có thể kết luận: Mặc dù có những khuyết điểm, song thắng lợi to lớn mà Mậu Thân 1968 tạo ra không ai có thể phủ nhận được. Thắng lợi ấy bắt nguồn từ đường lối kháng chiến của Đảng với hai lực lượng quân sự và chính trị, với phương châm 3 vùng, với tư tưởng chiến lược tiến công, đánh lâu dài nhưng biết tạo thời cơ giành thắng lợi quyết định và sự chỉ đạo nhạy cảm, tài trí và sáng tạo của BCH Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tầm nhìn xa trông rộng, từ lâu Bác Hồ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã nhận thấy rằng ta không đủ sức  để đánh tiêu diệt cùng một lúc cả Mỹ lẫn , ngụy, giành thắng lợi hoàn toàn nên đã chủ trương đánh cho “Mỹ cút” rồi tiến tới đánh cho “ngụy nhào”. Theo dõi chặt chẽ tình hình diễn biến trên chiến trường, cả ở nước Mỹ và trên thế giới, tháng 6-1967, Hội nghị Bộ Chính trị do Hồ Chủ tịch chủ trì đã dự kiến xu thế phát triển của cuộc chiến tranh và phát hiện thời cơ chiến lược đang xuất hiện, từ đó Bộ Chính trị sớm chuẩn bị để đón thời cơ. Đến Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1967, kế hoạch táo bạo cho Tết Mậu Thân đã được vạch ra. Tại Hội nghị này, trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng địch ta và những bế tắc trong chiến lược của Mỹ, Bộ Chính trị đãxác định: Thời cơ chiến lược đã xuất hiện và quyết định mở cuộc Tổng công kích - Tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân 1968.  Không chỉ sắc sảo trong việt phát hiện thời cơ và hạ quyết tâm chính xác, kịp thời, trong Mậu Thân 1968, Đảng ta còn xuất sắc trong việc tổ chức, bố trí và điều động lực lượng, chọn hướng và phương thức tiến công gây bất ngờ lớn đối với địch. Sách Việt Nam - Giờ quyết định của hãng thông tấn Pháp AFP tiết lộ: “Những sai lầm nặng nhất của các tổ chức tình báo - không còn nghi ngờ chút nào - là không tin rằng Việt Cộng có thể huy động được số người đông đảo và ném ra những cuộc tiến công hết sức ác liệt  với một sự hợp đồng chặt chẽ và một cường độ lớn như vậy”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 20980


« Trả lời #149 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2017, 08:49:02 PM »


        Cùng với Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương, Ban Chấp  hành trung ương Đảng và Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - những học trò xuất sắc của người cũng có những phát kiến quan trọng góp phần vào thành công của Mậu Thân. Trước ngày nổ ra sự kiện Tết có hai tuần (ngày 18-1-1968), trong thư gửi Trung ương Cục và Quân ủy Miền, đồng chí Lê Duẩn đã có những chỉ đạo sắc sảo Đồng chí nhận định: “Đế quốc Mỹ đang ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược. So với mục đích chính trị, quân sự mà Mỹ đề ra với tình hình chính trị kinh tế xã hội của nước Mỹ thì những cố gắng chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam hiện nay đã tới đỉnh cao nhất.  Tình hình trên đây cho phép chúng ta có thể chuyển cuộc chiến tranh cách mạng sang thời kỳ giành thắng lợi quyết định. Đây là thời cơ chiến lược lớn để tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa”.

        Nói đến thành công của Mậu Thân 1968, cũng không thể không nói tới sự năng động, nhạy bén và tính kiên định của lãnh đạo của Trung ương Cục, các thành ủy, các khu ủy, chỉ huy các chiến trường các mặt trận và ở từng cơ sở. Thượng tướng Trần Văn Quang đã viết: Một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công ở mặt trận Trị Thiên - Huế là “Khu ủy, Quân khu có quyết tâm cao, ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần kiên quyết, triệt để trong việc chấp hành mệnh lệnh... Khu ủy, Bộ tư lệnh Quân khu còn có ưu điểm chọn cách đánh hợp lý, chuẩn bị và tổ chức đợt hoạt động một cách hết sức tỉ mỉ, cụ thể...”.

        Thắng lợi của Mậu Thân 1968 còn là thắng lợi của lòng quả cảm, trí thông minh và anh dũng tuyệt vời của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc. Để có Mậu Thân 1968, chúng ta đã huy động tổng lực các lực lượng từ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đến đặc công, biệt động, pháo binh... Có thể nói, trong cuộc kháng chiến công Mỹ, nếu không kể cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 sau này, chưa bao giờ ta huy động được một lực lượng cả quân sự và chính trị lớn như vậy. Nhờ đó, chúng ta phát huy cao động được sức mạnh tổng hợp để tiến công đồng loạt và nổi dậy liên tục, làm kẻ thù khiếp sợ, song cũng chính từ những trận chiến đấu ác liệt và kéo dài này, hàng ngàn đồng bào và chiến sĩ ta đã phải ngãxuống. Có những đơn vị biệt động, đặc công chiến đấu và hy sinh đến người cuối cùng. Tinh thần hy sinh cao cả đó của quân và dân ta thật đáng khâm phục.

        Hồ Chủ tịch khi đánh giá thắng lợi Mậu Thân 1968 đã nói: “Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ta, thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn và sức mạnh của toàn dân đoàn kết quyết chiến quyết thắng, quyết giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc”.  Bài học lớn nhất cửa Mậu Thân 1968 chính là ở ý chí kiên cường, quyết tâm cao vào sự sáng tạo, biết dựa vào dân, biết phát huy sức mạnh tổng hợp, đoàn kết, thống nhất và kỷ luật. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, bài học đó vẫn còn nguyên giá trị.


LỜI BAN BIÊN TẬP

        Trong quá trình chuẩn bị Hội thảo khoa học về CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MẬU THÂN 1968, chúng tôi đã nhận được nhiều bản tham luận.

        1. Trong một số bản tham luận, số liệu về biệt động chưa thật thống nhất. Vì là hội thảo khoa học, chúng tôi giữ nguyên theo tác giả.

        2. Do khuôn khổ cuốn sách và điều kiện thời gian có hạn, một số bản tham luận chưa in được trong cuốn kỷ yếu.

        Xin cảm ơn và mong được thông cảm !

HẾT
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM