Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Năm, 2020, 07:39:23 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên  (Đọc 19222 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #20 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2017, 08:47:22 am »

         
CHIẾN SĨ PHÁO BINH LÀM CHỦ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Trong thắng lợi lịch sử ở Điện Biên Phủ của quân và dân ta, Binh chủng Pháo binh đã góp phần to lớn và quyết định. Những cán bộ chiến sĩ pháo binh năm ấy trong bom đạn ác liệt, bất chấp đèo cao suối sâu, đói rét gian khổ nhưng với ý chí quyết chiến, quyết thắng đã chiến đấu quên mình cho chiến thắng vĩ đại. Trong những ngày cả nước hướng về thắng lợi hào hùng của dân tộc, phóng viên Tạp chí Khoa học và Phát triển đã đến thăm và trò chuyện với Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên - nguyên Tư lệnh Pháo binh, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 45 trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Ngôi nhà nhỏ nằm khiêm tốn dưới rặng cây. Tôi gặp khi ông đang chơi đùa với đứa cháu nội tinh nghịch và hiếu động. Khung cảnh thật ấm cúng, yên ả. Đã ngoài 70 nhưng ông vẫn rất nhanh nhẹn và khỏe mạnh, đặc biệt đôi mắt sáng tinh anh, hiền hậu, nếu không được giới thiệu trước có lẽ tôi nghĩ đó là vị giáo sư già chứ không phải là người lính đã từng xông pha trận mạc trên hầu khắp các chiến trường. Khi tôi hỏi ông về chiến dịch Điện Biên Phủ, ông đã kể cho tôi nghe bằng chất giọng ấm áp, chân thành và cảm động:

        Ngày 14 tháng 1 năm 1954, tôi tham gia hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến. Vấn đề đặt ra trước mắt là phải giữ được yếu tố bất ngờ để mở đường kéo pháo 105 ly và cao xạ 37 ly vào chiếm lĩnh trận địa phía Bắc Điện Biên Phủ. Trong điều kiện địch đánh phá ác liệt mà cả Đại đoàn 308 đã mở xong tuyến đường dài 15 ki-lô-mét, rộng 3 mét qua nhiều dốc núi để kéo pháo chỉ trong ngày 15 tháng 1. Cả Đại đoàn 312 cùng trung đoàn công binh dùng sức người kéo mấy chục cỗ pháo lớn nặng trên 2 tấn vượt qua bao đèo cao, suối sâu, suốt 10 ngày đêm. Đây là một kỳ tích lần đầu tiên chúng ta đưa pháo lớn vào trận đánh, nhưng theo quyết tâm chiến dịch thay đổi từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc", chúng ta đã làm đường to cho xe ô tô kéo pháo vào chiếm lĩnh cả bốn phía căn cứ tập đoàn quân địch ở Điện Biên Phủ phát huy đầy đủ tính cơ động, tính bí mật, tính mãnh liệt của trung đoàn trọng pháo đầu tiên của quân đội và cũng nhờ có đường xe mà pháo 105 ly, pháo cao xạ 37 ly chỉ trong ba đêm đã chiếm lĩnh trận địa an toàn, bí mật. Các công sự trận địa của pháo 105 ly phải thật kiên cố, hầm pháo đạn phải có nắp dày 2 mét chống được đạn pháo 155 ly của địch. Chính vì vậy mà Trung đoàn pháo 105 ly trong suốt 55 ngày đêm chiến đấu đã an toàn tuyệt đối, liên tục dùng hỏa lực của mình chi viện cho bộ binh chiến đấu. Sơn pháo, ĐKZ75 ly, cối 82 ly đã khôn khéo len lỏi vào sát địch mà đánh, bám trụ liên tục khống chế sân bay Mường Thanh, và chiếm giữ các độ cao có lợi thế ngắm bắn thẳng quân giặc ở tầm bắn lý tưởng nhất. Cuối chiến dịch, sự xuất hiện của "Ca-chiu-sa Việt Minh" càng làm cho địch hoang mang tan rã. Các trận đánh hay của pháo binh là sự phối hợp tuyệt vời giữa các loại pháo lớn nhỏ, trọng pháo 105 ly đánh vào đội hình bộ binh địch, sơn pháo trên đồi E diệt bốn khẩu 105 ly của địch, khẩu đội ĐKZ75 lycủa đồng chí Trần Đình Hùng diệt xe tăng địch ngay từ viên đạn đầu tiên, rồi trận phản kích vào sáng 7 tháng 5 có xe tăng lên cứ điểm đồi A1 cũng bị hỏa lực toàn Trung đoàn pháo 45 đánh tan nát. Và 20 giờ đêm 6 tháng 5 với tiếng nổ của khối bộc phá 1 tấn trong lòng cứ điểm cuối cùng đồi A1, quân ta ồ ạt đánh chiếm nốt các cứ điểm, sở chỉ huy bắt hàng ngàn tù binh và 17 giờ 55 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, cờ Quyết chiến - Quyết thắng do Đại đoàn 312 tiến công đã cắm trên nóc hầm sở chỉ huy tướng Đờ Ca-xtơ-ri.

        Đây là chiến dịch đầu tiên của quân đội ta có sử dụng pháo 105 ly, vũ khí có kỹ thuật hiện đại để đánh địch. Từ loại pháo khiêng vác, lần đầu tiên có pháo xe kéo với tầm bắn dài 12 ki-lô-mét, uy lực đạn lớn và phải có tính toán khoa học để viên đạn có thể bắn trúng ở tầm xa, khắc phục được điều kiện thời tiết để viên đạn bắn trúng mục tiêu (đạn bay theo hướng cầu vồng và mỗi viên nặng 20 ki-lô-gam).

        Điều đáng lưu ý là trung đoàn pháo binh có tới 70% là những người mù chữ và trong thời gian 17 tháng đã tích cực học tập để có thể tiếp thu khoa học kỹ thuật, sử dụng tốt vũ khí hiện đại từ loại pháo bắn thẳng chuyển sang bắn đạn theo hướng cầu vồng. Phải quan sát chính xác, dùng phương tiện hiện đại qua hai đài quan sát để tìm đúng mục tiêu. Theo đài quan sát, xác định vị trí và tính tọa độ, phương hướng và thông tin bằng vô tuyến điện để truyền khẩu lệnh. Yếu tố chính xác đặt lên hàng đầu. Những người đã biết hướng dẫn cho những người chưa biết để tính toán và ngắm xoay theo góc để có thể bắn trúng mục tiêu.

        Pháo binh là một trong những binh chủng ra đời sớm và phát triển theo sự trưởng thành của quân đội và ngày càng hiện đại. Là Binh chủng chiến đấu bằng trí tuệ, hiệp đồng cao, mau lẹ và hết sức khoa học, Pháo binh là Binh chủng anh hùng, hỏa lực của lục quân và Bác Hồ đã tặng cho Binh chủng Pháo binh tám chữ: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng".

        Thắng lợi Điện Biên Phủ là sự chỉ đạo tài tình và nghệ thuật vận dụng tư tưởng chiến lược tiến công, nghệ thuật tổ chức và phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Nét nổi bật là tiến công hiệp đồng binh chủng tạo nên ưu thế tuyệt đối cả về binh lực lẫn hỏa lực cho từng trận đánh.

        Điện Biên Phủ còn là nghệ thuật sử dụng pháo binh khá độc đáo lần đầu tiên với sự xuất hiện trọng pháo, pháo cao xạ. Tuy số pháo đạn không nhiều nhưng chúng ta đã khéo vận dụng với phương pháp bố trí pháo, kết hợp bố trí trận địa kiên cố của pháo xe kéo với cơ động luồn lách bám trụ đi cùng của sơn pháo, ĐKZ75 ly và cối 82 ly tạo nên sức mạnh hỏa lực trong hiệp đồng chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh. Điện Biên Phủ qua hiệu quả chiến đấu của pháo binh đã đánh dấu bước ngoặt về vị trí, vai trò của hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng và xuất hiện lối đánh độc lập để tiêu diệt từng đơn vị địch phản kích, từng khẩu pháo, xe tăng, máy bay địch. Nếu tôi không nói quả là thiếu sót, Điện Biên Phủ còn thể hiện rõ tinh thần quyết chiến quyết thắng của pháo binh ta trong suốt 55 ngày đêm chiến đấu ác liệt, phải cộng cả 80 ngày đêm chịu đựng gian khổ hy sinh để hoàn thành mọi công việc chuẩn bị chiến đấu và chiếm lĩnh trận địa an toàn bí mật. Tinh thần đoàn kết hiệp đồng thể hiện một cách đầy đủ và tuyệt vời, bộ binh không tiếc mồ hôi xương máu tạo điều kiện thuận lợi nhất cho pháo binh phát huy hỏa lực, công binh và anh chị em dân công mở đường cho pháo đi, vận chuyển đạn cho pháo bắn, tất cả đã tạo nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Diệp Hà ghi                             
(Tạp chí Khoa học và phát triển số 14-1999)       
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Hai, 2017, 09:55:22 pm gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #21 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2017, 09:58:30 pm »


KHÔNG NGỪNG PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG CỦA PHÁO BINH ĐIỆN BIÊN PHỦ

        Năm 1954, bộ đội pháo binh đã góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ. Sau chiến thắng, Bộ chỉ huy Mặt trận đã đánh giá cao vai trò của pháo binh ta trong chiến dịch: "Một trong những yếu tố thắng lợi là ta có lực lượng pháo binh mạnh với trang bị tương đối hoàn chỉnh, phát huy được hiệu quả cao nhất của sức mạnh hỏa lực, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ...".

        Với đội ngũ pháo binh mang vác thiện chiến và đội ngũ pháo binh cơ giới (Trung đoàn lựu pháo 105 ly) lần đầu xuất trận, nhiệm vụ của pháo binh trong chiến dịch là: Hiệp đồng cùng bộ binh, công binh, cao xạ và lực lượng chiến đấu khác phá hủy công sự, tiêu diệt sinh lực địch, bảo đảm cho bộ binh đột phá thành công từng cụm từng cụm cứ điểm, bóc đi từng lớp "vỏ cứng" của tập đoàn cứ điểm, tiến đến tổng công kích giành thắng lợi hoàn toàn.

        Quá trình tác chiến chi viện cho bộ binh đột phá là quá trình thường xuyên dùng hỏa lực hiệp đồng đánh công kiên, đánh vây lấn, đánh quân địch phản kích; đồng thời thường xuyên chế áp, tiêu diệt pháo địch, khống chế sân bay; bắn phá sở chỉ huy, kho tàng của tập đoàn cứ điểm...

        Quán triệt sâu sắc phương châm, tư tưởng chỉ đạo tác chiến: "Tích cực, chủ động, cơ động linh hoạt"; "Đánh chắc, tiến chắc", bộ đội pháo binh đã bí mật, bất ngờ, cơ động giỏi, tập trung lực lượng cao, vượt qua mọi khó khăn, thử thách xây dựng thế trận mạnh và hiểm hóc, đánh địch liên tục, càng đánh càng áp đảo địch.

        Cách trung tâm Mường Thanh từ 3 đến 8 ki-lô-mét là vành đai sáu trận địa của sáu đại đội lựu pháo được khoét vào núi, phân tán trên một vòng cung 30 ki-lô-mét, ôm gọn lấy lòng chảo từ Đông qua Bắc đến Tây Bắc tập đoàn cứ điểm; 23 đài quan sát pháo binh các cấp được triển khai trên các điểm cao bao quanh Điện Biên Phủ, trong các đường hào tiền duyên, có thể phát hiện mọi hoạt động của địch, gọi bắn kịp thời cả ngày lẫn đêm.

        Vành đai sát địch, cách sở chỉ huy Đờ Ca-xtơ-ri từ 300 đến 3.000 mét là hệ thống trận địa sơn pháo 75, súng cối 120 ly của ta. Còn ĐKZ, súng cối nhẹ (60 - 81 - 82 ly) thì chiếm lĩnh, bám trụ cùng xung kích ngay trong đường hào tiến công, trong trận địa vây lấn sát gần, mặt đối mặt với quân thù.

        Thế bố trí hỏa lực nhiều tầng, nhiều lớp với mọi tầm cỡ và nhiều chủng loại như thế đã tạo thành lưới lửa, kịp thời chi viện cho bộ binh và hỗ trợ đắc lực cho nhau, khiến địch không sao đối phó nổi.

        Tích cực, chủ động hiệp đồng lập công tập thể là sức mạnh, là bài học truyền thống tiêu biểu của bộ đội pháo binh.

        Điện Biên Phủ là chiến dịch hiệp đồng quy mô lớn, đánh tập trung của bốn đại đoàn bộ binh chủ lực và Đại đoàn công - pháo 351. Pháo binh cơ giới lần đầu xuất trận đã đến được các chiến trường an toàn, bí mật, đúng thời gian, pháo được kéo bằng sức người qua những triền núi cao và được bố trí trong những căm hầm khá kiên cố, trước hết là nhờ có sự chi viện tích cực bằng trí tuệ, mồ hôi, công sức và cả máu nữa của các đại đoàn, các binh chủng bạn, của nhân dân ở ngay tiền tuyến và cả hậu phương.

        Điện Biên Phủ là trận đánh công kiên lớn nhất từ trước đến lúc bấy giờ của quân đội ta. Phương thức tác chiến của ta là trận địa vây lấn tiến công. Bộ binh ta đánh đến đâu phải làm chủ giữ vững trận địa đến đấy, đồng thời liên tục vây lấn, bắn tỉa, đào hào vây, chia cắt, thọc đường hào tiến công vào các cứ điểm cắt ngang sân bay và chia cắt các phân khu của chúng. Đối lại phương thức ấy, địch đã liên tiếp phản kích, giành giật quyết liệt với ta từng cứ điểm, từng mét hào. Hỏa lực pháo binh đặc biệt là hỏa lực lựu pháo chẳng những đã chi viện đắc lực cho bộ binh liên tiếp đột phá thắng lợi các trung tâm đề kháng địch mà còn tích cực chi viện cho bộ binh giữ vững trận địa, đập tan mọi trận phản kích bằng bộ binh và xe tăng của chúng.

        Các chiến sĩ lựu pháo, pháo cao xạ trẻ tuổi lần đầu ra quân đã bố trí bên nhau, bảo vệ đội hình chiến đấu cho nhau, cùng tích cực chi viện cho bộ binh đột phá tiến công, cùng đánh phá sân bay, cắt đứt đường tiếp tế, tiếp viện bằng đường không của địch. Hầu hết số máy bay thường trực trên hai đường bằng Mường Thanh, Hồng Cúm đã bị lựu pháo, sơn pháo, súng cối ta hủy diệt. Đêm 28 tháng 3 năm 1954, sân bay địch coi như bị mất hiệu lực. Từ đó, địch chỉ còn tiếp tế, tiếp viện bằng thả dù, song rất hạn chế vì tập đoàn cứ điểm đang bị thu hẹp bởi vòng vây quân ta ngày càng siết chặt. Hơn 50% lương thực, thực phẩm vũ khí, đạn dược của địch đã thả lạc sang trận địa ta. Pháo binh ta đã thu được 5.500 viên đạn lựu pháo 105 ly, đạn súng cối 120 ly, cùng rất nhiều đạn súng cối 81 ly do địch thả dù.

        Chân đồng, vai sắt, cơ động giỏi là truyền thống tiêu biểu và là bài học lớn thứ hai của bộ đội pháo binh trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #22 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2017, 09:59:01 pm »


        Đầu năm 1953, Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 351: "Khiêng pháo đi xa, đặt gần, bắn thẳng; bắn 100 phát trúng cả 100 thì đồn nào mà không hạ được". Làm theo chỉ thị của Người, đội ngũ pháo binh mang vác, với đôi chân đồng đôi vai sắt, đã cùng xung kích đi khắp các chiến trường đánh địch.

        Đáng chú ý là cuộc hành quân của hai trung đoàn pháo binh cơ giới (Trung đoàn lựu pháo 105 ly, trung đoàn pháo cao xạ 37 ly), đã giữ được bí mật tuyệt đối.

        Hai đoàn xe pháo cơ giới của ta đã vượt qua 500 ki-lô-mét đường độc đạo rừng núi, với bao đèo cao, vực thẳm như Lũng Lô, Tạ Khoa, Cò Nòi, Pha Đin... tập kết an toàn, đầy đủ, đúng thời gian quy định. Đến khi pháo ta nổ súng, kẻ thù vẫn không thể hình dung nổi làm sao ta lại có thể đưa được những khẩu pháo lớn lên núi rừng Điện Biên.

        Lấy sức người thay cơ giới là truyền thống "chân đồng vai sắt - cơ động giỏi" của các chiến sĩ sơn pháo được phát huy lên trong một điều kiện mới, yêu cầu mới. Khi Đại đoàn 308 có lệnh thần tốc, bất ngờ vượt biên giới, cùng bộ đội Pa-thét Lào đánh địch như vũ bão dọc theo tuyến sông Nậm Hu, tới tận Mường Lại và sát Luông Pha-băng, chiến sĩ pháo binh mang vác của các đại đội 765, 112, 113 đã theo tiếng gọi hiệp đồng "có lệnh là đi, có địch cùng đánh". Khi lên đường, các chiến sĩ pháo binh chỉ có một ngày gạo mang theo. Có đơn vị đã vừa nặng nề khiêng, vác pháo đạn, chỉ có nõn chuối, củ rừng thay cơm mà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

        Không ngừng rèn luyện học tập nắm vững bản lĩnh chỉ huy thuần thục, tinh thông chiến thuật, kỹ thuật làm chủ mọi trang bị để luôn luôn đánh giỏi, bắn trúng, phát huy cao nhất sức mạnh hỏa lực là bài học truyền thống thứ ba của pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Trước và trong chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ pháo binh đã phải nỗ lực nhiều mặt, không ngại khó, ngại khổ, ngại hy sinh, trên dưới một lòng tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu khá công phu để chuẩn bị thật chu đáo từ đội hình bố trí theo yêu cầu đánh lâu dài, đánh chắc thắng, bắn chắc trúng, đến công tác đo đạc bảo đảm độ chính xác cao, bảo đảm thông tin chỉ huy thông suốt, và các mặt bảo đảm khác như xe, pháo đạn. Đại đội sơn pháo 757 đã nổ súng kiềm chế, bắn phá sân bay địch từ trước ngày mở màn chiến dịch hàng tháng. Các chiến sĩ đã kiên cường hứng chịu bom, đạn của địch, đã mưu trí biết kết hợp chặt chẽ với trận địa nghi binh, nổ súng đúng thời cơ, đã bắn là trúng, ngày nào cũng lập công. Có ngày, khẩu đội đồng chí Đạt bắn một phát diệt luôn hai máy bay địch. Có hôm, một máy bay vận tải vừa hạ cánh liền bị ba viên đạn sơn pháo bắn trúng. Địch vội cho một xe tải chạy tới định kéo máy bay chạy trốn, liền bị bắn bồi cho một phát. Cả máy bay và ô tô bốc cháy, loạt đạn, lựu pháo 105 ly đầu tiên nổ tập trung cả 18 viên vào đúng trên đồi chỉ huy của trung tâm đề kháng Him Lam góp phần mở màn giòn giã cho trận đánh.

        Nhiều trận đánh quân phản kích địch, các chiến sĩ lựu pháo, sơn pháo, súng cối đã bắn tập trung, đánh kịp thời rất chính xác, loại khỏi vòng chiến đấu nhiều sinh lực tinh nhuệ của tập đoàn cứ điểm. Trong trận chi viện cho Trung đoàn bộ binh 98 chiếm giữ cứ điểm C1, Đại đội lựu pháo 804 đã đưa đường đạn vào trúng đội hình phản kích địch khi chúng chỉ cách xung kích ta có 100 mét.

        Đánh gần, đánh giỏi, bắn trúng là mục tiêu phấn đấu rèn luyện thường xuyên của bộ đội pháo binh. Truyền thống quý báu đó ngày càng được bồi dưỡng và đã phát huy cao trong đánh Mỹ.

        Đánh giỏi, bắn trúng bao giờ cũng đi đôi với truyền thống sử dụng tiết kiệm đạn, không bắn ẩu, không bắn khi không quan sát thấy mục tiêu, đã nổ súng là phải có hiệu quả, có hiệu suất chiến đấu cụ thể.

        Trong trận đánh lịch sử Điện Biên hầu như pháo ta bắn không có loạt đạn nào lãng phí, không có mục tiêu nào pháo ta bắn mà không có quan sát sửa bắn kể cả ban ngày lẫn ban đêm.

        Việc giữ gìn, sử dụng bền lâu vũ khí, khí tài, xe cộ trang bị, biết tiết kiệm từng viên đạn đã trở thành một trong những truyền thống vô cùng quý báu của bộ đội pháo binh ta.

        Ôn lại truyền thống quý báu của bộ đội pháo binh trong chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đội ngũ pháo binh ta hôm nay càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình phải giữ gìn, phát huy cao những bài học truyền thống trong giai đoạn mới của cách mạng. Trong mọi cương vị, mỗi cán bộ, chiến sĩ pháo binh nguyện xứng đáng với thế hệ Điện Biên anh hùng, quyết phấn đấu cho Binh chủng tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao, góp phần tích cực nhất của mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

        Cán bộ, chiến sĩ pháo binh hiện nay đang sống và chiến đấu như thế hệ cha anh ở Điện Biên Phủ, quyết xứng đáng là những chiến sĩ của Binh chủng Pháo binh anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.

(Báo Quân đội nhân dân số 8260 ngày 01-6-1984)       
Pháo binh chống đế quốc Mỹ xâm lược                 
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #23 vào lúc: 13 Tháng Hai, 2017, 10:03:48 pm »


ĐƯA TRỌNG PHÁO VÀO MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9 - KHE SANH XUÂN 1968

        Cách đây gần 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào đàm phán với ta.

        Cùng tham gia đòn tiến công và nổi dậy ấy của quân dân miền Nam, bộ đội pháo binh cũng đã lần đầu trong lịch sử chiến đấu của mình bất ngờ và táo bạo đưa một lực lượng pháo đông đảo với nhiều loại pháo hiện đại để sử dụng đánh vào một chiến trường mà quân đội xâm lược Mỹ đã tập trung xây dựng thành tuyến phòng thủ kiên cố với số quân chiếm đóng đông nhất và hỏa lực pháo mạnh nhất theo dọc Đường 9 - Khe Sanh đến biên giới Lào.

        Trên cơ sở nắm bắt ý đồ chiến lược của Bộ và sự hướng dẫn Kế hoạch của Cục Tác chiến, từ tháng 8 năm 1967 Bộ Tư lệnh Pháo binh đã cử một đoàn cán bộ tham mưu tác chiến mang theo toàn bộ Trung đoàn trinh sát pháo binh 97 vào chiến trường Đường 9 - Khe Sanh với nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường cho một lực lượng pháo lớn gồm năm trung đoàn và một tiểu đoàn pháo hỏa tiễn (trong đó có ba trung đoàn pháo dự bị của Bộ 45 - 675 - 204 và Tiểu đoàn 16 hỏa tiễn) để tham gia tác chiến chi viện cho ba sư đoàn bộ binh 304, 320, 325 và Trung đoàn độc lập 270 với nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hút, giam chân càng nhiều đơn vị với thời gian càng dài càng tốt để tạo điều kiện cho toàn bộ lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam thực hiện một ý đồ chiến lược quan trọng tuyệt mật.

        Đây là lần đầu ta sử dụng một số lượng đơn vị pháo lớn gồm nhiều loại trọng pháo (130, 152, Đ74, 100, 105, 85 và ĐKB) bố trí sát sông Bến Hải và cả phía Nam vĩ tuyến 17. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để đưa được khối lượng xe pháo gần 200 khẩu chiếm lĩnh trận địa bí mật an toàn rồi bất ngờ nổ súng theo thời gian quy định. Yếu tố "bí mật bất ngờ" trong sử dụng pháo được đưa lên hàng đầu vì ở đây kể từ năm 1965, khi quân Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam, chúng đã áp dụng mọi biện pháp hiện đại như hàng rào điện tử, thả máy trinh sát tiếng động cơ xe, đặt hệ thống trạm rađa phát hiện pháo ta cùng với hàng ngày tung các lực lượng thám báo nhằm theo dõi mọi hành động của bộ đội pháo, nhưng chúng ta cũng đã có kinh nghiệm giữ bí mật bất ngờ trong lần đầu sử dụng trọng pháo ở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Lần này, quân xâm lược Mỹ vẫn cứ bị bất ngờ về nghệ thuật giữ bí mật của pháo binh ta, vì chúng có ngờ đâu trong thế trận chiến tranh nhân dân phát triển mạnh ở vùng địch tạm chiếm Quảng Trị, các buồng nhà dân là kho chứa đạn pháo lớn, ngoài sân vườn nhà dân là trận địa bắn pháo, những chiếc áo màu, chiếc đòn gánh của các cô gái cắt cỏ, làm đồng quanh các căn cứ quân sự của Mỹ lại là ký hiệu, vật chuẩn để chiến sĩ pháo binh đo đạc xác định phần tử bắn. Quân Mỹ cũng không ngờ cả một trung đoàn trọng pháo do xe xích kéo pháo Đ74 bắn xa 24 ki-lô-mét đã được bí mật xây dựng trong vùng rừng núi tỉnh Hòa Bình rồi bất ngờ hành quân bôn tập liên tục 47 ngày đêm dọc theo đường Trường Sơn qua ngầm Tà Lê, cua chữ A, đèo Phu La Nhích và an toàn chiếm lĩnh trận địa ở Nam vĩ tuyến 17 ngay trong vùng đường 9 sẵn sàng nổ súng vào cụm cứ điểm Tà Cơn - Khe Sanh; còn ở phía Bắc sông Bến Hải theo sự điều hành chỉ huy của cơ quan pháo Mặt trận, từng đại đội pháo 130, 152, 100, 105, 85 lần lượt bí mật chiếm lĩnh theo các đường cơ động được ngụy trang kín đáo. Để bảo đảm tuyệt đối giữ bí mật trong việc chuẩn bị chiến trường, mọi công tác chuẩn bị cho năm trung đoàn pháo từ việc xác định đội hình chiến đấu đến tính toán các phần tử bắn cho từng mục tiêu đều do đoàn cán bộ chiến sĩ đi chuẩn bị chiến trường của Bộ Tư lệnh pháo và cơ quan pháo Quân khu 4 đảm nhiệm tiến hành ròng rã trong bốn tháng và chỉ được lệnh bàn giao cho người chỉ huy trung đoàn pháo khi Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh chính thức giao nhiệm vụ tác chiến cho các Sư đoàn trưởng bộ binh.

        Với khối lượng công tác chuẩn bị chiến đấu lớn trên một chính diện mặt trận gần 70 ki-lô-mét, cán bộ chiến sĩ pháo đã khắc phục muôn vàn khó khăn, chịu đựng gian khổ và đã giữ được bí mật tuyệt đối, đưa toàn bộ 200 khẩu đại pháo của năm trung đoàn pháo vào trận địa bắn an toàn, trong đó có ba trung đoàn 45 - 675 - 84 đều bố trí trận địa ở Nam vĩ tuyến 17.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #24 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 12:40:00 am »


        Theo ý định của Bộ, Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh sẽ nổ súng sớm để thu hút địch. Theo lệnh của Tư lệnh Mặt trận Trần Quý Hai, tất cả 200 khẩu pháo lớn và hàng trăm khẩu cối, đã bất ngờ dội bão lửa vào các căn cứ sân bay, kho tàng, sở chỉ huy Mỹ ở Tà Cơn, các căn cứ hỏa lực Mỹ ở điểm cao 24, Quán Ngang, Đông Hà, Dốc Miếu và hầu hết các cứ điểm Mỹ - ngụy từ Cửa Việt đến Huổi San, Lao Bảo. Đạn trúng mục tiêu gây cho địch thương vong lớn, phá hủy nhiều máy bay, cụm pháo, làm nổ nhiều kho ở cụm cứ điểm Tà Cơn. Hoảng hốt trước đòn tiến công của ta, tướng Oét-mo-len đã phải thân chinh ra đường 9 trinh sát và ra lệnh dùng mọi ưu tiên để chống đỡ với cuộc tiến công của ta. Từ nước Mỹ, Giôn-xơn cũng phải tuyên bố: "...Chúng ta đang ở đêm trước một cuộc tiến công lớn vào Khe Sanh, tôi không muốn có một Điện Biên Phủ ở Khe Sanh...", tất cả mọi chú ý của kẻ địch đều dồn cả về Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh thì một bất ngờ lớn hơn trong lịch sử chiến tranh cách mạng ở nước ta, vào đêm 31 tháng 1 năm 1968 (Tết Mậu Thân) cùng với quân dân toàn miền Nam, Pháo binh Việt Nam đã tiến hành thắng lợi một cuộc tập kích hỏa lực mang tính chiến lược đều khắp vào hầu hết các mục tiêu chủ yếu trên khắp chiến trường miền Nam - mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968 và đã gây cho địch bị động lúng túng và thiệt hại rất lớn về phương tiện chiến tranh, đồng thời tạo khí thế cho các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân ta nổi dậy, làm chủ. Còn ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh dưới bom đạn ác liệt, pháo xe kéo vẫn kiên cường bám trụ liên tục bắn phá cụm cứ điểm Tà Cơn suốt trong 170 ngày đêm làm chúng không chịu đựng nổi, đến tháng 7 năm 1968, giặc Mỹ đã phải nhục nhã rút chạy khỏi Tà Cơn - Khe Sanh. Một vùng giải phóng rộng lớn phía Tây Đường 9 -Quảng Trị đã được giải phóng tạo thế cho quân dân ta mở những chiến dịch tiến công lớn hơn sau này.

        Với chiến thắng Đường 9 - Khe Sanh đã mở ra một khả năng ta có thể dùng nhiều đơn vị pháo lớn cùng bộ binh tiến công vây hãm cụm cứ điểm phòng ngự kiên cố của Mỹ - ngụy dài ngày dưới điều kiện phi pháo hết sức ác liệt của chúng.

        Cũng từ chiến thắng Khe Sanh với việc vận dụng yếu tố bí mật - bất ngờ và táo bạo trong sử dụng pháo binh là tiền đề để chúng ta sử dụng rộng rãi pháo xe kéo kể cả trọng pháo ở chiến trường miền Nam.

        Tạo bí mật bất ngờ là một nghệ thuật sử dụng pháo, cũng là biểu hiện trình độ và tài nghệ của người chỉ huy và cơ quan tham mưu pháo các cấp đã có nhiều mưu kế luôn sáng tạo ra cái bất ngờ mà kẻ địch tưởng ta không thể làm được; chính cái mà ta đã làm được đó mới đem lại hiệu quả chiến đấu cao nhất trong nghệ thuật sử dụng Pháo binh Việt Nam.

        Nguyễn Trung Kiên - Nguyên  Chủ nhiệm Pháo binh Đường 9 - Khe Sanh
       (Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng báo Quân đội nhân dân tháng 5-2006)

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #25 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 12:43:38 am »


PHÁO BINH MẶT TRẬN ĐƯỜNG 9 - KHE SANH TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968

        Trước khi nói về pháo binh Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, xin được tóm tắt về lai lịch của hai loại pháo hỏa tiễn mang vác được dùng chủ yếu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của các lực lượng pháo binh miền Nam là: pháo hỏa tiễn A12 và pháo ĐKB.

        Về pháo hỏa tiễn mang vác A12:

        Năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, lúc đó tôi là Trưởng phòng Tác chiến Bộ Tư lệnh Pháo binh, được đi theo đồng chí Nguyễn Thế Lâm - Tư lệnh Pháo binh, tới "Nhà rồng" gặp đồng chí Trần Văn Trà, Tổng Tham mưu phó, thay mặt Bộ giao nhiệm vụ tác chiến, đại ý như sau:

        "... Mỹ đã nhảy vào miền Nam với số quân rất lớn; vũ khí trang bị, máy bay, bom đạn, xe cộ tràn ngập và xếp ngổn ngang tại các cảng, sân bay, các căn cứ quân sự, doanh trại dã ngoại. Ta có cách gì đưa được đạn, pháo lớn có uy lực sát thương mạnh, chỉ vài quả đạn mà bắn vào các mục tiêu ấy thì ăn to! Không những chúng bị trừng trị, bị tổn thất nhiều về sinh lực, phương tiện chiến tranh mà còn bị suy sụp mạnh về tinh thần. Các đồng chí về khẩn trương nghiên cứu rồi báo cáo Bộ".

        Trên xe trở về cơ quan, hai chúng tôi đều suy nghĩ: bây giờ ta chưa có điều kiện đưa pháo xe kéo vào đánh, nếu chỉ dùng cối 82 ly hoặc ĐKZ thì tầm bắn hạn chế, quân Mỹ tăng cường phòng thủ, khó tiếp cận, uy lực đạn lại nhỏ thì hiệu quả sẽ không cao. Thế rồi, chúng tôi chợt nghĩ đến một loại pháo hỏa tiễn mà Liên Xô mới viện trợ, tức là pháo hỏa tiễn BM-14. Đây là một loại pháo đặt trên xe ô tô, mỗi xe có một dàn 17 ống phóng, cỡ đạn 140 ly, tầm bắn xa 8 ki-lô-mét, trong vài giây đồng hồ lần lượt 17 quả đạn bay ra khỏi ống phóng, lao tới mục tiêu; mỗi xe lại có một ống phóng dự bị, có thể tách ra bắn từng viên đạn với từng ống phóng. Ý định sử dụng loại vũ khí này được Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Pháo binh hoàn toàn nhất trí và báo cáo Bộ. Bộ lập tức phê chuẩn và chỉ thị cho các cơ quan nghiên cứu kỹ thuật, các công binh xưởng của Bộ cùng Binh chủng tập trung nghiên cứu bắn thử. Ta nghiên cứu không những chỉ dùng bắn đạn hỏa tiễn có ống phóng mà còn nghiên cứu cả cách bắn không cần ống phóng. Chúng tôi nghiên cứu thành công rồi cho sản xuất hàng loạt ống pháo. Bộ đặt tên cho loại pháo hỏa tiễn này là A12.

        Pháo hỏa tiễn ĐKB:

        Trong thời gian cơ quan Binh chủng cùng cơ quan Bộ nghiên cứu thành công pháo hỏa tiễn A12 thì Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ và Bộ Quốc phòng cũng nhờ Chính phủ Liên Xô giúp nghiên cứu sản xuất một loại pháo với những yêu cầu chiến thuật là: tầm bắn xa trên dưới 10 ki-lô-mét, uy lực lớn, gây cháy, sát thương nhiều phương tiện chiến tranh và nhất là bộ đội ta có thể mang vác được thuận lợi ở địa hình rừng núi. Dựa vào cấu tạo loại đạn pháo hỏa tiễn BM-21 với cỡ đạn 122 ly bắn xa được 10.800 mét. Bạn đã chế tạo cho ta một loại pháo đáp ứng được yêu cầu trên. Loại pháo này có hai bộ phận, nòng pháo và chân pháo, mỗi bộ phận chỉ cần một người mang vác gọn nhẹ, đạn nổ có độ nóng cao, mảnh đạn nhiều. Đúng ngày mồng 2 Tết Bính Ngọ (1966), pháo và đạn đã sang tới Việt Nam. Lúc đầu ta đặt tên loại pháo hỏa tiễn này là ĐKZ66, sau đổi thành ĐKB với ý định loại pháo hỏa tiễn này sẽ là loại pháo lớn chuyên dùng cho các chiến trường miền Nam.

        Sau khi nghiên cứu và bắn thử thành công cả pháo A12 và ĐKB, theo lệnh Bộ, ngày 17 tháng 4 năm 1966, Binh chủng Pháo binh được vinh dự tổ chức bắn trình diễn cả hai loại pháo với nhiều tầm bắn khác nhau để báo cáo Bác Hồ và Bộ Chính trị. Địa điểm bắn tại núi Múc trên trường bắn Pháo binh Hòa Lạc, Sơn Tây. Xem bắn xong, Người rất hài lòng và chỉ vào khẩu pháo hỏa tiễn A12 nói vui với mọi người: "Hàng nội hóa đấy!".

        Tiếp đó, theo chỉ thị của Bộ, một loạt các trung đoàn, tiểu đoàn độc lập được cấp tốc thành lập để tiếp nhận hai loại vũ khí mới này. Từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1968, các đơn vị được thành lập xong. Sau khi được huấn luyện sáu tháng và tổ chức bắn đạn thật kết quả tốt, các đơn vị được lệnh hành quân tăng cường vào các chiến trường sau: Trung đoàn 368B trang bị pháo ĐKB vào chiến trường Khu 5; Trung đoàn 84A trang bị pháo ĐKB vào chiến trường Nam Bộ; Trung đoàn 84B trang bị pháo ĐKB vào Mặt trận B5 Quảng Trị; Tiểu đoàn 99 trang bị pháo A12 vào Mặt trận Đà Nẵng; Tiểu đoàn 95 và Tiểu đoàn 96 trang bị pháo A12 vào chiến trường Tây Nguyên; Trung đoàn 45 trang bị ĐKB vào Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh; ba Tiểu đoàn 32, 33, 34 trang bị hỗn hợp ĐKB và A12 vào chiến trường Thừa Thiên - Huế.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #26 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 12:45:57 am »


        Tổng số pháo đưa vào chiến trường là 500 pháo A12 và 200 khẩu ĐKB. Chính lực lượng này đã giáng cho địch những đòn sấm sét, làm nên chuyện thần kỳ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

        Tháng 8 năm 1967, theo lệnh của Tư lệnh Pháo binh, tôi lên gặp đồng chí Lê Ngọc Hiền - Cục trưởng Cục Tác chiến, để nhận kế hoạch đi chuẩn bị chiến trường mùa khô 1967 - 1968. Anh Hiền nói sơ qua việc tổ chức một bộ phận đi trước, cùng một số cán bộ của Bộ, vào chuẩn bị chiến trường cho một Mặt trận mới ở Đường 9 - Khe Sanh. Mặt trận này sẽ có một trung đoàn pháo xe kéo, trang bị loại pháo mới Đ74 vào chiến đấu ở Nam vĩ tuyến 17. Anh dặn: "Cậu đã có kinh nghiệm chiến đấu pháo ở Điện Biên Phủ nên Bộ đã trao đổi với Bộ Tư lệnh Pháo binh cử cậu đi. Tuyệt đối bí mật, chỉ mình cậu biết thôi".

        Trở về cơ quan, tôi huy động một số anh em có kinh nghiệm trinh sát, đo đạc và mang theo các phân đội đo đạc, trinh sát và máy thông tin 15 oát. Chúng tôi hành quân bằng xe vào Nông trường Quyết Thắng ở Tây Vĩnh Linh. Đến đấy, chúng tôi để xe lại rồi hành quân bộ theo đường mòn qua đồn biên phòng Cù Bai đến khu vực Hướng Hóa - Khe Sanh, triển khai chuẩn bị chiến trường cho hai trung đoàn pháo sẽ vào tham gia chiến đấu. Giữa tháng 10, mọi công tác chuẩn bị (đo đạc phần tử, dự kiến bố trí đội hình chiến đấu, xác định trận địa bắn, xác định tọa độ bắn cho các mục tiêu chủ yếu, đường để đưa pháo vào trận địa...) đã hoàn thành. Cuối tháng 11 năm 1967, Trung đoàn 675 được trang bị 36 khẩu pháo Đ74, có tầm bắn xa 24 ki-lô-mét mới được Liên Xô viện trợ và lần đầu sử dụng ở chiến trường Việt Nam, từ Hòa Bình bắt đầu hành quân vào chiến trường bằng xe xích. Dựa vào kinh nghiệm hành quân trước đây của lựu pháo 105 ly ở chiến trường Điện Biên Phủ, trung đoàn tổ chức đơn vị thành năm khối, mỗi khối đều có máy thông tin 15 oát, đêm đi, ngày nghỉ. Qua 46 ngày đêm theo đường Tây Nghệ An, Quảng Bình rồi nhập đường Trường Sơn qua cua chữ A, ngầm Tà Lê, đèo Phu La Nhích... đến đầu tháng 1 năm 1968, đơn vị đã tập kết đầy đủ, an toàn, bí mật ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh. Trung đoàn 45 trang bị khẩu pháo ĐKB, ngày 13 tháng 12 năm 1967, cũng từ Vĩnh Linh hành quân sang Mặt trận này.

        Theo kế hoạch, Mặt trận Quảng Trị bao gồm cả Đường 9 - Khe Sanh, sẽ nổ súng sớm hơn các chiến trường toàn miền Nam, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, thu hút, giam chân càng nhiều đơn vị địch ở chiến trường Quảng Trị với thời gian càng dài càng tốt để tạo thế và hiệp đồng với các chiến trường toàn Miền.

        Dựa vào hai trung đoàn pháo dự bị của Bộ (45 và 675), pháo binh của Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh được tổ chức thành hai cụm pháo hỗn hợp, cụ thể như sau:

        - Cụm Bắc do Trung đoàn 45, được tăng cường một Tiểu đoàn pháo xe kéo Đ74 của Trung đoàn 675, bố trí trận địa trên trục đường quân sự làm gấp Tây Bắc Tà Cơn, Hướng Hóa, có nhiệm vụ đánh phá các mục tiêu chủ yếu của Mỹ ở Tà Cơn và trực tiếp chi viện cho Sư đoàn 325 chiến đấu.

        - Cụm Nam do Trung đoàn 675, được tăng cường một Tiểu đoàn pháo ĐKB của Trung đoàn 45, bố trí trận địa trên trục đường 9, ngoài nhiệm vụ bắn vào các mục tiêu chiến dịch còn trực tiếp chi viện cho Sư đoàn 304 chiến đấu.

        Đúng 2 giờ ngày 21 tháng 1 năm 1968, cả hai hướng trên Mặt trận Quảng Trị, với 210 khẩu pháo lớn, trong đó có cả hai trung đoàn pháo ĐKB và A12, bắt đầu nổ súng. Riêng ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, hai trung đoàn pháo tập trung bắn mạnh vào các căn cứ quân sự Mỹ ở Tà Cơn, nhằm vào khu sân bay, sở chỉ huy, căn cứ hỏa lực pháo binh, kho tàng. Lợi dụng kết quả bắn của pháo, Sư đoàn 304 nhanh chóng đánh chiếm quận lỵ Hướng Hóa. Liên tiếp mấy ngày sau, quân ta đánh chiếm cứ điểm Huổi San, Lao Bảo. Đòn phủ đầu bất ngờ này đã gây cho địch nhiều tổn thất lớn.

        Nhưng bất ngờ hơn nữa là trong khi Mỹ phán đoán ta sẽ tiến công lớn vào Khe Sanh - Tà Cơn thì 0 giờ đêm 31 tháng 1 năm 1968, khi Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam vừa dứt lời Thơ chúc Tết của Bác Hồ kính yêu, một đòn tập kích hỏa lực pháo như vũ bão đã giáng xuống đầu kẻ thù. Hàng vạn viên đạn A12, ĐKB, cối, ĐKZ của các lực lượng pháo binh toàn miền Nam đã rót xuống trên 300 căn cứ quân sự, sân bay, quân cảng và cơ quan đầu não của Mỹ - ngụy, năm thành phố lớn, trong đó có Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và hầu hết 36 tỉnh lỵ và 100 quận lỵ trên khắp miền Nam.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #27 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 12:05:57 pm »


        Tại Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, để uy hiếp địch mạnh hơn và buộc địch phải đưa viện binh ra chiến trường này, từ 25 tháng 1 năm 1968, Sở chỉ huy Mặt trận đã tổ chức một bộ phận xuống cánh Nam giúp Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 tổ chức trận tiến công hiệp đồng binh chủng vào cứ điểm Làng Vây. Tôi được phân công theo Sở chỉ huy và được toàn quyền sử dụng pháo đạn của một tiểu đoàn Đ74 trong trận đánh.

        Căn cứ Làng Vây là căn cứ của một tiểu đoàn biệt kích, được xây dựng trên hai quả đồi, có công sự nửa nổi nửa chìm bằng bê tông cốt thép, có hệ thống mìn và sáu lớp hàng rào dây thép gai. Địch tổ chức phòng ngự thành bốn khu vực riêng biệt cho bốn đại đội biệt kích thám báo ngụy. Quân số có khoảng 700 lính ngụy và 30 cố vấn Mỹ. Căn cứ này được pháo binh và trực thăng của Mỹ từ Tà Cơn, Khe Sanh chi viện.

        Lực lượng ta có Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, Tiểu đoàn 3, Sư đoàn 325, hai đại đội xe tăng (8 chiếc), hai đại đội đặc công của Bộ. Về pháo, ngoài pháo cối 120 ly, cối 82 ly và ĐKZ trong biên chế, Sư đoàn còn được Mặt trận tăng cường một tiểu đoàn pháo Đ74 trực tiếp chi viện tiến công. Đây là một trận tiến công hiệp đồng binh chủng đầu tiên của bộ đội ta ở miền Nam, có pháo xe kéo, xe tăng, đặc công, bộ binh, công binh, đánh vào một vị trí đóng quân của địch có công sự vững chắc.

        Đúng 0 giờ 17 phút ngày 7 tháng 2 năm 1968, pháo binh bắt đầu tiến hành hỏa lực chuẩn bị bằng hai Trung đoàn pháo 675 và 45 vào các căn cứ hỏa lực pháo binh, sở chỉ huy quân Mỹ ở Tà Cơn, cao điểm 845. Sau 15 phút, tiểu đoàn pháo Đ74 trực tiếp chi viện cho trận đánh, chuyển sang bắn vào Làng Vây, công binh bảo đảm cho xe tăng cơ động dựa theo suối, bí mật tiếp cận cứ điểm. Thấy pháo ta ngày càng bắn mãnh liệt, quân địch ở điểm cao 230 chạy dồn cả về cao điểm 320, nơi có công sự kiên cố hơn. Đài quan sát tiền phương bám theo bộ binh báo về và theo yêu cầu của người chỉ huy bộ binh, tiểu đoàn pháo tập trung hỏa lực cả 12 khẩu chuyển làn bắn vào cao điểm 320, kết hợp cả đạn nổ ngay và đạn nổ chậm. Cùng lúc đó, bộ binh ta cùng pháo bắn thẳng lần lượt mở xong các cửa mở.

        Khoảng 3 giờ ngày 7 tháng 2, bộ binh phát tín hiệu xung phong, pháo ngừng bắn, tám xe tăng của ta từ hai hướng, hất bỏ lá ngụy trang, đột nhiên xuất hiện dẫn đầu bộ binh tiến đánh căn cứ Làng Vây. Quân địch vốn đã khiếp sợ pháo ta nay lại thấy xe tăng, nhiều tên bỏ chạy, nhiều tên đầu hàng. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Ta đánh chiếm từng hầm ngầm. Đến 13 giờ ngày 7 tháng 2 năm 1968, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm. Sau trận đánh, Tư lệnh Mặt trận Trần Quý Hai và Chính ủy Lê Quang Đạo đã điện khen: "... Pháo binh ta đã đánh một trận hiệp đồng rất đẹp, bắn rất trúng, rất mãnh liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh, xe tăng ta hoàn thành nhiệm vụ".

        Trong lúc này, ở Thừa Thiên - Huế, quân dân ta đã làm chủ thành phố Huế. ở Khu 5, các đơn vị pháo bắn phá vào sân bay Đà Nẵng, phá hủy nhiều máy bay, 160 quả đạn ĐKB bắn vào kho hậu cần An Đồn làm kho xăng và đạn bốc cháy liên tục 36 tiếng đồng hồ. Tiểu đoàn 3, Trung đoàn ĐKB của Nam Bộ, tối ngày 17 tháng 2, đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất. Pháo ta đánh liên tục năm  trận trong mấy ngày liền. Với 163 hỏa tiễn ĐKB, ta đã phá hủy nhiều máy bay, bom đạn, làm gián đoạn hoạt động của sân bay. Cũng trong đêm 17 tháng 2, ta dùng 200 quả đạn ĐKB bắn phá dữ dội vào căn cứ Mỹ ở Phú Lợi, hậu cứ của sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, gây cho chúng nhiều thương vong. Còn ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh, ta tiếp tục bắn phá các căn cứ quân sự Mỹ để các sư đoàn 304, 325 thắt chặt dần vòng vây quanh căn cứ Tà Cơn - Khe Sanh.

        Sau khi trở lại Sở chỉ huy Mặt trận, ngày 22 tháng 2, tôi lại được lệnh vào Mặt trận Thừa Thiên - Huế đảm nhiệm chức Chủ nhiệm Pháo binh của Mặt trận. ở đây, Bộ đã điều vào một tiểu đoàn ca nông 85 ly, nay lại điều thêm Tiểu đoàn pháo Đ74 của Trung đoàn 675 để thành lập trung đoàn pháo cho Mặt trận Thừa Thiên - Huế. Trên đường vào cũng là lúc tôi được biết quân ta vừa rút khỏi thành phố Huế sau 25 ngày đêm làm chủ. Quân Mỹ đã đưa sư đoàn kỵ binh bay ra cứu nguy cho mặt trận này và dùng máy bay B52 giội bom vào các nơi nghi ngờ có quân ta hoạt động. Vào chiến trường mới, tôi bắt tay vào công tác chuẩn bị để bảo đảm pháo binh cho những đợt tiến công tiếp theo. Vào ngày 4 tháng 5 năm 1968, quân dân ta lại mở đợt hai, tiến công vào 30 thành phố, thị xã, 70 thị trấn, quận lỵ, 27 cơ quan bộ tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, trung đoàn Mỹ - ngụy, 40 sân bay, kho tàng của Mỹ. Lần này, quân ta đánh thẳng vào tổng nha cảnh sát, tòa đô chánh, khu Đại sứ quán Mỹ, dinh thủ tướng ngụy quyền. Tại Thừa thiên - Huế, tiểu đoàn ĐKB, từ đêm 4 rạng mồng 5 tháng 5, đã đánh liên tục chín trận trong năm ngày liền, với 139 quả đạn ĐKB phóng vào sở chỉ huy và căn cứ không quân sư đoàn kỵ binh bay số 1 đặt tại Đồng Lâm, huyện Phong Điền, phá hủy gần 100 máy bay trực thăng, diệt hàng trăm tên Mỹ, làm tê liệt hoạt động của sư đoàn này. Sau trận đánh, tiểu đoàn được Mặt trận đề nghị tặng thưởng Huân chương Quân công. Huyện ủy Phong Điền viết thư ca ngợi chiến thắng Đồng Lâm của pháo binh.

        Những ngày tháng tiếp theo, pháo binh ĐKB và A12 cùng pháo cối ĐKZ vẫn duy trì hỏa lực tiến công địch. Trước những thất bại liên tục, ngày 1 tháng 11 năm 1968, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã phải tuyên bố chấm dứt hoàn toàn cuộc ném bom miền Bắc nước ta, chấp nhận một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam.

 
(Tạp chí Lịch sử quân sự tháng 1-2004)           
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #28 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 12:09:04 pm »


"BÃO TÁP" ĐÒN TẬP KÍCH PHÁO BINH MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH QUẢNG TRỊ 1972

        Tháng 6 năm 1970, sau khi tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, tôi được điều về làm Tham mưu phó Mặt trận B5 (Mặt trận Trị - Thiên) phụ trách hỏa lực (hồi ấy anh Phạm Đình Tê làm Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B5). Vừa đặt chân tới Sở chỉ huy Mặt trận, các anh trong Bộ Tư lệnh như Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Lê Tự Đồng giao nhiệm vụ cho tôi tham gia bộ phận dự thảo kế hoạch tác chiến chiến dịch Đông Xuân 1972.

        Lực lượng tham gia chiến dịch gồm ba sư đoàn (304, 308, 324), hai trung đoàn bộ binh độc lập, một sư đoàn cao xạ, hai trung đoàn tăng thiết giáp và nhiều lực lượng bảo đảm khác. Về pháo binh, ngoài lực lượng tại chỗ, còn có bảy trung đoàn pháo binh xe kéo vừa được kiện toàn trang bị (gồm 45, 368, 38, 54, 58, 84). Mỗi trung đoàn biên chế từ hai đến ba tiểu đoàn pháo mặt đất và một Tiểu đoàn cao xạ 37 ly.

        Tôi đã liên tục có mặt ở chiến trường Trị - Thiên - Huế từ năm 1965 (Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận Khe Sanh - Đường 9 trong chiến dịch tiến công Xuân 1968, Chủ nhiệm Pháo binh Mặt trận B4 (Thừa Thiên - Huế) cho đến Binh đoàn 70 ở Đường 9 - Nam Lào). Vì thế, các yếu tố về địa hình, về địch nói chung và pháo địch nói riêng cũng nắm được khá nhiều, đủ cơ sở để triển khai phương án tác chiến pháo binh của chiến dịch. Sau hai tháng chuẩn bị, kế hoạch tác chiến pháo binh hoàn thành và được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận thông qua. Tháng 9 năm 1971, tôi cùng anh Giáp Văn Cương ra Sở chỉ huy Quảng Bình, trực tiếp báo cáo kế hoạch tác chiến với đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng, thay mặt Bộ và Quân ủy Trung ương vào phê duyệt. Cùng đi theo anh Dũng còn có các anh Lê Văn Tri, Cục trưởng Cục Tác chiến; Phan Hàm và một số cán bộ cao cấp của Bộ. Anh Cương báo cáo kế hoạch tác chiến chung, tôi báo cáo kế hoạch sử dụng pháo binh. Qua nghiên cứu, trao đổi, cân nhắc, anh Dũng kết luận và chỉ thị: "Đồng ý với phương án sử dụng pháo binh. Trong chiến dịch này, ta sẽ sử dụng một lực lượng lớn, phải tạo được thế mạnh của Pháo binh Việt Nam. Chiến dịch này còn có sự kết hợp của quần chúng nên pháo binh còn phải đánh phá các trung tâm đầu não chính quyền ngụy ở Quảng Trị, tạo thế cho chiến tranh nhân dân. Đặc biệt, cần giữ bí mật tuyệt đối ý đồ chiến dịch và mọi công tác chuẩn bị, triển khai lực lượng pháo binh...".

        Trở lại Sở chỉ huy Mặt trận, chúng tôi trăn trở hai vấn đề: Làm thế nào để toàn bộ lực lượng pháo xe kéo triển khai chiếm lĩnh bí mật, đầy đủ, an toàn và kế hoạch hỏa lực pháo binh. Trong kế hoạch pháo lần này, Bộ chỉ thị phải tiêu diệt được pháo địch, nên nhiệm vụ này trở thành yêu cầu tác chiến số 1 của pháo binh, tốt nhất là khống chế và tiêu diệt được pháo địch ngay trong những ngày đầu chiến dịch.

        Về pháo binh địch, có khoảng trên 200 khẩu, chiếm 20% số pháo trên toàn chiến trường miền Nam của chúng. Số pháo trên được bố trí thành 14 căn cứ hỏa lực, gồm ba tuyến: Tuyến ngoài khá mạnh, gồm năm căn cứ (241, Đông Hà, Miếu Bái Sơn, Quán Ngang, Mai Lộc); mỗi căn cứ có từ 16 - 20 khẩu 105 - 155 ly, riêng hai căn cứ 241 và Đông Hà, mỗi nơi còn có bốn pháo tự hành 175 ly. Những căn cứ này đồng thời là vị trí đóng quân của các tiểu đoàn, trung đoàn bộ binh, thiết giáp ngụy, nên còn có các sở chỉ huy, công sự, chướng ngại vật khá kiên cố, có đủ hầm ngầm cho người, pháo, đạn. Tuyến giữa cũng có năm căn cứ, mỗi căn cứ có từ 6 - 8 pháo 105 - 155 ly. Tuyến sau (thị xã Quảng Trị, La Vang, Hải Lăng, cầu Thạch Hãn), mỗi căn cứ có từ một trung đội đến một đại đội pháo 105 ly.

        Khi làm kế hoạch, yêu cầu đặt ra là tất cả 14 căn cứ hỏa lực này của địch phải nằm trong tầm bắn của pháo xe kéo. Như vậy mới đảm bảo yêu cầu khống chế liên tục, có hiệu quả pháo địch. Dù đã cố gắng đưa các trận địa pháo tầm xa lên sát địch, nhưng một số căn cứ hỏa lực tuyến sau của địch vẫn không nằm trong tầm bắn của pháo xe kéo. Ta đã mạnh dạn sử dụng một tiểu đoàn pháo 130 ly của Trung đoàn 45, lợi dụng kết quả pháo ta bắn ngày N, thì ngay đêm đó tiểu đoàn này vào chiếm lĩnh trận địa nằm sâu trong tung thâm địch, cách bờ Nam sông Bến Hải 4,5 ki-lô-mét, cách phía Đông căn cứ Cồn Tiên 1,5 ki-lô-mét; ta bí mật đào trận địa, lót sẵn nửa cơ số đạn, làm ngầm qua sông Bến Hải. Tiểu đoàn này thực hiện đúng kế hoạch và tham gia hỏa lực từ sáng N+1, khống chế được toàn bộ 14 căn cứ pháo địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23630


« Trả lời #29 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2017, 12:13:06 pm »


        Nội dung kế hoạch hỏa lực của đòn tập kích hỏa lực pháo binh còn nổi lên những điểm sau:

        - Giao nhiệm vụ cho từng đơn vị chịu trách nhiệm từng căn cứ hỏa lực địch: Năm căn cứ tuyến ngoài, mỗi nơi do một tiểu đoàn pháo đảm nhiệm; tuyến giữa do một đại đội pháo đảm nhiệm; tuyến sau do một trung đội pháo đảm nhiệm; yêu cầu là liên tục khống chế, không để cho pháo địch hoạt động.

        - Phương pháp bắn là kết hợp bắn cấp tập và tiến hành sửa bắn cho từng khẩu, bảo đảm chính xác cao nhất. Sau khi có phần tử bắn chính xác, tập trung diệt từng trận địa pháo địch bằng phương pháp bắn phá hoại kết hợp sử dụng đạn nổ ngay và nổ chậm. Khi có thời cơ tiêu diệt sinh lực địch hoặc phát hiện trận địa pháo mới, cụm trưởng chủ động thực hiện hỏa lực toàn cụm.

        - Đạn dược sử dụng là một cơ số đạn một khẩu, với khoảng gần một vạn viên đạn pháo các loại (100 tấn đạn).

        - Thời gian thực hành tập kích hỏa lực kéo dài 6 - 7 tiếng đồng hồ và tiến hành ban ngày để tiện quan sát kết quả và sửa bắn.

        - Để bảo đảm bất ngờ, không bắn thử mà thực hành đo đạc nhiều lần. Trung đoàn trinh sát của Bộ Tư lệnh Pháo binh đảm nhiệm đo đạc và chụp ảnh tất cả các căn cứ hỏa lực để kiểm tra mức chính xác phần tử bắn của các cụm pháo.

        Từ ngày 15 tháng 2 năm 1972, bốn đài quan sát chiến dịch và 11 đài quan sát các cụm bắt đầu chiếm lĩnh nắm địch. Ngày 22 tháng 2 năm 1972 phổ biến kế hoạch tác chiến cho các chủ nhiệm pháo binh sư đoàn, các chỉ huy cụm. Ngày 23 tháng 2 năm 1972, các cụm đồng thời chiếm lĩnh trận địa bắn, dưới sự chỉ huy thống nhất toàn Mặt trận.

        Lúc 12 giờ đêm 28 tháng 3 năm 1972, tất cả các đơn vị pháo trên toàn Mặt trận đều đã chiếm lĩnh trận địa bí mật, an toàn; đạn dược đủ hai cơ số một khẩu. Làm được như vậy là đã hoàn thành 50% nhiệm vụ của chiến dịch giao.

        Sáng 15 tháng 3 năm 1972, các anh trong Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm: Lê Trọng Tấn - Tư lệnh, Lê Quang Đạo - Chính ủy, Cao Văn Khánh - Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng... thông qua lần cuối kế hoạch. Chúng tôi đề nghị đặt tên cho đòn tập kích hỏa lực pháo binh này là "Bão táp", với lý do lần đầu ta tập trung sử dụng một lực lượng lớn pháo xe kéo, tiêu thụ số đạn lớn, thời gian thực hành hỏa lực kéo dài, yêu cầu về nhiệm vụ chuẩn bị của pháo binh cũng khá cao. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, anh Lê Trọng Tấn chỉ thị: "Nhất trí tên gọi đòn tiến công hỏa lực pháo binh mở màn chiến dịch tiến công Quảng Trị là "Bão táp". Lần này pháo binh phải phát huy hỏa lực thật bất ngờ, mãnh liệt, chính xác, trị ngay năm căn cứ hỏa lực pháo chủ yếu của địch ở tuyến ngoài, bảo đảm chắc chắn cho Sư đoàn 304 đánh chiếm cứ điểm 544 - Đồi Tròn, mở cửa chiến dịch. Hỏa lực pháo binh phải xứng đáng là "bão táp" giội xuống đầu quân địch, làm chúng khiếp sợ và quân ta phấn khởi. Đúng 10 giờ ngày N bắt đầu bắn".

        Đúng ngày N (30-3-1972), tại Sở chỉ huy Pháo binh, thông tin liên lạc đều thông suốt, lúc 9 giờ 30 phút, các đài quan sát vẫn báo cáo: "Trời mù, mục tiêu không quan sát rõ". Sau khi hội ý với anh em trong Sở chỉ huy, tôi đề nghị anh Tấn và anh Dũng cho lùi giờ G của pháo binh một tiếng (tức là 11 giờ ngày 30-3-1972) và được các anh đồng ý. Trước tình hình đó, anh Lê Quang Đạo xuống động viên anh em trong Sở chỉ huy pháo binh. Sự có mặt của Chính ủy Mặt trận làm anh em yên tâm. Đến 10 giờ 45 phút, anh Dũng lại gọi điện hỏi: "Liệu có cần lui thêm thời gian không...". Trước đó vài phút, các đài quan sát báo về là mục tiêu đã quan sát rõ. Tôi dõng dạc báo cáo: "Mục tiêu đã quan sát tốt, thông tin liên lạc đều thông suốt. Tất cả pháo binh sẵn sàng chờ lệnh đồng chí"... Đúng 10 giờ 55 phút, từ Sở chỉ huy Bộ chỉ huy chiến dịch, đồng chí Tư lệnh Mặt trận Lê Trọng Tấn phát lệnh: "Bão táp". Cả Sở chỉ huy pháo đồng thanh truyền lệnh "Bão táp" tới tất cả bảy cụm pháo binh, ba Sở chỉ huy pháo các sư đoàn bộ binh.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM