Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 10:27:49 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức Pháo binh - Thiếu tướng Nguyễn Trung Kiên  (Đọc 18127 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #30 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 12:43:27 AM »


        Giờ phút lịch sử của chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị bắt đầu 247 khẩu pháo các loại của toàn Mặt trận trên các hướng đồng loạt trút đạn vào 20 căn cứ hỏa lực và sở chỉ huy của địch. Các đài quan sát liên tục báo về tin chiến thắng... "Căn cứ 241: tất cả đạn bắn trúng mục tiêu, kho đạn nổ. Miếu Bái Sơn bốc cháy. Sở chỉ huy Cồn Tiên: đạn cối 160 bắn sập nhiều hầm. Dốc Miếu: địch nhốn nháo, Điểm cao 182 phía Tây Quảng Trị địch rút chạy...".

        Những giờ phút đầu tiên của đòn tập kích diễn ra theo đúng kế hoạch, phá nhiều pháo, diệt nhiều địch. Đất trời Quảng Trị từ 11 giờ đến chiều tối 30 tháng 3 năm 1972 luôn dậy lên những loạt đạn như sấm rền. Lúc 13 giờ, chúng tôi điện cảm ơn và thông báo kết quả bắn cho các sở chỉ huy công binh, vận tải, thông tin, tăng - thiết giáp... các binh chủng bạn đã phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho pháo binh trút đạn lên đầu quân thù. Tối đó, quân ta đã đánh chiếm 544 - Đồi Tròn; ngày 1 tháng 4, đánh chiếm Động Toàn. Quân địch ở Cồn Tiên, Dốc Miếu rút chạy. Lúc 14 giờ ngày 2 tháng 4 năm 1972, toàn bộ trung đoàn 56 ngụy ở cứ điểm 241 đầu hàng, ta thu toàn bộ xe - pháo, kể cả bốn khẩu tự hành 175 ly.

        Lúc 15 giờ ngày 2 tháng 4 năm 1972, đồng chí Lê Trọng Tấn điện khen: "Pháo binh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã trị được hệ thống pháo binh địch, phá nát hầm hào công sự địch, chi viện đắc lực cho Sư đoàn 304 và Trung đoàn 27 chiến đấu giành thắng lợi giòn giã, từng mảng quân địch đã đầu hàng hoặc rút chạy, thu được nhiều pháo binh, xe cơ giới địch...". Có lẽ, đây cũng là lời kết của đòn hỏa lực "Bão táp" pháo binh trên đất Quảng Trị 1972.

        Phát triển tiến công, Bộ Tư lệnh chiến dịch tiếp tục dùng tên gọi "Bão táp" để đặt tên cho các lần chuẩn bị hỏa lực tiếp sau: "Bão táp 2" được tiến hành trong ba tiếng đồng hồ, bắt đầu lúc 13 giờ ngày 8 tháng 4 năm 1972, với trên 3.000 đạn pháo lớn, chi viện cho các Sư đoàn 308, 304 tiến công tuyến Đông Hà, Phượng Hoàng, Cam Lộ; "Bão táp 3" với trên 6.000 đạn pháo lớn, có cả đạn pháo 105 - 155 ly thu được của địch và lực lượng pháo ta, có thêm Tiểu đoàn pháo phản lực BM-14 (9 xe với 153 ống phóng) và Tiểu đoàn tên lửa chống tăng B72, trang bị 50 bệ phóng và 500 đạn. Lúc 5 giờ ngày 27 tháng 4 năm 1972, "Bão táp 3" bắt đầu. Kết quả đã diệt hơn 50 xe tăng, thiết giáp, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bộ binh tiến công vào tung thâm phòng ngự Ái Tử, Đông Hà, La Phước, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị, La Vang... Trong suốt 30 ngày đêm, với ba đòn "Bão táp" của hỏa lực pháo binh, ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (ngày 2-5-1972).

        "Bão táp" - đòn tập kích pháo binh mở màn chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị, là trận đánh đạt hiệu suất cao của pháo binh. Từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đây là lần đầu ta tập trung sử dụng một lực lượng lớn: bảy trung đoàn pháo xe kéo cho một chiến dịch tiến công với quy mô hiệp đồng tác chiến binh chủng tương đối lớn, trên một không gian rộng (một tỉnh). Cũng trong năm tiến công chiến lược 1972 này, ở Mặt trận Tây Nguyên, ta chỉ sử dụng hai trung đoàn pháo xe kéo (40, 675) và tại Mặt trận Bình Long (Nam Bộ) cũng chỉ sử dụng hai trung đoàn pháo xe kéo (42, 208). Đây cũng là trận đánh mà bộ đội pháo binh đã sử dụng tất cả các loại pháo với 247 khẩu, tiến hành liên tiếp bắn phá trong sáu tiếng đồng hồ, với gần một vạn viên đạn và cũng là trận đánh mà ta đã tạo được thế chủ động sức mạnh pháo binh trên phạm vi một chiến dịch.

(Tạp chí Lịch sử quân sự tháng 2-2002)       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #31 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 12:49:50 AM »


SỞ CHỈ HUY PHÍA TRƯỚC

        Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày truyền thống vẻ vang của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết thắng, tôi xin được kể lại đôi điều về công việc của Sở chỉ huy phía trước trong suốt 12 ngày đêm vừa cơ động, vừa tổ chức một bộ phận quân đoàn đảm nhiệm đội dự bị cho các lực lượng vũ trang ta tiến công giải phóng thành phố Đà Nẵng Xuân 1975.

        Cùng với anh em cán bộ, chiến sĩ được điều về xây dựng quân đoàn từ những ngày đầu thành lập, tháng 11 năm 1973, nhiệm vụ đầu tiên của tôi lúc đó là nhanh chóng nắm tình hình pháo binh để xây dựng phương án kiện toàn tổ chức lực lượng, trang bị, kế hoạch huấn luyện, chuẩn bị cho Đảng ủy họp với hướng phấn đấu trong năm 1974, khả năng tác chiến của quân đoàn tăng lên một bước, đến năm 1975, có thể tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Khi cả quân đoàn bước vào mùa huấn luyện thì tôi lại được cử đi học ở Học viện Quân sự cấp cao Liên Xô. Sau khi tốt nghiệp (3-1-1975), tôi được cấp trên bổ nhiệm giữ chức Phó Tham mưu trưởng Quân đoàn 1.

        Ngày 10 tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công Buôn Ma Thuột, mở đầu Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Cũng ngày hôm đó, sau hơn một năm xây dựng, Quân đoàn 1 - binh đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta được lệnh của Bộ chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Sư đoàn 308 và Sư đoàn 320B ngừng lao động đắp đê sông Đáy và sông Hoàng Long, cơ quan tập trung triển khai mọi mặt cho bộ đội lên đường, các kế hoạch hiệp đồng với các cơ quan của Bộ để cơ động toàn quân đoàn bằng mọi phương tiện vào Nam được hình thành khẩn trương. Đảng ủy quân đoàn họp với quyết tâm: "Toàn quân đoàn khẩn trương, chu đáo mọi mặt để sẵn sàng hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ tác chiến khi có lệnh. Lực lượng cơ động của quân đoàn sẽ hình thành ba khối. Từng khối có sở chỉ huy để giúp người chỉ huy điều hành mọi công việc...". Bộ Tư lệnh quân đoàn cũng phân công các cán bộ chủ trì Bộ Tham mưu đảm nhiệm từng sở chỉ huy như sau:

        - Sở chỉ huy phía trước do đồng chí Nguyễn Trung Kiên - Phó tham mưu trưởng phụ trách.

        - Sở chỉ huy cơ bản do đồng chí Lương Ngọc Chi - Phó tham mưu trưởng phụ trách.

        - Sở chỉ huy phía sau do đồng chí Phạm Huần - Phó tham mưu trưởng phụ trách.

        Ngày 18 tháng 3, anh Hoàng Minh Thi, Bí thư Đảng ủy quân đoàn gọi tôi lên giao nhiệm vụ, với chức danh "Phó một" phụ trách tác chiến, tôi phải tổ chức và điều hành sở chỉ huy phía trước, giúp Tư lệnh và Chính ủy chỉ huy trực tiếp khối 1 và lãnh đạo toàn quân đoàn khi có lệnh cơ động chiến đấu.

        Những ngày này, chiến trường Tây Nguyên đang thắng lớn. Quân địch đã tháo chạy khỏi tỉnh Kon Tum, Plây Cu. Bộ Chính trị Đảng ta đã hạ quyết tâm sẽ giải phóng toàn bộ miền Nam trong năm 1975 và mở chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng. Bộ cũng hạ lệnh cho Quân đoàn 1 cơ động ngay một nửa lực lượng vào tập kết ở phía Nam Quân khu 4.

        Ngày 20 tháng 3, Đại tướng Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xuống đơn vị trực tiếp giao nhiệm vụ tác chiến cho Bộ Tư lệnh quân đoàn. Ngay sau đó, anh Nguyễn Thế Bôn kéo tôi ra một góc hội trường:

        - Tối nay anh cùng sở chỉ huy phía trước xuất phát. Các anh sẽ tập kết ở phía Tây Đông Hà (Quảng Trị). Trên đường hành quân, anh nắm lại tình hình lực lượng khối 1 và nhớ luôn luôn phải giữ liên lạc với sở chỉ huy cơ bản.

        Tôi gật đầu:

        - Còn vấn đề gì nữa không anh?

        Đồng chí Tham mưu trưởng quân đoàn nói tiếp:

        - Tư lệnh Nguyễn Hòa và Chính ủy Hoàng Minh Thi sẽ đi sau vài hôm, vì hai người phải lên Bộ nhận kế hoạch tác chiến cụ thể. Đồng chí Trần Trọng Trai - Trưởng phòng Tác chiến ở lại cùng đi với Tư lệnh và Chính ủy, đồng chí Trưởng phòng Quân báo chuyển sang đội hình sở chỉ huy cơ bản...

        Vậy là tối hôm đó, sở chỉ huy phía trước gồm 22 cán bộ. Bộ Tham mưu, 5 cán bộ Cục Chính trị, 5 cán bộ Cục Hậu cần, các phân đội thông tin vô tuyến, hữu tuyến, phân đội trinh sát, phân đội cảnh vệ và phân đội phục vụ, tất cả khoảng 110 cán bộ, chiến sĩ được sắp xếp trên một xe chuyên dùng vô tuyến điện và 6 xe vận tải. Lương thực mang theo đủ dùng trong 20 ngày. Khoảng 5 giờ chiều, sau bữa cơm có tăng cường món thịt xào, anh em chúng tôi họp ở ven hồ kiểm tra một lần nữa về đồ dùng và trang bị mang theo rồi lên xe. Đoàn xe nổ máy, từ từ rời khỏi doanh trại hướng vào Nam, không khí thật trang nghiêm, đầy đủ khí thế sẵn sàng lập công hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #32 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 12:52:00 AM »


        Ngày 24 tháng 3, chiến dịch tiến công giải phóng Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng bắt đầu. Ngày 23, chúng tôi đã có mặt ở địa điểm tập kết tại một xóm ven đường 9 phía Tây Đông Hà. Mọi việc đi đường thuận lợi an toàn. Đến ngày 25, tôi đã dần dần nắm được một số đơn vị của Sư đoàn 320B. Trong đó có Trung đoàn 27, Tiểu đoàn pháo 130 ly. Lữ đoàn 45, Tiểu đoàn 55 xe tăng. Riêng Lữ đoàn 202 xe tăng theo đường biển cơ động bằng tàu vận tải đổ bộ lên phía Bắc Quảng Trị. Trong việc bộn bề, chúng tôi lại nhận được thêm tin vui, phía trước, Quân đoàn 2 đã đánh chiếm thành phố Huế, đang phát triển vào phía Nam.

        Ngày 26 tháng 3, tôi nhận được lệnh của anh Nguyễn Hòa - Tư lệnh quân đoàn với nội dung: "Theo lệnh của Bộ, anh tổ chức ngay một lực lượng gồm Trung đoàn 27 (Sư đoàn 320B), Tiểu đoàn pháo 130, Tiểu đoàn 66 xe hiện đang tập kết ở khu vực Bắc đèo Hải Vân, sẵn sàng làm đội dự bị cho Quân đoàn 2 tiến công giải phóng Đà Nẵng, mọi công tác phải chuẩn bị và tập kết xong trong đêm 27 tháng 3...".

        Chúng tôi lập tức chia nhau xuống từng đơn vị truyền đạt lệnh của Tư lệnh quân đoàn và nắm lại tình hình, đồng thời cử đồng chí Phan Trang chỉ huy một số cán bộ, chiến sĩ lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm điều khiển giao thông dọc đường hành quân, nhất là trong thành phố Huế, chuẩn bị nơi tập kết các đơn vi thuộc đội dự bị và cả vị trí sở chỉ huy phía trước. Lúc 17 giờ ngày 27, các đơn vị bắt đầu cơ động vào vị trí tập kết. Trên đường đi kiểm tra các đơn vị trước lúc xuất phát, khi tới Tiểu đoàn 66 xe tăng thì tôi được biết, còn một số xe tăng chưa đồng bộ về trang bị đạn pháo, đang cho người xuống tổng kho của Bộ gần đó nhận bổ sung. Vì vậy, tôi đã đồng ý để tiểu đoàn này xuất phát chậm một chút. Đoàn xe sở chỉ huy chúng tôi khi tới cầu An Lỗ trên sông Bồ lại gặp tiểu đoàn pháo tạm dừng đang chờ anh em công binh lắp phà vượt sông vì cầu phao không đủ trọng tải cho xe kéo pháo nặng trên 20 tấn. Đến khoảng 10 giờ đêm, khi chuyến phà chở xe pháo đầu tiên qua sông an toàn, chúng tôi lại tiếp tục tiến về phía trước. Khi vào thành phố Huế, đường tốt xe chạy bon bon qua cửa Ngọ Môn. Đây là lần đầu tiên tôi đặt chân tới cố đô Huế với bao cảm xúc phấn chấn, mới mẻ. Tôi nói với lái xe hãy đi chầm chậm lại để tận hưởng cái không khí thanh bình của một thành phố vừa được giải phóng mới hai ngày. Xe qua các ngã ba, ngã tư đều thấy có chiến sĩ giao thông hướng dẫn. Thành phố bị mất điện nhưng dọc phố hầu như nhà nào cũng vẫn còn thức. Nhiều người đứng cửa trìu mến nhìn theo vẫy tay chào đón đoàn xe chúng tôi đang nối nhau tiến vào Nam, nơi đang còn tiếng súng.

        Khi xe tôi đến Lăng Cô - Phú Lộc thì gặp đơn vị tiền trạm. Tôi nhìn đồng hồ, cũng đã đến giờ phải triển khai điện đài làm việc với sở chỉ huy cơ bản. Đoàn xe dừng lại, đem bản đồ đối chiếu địa hình, quan sát xung quanh và nghe đơn vị tiền trạm báo cáo, vị trí sở chỉ huy chưa xác định được, dựa vào núi thì núi cao, dựa vào nhà dân thì trống trải, trời lại đã gần sáng. Tôi đứng lên đưa mắt nhìn quanh và thấy ở phía đông đường quốc lộ số 1, cách khoảng 200 mét có một xóm khoảng vài chục nóc nhà, tất cả đều lợp tôn. Có lẽ đây là một ấp chiến lược được đặt trên một đồi cát. Xung quanh lơ thơ vài ba cây phi lao. Xa xa là biển. Tôi cử anh em vào trinh sát thì được biết, nhân dân ở đây đã di tản hết vào Đà Nẵng khi quân ngụy rút chạy qua. Anh em phát hiện có một tổ thông tin hữu tuyến của đơn vị bạn đang ở trong làng. Bên kia đèo Hải Vân, nơi quân ta đang tác chiến vọng lại nhiều loạt đạn pháo của mình bắn nghe rất rõ. Cùng lúc ấy, Tiểu đoàn pháo 130 ly đang cơ động tới, tôi liền trao nhiệm vụ cho đơn vị triển khai ngay đội hình chiến đấu theo dọc đường đèo về phía Nam, hướng bắn chuẩn là trung tâm thành phố Đà Nẵng. Tầm bắn cố vươn tới bán đảo Sơn Trà. Trong khi triển khai đội hình chiến đấu, đơn vị phải giữ liên lạc với sở chỉ huy. Thời gian lúc này là vàng là ngọc, phải tranh thủ từng giây từng phút. Vì thế sở chỉ huy phía trước cũng ngay lập tức phải triển khai để nắm tình hình chuẩn bị chiến đấu. Nhưng địa hình ở đây không thuận lợi như trên tôi đã nói. Một bên là núi cao, bên kia là các ấp chiến lược trống trải.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #33 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 07:55:27 PM »


        Tôi suy nghĩ giây lát và chợt nhớ lại một trận chiến đã qua. Đó là vào đầu năm 1971, khi ấy tôi đang công tác ở Binh đoàn 70. Đơn vị chúng tôi được lệnh cơ động từ Nghệ An vào Vĩnh Linh tham gia chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Bấy giờ, sở chỉ huy cơ động do đồng chí Cao Văn Khánh nắm. Khi chúng tôi hành quân đến đồn biên phòng Cu Bai, anh Cao Văn Khánh đã ra lệnh triển khai sở chỉ huy binh đoàn ngay sát đường trục để kịp thời tổ chức chỉ huy các đơn vị bước vào chiến đấu kịp thời. Tôi lại nhớ hồi còn học ở Học viện Quân sự Vô-rô-si-lốp (Liên Xô) đã rút ra một bài học kinh nghiệm: Sở chỉ huy tập đoàn quân trong hành tiến khi phát triển chiến đấu tiến công, cần đặt gần trục đường chính bộ đội cơ động. Tôi hội ý nhanh với anh em cùng đi rồi quyết định tạm đặt sở chỉ huy ngay tại xóm ven đường. Nơi đây cách cầu Lăng Cô khoảng gần 2 ki-lô-mét. Tôi cử đồng chí Phan Trang phụ trách một số cán bộ và một phân đội trinh sát có trang bị máy bộ đàm dùng xe tiếp tục hành quân vượt đèo liên lạc với quân ta, nắm tình hình địch rồi báo cáo về. Khoảng 10 giờ, đồng chí Phan Trang bắt đầu có báo cáo về những tin tức quan trọng đầu tiên: Đã bắt liên lạc được với một đơn vị Quân đoàn 2, nắm được tọa độ sở chỉ huy quân đoàn 1 ngụy, quan sát được trung tâm thành phố Đà Nẵng và trạm ra đa bán đảo Sơn Trà... Đài quan sát của tiểu đoàn pháo cũng bắt đầu làm việc ngay sát cạnh sở chỉ huy chúng tôi.

        Khoảng quá trưa ngày 28, với sự cố gắng của cán bộ thông tin, chúng tôi đã nối thông liên lạc được với Sở chỉ huy Quân đoàn 2. Tôi vội cầm máy gặp anh Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn 2. Hai anh em gặp nhau vô cùng mừng rỡ vì chúng tôi cùng học một khóa ở Học viện Quân sự Vô-rô-si-lốp tốt nghiệp trở về mới đầu năm 1975. Tôi vắn tắt báo cáo tình hình chuẩn bị đội dự bị theo lệnh của Bộ và đơn vị pháo 130 ly của chúng tôi đã sẵn sàng nổ súng. Nghe xong, anh An cám ơn về sự có mặt kịp thời của Quân đoàn 1, đồng thời anh thông báo cho biết, Quân đoàn 2 vừa đánh chiếm khu kho xăng Liên Chiểu cửa ngõ thành phố Đà Nẵng và căn cứ sư đoàn ngụy ở phía Tây thành phố cũng đã vào tay quân ta. Tình hình địch có hiện tượng rối loạn. Quân khu 5 cũng đã tiến sát phía Nam Đà Nẵng... Sau khi thông báo nhiều tin vui chiến thắng, anh Nguyễn Hữu An còn gọi tôi thân mật:

        - Trung Kiên ơi, trước mắt có thể chúng ta chưa sử dụng đến đội dự bị, nhưng pháo của các cậu lúc nào cũng cứ sẵn sàng nhá. Cho tớ gửi lời thăm Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Các cậu hãy giữ liên lạc với chúng tớ nhá. Chào quyết thắng.

        Tôi nghe rõ tiếng anh An cười rất vui trước khi rời máy. Thế là quá yên tâm rồi. Mọi công việc chuẩn bị để thực hiện lệnh của đồng chí Tư lệnh quân đoàn coi như cơ bản đã hoàn thành. Tôi vui mừng thảo điện báo cáo về sở chỉ huy cơ bản và anh Nguyễn Hòa.

        Khoảng 5 giờ chiều, tôi đang chuẩn bị lên phía trước nắm lại công việc thì xe Chính ủy xịch tới. Tôi còn chưa kịp báo cáo tình hình thì Chính ủy đã nghiêm nét mặt nói:

        - Đặt sở chỉ huy như thế này à?! Muốn để máy bay địch nó tiêu diệt à?! Kết quả học tập ở Vô-rô-si-lốp đây mà!

        Cả sở chỉ huy chúng tôi đang vui mừng đón Chính ủy bỗng trở nên ngơ ngác. Tất cả sững lại trước thái độ của đồng chí Chính ủy đang phê bình tôi. Còn tôi, tôi cố gắng bình tĩnh đợi anh Hoàng Minh Thi nói hết mới chậm rãi báo cáo với Chính ủy, về tình hình suy sụp của quân địch, về khí thế rất mạnh của quân ta và khả năng đánh chiếm toàn bộ thành phố Đà Nẵng chỉ còn từng giờ. Tôi còn báo cáo tiếp tình hình chuẩn bị chiến đấu của đội dự bị và mời Chính ủy nói chuyện với anh Nguyễn Hữu An. Có lẽ sau khi nghe tôi báo cáo và nhất là sau cuộc đàm thoại với đồng chí Tư lệnh Quân đoàn 2 đã làm cho Chính ủy vơi đi nỗi bực dọc ban đầu. Tôi lại báo cáo tiếp với anh là chúng tôi cũng đã chuẩn bị vị trí chính thức của sở chỉ huy rồi. Chính ủy nghe xong xua tay: "Thôi, không đi đâu nữa, ở đây cũng được". Sau đó anh cùng tôi bàn về đội dự bị nếu Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng đơn vị này. Anh cũng hỏi han sức khỏe anh em cơ quan, rồi cho công vụ ra xe đem vào cho chúng tôi tút thuốc lá và cho riêng tôi năm gói thuốc lào. Sau đó anh vui vẻ cùng tôi ăn cơm và lên xe xuống thăm anh em ở Trung đoàn 27 bộ binh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #34 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 07:59:57 PM »


        Trời tối dần, kế hoạch đi lên phía trước của tôi đành hủy bỏ. Sau điếu thuốc lào đã đời, tôi nằm trên võng ngẫm nghĩ lại sự việc vừa xảy ra, lại càng hiểu thêm cá tính của Chính ủy mình. Trong đêm đó, đồng chí Phan Trang thường xuyên báo cáo về tình hình phát triển tiến công thuận lợi của xe tăng và bộ binh Quân đoàn 2 ở phía Bắc, bộ đội Quân khu 5 ở phía Nam. Quân ta đang tiến sâu vào nội thành Đà Nẵng. Đến 10 giờ sáng ngày 29 tháng 3, pháo quân ta chuyển làn bắn chặn quân địch đang rút ra phía biển. Vậy là các mũi tiến công của bộ đội ta kết hợp cùng sự nổi dậy của nhân dân đã giải phóng thành phố Đà Nẵng vào ngày cuối tháng 3 năm 1975. Và chiến dịch tiến công Thừa Thiên - Huế - Đà Nẵng đã thắng lợi giòn giã.

        Cũng buổi sáng ngày 29 tháng 3, Phan Trang đã gặp anh Hoàng Đan - Tư lệnh phó Quân đoàn 2. (Anh Hoàng Đan trước đây là Tư lệnh phó - Tham mưu trưởng Quân đoàn 1), vì đang rất bận, anh Hoàng Đan không đến thăm anh em cơ quan được, chỉ nhắn qua Phan Trang, gửi lời cảm ơn Bộ Tư lệnh, cơ quan và bộ đội Quân đoàn 1 đã đến kịp thời. Anh Đan cũng gửi tặng cơ quan một xe jeép chiến lợi phẩm. Báo cáo xong, Phan Trang còn vui vẻ xin phép tôi cho anh em xuống tham quan thành phố mới giải phóng. Nghe đến đây tôi vội ngắt lời anh:

        - Phan Trang ơi, cho tất cả anh em trở về ngay sở chỉ huy! Cậu hãy cảm ơn anh Hoàng Đan và trả lại xe jeép vì ta đã đủ xe dùng. Tôi xin nhắc lại, không một ai được xuống thành phố!

        Tôi nói và liếc nhìn Phan Trang. Cậu ta xịu mặt. Tôi thông cảm với anh bạn trẻ, nhưng không thể vì một phút bốc đồng mà quên kỷ luật quân đội. Tôi chắc rằng Phan Trang rồi sẽ hiểu cho tôi.

        Ngày 30 tháng 3 năm 1975, Tư lệnh Nguyễn Hòa hạ lệnh, tất cả lực lượng quân đoàn trở lại tập kết ở Đông Hà - Quảng Trị.

        Ngày 1 tháng 4 năm 1975, tôi theo Thiếu tướng, Tư lệnh tới Sở chỉ huy Bộ Tư lệnh 559 tại Bắc Cam Lộ, gặp đại diện Bộ Quốc phòng nhận nhiệm vụ mới: Quân đoàn 1 cơ động tiếp vào miền Đông Nam Bộ, tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

        Ngày 2 tháng 4 năm 1975, khối 1 của quân đoàn được tăng cường Trung đoàn 51 ô tô vận tải. Đội hình toàn khối sẽ xuất phát từ Quảng Trị theo đường 9 qua Tây Trường Sơn, vượt đèo "Ăm Pun" trở lại Đông Trường Sơn, rồi qua thị xã Kon Tum theo đường 14A lên Plây Cu, Buôn Ma Thuột, Phước Long và tập kết ở khu vực Đồng Xoài.

        Đúng ngày giờ xuất phát, tôi lệnh cho sở chỉ huy lên đường. Lên xe, tôi mở hé kính cho gió trời ào ạt lùa vào mát rượi và chợt nhớ lại quãng thời gian 12 ngày đêm đã qua kể từ lúc chúng tôi rời Tam Điệp. Bao nhiêu sự việc sôi động đã xảy ra! Bao nhiêu xóm làng, thành phố mới được giải phóng. Và chúng tôi, đội dự bị chiến dịch của Quân đoàn 1 đã triển khai kịp thời, đồng bộ mọi mặt. Nhưng dù sao, chúng tôi đã không kịp tham gia tiến công căn cứ quân sự liên hợp của Mỹ - ngụy ở Đà Nẵng. Dù thế, đây cũng là một dịp thử thách sự điều hành công việc của cơ quan tham mưu quân đoàn trong một chiến dịch lớn.

        Nghĩ ngợi lan man, tôi nhớ về cái ngày đầu tháng 3 năm 1975, khi tranh thủ tạt về Hà Nội thăm nhà, tôi có dặn lại vợ: "Chuyến này anh đi có lẽ hai năm nữa mới trở về". Nhưng giờ đây thời cơ lớn đã đến. Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm, nhất định sẽ giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm nay! Và chính chúng tôi, những người lính Quân đoàn 1 đang hết lòng hết sức thực hiện mệnh lệnh của đồng chí Đại tướng - Tổng tư lệnh: Thần tốc - Táo bạo - Quyết thắng. Không, không thể hai năm. Có lẽ chỉ hai tháng... Đường ra trận mùa khô nhiều bụi và xóc quá! Tôi đã thấm mệt, thèm ngủ. Rồi tôi thiếp đi một giấc ngon lành. Và tôi đã tỉnh giấc, thấy mình đang đi trong rừng Trường Sơn quen thuộc. Phía trước và phía sau xe tôi, trùng trùng tăng pháo và bộ đội thuộc quân đoàn yêu quý vẫn mải miết tiến về hướng Nam.

 
(Hồi ký bạn chiến đấu Quân đoàn 1 - 2003)       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 08:01:31 PM »

       
MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT SỬ DỤNG PHÁO BINH TRONG MÙA XUÂN 1975

        Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nghệ thuật sử dụng pháo binh đã phát triển đến mức cao nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Đó là nghệ thuật sử dụng pháo binh trong những chiến dịch hiệp đồng binh chủng quy mô lớn kết hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng trước thời cơ lịch sử mới đầy tính biến động về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu, nhằm kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng.

        Sau đây là mấy vấn đề chủ yếu trong nghệ thuật sử dụng pháo binh:

        1. Nắm vững quy luật của chiến tranh giải phóng, khẩn trương xây dựng lực lượng pháo binh mạnh, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn trong giai đoạn kết thúc chiến tranh

        Một vấn đề nổi bật về sử dụng pháo binh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là ngoài việc hoàn chỉnh hệ thống pháo binh ở các cấp, ta đã nhanh chóng phát triển lực lượng pháo binh xe kéo lớn mạnh đáp ứng kịp thời yêu cầu của thời cơ chiến lược, phù hợp với quy luật chiến tranh giải phóng ở giai đoạn kết thúc chiến tranh.

        "Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh vào đầu não và đập tan chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ quốc". Xuất phát từ quy luật trên, tác chiến hiệp đồng binh chủng đã trở thành xu thế tất yếu trong giai đoạn kết thúc của chiến tranh giải phóng. Từ đó đòi hỏi phải xây dựng những binh đoàn binh chủng hợp thành có đủ thành phần binh chủng kỹ thuật với sức đột kích lớn, cơ động cao, hỏa lực mạnh, có khả năng chiến đấu liên tục và tiêu diệt lớn quân địch.

        Nói đến tác chiến hiệp đồng binh chủng, không thể không nói đến pháo binh. Quy mô tác chiến hiệp đồng càng lớn thì hỏa lực pháo binh càng phải mạnh, tổ chức và trang bị kỹ thuật pháo binh càng phải được hoàn thiện, trong đó sự phát triển pháo binh xe kéo có ý nghĩa quyết định.

        Lịch sử hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã chứng minh điều đó. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gắn liền với sự xuất hiện trung đoàn pháo binh xe kéo đầu tiên của quân đội ta.

        Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch hiệp đồng binh chủng như Làng Vây, Khe Sanh (1968), Đường 9 - Nam Lào (1971), Quảng Trị, Tây Nguyên, Bình Long (1972), Phước Long (1974) cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đều gắn liền với sự trưởng thành và hoạt động của pháo binh xe kéo từ nhỏ đến lớn.

        Đây là một vấn đề có tính quy luật của tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân ta, trong đó có lực lượng pháo binh. Năm 1954 - 1960, lực lượng ta ở miền Nam chưa có pháo; đến năm 1960 - 1964, có súng cối lực lượng vũ trang ta đã góp phần đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt; năm 1968, có súng cối và hỏa tiễn lực lượng vũ trang ta đã góp phần đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ"; từ năm 1968, ở các chiến trường đã bắt đầu phát triển pháo binh cơ giới, đến năm 1972 pháo binh cơ giới đã phát huy vai trò của mình trên cả ba chiến trường Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.

        Sự hình thành lực lượng pháo binh xe kéo lớn mạnh đáp ứng yêu cầu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là kết quả của một quá trình đấu tranh giải quyết nhận thức cũng như chuẩn bị về tổ chức lực lượng cụ thể qua các thời kỳ lịch sử của chiến tranh.

        Năm 1968, trong điều kiện gặp nhiều khó khăn về đường cơ động, đạn dược, nhiên liệu, ta đưa pháo xe kéo vào Khe Sanh, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm. Năm 1972, khi đã giải quyết được hệ thống đường cơ động, ta kiên quyết đưa pháo xe kéo và sử dụng trên các chiến trường trọng điểm, mở ra triển vọng to lớn sử dụng rộng rãi pháo binh xe kéo trên chiến trường miền Nam. Từ giữa năm 1973 trở đi, trước tình hình phát triển thuận lợi của cách mạng miền Nam, song song với việc hình thành các binh đoàn chiến dịch và chuẩn bị cho việc thành lập các quân đoàn mới, ta đã phát triển vượt bậc lực lượng pháo binh xe kéo. Cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, số lượng pháo binh xe kéo được sử dụng đã lên tới trên 20 trung đoàn, lữ đoàn, gồm 67 tiểu đoàn. Đây là bước phát triển nhảy vọt, tạo nên sức mạnh rất lớn của hỏa lực pháo binh mà nòng cốt là hỏa lực pháo binh xe kéo trong cuộc Tổng tiến công chiến lược.
« Sửa lần cuối: 15 Tháng Hai, 2017, 11:36:17 PM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 11:35:58 PM »


        Sự phát triển của lực lượng pháo binh xe kéo qua các chiến dịch lớn trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, được thể hiện như sau:

        Chiến dịch:                   Số tiểu đoàn xe kéo:

        - Điện Biên Phủ    1954        2

        - Khe Sanh          1968        9

        - Tây Nguyên       1975        16

        - Huế - Đà Nẵng   1975        20

        - Hồ Chí Minh        1975        47

        Đi đôi với phát triển về số lượng, chúng ta đã cải tiến một bước tổ chức pháo binh như: hình thành pháo binh ba cấp trong các đơn vị chủ lực (pháo binh chiến dịch, pháo binh sư đoàn, pháo cối đi cùng); khôi phục và xây dựng các trung đoàn pháo binh xe kéo trong các sư đoàn chủ lực; hình thành các trung đoàn, lữ đoàn pháo binh chiến dịch tầm xa, cỡ lớn (25 tiểu đoàn pháo tầm xa trong tổng số 67 tiểu đoàn pháo xe kéo). Do đó đã tạo nên sự chuyển biến về chất trong tổ chức lực lượng pháo binh, khả năng hỏa lực của các binh đoàn binh chủng hợp thành được tăng cường, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ tác chiến trong cuộc Tổng tiến công.

        Trong điều kiện cụ thể của nước ta, để phát huy mạnh mẽ vai trò của hỏa lực pháo binh trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn thì việc sử dụng pháo lấy được của địch cũng là một nguồn bổ sung quan trọng làm cho lực lượng pháo binh ta thêm mạnh và tạo ưu thế hỏa lực rõ rệt đối với địch.

        Đây là kinh nghiệm có tính quy luật của chiến tranh giải phóng và cũng là một truyền thống của quân đội ta, đã được thực hiện thành công trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1975, kinh nghiệm này càng được vận dụng rộng rãi góp phần tích cực làm cho bộ đội pháo binh càng đánh càng mạnh. Ta đã tổ chức được 27/67 tiểu đoàn bằng vũ khí, phương tiện lấy được của địch. ở nhiều sư đoàn thuộc Khu 5 và Khu 9, các trung đoàn pháo binh được thành lập trong chiến đấu và tham gia tác chiến ngay. Đối với những loại pháo mới của địch như pháo 155, 175 ly, ta đã tuyên truyền giác ngộ và dùng binh lính địch để sử dụng kịp thời. Để thực hiện yêu cầu này, ngay từ năm 1973, theo chỉ thị của Bộ, Binh chủng Pháo binh đã chuẩn bị đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật để khi cần có thể sử dụng tốt pháo và cối lấy được của địch.

        Để phát huy hiệu quả cao nhất của lực lượng pháo binh, nhất là pháo binh xe kéo, phải giải quyết một loạt vấn đề về tổ chức, thiết bị chiến trường và công tác bảo đảm như mạng đường sá, hệ thống hậu cần, tiếp tế đạn dược, nhiên liệu, các cơ sở sửa chữa và bảo đảm kỹ thuật.

        Vấn đề then chốt đối với pháo binh là mạng đường sá và sức kéo. Từ sau chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh (1968), nhiều đồng chí lãnh đạo của ta đã đề cập vấn đề này, vì có đường cơ động để đưa xe tăng, pháo binh vào mới đánh lớn được. Với 20.000 ki-lô-mét đường chiến lược và đường chiến dịch được mở rộng trong suốt quá trình chiến tranh, đến năm 1974, pháo binh xe kéo đã có thể đi suốt chiều dài đất nước, tiến xuống áp sát vùng giáp ranh từ Trị - Thiên, Huế - Đà Nẵng, Plây Cu - Buôn Ma Thuột đến Đông Nam Bộ. Nhờ đó đã tạo nên thế bố trí pháo binh rộng khắp, hết sức cơ động, đã phát huy tác dụng rất lớn, đánh địch kịp thời, liên tục trong quá trình cuộc Tổng tiến công.

        Vấn đề thứ hai là phải vận chuyển một khối lượng đạn dược, nhiên liệu rất lớn. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, vấn đề này đã được giải quyết bằng sự nỗ lực của cấp chiến lược, chiến dịch cho đến từng đơn vị pháo binh, thực hiện trên dưới cùng làm để đáp ứng yêu cầu liên tục cơ động đánh địch.

        Vấn đề thứ ba là bảo đảm kỹ thuật cho pháo binh trong suốt quá trình chiến đấu. Trong giai đoạn chuẩn bị, cấp chiến lược, chiến dịch đã tiến hành bảo đảm ở từng đơn vị để nâng cao hệ số sử dụng của xe, pháo và khí tài. Trong quá trình chiến dịch, do tính cơ động cao nên việc bảo đảm kỹ thuật chủ yếu là ở các trung đoàn pháo để sửa chữa ngay tại chỗ, khai thác sử dụng phương tiện lấy của địch để thay thế.

        Ba yêu cầu trên đã được giải quyết đồng bộ bằng sự nỗ lực của các cấp, các lực lượng, tạo điều kiện cho pháo binh xe kéo phát triển chiến đấu trong một chiến dịch dài ngày (55 ngày đêm) và trên một chiến trường rộng lớn.

        Tóm lại, phát triển lực lượng pháo binh, nhất là pháo binh xe kéo, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô ngày càng lớn, là một yêu cầu tất yếu của chiến tranh giải phóng, nhất là ở giai đoạn cuối chiến tranh.

        Dưới sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Binh chủng Pháo binh đã nhận thức đầy đủ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, góp phần xứng đáng vào Đại thắng mùa Xuân 1975.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 11:36:59 PM »


        2. Quán triệt quan điểm chiến tranh nhân dân của Đảng, ra sức phát triển lực lượng pháo binh địa phương, hình thành pháo binh tại chỗ rộng khắp, đánh địch mọi lúc, mọi nơi

        Phát triển lực lượng pháo binh ba thứ quân vững mạnh là một vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng lực lượng pháo binh.

        Trong quá trình chiến tranh, pháo binh địa phương đã không ngừng phát triển, góp phần rất lớn tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, nhiệm vụ của pháo binh địa phương là chi viện cho lực lượng địa phương kết hợp cùng quần chúng nổi dậy, giải phóng các chi khu quận lỵ, tiến lên giải phóng từng tỉnh; hình thành lực lượng pháo binh tại chỗ rộng khắp, góp phần cùng pháo binh chủ lực tiêu diệt quân địch, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ bờ biển để pháo binh chủ lực rảnh tay tập trung cơ động đánh địch. Trong thực tế, hoạt động của pháo binh địa phương Quảng Trị, Khu 5, đồng bằng Nam Bộ đã có tác dụng rất lớn, chi viện cho lực lượng địa phương tiến công giải phóng các tỉnh Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tuy Hòa và một số tỉnh ở đồng bằng Nam Bộ.

        Sự phát triển của pháo binh địa phương rất phong phú, từ hẹp đến rộng, từ phân đội nhỏ đến các đại đội, tiểu đoàn tập trung (Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tây Nam Bộ). Từ chỗ chỉ quen sử dụng pháo cối nhỏ, nhiều nơi đã sử dụng được pháo mang vác của bộ đội chủ lực chuyển giao và tiến lên sử dụng pháo xe kéo thu được của địch, từ xây dựng pháo binh cho bộ đội địa phương, đã mở rộng việc trang bị pháo cho cả lực lượng dân quân tự vệ.

        Theo đà phát triển của cuộc Tổng tiến công, lực lượng pháo binh địa phương càng phát triển nhanh chóng. Hầu hết pháo đạn lấy được của địch đã được sử dụng. Nhiều nơi đã tuyên truyền giác ngộ pháo thủ, lái xe của địch sử dụng ngay trong chiến đấu. Đây là một nét đặc sắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Cùng với sự phát triển lực lượng, trình độ chiến đấu của pháo binh địa phương được nâng cao, vừa tham gia đánh hiệp đồng, vừa chủ động đánh độc lập, vừa tiến công, vừa phòng ngự giữ làng, giữ biển, tạo nên phương thức thứ hai của pháo binh trong chiến tranh nhân dân. Các trận tham gia chi viện cho bộ đội địa phương giải phóng Quảng Trị, Quảng Ngãi, Tuy Hòa..., chi viện cho tiểu đoàn địa phương Phú Yên chặn địch ở Phú Bồn là những trận hiệp đồng tốt; trận đánh của phân đội ĐKB Quảng Đà vào sân bay Đà Nẵng và Tiểu đoàn 6 pháo binh Quảng Trị cơ động từ Cửa Việt vào tham gia khóa chặt cửa Thuận An là những trận đánh độc lập có chất lượng cao.

        Một vấn đề cũng cần được nêu lên là: để nhanh chóng hình thành các đơn vị pháo binh khi thành lập các quân đoàn và sư đoàn, từ năm 1973, chúng ta đã chuyển giao việc xây dựng và sử dụng các đơn vị pháo chuyên đánh căn cứ cho bộ đội pháo binh địa phương. Do đó trong các chiến dịch tiến công, các đơn vị pháo này đã kết hợp chặt chẽ với pháo binh chủ lực cùng quần chúng nổi dậy đánh vào các căn cứ, sân bay kho tàng, sở chỉ huy của địch, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho pháo binh chủ lực hình thành những "quả đấm" hỏa lực mạnh.

        Nói đến Tổng tiến công và nổi dậy là phải nói đến hai phương thức tác chiến. Trong Đại thắng mùa Xuân 1975, việc hình thành và hoạt động tác chiến của bộ đội pháo binh địa phương đã góp phần không nhỏ vào phong trào tiến công và nổi dậy của địa phương, góp phần thúc đẩy nhanh đà tan rã và thất bại của địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #38 vào lúc: 15 Tháng Hai, 2017, 11:37:53 PM »


        3. Nắm vững thời cơ chiến lược, quán triệt tư tưởng chỉ đạo "thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", bắn đúng thời cơ là một yêu cầu về sử dụng hỏa lực mang ý nghĩa chiến dịch rất lớn

        Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, sau đòn "điểm huyệt" của ta vào Buôn Ma Thuột, địch lâm vào thế bị động lúng túng, phải thực hành rút lui chiến lược. Tình hình đó đã tạo ra thời cơ lớn cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Trước sự phát triển của cách mạng, pháo binh cần phải có cách đánh thích hợp thì mới đáp ưng được yêu cầu. Lúc này quân địch đã hoang mang rối loạn, dễ bị tan rã từng mảng. Đánh địch kịp thời không cho chúng hồi phục là một vấn đề có ý nghĩa quyết định. Do đó đánh kịp thời, bất ngờ, đúng thời cơ đã trở thành yêu cầu hàng đầu đối với pháo binh; nếu bắn đúng thời cơ thì chỉ cần một số đạn nhỏ cũng đạt được hiệu quả rất lớn, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng chóng phát triển tiến công, tiêu diệt gọn từng bộ phận lớn quân địch, không cho chúng co cụm. Vai trò chủ yếu lúc này thuộc về pháo xe kéo vì phải có tầm bắn xa, uy lực lớn, mức chính xác cao, cơ động nhanh thì mới đáp ứng được yêu cầu nói trên.

        Hỏa lực bất ngờ của pháo binh bắn vào trung tâm đầu não quân địch ở Buôn Ma Thuột đã làm cho chúng rối loạn và nhanh chóng tan vỡ. Những trận đánh kịp thời của pháo binh Trị - Thiên và pháo binh Quân đoàn 2 bắn vào cửa Thuận An và Tư Hiền đã bịt chặt đường rút của địch, tạo điều kiện cho quân và dân Trị - Thiên và binh đoàn chủ lực tiêu diệt gọn quân địch, giải phóng thành phố Huế. Những trận đánh kịp thời của pháo binh Quảng Đà và các Trung đoàn pháo 164, 572 vào sân bay, trung tâm hành chính Đà Nẵng, Hòa Khánh đã tác động rất mạnh vào tinh thần ngụy quân ngụy quyền, tạo điều kiện cho các lực lượng của Quân đoàn 2 và Quân khu 5 nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng. Trận đánh kịp thời của pháo binh Sư đoàn 7, bằng một đại đội với một vài loạt bắn vào Đà Lạt đã buộc địch ở đây phải đầu hàng. Những trận đánh khóa chặt sân bay Biên Hòa và bắn phá sân bay Tân Sơn Nhất trước khi ta tiến công vào Sài Gòn cũng có giá trị rất lớn về chiến dịch. Trên thực tế, mỗi khi pháo binh đánh kịp thời thì đều gây biến động lớn về tinh thần tâm lý đối với địch, hiệu quả đạn pháo được nhân lên gấp bội, góp phần cho bộ binh và xe tăng ta tăng tốc độ tiến công, giảm bớt được thương vong trong chiến đấu.

        Để đánh kịp thời cơ, ngoài yếu tố hàng đầu là quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến  lược của trên, nắm vững thời cơ, có quyết tâm cao, còn phải giải quyết tốt các vấn đề sau đây:

        - Bố trí thế trận pháo binh thích hợp và hết sức cơ động. Trong chiến dịch Tây Nguyên pháo binh đã kịp thời chi viện cho bộ binh chặn địch ở Phú Bồn, vì trước đó ta đã cài thế pháo binh trên hướng đường 7. Pháo binh ở Huế - Đà Nẵng kịp thời đánh vào các mục tiêu trọng điểm, chặn đường rút lui của địch, vì ta đã đưa pháo tầm xa, cỡ lớn vào áp sát vùng giáp ranh, bố trí thế trận hết sức cơ động vừa đánh được địch ở Huế, lại có thể cơ động hỏa lực đánh vào Đà Nẵng.

        - Vấn đề cơ động đóng một vai trò có ý nghĩa quyết định trong việc sử dụng pháo binh. Trong các chiến dịch, ta đã thực hành cơ động đường dài, cơ động chiến đấu nhanh nhất bằng mọi phương tiện có thể tận dụng được (đường bộ, bằng tàu biển, bằng phương tiện thô sơ như thuyền ghép của các đơn vị pháo binh Tây Nam Bộ).

        - Trong hành động chiến đấu của pháo binh, phải triển khai nhanh, chuẩn bị bắn bằng các phương pháp chính xác và nhanh nhất. Mục tiêu là tập trung vào trận địa pháo, sân bay, sở chỉ huy, cơ quan đầu não của địch, các hướng địch có thể rút lui bằng đường bộ, đường biển, đường không. Trong cuộc Tổng tiến công Xuân 1975, từ sau trận mở đầu Buôn Ma Thuột, pháo binh vừa hành tiến vừa đánh địch, nhiều trường hợp phải chuẩn bị rất gấp, có lúc không đợi triển khai đủ đội hình mà vào được khẩu nào, đơn vị nào là phát huy hỏa lực ngay. Tình hình này đã xuất hiện từ chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào năm 1971, khi Trung đoàn 45 vừa hành quân vừa triển khai đánh địch ở cầu Cha Ki. Đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, kinh nghiệm này đã được vận dụng phổ biến và phát huy hiệu lực lớn.

        Người chỉ huy pháo binh phải ở vị trí chỉ huy của bộ binh để giữ vững hiệp đồng, nắm chắc quyết tâm và yêu cầu của bộ đội binh chủng hợp thành, tổ chức chỉ huy chặt chẽ trong suốt quá trình chiến đấu và chiến dịch.

        Thắng lợi lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đánh dấu một bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam nói chung và nghệ thuật sử dụng pháo binh nói riêng. Nhiều bài học rất quý đến nay vẫn có giá trị thiết thực đối với việc xây dựng và tác chiến của pháo binh trong giai đoạn mới.

        (Cuốn "Trận quyết chiến lịch sử do Viện lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản 1990)
Logged

pb47vp
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 1890


« Trả lời #39 vào lúc: 16 Tháng Hai, 2017, 06:35:41 AM »

Chào bác Giangtvx
Cảm ơn bác đã đưa kí ức Pháo Binh lên trang cho bạn đọc xa gần hiểu thêm về  ngành của tôi. Chúc bác và gia đình luôn mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM