Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Bảy, 2020, 12:44:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích  (Đọc 13870 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2017, 07:13:51 am »


Nhận rõ âm mưu của giặc, và để giành thế chủ động, đêm mồng 4 tháng 7 năm 1885, lực lượng yêu nước trong triều đình Huế do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã nổ súng tấn công vào các căn cứ của Pháp. Nhưng do tương quan lực lượng có lợi cho địch, chúng chiếm ưu thế tuyệt đối về vũ khí hiện đại trong khi sự chuẩn bị các mặt của quân ta lại chưa được đầy đủ, giặc Pháp đã phản công trở lại, rồi thừa thắng chiếm luôn kinh thành Huế vào sáng hôm sau. Tôn Thất Thuyết cùng những người đồng tâm, đồng chí hướng phải đưa vua Hàm Nghi chạy ra phía Bắc. Từ sơn phòng tỉnh Quảng Trị (Tân Sở), chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩ phu và nhân dân cả nước đứng dậy chống Pháp cứu nước được phát ra rộng rãi trong cả nước (ngày 13 tháng 7 năm 1885). Cùng lúc có dụ khai phục và thăng chức cho các quan văn võ ngoài Bắc.

Đặc biệt, Nguyễn Quang Bích được phong vượt cấp: Thượng thư bộ lễ sung Hiệp thống quân vụ Bắc Kỳ, có toàn quyền chọn dùng văn võ các cấp. Ông được giao nhiêm vụ cầm quốc thư sang Trung Quốc cầu viện. Quyết định có tính cấp bách và kịp thời đó chứng tỏ người thủ lĩnh tối cao của phong trào kháng chiến cả nước lúc đó là Tôn Thất Thuyết từ lâu đã để tâm theo dõi sát sao phong trào ngoài Bắc và đã xác nhận một thực tế hiển nhiên về vai trò to lớn, đứng đầu của Nguyễn Quang Bích trong phong trào hồi đó. Từ nay, Nguyễn Quang Bích đã có vai trò đại diện ở ngoài Bắc cho vua Hàm Nghi đang còn bôn ba trên các nẻo đường kháng chiến của núi rừng miền Tây các tỉnh Nghệ - Tĩnh - Bình. Với tư cách Thượng thư bộ lễ của triều đình kháng chiến - theo quan chế hồi đó, bộ lễ phụ trách cả công tác ngoại giao, đối ngoại - Nguyễn Quang Bích trong thực tế đã thay mặt triều đình Hàm Nghi trong mọi việc giao thiệp với nhà Thanh.

Nhận lệnh vua, Nguyễn Quang Bích giao quyền chỉ huy cho phó tướng Nguyễn Văn Giáp, rồi tức tốc lên đường (ngày 19 tháng 8 năm 1885). Tới Vân Nam (Trung Quốc), ông chuyển quốc thư đứng tên vua Hàm Nghi cho Tổng đốc hai tỉnh Vân Nam - Quý Châu là Sầm Dục Anh, nội dung quốc thư trình bày tình hình Việt Nam sau khi kinh đô Huế bị giặc Pháp chiếm, và xin triều Thanh cho được thụ phong, rồi giúp đỡ về quân sự. Theo các nguồn tài liệu lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp thì chuyến đi này của Nguyễn Quang Bích còn có mục đích bí mật yêu cầu Lưu Vĩnh Phúc đưa đội quân Cờ Đen xuôi sông Hồng xuống sát vùng trung châu đón vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết từ miền Trung ra để phối hợp chiến đấu, cùng một lúc nhân dân Trung và Bắc Kỳ đồng loạt nổi dậy.

Nhiệm vụ ngoại giao hoàn thành, ông về nước được vua Hàm Nghi ban khen, Tôn Thất Thuyết có thơ úy lạo, có ý tin tưởng và trông chờ kết quả chuyến đi sứ vừa qua. Đáng buồn là lúc này từ vua Hàm Nghi đến Tôn Thất Thuyết, cả Nguyễn Quang Bích nữa, đều tuyệt nhiên không hay biết gì về việc nhà Thanh trước đó mới ký thêm với Pháp Điều ước Thiên Tân (ngày 9 tháng 6 năm 1885) hoàn toàn nhượng bộ tư bản Pháp, công nhận nền đô hộ của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2017, 07:14:25 am »


Chờ mãi mà chẳng có tin tức gì từ phía Trung Quốc, tháng 5 năm 1886, Tôn Thất Thuyết phải đích thân lên đường sang cầu viện, có Đề đốc Trần Xuân Soạn cùng đi, Nguyễn Quang Bích cũng tham gia phái đoàn. Chuyến đi gian khổ, hai bạn đồng tâm, đồng chí của ông là Chu Lăng Thục (tự Thiết Nhai) - một viên quan của triều đình Trung Quốc - có cảm tình với phong trào kháng chiến của nhân dân Việt Nam và đã tích cực giúp đỡ nghĩa quân Nguyễn Quang Bích trong việc liên lạc với nhà Thanh để xin viện trợ - và Nguyễn Hội (tự Khê Ông) lĩnh chức Án sát sứ tỉnh Sơn Tây sung Tán tương quân vụ, đã chết trên đường đi.

Chuyến đi này cuối cùng cũng không mang lại kết quả gì đáng kể, ngoài một số súng đạn ít ỏi và vài lời hứa hão của Sầm Dục Anh. Thất vọng và liệu thế trở về nước có nhiều nguy hiểm vì thực dân Pháp đã bắt đầu khóa chặt biên giới hai nước, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn đành ở lại đất người, chỉ một mình Nguyễn Quang Bích luồn rừng vượt suối trở về căn cứ để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến.

Trong thời gian chủ tướng đi vắng, nghĩa quân ở nhà vẫn không ngừng hoạt động. Nguyễn Văn Giáp nhiều lần chủ động tấn công các đồn lẻ của địch trong vùng, hay bám trụ vững chắc đánh lui nhiều lần địch đột nhập căn cứ. Có một số trận lớn như Thanh Mai (tháng 6 năm 1885), Tuần Quán (đầu năm 1886), Tiên Động (tháng 6 năm 1886), v.v...

Nguyễn Quang Bích từ Trung Quốc về nước chọn đặt đại bản doanh tại núi Nghĩa Lộ (châu Văn Chấn) nơi đây địa thế hiểm trở, có núi cao suối sâu bao bọc, dân cư trù mật, các đường dẫn vào đều có quân đóng giữ. Thanh thế nghĩa quân lúc này lên cao, các thủ lĩnh xa gần như Đề Kiều, Đốc Ngữ (Nguyễn Đình Ngữ) ở Hưng Hóa - Phú Thọ - Hòa Bình; Đề Cương (Hoàng Đình Cương), Đề Cơ, Đề Anh ở Sơn Tây; Đề Vận, Đề Vịnh ở Bắc Ninh; Đề Vũ ở Nam Định; Lãnh Hoan (Vũ Văn Hoan), Đốc Nhưỡng (Đinh Quang Nhưỡng), Đốc Đen, Bùi Như Quảng ở Thái Bình... đều tự nguyện đặt dưới sự chỉ huy của ông.

Các lang đạo vùng các dân tộc ít người như Đèo Văn Trì, Đèo Văn Toa ở Lai Châu; Đèo Văn Sanh ở Điện Biên; Nguyễn Văn Quang, Cầm Văn Thanh, Cầm Văn Hoan ở Sơn La cũng hưởng ứng phong trào. Hơn thế nữa, các trung tâm khác của phong trào Cần Vương trong cả nước như Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Tống Duy Tân, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), v.v... đều có đặt mối liên lạc chặt chẽ.

Lực lượng hậu cần của nghĩa quân lúc này cũng được tích lũy dồi dào hơn, nhân dân các châu huyện xung quanh nô nức gánh lương thực về nộp, lập kho dự trữ, tích cực bảo đảm cho cuộc chiến đấu lâu dài. Đồng bào các dân tộc ít người (Thái, Mường, Mèo, Dao) đều nhiệt liệt đi theo. Thanh thế nghĩa quân nhờ đó ngày càng lên cao, quân Pháp mấy lần kéo quân lên càn quét hai huyện Văn Bàn và Văn Chấn (đầu tháng 12 năm 1886), đánh thọc sâu vào Đại Lịch (tháng 1 năm 1887), đều bị nghĩa quân phục kích dữ dội trên đường hành quân, chúng thiệt hại nặng phải rút lui.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2017, 07:15:02 am »


Thất bại về quân sự, giặc Pháp xoay ra dùng thủ đoạn chính trị. Chúng một mặt dùng quân đội đàn áp, một mặt cho tay sai là Bố chánh ngụy tỉnh Hưng Hóa và Tri phủ Lâm Thao đến dụ dỗ, mua chuộc. Nhưng trước sau Nguyễn Quang Bích đều cương quyết cự tuyệt. Tháng 11 năm 1887, giặc Pháp tấn công vào đại bản doanh nghĩa quân tại Nghĩa Lộ. Lần này, chúng cũng bị đánh lui, nhưng vài ngày sau đó một tổn thất lớn đã đến với nghĩa quân: Phó tướng Nguyễn Văn Giáp bị bệnh nặng mất. Bước sang năm 1888, tình hình Tây Bắc ngày thêm khó khăn. Mở rộng phạm vi đánh chiếm, giặc Pháp sau khi lần lượt chiếm Yên Bái (tháng 3 năm 1886), Lào Cai (tháng 5 năm 1886), Phong Thổ (đầu năm 1887), kéo quân đến Lai Châu để tới Điện Biên Phủ, rồi tiến xuống Sơn La (đầu năm 1888), đầu tháng 7 năm 1888, chúng bất ngờ tấn công lần thứ hai vào Nghĩa Lộ. Lần này cũng như lần trước, chúng bị quân ta phục kích tiêu diệt nặng nên chỉ hai ngày sau đã phải rút quân. Nguyễn Quang Bích trước đó đã tạm lánh vào châu Phù Yên (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ, tức Vĩnh Phúc ngày nay), đợi giặc rút hết, ông lại trở về căn cứ chuẩn bị những đợt chiến đấu mới. Và chỉ mấy ngày sau, nghĩa quân đã thắng to ở Dụ Phong (thuộc Vĩnh Phúc ngày nay), chém được mười ba đầu lính Tây đưa về; lính Pháp và lính ngụy vừa bị thương vừa bị chết tại trận đến năm, sáu trăm tên, nghĩa quân đã thu được nhiều quân trang, quân dụng và vũ khí của địch.

Mặc dù giành được thắng lợi mới nhưng tình hình nghĩa quân ngày càng gặp nhiều khó khăn. Giặc Pháp đã xiết chặt thêm vòng vây, việc giải quyết tiếp tế lương thực cho nghĩa quân gặp muôn vàn trở ngại. Biết rằng trước sau thế nào quân giặc cũng sẽ đánh đòn quyết định, Nguyễn Quang Bích đã nói cùng tướng sĩ dưới quyền rằng: chúng từng đột nhập và đánh quân trong căn cứ nên đã thông thạo địa hình, đường đi lối lại đã tỏ tường, nên trong tương quan lực lượng đôi bên bây giờ nghĩa quân không thể bám trụ ở Nghĩa Lộ được. Quân thứ vì vậy phải di chuyển luôn, hết Sơn Động (tháng 5 năm 1888), lại Sơn Lương (tháng 8 năm 1888) và cuối cùng về Quế Sơn, cả ba địa điểm trên đều thuộc châu Yên Lập (tức Vĩnh Phúc ngày nay).

Đến tháng 9 năm 1888 thì quân Pháp tấn công vào Nghĩa Lộ, nhưng quân ta đã kịp thời chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi sau đó bao vây dồn chúng vào thế vô cùng nguy ngập, mọi cánh quân kéo tới giải vây đều bị đánh tan; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động phối hợp với mặt trận chính, các toán nghĩa quân rải rác ở các địa phương đều phục kích đánh giặc trên đường chúng hành quân, hay tiến hành chống càn thắng lợi.

Tháng 9 năm 1889, Nguyễn Quang Bích tập hợp các tướng sĩ bố trí một trận phục kích lớn, chờ quân giặc liều lĩnh đi sâu vào trận địa thì nổ súng. Trận này nghĩa quân thắng to, giặc vừa bị thương vừa bị chết khá đông, nghĩa quân thu được nhiều đạn dược cùng súng ống của địch. Nhưng mặc dù vậy, trước khí thế ngày càng mạnh của giặc vốn đã có ưu thế về vũ khí, lại ngày càng thực hiện triệt để chiến thuật bao vây khoanh vùng để cô lập nghĩa quân, triệt đường tiếp tế, kết hợp chặt chẽ với thủ đoạn khủng bố nhân dân và chia rẽ các dân tộc trong vùng, cuối cùng nghĩa quân phải dời đại bản doanh về đóng ở khe núi Tôn Sơn, xã Mộ Xuân, cũng thuộc châu Yên Lập.

Đã thế, trong thời gian này, chủ tướng Nguyễn Quang Bích lại đau ốm liên miên. Lượng sức mình khó lòng qua khỏi, ông đã căn dặn người nhà và những người thân cận: "Ta đã đem thân hứa quốc, không cần người đi lại thăm nom vô ích, sau này, nếu có nhớ đến ta, cứ lấy ngày thành Hưng Hóa thất hãm làm ngày giỗ”.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2017, 07:16:04 am »


Cuối năm 1889, trong một cố gắng cuối cùng, ông ra lệnh cho các tướng sĩ cùng các quân thứ chuẩn bị chu đáo cho cuộc tấn công lớn năm sau. Không ngờ đến ngày 5 tháng 1 năm 1890 (tức ngày 15 tháng Chạp năm Kỷ Dậu), ông đột nhiên chuyển bệnh nặng, rồi mất tại đại bản doanh ở núi Tôn Sơn. Thi hài ông được quân sĩ trân trọng chôn cất trên ngọn núi Tôn Sơn.

Tin ông mất từ căn cứ truyền ra, sĩ phu văn thân cũng như nhân dân các địa phương đều tỏ lòng thương tiếc. Nhưng hơn một năm rưỡi sau thực dân Pháp mới biết, qua báo cáo của Kinh lược sứ Bắc Kỳ gửi cho Thông sứ Bắc Kỳ (báo cáo ngày 17 tháng 8 năm 1891). Lúc đầu bọn chúng chưa tin, nghi là mưu kế của nghĩa quân, nên bắt giam cả nhà ông, kể cả bà cụ thân mẫu ông; các hào lý làng Trình Phố quê hương của ông cũng bị bắt giam và tịch thu tài sản, cốt buộc họ phải bắt ông nộp cho chúng. "Một người tận trung, cả làng bị giày xéo. Cái nọc độc văn minh quá lắm thay!", đó là lời kết án nghiêm khắc của nhà yêu nước Phan Bội Châu khi viết Việt Nam vong quốc sử (1905).

Nguyễn Quang Bích mất đi, đó là một tổn thất nặng nề cho nghĩa quân Tây Bắc nói riêng, cho phong trào yêu nước chống Pháp xâm lược trong cả nước nói chung. Nhưng cuộc kháng chiến của nhân dân Tây Bắc vẫn tiếp tục phát triển dưới quyền thống lĩnh của Đề Kiều và Đốc Ngữ, cả hai ông đều đặt dưới sự chỉ huy chung của Tống Duy Tân. Tống Duy Tân đã được phong tước Tổng đốc quân vu đại thần có toàn quyển chỉ đạo phong trào chống Pháp ngoài Bắc.

Đốc Ngữ lúc này giữ chức Phó tướng đạo Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình) đến ngày 7 tháng 8 năm 1892, ông bị giặc Pháp và tay sai mưu sát, các toán quân của ông trên đường tan rã, có nhiều toán đã sáp nhập vào lực lượng của Đề Kiều. Nhưng chỉ mấy tháng sau lại đến lượt Đề Kiều lúc đó giữ chức Phó tướng đạo Tam Tuyên (Sơn Tây - Hưng Hóa - Tuyên Quang) ra hàng giặc Pháp (ngày 19 tháng 7 năm 1892)1. Phong trào Cần Vương ngoài Bắc đến đây có thể xem như đã chấm dứt.
__________________________________
1. Vua Hàm Nghi đã bị bắt và đưa đi đày từ năm 1888, nhưng những người chịu trách nhiệm đối với phong trào bấy giờ vẫn lấy danh nghĩa nhà vua để ra tờ chiếu ngày mồng 10 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ 7 (đối chiếu dương lịch là ngày 16 tháng 6 năm 1891) để phong cho Tống Duy Tân, Đốc Ngữ và Đề Kiều các chức trên.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #44 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2017, 07:16:25 am »


Trong khi đó thì phong trào ba tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh vẫn được duy trì và tiếp tục phát triển bất chấp các thủ đoạn đàn áp khủng bố ác liệt của kẻ thù. Trong hoàn cảnh đó, Tống Duy Tân đã chủ động bắt liên lạc với nghĩa quân Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) trong miền Trung và với nghĩa quân Hoàng Hoa Thám (Bắc Giang) ngoài Bắc để cùng nhau phối hợp chiến đấu. Nhưng lần lượt Tống Duy Tân rồi Phan Đình Phùng, người sa vào tay giặc, người hy sinh trong chiến đấu. Và đến những năm 1895-1896 của thế kỷ XIX thì phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân ta chống đế quốc Pháp xâm lược và phong kiến trong cả nước đã bị dập tắt. Còn lại cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (Bắc Giang) tuy kéo dài đến năm 1913, nhưng cũng chỉ là những đợt sóng cuối cùng đổ vào bờ trước khi im tiếng.

Phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỷ XIX của nhân dân ta chống lại sự xâm lược của đế quốc Pháp - mà đỉnh cao là phong trào Cần Vương sôi động và hùng tráng trong những năm 1885-1896, cuối cùng đã thất bại. Những văn thân, sĩ phu yêu nước chống xâm lược cuối thế kỷ XIX bị hạn chế bởi các điều kiện giai cấp và thời đại nên không thể giải quyết đúng đắn được yêu cầu giải phóng dân tộc và dân chủ của lịch sử Việt Nam lúc đó.

Chế độ phong kiến độc lập mà họ muốn khôi phục lại sau khi đánh đuổi xâm lược Pháp không còn thích hợp với sự phát triển của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX nữa. Phong trào do họ phụ trách vì vậy chỉ phát triển rầm rộ trong buổi đầu vì được quần chúng yêu nước - chủ yếu là nông dân - nhiệt tình hưởng ứng. Nhưng chỉ sau một thời gian thì rời rạc dần và cuối cùng tan rã trước sức tiến công dồn dập và ác liệt của kẻ thù, mà ít có điều kiện tiến triển thành một phong trào cách mạng sâu rộng khả dĩ giải quyết cùng lúc cả hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam hồi đó.

Mặc dù vậy, cuộc chiến đấu hy sinh ngoan cường của các chiến sĩ Cần Vương, trong đó nổi bật lên những Nguyễn Quang Bích, Tống Duy Tân, Phan Đình Phùng,... đã để lại cho các thế hệ sau những tấm gương rực rỡ về sự hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, về khí phách hiên ngang, bất khuất, về hành động xả thân cho việc nước của người trí thức dân tộc chân chính trước kẻ thù.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #45 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2017, 11:06:13 pm »


Câu hỏi 18: Vai trò lãnh đạo quân sự của vị thủ lĩnh Nguyễn Quang Bích đối với cuộc khởi nghĩa?
Trả lời:


Nguyễn Quang Bích là một trí thức phong kiến, một nhà thơ, một nhà quân sự, nhà chính trị - ngoại giao giỏi. Những tri thức mà ông có được trong cuộc sống là tiền đề để ông có tầm nhìn chiến lược sâu rộng trong lĩnh vực quân sự. Trải qua những bước thăng trầm của cuộc đời, với thực tế cuộc sống và chiến đấu, ông đã trở thành người chỉ huy cao nhất của trung tâm kháng chiến ngoài Bắc cuối thế kỷ XIX.

Trong hoàn cảnh phức tạp của xã hội Việt Nam lúc đó, khi mà triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp xâm lược, những viên tướng như Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản có một thời đại diện cho quần chúng nhân dân và đứng về phe chủ chiến, nay lại lo sợ trước hoàn cảnh thực tại mà đánh rơi mất báu vật là lòng yêu nước, lòng tin của nhân dân, thì Nguyễn Quang Bích cùng những chiến hữu trung thành của mình như Đề Kiều, Đốc Ngữ, Nguyễn Văn Giáp... đã đứng ra gánh vác việc lớn. Họ hành động thật kiên quyết, triệt để, phất cờ tập hợp nghĩa quân đứng lên khởi nghĩa chống Pháp. Sự nổi dậy của quần chúng nhân dân dưới ngọn cờ của ông đã khẳng định một điều: lòng yêu nước, căm thù bọn xâm lược là ngọn cờ có hiệu lực nhất trong việc tập hợp đông đảo nhân dân chống Pháp.

Người lãnh tụ nghĩa quân Nguyễn Quang Bích là hiện thân của lòng yêu nước, yêu dân. Đặc biệt, tư tưởng của ông đã vượt ra khỏi khuôn mẫu của tư tưởng Nho giáo lúc đó. Việc khước từ địa vị ở triều đình để cùng nghĩa quân xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài ở một vùng rừng núi hẻo lánh - nơi phần đông là đồng bào thiểu số, vô cùng thiếu thốn, gian khổ là một bằng chứng sâu sắc về bản lĩnh của Nguyễn Quang Bích. Ông xứng đáng được nhân dân ủng hộ và kính phục,

Từ năm 1876, Nguyễn Quang Bích với tư cách là Tuần phủ Hưng Hóa đã tích cực góp phần vào sự nghiệp trị an và bảo vệ Tổ quốc ngay trên dải đất hiểm trở gần biên giới phía Bắc. Ông cũng đã nhận thấy triều đình nhà Thanh sẽ câu kết với Pháp. Ông đã trình lên vua ý kiến của mình về việc quân Thanh tràn sang Việt Nam ngày một đông vào lúc quân Pháp đang mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam. Đó là dấu hiệu của sự bất bình thường về chính trị, quân sự đang đe dọa nền độc lập dân tộc. Việc làm đó cho thấy Nguyễn Quang Bích không chỉ có những áng thơ đầy cảm hứng và lắng đọng, mà còn có tri thức quân sự thật đặc biệt. Đó là lời tư duy mang tính dự báo rất cao.

Việc chọn căn cứ kháng chiến lâu dài chống Pháp cũng thể hiện Nguyễn Quang Bích là người có tầm nhìn chiến lược trong quân sự. Trước tình thế khó có thể giữ được thành Hưng Hóa vì tương quan lực lượng quá chênh lệch, Nguyễn Quang Bích và Lưu Vĩnh Phúc chỉ tổ chức đánh phòng ngự và sau đó rút dần về phía Bắc: từ Hưng Hóa rút về Thục Luyện (Đồn Vàng) đến Cẩm Khê, từ làng Sơn Bình về làng Áp Lộc và về cố thủ ở Tiên Động. Đây là một địa bàn hiểm trở. Ông định xây dựng nơi đây thành một trung tâm kháng chiến chống Pháp. Về đây, Nguyễn Quang Bích nhận được sự ủng hộ của nhiều nhóm nghĩa quân các nơi khác, đặc biệt ông đã gặp được một thủ lĩnh xuất sắc là Nguyễn Văn Giáp - người bạn tri kỷ của ông trong nhiều năm kháng chiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #46 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2017, 11:06:39 pm »


Cuối năm 1886, có thể coi đây là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến về chất của cuộc kháng chiến ở Bắc Kỳ, Nguyễn Quang Bích đã quyết định chọn một địa bàn có vị trí quân sự, chính trị và kinh tế vững chắc hơn để xây dựng căn cứ. Đó là Văn Chấn (Nghĩa Lộ). Địa bàn này là chỗ đứng chân "lý tưởng" cho nghĩa quân trong việc tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp. Chọn chỗ đứng chân có địa thế hiểm trở, vững chắc, có dân, có lương thực để kháng chiến lâu dài và từ đó có thể đánh rộng ra để mở rộng địa bàn phát triển cuộc kháng chiến đó là nguyên tắc của việc chọn căn cứ địa. Việc đó đòi hỏi tầm nhìn sâu rộng của người cầm quân.

Trong quân sự thì vai trò của người chỉ huy đặc biệt quan trọng. Người tướng giỏi là phải biết dùng quân, dùng người, dũng cảm, tài trí. Cái gốc của người tướng là lòng nhân ái, thương yêu quân sĩ, đồng cam cộng khổ với họ. Muốn tiến hành một cuộc kháng chiến lâu dài và giành được thắng lợi, điều cốt lõi là phải biết dựa vào nhân dân, được dân tin yêu, che chở và đùm bọc. Nguyễn Quang Bích là hiện thân của những đức tính đó. Do vậy, mặc dù ông là người miền xuôi đưa quân lên vùng Tây Bắc, cùng với dồng bào thiểu số xây dựng căn cứ kháng chiến, nhưng ông đã chiếm được lòng tin của đồng bào các dân tộc. Cuộc kháng chiến do ông tổ chức và lãnh đạo đã tồn tại được một thời gian khá dài trước tương quan lực lượng khá chênh lệch, trước hoàn cảnh thực tế rất khó khăn cho nghĩa quân.

Trong xây dựng căn cứ địa, một yêu cầu cao là không được biến nơi đó thành căn cứ "tĩnh" mà phải xây dựng thành căn cứ "động", có nghĩa là phải làm cho khu căn cứ ngày càng được mở rộng, và phát triển bằng những hoạt động quân sự rất chủ động, linh hoạt, sáng tạo. Sau khi đã chọn được một căn cứ địa chiến lược vững chắc như vậy, ông cùng Nguyễn Văn Giáp rất tích cực và luôn tranh thủ thời cơ thuận lợi tổ chức những trận phục kích, tập kích, đánh úp, đánh nhỏ để tiêu diệt lực lượng quân Pháp, mở rộng địa bàn hoạt động và bảo vệ căn cứ. Điều đó chứng tỏ ông và các thủ lĩnh nghĩa quân đã nắm vững tư tưởng tiến công trong hoạt động quân sự. Do đó, căn cứ không những chỉ tồn tại mà ngày càng được phát triển.

Uy tín của cuộc kháng chiến do Nguyễn Quang Bích và người trợ thủ đắc lực của ông là Nguyễn Văn Giáp đã đặc biệt thu hút sự chú ý và ủng hộ của các đội nghĩa quân khác. Sự liên kết của trung tâm cuộc kháng chiến với các thủ lĩnh đương thời trong phong trào Cần Vương như Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Tống Duy Tân, Hà Văn Mao (Thanh Hóa), Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), Đàm Chí Trạch (Nam Định), Nguyễn Tử Ngôn (Ninh Bình) đã làm cho căn cứ càng được cũng cố vững chắc và đã nhiều lần chống trả thắng lợi các cuộc tấn công của thực dân Pháp. Sau này, khi cuộc kháng chiến ở vào giai đoạn gay go nhất, Nguyễn Quang Bích và Nguyễn Văn Giáp phải tạm thời bỏ căn cứ lánh vào gia đình đồng bào người Mèo, họ đã nhận được sự che chở hết sức chu đáo của nhân dân và sau đó an toàn trở về căn cứ của mình, tiếp tục cuộc kháng chiến.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #47 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2017, 11:06:57 pm »


Chúng ta còn tìm thấy ở Nguyễn Quang Bích những sách lược quân sự chính trị và ngoại giao tài giỏi. Trong những ngày tháng gay go của cuộc kháng chiến, ông đã tích cực cùng triều đình tranh thủ sự giúp đỡ của nhà Thanh. Mặc dù không coi đó là chỗ dựa chủ yếu, nhưng với tài ngoại giao của mình, ông đã tranh thủ được sự giúp đỡ nhất định và có lợi của Sầm Dục Anh đối với cuộc kháng chiến mà ông đang tiến hành.

Việc sử dụng những nhân tài quân sự lúc đó như Nguyễn Văn Giáp, Đề Kiều, Đốc Ngữ cùng một số thủ lĩnh khác đã chứng tỏ tài dùng người của Nguyễn Quang Bích. Vì thế, trong thời gian ông hai lần đi sứ, Nguyễn Văn Giáp vẫn đủ bản lĩnh thay ông duy trì cuộc kháng chiến thu được nhiều thắng lợi.

Về phương diện chiến thuật, cũng như nhiều cuộc khởi nghĩa khác, ở cuộc khởi nghĩa này, lối đánh sở trường của nghĩa quân, lối đánh phù hợp và có hiệu quả nhất vẫn là đánh du kích, đánh úp, đánh lẻ, dùng thế bất ngờ, dựa vào sự thông thạo địa hình, phát huy thế hiểm của thiên nhiên vốn có để đối chọi với một đội quân đế quốc có trang bị hiện đại, có số lượng đông hơn nhiều lần.

Trong quá trình tiến hành cuộc khởi nghĩa chống Pháp, Nguyễn Quang Bích đã vận dụng rất khôn khéo, linh hoạt kết hợp các hình thức tác chiến: phòng ngự, phản công, tiến công. Cuộc rút lui ở Hưng Hóa, những trận đánh nhỏ để cản giặc trên đường rút quân và cuối cùng là quan niệm "động" trong việc xây dựng căn cứ kháng chiến ở Nghĩa Lộ, Văn Chấn đã chứng tỏ tầm nhìn chiến lược, chiến thuật của Nguyễn Quang Bích.

Thời kỳ cận đại là thời kỳ đấu tranh vũ trang sôi động. Vì thế, cuộc kháng chiến của nhân dân vùng Tây Bắc do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo cùng với phong trào đấu tranh vũ trang trong cả nước đã làm cho thực dân Pháp gặp nhiều khó khăn, cản trở lớn đến việc chúng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, đặt ách thống trị và tiến hành khai thác thuộc địa. Nó thể hiện sinh động truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Tuy thất bại nhưng truyền thống yêu nước quật cường bất khuất của dân tộc vẫn truyền nối từ đời này sang đời khác. Nó là tiền đề vật chất và ý thức cho những phong trào đấu tranh cách mạng mới với những hình thức đấu tranh cao hơn và đạt được những kết quả triệt để hơn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #48 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2017, 11:08:42 pm »


Câu hỏi 19: Hãy cho biết nguyên nhân thất bại của phong trào khởi nghĩa Nguyễn Quang Bích?
Trả lời:


Hưng Hóa là một trong số hai tỉnh cuối cùng ở Bắc Kỳ bị thực dân Pháp chiếm đóng trước khi Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884 được ký kết (Hưng Hóa thất thủ ngày 12 tháng 4 năm 1884, và Tuyên Quang thất thủ ngày 31 tháng 5 năm 1884).

Theo Đại Nam thực lục1 thì sau khi Hưng Hóa thất thủ, Tuần phủ Nguyễn Quang Bích đã rút về Hưng Yên, rồi từ đó ông ủy quyền nộp ấn lại cho triều đình và lên vùng thượng du chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Cùng với Nguyễn Quang Bích còn có một số quan lại các tỉnh khác như Nguyễn Văn Giáp (nguyên Bố chánh Sơn Tây), Nguyễn Thiện Thuật (nguyên Tán tương quân thứ Sơn Tây)... Sau khi Sơn Tây thất thủ ngày 17 tháng 12 năm 1883, Nguyễn Văn Giáp và Nguyễn Thiện Thuật cũng đã chống lệnh triệt binh của triều đình Huế để mộ quân phát động phong trào chống giặc cứu nước.

Trong bối cảnh đó, chiếu Cần Vương của Hàm Nghi ra tới Bắc Kỳ đã gặp ngay được một môi trường thuận lợi để phát triển, chứ không chỉ "đưa đến (cho Bắc Kỳ) một hơi thở mới và hỗ trợ cho việc liên kết các nhóm vũ trang" - như tiến sĩ Sac-lơ Phua-ni-ô đã nhận định trong cuốn Trung - Bắc Kỳ trong những năm 1885-1896 xuất bản tại Pari năm 1898, trang 84.

Đó là tác động qua lại giữa phong trào chống Pháp của nhân dân Bắc Kỳ với phong trào Cần Vương do Hàm Nghi phát động kể từ sau tháng 7 năm 1885 - một vấn đề mà giới sử học cần đi sâu nghiên cứu để thấy được đặc điểm của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược và triều đình bạc nhược của nhân dân hai miền Trung - Bắc Kỳ.

Về nguyên nhân thất bại của phong trào Nguyễn Quang Bích nói riêng và phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Song, ở đây xin đề xuất thêm về hai vấn để mà trước đây ít được quan tâm đi sâu.

- Về chính sách "chia để trị", chỉ xin đề cập đến khía cạnh phân chia khu vực địa giới hành chính của chính sách này mà thôi.
_____________________________________
1. Đại Nam thực lục, tập 36, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 104.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #49 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2017, 11:10:42 pm »


Như chúng ta đều biết, trước năm 1880, nhà Nguyễn chia toàn bộ địa bàn Bắc Kỳ thành 13 tỉnh1. Trong quá trình "bình định" - và chỉ tính tới năm 1895 khi phong trào Cần Vương về cơ bản bị dập tắt trên toàn Trung Kỳ, Bắc Kỳ - thực dân Pháp đã thực hiện thủ đoạn thu hẹp địa bàn một số tỉnh cũ lại để chia lập thành bốn tỉnh mới và bốn đạo quan binh - một đơn vị tương đương với cấp tỉnh nhưng đặt dưới sự cai trị của giới cầm quyền quân sự.

Riêng đối với Hưng Hóa - một tỉnh lớn, trải dọc theo hướng tây bắc, nằm trong vùng trung du và thượng du - là địa bàn hoạt động chính của Nguyễn Quang Bích thì   thực dân Pháp đã có một đối sách rất đặc biệt: Hưng Hóa bị cắt một phần đất để lập nên tỉnh Hòa Bình (ngày 18 tháng 3 năm 1891), cắt địa bàn Yên Bái, Lào Cai, để đưa vào đạo quan binh III, cắt địa bàn Sơn La để đưa vào địa bàn đạo quan binh IV (ngày 20 tháng 8 năm 1891). Như vậy, thực sự tỉnh Hưng Hóa cũ chỉ còn lại địa bàn Phú Thọ, đặt dưới sự cai trị của giới cầm quyền dân sự.

Với chính sách "chia để trị", thực dân Pháp đã khống chế dần dần phong trào kháng chiến của nhân dân Bắc Kỳ nói chung và của phong trào Nguyễn Quang Bích nói riêng. Bộ máy cai trị và đàn áp bao gồm cả thực dân và ngụy quyền tay sai đã được chúng thiết lập ngày càng dày đặc ở các cấp trên khắp Bắc Kỳ.

Cũng cần phải nói thêm rằng, việc tổ chức các đạo quan binh là một hình thức cai trị đặc biệt của bộ máy thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam, và chỉ riêng ở Bắc Kỳ mới có. Về tổ chức các đạo quan binh rất phức tạp. Một điều nổi bật cần được nêu lên, đó là: nơi nào phong trào kháng chiến mạnh gây nên mối lo sợ cho nền thống trị thực dân thì nơi đó lập tức bị giới cầm quyền thực dân đưa vào đạo quan binh để đặt dưới sự thống trị và đàn áp trực tiếp của giới cầm quyền quân sự. Trái lại, nơi nào phong trào kháng chiến tạm lắng xuống thì chính quyền thực dân lại chuyển trả giới cầm quyền dân sự của các tỉnh giáp ranh. Do đó, địa bàn đạo quan binh và đạo lỵ của chúng luôn luôn thay đổi.

Bởi vậy, tới đầu thế kỷ XX, trong bản báo cáo trước Hội đồng tối cao Đông Dương họp vào tháng 2 năm 1902, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me đã phát biểu về chính sách "chia để trị" này - tức việc thu hẹp địa bàn hoạt động để đàn áp và thống trị cho có hiệu quả - như sau: Địa bàn không nên quá rộng thì quan cai trị mới nắm bắt được mọi lợi ích cũng như mới giải quyết được mọi công việc của địa hạt mình cai quản.

- Về những đạo quan binh thì chúng đã lập thành "một vùng biên giới rộng lớn như một vành đai biên cương bọc lấy Bắc Kỳ". Điều đó cũng có nghĩa là các đạo quan binh sẽ vô hiệu hóa được ý đồ muốn dựa vào lực lượng bên ngoài để kháng Pháp của các nhà lãnh đạo nghĩa quân hồi cuối thế kỷ XIX.

- Về chính sách chia rẽ dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam: Do địa bàn hoạt động của phong trào Nguyễn Quang Bích trải rộng suốt miền trung du và thượng du Bắc Kỳ theo hướng tây bắc là nơi có nhiều thành phần dân tộc thiểu số cư trú và tham gia tích cực trong lực lượng nghĩa quân nên giới cầm quyền thực dân hết sức chú ý đến đặc điểm này.
____________________________________
1. 13 tỉnh đó là: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Nam Định (Một số trong những tỉnh này thường được gọi ghép là: Lạng – Bằng - Ninh - Thái; Hải - Yên, Sơn - Hưng - Tuyên (hay Tam Tuyên); Hà - Ninh, hoặc Hà - Yên - Ninh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM